Sunday, July 27, 2014

NHÀ THƠ LỮ QUỲNH VÀ CON MẮT CỦA GIẤC MƠ





                                                       
                                                            Chân dung Lữ Quỳnh



                                            Tác phẩm Lữ Quỳnh

 Một buổi sáng tháng 7 của mùa hè này, tôi được gặp gỡ ba người anh trong cõi văn chương.
Một đến từ Virgina, nơi quanh năm rét mướt, nên hơi cọ đầy lửa, lửa xanh khơi từ trái tim phết lên tranh sắc mầu của hy vọng, hoạ sĩ Đinh Cường.
Một đến từ miền bắc Calif. miền đất nở ra một thung lũng hoa vàng thơ mộng, nên thi sĩ đi trong thời gian của mình những bước thao thức của giấc mơ, người thơ Lữ Quỳnh.
Một, ở ngay đây, lần đầu tôi được diện kiến dù từ lâu đã văn kỳ thanh, nhà thơ Thành Tôn, nhớ nhất câu thơ của anh, buổi sáng soi gương và đội mũ/ lòng đã hồ nghi khuôn mặt quen. Đôi khi soi gương tôi cũng có cái nhìn ngờ ngợ mình như thế.

 Nhưng sáng nay thì khuôn mặt mùa hè thấy được niềm vui rất rỡ ràng từ những tình thân. Tôi đang thời gian dưỡng thương chờ phục hồi, cũng hơi e ngại khi phải xuất hiện với một dung nhan sau cuộc mổ và đi đứng với cái walker, nhưng kinh nghiệm đã cho tôi biết rằng, những phút giây quý, có thể sẽ không trở lại trong đời, lần nữa. Nên sau đó tôi có được tự nhiên chuyện trò, nhìn anh Đinh Cường ngồi xem world cup với nhà tôi với phong thái của các ông say mê bóng đá. Thật thú vị khi tôi chợt nghĩ rằng, tôi biết một hình ảnh khác của hoạ sĩ khi không cầm cây cọ. Còn anh Lữ Quỳnh thì đã vội vã đi công việc cùng anh Thành Tôn.
 Mà lạ ghê, lần nào gặp anh Lữ Quỳnh cũng chớp nhoáng như thế. Nhớ lại, lần đầu tiên, là nghe anh LQ nói, hôm ở Viện Y Dược Học Dân Tộc, nghe anh Trương Thìn gọi tên khánh minh, thì biết đó là KM. Vậy cũng như không, coi như chưa quen nhau. Lần thứ hai nơi đám cưới con anh TT, tôi ngồi với Ngọc Sương, Quý Loan và Trần Lê Sơn Ý, cô nhà thơ trẻ măng, thơ rất hay, được anh Lữ Kiều vô cùng hâm mộ, anh Lữ Quỳnh ngồi đối diện tôi, và được giới thiệu đàng hoàng, đó là lần tôi gặp và được nói đôi ba câu với anh. Lần thứ hai, gặp anh ở toà soạn Việt Báo, Little Saigon, cũng vội vã, anh em chụp với nhau tấm hình rồi chia tay, vì rằng tôi không lái xe, nên có người đến đón thì phải đi về. Lần này, cũng như mây xẹt ngang, rồi đi.
 Trong nhóm Ý Thức, chỉ có anh Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lê Ký Thương là tôi được gặp và nói chuyện nhiều, còn anh Lữ Quỳnh thì chỉ, như thế. Những nhân vật này luôn cho tôi cái nhìn rất quý về một thế hệ của những chàng lãng tử. Thế hệ được thời gian trao tặng rất nhiều và cũng lấy đi của họ không ít, có khi keo kiệt đòi trả lãi. Tặng phẩm đẹp nhất là họ có được thời gian để sống cho giấc mơ, và cũng nghiệt thay đó cũng là điều đầu tiên bị tước đoạt. Cái chông chênh giữa được và mất ấy đã để lại trong thơ văn tranh của họ những nét đặc biệt, vừa thơ mộng vừa bi thương.
 Thơ mộng ở chỗ họ theo đuổi rất quyết liệt niềm đam mê văn chương nghệ thuật, trong một không gian vốn vô cùng trắc trở của cuộc sống còn, lại lọt vào quãng thời gian khắc nghiệt của lịch sử.
 Chính vì vậy mà bi thương. Trong kề cận sinh tử, những chàng nghệ sĩ có tâm hồn như mây ấy đã nương tựa vào sự gắn bó của tình bạn, có phải vì ý thức được sẽ có những ra đi bất ngờ mà họ hết mình hơn trong những lúc còn bên nhau với ly rượu đầy vơi? Họ phổ những nét đẹp đau thương ấy vào câu thơ lời văn tranh vẽ.
 Và họ đã khắc hoạ được một dòng văn chương thơ- mộng- bi- thương.
 Cho nên khi đọc họ tôi luôn thấy lòng mềm theo những lãng mạn kiêu bạt cùng ngậm ngùi cho những mất mát mà họ chỉ đủ sức buồn trong phẫn nộ, hay đôi khi là tiếng cười, vì tận cùng của nỗi đau không phải là hạt lệ. Tôi thấy rõ hơn những điều mà tôi đã không thấy hết vào lúc điêu linh ấy. Cái thời mà Lữ Quỳnh đã buông câu cười nhạt “Cánh vừa mọc nhưng thiên đường đã mất”(Hôm Nay, Ngàn Sau). Ôi! Như Thi Sĩ Du Tử Lê ở lời tựa trong thi phẩm Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ, đã nói, “hôm nay, đọc những trang văn của Lữ Quỳnh tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu/xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước”.
 Đọc thơ Lữ Quỳnh, cái ánh sáng lấp lánh pha lê choáng mắt tôi, là của tình bạn. Không chỉ mình tôi thấy như vậy, thi sĩ Du Tử Lê cũng nói “…tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu”. 
Kể với quê hương
Chuyện núi rừng- máu xương
Và rất nhiều anh em đã chết
Mỗi lần ước ao cầu nguyện
Chỉ cần giơ hai cánh tay lên
Mà nói với Trời
Niềm vui sẽ nở ra trên nụ cười trắng dã
Nhưng anh biết đã muộn rồi
Khi đất là da thịt anh em
Khi mùa xuân bắt đầu hồng lên sắt máu
Nên em ơi anh phải cúi đầu
Nhận số phận quê hương
Ánh vinh quang trong mắt chúng ta
Những người còn sống
Cũng là của bùn đất các anh
Những người đã chết
(Nỗi Nhớ Từ Cao Nguyên) 

