Monday, June 1, 2020

NGAY BỆNH


Đặng Mai Lan

Nhà văn Đặng Mai Lan

     Vị bác sĩ nói với tôi, bà quyết định đi nhé, nếu đầu óc bà thật sự thư thái, không điều gì lo nghĩ thì bà có thể nhập viện trong hai tuần lễ nữa. Nhưng bà vừa đi nghỉ hè về, trông bà khỏe mạnh với làn da rám nắng thế kia thì tôi tin chắc bà sẽ không có vấn đề gì đâu.
Điều gì nguy hiểm sẽ xảy ra sau khi giải phẫu, nếu tâm trạng tôi không được vui ?

     Algodystrophie ! Gần ba thập niên sống ở đất nước này, vào ra bệnh viện nhiều lần nhưng tôi chưa hề nghe qua từ ngữ ấy.
    Về nhà, tôi mở máy lên google ráo riết tìm tất cả mọi định nghĩa về căn bệnh. Nhưng kết quả vẫn không hơn những gì ông Bác sĩ đã nói với tôi. Đó là một sự đau đớn khác thường, ngoài cái đau của vết thương. Và cái đau ấy, nếu có, sẽ xuất hiện sau khi mổ. Nguyên nhân thì không rõ ràng. Các nghiên cứu chỉ cho biết triệu chứng này thường xảy ra cho những bệnh nhân mang một tâm trạng bất ổn.
    Đau thì tôi đã đau rồi, từ hai năm nay bởi những chất vôi đóng trong bả vai, nơi những đường gân co giãn. Chúng làm trì trệ tất cả mọi cử động. Những ngày mùa đông, khi nhiệt độ xuống thấp, thời tiết băng giá bên ngoài cho tôi hiểu thế nào gọi là « đau thấu xương ». Buổi sáng thức dậy, cánh tay không thể nào dơ lên cao. Cao lắm là chỉ với được tới màng tang. Nên dù thế nào thì tôi cũng phải lấy nó ra trước khi mùa đông đến.
     Người y tá vào phòng cho tôi một viên thuốc gọi là để thư giãn tinh thần. Nhưng sau khi uống viên thuốc vào thì tôi lại bắt đầu lo sợ. Tôi đợi nhân viên của bệnh viện đem băng ca đẩy tôi xuống phòng mổ nằm sâu dưới những tầng lầu. Tôi đợi người nào đó chích trên mu bàn tay của mình, cắm vào một cái kim dài để chuyền từng giọt nước biển vào cơ thể. Rồi họ sẽ tiêm một mũi thuốc vào cái ống nhựa mềm trong vắt ấy, và tôi sẽ ngủ,  như bao lần trước.

      Để  bù cho những ngày phải nằm nhà dưỡng sức đã được tiên liệu trước, tôi mua vé máy bay, bay về Việt-Nam. Tôi đã theo đòan du lịch đi suốt miền Trung, để tìm biết nơi tôi được sinh ra. Tôi đi xuyên qua những tỉnh lỵ dọc Trường Sơn. Những bãi biển, những bến sông, những cây cầu, ruộng đồng và làng mạc. Qua Phá Tam Giang, bâng khuâng nghĩ về thi sĩ Tô Thùy Yên, vậy mà  lại không sao trả lời câu đố của cô bé hướng dẫn viên về một bài hát rất hay nói về địa danh này. Dù cô đã cho biết thêm rằng người nhạc sĩ sáng tác là ca sĩ Nhật Trường - Trần Thiện Thanh. Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em. Trời ơi, tôi trách tôi có vậy mà không nhớ, cứ loay hoay mãi trong đầu về một vùng Biển Mặn « Cao ngất Trường Sơn, ôm ấp tình thương nước ra sông buồn ».
Nhạc của ngày xưa bây giờ được hát lại, sau một thời gian bị cấm đoán. Băng đĩa bán đầy ở các cửa tiệm. Cô hướng dẫn du lịch tên Loan, còn rất trẻ, có lẽ sinh sau năm 1975. Cô thích âm nhạc, ca hát. Cô biết đến tên nhạc sĩ đã là khá. Nếu cô không biết ông Tô Thùy Yên là ai, thì cũng chẳng có gì đáng trách.
       Và tôi đã được đi qua Đại Lộ Kinh Hòang, nhìn thấy dòng sông Thạch Hãn. Rồi cầu Hiền Lương, sông Bến Hải. Những địa danh nhắc nhớ tôi về một mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam.
       Tôi còn nhớ , Loan đã ra hiệu cho xe chạy chậm lại, cốt ý chỉ cho chúng tôi nhìn thấy một tượng đài kỷ niệm phía xa. Xa, nên mọi người  chỉ nhìn thấy nó như một bức tường sắt,  được thành hình bởi những cái khung mang hình quả trám. Những quả trám kim khí này được xếp chồng chéo lên nhau một cách đều đặn, khít khao. Loan giải thích,  hình ảnh ấy tượng trưng cho hai mươi giọt máu. Máu của hai mươi chiến sĩ bộ đội đã tử thủ trong cuộc giao tranh khi « giải phóng » vùng đất này.
      Tôi im lặng, ngậm ngùi nghe giải thích nhưng không khỏi bật cười khi nghe một anh bạn đồng hành người Nam vui tính nói nhỏ bên tai tôi rằng, nếu em Loan đố thêm một bài hát khác, nói về vùng đất này, thì tui sẽ hát bài … Cờ bay, cờ bay tung trời  trên thành phố thân yêu, « giải phóng » lại đêm qua bằng máu…
      Ôi,  những nụ cười tưởng vui mà buồn trên môi người dân, ở hai miền đất nước.

