Monday, January 22, 2018

CÂU CHUYỆN VỀ FRANTZ


Tố Nghi   

 
Poster phim Frantz

Frantz là hỗn hợp Pháp-Đức do Ozon đạo diễn. Đây là vở kịch của kịch tác gia pháp Maurice Rostard viết năm 1930, sau được chuyển ngữ và trình diễn tại Anh 1931. Một năm sau, 1932, được dựng thành phim Broken Lullaby ở Mỹ. Tại các đại hội liên hoan phim ảnh âu châu 2016-2017, Frantz bợ về ba giải, trong đó có giải hình ảnh nghệ thuật cinematographique xuất sắc. Phim lấy bối cảnh sau thế giới chiến tranh thứ nhứt, 1914-1918, giữa đế quốc Phổ và đồng minh. Phổ thất trận, phải ký hàng loạt những hiệp định nhục nhã, dẫn đến việc giải thể đế quốc và thành hình nước Đức, để rồi 25 năm sau đó, trong nỗ lực hồi phục danh dự, Hitler đã đưa Đức và toàn thế giới đi vào cuộc đại chiến thứ nhì khốc liệt nhiều lần hơn.
Hồ tiên sanh đã tóm gọn đầy đủ về Frantz như sau : "Phim hay, sâu sắc, nói về sự tác hại lây lan của chiến tranh. Chứa trong đó lòng tin yêu, hối hận, sự toan tính bội phản, vị tha, tin tới tình yêu sẽ xoá được hận thù. Muốn tìm thấy an lành buộc lòng bạn phải dối gạt. Dối gạt bản thân và lừa dối những người thương yêu. Cô gái trẻ đẹp đi thú tội, người ngồi trong buồng tối nói vọng ra, giọng già yếu: Cha hiểu lòng con, chỉ duy một cách ấy thôi và cha tin rằng Chúa sẽ vực con đứng lên, giúp con bước đi trên những xấu xa của lọc lừa không thể lựa chọn"  
Chuyện phim xoay quanh mặc cảm phạm tội, mặc cảm này rầm rộ khua gõ làm tên tội đồ bấn xúc xích, xà quây với tội lỗi rối nùi không cách chi tháo gỡ cho ra, ngay khi nó đã thành tâm sám hối và được tha thứ. Trong đoạn đường xin ân sủng cứu chuộc ấy, lắm khi nó còn bị hoàn cảnh níu kéo dẫn tới dối trá, không để lọc lừa nhưng để hòa giải những tranh chấp thương tổn nội tâm, và sau cùng quân bình đời sống các nạn nhơn trong cuôc. Xi-cô phi-lô gọi lời nói dối này là white lie - không rõ ngoài màu trắng, lies còn những màu sắc khác hay không?
Trắng vốn là màu tinh tuyền, màu của tâm hồn trong sạch, ngay cả khi nó đang chuẩn bị nói dối. Màu trắng không bao giờ tượng trưng cho thể xác dzáo chọi. Nên dzồi... y hình tất cả các cô dâu đều bận áo màu trắng trong ngày vu qui, cho dù chúng đã kết hôn ít nhứt một (… vài) bận. Màu trắng của trinh tiết là chuyện xưa rồi, tới nỗi lúc tái hợp với Kim Trọng, sau khi gió dập mưa vùi tá lả, văn hào Nguyễn Du nhứt định cho Thúy Kiều la làng phân trần với tình quân "chữ trinh còn một chút này" - nghĩa là… trinh bể mẻ tùm lum vài trăm bận trong 20 chục năm đoạn trường ấy, nhưng chàng ơi, mấy mảnh vụn rớt ra từ cái tách thiếp vẫn cât giữ, chờ chàng mang keo tới gắn cho lành, hổng phải để rót cà phê uống chung heng, nhưng… mang tình cầm sắt đổi sang cầm kỳ… ta đem tách cất vào tủ làm đồ cổ ngoạn chưng chơi ! (huhu…)
Trong Frantz có một người duy nhứt white lie. Là đờn bà nên máu Anna đã có sẵn gene white lie tiềm ẩn. Anna thoạt tiên chỉ hành nghề tài tử, sau thành chuyên nghiệp, tới nỗi cuối phim, trong ý hướng củng cố đức tin, ta còn thấy nàng cố gắng kiếm đứa tội đồ đang vác thập giá khổ nạn, để tiếp tục white lie rốt ráo với nó mần màn đồng công cứu chuộc. Anna có xao xuyến vì Adrien hay không ? Tui tin là không. Trong mê lộ, qua Adrien, Anna (và cha mẹ Frantz) gập lại hôn phu Frantz. Xi-cô phi lộ gọi vụ này là transfert nghĩa là thấy ảnh ngỡ người, rồi hướng lòng vào tấm ảnh thiệt sự không là người ấy. Đây chỉ là giấc mơ, người nằm mơ rồi sẽ thức giấc và tỉnh lại. Rối rắm trở thành dĩ vãng phải nên quên để còn tiếp tục hướng tới tương lai.
