Saturday, December 20, 2014

NGÔI NHÀ Ở PHỐ BLUEBONNET



Nguyễn Thùy Song Thanh

Painting of Oaks by Redmond Granville

Tay ôm con mèo tam thể tay dắt con chó Nhật xù
Ông đến chỗ bốn cây sồi
Ngày ngày ông đến chỗ bốn cây sồi
Nơi có nhiều người da màu ở.

Một cây sồi khác mấy trăm năm bên kia đường
                           lặng lẽ ngắm ông đi
Cây thiên lý, cây ngọc lan và những cây quỳnh
                                                trước cửa
trút hương tầm tã áo bay.
Nơi ông hiện trường tâm thức mù mờ
Tất cả đều ngoại vực.

Ông không chọn ngồi dưới gốc cây sồi già
Sợ cánh rừng cổ thụ trong lũng ký ức hè
                                            nhau rung chuyển
tâm chấn sẽ xoáy mãi những vòng kín
                                            nghiệt ngã
không chỗ nứt thoát.

Nàng cột người đàn ông thiên tài của mình
                                  bằng sợi tơ đỏ
Một mặt trời chỉ mình nàng hướng dương
Mái nhà thao thức những linh hồn
Trái tim đau thầm đoạt kỳ tích
Một bông hoa lạ
Trời ban tặng một đời.

Vài lần ông đứng sững trên đường biên cõi chết
Thượng đế đã bứng ông lui về cõi sống.

Người ta đã bứt trái tim ông ra khỏi lồng ngực
Săm soi tìm chỗ thủng
Tim đã ngừng đập rồi lại nhịp
Trong tiếng reo hò của bốn cây sồi
Trong nước mắt ràn rụa mừng vui của cây
            thiên lý, cây ngọc lan và những cây quỳnh

Phục sinh.

Ông bước đi trong nhà mình
Dõi nghe nhịp đời mình
Không có gì không còn gì để đền bù
Ngoài cửa đã rực những câu thơ lung linh
              thắp tạ nhân quần **

Ngày thôi đã chiều tà
Hạc vàng bay cõi trời mơ khác
Loan biếc ẩn hình những dặm xa
Ông bước đi trong nhà một mình
Kẻ lạc loài bên kia ký ức
Mộng du nhịp sống phù trầm
Sinh hành vẫn là khúc ẩn mật.

Houston-Saigon-2006
NTST
(Nguồn Nguyễn Thanh Châu)


*Bluebonnet : Khu nhà chính sách ở Houston, TX
**“Thắp tạ nhân quần”, cụm từ trong thơ Tô Thùy Yên