       Từ giã miền Trung, tôi đi Hà Nội. Đi không những chỉ tìm biết mà là tìm lại.
       Tôi đi tìm Hà Nội của nửa thế kỷ trước. Tìm lại bằng quá khứ vay mượn của người khác, thêm vào trí tưởng tượng của chính mình. Tôi tìm Hà Nội  qua những tác giả, những tác phẩm tôi đã đọc, đã học thuở xưa.
      Du khách khi đến Hà Nội, thường được đưa đi thăm hồ Hòan Kiếm, Hồ Tây, chùa Trấn Quốc, Văn Miếu v…v… Tôi lại muốn biết thêm về con đê Yên Phụ, một ngày mưa lũ của Khái Hưng trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn nằm ở nơi nào, khi chiếc xe car chở chúng tôi đi trên con đường mang tên Yên Phụ. Ở Hà Nội, người hướng dẫn là một cậu thanh niên, cũng còn quá trẻ. Đê Yên Phụ lại không phải là một cứ điểm du lịch. Nên chẳng có câu trả lời nào chính xác cho tôi. Đường Yên Phụ, phố xá sầm uất, nhộn nhịp. Nghe đâu đã có cuộc dành đất cất nhà, lấn đê. Có lẽ vì thế mà chẳng thấy đâu là đê điều, bờ bãi.

     Rồi tôi về Sài-Gòn. Nắng miền trung làm da tôi đen xạm. Tôi không có vẻ gì là một Việt kiều vì tôi đi bộ, đi xe bus nhiều hơn đi Taxi. Tôi rành những tuyến đường xe bus hơn các em tôi. Nơi này trước là một trường trung học tư thục, chỗ kia là một quán cà phê. Trong bước lang thang, tôi thích thú khi bất ngờ tìm thấy lại những cái gì của ngày trước, dù nay đã không còn, đã thay hình đổi dạng.
     Tính ra, những ngày ở Việt Nam tôi ngủ khách sạn, ăn cơm ở các hàng quán nhiều hơn là ở nhà. Toàn những chuyến đi ngòai dự tính.
      Hà Nội là một khám phá, Hà Nội êm ả thơ mộng. Sài Gòn đầy bụi, khói xe và tiếng động. Tuy nhiên tôi vẫn thích ở Sài Gòn hơn vì Sài Gòn là kỷ niệm. Và thật lạ lùng, khi về miền Trung, nhất là Quảng Trị. Đi trên những con đường xuyên qua rừng cây, đồi cỏ, có những đụn cát trắng như tuyết lóng lánh dưới mặt trời. Một nơi chốn đã trải qua bao nhiêu tang tóc, khổ hạnh. Sao tôi lại thấy yêu miền đất này quá, luyến lưu quá khi giã biệt.

