Trần Thị Nguyệt Mai
* Tưởng nhớ hai năm ngày mất
của anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến.
Anh chị Trần Hoài Thư – Nguyễn Ngọc
Yến
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến
ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến
và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về
nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ
cõi thế.
Anh yêu chị nhiều lắm. Những ngày chị nằm
bệnh, anh chăm sóc, lắng lo. Không phải đôi ba ngày hay đôi ba tháng mà gần 12
năm. Từ một người chưa bao giờ phải nấu ăn, anh đã tìm tòi, học hỏi nấu thức ăn
Việt dặm thêm gia vị tình yêu để mỗi ngày hai bận mang vào nursing home cho chị.
Cứ như vậy trong suốt thời gian chị nằm bệnh cho đến thời đại dịch Covid-19 phải
chịu cách ly... Chị không ăn được đồ Mỹ, cộng thêm có quá nhiều cư dân ở đó, y
tá đâu thể đảm đương việc ăn uống cho từng bệnh nhân đầy đủ như anh lo cho chị
trước đây. Dần dà chị mất khả năng nhai, nuốt. Nên từ đó chị phải sống nhờ
G-tube đưa thức ăn vào thẳng bao tử và anh cũng “mất job” nấu ăn... Sau tang lễ
vào đầu tháng 6/2024, chúng tôi cùng ghé đến thăm căn nhà của anh chị lần cuối.
Có quý anh Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Nguyễn Đình Hiếu, quý anh chị Phạm Cao
Hoàng – Cúc Hoa, Nguyễn Minh Nữu – Kim Mai, các con của nhà văn Doãn Dân và những
thân hữu quý mến anh cùng gia đình các cháu Thoại, Hưng. Tôi thật cảm động khi
bắt gặp cuốn sách dạy nấu ăn nằm chơ vơ trên chiếc bàn phụ nhỏ dưới tầng hầm,
nơi chốn thân thương từng gắn bó mỗi ngày với anh. Từ đây, anh đã cho ra đời tạp
chí văn học nghệ thuật Thư Quán Bản Thảo (TQBT) vào tháng 9/2001, hồi phục những
tạp chí văn học Miền Nam qua dạng flipbooks phổ biến trên trang blog Trần Hoài
Thư cũng như in ấn Di sản Văn chương Miền Nam với biết bao công lao khó nhọc của
anh chị đi sưu tầm tài liệu từ thư viện các Đại học Cornell (Ithaca, New York)
và Yale (New Haven, Connecticut) của Hoa Kỳ.
“... 4 giờ sáng mồng 7 Tết Tân Mão, bắt
đầu rời nhà. Rời nhà khi trời còn đen tối, khi tuyết bão, khi trời sương mù dày
dặc. Khi chúng tôi đến Scranton, cách thư viện Cornell khoảng 50 dặm, vào lúc 8
giờ sáng thì đường đông đá. Chiếc xe đầu chạy chậm lại khiến tôi, quen như một
phản xạ, cũng đạp thắng và đạp rất nhẹ. Vậy mà xe đã mất điều khiển trợt tự do.
Hết trái, rồi qua phải, không thể kiềm chế nó nổi. Trong khi đó phía đường ngược
chiều nằm phía bên trái, một chiếc xe truck chạy ngược lại. Tôi chỉ còn biết nhắm
mắt...”
[Rong bút –
Trần Hoài Thư – tr. 5 (TQBT số 46 tháng 4/2011)].
Kỷ niệm của những ngày phụ anh thực hiện
những số TQBT lại hiện ra trong trí. Với sự tiến bộ của khoa học, email và máy
tính đã giúp chúng tôi thực hiện những cuốn báo rất dễ dàng mà không cần phải
cùng ngồi làm việc trong một tòa soạn nơi có những máy in to lớn cùng những người
thợ sắp chữ. Tôi đọc bản thảo, đôi khi anh nhờ đánh máy bài vở trong những tài
liệu văn chương mà lúc chưa bị bệnh, chị Yến đã cùng anh lái xe đến các thư viện
để sưu tầm những di sản văn chương miền Nam. Nhắc lại thời kỳ này, anh luôn nói
đến chị bằng giọng rất thương yêu, trìu mến: “Tội chị lắm em, chị giành lái xe
vì mắt anh cận thị nặng không thấy rõ. Và chị hát suốt trên đường ru anh ngủ”.
