Thursday, July 27, 2017

BẤT KHẢ TƯ NGHÌ


Đ Hng Ngọc


 Bất khả là không thể. là nghĩ suy. Nghì, nghị là luận bàn. Bất khả tư nghì hay bất khả tư nghị là... “không thể nghĩ bàn!”.  Có một ‘’pháp môn giải thoát” gọi là Bất khả tư nghị như thế của các vị Phật, các vị Bồ- tát.
Cái gì mà không thể nghĩ bàn? Thế giới thì ngày càng nhỏ bé như lòng bàn tay, chuyện gì cũng chỉ cần cái chạm lướt nhẹ là đủ “thấy biết” hết trơn. Có việc gì mà “không thể nghĩ bàn”!
Thế nhưng có những chuyện như đem cái núi Tu- di to đùng kia nhét vào hạt cải nhỏ xíu nọ, như đem toàn thể khối nước bốn biển mênh mông kia... cho vào cái lỗ chân lông... thì đúng là những chuyện “không thể nghĩ bàn”! Nó kỳ cục! Càng nghĩ càng bàn càng dễ điên! Bởi nó nằm ngoài mấy nghìn tỷ mối nối thần kinh rồi, nằm ngoài các chất dẫn truyền thần kinh rồi vậy. Nói khác đi, nó nằm ở “bờ bên kia” rồi! Phải ‘’đáo bỉ ngạn’’ họa may mới thấy biết. Khi các vị trí thức thần học, bạn của Edward Conze tình cờ đọc lướt bản dịch kinh Kim Cang của ông đã kêu lên: Điên! Điên hết rồi! Không điên sao được! Nào “đừng dựa vào đâu cả để mà sanh cái tâm””, nào “nói vậy mà chẳng phải vậy” (tức phi/thị danh), nào “diệt độ tất cả chúng sanh mà chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả”...! Điên quá đi chớ! Nhưng Edward Conze bảo không điên đâu. Cứ ‘’ứng dụng’’ đi rồi sẽ thấy hiệu quả, cái mà ông gọi là “perfection of wisdom”.
Kinh Duy- ma- cật sở thuyết, cũng còn gọi là kinh “Bất khả tư nghì giải thoát” khi Xá-lợi -phất nêu “thắc mắc”: nhà cửa trống trơn thế này thì các vị Bồ-tát sẽ ngồi ở đâu? Văn -Thù bảo: từ đây đi về phương Đông, vượt qua số cõi nước nhiều như số cát ba mươi sáu sông Hằng, có một thế giới tên là Tu-di Tướng...” ở đó có nhiều... ghế đẹp có thể mượn được!
Số cát của một con sông Hằng không thôi đã là “hằng hà sa số” rồi huống chi đến số cát của ba mươi sáu con sông Hằng -mà mỗi hạt cát là một cõi nước- để... mượn ghế ngồi cho các vị Bồ tát thì đành phải cười trừ thôi! Không thể nghĩ bàn!
Dĩ nhiên “ghế ngồi” ở đây không phải là ghế ngồi. Xá- lợi- phất muốn hỏi “ vai trò, vị trí” của thế hệ Bố- tát mới, Bồ- tát tại gia này rồi sẽ làm gì trong cõi Ta- bà? Dĩ nhiên ngài cũng đã có câu trả lời. Hỏi chỉ để khẳng định sự cần thiết của thế hệ học trò mới này của Phật. 
Cõi Ta-bà này ngày càng ô trược, ngày càng bát nháo, xung đột, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, đầy lo âu phiền não đến nỗi người ta đang tìm cách di tản sang các hành tinh khác, cõi nước khác... Tiếc thay, loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra! Vậy chỉ còn có cách quay lại tìm ở chính mình: phản văn tự tánh. Cõi Phật đâu xa. Đâu có Phật ở trên núi cao, trong chùa lớn, cũng như đâu có sức khỏe ở trong bệnh viện 5 sao?