     ... Tôi đang nhớ về những ngày rong chơi miền xa, hạnh phúc khi trở lại nhà với gia đình nhỏ của mình.
     Algodystrophie không thể nào đánh ngã được tôi. Song nỗi lo sợ mà tôi không muốn nghĩ tới lại quay về. Chẳng riêng gì tôi, tôi tin rằng không nhiều thì ít, có lẽ những bệnh nhân nào trước khi vào phòng mổ cũng đều lo lắng về một bất trắc xảy ra khi bị gây mê, sợ rằng sẽ ngủ luôn không bao giờ thức dậy.
     Và giây phút chờ đợi cũng đến. Tôi cố gắng mở to mắt, nhìn rõ một người đang cúi xuống cười với tôi trong lúc chích mũi thuốc vào ống chuyền nước biển.

      Sau nhà tôi là một công viên nhỏ. Chỉ có cỏ và những tàn cây phong, cây dẻ. Những ngày trời gió lớn, nếu quên đóng cửa sổ nhà bếp, nằm trong phòng ngủ có thể nghe vọng vào một thứ âm thanh tựa như mưa đang rơi đều phía ngòai. Thực ra chỉ là tiếng rì rào của lá và gió.
      Nằm bệnh viện bốn ngày, khi tôi trở về nhà, những tàng cây dầy lá ấy đã bị hòan tòan đốn sạch. Đám cỏ bên dưới cũng không còn. Khỏang không gian xanh mướt ngày trước bây giờ là một vùng đất bị đào xới ngổn ngang, khô cứng. Con gái tôi nói, nó rất đau lòng khi nghe những tiếng cưa cắt và nhìn thấy các thân cây bị ngã xuống. Tôi im lặng, nhìn đống đất khô với những đường rãnh đào xới một cách vô cảm.
      Nỗi im lặng vô cảm ấy lại đến khi tôi đứng ở cửa sổ nhìn xuống khỏang sân nhỏ trước cửa chung cư. Nơi, có ghế đá, bồn hoa, và các ngọn đèn dựng đứng với các bóng đèn to tròn, màu trắng đục. Nơi, có một lối đi tắt để ra ngòai đường lớn, được rào chắn bằng những hàng cây thấp mà cô con gái lớn đi làm xa nhà, về thăm tôi hai ngày cuối tuần, đã vừa biến mất ở một khúc quanh trên lối đi đó. Con bé phải đón xe ra nhà ga thật nhanh cho kịp chuyến xe lửa mười giờ về lại Paris.
      Bỗng dưng tôi sợ hãi. Tối Chủ Nhật, chỉ mới hơn chín giờ mà sao khu cư xá vắng vẻ một cách không bình thường. Tôi cố gắng nhìn về phía bồn hoa, những băng ghế, mong nhìn thấy một bóng người. Một người già hay một thanh niên nào đó dẫn chó đi dạo. Nhưng hòan tòan không có ai. Và những bóng đèn màu trắng kia, nhìn chúng lạnh lẽo một cách kỳ lạ. Màu trắng mang một vẻ tang ma. Thứ đèn trắng được đặt trên những cỗ quan tài hay trước cổng của những ngôi nhà có tang.
      Tôi quay vào, đi loanh quanh trong nhà. Đứa con gái nhỏ của tôi đi chơi chưa về. Tất cả im lặng từ trong ra ngòai. Tôi thèm nghe một tiếng động. Như tiếng mưa lá rì rào sau cửa bếp những ngày gió, nhưng tối nay trời không có gió. Tôi nhìn xuống cánh tay của mình, cánh tay mặt bắt buộc phải vắt ngang ngực được bó chặt bằng một cái đai. Sao tôi không hề đau đớn, không cảm giác? Hay là tôi đã chết, hiện tại chỉ là tôi, một linh hồn đang trở về thăm lại nơi đã sống. Tôi cố nghĩ tới người đã tiêm mũi thuốc mê vào ống nước biển khi tôi nằm trong phòng mổ. Nhưng lại không nhớ nổi người ấy là một ông hay một bà. Trí nhớ chỉ khoanh lại cho tôi một nụ cười. Có thể tôi đã chết thật rồi chăng !
Tôi thức dậy lúc sáu giờ ba mươi sáng. Bằng một bàn tay, tôi phụ giúp con gái dọn bữa ăn sáng. Tôi bỏ cà phê vào máy, bỏ đường vào tách trong khi con bé đi tắm. Mùi thơm của cà phê  tỏa lan khắp gian bếp. Tôi sung sướng được nghe tiếng nước róc rách chảy từ vòi sen. Sung sướng được nghe tiếng gót giày của con tôi gõ trên những nấc thang dẫn xuống đường. Con bé  vừa khuất sau cái khúc quành như chị nó hôm qua. Những ngọn đèn trắng đục vẫn còn đang cháy sáng. Rồi tôi sẽ đi làm lại, mỗi sáng tôi sẽ rất bận rộn, sửa soạn khăn áo đến sở làm như con gái tôi. Sao tôi nhớ sở làm và thèm đi làm đến thế.
      Tôi vào bếp, cũng bằng một bàn tay, cố gắng bóp nát mớ ruột bánh mì thừa và để ngòai hàng hiên cho lũ chim đến ăn. Lâu rồi, tôi không cho chúng ăn vì không muốn nhìn thấy phân chim loang lỗ trên thềm. Tôi sợ sự dơ bẩn. Sợ phân chim lâu ngày sẽ bám cứng, ăn mòn những song sắt của hàng rào. Tôi không có thì giờ để làm cái công việc lau chùi một cách vô lý ấy. Nhưng bây giờ tôi lại muốn cho chúng ăn, tôi mong nhìn thấy những đôi mắt nâu hiền hậu. Tiếng chí chóe giành ăn của lũ chim sâu…
     Tôi muốn nghe được mọi tiếng động của đời sống, của sự sống quanh tôi. Đừng lặng thinh như nỗi chết. Dù nhộn nhịp tươi vui hay buồn tẻ, dù tiếng động ấy chỉ là tiếng ríu rít của những con chim nhỏ ngòai sân.
ĐẶNG MAI LAN


