Sunday, January 24, 2021

BÌNH MINH

Nguyên Yên
 
Go blue. Tranh Ann Phong
 
mở mắt thức dậy
thấy mình là ban mai của Amanda Gorman*
là sáng chủ nhật trời quang đãng
nắng ấm sau cơn mưa dầm
 
thức dậy từ bóng tối
thấy màu sắc mọc lên trên ngọn đồi**
chúng ta là hành tinh xanh
là trái đất trở mình sau cơn tắm gội
 
thức dậy vượt qua những hố sâu
ngước mắt nhận anh em, nhận bạn bè
chúng ta những đứa con của Mẹ***
không thể ngủ mê trong chia rẻ
 
thức dậy ngắm nhìn bầu trời
chúng ta đã băng ngang mùa đông dài
nụ hoa xuân trên cành vừa hé nở
có nghe thịt da tự do hít thở
 
thức dậy bạn bè tôi ơi, thức dậy
nhìn đàn én rủ nhau bay về phía mặt trời
lịch sử trở dậy chào ngày mới
thế giới nhân văn đang cựa mình
bằng cặp mắt mở,
chúng ta trở dậy
hớn hở như bầy trẻ thơ
tập ăn nói, tập cư xử tử tế
bằng nhịp tim bằng tấm lòng
 
chúng ta trở dậy
tập lắng nghe nhau, xóa mọi giận hờn
sửa soạn tâm hồn cho thông điệp sự thật ****
 
mở mắt thức dậy sau đêm mưa
thấy mình như ban mai trên ngọn đồi
bài thơ ngân vang trong lồng ngực
cái đẹp thức dậy
 
hồi sinh.
 
NGUYÊN YÊN
Sáng Chủ Nhật, 24 tháng Giêng 2021, California sau cơn mưa
 
*Amanda Gorman, nhà thơ trẻ 22 tuổi đọc thơ trong Lễ Đăng Quang Tổng Thống Joe Biden
ngày 20 tháng 1, 2020
** Thơ viết cảm tác từ ngọn đồi “The Hill We Climb” của Amanda Gorman.
*** “Những đứa con của Mẹ Da Vàng” – ca từ bài Ngủ Đi Con/Trịnh Công Sơn
**** Ngày 23/1/2021, Trong bản Thự Mục Vụ Bảo Vệ Sự Thật phổ biến ngày 23 tháng 1, 2021,
Ngày Truyền Thông Thế Giới, Đức Giáo Hoàng Francis đã lên tiếng: ”Tất cả chúng ta đều có
trách nhiệm về thông tin do mình làm ra, do mình chia sẻ, để kiểm soát (trách nhiệm) như thế
thì chúng ta có thể chỉ ra đâu là tin giả. Tất cả chúng ta đều là chứng nhân của sự thật: gởi đi,
đọc và chia sẻ”.
 

Saturday, January 23, 2021

NGỌN ĐỒI TA LEO. IAN BUI CHUYỂN DỊCH

Amanda Gorman đọc thơ
trong Lễ Đăng Quang TT Biden 

Khi ngày đến chúng ta tự hỏi, tìm đâu ánh sáng sau đằng đẵng đêm thâu? Mất mát nào ta đã cưu mang, biển sâu nào chúng ta phải lội. Từ bụng quái thú ta can trường bước tới cùng bài học: im lặng không đồng nghĩa với yên lành. Trong ý hệ cũng như trong ước lệ, công bằng chắc chi là công lý.

Nhưng trước khi ta kịp nhận ra thì bình minh của mình đã đến. Bằng cách nào đó ta đã làm được việc. Bằng cách nào đó ta đã vượt qua, và chứng kiến một cường quốc không đổ vỡ, chỉ đơn thuần nó còn dang dở. Chúng ta là hậu duệ một dân tộc vào thuở có đứa con gái da Đen gầy gò, tổ tiên là nô lệ, lớn nhờ mẹ đơn thân, dám mơ làm tổng thống tuy chỉ được mời đọc bài thơ.

Thưa vâng, dù chúng ta còn rất xa lịch lãm — và nguyên trinh thì chẳng dám lạm bàn, không có nghĩa chúng ta muốn dựng nên một đế chế vạn toàn. Ta chỉ muốn trui rèn một liên minh có chủ đích, trước tác một chính quyền biết tôn trọng mọi văn hoá, màu da, nhân cách và nhân phận.