Thứ bệnh nguy hiểm nhất trong cõi Ta-bà ngày nay chính là SAD. SAD là chữ viết tắt của Stress (căng thẳng) Anxiety (lo âu, sợ hãi) và Depression (trầm cảm). Cả thế giới. Không trừ nơi nào! Bởi ở đâu cũng tràn ngặp Tham Sân Si. Và các nhà Tâm lý trị liệu, các thầy thuốc phải tìm một phương thuốc “mới” để chữa trị: Thiền. Phải, chỉ có thiền may ra “cứu rỗi” được. Ấy là MBSR (Mindfullness-Based Stress Redaction) và MBCT (Meditation-Based Cognitive Therapy). Thời đại khoa học tiến như vũ bão mà phải dựa vào Thiền mới mong  “giải thoát’’ được chẳng phải cũng là “bất khả tư nghì” đó sao?
Duy- ma- cật bảo: “Một vị Bồ- tát trụ ở pháp môn giải thóat bất khả tư nghì ấy thì có thể đem nui Tu- di cao lớn mà đặt vào hạt cải, không có bên nào thêm bớt. Tướng trạng núi Tu -di vẫn y nguyên như cũ”...
Chỉ ở trong thiền định, chỉ khi “hành thâm Bát -Nhã” thì mới thấy được “pháp” Không. Không ở đây không phải là không có. Có chớ. Nhưng chỉ giả tướng. Là do Duyên sanh. Khi nhìn kỹ vào bên trong, nhìn kỹ vào bên kia (kiến tướng phi tướng), thì ra, nó là chân không. Chân không mà diệu hữu. Núi Tu- di vẫn là núi Tu- di, vẫn đẹp đẽ, sừng sững cao ngất đó, nhưng thực tướng của nó vẫn là Không, là duyên sanh, cũng từ sỏi đá, từ đất nước gió lửa mà ra. Thì hạt cải tí xíu kia cũng là chân không, cũng từ đất nước gió lửa mà thành đó thôi. Nó có khác gì nhau đâu. Nó có phân biệt gì với nhau đâu. Bất khả tư nghị pháp môn đó chính là thấy được cái chân khôngdiệu hữu, diệu hữu mà chân không đó. Tu- di cũng vậy mà hạt cải cũng vậy, nước bốn biển cũng vậy mà lỗ chân lông cũng vậy. Nhìn “phi tướng” thì thấy Như Lai đang tủm tỉm cười.
Khi Einstein bảo vật chất chính là năng lượng, năng lượng chính là vật chất,  có hẳn một công thức (E=mc2) để biến đổi vật chất thành năng lượng và năng lượng thành vật chất thì… không phải ai cũng có thể “nghĩ bàn” được. Cũng như khi nhà hoá học bảo chỉ với ba nguyên tố Carbone (C), Hydro (H) và Oxy (O) sẽ “tùy duyên” mà thành đường, dấm hay rượu… ! Nói cho cùng, các thứ gọi là vật chất hay năng lượng nọ kia, các nguyên tố này khác, chẳng qua là nhưng ‘’trình hiện’’ bên ngoài, tùy duyên thôi. Cũng chỉ là những electron và neutron quấn quít xà quần, rồi hạt, rồi sóng hỉ hả qua lại đó thôi. Đến một lúc, à há, thì ra “bổn lai vô nhất vật’’!
Nhưng chấp không vốn là một thứ bệnh nặng của Bồ- tát, Duy- ma- cật đã cảnh giác!
Đỗ Hồng Ngọc.