Nhớ em, bài
hát đường về
Em ơi, tiếng
hát bây giờ tìm đâu?
(Trần Hoài
Thư – Tiếng Hát)
Mỗi lần thực hiện xong một số báo, anh
rất vui. Như niềm vui của người vừa gặt hái xong cánh đồng chữ nghĩa, bội thu
những hạt vàng mẩy, chắc, lóng lánh. Hãy nghe tiếng reo vui của anh:
Con tôi đã
thức dậy rồi
Đang thi
nhau nhả những tờ giấy in
Đứa dưới hầm,
đứa ở trên
Đứa chạy chậm,
đứa “run” nhanh cấp kỳ
Đứa chớp
đèn báo bị jammed
Đứa cho biết
giấy đã vơi cạn rồi
Vậy mà vui
quá là vui
Hình như
xuân cũng về rồi, bạn ơi
Con tôi đã
thức dậy rồi
Thư Quán Bản
Thảo sắp ra đời, bà con!
(Trần Hoài
Thư – Con tôi đã thức dậy rồi)
Trong một trả lời phỏng vấn của nhà văn
Trần Doãn Nho, anh THT giãi bày:
“...
nếu người đọc muốn biết về văn chương và tác giả trước 1975, thì sách báo đâu
mà đọc? ... sau 1975, văn chương về người lính miền Nam đã bị tận diệt. Sách vở
tạp chí bị đốt hủy thì lấy chứng cớ đâu để nói lên tính cách nhân bản của nền
văn học thời chiến... Bộ máy nhà nước cũng như mấy ông nhà văn nhà thơ trong
hàng ngũ thắng trận luôn luôn trắng trợn vu cáo văn chương chúng tôi là văn
chương thực dân kiểu mới, là văn chương đồi trụy, nọc độc văn hóa, vân vân để
những khối óc ngây thơ luôn luôn bị tiêm nhiễm. Tôi biết có người sẽ bảo chuyện
cũ mấy mươi năm rồi vẫn còn nhắc lại, mất thì giờ. Nhưng sự thật ai trả lại cho
chúng tôi đây, hở? Ai biện hộ giùm cho những lời vu cáo người lính thám báo được
viết trong ‘Nỗi buồn chiến tranh’ của Bảo Ninh hay trong ‘Cõi người rung chuông
tận thế’ của Hồ Anh Thái? Ai?
Chẳng hạn đoạn sau đây của Hồ Anh Thái
trong truyện ngắn vừa nói:
“Cuối cùng,
điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù
binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống
rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng
rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt
chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn
ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp
cao hơn.”
Vai trò thám báo là tuyệt đối giữ bí
mật để làm nhiệm vụ săn tin hay chỉ điểm máy bay oanh tạc đơn vị địch. Họ bị đẩy
vào những chỗ mà có lẽ mỗi lần ra đi là ít khi có ngày về. Bởi không ai có thể
bảo vệ họ được trừ họ. Vậy mà ở đây, cảnh năm tên thám báo bắt một tù binh loại
chính quy, nhởn nhơ với một bữa yến tiệc ăn tim gan và tinh hoàn người, giữa
thanh thiên bạch nhật, đầy ổ kiến lửa (chúng tôi hay dùng cụm từ này để chỉ một
mục tiêu khó nuốt, thường ám chỉ nơi có sự xuất hiện đơn vị chính quy Bắc Việt).
Lại tỉnh bơ nổi lửa đốt cho khói bốc lên để ‘lạy ông tôi ở bụi này’! Biết viết
văn là bịa, nhưng bịa vừa vừa thôi chứ, ông Hồ Anh Thái ơi. Và thiên chức nhà
văn ở đâu? Bịa trắng trợn như thế ai mà tin được!”