Ta ngước dòm, không phải để xem điều gì đang xen vào giữa chúng ta, mà những gì đang lừng lững phía trước. Chúng ta san lấp chia rẽ vì biết rước tương lai đặt lên trên và dẹp bỏ dị biệt sang một bên. Ta đặt súng xuống để nối rộng vòng tay, vì nào muốn hãm hại một ai, chỉ muốn được hài hoà cùng tất cả. Để thế giới, nếu không còn gì nữa, phải công nhận đây sự thật hiển nhiên: bằng nước mắt ta khôn lớn; trong đau đớn ta hy vọng; dù mỏi nhọc ta cố gắng; gắn liền với nhau ta sẽ chiến thắng. Chẳng bởi ta bất khả thất trận, mà vì sẽ không chia rẽ gieo mầm.

Kinh thư dạy ta nên tưởng tượng cảnh mọi người dưỡng sức nghỉ ngơi dưới giàn nho và tán sung của họ, không ai sẽ khiến ai phải lo sợ. Thời đại này, nếu ta biết ăn ở đúng theo như nhiệm chức của mình, thanh gươm sẽ không mang lại quang vinh bằng những nhịp cầu tay ta xây dựng. Đó chính là lời nguyện thề của trảng. Ngọn đồi ta leo chẳng biết sợ chi bởi khi đã được làm con dân nước Mỹ, nào chỉ vì niềm kiêu hãnh kế thừa, mà còn vì do quá khứ đẩy đưa ta phải đào chuyện xưa lên sửa chữa. Chúng ta vừa chứng kiến một thế lực nữa muốn rẽ chia thay vì chịu sẻ chia nước non nhà, thà phá huỷ quốc gia hòng trì hoãn một tiến trình dân chủ. Suýt tí nữa bọn thú đã thành công.

Nhưng, dân chủ dù đôi khi đình trệ không bao giờ chịu vĩnh viễn thua ai. Chúng ta sẽ cậy trông vào sự thật, và niềm tin để nhìn suốt tương lai như ta sẽ được hài bằng lịch sử. Đã đến thời công tâm là cứu rỗi. Ta đã run khi nó mới khởi đầu. Ta đã không chuẩn bị để tiếp thu những giây phút kinh hoàng chưa từng thấy. Nhưng, từ trong khoảnh khắc sinh tử ấy ta đã tìm ra sức mạnh vô biên, một trang sử mới ta đã lập nên để trao nhau tiếng cười trong hy vọng.

Và nếu như ta có lần hỏi gặng: “Làm thế nào để chống lại tai ương?” Thì giờ đây ta khẳng quyết kiên cường: “Tai ương đánh bại ta làm sao nổi?”

Ta sẽ không quay trở về chốn cũ mà sẽ đi đến vùng đất của tương lai: một quốc gia bầm dập, vẹn hình hài; một đất nước hùng oai nhưng đức hạnh; một dân tộc tự do và dũng mãnh. Ta sẽ tránh không cho ai hăm doạ khiến ta phải quay mình, hoặc thoái lui, bởi vì nếu ta do dự, đắn đo thì thế hệ sau bao nghiệp duyên sẽ lãnh. Lỗi của ta sẽ là nợ chúng gánh. Nhưng có điều: nếu tích tụ từ bi cùng sức mạnh và lẽ phải ta đi, thì di sản đời sau chúng hưởng sẽ là tình yêu hoán chuyển quyền bẩm sinh. 

Hãy để lại một đất nước đẹp xinh hơn những gì tiền nhân ta để lại. Trên bầu ngực thếp đồng ta thường vỗ, hãy dưỡng nuôi một thế giới tổn thương để sản sanh những thế hệ của tình thương. … Ta sẽ trỗi dậy từ núi đồi vàng óng viễn Tây, từ vùng gió lộng miền Đông Bắc, nơi cha ông từng cách mạng khởi hành. Ta sẽ trỗi dậy từ những thị thành Trung Tây vây quanh đại hồ, từ miền Nam hiền hoà nung nắng. Ta sẽ về xây lại, hoà hợp lại, đi tìm lại trong mọi ngõ ngách, mọi góc khuất của mảnh đất gọi là quê hương những con người đa dạng và đẹp đẽ sẽ hiện nguyên hình đầy vết thương nhưng đẹp đẽ.

