Monday, August 20, 2018

BẠT CHO TẬP ‘KỶ NIỆM KHÔNG CÓ MƯA’ CỦA Ý NHI


Vũ Thành Sơn

Ý Nhi và tác phẩm

Tôi là kẻ khác
Arthur Rimbaud

Bằng một vọng âm đặc biệt, Kỷ niệm không có mưa khiến chúng ta bất ngờ nghe thấy một cơn mưa khác chưa hề tạnh trong kỷ niệm. Cơn mưa của Jacques Prévert.

Em hãy nhớ
Dẫu sao em cũng hãy nhớ ngày hôm ấy
Đừng quên
Một người đàn ông trú dưới mái hiên
Và chàng kêu tên em
Barbara

Và em đã chạy tới phía chàng dưới mưa
Ướt đẫm hân hoan rạng rỡ
Và em đã lao vào tay chàng
Em hãy nhớ điều ấy Barbara

Và đừng giận tôi nếu tôi gọi em bằng em
Tôi gọi bằng anh em tất cả những người tôi yêu mến
Ngay như tôi chỉ gặp họ có một lần
Tôi gọi bằng anh em tất cả những người yêu nhau
Ngay như tôi chẳng hề quen biết họ
Em hãy nhớ Barbara

Đừng quên
Cơn mưa hiền hòa hạnh phúc ấy
Trên gương mặt em hạnh phúc
Trên thành phố hạnh phúc ấy
Cơn mưa trên biển
Trên công binh xưởng
Trên con tàu Ouessant ấy

Ôi Barbara
Chiến tranh thực là đần độn chó má
Bây giờ em đã ra sao
Dưới trận mưa sắt
Lửa thép máu ấy[1]

Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã lùi rất xa nhưng vết thương trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam chưa bao giờ thật sự ngủ yên và vĩ thanh từ những chia cắt, ngộ nhận và bạc đãi vẫn còn rền rĩ không dứt trong mỗi phận người.

Vì vậy, cho dù trong tâm tưởng, những kỷ niệm đối với nhà thơ Ý Nhi, luôn sáng trong và ấm áp nhưng chúng ta vẫn cảm thấy phảng phất qua từng trang viết của Kỷ niệm không có mưa một dư vị cam phận, buồn bã. Có phải bởi vì văn chương, suy cho cùng, bao giờ cũng là một hơi thở dài cuồng nhiệt và ám ảnh của đời sống?

Kỷ niệm không có mưa ghi chép những kỷ niệm cá nhân của nhà thơ Ý Nhi với nhiều văn nghệ sĩ ở hai miền Nam-Bắc trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Ở một khía cạnh nào đó, qua trung gian của tác giả, chúng ta được nhìn ngắm, được “tiếp xúc” với những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ đó trong đời sống thực trần trụi ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và tất nhiên, có cơ hội để làm một sự đối chiếu thú vị giữa con người nghệ sĩ mang tâm tình, khát vọng, băn khoăn, lo toan hằng ngày với những đứa con tinh thần của họ; để kiểm chứng trong bối cảnh cá biệt của Việt Nam tính xác thực một phát biểu của Lucien Goldman “Lịch sử văn học đầy dẫy những nhà văn mà tư tưởng của họ đối nghịch quyết liệt với ý nghĩa và cấu trúc tác phẩm của họ”[2]. Có thể nói tuy tác giả tự đóng khung hồi ức của mình như là một triển lãm chân dung dưới góc nhìn cận cảnh “để bày tỏ lòng biết ơn”, Kỷ niệm không có mưa một cách khách quan đã cung cấp không ít tư liệu văn học quý giá, lý thú cho những độc giả yêu thích văn chương và những nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại và cũng chính điều đó mới thực sự làm nên căn cước của tác phẩm trong tư cách là một chứng cứ của một giai đoạn lịch sử. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, dưới góc nhìn của tư liệu như vậy, tập sách đã soi rọi một tia sáng hiếm hoi vào một không gian văn học mà vì nhiều lý do không được công bố chính thức, hiện nay hẵng còn chìm khuất trong bóng tối. Trong viễn tượng đó, nếu đọc với một quy chiếu lịch sử, chính trị, xã hội cụ thể, Kỷ niệm không có mưa sẽ mang một chiều kích khác vượt ra ngoài giới hạn tự thân của nó cũng như chủ đích khiêm tốn ban đầu của tác giả để có thể được coi, hay nên được coi, như là một phiên bản lịch sử cá nhân của một số phận nghiệt ngã có tên gọi chung là Việt Nam.