TRUYỆN NGẮN Ý NHI



mùa hoa tam giác mạch  


Mùa hoa tam giác mạch
            
       Sau mấy ngày mưa, sáng nay trời quang mây, xanh ngắt. Ngoài ô cửa, đã có thể thấy những ánh hồng đầu ngày đang lan dần trên các vòm cây, các mái nhà. Hai chân ông đỡ đau nhức, người cũng cảm thấy thơ thới, nhẹ nhõm hơn. Ông với tay mở tung cánh cửa, nhìn xuống dòng sông dưới xa kia, thầm ồ lên mừng rỡ khi trông thấy con  thuyền vẫn còn neo đậu. Ông đã nhìn thấy con thuyền từ mấy ngày trước, trong một buổi chiều muộn, khi lơ đãng nhìn lướt qua phong cảnh ngoài xa kia. Từ cửa sổ tầng 11 của chung cư, con thuyền sơn màu xanh biển trông thật thảnh thơi, nhàn hạ. Ông không hiểu vì lẽ gì, cái con thuyền xinh xắn nằm yên giữa dòng sông ấy lại giúp ông cảm thấy yên ổn trong lòng. Ở nhà một mình, thỉnh thoảng ông lại đến bên ô cửa nhìn xuống để xem con thuyền còn đó hay đã rời xa. Mấy ngày mưa, trời đất mù mịt, ông căng mắt tìm qua màng kính mờ đục, chẳng nhìn thấy bất cứ vật gì, lòng thấp thỏm không yên. Ông  bước lui bước tới trong căn phòng nhỏ, cảm thấy hết giới hạn của mình, sự bất lực của mình.
            Ông biết mình vô lý, biết rõ một con thuyền thì phải xuôi ngược trên những dòng sông của nó. Thế mà, mỗi sớm mai trở dậy, ông không sao có thể ngăn được nỗi phấp phỏng, sợ con thuyền đã rời đi vào đêm trước. Có thể mọi chuyện bắt đầu từ cái hôm ở bệnh viện, sau ca phẫu thuật chăng. Bữa đó, sau mấy tiếng đồng hồ mê man, ông chợt tỉnh lại, vào buổi xế chiều. Âm thanh đầu tiên ông nghe thấy là tiếng kêu lích chích của con chim sâu bé nhỏ. Ông khẽ ngiêng đầu ra phía ô cửa sổ và qua màn sương mỏng của đôi mắt, ông nhìn thấy con chim như một nắm bông màu xám nhạt, đang đong đưa trên một nhánh liễu mềm mại. Ông nghĩ đó là điềm lành. Vậy rồi, chiều nào ông cũng nằm ngiêng qua phía cửa sổ, chờ đợi. Con chim nhỏ, không biết cả ngày phiêu bạt những đâu, chiều muộn lại về, đong đưa trên cành liễu, kêu lích chích chào ông. Nó còn ở đó cho đến khi ông xuất viện vào một buổi chiều. Ông đứng bên ô cửa với cặp nạng gỗ, cố chìa tay ra. Nó nghiêng đầu, đôi mắt tròn xoe lúng liếng, miệng lích chích, lích chích như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ để bàn ở nhà ông.                         
            Ông biết, mình đã trở nên yếu đuối đến thế nào khi trong suốt những ngày nằm viện, ông đã gần như chỉ bấu víu vào con chim bé nhỏ đung đưa trên cành liễu sà vào bên ô cửa để hy vọng. Giờ đây, lại bám víu vào con thuyền bất động dưới xa kia, cũng qua một ô cửa. Chỉ có điều, niềm hy vọng ngày một bé nhỏ hơn, ít ỏi hơn. Hồi đó, ông mong mình có thể trở lại hoàn toàn bình thường, đi lại mà không cần chiếc nạng. Giờ đây, ông mong sao có thể cùng chiếc nạng đi dọc con phố men theo bờ sông dưới kia, trong những sớm mai, những chiều muộn, khi phố xá thưa vắng. Ông thở dài, tự nhiên nhớ đến câu nói của một nhân vật nào đó, trong một cuốn sách ông đọc hồi còn trẻ: Đời sẽ sướng mắt hơn nhiều nếu ta chỉ nhìn nó qua một ô cửa sổ duy nhất. Ông cố nhớ xem câu nói đó của ai, được nói trong hoàn cảnh nào nhưng không sao nhớ nổi, chỉ biết rằng  mình đã từng tâm đắc với câu nói có tính triết lý này. Chỉ có điều, ngày đó nó là một tiếng reo, giờ thì nó là một tiếng thở dài. Chũ nghĩa, trong những cảnh huống khác nhau, có thể hàm chứa những ý nghĩa khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Ông học đại học trong thời chiến nên trường phải sơ tán về một vùng núi rừng hẻo lánh. Trong lớp, có một cô người Ba Lan theo học văn học Việt Nam. Cô ta nói một thứ tiếng Việt không có dấu nhưng đọc và hiểu khá tốt. Lần nọ, cô ta gặp rắc rối tình cảm sao đó, buồn lắm. Nghe cô ta kể chuyện, ông, chàng trai trẻ 20 tuổi, an ủi: Rồi mọi sự sẽ qua thôi. Không ngờ cô ta cười, đáp lại: “Với một người đang vui, thì câu đó có ý nghĩa lạc quan nhưng với một người đang buồn thì nó lại có ý nghĩa bi quan”. Ông đã sửng sốt biết bao trước cách hiểu và diễn đạt tiếng Việt của cô gái. Hình như cô cũng có ít nhiều cảm tình với ông và ngược lại, ông cũng thấy quyến luyến cô gái thông minh có mái tóc vàng và đôi mắt xanh như ngọc ấy. Ông đã thật buồn  khi cô không thể chịu cực khổ thêm nữa, đã trở về nước khi khóa học còn dở dang. Maria, tên cô gái là Maria, ông nhớ lại khi cúi mình qua khung cửa, nhìn ngắm con thuyền. Maria, cô đã sống ra sao trong chừng ấy tháng năm, giữa cuộc đời đầy bất trắc này.