Anh hãy nằm yên đó
Chờ lũ bạn thân này
Chiến trường đang lửa đỏ
Máu còn xanh cho cây
(Sân Bay Buổi Chiều) 

Đường địa cầu thấp thoáng vành nôi
Vạn dặm không dài hơn tiếng khóc
(Đường Vạn Dặm)

 Hôm nay thì tôi biết thêm cái muôn trùng khác của tiếng khóc, cái thăm thẳm của hạt lệ vành nôi. Và cái tràn đầy của chiếc ly không, khi người một mình vắng bạn. 
Đường thuốc lá chiều nay vắng bạn
Một ly mình. Và một ly không
Điếu thuốc lá ngậm hoài thấy nhạt
Khói lang thang khói cũng ngập ngừng
 
Quán hoa giấy chiều nay lãng đãng
Uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không
(Chiều Tân Định) 

Tuổi trẻ không quê hương
Chúng tôi nghèo đủ thứ
Năm tháng thèm quê hương
Như khát lời ru ngọt
(Tuổi Đời)

 Nghèo đủ thứ nên nhà thơ lãng mạn của chúng ta đã giàu những giấc mơ. một ánh sáng, mầu sắc khác trong thơ Lữ Quỳnh. 
Trắng như những giấc mơ
Có bạn bè khuất núi kéo nhau về
(Thêm Một Năm Xa Tiếng Nói Cười)

Lòng ta quanh năm chỉ một mùa vàng lạnh
Giấu bạn bè trong những giấc mơ
(Một Lần Rồi Xoá Tan)

 Giấu bạn bè trong những giấc mơ. Đẹp và cảm động quá. 
 Và, để có được giấc mơ, chắc cũng không ít lần, nơi ấy, nhà thơ phải chịu giá rất đắt. Cũng cam. 
Chiều về nặng trĩu vai
Vác cây đời thánh giá
Đêm nằm canh giấc mơ
Sợ những điều trả giá
(Tiếng Chim Lạ Ở Trại Tù Cồn Tiên)