HUN LUYN ‘THU CẢM’
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Empathy
Thấu cảm (empathy) không phải là thông cảm. Cũng không phải là đồng cảm. Tiếng Việt ta có nhiều từ “thấu” rất hay như thấu hiểu, thấu đáo, thấu… xương ( lạnh thấu xương! )…
Cho nên thấu cảm không dễ chút nào!  Thấu cảm đòi hỏi phải có khả năng đặt mình vào vị trí người khác để hiểu rõ nguồn cơn, ngọn ngành. Từ cái hiểu sâu sắc đó mới có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp. Đối với người thầy thuốc thì thấu cảm là đặt mình vào vị trí của người bệnh để hiểu được đằng sau nỗi đau kia còn có nỗi khổ nào, đằng sau cái bệnh kia còn có cái hoạn nào. Nhờ vậy mà mối tương giao thầy thuốc – bệnh nhân trở nên “đằm thắm” hơn, truyền thông sẽ hiệu quả hơn, có sự hợp tác tốt hơn giữa thầy thuốc và bệnh nhân.
Trong buổi thảo luận “Bàn tròn sinh viên” năm thứ hai tại trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch vừa qua nhằm chuẩn bị thái độ và kỹ năng cho các em đi lâm sàng đạt hiệu quả tốt, một sinh viên nói em cầm kim chích thuốc cho bệnh nhân mà run rẩy, chỉ sợ bệnh nhân đau. Vậy là tốt. Biết sợ bệnh nhân đau là tốt. Chỉ lo lâu ngày chày tháng biến thành vô cảm. Người ta vẫn thường trách người thầy thuốc hôm nay, chỉ biết máy móc xét nghiệm mà không thấy có bệnh nhân, chẳng cần hỏi han, chẳng cần “nhìn sờ gõ nghe” gì đến bệnh nhân cả. Một em lớp lớn khuyên do quá đông sinh viên nên phải chia từng nhóm để “thao tác’ trên bệnh nhân rồi chia sẻ thông tin với nhau. Một vị thầy nhắc, đối với người bệnh, không nên dùng từ “thao tác”. Thao tác là dùng cho máy móc kia. Em hãy tưởng tượng mình chính là người bệnh đang có nhiều biến chứng trầm trọng đó được nhiều sinh viên tới ‘thao tác” thì sẽ cảm thấy thế nào? Phải luôn biết ơn người bệnh vì nhờ họ mà em được học hỏi để trở nên người thầy thuốc giỏi.  Một vị thầy khác nói thêm: với cái TV cũ, hư hỏng nặng, người thợ có thể khuyên: sửa không được đâu, vô ích thôi, mua cái khác cho rồi! Còn với một bệnh nhân không thể nói vợ ông già quá rồi, chữa không được đâu, vô ích thôi, lấy vợ khác cho rồi được!
Khoa học y học ngày càng tiến bộ, nhiều kỹ thuật mới ra đời, thâm chí có khả năng thay thế bác sĩ, chẩn đoán bệnh tật, cho y lệnh chính xác. Người thầy thuốc được dạy để biết sử dụng các máy móc tân kỳ, thay đổi mẫu mã xoành xoạch đó, dần dần có khuynh hướng chạy theo kỹ thuật, lệ thụôc máy móc và qua đó cũng lạnh lùng, máy móc, “khoa học”, xa cách dần với…con người. Nó làm cho người thầy thuốc trở nên bí hiểm… chẳng khác gì  các phù thủy của những bộ lạc ngày xưa! Thế nhưng con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi: cũng những âu lo, phiền muộn, sợ hãi, cũng những ganh tị, ghen ghét, mừng vui, cũng những già nua, tuổi tác, ốm đau, bệnh hoạn …
Mấy năm trước, trường Y khoa đại học California Los Angeles, đã làm một cuộc “thì nghiệm” lý thú  nhằm huấn luyện các bác sĩ tương lai để có khả năng “thấu cảm” tốt hơn. Họ chọn một số sinh viên y khoa tình nguyện giả bệnh nhân để  nhập viện điều trị. Hoàn toàn bí mật. Chỉ có giám đốc bệnh viện và điều dưỡng trưởng tham gia trong nhóm nghiên cứu mới được biết trước, còn toàn bộ nhân viên đều không được biết.
Một “ca” giả tình huống té thang lầu, có giai đọan ngất thóang qua; một ca giả đau bụng, oí mửa, mất nước, kiệt sức (cho uống Ipeca), và ca thứ ba giả bị tai nạn xe máy, đau thắt lưng, một chân bị yếu. Các sinh viên được “tập huấn” kỹ,  khai bệnh trơn tru, qua mắt bác sĩ nhận bệnh. Chọn buổi chiều thứ bảy, cuối tuần, là lúc mọi người dễ lơ đễnh nhất để vào bệnh viện. Các “bệnh nhân” được thử máu, truyền dịch, chụp CT, MRI các thứ …
Sau đây là kết quả: Một sinh viên nói “Lúc đó cảm thấy bất lực, hoàn toàn mất tự chủ. Không kiểm soát được. Chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Chẳng ai giải thích phải làm xét nghiệm gì, lúc nào, tại sao… cũng đành“nhắm mắt đưa chân”! Người thứ hai là cô sinh viên y khoa năm thứ ba, Lisa Shapiro, nói cô hoàn toàn kinh ngạc thấy bác sĩ rất kiệm lời, lạnh lùng, luôn có vẻ mệt mỏi, như chỉ làm cho xong bổn phận, còn  điều dưỡng thì khá hơn, tử tế hơn một chút.  Cô cảm thấy rất hoang mang, sợ hãi, cô đơn cùng cực. Tất cả đều nói bệnh giả mà thành bệnh thiệt!  Lisa Shapiro nói thêm “ Có cảm giác như mình bị sụp bẫy! Tim đập lọan xạ, huyết áp tăng vọt và có vẻ sốt cao thật sự!”. Người nằm giường kế bên cô là một bà già bệnh nặng, kêu bác sĩ suốt đêm, đèn cứ tắt rồi sáng liên tục làm cô không sao nhắm mắt nổi. Căng thẳng. Bơ phờ. Mệt mỏi!
Được hỏi qua trải nghiệm này, liệu khi ra trường trở thành bác sĩ, cô có quên sạch không? Cô khẳng định không thể nào quên! Cô chỉ nằm viện có 19 giờ đồng hồ mà thấy thời gian dài đăng đẵng. Khi bác sĩ đến thăm bệnh nói cô khá nhiều rồi, cho xuất viện, cô mừng đến phát khóc!
(ĐHN)