            Một tai nạn đã đổ ụp xuống cuộc đời ông khi ông vác máy băng qua  đoạn đường cheo leo để kịp chụp những bức ảnh về loài đào phai ở rừng cho số báo cuối năm. Tảng đá ông đặt chân bất ngờ rời khỏi triền núi. Ông nằm mê man, hai chân dập nát, một ngày sau mới có người nhìn thấy, đưa đến bệnh viện huyện. Bệnh viện huyện sơ cứu rồi chuyển lên bệnh viện tỉnh. Bệnh viện tỉnh xoay xỏa vài ngày rồi đưa về thành phố. Kết cục, sau 3 lần mổ, giờ đây, ông chỉ có thể loanh quanh trong phòng với một chiếc khung sắt hình chữ nhật làm trụ đỡ.
            Tốt nghiệp đại học nghành ngữ văn, ông về làm biên tập cho một tờ báo ảnh. Công việc buộc ông phải tìm hiểu, học hỏi nghề ảnh và rồi say mê thứ nghệ thuật này lúc nào không biết. Thay vì ngồi ở văn phòng, xem ảnh và bình luận, ông trèo đèo lội suối theo các nhiếp ảnh gia để “ có cảm hứng” khi viết bài, ông trình bày với ban biên tập như vậy. Các nhiếp ảnh gia của tờ báo là những tay chuyên nghiệp, những tay có số má trong nghề, như cách thiên hạ vẫn nói về họ. Chàng trai trẻ lang thang theo họ, lúc vác giúp bộ chân máy, khi chặt cây dựng lều giữa rừng, nhìn ngắm họ làm việc, lắng nghe họ trò chuyện. Họ cũng yêu chàng trai trẻ đầy nhiệt huyết. Họ thấy có anh đi cùng cũng vui, hơn nữa, cách biên tập và các bài viết của anh ngày một sâu hơn, nhiều cảm hứng hơn. Đôi khi, thấy nhiếp ảnh gia bỏ máy, ngồi hút điếu thuốc, uống ngụm trà, ông cũng cầm máy lên ngắm nghía. Chỉ ngắm nghía thôi, không dám bấm máy vì hồi đó chỉ có máy chụp phim mà phim thì vừa hiếm lại vừa đắt. Người ta phải tính toán kỹ càng trước khi quyết định chụp một pô ảnh. Sau một thời gian tầm sư học đạo, anh quyết định theo thầy VH, một chuyên gia ảnh phong cảnh. Anh bị mê hoặc bởi các bức ảnh của ông. Trong mỗi rặng cây, trong mỗi triền đê, trong mỗi bến sông, trong mỗi chiều tà của VH dường như đều hàm chứa một lời kêu gọi, một niềm chờ đợi, một nỗi hoài nhớ nào đó… VH đã cưỡng lại lối sắp đặt cân xứng vốn có trong bản chất của mỗi con người, của tự nhiên để làm nên một trật tự mới, một vẻ đẹp khác lạ cho các bức ảnh của mình… Ông đã viết như vậy trong một bài báo viết về VH. Đọc xong, VH cười cười, cúi xuống vê mồi, rít một hơi thuốc lào rõ dài, vỗ vai chàng trai trẻ một cái, rồi lững thững ra khỏi tòa báo.
            VH chạy đôn chạy đáo mua cho cậu học trò một chiếc Leica của Đức. Thầy hươ hươ chiếc máy trước mặt chàng trai, cố nhịn ăn vài tháng nhé. Rồi cười, tớ phải chiến đấu thật lực với tay buôn máy mới bớt được chút đỉnh cho câu có cháo mà ăn đấy. Tớ nghiệm ra, đàn ông mà đã đi buôn thì  còn rắn hơn cả phụ nữ. Một là một, hai là hai, chắc như bắp, chẳng gì làm cho nó lung lay được. Chàng trai trẻ nhào tới rồi bất chợt đứng sựng lại trước mặt người thấy, không nói nổi  lời cảm ơn. Suốt thời gian này, vào các buổi sáng, thầy lúc đem chiếc bánh mì, khi đem gói xôi cho học trò. Chàng trai ái ngại mà không dám từ chối, sợ thầy buồn. Thầy lúc nào cũng nghĩ người khác khổ hơn mình. Có kẻ trong tòa soạn ác mồm gọi thầy là “ngài bi thảm hóa”. Thầy dạy nghề cho học trò thật kỹ lưỡng, thật bài bản, nhường bớt  phần phim ít ỏi của mình cho học trò rồi kéo chàng trai theo mình lang thang tìm cảnh. Mỗi khi chàng trai có được bức ảnh khiến ông hài lòng, ông lại kéo chàng ta ra quán chè chén trước cửa cơ quan, vừa uống nước vừa rít thuốc lào. Mãi rồi học trò cũng nghiện trà, nghiện thuốc lào theo thầy. Trong một lần như thế, thầy bỗng nghiêm giọng, bây giờ thì quên đi những khẩu độ, những độ sáng, độ sâu, những chia cảnh, những căn khung…Hãy làm theo cái slogan của hãng máy ảnh Lomography: Don’t think, just shoot, đừng suy nghĩ, chụp đi. Tất cả bí quyết của tớ là khoảnh khắc. Tất cả là khoảnh khắc, ông nhắc lại. Chàng trai dè dặt hỏi ông, hình như thầy đồng quan điểm với trường phái Ấn tượng. Ông rít một hơi thuốc lào, nhả khói, nhìn làn khói  lơ lửng giữa khoảng không, trầm ngâm, tớ cũng chả biết nữa.  Chỉ là chuyện Dị sàng đồng mộng của những kẻ cùng làm một thứ lao động  thôi mà.

