Friday, September 18, 2020

TÂY TẠNG LƯU VONG VÀ PHIM ẢNH

Phan Tấn Hải


Đó là nơi quyền lực Trung Quốc bị lu mờ trước sức mạnh chính nghĩa của những người tỵ nạn Tây Tạng tay không tấc sắt: các đại hội phim ảnh quốc tế. Dù vậy, dòng phim của người Tây Tạng lưu vong hoàn toàn không phải là những lời sách động trần gian – đây chính là các thước phim xuất thế gian từ những người bị rượt đuổi ra khỏi quê nhà đang đưa lên thật cao những lý tưởng của từ bi, thương yêu, tha thứ và hòa bình.

Ngay cả trong mùa đại dịch, một phim hoạt họa ngắn của một nữ đạo diễn gốc Tây Tạng đã được chọn vào phần chiếu chính yếu trong một đại hội phim quốc tế tại Canada. Phim hoạt họa dài 5 phút nhan đề ‘Yarlung’ của nữ đạo diễn Kunsang Kyirong được chọn vào chiếu ở Ottawa International Film Festival 2020, nơi được xem là đại hội phim về hoạt họa lớn nhất Bắc Mỹ.

Phim ‘Yarlung’ là các bản vẽ bằng chì than (charcoal), nối kết thành dòng chảy thi ca ghi lại thời thơ ấu của cô Kyirong bên bờ sông Yarlung Tsangpo, còn gọi là sông Brahmaputra, chảy từ rặng Hy Mã Lạp Sơn xuyên Tây Tạng qua Ấn Độ. Nội dung phim là hình ảnh nhìn từ một trẻ em Tây Tạng tỵ nạn trong một ngôi làng nhỏ ở thị trấn Tezu của Arunachal Pradesh, một tỉnh biên giới của Ấn Độ giáp biên Bhutan. Phim kể về 3 đứa trẻ chỉ sống dựa vào dòng sông và niềm vui, trong đó ghi các hình ảnh hạnh phúc đời thường như uống trà, bắt cá bên sông và những việc trẻ nhỏ khác.

Đại hội phim Ottawa International Animation Festival (OIAF) dự kiến kéo dài từ ngày 23/9/2020 tới ngày 27/9/2020, dĩ nhiên sẽ thực hiện trực tuyến vì rơi vào ngay thời đại dịch COVID-10. Cứ mỗi tháng 9 hàng năm, đại hội OIAF diễn ra và biến thành phố Ottawa của Canada thành trung tâm vũ trụ phim hoạt họa; năm nay sẽ thực hiện nhiều phần chính trên mạng, theo địa chỉ OIAF năm nay: https://oiaf2020.ca/ 

 

Đạo diễn Kyirong kể với các phóng viên rằng ban đầu cô dự định làm một phim tài liệu để nói về sông Yarlung và các cộng đồng sống dựa vào dòng sông chảy từ Tây Tạng vào Ấn Độ và sẽ hòa vào sông Hằng (Ganges), vì nỗi lo của cô khi thấy dự án xây đập nước của nhà nước Trung Quốc tương lai sẽ làm hại tới sinh kế của các cư dân bên sông. Nhưng rồi, cô chuyển sang phim hoạt họa vì yêu thích chất thơ của dòng sông thơ ấu, và biến thành một tác phẩm nghệ thuật để hòa các ký ức thơ ấu vào chuyện kể, hình thức y hệt như kể chuyện qua lời nói, khi bạn nhớ một chi tiết này rồi từ đó lại nhớ sang chi tiết khác, Và do vậy cứ mỗi lần bạn kể, dù là cùng một câu chuyện thì nó cũng chuyển biến vì nó xuất phát từ giấc mơ thời thơ ấu và nét vẽ tự nhiên như trẻ nhỏ, cũng như hình ảnh dòng sông chảy vào tách trà nóng đang rót ra – hình ảnh này có thể xem trong trích đoạn phim ở https://kunsangkyirong.com/ nơi truyện kể rất mực không chủ ý.