Chủ đề chiến tranh và những hệ lụy của chiến tranh thấy hà rằm trong văn học nghệ thuật. Nếu chỉ dòm vào câu chuyện thì có lẽ phim sẽ vậy vậy, không có chi đậc biệt. Frantz thành công về nghệ thuật, được giới phê bình điện ảnh đánh giá cao, nhưng thất bại về kinh doanh. Chi phí cuốn phim là 11.1 triệu, nhưng thu vào vỏn vẹn 6.3 triệu - trong đó tại Mỹ, tính tới june 2017, phim chỉ khiêm tốn mang về hơn 880 ngàn đô, một con số chẳng thấm vào đâu, ngay cả so với những phim rẻ tiền của Hồ ly vọng - Vậy rồi Frantz hay ở chỗ nào ? Thưa ở cái thi tánh bàng bạc suốt từ đầu tới cuối cuốn phim, tuy trong phim ta hổng nghe có thơ, trừ 4 câu thơ nổi tiếng của Verlaine do Anna đọc biểu diễn giúp vui Adrien trong lần đi ngoạn cảnh. Với một phim giựt giải cinematographique thì hẳn là thi tánh phải nằm trong màu sắc hình ảnh góc quay. Tuy phim được thu hình và hoàn tất năm 2016, nhưng đạo diễn đã có ý dùng nền trắng đen - và trong vài đoạn, để tạo cảm tánh, màu đã được phun vào theo sắc độ khác biệt, cốt để chỉ ra nỗi vui và cả nỗi hoang mang sầu thảm của tâm hồn –
Hổng biết sao mà xưa rày tui vẫn thích ngó những tấm ảnh trắng đen nghệ thuật, nhứt là ảnh chơn dung. Ảnh màu dĩ nhiên đập vào mắt thoat khi mới nhìn vào, màu sắc vạch rõ ranh giới chi tiết của tấm ảnh, đâu ra đó không thể lẫn lộn đặng. Và như thế... vô tình ảnh màu giới hạn tầm nhìn, óc tưởng tượng và từ đó thu hẹp cảm quan khách thưởng ngoạn - chưa kể là màu sắc trong ảnh thường khi gây tác dụng ngược do giữ lại quá nhiều những chi tiết phụ, lắm khi tới rườm rà hỗn độn - ảnh multicolor (mà mỗi màu lại còn có sắc độ đậm lạt) thường làm người xem chia trí tới  rối loạn ấm ớ hoang mang. Ảnh màu là loại hình thiếu chiều sâu, cảm nhận về nó là loại cảm nhận "tự do trong khuôn khổ", ta không thể nghĩ khác nghĩ ra ngoài cái khuôn ảnh đã vẽ ra. Trong khi ấy thì ảnh trắng đen chỉ có hai màu - đúng ra là ba, với màu xám nằm giữa - do không có "khuôn" nên không thể nhốt cảm nhận của người xem ảnh. Khách thưởng ngoạn ngó vào và tha hồ cho trí tưởng tượng phiêu bồng. Chuyện tha hồ này, cách nào đó, đã tạo thi tánh cho tấm ảnh… chăng ?
Kỹ thuật điện ảnh là dùng xảo thuật để ghép những tấm hình vào với nhau theo trật tự "thăng tiến", nhanh lẹ tới nỗi mắt con người nhận hổng ra, cứ yên trí hình nở đang chuyển động. Hình trắng đen là cảm nhận rời, và phim trắng đen là cảm nhận liền lạc liên tục. Thành ra rồi, nếu hình trắng đen là chữ của câu thơ, thì phim trắng đen hẳn phải là bài thơ toàn vẹn. Dà, tui chỉ biết cắt nghĩa tới đó thôi heng bị chữ nghĩa tui vốn thiếu thốn. Vậy rồi... tất cả những phim trắng đen đều đầy thi tánh chăng ? Làm gì có vậy bao giờ. Phim thời cổ lỗ sĩ do kỹ thuật còn thô sơ, hình ảnh, đào kép, cốt truyện, đối thoại ấm ớ. Chưa kể nhạc phim không có, còn bằng như có cũng hổng đâu vào đâu. Mở phim lên 5-3 phút đã muốn ngủ gục, còn bằng không muốn kêu lính bắt. Những thước phim ni mang tánh lịch sử và thiếu tánh nghệ thuật. Những phim trắng đen sau này, thời 50-60, thậm chí 70, thi tánh vẫn thiếu thốn thì cắt nghĩa làm sao ? Thưa tui hổng biết, có lẽ vì đạo diễn chưa nhìn ra rốt ráo để mang thi tánh vào ống kinh góc quay chăng ? Hay tại chuyện phim bối cảnh phim không đủ thơ đủ mộng để thi tánh trồi lên trình diện ?