 Cũng vì, bất cứ giá nào cũng không để tắt ánh sáng của giấc mơ, nên trái tim dẫu có héo hon, cũng nhờ ánh lung linh ấy cấy lại niềm khát khao cuộc sống, và nhà thơ đã thu gặt được mùa màng đầy những mùa thu chín trái
Những ngọn nến thắp bằng ánh sao
Soi trái tim khô
Đang nẩy mầm bất tử
(Giấc Mơ)

Lúc mở mắt gặp mùa thu chín trái
Nên lời anh vi vút tiếng chim rừng
Nên hồn nhiên như những lứa nam trân
Và hơi thở thơm mùi hoang dạ thảo
(Bài Tình Trăng Sao)

 Ở trên tôi đã nói, ánh sáng tôi thấy rõ nhất trong dòng thơ Lữ Quỳnh là tình bạn. Và ẩn chìm trong ánh sáng ấy là con mắt của giấc mơ. Vì, trong những giờ phút đẹp, thực của cuộc sống Lữ Quỳnh cũng dùng con mắt giấc mơ để hưởng thụ nó, để cảm xúc vui buồn cùng nó. Như một nghệ thuật (hay kinh nghiệm?) để trộn lẫn giữa thực và phi thực. Cái phi thực là áo khoác của thơ mộng lên tất cả những niềm vui lẫn đau buồn, trong thơ Lữ Quỳnh. Tôi có được cảm giác ấy từ bài thơ này, 
thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp 

tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế 

để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối
quạnh hiu.
(Giấc Mơ)

 Tôi nghĩ, anh quý thương bạn bè, và anh đã được hạnh phúc chia cùng họ, rất thực, những phút giây đẹp đẽ, đẹp đến nỗi anh cho nó là giấc mơ. Mơ trong lúc sống thực nhé. Rồi khi một mình anh lại sống thêm một lần nữa thời khắc ấy, bằng giấc mơ. Trời ạ, người thơ sao biết sống quá vậy! Bởi vì lúc tỉnh hay mơ anh đều mơ cả… Cho nên, cái lúc tỉnh ra thấy quạnh hiu kia, tôi nghĩ, chắc nó chỉ xảy ra ở vào giấc ngủ cuối cùng, cho đến khi anh nhắm con mắt của giấc mơ.
Nhà Thơ Lữ Quỳnh đã giải thích hiện thực cuộc sống bằng giấc mơ. Đã hoá giải những buồn đau của hợp tan bằng giấc mơ. Con mắt của giấc mơ ấy là Mật Ngôn, mà tôi thấy trong tranh Hoạ Sĩ Đinh Cường, con mắt cá không bao giờ ngủ. Bởi tỉnh thức, và mơ. 
Tôi muốn chấm hết bài bằng một ý vui. Đọc thơ Lữ Quỳnh tôi ngộ ra một điều rất giản dị 
Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa
Nhưng lòng luôn sẵn lửa để cho em
(Mưa Trên Thành Phố Nhỏ) 

 Ra người ta không cầm tay mình chỉ vì người ta nghĩ không còn trẻ nữa nên ngượng, chứ không phải vì giảm lòng yêu thương. Mà chuyện cầm tay chỉ để dành cho tuổi trẻ thôi ư, lạ thiệt, thế nào thì được xem trẻ, bị coi già? Thưa nhà Thơ? … vậy thì, bây giờ tôi sẽ chủ động cầm tay người thương trước, để chứng tỏ mình còn trẻ, biết đâu sẽ được thấy lửa để cho em, và để anh bước qua nỗi tự coi mình già, như nhà thơ Lữ Quỳnh kia. Có đồng ý với tôi không? Và nếu vậy thì phải cảm ơn Nhà Thơ Lữ Quỳnh. 