Điều làm cho thế giới nhìn về những người Tây Tạng lưu vong là tấm lòng từ bi, yêu người và thương đời, sống hòa hài với thiên nhiên và thế giới, bất kể họ phải bỏ chạy một quê hương bị người Trung Quốc chiếm đóng. Đức Đạt Lai Lạt Ma sau cuộc nổi dậy thất bại năm 1959 đã chạy sang Ấn Độ, xây dựng một cộng đồng lưu vong trong các năm đầu khoảng 100,000 người Tây Tạng tỵ nạn. Bây giờ, sau 70 năm người Hoa thống trị, đã có khoảng 1 triệu người Tây Tạng bị giết ở quê nhà, 6,000 tu viện bị phá hủy, tiếng Hoa trở thành ngôn ngữ chính cho các trẻ em trong khi Phật Giáo Tây Tạng bị biến thể theo ý nhà nước muốn kiểm soát.

Cần thấy, dòng phim của người Tây Tạng lưu vong không hề có một chút căm thù. Phim ‘Yarlung’ của đạo diễn Kunsang Kyirong kể chuyện về 3 đứa trẻ tương tác với dòng sông Yarlung Tsangpo theo những cách khác nhau khi gặp một cái chết trong gia đình. Mỗi đứa trẻ có cảm xúc riêng với dòng sông. Trà là chủ đề xuyên suốt. Nghi thức uống trà tượng trưng sự gắn liền của đời sống gia đình vào dòng sông. Các bản vẽ đen trắng từ chì than là dòng chảy của sông, cũng là dòng chảy của trà và mồ hôi làm việc cực nhọc, cũng là dòng chảy nước mắt của bà nội/ngoại trong phim và là dòng chảy từ xúc động tới vui mừng của trẻ em khi bọn nhóc phóng mình vào dòng sông bơi lội, đùa giỡn.

Đạo diễn Kunsang Kyirong kể rằng trong suốt thời trẻ của cô, trong tất cả những mùa hè cô đều trở về thị trấn Tezu, nơi cư dân Tây Tạng lưu vong sống dựa chủ yếu vào sông, và thời thơ ấu có thể là 3 hay 4 lần mỗi ngày ra sông để tắm, rửa chén nồi và múc nước về nhà sử dụng. Dòng sông là nguồn vui chính của bọn trẻ, với kỷ niệm nhảy cầu xuống sông, nằm lơ lửng thả trôi xuôi dòng. Cô nói hiện nay cô đang làm việc cho các dự án kế tiếp, trong đó sẽ làm các búp bê cho thể loại phim hoạt họa stop-motion, ghi lại môt cách vui nhộn về chuyện thường nhật của người Tây Tạng như vắt sữa Yaks (một loại bò miền núi Hy Mã Lạp Sơn) và thiền tập.

Kunsang Kyirong có văn bằng cử nhân về phim thử nghiệm và hoạt họa tại đại học Emily Carr University of Art and Design. Cô là thế hệ đầu tiên của người Canada gốc Tây Tạng, hiện đang học các văn bằng cao hơn về điện ảnh cũng ở Emily Carr University. Trước đó, cô từng học về hội họa vẽ tranh Tibetan Thangka Art tại Dharamsala, Ấn Độ.

Tới đây, chúng ta có thể nhớ rằng, tròn một năm về trước, nhà nước Bắc Kinh không vui gì với một phim trong đó ngài Đạt Lai Lạt Ma là nhân vật chính: Phim “The Dalai Lama – Scientist” (Đức Đạt Lai Lạt Ma – Nhà Khoa Học), được chiếu lần đầu trong chương trình chính của đại hội phim Venice International Film Festival lần thứ 76 vào ngày 31/8/2019.

Phim tài liệu này có nhiều hình ảnh và thước phim lần đầu phổ biến ra công chúng, với bích chương phim ghi rằng phim này là “kể câu chuyện rất nhân bản về Đức Đạt Lai Lạt Ma mà chưa ai từng biết tới.”

Đạo diễn Dawn Gifford Engle

Dawn Gifford Engle, đạo diễn và là người viết cốt truyện phim “The Dalai Lama - Scientist”, nói rằng phim là câu chuyện kỳ diệu và bất ngờ về Đức Đạt Lai Lạt Ma và khoa học trong một cách chưa ai trước đó từng thấy. Trong phim, ngài Đạt Lai Lạt Ma kể về hành trình trọn đời từ thế giới Phật Giáo vào thế giới khoa học hiện đại, và về cách thế giới đã thay đổi. Phim ghi lại thời gian dài 35 năm, Đức Đạt Lai Lạt Ma liên tục đối thoại với các nhà khoa học hàng đầu thế giới, về các chủ đề từ vật lý lượng tử và thiên văn học cho tới thần kinh học và lĩnh vực tâm lý cảm xúc. Phim đưa khán giả vào những cuộc đối thoại thâm sâu, khảo sát về tương tác giữa khoa học và Phật Giáo, và “chia sẻ kinh nghiệm đời sống riêng tư từ Đức Đạt Lai Lạt Ma về những gì đã tác động sâu vào nhận thức cá nhân của ngài trong cương vị một lãnh đạo thế giới – và cũng là, vào chính thế giới.”