            Khoảnh khắc. Phải rất lâu sau, phải làm hỏng, phải bỏ phí hàng ngàn khoảnh khắc, ông mới hiểu lời dạy của thầy, mới có thể làm chủ được những khoảnh khắc. Các bức ảnh của ông đã được tạo nên trong những khoảnh khắc huyền diệu của trời đất, cỏ cây, sông núi.  Ông không có thói quen chụp nhiều po ảnh cho một cảnh sắc như người khác vì tin chắc rằng chỉ có một khoảnh khắc cho điều mình muốn ghi nhận, một lần duy nhất, không thể lặp lại. Sau cuộc triển lãm đầu tiên của ông, thầy bỗng đổi cách xưng hô. Không còn cậu cậu tớ tớ nữa mà là Anh và Tôi. Ông thấy sờ sợ, thấy xa cách sao đó nhưng một người bạn từng sống lâu ở tòa báo, bảo ông, đó là cách thầy công nhận tài năng của anh đấy. Không mấy người trẻ được như vậy đâu. Những năm cuối, mắt thầy ngày một mờ đi, cho đến khi mắt phải của thầy lòa hẳn, không thể  nhìn qua ống kính được nữa, thầy mới gác máy. Thầy bảo, Trời chỉ cho ta được hưởng mọi thứ đến một giới hạn nào đó. Tôi đã nhìn nhiều hơn số lần được nhìn trong đời một người rồi. Giờ thì dù muốn dù không, mình cũng chỉ có thể nhìn đời bằng một mắt mà thôi. Thầy trao lại chiếc máy ảnh cho ông. Đó là chiếc máy ảnh ông mang theo khi gặp tai nạn. Như có phép màu, chiếc máy ảnh cũ chỉ sây sát chút đỉnh. Ông nghĩ, có lẽ mình cũng đã đi nhiều hơn số lần được đi trong đời một con người.
            Cũng như thầy, ông chỉ dùng một chiếc máy ảnh chụp phim duy nhất cho  công việc của mình, chiếc Nikon F100 thầy để lại. Ông có cảm giác khi lấy nét bằng tay, đo sáng bằng mắt, có cái gì đó như sự gắn bó của cơ thể, của máu thịt với cảnh vật. Có lẽ nó cũng giống như người làm thơ nọ muốn viết trên mặt giấy, muốn nghe thấy tiếng lạo xạo khi ngọn bút tiếp xúc với trang giấy, muốn nhìn thấy vết dập xóa trên mỗi con chữ, ngay cả khi máy tính là vật dụng phổ biến cho tất cả mọi người. Có ai chê ông cổ lỗ, bảo thủ, ông chỉ cười, không thanh minh, không giải thích. Một đồng nghiệp lâu năm bảo ông có cái cười giống VH- người thầy của ông. Ông hỏi, nghĩa là sao. Nghĩa là tin mình đúng nhưng cũng không phủ nhận người khác, người bạn đáp.
            Sau tai nạn, ông đem chiếc Nikon 100 cất vào tủ đựng tài liệu, bên cạnh chiếc Leica của thời khởi nghiệp. Dần dà, ông đã quen nhìn chúng như nhìn những hiện vật bảo tàng. Xin đừng chạm tay vào.