NTKM
Santa Ana
Tháng 7.2014 

(Nguồn: Trang nhà Du Tử Lê)
________________

*Những thơ trích của Lữ Quỳnh từ thi phẩm Những Giấc Mơ Tôi, NXB Văn Mới, 2013

THƠ NGUYỄN XUÂN THIỆP



cây sồi. và thơ


                                           Painting of oaktree by Garcia Baldwin

                                     tặng Nguyễn Thị Khánh Minh, tác giả Cây Cô Độc
thời gian
chiếc thuyền noah
những cánh buồm. hoàng hôn. rách gió
tưởng tượng
mình là cây sồi già
của basho*
đứng trên đỉnh đồi. trăng
hát. những cơn đau của mặt đất. mưa nguồn
lưỡi cày. sấm chớp
nắng lên. niềm vui của bầu trời
và kiếp người. lầm than
ôi. người yêu ơi. xin ghé qua đây
hái một bông poppie. màu đỏ
ngồi lại dưới bóng cây sồi già
nghe chim hót. gió reo
những con sóc. cong đuôi. giỡn nắng
rồi đọc một khúc thơ
thơm cổ tích
để từ đó. giọt lệ khô
đôi mắt
cơn đau không còn nữa
ôi cây sồi
cây sồi. và thơ tôi

              *Mưa đá lộp độp
               ta vẫn là ta
               như cây sồi già
                      (Basho)


đêm. ngồi đọc văn

đêm
ngồi đọc văn nguyễn thị khánh minh
chợt thấy lại
ngõ cây bàng. màu ngói đỏ
gác thơ
những khuôn mặt thời gian
về đâu
về đâu
bước chân gió chạy
mùi nước mưa
hoa sứ rụng
chiều phai

tôi về
cánh quạ. mùa thu
trên cành
cây cô độc

2014

NHỮNG “HẠT MẦM” ĐÃ VƯƠN LÊN. VIẾT VỀ NGUYỄN HIẾN LÊ


Đỗ Hồng Ngọc 

   

                                                      Nguyễn Hiến Lê




                                                Tháp mộ Nguyễn Hiến Lê

   Bài viết  “Đi tìm mộ ông Nguyễn Hiến Lê” của Trần Thị Trung Thu in từ năm 2009 trên báo Pháp luật gần đây được các cư dân mạng dẫn lại và nhận được nhiều sự quan tâm của giới trí thức cũng như cộng đồng mạng yêu kính Nguyễn Hiến Lê.
   Tôi nhận được email cùng lúc của Bùi Văn Nam Sơn, Huỳnh Như Phương, Huỳnh Ngọc Chiến, Nguyễn Duy Chính (Mỹ)… và nhiều bạn bè khác hỏi thăm thêm một số chi tiết, và nhất là về chuyện tôi kể trên một trang mạng gần đây rằng có một số bạn trẻ ở miền Bắc đi xe máy 2200 km vào tận Lấp Vò, Đồng Tháp thăm mộ Nguyễn Hiến Lê.
   Năm 1984 khi cụ Lê mất thì tro cốt được cụ bà Nguyễn Thị Liệp đưa về Long Xuyên, để trong một ngôi tháp mộ nhỏ, khiêm cung, đặt ngay trong sân nhà ở 92 đường Tôn Đức Thắng. Sau đó, bà dời tháp mộ về chùa Phước Ân ở ngã tư Cái Bường,  huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Nếu đi từ Long Xuyên về Saigon, qua bắc Vàm Cống một quãng thì tới ngả tư Cái Bường, quẹo phải chừng cây số sẽ đến chùa. Lâu nay cũng có nhiều đoàn ghé thăm thắp nén nhang cho cụ Lê.
   Năm 2003, trong cuốn NGUYỄN HIẾN LÊ, Con người & Tác phẩm  (NXB TRẺ) của nhiều tác giả: Trần Huiền Ân, Trần Văn Chánh, Lê Phương Chi, Nguyễn Duy Chính, Lê Anh Dũng, Nguyễn Hướng Dương, Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Minh Đức, Dương Hội, Xuân Huy, Nguiễn Ngu Í, Trần Khuyết Nghi, Đỗ Hồng Ngọc, Văn Phố, Minh Quân, Quách Tấn, Lê Ký Thương, Nguyễn Hoàng Xanh cũng đã cung cấp nhiều hình ảnh về ngôi nhà, căn phòng, nơi làm việc… rất giản dị của Nguyễn Hiến Lê ở Long Xuyên và cả hình ảnh địa chỉ ngôi tháp mộ của Nguyễn Hiến Lê ở chùa Phước Ân (ảnh của Nghê Dũ Lan).  Nếu tác giả Trần Thị Trung Thu được đọc cuốn này sớm thì không phải vất vả đến thế.