Phim được kể qua lời nữ diễn viên Laurel Harris (người nổi tiếng với phim ‘Odd Thomas’ năm 2013), ghi lại đối thoại giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma với nhiều khuôn mặt lớn, trong đó có: nhà tâm lý học Paul Ekman; toán học và di truyền học Eric Lander; thần kinh học Christof Koch; thiên văn học George Greenstein; triết gia, sinh học, thần kinh học Francisco Varela (1946–2001); tâm lý học Richard J. Davidson; Susan Bauer-Wu, chủ tịch viện nghiên cứu và quảng bá khoa học thiền định Mind & Life Institute; tâm lý học, thần kinh học Michael J. Meaney, professor in biological psychiatry, neurology, and neurosurgery; nhà văn, nhà sư Matthieu Ricard; Thiền sư Joan Halifax; Thiền sư Jon Kabat-Zinn, người lập nhiều trung tâm thiền chánh niệm ở Hoa Kỳ.

Bạn có thể xem phim này, khi vào YouTube và tìm nhóm chữ “The Dalai Lama – Scientist” trong đó bạn sẽ nghe lời Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại: “Trong hơn 30 năm qua, tôi đã để nhiều thì giờ làm việc với các khoa học gia Tây phương. Khi tôi nghĩ về tôi bây giờ, đôi khi tôi nghĩ rằng tôi chỉ nửa phần là nhà sư Phật giáo. Nửa phần kia, là khoa học gia.” 

Đạo diễn Tsering Wangmo

Và chỉ mới xảy ra cách nay 9 tháng là một bước nhảy lớn cho dòng phim Tây Tạng lưu vong: Nữ đạo diễn Tsering Wangmo thắng 3 giải thưởng trong đại hội phim quốc tế My Hero International Film Festival (MHIF) trong tháng 12/2019 tại thành phố Laguna Beach, California.

Phim ngắn nhan đề “Conversations with My Mother” (Nói chuyện với Mẹ tôi) làm theo thể loại phim tài liệu và thử nghiệm (experimental documentary), ghi  nhận về thân mẫu của đạo diễn Wangmo, đã thắng 3 giải thưởng phim: giải 2019 Eva Haller Women Transforming Media Award trong lĩnh vực phim sinh viên của đại hội MHIF, giải nhất trong thể loại phim thử nghiệm Experimental Award, và giải nghệ sĩ mới xuất hiện Emerging Artist Award.

Câu chuyện gì về một bà cụ Tây Tạng lưu vong? Nhà phê bình nghệ thuật Wendy Milette, Giám đốc đại hội phim MHIF, nhận xét rằng giọng kể chuyện độc đáo, dịu dàng của đạo diễn Tsering Wangmo đã gây xúc động cho khán giả tiếp cận với quan hệ yêu thương, thân mật và tôn kính giành cho người mẹ của đạo diễn. “Đạo diễn Tsering có nhiều hứa hẹn lớn trong tương lai vì tài năng và nghệ thuật kể chuyện như thế.”

Đại hội phim My Hero International Film Festival hàng năm tổ chức ở thành phố biển Laguna Beach, California, trong đó trình chiếu các phim ngắn từ khắp thế giới gửi về với nội dung về “những anh hùng trong đời thực.” Đại hội phim nhằm “mang tới chung nhau các đạo diễn chuyên nghiệp và các sinh viên ngành làm phim để vinh danh các anh hùng từ khắp thế giới. Hãy khám phá những người tạo ra cảm hứng và đang làm thay đổi cho thế giới chúng ta.”

Tsering Wangmo nói về phim cô viết cốt truyện, đạo diễn và thực hiện: “Mẹ tôi và tôi sống những cuộc đời khác nhau nhưng chúng tôi nối kết vượt qua những gì ngôn ngữ có thể giải thích. Mẹ là gốc rễ của tôi và tôi có được cảm hứng tuyệt vời từ một thực thể mà mẹ hiệnd iện. Phim tài liệu theo thể loại thử nghiệm này tập trung vào cuộc đời của mẹ, chuyển động song song trong lời kể và hình ảnh, với quá khứ và hiện tại của mẹ. Xuyên qua các hình ảnh trong phim, tôi tìm cách chụp bắt sự đơn giản của cuộc đời mẹ và hơi ấm mà mẹ đưa tới cho cả gia đình mẹ bao bọc.”