            Mọi việc lướt qua ông như một cuốn phim quay chậm, không lời thoại, trong khi ông vẫn chăm chú nhìn xuống dòng sông, nhìn con thuyền đứng yên, nhìn rặng cây thấp xanh tươi chạy dọc đôi bờ sông vắng lặng. Ông không ngờ, chính cuốn phim quay chậm đó đã làm thức dậy nỗi khao khát bị chôn vùi nhiều ngày tháng. Tự nhiên ông thấy lòng dạ cồn cào như sắp sửa một cơn đau bao tử, thấy thèm cầm chiếc máy trong tay, thèm được đưa máy lên ngắm nhìn, thèm được nheo mắt, được ấn nhẹ ngón tay vào contac trong khoảnh khắc này. Linh cảm cho ông biết ông sẽ có một bức phong cảnh tuyệt vời. Ông đứng dậy, đẩy lồng sắt tới trước chiếc tủ tài liệu. Tim đập loạn xạ, tay ông run rẩy khi mở cánh cửa nhỏ. Trong lúc ông với tay lấy máy, chiếc quai da vướng vào một chồng báo được ràng rịt cẩn thận. Chồng báo rơi xuống mặt sàn, sợi dây buộc ngoài, có lẽ quá cũ, đứt tung ra. Ông mở tập báo, nhìn ngày tháng trên những tờ báo, những tờ tạp chí khác nhau, lật dở từng trang một để tìm ra lý do của sự lưu giữ. Chỉ đến khi nhìn thấy bức ảnh phong cảnh chùa Thầy trên trang giữa của một tờ báo, ông mới chợt nhớ ra cơ sự. Hồi đó, không hiểu vì cớ gì, khi bức ảnh của ông vừa được trao giải trong cuộc thi hàng năm, một nhiếp ảnh gia lên báo cho rằng ông đạo ảnh của ông ta. Trong lúc ông chưa kịp phản ứng thì hàng loạt tờ báo đã vội vã vào cuộc. Người thì cho rắng lời tố cáo là đúng sự thật. Kẻ thì cho rắng ông bị oan. Ai cũng muốn nói lời sau cùng, ai cũng muốn mình đúng. Ông nghe lời thầy, đợi mọi người nói xong phần của họ rồi mới lên tiếng. Lại ầm ầm thêm một thời gian nữa mọi việc mới yên ắng. Ít lâu sau, ông gặp lại tay nhiếp ảnh nọ ở một cuộc triển lãm mỹ thuật, hắn chạy tới bắt tay, cười nói  hi hô như chưa từng xảy chuyện. Hết biết. Ông nói với VH đang đứng bên cạnh. Thầy cười, chưa hết đâu. Rồi cậu còn thấy khối chuyện lạ trong cái mảnh sân bé nhỏ này. Quả nhiên, gần như ngay sau đó, lại đến lượt thầy gặp nạn. Có ba bốn bài báo đồng loạt lên tiếng phê phán VH, cho rằng thầy là người duy mỹ, các tác phẩm không phản ảnh hiện thực đời sống, không theo đúng các chức năng này chức nặng nọ…Ông đã toan lên tiếng bênh vực thầy nhưng thầy bảo, vào lúc này, anh không “địch” nổi với họ đâu. Thầy vừa rít thuốc lào vừa lơ đãng nhìn khói, nói dấm dẳng, chỉ cần họ không tước máy của mình là được. Rồi lại vác máy ra đi hàng tháng trời. Rồi lại đem về những bức ảnh đẹp tuyệt vời. Hồi đó, ông thấy mọi việc nghiêm trọng lắm, quyết giữ lại các chứng từ để phòng khi cần dùng đến, mà cũng muốn cho con cháu về sau biết rõ hư thực. Ông thở dài, đứng ngẩn ra một lúc rồi thu dọn chồng báo, đem đặt vào chỗ báo cũ ông vẫn để dành cho người giúp việc. Người phụ nữ gầy nhỏ này giúp việc theo giờ cho năm nhà trong chung cư, nhà thì 2 tiếng, nhà thì 3 tiếng, cộng lại thành 12 tiếng trong một ngày. Ông chọn quãng thời gian 9 đến 11 giờ để tiện việc chợ búa, cơm nước. Gia đình bà vốn là những diêm dân ở miền Trung nhưng vì chồng đau ốm, con lại đang theo học trường cao đẳng nghề ở thành phố nên bà đưa cả nhà vào theo, thuê một căn phòng nhỏ để tá túc. Bà làm việc chăm chỉ, cẩn thận, rất ít lời. Lần duy nhất bà hỏi ông về gia cảnh là khi ông bị cảm, phải ăn cháo mấy ngày liền. Bà bưng cháo lên, ái ngại, tôi hỏi không phải, xin ông thứ lỗi, bà nhà và các anh chị ở đâu mà ông sống một mình thế này. Ông cười nhẹ, nhà tôi mất sớm, có một cô con gái thì lại lấy chồng cách xa đây hàng vạn cây số. Ông nghe bà thở dài khi quay đi. Đó cũng là lần duy nhất ông nói với người khác tình cảnh của mình. Trừ số tiền lương được thỏa thuận ra, ông cũng chẳng có gì nhiều để cho bà, ngoài mấy tờ báo cũ, mà nghe đâu bây giờ cũng chẳng đáng gì. Hôm nay bà xin phép nghỉ để đưa chồng đi tái khám sau đận mổ ruột thừa. Ông mở tủ lạnh. Các thức ăn đã sắp sẵn cho một ngày, chỉ cần đặt vào lò vi sóng hâm nóng lại. Thật tội nghiệp, ông nói nên lời, nước mắt chợt ứa nhòa đôi mắt. Cái cuộc đời tàn khốc, đau đớn này rút cục bao giờ cũng dành cho ta một niềm thương cảm, một nỗi xót xa, để sống.