   Ở Úc, có một cuốn sách viết về Nguyễn Hiến Lê do những học trò của ông biên soạn, đặc biệt kể về những ngày ông nằm bệnh và qua đời tại Bệnh viện An Bình.
   Cũng đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp, bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM 12 năm trước đây do TS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây Huỳnh Như Phương cũng đang hướng dẫn một luận văn khác “Sự nghiệp nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” cho một nhà báo ở Cần Thơ.
   Và thật thú vị, ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Ngày 10.7. 2012, tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, Trần Văn Thuấn, 28 tuổi, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Trong thư Thuấn cho biết nhóm của em hiện có Nguyễn Trung và Nguyễn Tiến đang đi xuyên Việt bằng xe máy, vượt hành trình dài 2200km từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Em viết: “sách của thầy viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”. Em cho biết các em Trung và Tiến rất mong gặp tôi để được “ hiểu thêm về cuộc sống của thầy Lê qua những trải nghiệm thực tế của bác với thầy, bác thật may mắn!” Trong thư, em gởi kèm một số hình ảnh của nhóm vừa đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình….” Chuyến đi sẽ vất vả lắm, nhưng anh em chúng con rất vui vì luôn tâm nguyện rằng thầy Lê sẽ che chở cho chúng con [...]
    Tôi vừa cảm kích, vừa băn khoăn. Cảm kích vì tấm lòng của các bạn trẻ từ phương Bắc như đã vừa phát hiện ra một Nguyễn Hiến Lê tận phương Nam xa xôi, còn ngại ngần vì thấy hình ảnh các em mặc áo phông in hình cụ Lê, mang cờ có ảnh NHL và câu chữ “Cùng học làm người với Nguyễn Hiến Lê”… Vì thế, tôi đã trả lời: rất cảm kích, nhưng các cháu nên nhớ cụ Lê là một người rất khiêm cung, không thích sự ồn ào, vì thế các cháu nên học với cụ tinh thần tự học và giữ sự tĩnh lặng, không khoa trương. Bác thấy(…) đó không phải là tính cách của Cụ Lê (…)
Rồi tôi giới thiệu các em liên hệ với Phùng Hoàng Anh, giáo viên, cháu gọi em ruột cụ Lê bằng Bà nội, đã từng vào Nam nhiều lần thăm nhà và tháp mộ cụ Lê ở Đồng Tháp để biết đường đi nước bước. Phùng Hoàng Anh hiện đang sống ở Phương Khê, xã Phú Phương, huyện Ba Vì, Hà Nội, nơi có nhà thờ họ và đã lập được một thư viện với hàng ngàn cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê.
   Thuấn có vẻ không vui. Em trả lời: “…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chúng con cũng phải dằn vặt mãi, mới quyết định làm, cũng xuất phát từ sự chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…); nếu vì tri thức của cụ mà được mang lên tận các tỉnh miền núi như Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Thái Nguyên….giúp ích cho thanh niên ở đó, thì chúng con xin phép vẫn tiếp tục ạ. [...]
   Phùng Hoàng Anh cho tôi biết sau chuyến đi từ Bắc vào Nam thăm mộ cụ Lê, các em Tiến và Trung đã có đến gặp, cà phê cà pháo với nhau một buổi, kể về chuyến đi rất thành công của các em. Tôi cũng vui vì đã “ráp” được các bạn trẻ đó với nhau. Sau này, Tiến gởi tôi email nói em rất hiểu tôi, và sẽ nhớ lời tôi dặn về tính cách Nguyễn Hiến Lê.
   Hiện cụ Lê còn có cô cháu gọi bằng bác ruột là Nguyễn Thị Hạnh đang sống ở Cần Thơ. Ngôi nhà 92 Tôn Đức Thắng, Long Xuyên phía trong vẫn là trường Mẫu giáo, bên ngoài rào cho thuê làm một quán cà phê.
   Trọn đời Nguyễn Hiến Lê đã chọn con đường “văn hóa”, và nay những “hạt mầm” đã vươn lên. 
(ĐHN)