Khi ngày đến, từ bóng tối bước ra, ta hực lửa và không hề khiếp sợ. Một bình minh mới nở ra nhờ ta trả tự do cho nó, vì ánh sáng vẫn luôn luôn còn đó. Nếu ta đủ can đảm để nhìn nó. Nếu ta đủ dũng cảm để là nó.

IANBUI dịch
 (1.20.21)

The Hill We Climb
 
When day comes we ask ourselves, where can we find light in this never-ending shade? The loss we carry, a sea we must wade. We’ve braved the belly of the beast.  We’ve learned that quiet isn’t always peace. In the norms and notions of what just is isn’t always justice.
 
And yet, the dawn is ours before we knew it. Somehow, we do it. Somehow, we’ve weathered and witnessed a nation that isn’t broken but simply unfinished. We, the successors of a country and a time where a skinny Black girl descended from slaves and raised by a single mother can dream of becoming president only to find herself reciting for one.
 
And yes, we are far from polished, far from pristine, but that doesn’t mean we are striving to form a union that is perfect. We are striving to forge a union with purpose, to compose a country committed to all cultures, colors, characters and conditions of man.
 
And so, we lift our gazes not to what stands between us, but what stands before us. We close the divide because we know to put our future first, we must first put our differences aside. We lay down our arms so we can reach out our arms to one another, we seek harm to none and harmony for all. Let the globe, if nothing else, say this is true: That even as we grieved, we grew; that even as we hurt, we hoped; that even as we tired, we tried; that we’ll forever be tied together victorious. Not because we will never again know defeat, but because we will never again sow division.
 
Scripture tells us to envision that everyone shall sit under their own vine and fig tree and no one should make them afraid. If we’re to live up to our own time, then victory won’t lie in the blade, but in in all of the bridges we’ve made. That is the promise to glade, the hill we climb if only we dare it. Because being American is more than a pride we inherit; it’s the past we step into and how we repair it. We’ve seen a force that would shatter our nation rather than share it, that would destroy our country if it meant delaying democracy. And this effort very nearly succeeded.
 
But while democracy can periodically be delayed, it can never be permanently defeated. In this truth, in this faith we trust, for while we have our eyes on the future, history has its eyes on us. This is the era of just redemption. We feared in its inception. We did not feel prepared to be the heirs of such a terrifying hour, but within it, we found the power to author a new chapter, to offer hope and laughter to ourselves.
 
So while once we asked: “How can we possibly prevail over catastrophe?” Now we assert: “How could catastrophe possibly prevail over us?”
We will not march back to what was but move to what shall be: a country that is bruised, but whole; benevolent, but bold; fierce and free. We will not be turned around or interrupted by intimidation, because we know our inaction and inertia will be the inheritance of the next generation. Our blunders become their burden. But one thing is certain: if we merge mercy with might and might with right, then love becomes our legacy and change our children’s birthright.
 
So let us leave behind a country better than the one we were left. With every breath from my bronze, pounded chest, we will raise this wounded world into a wondrous one. We will rise from the golden hills of the West. We will rise from the windswept Northeast where our forefathers first realized revolution. We will rise from the lake-rimmed cities of the Midwestern states. We will rise from the sunbaked South. We will rebuild, reconcile, and recover in every known nook of our nation, in every corner called our country, our people diverse and beautiful will emerge battered and beautiful. When day comes we step out of the shade aflame and unafraid.
 
The new dawn blooms as we free it. For there is always light. If only we’re brave enough to see it. If only we’re brave enough to be it.
 