Tôi bỗng liên tưởng đến những giọt nước
mắt chảy trên má của người tù binh nào đó của chiến trường Bình Định vào những
năm cuối của thập niên 60, như qua bài thơ của Trang Châu sau đây:
Nước mắt kẻ thù
nó bị
thương
bị bắt sống
mọi người
đòi giết nó:
nó núp
trong hầm
với một khẩu
tiểu liên
cầm chân cả
trung đội:
nó bắn ngã
chúng tôi một người
bắn bị
thương hai người khác
tôi đọc nét
căm hờn
trên những
khuôn mặt đồng đội
mọi người
đòi giết nó
tên du kích
vùng khốn nạn
gài lựu đạn
lùm cây bờ ruộng
giết những
người bắt cá mò tôm
nó nằm đó
mình bết
bùn
máu cánh
tay nhầy nhụa
tránh những
tia nhìn nổ lửa
những báng
súng gờm gờm
nó nằm chờ
một phát
súng vào đầu
một lưỡi
dao rạch bụng
một cái đạp
xuống hố sâu
nó nằm chờ
nằm chờ
tử thần
nhưng
chỉ có bàn
tay vuốt dịu căm hờn
bàn tay
băng bó vết thương
bàn tay vỗ
về an ủi
nó nằm chờ
tử thần
sững sờ bắt
gặp tình thương
đồng loại
đôi mắt sát
nhân vụt bỗng hiền từ
nhen hai
dòng lệ nhỏ
trong cuộc
chiến hôm nay
cho tôi xin
chiến đấu không hận thù
xin những vết
thương bình đẳng
cho tôi đổi
một trăm chiến thắng
lấy một giọt
nước mắt kẻ thù
Trang Châu
(Bên bờ Kinh Sáng 17-2-67)
(trích
trong Dấu vết chiến tranh)
“Ôi cho tôi đổi một trăm chiến thắng lấy
một giọt nước mắt kẻ thù! Còn gì là nhân bản hơn, còn gì tình người hơn. Không
phải lời ước ao trên phát xuất từ một y sĩ tiền tuyến là Trang Châu, nhưng nó
phát xuất từ trái tim của Miền Nam. Đó là bản chất của con người. Đó là cõi
lòng thấm đầy Chúa và Phật. Không phải như từ trái tim đen từ những kẻ sống chỉ
biết căm thù! Và căm thù mãi mãi!”
Anh yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, yêu
cái đẹp trong từng con chữ, từng lời văn, từng câu thơ. Và muốn chia sẻ những
nét đẹp đó cho tất cả mọi người.
Dưới đây là những dòng trích từ Thư Tòa
Soạn của Giai Phẩm TQBT số 98, tháng 5/2022:
“Truyện của Sơn Nam rất nhiều, đăng rải
rác trên các nhật báo hay tuần báo thủ đô.
Mặc dù có sự nỗ lực tìm tòi để cho ra đời
ba tuyển tập truyện ngắn Sơn Nam, nhưng vẫn có một số nhiều truyện không tìm thấy
trong các tuyển tập này.
Nhận thấy nếu không sưu tập là cả một
thiệt thòi rất lớn cho nền văn học nước nhà, nên chúng tôi cố gắng cho ra đời
giai phẩm 98 Thư Quán Bản Thảo để đăng lại một số truyện quý hiếm của nhà văn
Sơn Nam mà chúng tôi tìm thấy trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm...”
Hay khi thực hiện xong Giai Phẩm TQBT
tháng 12-2023, chủ đề Mai Thảo – Hạt Vàng Đã Mất, sưu tập những bài tùy
bút, tạp ghi, nhận định văn học của Nhà văn Mai Thảo xuất hiện trên tuần báo Khởi
Hành, Nghệ Thuật, Vấn Đề, anh tâm sự:
Tôi đâu còn
hơi còn sức như ngày nào
Khuân một
ít đồ phải thở hào thở hển
Chân đi nay
không còn vững
Ngón tay rã
rời như không còn thuộc về ta!