Wednesday, July 26, 2017

KHÓC CHỊ


Hoàng Xuân Sơn

Vườn xưa. Tranh Đinh Cường

Chị Hoàng Hương Thuỷ 
ra đi sáng sớm ngày 26 tháng 7 năm 2017

nhủ phôn.  chưa kịp phôn
cứ chần chờ chần chờ
chị đi rồi mới thấy
tuổi đời mình chơ vơ

chị là người chia sớt
chút hương văn đầu đời
không có chị em sẽ
lạc dấu hồng tinh khôi

em sẽ không là em
em đã không còn chị
chân nhang mù vọng tộc
biền biệt đáy hương trầm

tối tăm ôi tối tăm
đau lòng ôi đau lòng
chị đi rồi mới thấy
buổi vàng chiều xa xăm

khóc.  đâu chỉ là lệ
là quặn thắt không cùng
là nỗi niềm kể lể
với đêm dài mông lung

người đã xa rồi
đất không níu lại
có nhìn theo mãi
chỉ nhìn theo thôi*

[nhớ bài Thư Xuân Gởi Chị**
bây giờ trời đất nín thinh]

*thơ, Trần Vấn Lệ
** thơ, Hoàng Xuân Sơn


Thư Xuân Gởi Chị

Chị ở bên kia bờ đông hải
bảy năm trông ngóng một ngày vui
cha con cách trở đường muôn dặm
tình nghĩa phu thê luống ngậm ngùi

Chị vẫn mưa chiều chăn gió sớm
đằng đẵng sương khuya gối mộng ngày
đêm dài bóng nhớ hồn thanh sắc
con lớn buồn như ngọn cỏ may

Sao khiến mẹ già đi xa xứ
em lạc quê nhà như kiếp chim
chị còn ở lại trồng thương nhớ
trên mảnh đất khô tưới lệ mềm

Muôn trùng ly cách ai mà chẳng
nghĩ đến người thân buồn nát hồn
cuồng chân bó gối sầu vô tích
tay dài không với nổi hoàng hôn

Nhớ quá chiều năm xưa áo mới
xuân hành rạng rỡ chị cùng em
chị còn giữ lại vành khăn ấm?
em áo tha hương đã bạc sờn!

Xuân vẫn âm thầm nghinh bóng giặc
phố phường chắc hẳn vắng người qua?
có chăm hương lửa hồn linh khấn
một buổi mai thiêng sáng lại nhà!