Kỷ niệm không có mưa,  tác phẩm phi hư cấu đầu tiên của nhà thơ Ý Nhi, hoàn toàn có thể được đọc như một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, mỗi nhân vật một tính cách, một số phận, được kể bằng một giọng thì thầm của một người ngồi hồi tưởng bên khung cửa. Nó đem đến cho chúng ta một Ý Nhi khác trong một chân dung nhìn nghiêng; một Ý Nhi kín đáo, rụt rè trong quan hệ xã hội nhưng tinh tế, sắc sảo trong vai trò một độc giả-nhà thơ. Sự hòa quyện bất phân ly, hoặc đôi khi hoán đổi, giữa hai vị trí ấy được thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối của câu chuyện cho cảm giác người nghe cùng với người kể như đang cùng tham dự vào đời sống của chính nhân vật, tạo ra một sự sống động hấp dẫn.

Chúng ta sẽ bắt gặp một Tô Thùy Yên, “một người đàn ông tầm thước, lịch duyệt, từ tốn”, “mong có dịp ra Hà Nội, nơi ông từng qua giữa đêm khuya trong chiếc xe chở tù bít bùng, chật chội.” (Thức cho xong bài thơ)

Hay Nguyễn Minh Châu “ít khi xuất hiện ở những nơi đông người, mà có tới, chắc cũng ngồi ở một căn phòng đóng kín cửa nào đó”, một người với “nhiều cái sợ, sợ đủ thứ, sợ ma quỷ, sợ đám phê bình, sợ tuyên huấn”. (Gương mặt người kêu gọi)

Còn với nhà thơ bị Việt Phương: “Có lần Việt Phương khoe với tôi ông có nhiều thơ tình yêu và sẽ gửi cho tôi đọc vài chục bài. Tôi chợt nhớ đến nhận xét của Xuân Quỳnh về thơ tình của ông, đại ý: Thơ tình của Việt Phương dành tặng cho những cô tôi đã yêu, những cô tôi đang yêu, những cô tôi sẽ yêu và những cô tôi chưa kịp yêu. Một tình yêu không có địa chỉ chăng. “Đâu cũng em mà em chả là ai” thật sao. Không. Tôi nghĩ, có địa chỉ đấy, có “là ai” đấy nhưng ông chỉ đứng trước căn nhà đó thôi. Có thể, có vài lần Việt Phương đã đưa tay bấm chuông nhưng chủ nhà chưa kịp mở cửa thì ông đã rời xa. Có đôi khi ông đã vào nhà nhưng chỉ ngồi ở phòng khách, uống một ngụm trà rồi cáo từ. Việt Phương là con người có thể “nhận tất cả tình yêu của em không có anh trong ấy”, có thể nơi nào đó “thì thầm nói chuyện cùng em/ Em cứ ngủ bình yên trong thành phố”, và có thể “yêu em một tình yêu tự đủ”. Chẳng làm gì nên tội mà Việt Phương đã áy náy: “Nhưng anh đã gây đủ cái phần gây đau khổ trên đời”. Việt Phương là như vậy. Một cách tự nhiên, từ trong bản chất. Ông không thể khiến bất cứ ai đau khổ, tổn thương.” (Thơ làm chết người như bỡn Thơ làm sống người được chăng)

Sự nhạy cảm của một nhà thơ-kể chuyện cũng dễ dàng bắt gặp qua những quan sát kín đáo, tinh tế: “Có lẽ, trong nhiều năm tháng nổi trôi trong cõi đời này, ông phải nói một mình rất nhiều, nhiều đến nỗi đã thành một thói quen khó thay đổi. Vì vậy chăng mà những lời ông nói ra như có sức nặng nào đó đọng lại trong lòng ta. Tôi từng được nghe ông chơi đàn kìm và cảm thấy dường như có mối liên hệ cật ruột giữa lời nói của ông và những âm thanh bật lên trong buổi chiều ắng lặng miệt vườn, giữa cơn mưa rả rích.” (Niềm hạnh phúc được trả bằng rất nhiều đau khổ).

Chúng ta cảm động nghe tác giả kể lại bằng một ngôn ngữ chân thật tình bạn của tác giả với nhà thơ Xuân Quỳnh: “Quỳnh thích màu vàng. Mùa hè 1973, khi tôi sinh cháu thứ hai, Quỳnh đến thăm. Quỳnh mặc một chiếc áo phin nõn màu vàng nhạt, Quỳnh khoe mới mua được. Quỳnh đem cho tôi một chục ổi chín, thơm phức, ngượng nghịu bảo: “Thay vì mang trứng thì tao lại mang ổi”. Tôi nhớ bấy giờ Quỳnh nghèo lắm, như tất cả chúng tôi. Quỳnh ngồi chơi rất lâu, nói rất nhiều chuyện. Quỳnh đang rất buồn vì một chuyện tình cảm đổ vỡ. Quỳnh có đôi mắt rất đẹp và buồn. Hôm ấy tôi nhìn thấy ngấn nước trong đôi mắt đen tuyệt đẹp ấy.” (Nhớ Quỳnh)