AMANDA GORMAN

Friday, January 22, 2021

SÀI THÀNH, TỨ ĐẠI DANH CA

Khuất Đẩu

Ca sĩ Lệ Thu
 
Nghe tin nữ danh ca Lệ Thu qua đời, tôi bỗng nhớ hai câu thơ trong bài Long thành cầm giả ca của đại thi hào Nguyễn Du.
“Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhất nhân tại”!
(Tây Sơn cơ ngiệp tan rồi/ chỉ còn sót lại một người cầm ca!).
Chỉ trong vòng 20 năm, cơ nghiệp của Tây Sơn, tuy chưa hiển hách như của Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, nhưng cũng có thể nói là rất oai hùng với chiến thắng long trời lở đất quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút và quân Thanh ở gò Đống Đa. Một triều đại với các danh tướng như Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân và các nhà mưu lược như Nguyễn Thiệp, Ngô Thì Nhậm…thế mà chỉ sau cái chết của vua Quang Trung, tất cả đã sụp đổ tan tành trước một đội quân của Nguyễn Ánh suốt bao năm chỉ lo trốn chạy từ Côn Lôn đến Phú Quốc và cầu viện hết quân Xiêm đến quân Pháp.
Có khác gì một nửa nước được hình thành sau hiệp định Giơ neo, gọi là Việt Nam cọng hòa, với một triệu quân đầy đủ các binh chủng, thêm nửa triệu quân Mỹ và đồng minh, vậy mà chỉ hơn một tháng quân miền Bắc “xanh xao vì thiếu đói” đã chiếm trọn miền Nam, đúng là “nhất đán tận tiêu vong”!
Thi hào Nguyễn Du đã rất chua xót khi nhận định cái cơ nghiệp lẫy lừng của Tây Sơn, sau 20 năm chỉ còn lại một người Cầm ca vừa già, vừa xấu và rách rưới.
Miền Nam cũng vậy thôi, hơn 20 năm với bao nhiêu cuộc đảo chánh, chỉnh lý, hết phế truất đến bầu cử ứng cử, với một tổng thống bị bắn chết trên đường ra trình diện, một tổng thống bỏ nước cứu lấy nhà, một phó tổng thống già lên thay thế được 7 ngày và cuối cùng một cựu đại tướng được cử làm tổng thống vỏn vẹn có 3 ngày chỉ đủ để đầu hàng! Ngần ấy con người, ngần ấy sự kiện để rồi còn lại một ông hoàng nhạc bolero sáng vất vưởng nơi đầu đường, tối ngủ cạnh nhà xí công cọng, sau cùng nằm chết cong queo “chết thật hiền từ” bên đôi dép rách!
Lệ Thu, Thái Thanh, Khánh Ly, Thanh Thúy… bốn đại danh ca, cũng có thể là bốn đại mỹ nhân, nếu không “tìm đường trốn nước”, thì chắc gì không như cô kỳ nữ dưới thời Tây Sơn kia. Sách báo in trước 75 bị kết án là đồi trụy, phản động, nhạc bị mỉa mai, khinh bỉ là vàng vọt bệnh hoạn, bị cấm đoán, bị tịch thu. Ba thanh niên miền Bắc chỉ vì hát trộm nhạc của Đoàn Chuẩn mà bị kết tội hơn 30 năm tù, thì cỡ bốn đại mỹ nhân kia nếu buồn tình nhót nhép chắc cũng sẽ lĩnh hơn 40 năm tù, chưa kể hàng chục năm quản thúc.
Họ phải “đi” thôi, không phải tìm “giấc mơ Mỹ” mà tìm đất sống, nhất là tìm đến những xứ sở mà người ta không cấm mình ca hát.
Rất may, tuy cuống rốn của đất mẹ đã bị cắt lìa, nhưng họ lại tìm được trên xứ người hàng triệu người mất nước nhưng chưa mất tiếng nói, hãy còn yêu tiếng Việt và càng yêu hơn qua tiếng hát của không chỉ bốn đại danh ca mà còn của hàng trăm ca sĩ trẻ hơn đẹp hơn xếp sau lưng họ.
Bốn đại danh ca ấy là bốn ngọn núi sừng sững trong làng âm nhạc Việt Nam.
 
