Monday, July 27, 2015

ĐÊM SÀI GÒN



Ban Mai

Cà phê Thềm Xưa. Sài Gòn

Trong căn phòng tối, bên cánh cửa mở tiếng vĩ cầm réo rắt hòa tấu bài “Secret Garden” tôi nghe mải miết suốt đêm. Sài Gòn nóng bức. Sài Gòn ngộp thở. Tôi chao mình bay trên những nốt nhạc huyễn hoặc của Richard Clayderman, như khi xưa hàng đêm tôi ru tụi nhóc ngủ, mong tâm hồn chúng cảm nhận được cái đẹp để sau này có cuộc sống thăng hoa.
Trời ơi, những nốt nhạc làm ngây ngất hồn tôi, nỗi đau, nỗi buồn, những dằn xé như chìm trong không gian âm thanh quyến rũ của chàng.

Sài Gòn với tiếng còi xe gào rú, dòng người quay cuồng, nắng như ngạt thở dù mùa này vẫn còn vương vất ngày đầu xuân.
Tôi muốn quên đi nỗi sợ khi hàng ngày tin các nữ sinh mất tích bí ẩn trên đường.
Tôi nhắm mắt không muốn thấy xác các em bé không còn nội tạng.
Tôi bịt tai không muốn nghe cô phát thanh viên ca ngợi những tượng đài hoành tráng nhân danh các bà mẹ anh hùng, làm tiêu tốn hàng ngàn tỉ tiền thuế của dân khi ngân khố đất nước đã trống rỗng.

Tiếng vĩ cầm đưa tôi vào khu vườn bí ẩn trong đêm đen dày đặc, tôi lạc vào ma hồn trận của những tàng cây cổ thụ với những rễ cây phủ dài như tóc người con gái, các dây leo như vòi bạch tuột quấn lấy người tôi, tiếng lá xào xạc dưới bàn chân, tiếng nỉ non của côn trùng đang giao hoan, và... tiếng rên đau đớn của những hồn âm còn váng vất.

Đêm Sài Gòn, đêm của những cán bộ vung tiền như nước với các trận cười thâu đêm.
Đêm Sài Gòn, đêm của những cô bé miền Tây nai tơ bung nở trong vòng tay du khách.
Đêm Sài Gòn, đêm của những đứa trẻ lang thang bán vé số, đánh giày.
Đêm Sài Gòn, đêm những người mẹ tảo tần oằn gánh cuộc đời rảo bước trên từng con hẻm nhỏ.
Đêm Sài Gòn, đêm những người cha còng lưng cho một cuốc xe đạp thồ mong ngày mai con mình khôn lớn.
Đêm Sài Gòn, đêm của những sinh viên ra trường đau đớn cầm mảnh bằng tung lên trời cao cho một ngày mai thất nghiệp.
Sài Gòn phóng khoáng, Sài Gòn hào sảng đón vào mình những tứ xứ tha phương.
Sài Gòn tươi khỏe, Sài Gòn năng động đang gồng mình gánh cả đất nước.

Đêm Sài Gòn, đêm của những mảnh đời tha hương.

7/2015
BM

MÙA HẠ



Duyên

Summer Day. By Talbert

trưa nóng bỏng.
xe dầy đặc, giờ cao điểm?
mới 3 giờ chiều, 
ngày còn dài. đêm chưa tới...
chút gì nặng nề, không gian nhiều tiếng động.
xe cộ ngập đường, 
như giòng sông cạn, 
cố xuôi dòng...
thật chậm. chảy về đâu? 

OC  có những quán hàng, tên Việt Nam.
trên những con đường  mang tên Mỹ
tiệm ăn ngon, phố tấp nập người.
Sài Gòn nhỏ, đây rồi, 
đã mất dấu. Sài Gòn xưa?