Hay “Xuân Sách rất ít nói. Và cũng không hay cười. Có cảm giác ông đang nghĩ ngợi về một điều gì đó, chưa thể nói hoặc không thể nói. Nhiều lần, giữa đám đông, tôi thấy ông lặp lại cử chỉ tôi từng thấy trong lần gặp đầu tiên: khoanh tay, đầu hơi cúi xuống, nhìn chăm chú vào một nơi nào đó.” (Nhớ một giọng cười)

Một số tác giả được nhắc đến trong Kỷ niệm không có mưa hoặc đã mất hoặc hiện thời không còn ở trong nước. Những cảm nhận hay nhận định của Ý Nhi, vì lẽ đó, mang tính chất hồi cố nhiều hơn là một sự tương tác như đối với các tác giả đương thời. Song, dù vậy, những hồi cố ấy sẽ làm cho chúng ta, với độ lùi của thời gian, khi đọc lại không khỏi kinh ngạc cho sự ngây thơ, bế tắc của một giai đoạn lịch sử.

Lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta hy vọng, sẽ còn phải quay trở lại với thời kỳ đặc biệt này cùng với những thi sĩ, nhà văn bị bạc đãi hay “có vấn đề” như Tô Thùy Yên, Việt Phương, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy, Nguyễn Xuân Sách; đồng thời ở một mặt khác, sự phát triển lành mạnh của một nền văn học đòi hỏi phải có một sự soi sáng những mảng tối với nhiều khuôn mặt mà nếp gấp của lịch sử vẫn còn tiếp tục phủ bóng lên họ như Tế Hanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…Những khoảng trống đó đã được phơi bày ra, kêu gọi một sự khai quật khi tập sách được gấp lại.

Dưới góc nhìn đó, Kỷ niệm không có mưa có một giá trị đích thực, bền vững không thể phủ nhận qua việc cung cấp những chi tiết sống thực. Đó là lý do vì sao chúng ta, những độc giả, có thể dễ dàng bị lôi cuốn vào những câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận hoàn toàn riêng tư và mang đậm tính giai thoại của một nhà thơ vốn tự nhận là “chỉ thích màu đen”, xa lánh đám đông và thường “tìm một góc để ngồi”.

Cuối cùng, đọc Kỷ niệm không có mưa trong sự liên kết với những tác phẩm khác của Ý Nhi có mở ra những khả thể khác? Hay nói một cách khác, từ một kinh nghiệm đọc Kỷ niệm không có mưa quay trở về với những tác phẩm của chính tác giả có làm cho người đọc phát hiện ra những chiều kích mới? Sau những tác phẩm thơ, năm 2014, Ý Nhi ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên Có gió chuông sẽ reo và bà hiện nay vẫn tiếp tục thử sức với thể loại này. Cũng như chính tác giả tự nhận “Mỗi nhà văn đều đã tự họa chân dung của mình qua tác phẩm”, chúng ta tin điều đó là sự thật.
VTS

[1] Jacques Prévert, Rapelle-toi Barbara, bản dịch Nguyễn Đăng Thường và Diễm Châu.
[2] George Steiner, Language and Silence, tr. 216.

MÙA THU THỪA PHỦ


Cái Trọng Ty

Huế xưa. Nguồn: Internet


Gửi Anh Nguyễn Xuân Thiệp
                         
chờ em thừa phủ mùa ly loạn
tháng tám trời mưa tôi đứng đợi bên sông
vi vút gọi đò
tiếng gió chân mây

bến lạnh nước trôi
mây áo trắng
thời có em mưa nắng dậy thì
chim chiều về núi phượng
vỹ dạ vắng
mùa hạ bên sông vương phủ vườn khuya

hạt thóc tình tôi
nẩy mầm xuân muộn
một thời tai kiếp nặng trường sơn
hương thạch xương bồ
thơm mùa ve hát
tiếng sáo đêm thu nghe hơi thở trương chi
tình tôi chiếc lá vàng chưa rụng
trăng cũ vườn em
nước mắt hời
đường xa những vòng xe quạt nước
vồng cải vàng quê lạnh ráng chiều

cầu bạch hổ nắng hồng xuân mới lớn
hai hàng trạng nguyên
cổng kín tường rêu
dế gọi hoàng triều lung lay mái ngự
đêm nguyên tiêu thờ thẫn sáng thơ ngây
tôi nhắn dùm em tình thu xào xạc
hoa học trò phượng đỏ trường xưa
bốn mùa theo em về ngang lối cũ
hương áo dài bay sực nồng eo lụa
một chút tình thôi đã chết trăm năm
nắng sớm theo em
nắng chiều hốt hoảng
 một mình anh đi suốt cõi lưu vong

CÁI TRỌNG TY

KHÔNG CÓ MÂY TRÊN THÀNH PHỐ LOS ANGELES. LÊ UYÊN PHƯƠNG…


Nguyễn Mạnh Trinh.

