Wednesday, November 26, 2014

NHỚ MỐT ÔNG TƯỚNG TÔI NGƯỠNG MỘ



Đinh Cường


Chân dung tướng Ngô Quang Trưởng. Đinh Cường vẽ


Qua đồi cát La Vang. Sơn dầu Đinh Cuong 


Tôi nhớ căn nhà
đi xuống mấy bậc cấp
phía sau
những khung cửa kính lớn
xuống mấy bậc cấp nữa
ra tới vùng  hồ rộng
có chiếc thuyền neo

nhớ trưa năm nào
người bạn mời đi thuyền chơi
tôi đứng cạnh ông tướng
ông tướng sao hiền vậy
uống cùng tôi ly rượu mạnh
ông phà thêm vài hơi thuốc

ông tướng một thời
ngoài vùng tôi ở
một thời khét tiếng đạn bom
cổ thành Quảng Trị
Huế mùa xuân Mậu Thân …

sao nay ông không nói lời gì
về chiến tranh
nhắc lại thời binh lửa
ông đứng nhìn mặt hồ tư lự

ông có giữ bức tranh sơn dầu tôi vẽ
qua đồi cát La Vang
với thiếu nữ và chiếc khăn
màu cát đỏ .bờm ngựa hồng
nay treo nơi vách lò suởi
nhà anh chị Nguyễn Tường Giang  

đêm nay cùng Nguyễn Tường Giang
và Nguyễn Tường Thiết
đi ăn cơm tối với nhau về
sao trên đường đêm
tôi nhớ ông tướng
tro rải trên đèo Hải Vân
ông tướng tôi luôn  ngưỡng mộ
và khâm phục. một con người nhân ái  .

Virginia, November 23, 2014
Đinh Cường

TẢN MẠN. CÀ PHÊ MỘT MÌNH. CÀ PHÊ TƯỞNG TƯỢNG



Nguyễn Xuân Thiệp


 

Café Tùng Đà Lạt


 Starbucks Coffee

Từ ngày Nguyễn tôi bước lẻ loi liêu xiêu giữa đời thì rất sợ ngồi quán cà phê một mình. Sau đây chỉ là đôi đoạn hồi ức như chút dư hương để sống lại một thời của thơ và tâm thức cô đơn.

   … Sáng nay, gặp lúc trời garland mù sương (hiện tượng hiếm thấy), và hình như có những giọt mưa rơi trên lá và tóc, bèn mặc quần dày, khoác áo ấm, quấn foulard quanh cổ, lên xe lái ra Starbucks ở chỗ ngã tư Shiloh-Arapahoh. Như ngày nào…
    Vâng. Như ngày nào… Mình ngồi trong quán với ly cappuccino. Bên ngoài trời vẫn mù sương. Mù sương… Mù sương linh hồn… Thơ từ đâu vậy cà, thơ ai hay thơ mình? Ngồi suy tưởng vẩn vơ, bèn tự hỏi trong đời hình như cũng đã nhiều lần mình ngồi quán, cà phê một mình. Huế rồi Sài Gòn, Đà Lạt, Pleiku… Huế của thời mới lớn, đôi khi có ngồi ở Lạc Sơn  nhìn thiên hạ, “nghễ” các cô đi qua dưới hàng phượng già. Sài Gòn thì ngồi ở Quán Chùa và cà phê Hân đường Đinh Tiên Hoàng, Dakao. Đôi khi ngồi ở Nữ Hoàng, yên tĩnh hơn. Nhắc tới những quán cà phê này thì Nguyễn Đình Toàn, Đinh Cường, Du Tử Lê nhớ hơn ai cả. Ở Đà Lạt thì có Tùng. Sáng, chiều và đêm khuya. Ở đó có tranh Đinh Cường và Vị Ý. Còn Pleiku? Bạn nào còn nhớ hội quán Phượng Hoàng và cà phê Dinh Điền? Kim Tuấn thì đã không còn. Diên Nghị, Tô Mặc Giang và Hoàng Khởi Phong lẽ nào quên được một thời lính tráng ở xứ “Pleiku gió lạnh mưa mùa”.
    A, Đà Lạt của mình và hiền nội, của Lê Uyên Phương, Đinh Cường… À quên, của Phạm Công Thiện nữa chứ -người đã viết Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn rất lãng mạn và thơ mộng –dù khung cảnh là Paris chứ không phải Đà Lạt nữa. Này, mình đọc lên và các bạn cùng nghe nhé.
   Hắn thổi những cơn mưa phùn qua khung cửa kính hiệu buôn thuốc lá và cà phê. Chỉ có đất Pháp này mới có những quán thuốc lá chuyên bán đủ loại thuốc hút, đồng thời bán phụ thêm cà phê và rượu đỏ: cà phê đen, rượu đỏ và thuốc bao xanh là ba dấu hiệu của đất Pháp: không có ba thứ này, nhất định nước Pháp sẽ không còn những cơn mưa phùn tháng tư. Hắn ngồi bên cạnh khung cửa kính, quán thuốc lá chỉ mang tên vỏn vẹn là tabac café express; quán thuốc nằm đối diện nghĩa địa. Chung quanh đều im lặng, thỉnh thoảng vài tiếng ho, tiếng cửa đẩy vào, tiếng gió rít vào từ những ngày quá khứ. Bây giờ là tháng tư? Thời gian là những tháng tư còn lại. Không, tháng mười rồi. Mưa bụi và lạnh, những cơn mưa phùn tháng mười ở ngoại ô Paris.
   Người ta nói, Phạm Công Thiện là nhà tùy bút xuất sắc. Đoạn văn vừa trích dẫn đã cho ta cảm nhận phần nào nét đặc sắc của túy bút Phạm Công Thiện. Bây giờ, mình muốn bạn hình dung quán cà phê Starbucks nơi mình ngồi nhé: Chung quanh là cửa kính, như quán Tabac Café Express nơi Phạm Công Thiện ngồi, nhưng có điều khác là ở đây không bán và không ai hút thuốc lá và cũng không có vang đỏ. Cho nên nếu còn trẻ chắc mình mê Tabac Café Express hơn. Nó lại còn đối diện nghĩa địa nữa, cho nên không khí của quán này phải nói là có sức hấp dẫn những tâm hồn cô đơn. Và Phạm Công Thiện ngồi uống cà phê một mình. Tất nhiên là vậy.
 