Wangmo sinh tại Ấn Độ từ ba mẹ là người Tây Tạng tỵ nạn, học ngành báo chí tại đại học Madras Christian College ở miền Nam Ấn Độ và học ngành truyền thông đại chúng tại Himachal Pradesh University tại Bắc Ấn Độ, trước khi theo học lĩnh vực làm phim tài liệu ở New York. Một khoản tài trợ từ quỹ Rowell Fund for Tibet đã cho Wangmo phương tiện đi quay phim tài liệu về cuộc đời những người du mục Tây Tạng trong phim ‘Tales from the Pasture’ (Chuyện kể từ đồng cỏ) và phim này thắng giải Jury Award & Audience Award trong đại hội phim Tibet Film Festival Short Film Competition 2018 tại Dharamsala, Ấn Độ.

Wangmo kể về mẹ: “Mẹ tôi và tôi gần nhau từ khởi đầu cuộc đời của tôi. Mẹ chưa bao giờ đi học và đã sống đời một người du mục cho tới vài năm sau khi sanh chị cả của tôi. Mặc dù đời thường vất vả khó khăn hàng ngày, cả hai ba mẹ tôi đã có quyết tâm mạnh mẽ cho con đi học. Mẹ tôi luôn luôn chăm sóc cho gia đình trước khi tự chăm sóc cho bản thân mẹ. Mẹ có khiếu khôi hài riêng, và khi chúng tôi ngồi chung nhau, chúng tôi luôn luôn có những cuộc nói chuyện dài và chũng tôi cũng cười rất nhiều. Mẹ và ba tôi là những lý do tôi là người như hôm nay. Mẹ tôi là bạn tôi, là thầy tôi, người dạy tôi sông cuộc đời với yêu thương và từ bi.”

Wangmo viết về mẹ trên trang nhà đại hội phim https://myhero.com/ những cảm nghĩ của chị về mẹ: “Mẹ bị buộc rời nhà ở Tây Tạng khi mới 8 tuổi, vậy mà tôi chưa bao giờ nghe mẹ nói điều gì giận dữ về quân đội Trung Quốc, những người xua đuổi gia đình mẹ ra khỏi quê hương. Mẹ là một phụ nữ vững vàng trong mọi nghĩa, và bất cứ khi nào tôi gặp căng thẳng hay có những cảm xúc bực bội về bất cứ chuyện gì, mẹ là người giúp tôi nhìn vào cuộc đời hay nhìn vào tình hình một cách khác đi. Tôi không ngạc nhiên gì về trí tuệ phi thường mẹ có, bởi vì mẹ đã sống xuyên suốt một cuộc đời phi thường.”

Đạo diễn Wangmo thêm rằng cô bây giờ đang làm việc cho một phim tài liệu kể chuyện những người tỵ nạn Tây Tạng vào Ấn Độ và về các kinh nghiệm và trở ngại họ gặp phải trong những năm đầu lưu vong. Thêm nữa, cô đang khảo sát, nghiên cứu, sắp xếp diễn tiến truyện phim đầu tiên, dựa vào cuộc đời của cha cô, và dự kiến hoàn tất bản thảo đầu tiên trong năm 2020.

Wangmo ghi nhận: “Ba mẹ tôi là những người anh hùng của tôi, vì những sức mạnh, tình yêu thương, lòng tử tế và từ bi mà họ giữ được bất kể những khó khăn họ gặp và phải trải qua. Ba mẹ tôi là những anh hùng bởi vì họ nhìn vượct qua những chướng ngại của hoàn cảnh và đã xây dựng niềm hy vong và giấc mơ cho chúng tôi để đạt tới những gì không thể hình dung nổi và những gì rất phi thường.” 

Phim “Conversations with My Mother” (Nói chuyện với Mẹ tôi) có thể xem ở: https://vimeo.com/364434457

Trong khi phim "Tales from the Pasture" và những cuộc phỏng vấn có thể xem bằng cách vào YouTube và gõ nhóm chữ “Tales from the Pasture.”