Tác phẩm Lê Uyên Phương

Có một nghệ sĩ đã viết trong một tác phẩm văn xuôi của mình:
     “... Ca khúc là để ca ngợi tình yêu, ca ngợi tình người. Ca khúc là để than khóc, để trách móc. Ca khúc là để ước mơ, để đau đớn. Ca khúc là để chửi rủa, để van xin. Nếu đề cập đến một cái gì khác những điều đó, ca khúc không còn là ca khúc nữa, phải thế không? Vì thế khi chúng tôi hát lên :
Có những điều muốn nói mà không nói được
Vì gia đình tôi
... Có những điều không muốn nói mà tôi vẫn nói
Vì tôi hèn nhát
...Vì thế trong đời tôi đã nhiều lần dối trá
 Vì thế trong đời tôi đã nhiều lần dối lòng
    ...Tôi cảm nhận rất rõ ràng cái thân phận con rối của tôi, tôi thấy rất rõ cái thụ động của mỗi con người trong cuộc đời này, những trói buộc của hoàn cảnh xã hội của hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân...đã hướng dẫn hành động con người và tạo nên những tác động torng đời sống chúng ta.
... Tôi đã viết rất nhiều tình ca và tôi yêu tất cả những bài tình ca đã từng có trên trái đất này, nó như những dòng nước trong, nó chính là hy vọng của chúng ta trong cuộc sống. Nhưng tôi cũng biết rằng những rác rến sẽ làm bẩn dòng nước đó dễ dàng ra sao và những hy vọng của chúng ta, những ước  mơ của chúng ta sẽ dễ dàng bị vẩn đục như thế nào. Một hy vọng bị vẩn đục đó là một thất vọng. Một ước mơ bị vẩn đục đó là một thực tại. Một tình yêu bị vẩn đục đó là sự thù ghét. Những điều đó không phải là hai mặt của một đồng tiền, không phải là cái đối nghịch nhau -có cái này thì không có cái kia- vậy thôi.
       Trước đây những bài tình ca của tôi được viết từ phía này, phía của dòng nước trong; giờ đây những bài tình ca của tôi được viết từ phía kia, phía của dòng nước đục. Nếu trước đây, tôi đã viết về hy vọng thì giờ đây là thất vọng, nếu trước đây tôi đã viết về những giấc mơ thì giờ đây là một thực tại, nếu trước đây tôi viết về tình yêu thì giờ đây là sự thù ghét. Có phải vì thế mà những bài ca của tôi đã trở thành xa lạ với khán giả của mình không?”

      Người nghệ sĩ ấy là Lê Uyên Phương, là mênh mang tâm sự trong lời ca ý nhạc. Và Không Có Mây trên Thành Phố Los Angeles là một tập gồm truyện ngắn và tùy bút bên cạnh các tuyển tập ca khúc  nổi danh như Yêu Nhau Khi Còn Thơ, Khi loài Thú Xa Nhau, Uyên Ưong Trong Lồng, Bầu Trời Vẫn Còn Xanh, Con Người, Một Sinh Vật Nhân Tạo, Biển Kẻ Phán Xét Cuối Cùng, Trại Tị Nạn  và Các Thành Phố Lớn, Trái Tim Kẻ Lạ, Lục Diệp Tố.
       Nhạc sĩ Lê Uyên Phương mất ngày 29 tháng 6, năm 1999, đến ngày hôm nay, 29 tháng 6 năm 2018  là ngày giỗ thứ mười chín. Nhưng, nhạc của ông vẫn như là của ngày sinh nhật, vẫn được hát và được nghe với một sức sống tích cực đến lạ kỳ. Nhạc như lời tâm sự của những người sống trong một thời đại chiến tranh với những bản tình ca vút lên từ thân phận con người...

      Tự nhiên, khi nghe nhạc Lê Uyên Phương, tôi lại nhớ về Đà lạt. Thành phố ấy, những giấc mơ thanh xuân, những ước vọng tuổi trẻ. Tôi tưởng tượng như khi mình đang sống giữa thành phố sương mù. Con đường rào rạt tiếng thông reo của những bình minh vừa ửng hồng. Giữa cái trong veo của thiên nhiên, thấy lòng trải ra những kỷ niệm. Xuống con dốc, qua chợ Hòa Bình, đến thung lũng thấp hơn, khu Hồ Xuân Hương, bến xe. Leo lên con dốc nữa, Nhà  thờ Con gà . Những cảnh gợi nhớ đến người, có lẽ hoài hoài trong trí nhớ…
      Thành phố ấy, là nơi Lê Uyên Phương viết những bản nhạc đầu tiên Khi loài thú xa nhau. Lúc tuổi trẻ, nhạc có nét hoang sơ của những lũng vắng, của mùi mật cỏ , của vị da thịt người tình. Bằng âm nhạc, bằng ngôn ngữ, là những bước chân khám phá giây phút linh thiêng lạ lùng của bà Evà cắn miếng táo cấm đầu tiên. Nhiều người phê phán sự ví von. Tại sao lại hạ thấp vị trí của con người như vậy. Nhưng phần đông, nhất là giới trẻ, lại ưa thích nồng nhiệt những bài hát mang cái tâm tư khắc khoải cùng những ước vọng, những đam mê rất thường, rất người.Những bài hát có một lúc đã thành một hiện tượng âm nhạc…