            Ông quàng chiếc dây da qua cổ. Một cảm giác gần như cơn ớn lạnh chợt chạy khắp cơ thể, giống như lần đầu tiên ông cầm chiếc Leica, ngắm nhìn Hồ Tây trong một ban mai mùa hạ. Mọi thứ cứ lặp đi lặp lại như thế, làm cho cuộc đời mình như dày dặn thêm lên, thầy từng có lần nói câu này, có lẽ là câu nói dài nhất, văn vẻ nhất của thầy, trong lúc xem bức phong cảnh cũ nhưng được chụp ở một thời khắc khác.
            Ông đẩy chiếc khung sắt về phía ô cửa. Loay hoay mà đã đến nửa buổi rồi, ông lẩm bẩm. Lựa một tư thế ngồi thích hợp, ông cúi nhìn xuống dòng sông, chuẩn bị cho việc bấm máy. Thế nhưng, trong ánh sáng rỡ ràng của ngày, con thuyền đã biến mất. Ông bỏ máy xuống, nhướn mắt nhìn thật kỹ một lần nữa. Rặng cây thấp ven bờ vẫn xanh thắm. Dòng nước dưới xa kia vẫn êm đềm như chẳng hề trôi chảy. Chỉ có con thuyền là  không còn nữa. Cái cảnh vật mà ông muốn có đã vỡ ra. Khoảnh khắc đã vuột mất.
            Dù biết vậy, ông vẫn không sao có thể rời  khỏi ô cửa. Ông cứ ngồi như thế, chốc chốc lại đưa mắt tìm kiếm, hy vọng lại nhìn thấy con thuyền neo đậu giữa dòng sông, cái hình ảnh đã tạo nên cảm giác yên bình kỳ lạ trong tâm khảm ông từ bấy lâu nay. Nếu không có tiếng chuông cửa của người đưa báo, không biết ông sẽ còn chờ đợi đến bao giờ. Ông kêu to, tôi ra đây, tôi ra  ngay đây như kẻ ngủ mê chợt tỉnh dậy, nói mà không biết mình đang nói gì.
            Khi ông ra đến nơi thì người đưa báo đã đi rồi. Mấy tờ báo được đẩy qua khe cửa. Thường thì cậu ta nán lại vài phút để trò chuyện với ông. Không hiểu do đâu mà cậu ta biết nghề nghiệp của ông. Cậu ta thích chụp ảnh, thích bàn luận về nghệ thuật này và không ngớt tán dương ưu thế của máy ảnh kỹ thuật số. Cậu ta bảo đang theo học tại một trường nghệ thuật nào đó, đưa báo là việc làm thêm để chi dùng hàng ngày. Biết vậy, những hôm bận, cậu đưa báo trễ, thậm chí quên đưa báo, ông cũng không phàn nàn. Ông bảo, cậu đừng ngại, đọc báo chỉ là thói quen thôi, tin tức có là bao. Hàng ngày, ông vẫn có ý đợi chàng trai này để… nói dăm điều, ba chuyện, cho đỡ buồn. Đã vài ba lần cậu ta bảo, để lúc nào rỗi, cháu đến chơi với bác cả buổi. Nhưng chắc chẳng khi nào cậu ta ( và bọn trẻ nói chung) có thể có đủ một buổi để nói chuyện với một ông già, ông nghĩ.