   Một thời ngồi quán cà phê tưởng đã khép lại với hình bóng quê nhà. Vậy mà sang Mỹ nơi đời sống như chuyến tàu tốc hành lao tới, mình vẫn kiếm ra nơi và thời giờ để ngồi cà phê một mình. La Madeleine, Café du Monde, Starbucks… Thường là ở Starbucks. Orange County, Virginia, Atlanta, Dallas, Houston… Nơi nào cũng có. Làm sao có thể quên được cà  phê Phố Cổ ở DC ngày nào. Nhiều năm trôi qua, trí óc mình vẫn còn mường tượng thấy sáng hôm nào mưa phùn bay bay trên phố. Đây, xin gởi đến các bạn chút hương cà phê trong Barnes & Noble ở Phố Cổ:
   Như thuở nào... Anh ngồi ở Barnes & Noble nhìn ra ngoài trời. Mưa phùn vẫn bay trên phố. Trong quán, những người đọc sách vẫn cặm cụi, cúi đầu trên trang sách. Và các nhân vật từ thơ, từ truyện và kịch cũng đang có mặt. Lại thấy Lara với chiếc áo ca-rô màu sặc sỡ, đầu trùm vuông khăn lụa, giống hệt như trong Doctor Zhivago. Và Jenny vẫn bé bỏng như sáng nào có nắng vàng dạo bước qua công viên, rồi gặp chàng họa sĩ trong A Portrait of Jenny. Giờ đây, có thêm Hoàng Tử Bé -Le Petit Prince- đang đứng xoay xoay quả địa cầu, nói: "Một lần nọ, tôi có đến thăm trái đất này và trồng ở đó một cây hoa hồng..." Và ai kia, có phải hóa thân của nữ lang từ thuở bạo Tần trong kinh kịch đang bước tới, đặt túi xách lên bàn, rồi kéo ghế ngồi đối diện. Hôm nay, nàng mặc chiếc áo dạ màu xanh đen có đọng những hạt mưa bay. Mắt mở lớn một bầu trời đêm đầy sao. Nữ lang mở lời: "Chắc chàng chưa quên. Thời trẻ ở thành phố ấy...Mưa phùn và cà phê trong quán, những bức tranh trên tường. Nhớ lời hẹn lúc chia tay, thiếp từ trong sách vở bước ra gặp chàng ở đây..." Và như thuở nào, nàng bưng ly cà phê lên uống, mắt nhìn trìu mến. Rồi kể chuyện gươm bay trong lửa đỏ, những câu hát qua đồi mây, mang lời dụ ngôn của gạch đá ngàn năm. Ly cà phê sắp cạn, thiếu phụ đứng lên, cầm lấy túi xách: "Sáng hôm nay mưa bay, như mưa viễn phố, thiếp xin từ biệt. Từ nay, bèo giạt mây trôi, duyên tri ngộ, biết đến bao giờ..." Rồi cũng như năm nào, nàng quay lưng, ra tới cửa nhìn lại, mắt mờ hơi mưa, và khuất dần. Mưa phùn vẫn bay trên phố. Chung quanh, trong quán sách, mọi người vẫn chăm chỉ đọc, ngồi yên như tượng. Nhìn lên, anh không thấy Lara đâu nữa. Jenny và Hoàng Tử Bé cũng không còn. Nhớ lại nhân vật nữ lang vừa chia tay, anh như còn thấy hiện lên trước mắt những giọt nước mưa trên vai áo và chút bọt cà phê còn vương trên khóe miệng ai. Mưa phùn vẫn bay trên Phố Cổ…"
 