    Trong bài viếtHát trong quán cà phê”. Lê Uyên Phương đã viết về một thời thế mà anh đã viết thành  ca khúc những nỗi niềm tâm sự của cả một thế hệ lớn lên và sống cùng chiến tranh.
     “ ... Bấy giờ là thời kỳ mà cuộc chiến đang vô cùng sôi sục quanh những ly cà phê đen, người ta nói nhiều về những bạn bè đangở trên các mặt trận, người ta nói nhiều về cuộc sống và cái chết, về cái phải và cái không phải trong cuộc chiến đang xảy ra, người ta nói nhiều về những sự việc trong một quân trường hay trong một trại nhập ngũ nào đó và đôi lúc cả những nhà văn được giải Nobel lúc bấy giờ, xen lẫn với những mẫu chuyện về một cô gái xinh đẹp nào trong thành phố. Sự lo lắng về một tương lai bất định của thời chiến quả đã là một ám ảnh lớn cho tất cả chúng tôi lúc bấy giờ. Những giọt cà phê nhiều khi đã không được uống vì cái vị đắng của nó mà vì cái vị đắng của cuộc chiến kéo dài tưởng như vô tận so với cuộc đời hết sức ngắn ngủi của chúng ta -một người bạn vừa hy sinh ở góc rừng nào đó, không những để lại cho người thân của anh ta những nỗi buồn phiền bất tận mà còn thêm vào trong cái khói thuốc của căn phòng bé nhỏ vuông vức của những quán cà phê một sự u ám lạnh lẽo không cùng. Chúng tôi đã nhiều lần ngồi thở dài để đưa tiễn một người bạn lên đường và trong những câu chuyện chúng tôi đã luôn luôn cố gắng để giải thích cho chính mình mọi sự dấn thân của chúng tôi lúc đó. H. là một sinh viên ghiền ma túy. Một hôm trời đã khuya, chúng tôi đang lúc vui đùa ồn ào với nhau trong quán, H. bỗng ra dấu cho mọi người yên lặng anh cầm cái thẻ sinh viên của anh đưa lên cao cho chúng tôi nhìn thấy rõ rồi xé làm đôi, anh tuyên bố từ hôm nay anh chặt đứt mọi hệ lụy trong quá khứ của mình, ngày mai anh lên đường đi trình diện tình nguyện nhập ngũ- Chiến tranh đôi lúc đã giải quyết cho chúng tôi một cách hữu hiệu những vấn đề cá nhân như thế. Biết bao chuyện đã xảy ra trong quán cà phê, ở đó đôi lúc đã là nơi mà những khúc quanh của một đời người bỗng mở ra trước mắt...”
      Nghe nhạc Lê Uyên Phương, những lúc buồn hay những khi vui, vẫn là một nhịp của trái tim hối hả .   Tình yêu, khó mường tượng.  Có lúc, là  mượt mà da thịt của người nữ, gợi cảm, mời gọi. Nó gợi nhớ đến những giọt mồ hôi lóng lánh trên làn da mướt lông măng.  Nhưng, cũng có lúc, là những cánh chim đơn lẻ chíu chít trên con phố sương mù, của bâng khuâng thoảng đến trong tâm thức. Khi yêu nhau, bóng với hình lẫn lộn, thực lẫn mộng chỉ có tấc gang và bất hạnh cùng hạnh phúc kề cận nhau trong  niềm nhòa nhạt của cuộc sống. Nghe nhạc Lê Uyên Phương, trái tim trẻ hoài, trẻ mãi. Khi tuổi đã lớn, ngẫm nghĩ từ ca từ, lắng nghe từng nốt nhạc, vẫn tìm thấy nhiều điều kỳ thú, mới lạ. Nhịp đập trái tim có khác với suy tư của lý trí? Hay xúc cảm có nhiều ngã rẽ, nhiều bước ngoặt. Từ trước , có nhiều người tìm hiểu và định nghĩa tình yêu. Và, hình như , đều có chung những kết luận không đầy đủ. Một sự bất lực của lý trí để giải nghĩa cho cảm xúc của con tim .
      Cách nay hơn bn chục năm, năm 1973 ở Đà lạt, Lê Uyên Phương đã viết những lời nhạc trong “ Cất Tiếng Hát Giữa Đời :
  “ Hãy thử hỏi lại, ta còn lại gì
Trong trí nhớ nhỏ nhoi
Là một bầu trời xanh
Là mối tình lành
Hay nhẹ nhàng nuối tiếc
 Hãy thử hỏi lại
Ta còn lại gì
Trong trí nhớ nhỏ nhoi
Là cơn mưa đầu mùa
Là câu hát vu vơ
Hay một giây tuyệt vọng…”