Ca sĩ Thái Thanh
 
Thái Thanh với tiếng hát được nhà văn Mai Thảo xưng tụng là “vượt thời gian”, trước và sau cô, chưa có ai đưa tiếng hát lên tận mây trời, chưa ai luyến láy réo rắt cực kỳ điêu luyện như cô. Nghe cô hát, nhất là nghe bài Tình Ca của Phạm Duy “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”, quả thật nơi xứ người, ai nghe mà không cảm thấy lòng mình rưng rưng muốn khóc, và chợt nhận ra rằng sao cái “tiếng nước tôi” nó ngọt ngào thiết tha đến như vậy. Tôi rất không ưa hai tiếng “tự hào” được các nhà đài sử dụng bậy bạ đến sáo mòn, còn hơn tự hào, tôi thấy vô vàn biết ơn tổ tiên tôi đã gìn giữ, lưu truyền một thứ tiếng đúng như các nhà truyền giáo Tây phương đã kinh ngạc khi muốn dùng mẫu tự latinh để phiên âm, một tiếng nói ngân nga nghe như chim hót. Rồi bà mẹ quê vất vả trăm chiều nuôi một đàn con chắt chiu… Cảnh làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói, có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còm tả tơi…hay những con đê dài ngây ngất…Dĩ nhiên, là câu chữ của Phạm Duy, tuy không phải là nhà văn hay nhà thơ nhưng ông là người sử dụng tiếng Việt tinh tế nhất, đúng chỗ nhất, nhất là khi đặt nó vào giữa trái tim của mọi người. Nhưng làm cho nó trở nên sống động thiết tha, trở nên xao xuyến bồi hồi là do tiếng hát của Thái Thanh, một tiếng hát chẳng những “vượt thời gian” mà còn có mãnh lực hết sức siêu phàm.
Bỡi vì, giọng hát của cô không chỉ đưa hồn người nghe lên tận thiên đường hạnh phúc mà còn đưa họ xuống tận địa ngục, tận đáy sâu của khổ đau qua Nghìn trùng xa cách của Phạm Duy hay Nửa hồn thương đau của Phạm Đình Chương.
Nhưng, với Dòng sông xanh, ta lại nghe ra một giọng hát thật nhí nhảnh, trẻ trung vẽ nên hình ảnh vui tràn trề của những cô gái tóc vàng sợi nhỏ đang đùa giỡn trên làn sóng xanh sông Danube.
Cũng có người bảo rằng, cô là người của ban nhạc thời danh Thăng Long, được các ông anh nâng niu uốn nắn từ bé nên giọng hát của cô có thể nói là hết sức điêu luyện, từ phát âm đến nhấn nhá, luyến láy, đạt đến độ nhuần nhị cứ như từ trong máu huyết tuôn ra. Đến mức không ai đạt tới ngay cả con gái yêu của cô là Ý Lan. Theo tôi, cũng như nhiều người miền Bắc, cô chịu ảnh hưởng chẳng những từ núi Tản sông Hồng mà còn từ những làn điệu quan họ, từ tiếng đàn nhịp phách và luyến láy của ca trù, tập luyện rất công phu, nghe và hiểu được đã là khó nói gì đến hát, mà lại hát thật hay nữa thì quả thực không dễ.
Có thể nói, giọng hát của Thái Thanh rất giàu màu sắc, giàu nhân ái, đương nhiên cũng rất giàu tình cảm, một giọng hát không phải vượt, mà song hành cùng với thời gian để đi đến nơi cùng tận.
Có một giọng hát, không thể gọi là đối lập nhưng gần như hoàn toàn khác hẳn, ấy là của Lệ Thu. Tuy cùng là người miền Bắc, nghe đâu cũng có học piano và học trường tây nên ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng nhạc tây phương, dù hát rất hay, nhưng trước khi được mời mọc, nài ép để đứng trên bục hát, cô chưa bao giờ mơ rằng mình sẽ thành ca sĩ. Cái duyên ngẫu nhĩ trùng phùng từ một lần hát mừng sinh nhật cô  bạn ở nhà hàng Bồng Lai với bài Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn đã lọt vào đôi tai Chung Tử Kỳ của ông chủ nhà hàng tinh đời. Bùi tai, trốn mẹ đi hát ở nhà hàng, rồi nghỉ học để hát ở phòng trà, vào studio để thu đĩa, thu băng…tự nhiên và dễ dàng giống như chiều chủ nhật tung tăng đi bát phố cùng các bạn rồi mỏi chân tạt vào quán ăn kem vậy.