Phim Gloomy Sunday so với Frantz thiệt sự không bằng. Khung cảnh chánh trị kinh tế tâm lý xã hội tương đương do cả hai đều xảy ra thời chiên tranh, xê xích nhau 25 năm có lẽ. Góc quay của Gloomy Sunday rất đẹp, nhưng tình tiết của Gloomy Sunday đậm xác thịt tầm thưòng, thành theo tui, thi tánh tuy có đó nhưng không được mùa sung mãn như Frantz. Có những phim tình tiết nghe đẫm chất thơ nhưng thi tánh chẳng những thiếu mà còn vắng ngắt, như phim Somewhere In Time kìa - trừ bài thơ viết bằng nốt nhạc của John Barry đã giới thiệu - Vậy rồi thiệt sự thi tánh một cuốn phim là chi ? Thưa là cảm nhận của người xem phim qua lăng kính góc nhìn và cách trình bày hình ảnh sự việc tình tiết cuốn phim của ngài đạo diễn.
Tán lung tung để kết luận rằng : Hồn thơ lai láng không chưa đủ mà còn phải có tài thì mới ra thơ. Thơ là cảm nhận, nên trình độ thưởng thức thơ thay đổi theo tần số cảm nhận thơ của người đọc thơ. Sau khi trình làng, thơ trở thành tài sản của người yêu thơ và cần thơ, xa hơn nữa, là tài sản nghệ thuật chung của thế giới. Thi sĩ làm thơ bằng ngôn ngữ, hoạ sĩ bằng nét cọ, nhạc sĩ bằng giai điệu, và đạo diễn điện ảnh bằng phim. Frantz là một bài thơ dài 2 tiếng  có tám đoạn biến tấu ngắn, trong đó màu được phun vào theo sắc độ khác biệt, thay đổi với nội tâm nhơn vật. Hai khúc có màu đậm và rõ là lúc Anna và Adrien dung dăng ngoạn cảnh tắm sông, và nhứt là cảnh cuối phim, khi Anna vào Louvre, ngồi trước tranh Manet, rồi nói chuyện vẩn vơ với một khách xem tranh khác. Đoạn phim này rực rỡ, màu son tươi còn tươi thêm với nụ cười của nàng. Người coi phim chùa trong nét (tui heng) hoan hỉ với một kết thúc có hâu, yên tâm tắt còm piu tưa xong trùm mền ngủ thẳng cẳng. Sáng sau, đứa kia hỏi vậy chớ phim hay ở chỗ nào, đứa nọ trả lời ở chỗ thi tánh chứa chan. Ủa có thơ trong trỏng à ? Dà.. đầy ra đó, nhưng nàng thơ chỉ đưa tay nắm giúp dzui những người yêu nàng thôi, còn đứa đực ra như con cù lần thì nàng làm lơ hổng thèm đếm xỉa, ui ya !
Sau đây là bonu tặng riệng người đã giới thiệu một cuốn phim hay. Hồ tiên sanh. Gần cuối phim Frantz có một giai điệu đẹp như thơ của Tchaikosky, trích từ chương 2 andante catabile, viết cho đờn giây. Chương này nổi tiếng tới nỗi được các danh cầm đờn giây dùng làm Encore trong những buổi hoà nhạc, để cám ơn giới thưởng ngoạn đã ưu ái tiếng đờn. Tấu khúc mướt rượt thi tánh, chỉ ra cái hồn thơ lai láng của dân tộc Nga mà Tchaikosky là người đại diện cuối thời lãng mạn. Trong youtube có version của Borodin Quartet (y hình chơi trong phim thì phải), nhưng tui chọn  Restrelli Quartet do hình ảnh âm thanh optimal. Restrelli với 4 cây cello, so với Borodin không nổi tiếng bằng vì sanh sau đẻ muộn. Version này so với Borodin có tempo lẹ hơn chút đỉnh thành bớt lê thê, dễ nghe. .
T NGHI