Chị ở bên kia bờ đông hải
bao giờ kể chuyện một ngày vui
để cho tâm sự tròn thao thức
và chốn yên vui mãi với đời

HOÀNG XUÂN SƠN
Viễn Phố, 1988
Laval, Québec – Canada; 26/7/2017


ĐỨA BÉ THẢ DIỀU TRÊN ĐỒNG VÀ VẤT CƠM CÚNG MẢ MỚI


nguyễn xuân thiệp

Tranh Bồ Đề Đạt Ma
Trần Vàng Sao vẽ. ký tên Nguyễn Đính

Trên là tựa đề một bài thơ của Trần Vàng Sao. Bài thơ nói về con diều của tuổi thơ bay lượn trên cánh đồng mà sao câu chuyện quá buồn. Buồn và oan khốc như cuộc đời của chính tác giả.

Buồn và oan khốc. Đúng vậy. Buồn từ lúc tuổi còn thơ. Vì gia đình nghèo, cha chết sớm, mẹ tần tảo đầu sông cuối chợ. Mơ mộng của tuổi thơ chết theo cánh diều trên cánh đồng đầy những mồ mả… Nhưng thôi, xin hãy gượm nói về cánh diều và tuổi thơ của Trần Vàng Sao. Ta hãy nhìn lại toàn bộ cuộc đời của nhà thơ.

Trần Vàng Sao là người cùng xóm Vương Phủ với Nguyễn. Ngày xưa, cái xóm nhỏ bé này có  ba người làm thơ: Võ Ngọc Trác nổi tiếng là nhà  thơ siêu thực với thi phẩm Thượng Thẩm, cùng kẻ này và Trần Vàng Sao. Trần Vàng Sao, tên thật là Nguyễn Đính sinh năm 1941, sống từ thuở ấu thời đến bây giờ tại phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký ghi lại những suy nghĩ của ông về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’. Sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó’, theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt’ ông viết sau này.

Điểm qua như vậy ta thấy được Trần Vàng Sao là người yêu nước với tâm hồn ngây thơ trong sáng và nhiệt tình của tuổi trẻ nhưng rồi ông bị vỡ mộng khi nhìn thấy bộ mặt thật của Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa và sự tham lam, tàn ác và dã tâm của những người Cộng Sản. Những tác phẩm của ông như  Hồi ký Tôi bị bắt (1976), Cương lĩnh chính trị diễn ca, Bài thơ của một người yêu nước mình (19-12-1967), Người đàn ông 43 tuổi nói về mình (1984), Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa (1990), Tau chửi… là những bức tranh màu xám của xã hội đồng thời là bản cáo trạng lên án chế độ với “những con người bằng máy / đầy gân thiếu trái tim”.

Trở lại với bài thơ “Đứa Bé Thả Diều Trên Đồng…”  Cũng như Trần Vàng Sao, Nguyễn thích ngắm những cánh diều bay và mê thả diều. Ngày nhỏ lang thang theo đàn bò trong khu rừng thưa gần bên thị trấn. Nhân lúc bò gặm cỏ, mình tìm một thân cây đổ, trèo lên nằm ngả lưng, miệng ngậm một cọng cỏ, nghe tiếng chuông trên cổ bò vang qua rừng cây, ngắm cánh diều ai thả bay lượn trên bầu trời. Và Nguyễn cũng có cánh diều của tuổi thơ mình. Ôi, biết bao nhớ tưởng, tiếc thương. Và chính lúc này đây, Nguyễn đang nghĩ tới cánh diều đầu tiên mình có trong đời. Đó là những ngày đã xa, quá xa, chìm lẫn trong màu xanh thời gian. Những ngày Nguyễn còn “áo vắt vai đi qua rừng sim / lội trong cỏ may ngập đầu gối”... Cánh diều đầu tiên được làm bằng những thanh tre mỏng manh, dùng giấy từ tập vở cũ cắt ra rồi dán lên. Dây diều thì xin những cuộn dây bố dùng dư của chú Từ, chắp nối lại cho dài ra. Khi diều đã làm xong, Nguyễn cùng thằng Sao trong xóm chạy ra quãng đồng không ở làng Lại Thế, đợi gió lên để thả diều. Một thằng cầm đầu sợi dây chạy đằng trước, thằng kia nâng con diều chạy theo và phóng lên. Lúc đầu, con diều la đà trên mặt ruộng rồi rớt xuống. Thế nhưng, cuối cùng rồi nó cũng bay lên được. Hai đứa cười sung sướng. Nhưng nụ cười không đậu được bao lâu đã vội tắt. Diều đứt dây, băng đi theo cơn gió lớn, rồi nằm run rẩy trên đầu ngọn tre.