Có người khách lạ, đến OC. 
yêu mùa Hạ, nắng mầu Việt Nam.
xinh đẹp quá.
hè rực rỡ, 
mưa e dè. không dám tới.
phố đông người. 
những người, xa lạ...
con chim nhỏ đâu rồi, 
không về cất tiếng hát ca. 
chim muôn đời. chỉ là chim phố nhỏ.
nơi thinh không có ngọn gió. bay. đùa, 
reo vui  theo tiếng chim.ca. hát.
có bướm vờn, bên những cụm hoa.
mùa đông dài, ngọn cây cao trụi lá.
lặng đứng chờ, đợi mãi...mùa Xuân.
đêm về.  có tiếng còi tầu. đơn điệu. 
ngày lại ngày...
vọng lại, từ xa...

duyên

Friday, July 24, 2015

TẢN MẠN BTCP. VIẾT DƯỚI BÓNG QUÊ NHÀ & VIẾT Ở QUÊ NGƯỜI


nguyễn xuân thiệp
  
Hoa phượng   
    Viết dưới bóng quê nhà
    Trong bài tản văn thi Từ Một Bếp Lửa, hồi tưởng lại thời thơ ấu, mình đã viết những dòng sau đây: “Có thể nói không gì ấm cúng, thân yêu bằng bếp lửa của mẹ. Nó là hình ảnh của ấu thời tôi, và có lẽ cả ấu thời các bạn nữa. Và phải chăng mỗi khi cảm thấy chới với trên đường đời, ta lại tìm về bếp lửa ngày xưa ấy. Tìm về để được thấy an ủi, tin tuởng hơn, hầu cất bước đi tiếp trên con đường chông chênh của kiếp người."
   Đúng vậy, có một người cũng khởi đi từ một bếp lửa như thế. Đó là nhà thơ Lê Văn Ngăn (bạn một thời của Nguyễn vừa mới ra đi. Ôi , Ngăn ơi!) Bửu Ý cũng viết: "Lê Văn Ngăn ra đi từ "bếp lửa", cái đốm lửa hồng là điểm giàu giữa một bức tranh từng nuôi nấng anh, luôn đeo đẳng anh suốt dặm đường dài và nhắn nhủ anh sớm sớm quay về."
   Quả có thế, Lê Văn Ngăn suốt cuộc đời mình đã đi lại nhiều lần trên những con đường quen thuộc, và anh đã chọn Viết Dưới Bóng Quê Nhà. Anh lưu luyến bên bếp lửa của mẹ, bếp lửa của quán cà phê chị Sáu ở Đà Lạt, ánh đèn trên khung cửa sổ của nhà người yêu, hay cơn mưa khuya trên đường vắng, hay bóng ngày trên ngọn bạc hà cao.
   Như trên có nói, Lê Văn Ngăn là bạn một thời của Nguyễn. Thuở ấy, những năm tháng ở Đà Lạt, có nhiều đêm cùng Ngăn đi lang thang ở khu Hòa Bình, ghé vào quán cà phê hoặc quán rượu, mãi tận khuya mới trở về căn nhà của Nguyễn trên đường Nguyễn Trường Tộ. Vừa đi, vừa đọc thơ. Có đêm, không biết Lê Văn Ngăn hái từ đâu một cành dạ lý hương đem về phòng. Tới khuya, mùi dạ lý tỏa nồng nặc, chịu không nổi, mình phải trỗi dậy, ném cành hoa ra ngoài cửa sổ. Lần khác, Nguyễn từ những con đường đất đỏ đầy gió của Pleiku, Kontum trở về, mang theo mười bài thơ vừa làm. Một đêm ở nhà Nguyễn Quang Tuyến, lúc mọi người trong nhà đã đi ngủ, Nguyễn đọc cho Lê Văn Ngăn nghe mấy bài, trong đó có Tôi Cùng Gió Mùa dài trên trăm câu. Nghe xong, Lê Văn Ngăn kéo mình nhảy rào (vì cổng nhà Tuyến đã khóa) ra phố lang thang. Trên đường đi, Ngăn chỉ nói một câu: Một bài thơ lớn không thể chỉ gồm có bốn câu hay tám câu.
   Thuở ấy, Nguyễn từng yêu những bài thơ phiêu lãng của Ngăn: Ví Dụ Một Vẻ Tàn Phai, Bên Hồ Thủy Ngữ, Con đường hoa khế, Mái Nhà... Ở những năm tháng thanh xuân ấy, thơ Ngăn mạnh mẽ, bềnh bồng.