Bước chân từ bi của người Tây Tạng lưu vong trong lĩnh vực phim ảnh thế giới là những tiếng nói đậm nét bản chất Phật để đáp trả với đại bác và xe tăng của quân đội Trung Quốc tại quê nhà họ bị chiếm đã từ lâu. Thế giới đang nhìn thấy hình ảnh các nhà sư, các cụ già và giới trẻ Tây Tạng lưu vong bước đi rất mực từ bi trên từng thước phim toàn cầu trong khi các đoàn xe tăng Hoa Lục đang lùi dần vào bóng tối tủi nhục của lịch sử nhân loại.

 

PHAN TẤN HẢI

9/2020.

ĐÂU. MÙA PHƯỢNG CŨ

nguyễnxuânthiệp


Hoa phượng rơi…

từ buổi chia tay
với vầng trăng. bên bức tường. đá. xám
chúng mình
chỉ có thể. gặp nhau
trong giấc mộng
đêm qua
em về
em mặc áo đỏ
em đi hài. tím
trăng trên môi
ai hát
hay trăng. hát
mùa hạ. đã xa
đâu. thuyền. neo bến đợi
cây phượng già. trường em. bên trường anh
đã bị đốn. gục
chỉ còn bầy quạ. bay
kêu. thảng thốt
mùa thu
 
NXT


TÔI VIẾT VỀ THẦY TUỆ SỸ...

Nguyễn Quang Chơn

 

Thầy Tuệ Sỹ. Nguyễn Quang Chơn vẽ


Tuệ Sỹ. Đing Cường, Nguyễn Dương Quang. Bửu Ý - Cà phê Tùng 2013 

Tôi biết gì về thầy mà viết. Tôi đã đọc được bao trước tác của thầy mà viết. Tôi hiểu được chừng nào thơ, văn, kinh luận của thầy mà viết? Và tôi có ở được bên thầy bao thời gian chuyện trò để biết chi về thầy đâu mà viết?...

Nhưng tôi vẫn hoài nhớ về thầy, lòng thôi thúc, bức bách muốn viết về thầy, mỗi khi đột nhiên rơi những khoảnh khắc thời gian mà như chợt thấy chung quanh hoang vắng mênh mông, không hiểu được mình, không biết làm gì, tư tưởng đảo chao...

Từ trẻ, biết thầy qua những tác phẩm văn học. Sau 75, biết thầy qua những giòng đời, giòng đạo, chuyện thế nhân... Lòng ngưỡng mộ ngày nao nay càng thêm ngưỡng mộ. Và chẳng biết đến khi nào mới có thể diện kiến được vị đại trí, đại hạnh. Khi, thầy như một áng mây. Trôi. Thiên du. Xa vời...

Rồi một duyên lớn từ một người anh lớn, hoạ sĩ Đinh Cường, đã cho tôi được gặp thầy một tối huyền hoặc trong một không gian nhỏ, ánh sáng ấm dịu ở Đào Nguyên Dạ Thảo. Đêm tháng 11. 2013 Đà lạt. Thầy và anh ĐC ngồi bên nhau trao đổi, chuyện trò, tôi ngồi xa hơn cung kính, dưới ánh đèn vàng, yếu mờ. Thầy cũng thật gầy trong tấm áo nâu, nhưng đôi mắt sáng trong đêm và nụ cười như toả nắng...Tôi ký hoạ thầy từ xa. Ánh đèn nhạt nhoà, nét chì run run, thầy ký tên, rồi tôi lặng lẽ đi về. Đêm đó Đà Lạt trở lạnh, một mình đi, tôi nhớ, mai uống cà phê với thầy ở quán Tùng....

Buổi sáng đó thầy đi bộ từ hướng đường Duy Tân (3 tháng 2) với đệ tử H.V, thầy đi từ dưới dốc lên, một mình, đệ tử tụt xa phía sau. Khuôn mặt thầy tươi sáng, gió thổi tà áo nâu bay bay, thầy đi như lướt trên mặt đường. Duyên của người hay sao, đúng giờ đó, tôi cũng đang sang cà phê Tùng, nhưng lại đứng ngắm trời mây trên dốc, cạnh rạp Hoà Bình, vô tình lại được chứng kiến thầy đang...đi.

Nhìn dáng thầy gần dần, tự nhiên tôi ứa nước mắt, khi nhớ rằng có những lúc thầy phải bộ hành, độc hành từ Bảo Lộc về SG, vì thầy là một “phạm nhân” của chế độ. Thầy không một chỗ ngụ cư, không chùa, không Phật, không tiền, không phương tiện... Đôi mắt sáng ấy, vầng trán mênh mông ấy, nụ cười mở rộng ấy, bước chân thanh thoát ấy, tà áo nâu bay bay ấy, lại đang bên tôi, ấm áp hương cà phê của một quán cà phê sử tích Đà Lạt....