Tôi chưa có được cái may mắn nghe cô hát ở nhà hàng hay phòng trà, những nơi mà anh học trò kiết xác như tôi chỉ dám đứng nhìn (trộm) từ xa. Nhưng lần đầu tiên nghe cô hát bài Ngậm ngùi qua sóng radio, tôi bàng hoàng nhận ra, lục bát của Huy Cận sao mới lạ và ngọt ngào đến như vậy. Đọc câu thơ “nắng chia nửa bãi, chiều rồi”, tôi thấy cái chữ chia có vẻ thô mộc vụng về, chỉ đến khi nghe tiếng “chia” cô hát  mới thấy nó vừa ngộ nghĩnh vừa sinh động. Rõ ràng, tiếng “chia” qua môi miệng cô khiến cho cái lằn mép giữa tối và sáng bỗng như đang nhảy múa. Đến câu cuối, tay anh em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi, thì dịu ngọt quá, dễ thương quá, trái sầu nào đó chắc không phải sầu riêng, mượt như nhung cùng với tiếng hát ấm như vừa được hâm nóng rơi xuống, thì trái tim đàn ông nào mà không rộng mở đón mời.
Một lần khác qua đài VOA, bài Con Thuyền Viễn Xứ, nghe mấy tiếng sóng Đà giang, đường về cố lũy, cố lũy xa xôi, sao thấy nó gần gũi cứ như là tên sông, tên đường của chính thôn làng mình vậy.
Rồi những bài như Tôi đưa em sang sông, Mười năm tình cũ…có cách chia, có xót xa, có đau đớn nhưng rõ ràng là không vàng một cách bệnh hoạn mà là vàng của “vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông”. Có buồn đấy, nhưng không “rầu”, buồn một cách khỏe mạnh, cũng là nhờ trong giọng hát của cô lúc nào cũng rạt rào suối nguồn của thương yêu.
Nhưng, tuyệt vời nhất với tôi, chính là lúc nghe cô hát Mùa thu chết, những âm “chết” cứ nối tiếp nhau bay vút lên như pháo bông, buồn và đẹp làm sao! Thế nhưng, gần như bên thắng cuộc suốt ngày gầm gừ, chửi bới bởi vì động đến ngày 19 tháng 8, ngày cướp chính quyền, suốt bao năm được họ đóng khung mạ vàng là cách mạng mùa thu. Họ chột dạ tưởng rằng Phạm Duy và Lệ Thu đang nguyền rủa cho cách mạng mau chết!
Người ta bảo định mệnh hay duyên kiếp đã trói buộc cô với hai tiếng “lệ thu”, đến nỗi Phạm Duy đã lấy cảm hứng từ tên cô mà sáng tác bài Nước mắt mùa thu rất nổi tiếng. Nhưng cô lại hiểu chữ “lệ” là đẹp, như hoa lệ, mỹ lệ, và cô hát một cách tỉnh táo không để chuyện riêng của mình làm buồn lòng người nghe. Tôi cũng nghĩ như vậy. Cái đẹp của giọng hát cô, đúng là nét đẹp của mùa thu, của trời rất xanh, của nắng rất vàng, của gió rất nhẹ và của mây rất trắng, mây xứ Đoài của Quang Dũng khi nhớ tới đôi mắt người Sơn Tây.
Một điều hay và đẹp nữa, là mỗi chữ nhả ra từ môi miệng cô đều rất tròn, rất chuẩn và rất rõ, không như nhiều người khác cố làm ra vẻ trọ trẹ hay lơ lớ, dù cô ít nhiều chịu ảnh hưởng các ông tây bà đầm ở trường học. Cô hát thật lòng, không bao giờ hát theo kiểu trả bài, hát cho lấy có. Cô là một nghệ sĩ rất mực nghiêm chỉnh.
Cô bảo, một nhà khoa học đã từng bỏ công ra nghiên cứu và tính được rằng, nếu một ca sĩ hát với tất cả tình yêu, tất cả năng lực, nghĩa là dốc hết cả tâm hồn mình vào bài hát thì cũng tốn sức như đã lao động đến 6 giờ bằng chân tay. Thế mà có lần cô hát đến 10 bài để đáp lại lòng đợi mong của hàng ngàn Việt kiều ở Âu châu.
Như vậy, tuy cô hát có vẻ dễ dàng, không tập luyện gì nhiều, nhưng không thể bảo đó là giọng hát của trời cho, có phúc cứ việc hưởng. Vì tự trọng, vì yêu quý khán giả, cô vẫn miệt mài tập luyện từ trong ý thức và ngay cả trong vô thức.
Cho đến khi cô phải nhập viện vì con virus Vũ Hán, cô vẫn đi hát thiện nguyện, cô còn đùa cho đến khi phải chống gậy, vẫn lên sân khấu để hát.
Giờ, cô đã đi theo đàn chị Thái Thanh, xác thân sẽ hòa cùng cát bụi, nhưng nói như cụ Nguyễn Du, rằng “thác là thể phách còn là tinh anh”. Cái còn lại chính là tiếng hát của hai người, tiếng hát đẹp rạng ngời của tiếng nói Việt Nam.
Một tiếng hát hiếm có nếu không muốn nói là rất độc đáo, tiếng hát buồn tê tái, như cất lên từ những thôn làng bị giặc đốt phá, từ những hành lang chật cứng người tị  nạn đói khát nằm chồng chất lên nhau, từ những con phố không đèn đêm nay thiếu ánh trăng... Có người còn bảo là tiếng hát liêu trai, tiếng hát lúc không giờ, nghĩa là có gì ma mị, rờn rợn cứ như tiếng hát cất lên từ mồ ai mới đắp!
 
