Monday, January 16, 2017

SÁNG MÙA ĐÔNG


nguyễn xuân thiệp

Con chim mùa đông. Photo Bảo Huân

lạnh 22 độ
ngồi co ro
trong ngôi nhà gỗ. ở khu rừng woodcreek
thèm một bếp lửa
để sưởi ấm đôi tay. và hồn thơ
bỗng thấy lại con chim
sáng mùa đông. năm nào
đậu trên cành khô. tuyết phủ
cất tiếng gọi
chim ơi
chim ơi
tôi nhớ người
phố xưa
sao người mãi không về
trong ngôi nhà. có tiếng phong linh
và hồn khúc ca serenade
đợi chơ

NXT

VẼ TRÊN XƯƠNG LÁ


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Đề thơ trên lá. Tác phẩm của Nguyễn Thị Khánh Minh

“Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.” Cam Li NTMT

(Thay món quà sinh nhật, kính tặng Nhà Văn Trần Hoài Thư)


**

Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.
Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”

Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:
 “Đi, em!”
“Đi đâu?” Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt.
“Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.”
“Nơi nào?”
Nàng hỏi rồi tự trả lời:
“Nhớ rồi… Không đi được.”
“Tại sao?”
“Chân tôi… đã không thể đi được.”

Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.
“Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?”
Nàng lắc đầu, thở dài:
“Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…”
Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

**

“Ngon không?”
“Cái gì ngon?”
“Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!”
“Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.”

Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ - nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.

Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.

Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.
Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:
“Mình mệt đó!”
“Sao mình biết?”
“Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.”
“Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.”
“Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.”
Giọng của nàng như chùng xuống. Tôi nói nhỏ:
“Tôi sẽ xin cho mình về.”
“Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.”
“Nhưng…”
“Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.”
Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.

**

Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.
Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thương, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi bớt thịt da vào trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. “Khâu vá di sản văn chương miền Nam!” Bạn bè tặng cho chúng tôi câu đó. Nghe mà cảm động.
Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo Em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, là thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!

**

Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Mà không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!
Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.
Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi!
Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:
“Mình đã gửi sách đi xong?”
“Sao mình biết?”
“Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.”
“Mình giỏi lắm! Mình vui là được.”
“Tôi vui lắm chứ!”
“Tôi giúp mình ăn nhé!”
Nàng lắc đầu:
“Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.”
“Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!”
“Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.”
“Được.”

Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.
Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em! (1)

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Tháng 12, 2016

(1) “Theo Em”: xin mượn tựa đề loạt bài “Theo Em” của Nhà Văn Trần Hoài Thư- Blog Trần Hoài Thư
Nguồn: 
https://tranhoaithux.wordpress.com/2016/12/18/cam-li-nguyen-thi-my-thanh-ve-tren-xuong-la/

Sunday, January 15, 2017

GIẤC MƠ CÙNG


Hoàng Xuân Sơn


Abstract painting. Internet

hãy đẩy tôi lên
đất bằng đang ngái ngủ
kẻ gian thò tay xuống đường
vách đá nghễnh tai
lời cây nhọn

con tàu vấp phải hàng rào
kéo chạy áo rách
buông phiên thị trấn trần truồng
bơi trong mùa ảo giấc
tôi biết na về đâu những mỏ neo
đích thực có em.                               đêm mơ gần
phải không
mùi đáy lưng quen chùm gió hướm
lần phần
quải đàn hương tiếng mộc         nghe
quen thầm trở lại
kim xuyến đẹp tràm
khoen tai cùng mây lệ
hái liễu bên ngoài song loan

tiếng nhạc nghe tìm tôi
ngoài biên thuỳ.                        giấc hạnh


hoàng xuân sơn
3 juin 2015


Saturday, January 14, 2017

TIẾNG CHIỀU RƠI


Hồ Đình Nghiêm

Autumn evening. Internet

Có khi đang đi bất chợt trì hoãn chân bước: Không biết mình đã khóa chặc cánh cửa sau? Có khi đứng khựng người lại: Hôm qua mình mặc áo gì? Hẳn cái iPhone đã trốn trong chiếc áo ấy?