      Trong tập nhạc thưở ấy , Con người , Một sinh vật nhân tạo, nhạc sĩ đặt nhiều câu hỏi. Tùy mỗi người , câu trả lời sẽ dễ dàng hay khó khăn theo từng cá nhân cảm nhận. Với mọi người, câu trả lời đi gần với lý lẽ  tự nhiên, kiểu như cuộc đời nó như thế , như vậy. Nhưng , nếu ở người mà xúc cảm căng lên cao độ,  như nhạc sĩ Lê Uyên Phương  mà những nốt nhạc thăng hoa thành cao ngất cảm giác , thì khác. Bầu trời xanh, cơn mưa đầu mùa, những lời ngỏ của bài hát tình, những câu đối thoại vu vơ ngơ ngẩn, những chiều mưa một mình con dốc, tất cả thành khuôn cửa mở ra một lãnh thổ của tưởng tượng. Ở đó, ngôn ngữ văn chương và cung bậc âm nhạc giao hòa, tưởng như ngàn xa vọng về. Hạt mưa, sợi nắng, chiếc lá, ngọn gió, không đơn thuần là vật chất, mà, còn là tượng hình của cảm giác nào xa xôi lắm nhưng lại thân gần. Như hạt mưa, không chỉ là thuần túy hạt nước rơi xuống từ trời cao, mà, nó gợi lại những nhịp điệu của âm vọng tiếng mưa trên mái tôn thuở thơ ấu nào.  Hay giọt nắng, không phải chỉ là mầu vàng phai lóng lánh, mà còn gợi nhớ đến buổi sáng nào dìu em trên ngọn dốc, nghe mùi nhựa thông thoang thoảng giữa đất trời…
     Lê Uyên Phương đã viết về ngày xưa, lúc anh vừa viết những bản tình ca cho tuổi trẻ muôn năm. Không phải là không khí của những phòng trà nồng nặc mùi khói thuốc của những trang sách hiện sinh vẽ ra. Mà, lúc ấy, còn có bóng dáng của chiến tranh, của những nỗi niềm tuổi trẻ. (Nhạc trẻ, tôi vẫn không thích cái từ ngữ gộp chung cho các loại nhạc thật sự cho tuổi trẻ mà chỉ là những bài hát lai căng hát để phục vụ cho nhu cầu đầu tiên của các sân khấu dành cho quân nhân ngoại quốc...)
     Viết về Đà Lạt, nhạc sĩ như người trở về thánh địa xưa của mình, của hồi ức mang mang, của những phút giây chẳng thể nào quên được:
“.. không thể nào quên được những đêm thật tuyệt vời của Đà Lạt vào những năm của thập niên 60. chúng tôi, như phần đông những người trẻ lúc đó, thường hay la cà khắp các quán cà phê ở Đà Lạt , nhất là cà phê Tùng gần chợ Hòa Bình. Cái phòng vuông vức với những hàng ghế liền bọc plastic đỏ , những chiếc bàn thật thấp, trên tường có một bức tranh lớn vẽ một người chơi guitar theo lối nửa lập thể, nửa ấn tượng, và cái không gian đầy khói thuốc trộn lẫn với âm nhạc nhẹ phát ra từ chiếc loa không lớn lắm đặt trên cao, tất cả đã trở thành một thứ ma túy đối với chúng tôi…
… một bài hát mà lúc bấy giờ chúng tôi ai cũng ưa thích, bài J' entend Souffler le Train, tôi không nhớ ai đã hát bài hát đó, nhưng cái âm hưởng vừa gần gũi vừa xa vắng của bài hát -như một tiếng còi tàu- đã thể hiện đúng tâm trạng của chúng tôi lúc bấy giờ . Phải chăng trong sự thôi thúc của đời sống, trái tim ta đôi lúc cũng bắt gặp được cái nhịp đập bất thường rất kỳ diệu của cuộc đời và trong mỗi khối óc của chúng ta, một số những tế bào não bộ đã hiểu biết được đôi điều về cái đẹp vô cùng của sự não nề trong kiếp sống.
    Trong cái bấp bênh của cuộc sống lúc bấy giờ và trong cái xao xuyến không cùng của trí óc, âm nhạc đã tự nhiên có sức quyến rũ đặc biệt đối với chúng tôi. Không có thời kỳ nào mà âm nhạc lại đóng vai trò tuyệt vời đến như thế, nó thâm nhập vào con tim chúng ta  và biến mọi lo âu của cuộc đời thành một niềm hoan lạc mới
      …hãy ngồi xuống đây vai kề sát vai
      cho da thịt này đốt cháy thương đau
      cho cơn buồn này rót nóng truy hoan
      cho thiên đường này
                          đốt cháy trong cơn chia phôi
                          chia phôi tràn trề
     hãy ngồi xuống đây bên con vực này
     ngó xuống thương đau.”