Chiều ở Harvard Square. Tranh Đinh Cường

    Và đây, cà phê một mình ở Harvard Square, Boston.
theo chim. tôi đến đây. gặp boston
gặp bến cảng mù sương. ánh đèn. soi góc hè gạch xám
ôi. lou giờ đã xa. trăng gầy đỉnh whispering pine. hồn du thủ
và ly cà phê. trong trí tưởng. uống ở harvard square. với cái bóng của mình. và hoàng thị ngày xưa
không còn thấy. phố tàu. los angeles
mưa sương. mưa sương. cầu longfellow
   Trên đây là một đoạn thơ trong bài Chào Boston. Chào Bạn Bè viết cách đây đã nhiều  năm. Ỏ bài này, uống cà phê ở Harvatd Square chỉ là cà phê tưởng tượng. Thật vậy, ở một bài khác viết sau đó, Nguyễn cũng đã có nói: “Trở lại Boston lần này, người viết nhất định phải ngồi uống cà phê (mà cà phê một mình thôi đấy nhé) ở quảng trường Harvard Square (chứ không uống trong tưởng tượng như lần rồi), để nhìn lại những mùa thu đã đi qua trong đời mình. Và rồi sẽ đứng trên cầu Longfellow với nắng mùa thu mà đọc thơ của Apollinare: Sous le pont Mirabeau, coule la Seine / Et nos amours, faut-il qu’il en souvienne / la joie venait toujours après la peine… Dưới cầu Mirabeau / sông Seine chảy / và tình ta / liệu anh còn nên nhớ / niềm vui luôn đến sau nỗi buồn… Thế đấy, chưa chi mà dòng sông Charles của Boston đã biến thành dòng sông Seine của Paris và mình biến thành Apollinare để nhớ về Lou.

   Bên ngoài trời vẫn mờ sương

NXT.

Tuesday, November 25, 2014

NHỮNG ĐỐM NẮNG



Đinh Cường


 Những đốm nắng. Sơn dầu Đinh Cường

Mùa này những đốm nắng rất quý
và khi gió im ra cào lá ngoài sân
ngày cuối tuần toàn nghe tiếng máy
thổi lá tung hay cắt cỏ đều đều

một ngày sáng có Thành Tôn gọi
người bạn chân tình hiếm có làm sao
chiều có Phùng Nguyễn gọi mời
trưa mai gặp. lâu cũng nhớ anh em

loanh quanh vậy mà hết năm rồi bạn
và lại đi vào những tháng mùa đông
ôi mùa đông không biết sao mà nói
khi tuyết nhiều khi bão tuyết thổi qua

những đốm nắng nên chi là óng ánh
trên áo trên khăn những thiếu nữ kia
có một nụ hồng từ đâu rơi xuống
giữa trời xanh như mùa thu sắp qua …