THƠ TRƯỚC 1965. I


Đinh Cường

Tranh Đinh Cường

cho sơn

mai đi hồ dễ quên đời
mai đi hồ dễ quên người được sao
nửa đêm sực tỉnh mưa rào
còn đây một nửa truyện sầu chuyền tay

đồi vọng cảnh

thôi em ngày mộng chưa về
chiều trên rừng núi lạnh tê mộ phần
con sông chừng cũng lưng dòng
thuyền trôi chậm mái chập chùng sóng xô
người ngồi giữa bãi cỏ khô
bầy chim về muộn cũng vừa bóng đêm
thôỉ em ngày mộng đã chìm
chiều trên rừng núi một mình lạnh tê

mùa đông

1.
Khi người nữ ca sĩ mang bó hoa lys trắng trở về đi ven dòng sông có người đàn ông đứng đợi người đàn ông không làm thơ dù cỏ hoa tình tự chiếc cầu trắng mang linh hồn mùa đông cùng ngọn đèn tháp chợ có loài chim thể-anh về đi ngủ (loài chim thể-anh lẩn trốn ở rừng thưa và ăn toàn loài hoa dại)

2.
Khi ngườí nữ ca sĩ ôm giá rét trở về đi ven dòng sông người đàn ông không còn đứng đợi người đàn ông hóa thân làm cột đèn từng đêm có người đến thắp lửa và người nữ ca sĩ bỏ chạy rất mau rất mau

3
Ngoài đảo hoang lời ca là tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá những cơn gió mặn trườn tới và cướp lấy còn lại chiếc sọ dừa nầy nước biển chiếc sọ dừa rất dễ thương
người nữ ca sĩ bưng mặt khóc người đàn ông không còn nữa cả loài chim thể-anh ở rừng thưa

4
Sau đó không còn tiếng hát.

ĐINH CƯỜNG
(Nguồn: Trần Hoài Thư. Thư Quán Bản Thảo)

Sunday, January 21, 2018

TRONG NHÀ CÁI CHI CŨNG CÓ


Nguyễn Quang Chơn

Thiền định. Tranh Lê Ký Thương
Nguồn: Giác Ngộ

Đúng vậy, nhà mình cái chi cũng có. Cái chi cũng xịn. Trong tủ bếp, tiêu thì là tiêu Tiên Phước, mắm thì là mắm Phú Quốc, mắm Ông già Gềnh Đỏ Phú Yên, tỏi thì là tỏi Lý Sơn, xì dầu thì là xì dầu Pháp...

Rượu để uống thì...bất tận. Rượu ngoại đủ thứ từ wishky, cognac, vang đỏ, vang trắng xách tay từ nước ngoài về còn nguyên túi nilon niêm phong. Rượu dầm thì có nhung hưu cắt trực tiếp từ Nghệ An, ngâm với vodka Nga. Rượu sâm tươi Hàn quốc, sâm Ngọc Linh Quảng Nam, rượu ba kích Quảng Ninh ông bạn đại gia thuỷ sản gởi nguyên vò ngâm hạ thổ hơn một năm kèm ba kích tươi để tự ngâm, màu tím đẹp não lòng..., rượu nhàu ngâm từ trái nhàu tươi hái từ vườn ba mẹ trị mõi lưng, mùi ngai ngái...và đủ loại rễ, lá cây khác bạn bè gởi tặng, như mật nhân, tam thất,...

Trong tủ lạnh thì thực phẩm tươi, khô đủ loại. Thịt heo có thằng bạn mở trang trại sạch trên bán đảo Sơn Trà gởi xuống đều đều, thịt gà lấy từ đứa cháu nuôi thả vườn ở quê, khô cá Long An, Cà Mau, phô ma Pháp..., bạn bè mà đến nhậu chỉ cần mở tủ là có đầy đủ cho một bữa xôm trò!...