Vậy mà điên
rồ in sách báo tặng free
Muốn chia sẻ
những niềm vui chữ nghĩa
Mới tháng
trước vừa ra lò 32 bài văn Mai Thảo*
Thì giờ đây
sắp Mai Thảo Hạt Vàng **
Tuổi già ai
ai cũng muốn tẩy trần
Tôi lại đem
nia đi đãi sàng tìm ra ngọc quý
Mang chiếc
giỏ nặng ra ngoài bưu chính
Thấy ánh mắt
cô quầy
lòng cũng đủ
vui…
(Trần Hoài
Thư – Khiêng Giỏ Sách Ra Bưu Điện)
Tạp chí TQBT cũng là nơi anh Trần Hoài
Thư lên tiếng bênh vực cho người đã khuất nhưng cô thế, để phục hồi danh dự cho
tác giả. Như trường hợp dịch giả Phùng Thăng. Bà tên thật Công Tằng Tôn Nữ
Phùng Thăng, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật.
Là em ruột của cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng
Khánh) - một danh ni uyên bác của Phật giáo Việt Nam. Phùng Thăng là giáo sư
triết học, cùng với chị gái Phùng Khánh, là dịch giả của một số tác phẩm triết
học, văn học và tâm linh nổi tiếng đương thời. Giáo sư Thái Kim Lan nhận định:
“Quả thật tư tưởng và tác phẩm cũng như hành trạng của họ không những mang lại
vẻ cẩm tú trên văn đàn miền Nam thời đó mà còn soi sáng trí tuệ và tâm thức của
thế hệ đồng thời.” (Thái Kim Lan – Phùng Khánh và Phùng Thăng: Lộ trình suy tư
triết học – phác họa hiện tượng luận tình yêu – TQBT số 71)
“Chỉ khoảng một tháng sau khi Những
Ruồi được phát hành thì bị Trần Thiện Đạo (TTĐ) dùng nguyệt san Văn để
“phang” nặng nề qua bài viết “Tìm hiểu vở kịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre
(nhân đọc bản dịch của Phùng Thăng)”. Bài đăng hai kỳ trên nguyệt san Văn tháng
11, tháng 12, dày tất cả khoảng 50 trang, khổ chữ nhỏ. Bài được người viết ghi
là hoàn tất vào cuối tháng 9/1967.
Đặc biệt, kỳ 2 ông dành trọn bài để
phang Những Ruồi: Nào là “một cái kho chất chứa chật ních và đầy đủ hết mọi lỗi
lầm trong phép dịch văn”, “bản dịch vừa phản vừa diệt”, “khinh thường độc giả
và miệt thị giới phê bình tới độ ấy”, “dịch chữ không dịch tinh thần câu văn”,
“cắt bỏ không dịch”, “cái giọng đặc Tây”, ngớ ngẩn”, chối tai”, “một thứ giấy
khống chỉ…”, “cẩu thả”, “sai bét”, “ngờ vực cái vốn liếng Pháp ngữ”, “không giữ
tánh cách Việt Nam”, “vô nghĩa”, “thiếu nghĩa”, “tối nghĩa”, “lòng thòng”, “dịch
ẩu”, “dịch càn”, “sai cả mẹo luật tiếng Việt Nam”, “lối dịch đầu-gà-đít-vịt”,
“Chưa lãnh hội thấu đáo mẹo luật Pháp”, v.v…. Ông xả tiểu liên, trung liên, AK,
M16, B40. Ông tấn công đủ mặt, từ trang đầu đến trang cuối… Vây chặt, càng vây
càng pháo…
Có điều ngạc nhiên là chẳng thấy một nhà
trí thức, nhà văn, nhà thơ hay phê bình nào thời ấy động lòng trắc ẩn lên tiếng
bênh vực Phùng Thăng!