Có khi tiếng ai bên đường bắn qua, quay đầu ngỡ bạn vừa nhận diện gọi. Có khi nhìn lá phong rơi, nhớ về cây bàng già nua chôn bên nhà cũ. Có khi vào Starbucks mua cốc cà phê mà nói hoàn toàn tiếng Việt với cô tóc vàng. Nếu dùng ngoại ngữ, đồ rằng chữ sorry phải sử dụng nhiều nhất.

Xin lỗi cho tôi hỏi thăm có bà Trần Quỳnh Hoa ở nhà không ạ? Hoa nào? Ông có đi nhầm nơi không. Cánh cửa đóng sập lại, lá vàng bên thềm xao xác cựa mình. Đến một đoạn đường trông quen thuộc, đối mặt căn nhà chẳng xa lạ gì mang số 2017, bồi hồi tay nhấn nút nhựa trắng, co ro phủi tuyết bám vào áo chống mùa đông nặng nề: Bà Khổng Thuý Hiệp có nhà không cháu? Bố ơi, có ai hỏi. Một người đàn ông hiện ra, án ngay cửa. Tôi là Khổng Minh. Ông muốn tìm ai? Tôi nghĩ là ông đến sai địa chỉ.

Có khi đi trên đất Sở mà tưởng là giang sơn nhà Hán. Bạn thương tình đặt cho tên gọi: Kẻ âm lịch. Thế kỷ hai mốt chứ nào còn hai mươi. Thấy không, đâu còn ai cầm sách để giở lật trang, mọi người thảy bận bịu với máy tính bảng, với những thứ mỏng lét và lạnh tanh. Thấy không, ba màu xanh vàng đỏ. Có khi ông băng qua đường trong chiếc chửi cộc cằn: Asshole!

Có khi ma đè mộng thấy rõ nét cảnh quang nhà thương, người đàn bà mặt tái xanh nằm hồi sức trên giường sau thời gian hậu sản: Em khoẻ không? Là con gái em à, có lẽ mai này nó làm ca sĩ, tiếng khóc rõ to và dài lâu, cao giọng. Tóc rối lệch nhăn nhàu bên gối, mắt thâm quầng chứa đựng sự lạc hồn: Anh nên về đi, tốt hơn anh đừng có mặt ở đây, chồng em ra ngoài mua cháo đã lâu, sẽ ập vào, sẽ dầu sôi lửa khét, xôi hỏng bỏng không. Chúng ta thật không may, chúng ta ngậm ngùi đời xê la vi, tình xê la mua…

Có khi nhớ rõ những thứ chẳng nên nhớ, quên thứ không được quên. Có khi ngây dại như trẻ con đánh mất thứ đồ chơi thường ôm vào lòng khi ngủ, mẹ đã vắng nhà không vào ngồi bên giường kể chuyện cổ tích. Ngày xửa ngày xưa có một nàng công chúa ngủ say giấc nồng trong khu rừng quạnh vắng… Có khi đơm đặt dấu hỏi trái khuấy: Vì sao chốn đây tuyết ngập đầu mà chốn đó hoa nở tưng bừng mừng xuân? May mà hiền thê không chấp một nửa mãi mộng du, vợ của Tú Xương ra đồng cày bừa sáng chiều để yên cho kẻ phàm phu tục tử mê muội với văn thơ. Nhi nữ thường tình hiện ra trong cõi ấy là sản phẩm tưởng tượng của lão ta chứ tài sức đâu mà thân này ví xẻ làm ba? Nhỡ trùng tên với ai kia thì không phải dụng tâm của lão ấy.

Lang quân, nhà tôi, ông xã, mình ơi có khi chẳng âu yếm khi vợ gọi chồng bằng lão. Lão ăn hưu non sớm tối ngồi đâu mặt vô màn hình laptop, ngó chăm cái cursor hiện mất nhấp nháy một đợi chờ, một hối thúc trên màn ảnh trắng xoá. Này anh có nghe tim em đập nhịp, nói gì đi cho kịp một thở than. Than van riết một hồi chừng nghe oải, ba giờ chiều phải đổi phận làm osin. Mở lò lên nhặt rau rán cá, tới sáu giờ tựa cửa ngóng vợ Tú Xương về. Sinh ra ta là cha mẹ ta, mà khổ cực vì ta chính là em vậy! Sông kia rày đã nên đồng, một thời non dại này trồng lão phu!