  ...Những quán cà phê lúc bấy giờ đã thực sự trở thành cái nhà của chúng tôi, ngoài giờ đi làm, đi học, ra quán cà phê là nơi chúng tôi thường xuyên có mặt, bất kể ngày đêm, ở đó chúng tôi có thể tìm gặp những người hiểu được mình và có thể thổ lộ mọi điều riêng tư mà không ai phàn nàn gì cả.
   Hồi đó, nhiều người bạn của tôi đã dùng quán cà phê làm nơi viết lách của họ, anh Lê Trung Trang đọc cho chúng tôi nghe những mẫu truyện dài, truyên ngắn của anh trong cái không gian đầy khói thuốc đó, nhiều bài thơ của HKP, của LK, của PV cũng đã được viết nơi đây, và chính tôi, tôi đã dựng lên Lục Huyền Cầm cũng vì cái mục tiêu để viết lách đó. Mỗi buổi sáng khi sương mù vẫn còn dày đặc trong các lùm cây và làm mờ các cửa kính trong quán, mẹ tôi thường thức dậy từ rất sớm cụ luôn luôn pha sẵn cho tôi một bình nước trà thật đậm; ở một góc quán nhìn ra trước sân, những khóm tường vi bám đầy hàng rào, tỏa mùi hương ngào ngạt, tôi bắt đầu soạn những tập bản thảo của tôi và để hàng giờ trôi qua trong cái không gian yên lặng đó. Đến gần trưa, thường có một người bạn ghé lại quán và chúng tôi cứ thế để cho thời gian trôi qua với những mẫu chuyện không đâu. Đó là không khí của những quán cà phê Đà Lạt và đó là những gì mà cuộc sống đã tiếp đãi chúng ta như những người khách quí và đã tặng cho chúng ta cái tặng vật vô giá của nó sau khi đã thử thách chúng ta bằng những dằn vặt khôn nguôi...”
      Bây giờ, tôi đang nằm nghe nhạc Lê Uyên Phương. Một người bạn,  rất yêu nhạc  của anh đã thu tất cả những bản nhạc anh  thành một bộ tặng tôi.  Nghe nhạc một mình cũng có cái thú nhất là vào những ngày lạnh chớm đông như hôm nay. Trong căn nhà  vắng lặng , qua cửa kính nhìn thấy trời và biển, dõi những con chim chao lượn,thấy nhạc và lời như có ý vị hơn. Con tim như có khi xao xuyến . Một thưở nào, như sống lại , thoảng khi…
    Tự nhiên, nhớ lại lúc còn trẻ , lúc mà các quán cà phê  hầu như ở toàn miền Nam đều mở nhạc Lê Uyên Phương.  Những năm của thập niên 70.
       Những tối mưa dầm ở Pleiku, tôi đã nghe Khi loài thú xa nhau, đã nghe Yêu nhau khi còn thơ. Mưa sùi sụt nỉ non làm ẩm ướt cả ngày cái phố núi lạnh căm. Cả bọn ghé vào quán cà phê. Thật kỳ lạ, dường như nhạc của Phương phải để cho Lê Uyên hát. Giọng hát hơi khàn có pha ma túy của mê đắm tình yêu, khiến sự giao cảm thành giác quan rung động. Những nốt láy, những dấu nhấn, những lên cao và xuống thấp thành òa vỡ cảm nhận đến độ rợn người lúc ấy.  Bên ngoài  trời mưa, gió ào ào qua khuôn cửa, ngồi chung với mấy đứa bạn, thấy cuộc sống như có chút gì tạm bợ, chút gì bâng khuâng. Ngày mai, có đứa ở trại Biệt Động Quân Biên Phòng phải trở về đơn vị vào trong tôi ngủ nhờ. Nó vừa cười vừa hỏi “ Đêm nay có mục gì  không? Hay là gọi một em cho vui. Câu thơ Nguyễn Bắc Sơn lại trở về với tôi  trong trí nhớ.  Lúc ấy, thời buổi chiến tranh, nào biết được đứa nào còn đứa nào mất. Chuyện hiện tại, chỉ biết được đến ngày hôm nay.  Đời sống ngắn ngủi nên tình yêu cũng vội vàng. Nghe nhạc L.U. P, như nghe một thông điệp nào  mà mọi người đồng vọng. Cất tiếng hát, dù chỉ trong một sát na, mà , sao vang vọng vô tận muôn năm. Bài Cất tiếng hát giữa đời:
“ Tôi đang làm một con chim giữa đời
 cất tiếng hát để đánh thức bình minh
 những tiếng hát ngắn một giây đồng hồ
nhưng dài bằng thế kỷ
      Tôi đang làm một con chim giữa đời
 Cất tiếng hát để đánh thức con tim
 Những tiếng hát ngắn một giây đồng hồ
Nhưng cả bằng cả cuộc đời.”