            Ấy vậy mà, một ngày nọ, chàng trai tìm đến thăm ông. Nghe tiếng chuông, nghĩ là người giúp việc đến dọn dẹp, không ngờ là cậu đưa báo.  Câu ta đến giữa phòng rồi mà ông vẫn còn đứng vịn vào cánh cửa, vẻ bần thần. Cậu ta quay lại, cháu có làm phiền bác không ạ. Ông giật mình, đỏ mặt, không, không, chẳng là tôi ở một mình lâu quá nên bất ngờ một chút thôi. Ông đã không nói với cậu ta rằng, chính cậu, chàng trai có mái tóc cắt ngắn, mặc chiếc sơ mi kẻ sọc xanh biển, khoác hờ hững chiếc ba lô màu đen bên vai, đã mang theo một luồng khí ấm nóng, tràn trề nhựa sống ùa vào căn phòng nhỏ bé, lạnh lẽo của ông, đã khiến ông  nghẹn ngào vì xúc động. Chỉ đến lúc này ông mới hiểu vì sao ngày trước thầy VH lại yêu quý ông đến vậy. Tuổi trẻ làm cho ta hoài nhớ tuổi trẻ của chính mình, làm sống dậy trong ta những khát vọng, những ao ước, những tiếc nuối, day dứt, để sống.
            Vẫn đứng giữa phòng, chàng trai nói to, giọng trầm vang, cháu vừa đi thực tập ở Tây Bắc về.  Đẹp không thể tả được bác ạ. Chỉ có 3 ngày mà cháu chụp không biết bao nhiêu là ảnh. Bác đừng cười cháu nhé. Cháu không thể cưỡng lại cái ý muốn thâu tóm tất cả cảnh trí vào ống kính của mình. Đêm nằm không sao ngủ được, cháu cứ lục đà lục đục khiến cậu bạn mất ngủ, càu nhàu cấm cảu như một bà già khó tính. Vừa tờ mờ sáng cháu đã vác máy đi, đúng là quên ăn, quên ngủ. Cháu mang ảnh đến trình bác đây ạ. Chàng trai chợt dừng lại, lo lắng nhìn ông già đang ngồi im lặng, một tay chống cằm, vẻ lơ đãng, bác ơi, bác có khỏe không ạ. Ông già ngẩng lên, mỉm cười, giọng run run, tôi khỏe mà. Anh cho tôi xem ảnh đi. Ông  đã thay đổi cách xưng hô. Nhận thấy vẻ bối rối của chàng trai, ông đưa tay kéo cậu ngồi xuống bên cạnh, chỉ riêng tình yêu với thứ nghề này của anh đã đủ để chúng ta thành bạn bè rồi.