Ngó tướng lão vậy chứ còn chơi được quá đi chứ! Cho tiền xúi lão đi du lịch về chốn xưa cưa sừng làm nghé mà lão thiệt thà lắc đầu. Hú hồn! Lão mà hăm hở nghe lời cho bõ những ngày cơ cực thì ắt sẽ bị chúng lừa cho trắng máu. Lão biết thân phận tự nghĩ mình chẳng được và chẳng nên làm Từ Thức. Soi gương thấy hiện khuôn mặt ai kia xa lạ, đập vỡ gương thì sự thật vẫn không vụn vằn nát tan. Trên đôi vai ai hai vầng nhật nguyệt, riêng ta sum vầy đầu bạc răng long. Hoài Khanh từng ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng, nhưng đôi khi người qua đã qua cầu rút ván, con nước vì thế gợn nhăn niềm thế sự, bèo giạt hoa trôi lơ đãng màu lục bình.

Thời gian, thời gian sao mau quá! Vợ Tú Xương than, chiều ba mươi xin về sớm thôi lặn lội ven sông, tui ghé chợ mua ít đồ cúng chứ nhờ cậy ông thêm rách việc, dặn gà lại tha về con vịt, biểu mua mứt gừng lại xớn xác lựa mứt dừa. Cầu vừa đủ xài có muốn cũng chẳng tròn ước nguyện. Xoài Mễ có, đu đủ Colombia có, dừa Thái Lan có, mà thắp đuốc tìm không ra trớ trêu mãng cầu. Nghĩ cũng dại, đã lỡ van xin sao không ham hố ước tiền vào chật nhà. Làm người hầu như ai cũng tham lam, một duột đòi chúc vợ chồng trăm năm hạnh phúc. Lão ơi, chỉ cần bốn mươi năm thôi, vậy chẳng đủ sướng lắm ru?

Vợ về sớm nên tha cho lão việc công dung ngôn hạnh ba đảm đang một bữa. Ngày cuối năm thôi cắm trại 100 phần trăm em ơi, đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất sao mãi kềm kẹp bắt tay với vợ chồng ông Táo thấy tội nghiệp, mất dần nhuệ khí. Nhưng cổ nhân dạy “nhàn cư vi bất thiện” vì vậy lão được giao sứ mạng phủi bụi bàn thờ, thay bát cắm nhang, cắm sẵn hai ngọn bạch lạp, sắp trái cây cùng mức món ra đĩa đặng dâng lên những vị khuất mặt. Hai đứa con ở cuối phố điện thoại về hỏi thăm: Tối nay nhà mình xơi những gì? Có cần con phụ một tay? Tan sở ghé phố Tầu thỉnh về nửa con heo sữa quay dòn chẳng hạn. Mẹ không cản, do thành tâm thiện ý của con. Xa quê hương nhớ mẹ hiền, mẹ đang còn sống bên lưng thì tụi bây nhớ ghé thắp cho ông bà một cây nhang.

Lão đứng trước cái tủ dùng làm nơi thờ phượng mua từ cửa hàng Thuỵ Điển hôm báo đăng Ikea đang giảm giá. Lão bỏ nửa ngày trời tự lắp ráp mình ên. Bây giờ trông lên ngó cũng không đến nỗi tệ, đủ chỗ cho tứ phân phụ mẫu đứng chen vai thích cánh bên nhau. Bốn khung hình đen trắng giam giữ những chân dung sầu muộn. Trước, một cặp trong bốn vị chưa từng quen biết nhau, nghĩa là họ không phải sui gia, nghĩa là cặp vợ chồng đang loay hoay chuẩn bị cúng kiến kia chúng nó thành hôn hồi nào mà bọn mình không biết cà! Chúng hoang sớm hay tại bọn mình chóng rời xa trần thế? Chúng bỏ mồ mả ông bà ở lại để nhắm mắt đi về một bình nguyên xa ngái, xa hơn thiên thu, xa hơn đường lên thiên đàng.