Đó là cánh diều đầu tiên của tuổi thơ. Sau này lớn lên Nguyễn có thêm nhiều cánh diều nữa trên cánh đồng người. Ngay những năm lưu thân nơi xứ này, mình cũng được ngắm những đứa bạn của tuổi thơ ấy. Nguyễn rất hạnh phúc khi gặp lại cánh diều trên vùng cát trắng nước xanh màu ngọc bích của bãi biển Destin ở Florida. Cũng như ngày nào trên bãi biển Galveston, Texas, Nguyễn được nhìn thấy hai cánh diều sặc sỡ lượn bay dưới sợi dây căng của hai cậu bé. Ngày ấy, có hai gia đình Việt Nam gồm vợ chồng con cái cùng đi tắm biển Galveston. Chắc hẳn hai ông bố hồi nhỏ cũng mê thả diều nên muốn các con mình biết niềm vui trong sáng của ấu thời. Và họ đã làm hai con diều thật đẹp, theo kiểu diều Đông phương, màu cánh sen pha nâu và biếc, như màu của một chiếc chăn thêu. Như vậy là hai ông bố này đã mang theo quê hương trong hình ảnh con diều giấy. Nguyễn tìm tới làm quen, thì được anh Hải người Huế cho biết, ngày xưa anh từng thả diều trên cánh đồng làng Lại Thế, Phú Vang, là nơi quê nhà của Nguyễn. Và trước khi sang Mỹ định cư, anh Hải từng có chân trong Câu Lạc Bộ Diều của Huế. Đôi lần, anh đoạt giải thưởng thả diều của thành phố. Tới nay, anh vẫn còn tương tư những cánh diều trên bầu trời quê cũ. Nhìn những con diều giấy của hai anh, bây giờ được trao tay lại cho các con nhỏ, Nguyễn chợt thấy nhớ thiết tha bầu trời mình từng lớn lên, biết hờn giận và yêu thương, khi còn nơi quê cũ. Em ơi, làm sao quên được.


Với Trần Vàng Sao, hình ảnh con diều bay trên cánh đồng, thương thay, không còn là hạnh phúc của tuổi thơ nữa. Bởi bên nó lởn vởn sự nghèo đói và những nấm mộ trên cồn đất cao. Cậu bé thả diều trong bài thơ nằm trên cỏ mà nhớ tới những miếng sắn khô luộc chấm với muối sống. Cậu đang đói. Muốn chợp mắt ngủ cho quên cơn dày vò của cái dạ dày nhưng không được. Cậu vẫn mở mắt nhìn con diều bay trên bầu trời. Nằm một lát thấy chán cậu đứng dậy đi lên cồn cao ngồi nhìn người ta đi cúng viếng mộ. Có cả trẻ con nữa. Chúng cũng nhìn theo cánh diều của Trần Vàng Sao. Bao nhiêu hình ảnh chập chờn trên cánh đồng tha ma. Và, vắt cơm cúng mả mới… Xin mời đọc bài thơ để cảm thương cho một tâm hồn.

“không có ai đi ngang qua đây để thấy con diều
của tôi
buổi trưa đứng bóng trên trời rất nhiều gió
tôi nằm ngửa nhai mấy cọng cỏ gà
nước cỏ non mát trong cổ
tôi đói bụng và muốn nhắm thật lâu hai con mắt lại rồi ngủ quên
gió rớt lào rào trong lá tre trên đầu
tôi không thấy mặt trời đâu hết
chỉ có mấy con châu chấu nhảy trong tóc
và mùi trú ngún trong bếp ở xa
tôi nhớ những miếng sắn khô luộc chấm với muối sống
bây giờ thì không còn gì nữa
tôi nằm nghiêng co người lại nhìn con diều
buồn quá nằm lâu không được
tôi đi lên cồn mả ngồi cho cao
nhiều người đứng đông đang cúng lạy
những đứa con nít bằng tuổi tôi bịt khăn đỏ khăn vàng
đi giày dép
đưa tay che mắt nhìn con diều giấy của tôi trên trời”...