            Chàng trai ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc máy tính cũ trên bàn làm việc, bác dùng máy tính ư. Thật tuyệt quá. Cháu đã in ra đây rồi nhưng xem trên máy sẽ rõ ràng hơn, thú vị hơn, sinh động hơn. Ông húng hắng ho, máy của tôi chỉ để gửi thư, nhận thư của con cháu, không biết anh có dùng được không. Chàng trai ngó nghiêng chiếc máy một chút, giúp ông đến ngồi trước màn hình, rồi đặt CD vào ổ máy. Lập tức, trên màn hình hiện ra những triền núi, những cánh đồng, những thửa ruộng bậc thang phủ đầy một màu hoa hồng thắm. Chàng trai vừa di chuột cho những bức ảnh liên tục hiện ra vừa giải thích, đây là hoa Tam giác mạch, cháu may mắn đến vào đúng mùa hoa. Thoạt tiên cháu cũng hơi ngạc nhiên vì tên của hoa. Người bạn ở địa phương nói với cháu, sở dĩ có tên lạ lùng như vậy là bởi hoa có 3 mặt hình tam giác, lại là thứ hoa được nảy mầm từ mày lúa, mày ngô, có thể lấy hạt làm bánh, nấu rượu như các loại cây lương thực khác. Tam giác là vẻ ngoài, còn mạch là thuộc tính căn bản của hoa.  Có người gọi chúng là loài Lương thảo, có người lại gọi là Thảo hoa. Cháu thấy tên nào cũng hay vì chúng đẹp quá, mỏng manh quá, hoang dại quá. Một cô gái đẹp đâu phải nhờ cái tên bác nhỉ. Tam giác mạch có nhiều ở Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang…
            Ông vừa nhìn hoa vừa nghe chàng trai vừa nhớ lại những loài hoa ông từng biết, những vùng đất ông từng qua. Simacai, Bát Xát, Bắc Hà, Mường Khương, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Sủng Là, Lũng Cú, Hoàng Su Phì, Phó Bảng, Đồng Văn, Xín Mậu…Ông đã trở đi trở lại những vùng đất này biết bao lần. Ông đã chụp hàng trăm bức ảnh Hoa Ban, Hoa Đào phai, Hoa Mận, Hoa Táo, Hoa Sim, Hoa mua, Hoa Cải, Hoa Lan rừng…Có mùa đông ông còn  lặn lội vào từng nhà của vùng núi này để tìm mật ong Hoa Bạc hà  về làm thuốc trị bệnh cho vợ. Vậy mà ông chưa khi nào biết đến một loài hoa có tên là Tam giác mạch quyến rũ, huyền hoặc, thắm thiết nhường kia.
            Ông nhắm mắt lại, ngả đầu tựa vào thành ghế, im lặng hồi lâu rồi bất thần hỏi chàng trai, Tam giác mạnh nở vào lúc nào. Dạ, vào cuối thu, khoảng tháng 10, tháng 11 bác ạ. Thế nào cháu cũng sẽ quay lại vào năm tới. Chàng trai hào hứng trả lời, trong khi ông già đã thiếp đi trong ý nghĩ, sao ngày xưa ta lại không đến Tây Bắc vào độ cuối thu.

SG 11/2013.
Ý Nhi

  

 

  



Thursday, December 18, 2014

FIMNOM NGÀY NÀO QUA

Đinh Cường




Nguyễn Đạt. ghi nhanh bút bi. đinhcường

Trở lại chi chiều nay
cho mây sà xuống thấp 
(Nguyễn Đạt)


Và người thi sĩ ấy
chiều đi qua fimnom
chiều đi qua suối thông
thấy nhà thờ đã mới

tôi về dưới lạc lâm
vẫn trên con đường ấy
nhìn lên đồi golgotha
chúa trên cây thập giá

nhắc chi đến mùa đông
mây núi buồn quá lắm
hoa quỳ rừng đã lặn
từ sau một mùa mưa

fimnom ngày nào qua
quán bên đường rượu đỏ
ông chủ quán tây già
nay đã thành thiên cổ…

Virginia, December 17, 2014 
Đinh Cường