Ca sĩ Thanh Thúy
 
Tôi muốn nói tới tiếng hát Thanh Thúy.
Vì gia cảnh, cô phải đi hát rất sớm để nuôi mẹ bệnh và nuôi em. Cô không được cái may mắn lọt vào tai Chung Tử Kỳ như Lệ Thu, cứ phải đứng thập thò ở bên ngoài phòng trà, mãi rồi mới được cho hát thử. Đến khi được bước lên bục hát cô vẫn mặc áo dài trắng học trò, có đính một băng tang nhỏ trên ngực. Nhưng không phải vì vậy mà giọng hát cô trở nên buồn lạnh, hoang liêu. Cái buồn lạ lùng ấy là buồn của trời cho, cũng có thể là cái buồn của cả thời đại thấm vào từng lời hát, cho nên khi xuất hiện nó khiến người nghe sững sờ, xúc động. Một người có trái tim dễ rung động như Trịnh Công Sơn, không thể không vì cô mà làm bài Ướt mi, hay nhà thơ Hoàng Trúc Ly đã phải thốt lên:
Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc tay vời âm thanh
Sợi buồn chảy xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan tành hư vô*
Đến cả những giáo sư đại học uyên bác như Nuyễn Văn Trung cũng phải viết về cô. Không phải là nắng mới, cũng không phải là làn gió lạ, lại càng không phải là cơn địa chấn, cô chỉ là một cô gái nghèo, nhưng khi xuất hiện trên bục hát, cô là cả nỗi đời quạnh hiu, là nỗi đau dài của những cuộc chia ly… Cô hát mà như độc thoại, đối diện với hư vô, đằng sau và đằng trước, bên trái và bên phải đều là quá khứ, một giọng hát không hướng về tương lai, bỏ quên hiện tại nhưng vẫn được mọi người ngay cả những người lính đang ngày đêm chiến đấu ngoài mặt trận ái mộ hết mình, thế nên mới gọi cô là một hiện tượng lạ của nền ca nhạc miền Nam.
Là người Huế chính gốc nên không ai hát hay hơn cô bài Đêm tàn bến Ngự và Tiếng xưa của Dương Thiệu Tước. Nghe hai bài hát này, ta vừa thấy được nét vàng son vương giả của cố đô, nhưng cũng lại thấm đẫm những cơn mưa ướt lạnh sụt sùi, mưa chi mưa mãi mưa mãi mưa hoài của xứ Huế mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn.
Nghe giọng hát cô, nhìn dáng dấp của cô, lại biết cô hát ở phòng trà, vũ trường nhiều người lầm tưởng cô chỉ sống về đêm như một vũ nữ thân gầy. Nhưng tất cả đều lầm. Cô có một đời sống rất đàng hoàng mẫu mực, là người con rất chí hiếu, người chị biết bảo bọc thương em. Cô lấy chồng khá sớm, một sĩ quan không quân, và mặc dù đi hát, kiếm được nhiều tiền, được nhiều giải thưởng, được nhiều người săn đuổi, nhưng cô vẫn chí thiết chung tình. Sau 75, cô dành tiền bạc và thì giờ cứu giúp những nghệ sĩ ở các trại tị nạn, những thương bệnh binh và hiện nay là các công tác thiện nguyện.
Có một giọng hát thủa ban đầu rất bụi, hát trên bãi đất trống sau trường đại học văn khoa, người hát không son phấn, đi chân dất, nhạc sĩ sáng tác và đệm đàn (thùng), là một thanh niên bỏ dạy, trốn lính, chỉ hát chùa cho sinh viên nghe, cả hai đã bất ngờ được người nghe nâng lên ngang hàng với Phạm Duy, Lệ Thu, đó là cặp đôi hát mộc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.
 