TRANH HẢI PHƯƠNG

Hoa Bìm Bìm Vườn Tôi
Màu nước và ecylic trên bố 18x24. May 2020

Sunday, May 31, 2020

SÀI GÒN, NHỚ...

Tạp văn Lê Ký Thương

Sài Gòn xưa

Đó là mùa hè năm 1965, năm có nhiều biến động thời cuộc nhất ở miền Nam Việt Nam. Hắn, lần đầu tiên từ quê nhà Nha Trang cùng đoàn Thanh niên – sinh viên – học sinh tình nguyện, bay vô Sài Gòn được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông, tham dự Trại hè TN-SV-HS toàn quốc, được tổ chức tại Khu Phượng Hoàng, Lái Thiêu, mục đích xây dựng nhà tạm – vách đất, mái lợp lá dừa nước cho đồng bào nghèo không nhà không cửa vì chiến tranh.

Nghe nói Khu Phượng Hoàng do không ảnh chụp giống hình chim phượng hoàng đang sãi cánh bay, do bà Ngô Đình Nhu làm chủ. Sau khi “phượng hoàng gãy cánh” năm 1963, bà Nhu sống lưu vong, chính quyền sở tại quản lý, coi như đất công.

Ngỡ ngàng với đất Phương Nam sáng nắng chiều mưa như bài địa lý thời tiểu học, bất ngờ trước câu thơ tình lãng mạn của Nguyên Sa nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông; những cô gái Sài Gòn mặc áo dài quần lụa trắng, đạp xe đạp dàn đầm đi trên những con đường rợp bóng me xanh – quá thơ mộng, hay lâu lâu bắt gặp vài cô mặc quần ống túm chạy vélo-solex – căng tròn sức sống.

Chỉ có một buổi ban đầu ngắn ngủi thôi mà Sài Gòn quyến rũ hắn đến thế! Rồi hắn từ giã Sài Gòn để về Lái Thiêu dự Trại. Nhưng rất may, cơ duyên đến với hắn, hắn được sắp xếp vào Ban Báo chí của Trại cùng với một nhà thơ Sương Biên Thùy – tác giả tập thơ Nỗi Buồn Nhược Tiểu, và một cô thư ký.