Em thả diều và lơ đãng chờ người ta ra về để ăn chén cơm cúng và bần thần tự hỏi không biết khi nhà mình có người chết có cơm để cúng hay không?
tôi không nói gì hết
tôi cầm một cục đất ném vào bụi dứa
gió nhiều thêm
con diều của tôi quạt hai cánh bay giật lên rồi
đứng yên

tôi đợi lâu cho mọi người đi hết
cho mấy cái khăn vàng khăn đỏ hết ngoái lại nhìn tôi
con ai dại trời nắng không có mũ nón trên đầu
mấy cây hương còn cháy cắm lên vắt cơm để trên miếng lá chuối hơ vừa héo

“tôi ngồi xuống đất
những hột cơm trắng và khô
tôi ăn cả tàn hương phẩm đỏ vào bụng
liệu ai ở nhà tôi chết có được một vắt cơm to
trắng thế này để trên mả không

tôi phủi hai bàn tay vào nhau
đến chiều gió rất to
hai cái đuôi con diều muốn đứt
nhưng tôi không còn dây nữa”

Rời khỏi cái không gian của tuổi thơ nghèo đói cô đơn, Trần Vàng Sao đi vào thời trung niên bão tố và bầu khí quyển ngột ngạt một thời sau khi đất nước chuyển mình đỏ rực.
NXT


HÂN KHÚC & TRẦN GIAN


Hoàng Xuân Sơn

Thơ Joseph Huỳnh Văn

hân khúc
                       
đọc joseph huỳnh văn,với nguyễn xuân thiệp

mỏi lưng.  sào chống.  cạn đường
nằm nghe lục thẩm du dương bến tình
sao mình còn ở loanh quanh
chiếc nôi vinh sử
khúc quành máu xương
người còn thương mình còn thương
nên thơ chống chọi với tuồng hoa bay
một lời sơ thẩm ban mai
hỏi riêng mới biết chơn mày phôi pha
ôi.  xuân mặt đẹp như là
phẳng gương giác độ phồn hoa trập trùng

21 tháng bảy 2017


trần gian
niềm cô đơn nhiều khi dựng dậy
nhảy đựng
như lưỡi bào
đời có những cơn hứng trào bia bọt
chiều tro than củi cháy rực dòng
xếp lại hồn ô y
hơ tay vào phương tán
giữa nóng và nguội
hoàng hôn xám.  bình minh ửng hồng
lừng lừng ánh dội
hừng đông lưỡi rắn mắt mèo
đánh thức hồn âm nuối

yêu ngon trớn làm sao vội vàng
làn cong chạy
trốn
môi hung tợn rình rang gió mùa
đếm tận những nụ hôn
khô bỏng rẩy run treo chút nhiệt lượng đầu ngày
âm ỉ ngời vết sống
tới hết mùa xanh dương

[ đâu cần phải chui đầu vào đại dương tâm hồn mới lớn lao như biển cả chỉ cần một giọt nước cũng đủ sáng long lanh mắt người ôi giọt nước mang đời đi khắp ngã sao đất liền khô hạn mấy can qua ]

hãy đếm.  và nâng niu những cuộc tình
dù chiều nay lá vàng tơi tả
đêm vẫn săm soi hơi thở gần
để biết cuộc đời còn nương theo đại mộng
như cánh áo lần cởi hết khuy
triệu ngón sao băng giảo nghiệm lời nguyện ước

hoa vẫn nở dù hoa đang trôi
buồn man mác là hương nồng đắm đuối
hoa vẫn nở chìm đi đâu mà vội
nắng vàng ơi ngày xanh biếc ơi
đừng ngại nói những lời hoa mỹ
đẹp lòng nhau và đẹp lòng nhau

HOÀNG XUÂN SƠN
cuối tháng ba không năm