Đôi người bạn ở sau vườn dưỡng khí
Ngày thanh niên hoa khế rụng bên đời
Ngồi nhớ lại con đường không giới hạn
Nắng lòng tôi em đem áo ra phơi

Tôi về đây
đốt điếu thuốc nghiêng nghiêng chiều lửa đỏ
ngày trên cao
reo mấy ngọn bạc hà
  
     Giờ đây, như mình đọc thấy trong Viết Dưới Bóng Quê Nhà, thơ Lê Văn Ngăn như đằm xuống, lắng sâu hơn vào những hình ảnh bình thường của đời sống. Ít nhiều, Ngăn đã tìm thấy ở đó sự an ủi và yên phận. Một thứ hạnh phúc buồn. 
    Nhắc đến Lê Văn Ngăn mình vẫn còn một điều không yên trong lòng. Ấy là cách đây hơn nửa năm, Lê Thị Huệ của trang Gió-o nhắn cho biết Lê Văn Ngăn muốn xin địa chỉ của mình để liên lạc. Do bận việc và bản tính thơ ơ biếng nhác, mình cứ chần chừ cho tới một hôm đọc Thanh Niên Online thấy tin Lê Văn Ngăn bệnh nặng phải nhập viện. Mọi sự như vậy là đã trễ chỉ còn đọc lại trang thơ của bạn nói về một mùa hè và màu hoa phượng.

Hoa phượng những năm chúng ta còn trẻ tuổi và hoa phượng buổi chiều nay vẫn nguyên một màu thắm tươi dưới nền trời mùa hạ

Hoa không đổi thay như thể để chứng kiến người qua lại trên đường không ngừng thay đổi.

Cả em và tôi, chúng ta đã không ngừng thay đổi
….
Trăm năm sau, chúng ta sẽ không có mặt giữa người qua lại trên đường chỉ thấp thoáng vài dấu vết trong màu hoa không thay đổi.

      Hôm nay, giữa khi thunderstorm kéo qua bầu trời, hoa hải đào như phượng nở đỏ ở thành phố Garland, N
guyễn xin gởi đến cái bóng của bạn mình ngày xưa những tình cảm quý mến của người ở xa. Có bao giờ, Ngăn và Dao Ca về ngồi lại trên bờ biển Quy Nhơn, trong đêm mơ hồ những ánh lửa cô đơn, đọc lại những câu thơ ngày nào. Và tưởng tượng...
gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua

thổi qua những biên thùy. rào cản
những ước định của người
những tấm lòng phân chia biên giới
những màu da
những dòng nước mắt

gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua 

     Viết ở quê người  
      Như thế đó, chúng ta đều mơ một ngày không còn những bức tường, bờ rào, những cột mốc phân chia giữa những bến bờ... Thế nhưng, cho tới ngày hôm nay, sự thù hận và phân biệt vẫn còn, và những bàn tay gân guốc còn siết chặt cổ họng người.
   Vâng. Cho tới ngày hôm nay, chúng ta đã bị tách rời ra khỏi đất nước tới hằng chục năm và chưa biết tới bao giờ... Từ trên những xa lộ của xứ người, mãi mãi còn nhìn thấy những cánh chim trời bạt gió. Nhà thơ Cao Tần, tức Lê Tất Điều, dừng chân bên một bờ hồ đất lạ, viết:

Nói nghe coi này cổ thụ ven hồ
Kể từ những trăm năm dài đứng đó
Có gặp khi nào một kẻ xác xơ
Lòng sầu hận hơn kiếp người da đỏ

   Những bài thơ viết trên đất người, ở những năm tháng đầu của cuộc sống lưu vong tị nạn, hiện lên cả một trời uất hận và tuyệt vọng:

Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
Gánh sơn hà toan chất thử lên vai
Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?
                                (thơ Cao Tần)
   Kẻ này với Lê Tất Điều có chút quen biết xưa. Một đêm, trước Ngày Sụp Đổ Lớn, hai đứa nằm trên chiếc bàn ở phòng vi âm Đài Tiếng Nói Quân Đội Sài Gòn, Lê Tất Điều cho biết ngày mai anh sẽ đưa cả gia đình ra Phú Quốc tìm đường đi. "Chúng ta chiến đấu chống Cộng Sản gần hai mươi năm như thế đã là anh hùng lắm rồi..."
   Và Lê Tất Điều ra đi từ đó. Riêng kẻ này phải hai mươi năm sau mới khóc giã từ màu phượng đỏ của thành phố Sài Gòn. Ở Mỹ, Nguyễn biết Lê Tất Điều cư ngụ ở San Diego, vậy mà chưa một lần ghé thăm bạn. Tới đây, khi có dịp, sẽ nhờ Nguyễn Đắc Điều đưa tới thăm nhau, để chỉ hỏi một câu: Hơn ba mươi năm qua rồi, đã quên hết buồn chưa và hiện tại đang nghĩ gì, viết gì...
   Với Nguyễn, khi "Nói với chim én ở San Juan Capistrano" Nguyễn tưởng như mình đã quên hết buồn xưa

ngọn gió santa ana
thổi trên trí nhớ
của những chùm bông giấy
kêu. bằng hợp âm
san juan capistrano

ôi. chim én
đã về. dưới mái nhà thờ ngói đỏ
thành phố biển
san juan capistrano
như niềm vui của trời

   Nhưng không, nỗi buồn vẫn còn đó, nhưng giờ đây đã mở ra cùng thế giới

ôi. dallas
nơi tôi đã đến. đã ở hơn mười lăm năm. đã viết
                                 văn làm báo
và sẽ ra đi
vầng trăng trong cỏ rối
còn lại bao lâu. những bài thơ. lúc chia tay
không ai vẫy chào. không giọt lệ

và buổi chiều. tiếng cười trên góc phố
tiếng cười
như thủy tinh. vỡ
dường như. dường như. rất quen
  
     Có lần, Nguyễn viết: Tâm hồn tôi giờ đây dường như không còn biên giới nữa. Tôi đã biết thích crawfish, pizza, steak ở Trail Dust... Và yêu nhạc blues, bông hoa hippie, thơ beat... Cho nên Nguyễn lấy làm hứng khởi khi đọc bài đoản văn của một người ký tên Đỗ. Xin trích một đoạn đăng lại sau đây, để các bạn cùng chia sẻ.
   ... "Nếu bạn đến San Francisco, đừng quên cài một bông hoa lên mái tóc..."
    Hơn 40 năm trước, tay hippie cao kều Scott MacKenzie ngồi xếp bằng nghêu ngao ca khúc danh tiếng này của John Phillips. Bông hoa ấy chính là những bông hoa năm cánh màu vàng cam, biểu tượng của phong trào hippie đã từng tràn ngập trong giới trẻ Mỹ và loang đi khắp thế giới...
    Những bông hoa hippie ngày ấy -than ôi- giờ đã lụi tàn: nó đã trở thành thì quá khứ của một lịch sử không dài, nhưng dấu tích hippie vẫn còn được "bảo tồn" bằng khu phố Haight-Asbury dài chưa đến một cây số. "Làng hippie" ngày xưa nay trở thành con phố chen chúc các quán ăn Tibet, Cuba, cửa hiệu sách cũ, đồ lưu niệm, quần áo mũ nón, đĩa nhạc, poster... của một thời vàng son. Và người khách châu Á túi vải áo nâu dáng vẻ như một thiền sư đang chúi mũi vào giá sách cũ kia biết đâu chính là một chàng hippie, chàng beatnik thuở nào đang tìm lại ánh hồi quang một thời vang bóng? (Trích theo Đỗ Trung Quân. Tiền Vệ)

      … Và viết ở Caffe Trieste...
  