Vậy đó, ở nhà cái chi cũng có. Mà, có ăn ở nhà là bao. Hết khách khứa lại đến anh em công ty. Trưa và tối không restaurant thì cũng mấy quán nhậu. Không có ai thì theo thói quen với mấy ông bạn già nghỉ hưu, tỷ phú thời gian, ghé cái pub gần nhà. Trưa thì 3-4 ly bia, chiều thì 4-5 ly, một chút mồi nho nhỏ vừa đủ bụng. Về nhà cũng quơ đại chút ít cơm cho vợ khỏi nhằn, rồi...ngủ!...

Ừ nhỉ, nhắc đến vợ mới nhớ rằng vợ mình cũng còn xinh đẹp lắm. Thời trung học chẳng hoa khôi hoa hậu trong lớp là gì! Bây giờ vẫn còn giữ dáng mignone, còn tươi tắn, trẻ trung. Vậy mà mình đâu thèm ngắm. Cứ ưa ngồi quán nhậu, quán cà phê vỉa hè gần chợ, để ngắm mấy em Hàn quốc, mấy em Bắc kỳ đi qua đi lại, khoe nước da trắng ngần, vòng một vòng ba lồ lộ, váy cũn cỡn tung tăng...

Ừ, trong nhà mình cái chi cũng có, nhà bạn chắc cũng vậy phải không, mà sao con người ta bọn mình cứ không chịu tìm tòi trong nhà, cứ lang thang hàng quán, cứ bỏ tiền mời bạn bè ra tiệm nhậu, cứ tiêu phí thời gian ở nơi phố thị, hội hè, tại sao nhỉ, tại sao?!...

Chợt nhớ câu thơ của Phật hoàng Trần Nhân Tông. "Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch..." của quí trong nhà chất đầy, (chứ) đi tìm nơi mô cho mệt!

Mà mệt thiệt là mệt! Đúng là ngu!

NGUY ỄN QUANG CHƠN
18/01/18,

Kỷ niệm 7 tháng chết vội mấy phút, rồi sống lại với trần gian

TRANH THIỀN. LẠY TẠ


Lê Ký Thương


Thiền sư - họa sĩ Hakuin Ekaku (1686-1768), một trong ba trụ cột thiền Nhật Bản, một hôm đi khất thực đến trước một căn nhà, không nghe tiếng quát tháo xua đuổi từ bên trong vọng ra vì tâm ý đang ngập tràn chuyện sống chết của một kiếp người. Người chủ nhà là một bà lão, thấy sư cứ đứng lì một chỗ như bị trời trồng, bèn lấy cây chổi tre đánh vào đầu sư. Sư bất tỉnh. Khi tỉnh dậy thì tất cả các công án Thiền đã hành hạ tâm ý sư lâu nay bỗng bừng sáng. Sư vui mừng hét lên vì đã Ngộ. Nhiều năm sau Kakuin đã vẽ một cây chổi tre với phụ đề "Đây là cây chổi đã quét sạch những thứ giác ngộ rẻ tiền". Xúc cảm tận tâm can câu chuyện Thiền này, tôi đã vẽ bức Lạy tạ.
LKT
(Nguồn: Giác Ngộ)

EM CHÀO CÔ!


Khuất Đẩu

Trường Quốc Học ở Huế

      Đây là lời chào của một anh học trò đã 75 tuổi, đến với cô giáo đang ở tuổi xấp xỉ 80!
Anh học trò là một nhà văn vừa cầm bút mà cũng vừa cầm cọ. Anh thường vẽ cá với hai con mắt không bao giờ nhắm tượng trưng cho sự tỉnh thức, vẽ rắn cho sự tinh khôn và con nọc đượng trong bộ bài tới cho sự truyền giống. Tranh anh vẽ cả ngàn bức trên giấy lịch bằng mực in chỉ để treo chơi, tặng bạn bè và đôi lúc trin lãm.