Tôi ngồi bên thầy, cảm thấy mình đang hạnh phúc, thấy cuộc đời ấm áp hơn. Bởi thầy, thầy Tuệ Sỹ, tự thân đã toát ra một hạnh nhân thế, truyền vào người tôi một niềm tin về con người, về cuộc sống, vô ngôn!...

Một tối chờ cơn bão số 5 sắp ập vào thành phố, suy nghĩ miên man, mông lung, và bỗng nhớ thầy. Kính mong đến thầy vạn sự bình an...

A di đà Phật

NGUYỄN QUANG CHƠN

 

GIỚI THIỆU QUÁN VĂN 75


 

Thursday, September 17, 2020

MƠ HOÀI. NHỮNG GIẤC MƠ...

 Lê Ký Thương

 

Thời thơ ấu. Tranh Lê Ký Thương

1.- Tháng mười, tiếng ễnh ương giục người gặt lúa. Cha lót ổ bên bụi chuối sau hè cho mẹ nằm. Con từ nơi đó sinh ra. Hương bưởi trong vườn phảng phất lưỡi dao tre. Bà mụ già run tay cắt rún. Giọt máu đầu đời con thấm sâu lòng đất ẩm. Biến thành những giấc mơ. 

2.- Con lớn lên bằng nước cơm sôi và sữa mẹ thất thường. Ngày thôi nôi con cha mẹ nguyện cầu tám hướng bốn phương. Xin Ơn Trên cho con chọn một nghề nhàn hạ. Chiếc nia bày những mẫu vật tượng trưng. Con toét miệng cười sung sướng, giơ bàn tay nhỏ bé chụp vội nắm xôi.

Nắm xôi tròn ôm trọn những giấc mơ con.

3.- Con thích rong chơi với những bạn chăn bò. Vô núi bẫy chim, ra đồng bắt dế.  Chơi những trò chơi trời cho dân dã. Có lần con được làm vua. Ngồi trên chiếc ngai vàng làm bằng đôi cánh tay của hai “đô lực sĩ”. Nhưng con không mơ mình là thiên tử. Con chỉ mơ luôn là “hoàng tử bé” của người lớn thôi.

4.- Hoàng tử bé thì rất thảnh thơi. Khi chán học i tờ hay đồ tô theo nét chữ (bài học vỡ lòng Cha dạy với hy vọng con mình lớn lên thành thầy thông thầy ký), con chạy ra đường ngồi trên trụ cây số trước nhà. Ngóng chờ cha mẹ cày thuê gặt mướn đồng xa mau về. Thương cha mẹ con mơ mình thành họa sĩ.

5.- Con thả giấc mơ lên bất cứ nơi nào có thể được. Với cục than trên tay, con biến mái nhà tranh thành tòa lâu đài, bữa cơm độn bắp khoai thành cao lương mỹ vị, chiếc áo lành cho Cha, chiếc nón mới cho Mẹ, tán đường cho các em, những giọt nước miếng thèm thuồng thành những que kem... Con sung sướng thấy mình là ông Tiên... trong mơ.

6.- Con vẽ hoài, vẽ hoài những giấc mơ. Những giấc mơ không xa đời thực. Đầu đã bạc nhưng những giấc mơ của con chưa hề thành hiện thực. Nên con cứ mơ hoài mơ hoài những giấc mơ...

HẠ SĨ CÓC

 

 

THIỆP MỜI

 




C Ò N Đ Ó

Hoàng Xuân Sơn

 Abstract painting. Source Internet

Núi rừng còn lại hốc khô
những viên đá cuội mơ  hồ tung bay
tôi đi khe suối hao gầy
con sông chết sớm mùa mây tự trầm
đi đi.  tao tác hồ cầm
xốn xang đờn nhị nâu bầm phách lan
đi đi cùng nỗi tan hàng
cùng neo gắng gượng tình tang mỏ người
quặng buồn như tuổi thôi nôi
ô hay đá cũng ngậm ngùi xuân xanh*
đi đi vào một khúc quành 
lọt vô khúc rẽ vàng hanh nỗi đời
 
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
tháng 5/2020
*ý, Trịnh Công Sơn