Virginia, November 22, 2014
Đinh Cường

THẦY GIÁO VỠ LÒNG CỦA TÔI



viết ngắn Khuất Đẩu



Bình trà Basho. Tranh Casey Shannon

Cho đến giờ tôi cũng chẳng biết thầy tên gì, chỉ nghe trong làng gọi là ông giáo Ba. Ở quê, người ta thường tránh gọi nhau bằng tên thật, chỉ gọi theo thứ hay tên của đứa con đầu.
Sau lễ cúng khai tâm mà tôi được ăn nguyên một cái đầu gà cho sáng óc ra, tôi được cha đặt ngồi trên vai, cõng tới trường. Lúc ấy tôi năm tuổi. Khi ngang qua bụi tre trước nhà, mẹ tôi dặn theo: coi chừng đụng đầu thằng nhỏ.
Mẹ không dẫn tôi đi, vì mẹ đang cho em bé bú và sợ rằng để đàn bà dẫn đi thì cái học của tôi không được tấn tới lắm. Vậy nên không có cảnh “mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Cũng không có cảnh “lá rơi từng chiếc một trên đôi vai những pho tượng trắng” trong vườn Luxembourg.
Nhưng dẫu sao tôi cũng được ngồi trên vai của cha mình để từ trên cao nhìn xuống thấy cái gì cũng lạ. Thấy mình bỗng dưng cao hơn cha một cái đầu. Thấy những đứa bé khác bị người lớn kéo đi lệch bệch, theo sau còn có người cầm roi!
Khi gặp thầy, cha tôi để tôi xuống đất, một tay vẫn đặt trên đầu tôi, một tay vỗ vai thầy, bảo: dạy giùm thằng nhỏ. Thầy nhìn xuống, ngửa cằm tôi ra, nói, trông nó sáng đấy. Rồi thầy bảo anh trưởng tràng, hơn tôi đến mười tuổi, đưa tôi vào ngồi đầu một cái bàn dài như nắp hòm.
Sau này tôi biết, thầy từng là bạn học của cha tôi. Nhà thầy ở cuối làng, ngày hai buổi thầy đi dạy bằng ngựa. Con ngựa của thầy màu trắng, đẹp và mập hơn những con ngựa kéo xe. Nó được tắm rửa và chải chuốt cẩn thận, nên khi thầy ngồi lên với quần tây và áo sơ mi trắng, trông thầy thật phong nhã. Khi đọc Kiều, nhờ vậy mà tôi hiểu được cảnh “lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng” của chàng Kim. Và sau lưng thầy không chỉ “một vài thằng con con” mà cả lớp, chạy theo mỗi khi tan trường.
Mặc dù thầy vẫn thường ngăn cấm nhưng cái thú được chạy sau đuôi ngựa không đứa nào chịu bỏ. Cũng như thích chạy theo sau những chiếc xe ô tô, hiếm hoi lắm mới ngang qua làng, mặc dù chỉ để hít bụi và khói xăng.
Tôi không nhớ rõ thầy đã dạy cho tôi những gì ở năm học đầu tiên. Dường như thầy chỉ phóng vào vở mỗi ngày vài chữ, dạy đọc ê a, rồi tập kẻ hàng trên lá chuối cho quen tay trước khi cầm bút có ngòi lá tre chấm vào hũ mực tím. Đứa nào cũng khổ sở vì cái hũ mực ấy, vì nhét bằng cùi bắp nên mực đổ ra nhòe nhoẹt cả trên áo, trên vở.
Chẳng đứa nào mà không ít nhất một lần bị thầy cầm thước khẽ tay hay nhéo tai đau điếng. Những lỗi nặng hơn như phá phách, đánh lộn và nhất là trốn học, bị thầy bắt nằm dài trên bàn, phơi mông ra cho thầy quất năm roi. Cũng có khi thầy bắt quì trên xơ mít vì không thuộc bài!
Đó là những hình phạt dành cho những anh lớp tư, những anh mà chỉ vài năm sau đã lớn phồng được cha mẹ dẫn đi hỏi vợ. Đám cưới nào thầy cũng được mời ngồi trịnh trọng ở phản giữa và được cả hai họ nhà trai nhà gái cung kính vái chào.