Buổi sáng, hắn cùng anh bạn nhà thơ có nhiệm vụ lấy tin sinh hoạt của các đội về viết, xong tin nào chuyển ngay cho cô thư ký đánh máy lên stencil. Đúng 6 giờ chiều, sau khi cơm nước, xe đưa chỉ một mình hắn về trụ sở nằm trên đường Phùng Khắc Khoan, Sài Gòn; ở đó có một anh sinh viên phụ trách in bản tin, còn hắn chỉ phụ tá xếp đóng 100 bản để sáng sớm hôm sau chở lên Lái Thiêu phát hành. Khâu in, xếp đóng có khi đến hai ba giờ sáng mới xong! Công việc cứ quay đều như vậy trong nửa tháng thì bế mạc trại. Vài hôm trước khi bế mạc Trại, hắn nhìn thấy cái máy quay ronéo chạy điện và tiếng máy quay đều đều khiến hắn khiếp sợ không dám đến gần! Bù lại, hắn được làm công việc hắn yêu thích.

Trước khi về Nha Trang, hắn được rong chơi vài hôm trên các đường phố chính ở Sài Gòn, nhất là đường Lê Lợi có nhà sách Khai Trí lớn nhất Sài Gòn và nổi tiếng cả miền Nam, nơi mà hắn hằng ao ước được đặt chân đến. Ngoài nhà sách Khai Trí còn có nhà sách Tự Lực, Ngàn Thông… Phía bên kia đường, đối diện với nhà sách Khai Trí có những cửa hàng và kiốt sách cũ. Hắn bị hớp hồn giữa một rừng sách mới và cũ – kho tri thức của nhân loại, nhưng hắn chỉ dám lướt nhìn tên sách. Thèm lắm, mà không có tiền mua! Hắn chỉ đủ tiền mua một tập truyện ngắn của một nữ tác giả thời danh mà hắn thích, để kỷ niệm lần đầu đặt chân lên đất Sài Gòn. 

Từ đó về sau, hắn có dịp về Sài Gòn nhiều lần, nhưng không được ở lâu.

Đến giữa năm 1970, hắn nộp đơn cầu âu xin đi học một khóa truyền thông ở Mỹ. Không ngờ đầu năm 1971, đơn vị chủ quản gọi về Sài Gòn học bổ túc Anh ngữ ở Trường Sinh ngữ Quân đội. Đây là một dịp may hiếm có. Hắn nghĩ ở Sài Gòn chuyện học hành là chuyện phụ, chuyện chính là trực tiếp giúp Nguyên Minh làm tạp chí Ý Thức. Được làm báo là điều hắn mơ ước từ lâu.

Trước ngày hắn vô Sài Gòn, tạp chí Ý Thức in ở nhà in Đăng Quang, đối diện với rạp hát Long Vân, trên đường Phan Thanh Giản. Lúc bấy giờ nhà in Thanh Bình mà chủ nhân là chị Mai, chị đầu của Nguyên Minh, ở 666 Phan Thanh Giản xây chưa xong. Cũng xin nói thêm rằng lúc hắn còn ở Phan Rang, hắn trọ ở nhà Nguyên Minh và gia đình coi hắn như một thành viên.

Lúc hắn vào Sài Gòn để học bổ túc Anh ngữ thì nhà in Thanh Bình đã thành lập và hắn được chị Mai coi như em, phụ giúp Nguyên Minh quản lý nhà in. Từ thời điểm này, tạp chí Ý Thức in tại “nhà in nhà”.

Mỗi tuần hắn học sáu buổi chiều, từ 13 giờ đến 18 giờ. Giờ đầu là vào phòng lab nghe băng. Với hắn, giờ này là giờ ngủ ngon nhất, con ma ngủ đến lúc nào không hề hay biết! Mỗi lớp chỉ có hai chục học viên, nên thầy giáo người Mỹ dễ kiểm soát. Mỗi lần bắt gặp ai úp mặt xuống bàn ngủ thì thầy đến lay nhẹ một cách lịch sự.  Hắn học bao nhiêu thì trả cho thầy ngay tại lớp bấy nhiêu, về nhà hắn không hề động đến sách vở của trường, chỉ dồn thời gian vào việc làm báo. Có đôi lần hắn suýt trễ học, nếu không gặp được “quới nhơn” là ông thiếu tá đồng môn nhưng khác lớp cho đi nhờ Cub 69, những lần khác từ nhà đến trường mất 45 phút xe lam, còn taxi thì phải chờ đỏ mắt mới đón được, một phần vì giữa trưa giờ ngọ. 