Lão có cuốn sổ tay ghi lại ngày tháng cần vọng tưởng chôn trong ngăn kéo bàn viết, bởi giấy trắng mực đen bao giờ cũng chính xác hơn trí nhớ thậm sai lạc trong đầu óc lão. Phải lật trang giấy úa màu mới ghi nhận vụ việc từng xẩy ra. Vợ hỏi đường đột còn nhớ sinh nhật của tui không thì buộc lão phải á khẩu trong nhất thời ngậm bồ hòn làm ngọt. Ngày tháng năm lão chào đời có lúc phải vò đầu bức tóc mới nhớ: À, ta còn cuốn sổ tay dấu trong hộc tủ. Cái bộ nhớ giỏi truy cập thời quá khứ, nói có sách mách có chứng, hết đường chối cãi.

Một trong hai thằng con trai bước vô mang theo giá buốt. Nó nói: Má vợ sắp cưới của con biểu mang cặp bánh chưng này tới biếu ba. Ừ, nói mới nhớ, tụi bây đã định được ngày lành tháng tốt chưa? Má vợ con bảo để đi chấm số tử vi rồi tiện thể ấn định ngày, nhưng uyên ương liền cánh nội trong tháng tám tới đây thôi. Cho ba gửi lời cám ơn tới má vợ con nghen. Lão bày lễ vật lên bàn thờ miệng lâm râm: Cuộc đời coi ngộ hén! Ta có mặt vào hôm cái đứa bé gái đỏ hỏn chào đời vung tay múa chân khóc thét bấn loạn, ta bị má nó đuổi về dứt khoát chẳng vị tình. Có ngờ được không đôi ba tháng nữa nó làm con dâu ta trong người rặn ra nó lại lên chức bà sui. Sui cái quái gì khi trước đó hai đứa đã gặp xui nửa đường đứt gánh. Lỡ tui có chết, bà sui chết theo thì tha hồ hai đứa đứng bên nhau trên bàn thờ mà nghía cho mãn nhãn qua màn khói nhang. Đó là giả dụ con cái tụi mình có chút hiếu thảo, chứ thế kỷ hai mốt thế kỷ hai hai không chừng chúng nó dẹp bỏ bàn thờ. Hình thức làm gì tía má, chôn trong lòng e đáng quý hơn.

Thằng con thứ hai lò dò vác mặt tới. Ngày này ba lu bu chuyện gì mà không bắt phone? Ông bác sĩ gọi cho con kêu trời không thấu, nói ông già anh ghét nhìn mặt tôi hay sao mãi quên ngày hẹn. Tiểu đường có, tuyến tiền liệt có, cao huyết áp có, có đủ thứ mà sao ổng ung dung tự tại quá đỗi. Lão cười: Bệnh xê ma-lát, tiền xê lạt-răng, ăn xê măng-rê. Nói mua heo sữa sao hổng thấy mang vào? Thôi ba à, cai đi nhe. Bác sĩ nói cho cụ ăn thứ nhiều chất béo thì khác gì đầu độc cụ ấy. Má nó từ sau bếp đi ra: Nói chí phải, ăn toàn rau rác giống mẹ thì có ai can ngăn đâu. Liệu thần hồn, ông mà bỏ tôi đi trước là không được đâu nghe, đừng ăn gian.

Lão đưa mắt nhìn lên bàn thờ. Bên đó bây giờ đã là bảy giờ sáng ngày mồng một. Tứ thân phụ mẫu liệu vượt biên được sang đây chung vui cùng con cháu không?
Nếu giả lơ thằng bác sĩ gia đình, đừng nghe lời nó nói thánh nói tướng thì không ấy, tết sang năm con vượt biên về chung mâm cùng những người âm lịch, khói nhang cuộc tình qua ngày đoạn tháng.

Hồ Đình Nghiêm
Tết con Gà