Cái oai của thầy khiến ông cha bà mẹ nào cũng bảo: “thầy cứ đánh giùm tôi, thằng này nó hư lắm!”, mỗi khi thầy có việc đến nhà. Còn học trò thì khỏi nói, chỉ mới nghe tiếng lục lạc ngựa leng keng của thầy là đã đứng nép bên đường, run rẩy cúi đầu chào. Ngay cả khi lấy vợ sinh con mà thấy thầy từ xa cũng phải đứng vòng tay lại như lúc còn đi học.
Nhà thầy đủ ăn đủ mặc, dạy lấy tiếng chứ không phải để lãnh lương. Cho nên, Tết là dịp để học trò đền ơn thầy. Cũng chẳng có chi nhiều, chỉ gói trà, bịch thuôc, sang thì một tấm lịch. Đi Tết cho thầy, gọi là đi mừng tuổi, đứa nào cũng sợ run, cứ thò thụt ngoài cửa ngõ, phải đợi thầy gọi đôi ba lượt mới dám vào.
Thầy ân cần đem bánh mứt ra mời nhưng chẳng đứa nào dám động đến. Thầy khen đứa này có áo mới, đứa khác có quần đẹp, dặn năm mới phải ngoan ngoãn vâng lời ông bà cha mẹ. Rồi khi nghe thầy nói:” cho thầy gửi lời cảm ơn, thôi các trò đi chơi Tết!”, là chỉ mới ra khỏi ngõ đã ù té chạy.
Chả bù với ngày Nhà Giáo bây giờ. Thầy cô chẳng những đã được lãnh lương, được thưởng mà còn được phụ huynh tặng quà cáp nhiều hơn mức bình thường. Thời bao cấp thì bột ngọt, gạo, đường, sữa. Thời hiện đại hóa thì son phấn vải lụa đắt tiền, điện thoại di động hay iphone cả chục triệu. Vậy nên cuối năm lớp nào cũng đạt học sinh giỏi, gần như trăm phần trăm. Học trò đến nhà thầy không còn khép nép run sợ nữa mà cười nói tự nhiên, có đứa bảo nóng quá sao không mở quạt máy, thầy!
Thầy thì chỉ đậu Pờrime thôi, nhưng em trai thầy năm đó đã là ông Tú một. Khi toàn quốc kháng chiến, trường collège Qui Nhơn bị phá sập, thầy cất trường tại nhà cho ông em dạy học. Ông ấy được dượng tôi, dù đã có vợ sinh con vẫn theo học, gọi là thầy giáo Cảnh. Ông thầy này còn oai hơn thầy tôi vì dạy đến cả những người đậu Pờrime để thi lấy bằng Thành Chung. Ông luôn đeo kính trắng, ngồi chấm bài hay đọc sách bên bàn, trông rất trí thức.
Nhưng chỉ một năm thì trường đóng cửa vì học sinh, nếu không đi bộ đội cũng phải tham gia công tác diệt giặc dốt, tức là đi dạy bình dân học vụ. Thầy cũng nghỉ dạy luôn vì bọn trẻ đều được vào học ở trường cơ bản, từ lớp một cho đến lớp năm. Rồi nghe đâu em thầy bị bệnh lao, thầy phải đưa em ra vùng bị tạm chiếm. Anh em chia tay nhau ở một bến sông nào đó ngoài Hội An, rồi tuyệt tin luôn, chẳng biết còn sống hay đã chết.
Năm tôi học lớp Đồng ấu của thầy, cha tôi bị bệnh thương hàn, mất. Mẹ tôi để em ở nhà, bồng tôi theo sau quan tài, khóc tấm tức. Thầy có đến tiễn đưa, bảo anh ấy mất sớm quá, chị ráng nuôi cháu học.
Từ đó tôi không còn gặp thầy nữa. Tôi cũng không biết thầy làm gì sau khi không dạy học. Chỉ biết, sau khi anh em ông Diệm bị bắn chết thì thầy cũng bị bắn trên bến sông sau nhà. Không phải quân đảo chánh mà là Việt cộng. Bản án nổi dật dờ trên sông ghi là tay sai của Mỹ. Sau 75, người bắn thầy làm trưởng ban quân quản thôn. Chính ông ấy kể ra cái công lớn đó trong lý lịch của mình. Té ra hai người ở sát cạnh nhà nhau, là anh em nhà chú nhà bác, cùng một ông nội và bà nội.
Điều ân hận của tôi là không biết mộ thầy ở đâu để thắp cho thầy một nén nhang. Thôi thì con viết những dòng này, gửi lên cái mạng ảo, biết đâu trong cõi hư vô Thầy đọc được. Nay con bảy mươi lăm tuổi, vẫn nhớ đến Thầy.
Khuất Đẩu
(Nguồn: T.Vấn & Bạn hữu)