Ở tòa soạn tạp chí Ý Thức trước đó có nhà thơ TNS phụ tá cho Nguyên Minh một giai đoạn ngắn, rồi TNS bỏ việc đột ngột, hắn thế chỗ của TNS. Hắn cùng NM làm tất cả mọi khâu công việc từ “bếp núc” cho tới khi hình thành một số báo rồi chở đi gởi chành để phát hành về các tỉnh bằng chiếc Suzuki cà tàng của Nguyên Minh mang từ Phan Rang vô.  Chiếc xe này, một lần hắn chạy công việc về gần tới tòa soạn thì bị cảnh sát “vịn”, hỏi bảng số xe. Nhìn xuống, bảng số rớt mất từ bao giờ! Bèn để lại xe về hỏi Nguyên Minh, Nguyên Minh cho biết hôm trước chở báo đi phát hành, gặp ổ gà rớt mất, lỡ trớn chạy luôn, không thèm quay xe lại lượm. Thôi, bỏ “nó” đi! Nghe Nguyên Minh phán một câu dứt khoát – tính anh ta là vậy, bèn nhẹ lòng.

Gần nhà in Thanh Bình có một con đường ngắn, rẽ qua thì gặp đường Trần Quốc Toản. Buổi tối, khi rảnh rỗi, hắn và Nguyên Minh tới một quán quen nằm trên đường này “làm vài ve” Con Cọp và đổi giấy lau chén đũa – cắt từ rẻo giấy in báo – để lấy một dĩa đầu vịt nhâm nhi. Sáng chủ nhựt thì đón taxi ra phố Lê Lợi, uống cà-phê ở Brodard hay La Pagode, thỉnh thoảng kéo ghế ở nhà hàng Thanh Bạch, rồi đi lên đi xuống đi qua đi lại, (may mà không có em), tha hồ “nghía” nam thanh nữ tú dạo phố, rồi tạt vô dãy kiốt sách cũ san sát nhau bán đủ loại sách Ta–Tây-Tàu để mua một hai quyển mình thích. Cả Sài Gòn, chiều thứ Bảy và trọn ngày Chủ nhựt, chỉ có phố Lê Lợi là nơi phồn hoa đô hội. Tân binh ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, sinh viên sĩ quan Trường Bộ binh Thủ Đức, rồi những người lính từ mặt trận nghỉ phép về, những khách vãng lai, hòa cùng dân Sài Gòn tạo cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – một bức tranh hoàn hảo tiêu biểu cho một Sài Gòn năng động, nhộn nhịp mặc dầu trong thời chiến.

Giai đoạn làm tạp chí Ý Thức cũng lắm kỷ niệm không thể nào quên…

Nhà thơ-nhà giáo Hạc Thành Hoa dạy học ở Sa Đéc, thấp người lại ốm tong teo, cứ cách sáu tháng lại lên Sài Gòn tái khám định kỳ để được đổi giấy miễn dịch (miễn đi lính). Mỗi lần như vậy, anh nghỉ lại tòa soạn ba bốn bữa, nhịn ăn hoàn toàn, chỉ uống nước cầm hơi, với mục đích để giảm cân theo tiêu chuẩn miễn dịch ấn định!