       Ngồi trong quán, đếm những hạt mưa, nhìn thời gian nhẹ rớt trong phin cà phê đen, nghe lời nhạc thì thầm, bạn bè dăm ba đứa thú vị và cảm khái nào hơn. Mãi sau này, làm sao tìm lại được những giây phút bốc đồng bất cần đời ấy được. Tuổi thanh xuân, nhìn đời thẳng tắp, không khuất khúc. Tâm ý lúc nào cũng trong veo chân thật dù buồn hay vui. Tình yêu , thì, như đốt lửa bằng nhiệt huyết tuổi trẻ.  Ngày mai,  có khi chỉ là một chuỗi cười dài vô tư. Y hệt như bài hát Dạ Khúc cho Tình nhân
  “ Ngày em thắp sao trời
chờ trăng gió lên khơi
mà mưa bão tơi bời
một ngày mưa bão không rời
trên đôi môi thanh xuân
ướp hôn nồng trên gối đắm say
ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
cùng rớt bao nhiêu ngày hoang
cùng đếm bao nhiêu mộng tàn
ru người yêu dấu trong vùng trời đêm
vừa hoa nở tươi môi
tình nhân đã xa xôi
đời ngăn cách nhau hoài
một lần htôi đã không thôi
yêu nhau trong lo âu
biết bao lần tha thiết nhớ mong
lá hoa rừng mau xóa đường quay về
làm ánh sao đêm lẻ loi
màu tối gương bùn đèn soi
ân tình sâu vẫn trong đời thủy chung..”
       Nghe nhạc LUP,  sao nhớ lại ngày tuổi trẻ đầy mơ mộng. Lãng mạn của tầm mắt  làm rộn rã nhịp đập của trái tim. Người nhạc sĩ, hơn ai hết là người làm mơ mộng thăng hoa , làm người thắp sao trời, đem tinh tú trang trí cho bầu trời đêm, như ánh trăng làm mượt làn da, làm huyền chân tóc. LUP đã viết về những giấc mơ của mình trong Không có mây trên thành phố Los Angeles:
 “…“Tôi đã mơ đến một chân trời mở ra bất tận, tôi đã mơ đến những hải đảo,  đến những  dòng sông, đến những thành phố lạ tràn ngập ánh đèn, tôi đã mơ đến những bài hát sẽ được bay xa , bay xa mãi. Tôi đã mơ đến những nụ cười thân ái  không xen lẫn một chút  nghi kỵ sợ hãi nào ; tôi đã mơ đến một tình người thật ấm áp không pha trộn những tranh chấp  hèn mọn nào của cuộc sống; tôi đã mơ đến một cuộc sống không bị khô héo vì những độc dược của chủ nghĩa, vì những đeo đuổi mỏi mòn theo cơm áo. Chúng tôi đã mơ, đã mơ. ..Chúng tôi đã hát, đã hát những điều gì đang vọng lại từ những ốc đảo chơ vơ, giữa một sa mạc mênh mông, giữa một biển cả  không đâu là bờ bến?
      Một sự thờ ơ, một niềm im lặng. Chúng ta đã thật quá bé nhỏ giữa cái thế giới rộng lớn này. Chúng ta lại càng bé nhỏ hơn giữa dòng thời gian tạo nên lịch sử nhân loại.”
…”
      Lúc sau này, ngoài những tập nhạc đã hoàn thành như Yêu nhau khi còn thơ,”Khi loài thú xa nhau, Uyên ương trong lồng, Bầu trời vẫn còn xanh, Con người , một   sinh vật nhân tạo, Biển, kẻ phán xét cuối cùng, Trái tim kẻ lạ, Lục diệp tố… anh còn phổ nhạc nhiều bài thơ của các thi sĩ đương thời như Nguyễn Xuân Thiệp, Phạm Công Thiện, Thái Tú Hạp, Kim Tuấn,  Hoàng Khởi Phong,  Huy Tưởng , Nguyễn Mạnh Trinh..
     Đến lúc nhắm mắt lìa đời, dường như LUP vẫn còn mải mê với nhiều cơn mộng. Dù một thời kỳ đã qua, một đời người đã xong, nhưng vẫn còn đó những bài hát, còn đó những phím đàn. Vẫn còn những ca khúc cất lên trong sôi nổi hào hứng của tuổi trẻ. Như khi tóc còn mướt xanh và mắt còn biếc thắm.
     Anh Lộc, bây giờ chắc anh gần gũi lắm với suối nhạc của Bach, của Strauss, của Schubert, của Beethoven, có khi nào  anh trở về, ngồi lại và ghé thăm ngọn đồi thấp gần trường tiểu học thị xã trước mặt là con đường dốc dẫn xuống Hồ Xuân Hương, dọc hai bên đường những cây mai hồng đang nở rộ , trông như những khóm bông gòn màu hồng nhạt lúc  nào cũng tưởng chừng như sắp rời ra từng mảnh nhỏ dưới cơn gió chiều hiu hiu của Đà Lạt…?
NGUYỄN MẠNH TRINH