Caffe Trieste

NXT & Đinh Cường
ở Caffe Trieste. 2013

Caffe Trieste có một lịch sử. Lịch sử ấy bắt đầu từ đâu, không quan trọng: từ cái anh chàng thanh niên ngư dân nghèo Giovanni Gianni của vùng Trieste ở Ý, mười lăm tuổi đi học hát opera, hay từ gã lau chùi cửa kính ở San Francisco những ngày đầu di cư qua Mỹ,... Cái tên lịch sử này toạ lạc ở số 601, trên góc phố Vallejo/Grant, là tiệm cafe expresso & cappuccino đầu tiên mở ở bờ biển phía Tây California năm 1956 (nay vẫn còn hơi ấm hồi tưởng của cái bàn nơi Francis Ford Coppola ngồi nhiều tháng trời đẽo gọt kịch bản The Godfather, cũng là nơi một thời từng trở thành "phòng khách" của Jack Kerouac, Allen Ginsberg và những nhà thơ beatniks bạn bè, nói cách khác, của cả một Beat Generation). Từ khi khai trương cách nay hơn nửa thế kỷ, Caffe Trieste đã nổi tiếng với cách kết hợp từ phong vị nước Ý cổ xưa, đến thơ ca Bohemien, âm nhạc và nghệ thuật. It has become famous across the world for its combination of essences: Old Italy, Bohemian poets, art and music, and excellent Espresso. Caffe Trieste đã đi vào nhiều tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ danh tiếng thế giới như Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky... Sau đây là Brodsky và Caffe Trieste:

Tôi đã trở lại góc phố Vallejo
và Grant như một tiếng dội
với đôi môi giờ đây
thích nụ hôn hơn chữ nghĩa
Ở đây chẳng có gì thay đổi.
Kể cả bàn ghế kể cả thời tiết...
(Joseph Brodsky-Café Trieste: San Francisco, 1980).

Caffe Trieste... Ông chủ Papa Gianni nay đã trên 85 tuổi. Năm 2006, Caffe Trieste tròn 50 tuổi. Tất cả những nhà thơ danh tiếng (Tutti poeti -theo cách nói pha tiếng Ý của Papa) thường ngồi đây, trong những đêm đọc thơ, trình diễn nhạc jazz và nhạc cổ điển... Xưa vốn thế và bây giờ vẫn thế... Ngồi ở đây, trong hơi gió biển từ vịnh San Francisco thổi về mà như nghe những tiếng động của nhịp bước thời gian. Ôi, tiếng đàn thùng... Nguyễn những ước mong một ngày kia được ngồi ở đó và viết bài thơ Caffe Trieste, tiếp nối Brodsky... Cũng là lãng du dưới trời lưu xứ.
2010

Viết thêm sau khi đọc lại tháng 7. 2015: Cách đây 2 năm (2013) Nguyễn và Đinh Cường đã tới Caffe Trieste. Cùng đi có Hải Phương và Quận, Nguyễn Trí Minh Quang, cũng vào mùa hè nắng rực rỡ. Hỏi thăm Papa Giani còn hát không, người trong quán trả lời chỉ thỉnh thoảng vào những dịp đặc biệt thôi. Thế nhưng Nguyễn vẫn thấy ông thấp thoàng đâu đó trên những bức tranh và ảnh trên tường và trên bàn ghế cùng hương cà phê thoảng bay.

Đọc tiếp: Ngồi ở Caffe Trieste, trò chuyện với Brodsky

NXT

Wednesday, July 22, 2015

MẬT [KH]ƯỚC



hoàng xuân sơn

                           
 Minh họa Bài Thơ Vườn Thẩm. Đinh Cường

                gởi Nguyễn Xuân Thiệp

người bỏ người đi xa
bóng vẫn ngồi đợi bóng
giữa khoang tối ngân hà
một vì sao khẽ rụng

rồi đẩy trăng tàn bay
lẩn lút đời quy hướng(*)
phía bên kia là ngày
bên này hương thấm muộn

có gì xanh mãi đâu
hồn cây già rêu đá
một khuôn mặt đã dàu
một dáng còm ú ớ

rọi soi với gương chiều
chim kêu đàng tu hú
chiếc gậy cùn mỏi xiêu
dò chống theo lằn cụ

nơi đâu rộn tiếng người
cuộc vui nào cháy túi
đóm lửa nằm hiu hiu
cũng không buồn thức dậy

run rẩy một tờ chiêm
mộng qua đồi lãm thuý
ngàn dâu chép lại miền
một ảo trang thuỳ mỵ


hoàng xuân sơn
15 juillet 2015