     Cô giáo, xưa là một quận chúa, đẹp gần ngang tầm Nam Phương hoàng hậu. Nhưng cô tươi mới hơn, nồng ấm hơn và đương nhiên đề huề hạnh phúc hơn vì chồng cô là một đồng nghiệp cùng dạy một trường.
      Mới hơn 20 tuổi, cô đã là nữ giáo sư dạy triết ở trường Quốc Học, một trong ba trường lớn đào tạo nhân tài của cả nước. Cách đây hơn 50 năm, vậy là oai lắm, vẻ vang lắm!
      Dạy triết, rất dễ trở thành một bà cụ non. Nhưng cô thì không.
      Trong con mắt đồng nghiệp và của phụ huynh, cô uy nghiêm như một bậc mẫu nghi. Nhưng với đám học trò đang ở tuổi dậy thì, cô chính là người trong mộng.
      Bảo rằng cả trường yệu mến cô thì hơi quá, nhưng hơn ba phần tư trường thì quả không sai. Anh là một trong số ba phần tư ngày đó, nên nghe tiếng “em chào cô” mới ngọt dịu làm sao!
      Nhớ về cô ngày ấy, các anh vẫn không quên cái dáng đi dịu dàng, đài các. Cũng là tiếng gót giày hay tiếng guốc trên hành lang im vắng, nhưng của cô sao có vẻ như khác lạ. Nó vừa nhẹ vừa êm, âm thanh của nó nghe như tiếng đàn và lúc đó lòng các anh học trò tuổi 17, 18 bỗng dưng sáng rực lên như đang trải thảm.
      Rồi tà áo của cô nghiêng nghiêng trong gió chiều hây hẩy, chiếc khăn quàng cổ buổi sớm đầy sương, rồi nét cười như hoa nở, giọng  nói như chuông ngân, và nhất là mái tóc phương đông đà đuột, mái tóc của một Evelyne khiến nhà văn Kiệt Tấn hết điên và viết nên thiên truyện ngắn tuyệt hay, truyện Em điên xỏa tóc.
      Cô và trò gặp nhau chỉ một niên học. Năm đầu cô đi dạy với với tất cả rụt rè khi mới bước vào đời, năm cuối trò hết bậc trung học sắp bước vào đại học, tương lai rộng mở nhưng cũng rất mịt mờ vì lúc ấy đang là chiến tranh. Tính ra chưa đến 100 tiết. Vậy mà sao đến hơn 50 năm sau vẫn nhớ!
      Cô nhớ những anh học trò nghịch ngợm, đặt những câu hỏi hóc búa sao cho cô “bí”. Lớp học lúc đó biến thành một cuộc chiến thầm lặng giữa cô và trò, mà nhiều lần kẻ thua cuộc chính là cô. Nhưng khi cô thua tấm tức đến nỗi muốn khóc, chính là lúc cô được trò yêu mến nhất. Dĩ nhiên cô không quên những anh học trò thông minh, bày tỏ niềm yêu kính một cách kín đáo.
      Thế đấy, được học với một cô giáo vừa trẻ vừa đẹp chỉ hơn mình năm, ba tuổi, tuyệt làm sao. Tuyệt vì sau bao nhiêu năm, trò đến với cô như đến với một người bạn quý, cũng có thể gọi thầm là cố nhân với tất cả niềm hãnh diện.
    
     “Cô giáo triết của tôi đây!”
     Anh bạn tôi giới thiệu, giọng anh bay lên như chim.
Và cô cũng thật hãnh diện khi được dạy những học trò ngày xưa ấy nay đã là những bác sĩ, kỹ sư, những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, những kịch tác gia, đạo diễn. Cô ngồi với chúng tôi mà điện thoại không ngớt reo và lần nào cũng “em chào cô” vừa tôn kính vừa thiết tha.
     Và rồi, những lần sinh nhật, ngày Tết, gặp cô lúc nào cũng đẹp cũng sang. Ngay cả những năm tháng khó khăn, cô cũng đài các kiêu kỳ như một nữ hoàng.
     Cô là một hạnh phúc không phai màu. Càng hạnh phúc khi cô và trò đang bước vào tuổi tám mươi.
Cô vẫn trẻ trung, duyên dáng, lịch lãm cho dù sự khắc nghiệt của thời gian là không thể nào tránh khỏi. Được gặp cô thật là một hạnh phúc bất ngờ*. Cuộc hạnh ngộ mà cô gọi là duyên ấy, ấm áp xiết bao!
Xin cảm ơn cô!
Xin cảm ơn bạn!

KHUT ĐU
5/12/2017
*Tôi viết những dòng trên đây sau khi dùng cơm trưa với Thầy, Cô và bạn ở quán Maisen, một quán cơm trong nhà nguyện để dạy nghề cho các thanh niên nghèo.