(THT – Khi
nghĩa tử không là nghĩa tận – TQBT số 71, tháng 8/2016)
Thời trước không ai lên tiếng bênh vực dịch
giả Phùng Thăng. Sau này mới có Nhị Linh dành những lời khen ngợi cho bà. Riêng
anh THT đã trân trọng và hết lòng “theo dấu chân Phùng Thăng qua kinh nghiệm
của một cựu trung đội trưởng thám kích: bằng sự thu nhặt tin tức, đúc kết, đánh
giá” để “vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật”, để rồi ba số
báo TQBT với chủ đề Phùng Thăng lần lượt ra đời:
- TQBT số 59, tháng 3/2014 – Theo dấu
Phùng Thăng
- TQBT số 71, tháng 8/2016 – Chiều đầy
bông Phùng Thăng
- TQBT số 105, tháng 4/2023 – Phản phê
bình Trần Thiện Đạo và Thụy Khuê về dịch phẩm Những Ruồi của Phùng Thăng của
tác giả Chơn Hạnh Trần Xuân Kiêm
Bên cạnh việc phát hành TQBT, Thư Ấn
Quán cũng tái bản hai dịch phẩm của bà trong tủ sách Di sản Văn chương Miền
Nam:
- Những Ruồi (nguyên tác Les
Mouches của Jean-Paul Sartre)
- Kẻ Lạ ở Thiên Đường (nguyên tác
Attente de Dieu của Simone Weil)
để độc giả
thấy được một dịch giả Phùng Thăng rất tài hoa, không như lời mạt sát nặng nề của
TTĐ.
Đối với anh THT, tạp chí TQBT như một
mái nhà để anh em bằng hữu họp mặt, đóng góp, chia sẻ văn chương. Anh không quản
công in ấn, đóng gói gửi tặng bạn bè thân hữu. Ai muốn đóng góp tem thư hay tiền
bạc phụ giấy mực in với anh cũng tốt, không có cũng chẳng sao. Tuy thế, lúc
sinh thời, anh rất buồn mỗi khi tạp chí TQBT bị trả về vì không có người nhận
mà anh hoàn toàn không biết lý do. Có thể vì họ đã đáp chuyến tàu hoàng hôn ở
cuối cuộc đời, hoặc đã dọn nhà đi xa không lời thông báo... Một nỗi buồn khác
là khi độc giả đã nhận được sách báo hay tài liệu anh gửi tặng nhưng rồi ít lâu
sau lại phủ nhận và yêu cầu anh gửi lần nữa, khiến anh thật không hiểu... Anh
cũng tâm sự, có khi bài viết gửi cho tạp chí TQBT, thay vì ca ngợi người Thầy
đáng kính, tác giả lại có ý nâng mình lên, nên anh đã rất tiếc không thể đăng
những bài như thế...
Lễ Đại tường năm nay cũng là ngày cháu
Thoại xả tang ba mẹ. Ngoài cha, vợ con là những người anh yêu thương, trân quý
nhất. Có lần anh chia sẻ, “Chị Yến và Thoại là quà tặng văn chương cao quý mà
cuộc đời mang đến cho anh, hơn cả giải thưởng Nobel về văn học”. Ở đầu tập thơ
cuối cùng phát hành tháng 4/2024, anh ghi lời đề tặng: “Cho em và con – hai nguồn
thơ vô tận, đồng thời cũng là chiếc phao giúp ta mưu sinh và thoát hiểm. Qua
em, anh tập therapy về tình yêu. Qua con, với những viên thuốc mầu nhiệm.”
Tôi chợt nhớ những câu thơ của Hương Hải
Thiền Sư:
“Nhạn quá
trường không
Ảnh trầm
hàn thủy
Nhạn vô di
tích chi ý
Thủy vô lưu
ảnh chi tâm”
Anh chị đã đến với cuộc đời này và khi
ra đi cũng không có ý để lại dấu như chim nhạn kia. Nhưng những công trình phục
hồi văn chương Miền Nam của anh chị sẽ mãi còn đó, trên những kệ sách thật và ảo
cũng như trong tâm biết bao người Việt yêu mến văn chương.
TRẦN THỊ
NGUYỆT MAI
22-05-2026
* Ấn bản đặc
biệt Tạp chí TQBT, tháng 5/2021: Mai Thảo
– Bài viết ở trang cuối
** Giai Phẩm
TQBT tháng 12-2023: Mai Thảo – Hạt vàng
đã mất


No comments:
Post a Comment