Năm 1970, nhà văn Trần Hoài Thư từ chiến trường Buôn Ma Thuộc bất ngờ xuất hiện tại tòa soạn vào một sáng đẹp trời, tuyên bố hùng hồn rằng được đơn vị cho nghỉ phép về Sài Gòn cưới vợ! Bạn bè hết sức ngạc nhiên. Mới cách đó không lâu, anh về Cần Thơ để gặp người yêu, lên lại Sài Gòn gặp bạn bè với vẻ mặt buồn thỉu buồn thiu dưới cặp kính cận nặng. Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra cho “cuộc tình văn chương” của anh rồi nên không hỏi tới. Đùng một cái, về lần này anh tuyên bố cưới vợ, và người vợ tương lai của anh không ai khác ngoài người mê văn Trần Hoài Thư ở Cần Thơ. Anh nhờ bạn bè Ý Thức tổ chức đám cưới cho anh. Nguyên Minh bèn nhờ chị Mai, chủ nhân nhà in Thanh Bình, làm đại diện họ nhà trai. Đến ngày cưới, họ nhà trai gồm chị Mai, chị Minh Quân (nhà văn), Đỗ Nghê (tức bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – nhà thơ), Nguyên Minh và hắn… xuất phát từ nhà in Thanh Bình và cũng là tòa soạn Ý Thức đến một khách sạn gần đó đón cô dâu cùng thân nhân nhà gái từ Cần Thơ lên, rồi họ nhà trai và nhà gái cùng đến một nhà hàng dự tiệc thân mật để hai họ làm quen. Giống như nhiều đám cưới thời chiến…

Trước khi hắn nhận visa du học ngắn hạn ở Mỹ, Linh mục Nguyễn Ngọc Lan – tục gọi Cha Lan – một cây bút chủ lực của tạp chí Đối Diện giới thiệu cho hắn gặp nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, nổi tiếng với ca khúc Trường làng tôiMùa thu không trở lại.

Thời gian này (12-1971) Phạm Trọng Cầu đang “bí mật” thành lập ban tứ ca gồm các ca sĩ Mai Hương, Kim Tước, Bùi Thiện và Đoàn Chính. Đúng hẹn, hắn cùng cô sinh viên ngành báo chí đang thực tập tại tòa soạn Ý Thức đến tư gia của NS Phạm Trọng Cầu cũng nằm trên đường Phan Thanh Giản. Phạm Trọng Cầu tự xưng mình là “Người Việt gốc Voi” vì vóc dáng to cao, tuy bị mất một chân trong thời kỳ chống Pháp, nhưng trông rất “nghệ sĩ” nhờ hàm râu quai nón. Anh rất hiếu khách, dễ gần, nói với người nhà pha cà-phê mời chúng tôi. Rồi Bùi Thiện đến, người kế tiếp là Đoàn Chính. Tất cả chúng tôi ngồi bên chiếc bàn tròn mà anh gọi đùa chúng mình đang tham dự hội nghị bàn tròn. Anh mở băng nhựa cho chúng tôi nghe bản demo của bốn danh ca trình diễn và hàn huyên tâm sự. Anh cho biết chưa hài lòng về bản demo này, phải thực hiện lại. Đến hơn 10 giờ đêm, khi nghe tiếng chuông reo ngoài cổng, anh vội chống gậy ra mở như đã hẹn trước với ai đó. Chúng tôi cũng chào từ giã và theo anh ra cổng. Thì ra, anh sinh viên khiếm thị ở Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn đến chào từ biệt thầy để mai lên đường sang Pháp du học tại Nhạc viện Paris, nơi mà thầy mình đã từng học.

Trên đường về, hắn mang theo dư âm giọng hát ngọt ngào sang trọng của ca sĩ Kim Tước: Em nghe chăng mùa thu, mùa thu không trở lại…
SG, Thu 2015
LKT

*Nguồn: Văn Chương Việt

BÓNG EM HOANG TÍM DẠI SẦU

Huỳnh Liễu Ngạn

Thiếu nữ bên sông. Tranh Đinh Cường

em như chim sãi cành đông
ngõ sau vườn trước mặn nồng về đâu
trăng lên thì gió bạc màu
bóng em hoang tím dại sầu vương mang
em như ải ngạn hương ngàn
em như đầu ngọn sóng tràn vu vơ
sông sâu về mẹ dại khờ
bóng trăng chẻ sợi tóc hờ hững vai
em còn bóng nước sương mai
ngõ hồn anh lẻ một vài mây bay
để cho em được tròn đầy
đầu sông ngọn suối bờ cây trổ cành
chần chừ thả tóc vai anh
cho mây tụ dưới mong manh sắc trời
qua đêm trường mộng rã rời
lẻ loi anh kể chuyện đời xưa sau
em về góp hết thương đau
cho anh thấy lại ngàn lau bọt bờ.
23/2/2020

HUỲNH LIỄU NGẠN