Ca sĩ Khánh Ly
 
Với tôi, Khánh Ly hát hay nhất ở những ca khúc da vàng của nhạc Trịnh. Người ta bảo đây là những ca khúc phản chiến, nhưng theo tôi, đó là những bài hịch được hát thành lời, như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi…Hịch là những lời kêu gọi không để chiến đấu mà để yêu thương, kêu gọi những đứa con cùng cha, hãy xích lại gần nhau, hãy quên hận thù, nói chung là thức tỉnh tự tình của dân tộc trước chủ nghĩa đế quốc của tư bản và chủ nghĩa vô thần của cọng sản. Chính vì vậy mà chính quyền cả miền nam lẫn miền bắc đều không ưa những ca khúc này.
Khánh Ly hát chùa trong bao nhiêu năm, cùng chịu đói khát, bị rượt đuổi phải trốn chui trốn nhủi, nhưng vẫn gắn bó với Trịnh Công Sơn, là một cặp đôi hiếm có trong làng nhạc miền Nam. Khi Trịnh Công Sơn chuyển qua sáng tác những tình khúc với lời ca mới lạ, từ ngữ cách tân, tiếng hát Khánh Ly lập tức trở thành hiện tượng. Cái giọng khàn khàn bùi bụi, trầm đục đến nỗi có người bảo giống như tiếng mèo gào trong đêm khuya, rất nồng nàn gợi dục, là tiếng kêu của những người tình lạc nhau trong suốt cơn mê dài.
Dù sau 75, một cô gái trẻ nõn nường cặp với Trịnh Công Sơn, cùng hát cùng chơi với Trịnh, là Hồng Nhung, nhưng tài nghệ và tình cảm không thể nào sánh với Khánh Ly được.
Không chỉ bốn giọng hát tuyệt vời, mỗi người một giọng riêng biệt không lẫn vào ai, mà còn có cả hàng chục, hàng trăm những giọng khác, như thể trăm hoa cùng nhau đua nở dưới ánh nắng Sài Gòn rực rỡ và tự do. Đó là cái thắng của bên thua cuộc. Và thắng đậm khi hiện giờ sau bốn mươi năm hơn, ai muốn hát bài nào cứ việc hát, không cần phải xin phép!
Điều đó chứng tỏ một cách mạnh mẽ rằng, dù bị cấm đoán, bị cầm tù, bị đày đọa, cái Đẹp của Nghệ thuật vẫn không thể bị hủy diệt, cái Đẹp vẫn sống mãi để cứu rỗi cả thế giới, nói như Dostoievsky.
Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này, tôi muốn nói, chính các nghệ sĩ miền Nam chứ không phải tổng thống hay tướng lĩnh nào, lại càng không phải Mỹ, đã cứu hai mươi năm của Việt Nam cọng hòa khỏi bị chôn vùi dưới đám lá mục của lịch sử.
Thật đáng trân trọng!
 
KHUT ĐU
20/1/2021

Wednesday, January 20, 2021

MÀU TRĂNG BÊN CỒN

Huỳnh Liễu Ngạn
 
 
Cồn Hến. Sông Hương
 
rồi cũng vậy sẽ xuôi chèo mát mái
sẽ xuôi theo màu trăng rải bên cồn
đêm che lại chút tình không hoa bướm
cả hồn đêm chộn rộn cả môi hôn
 
ngoài bóng tối tôi còn gì để nói
tôi còn gì để gạn đục khơi trong
đời thức dậy mấy ngã lòng ngược lối
em có về cho kịp buổi tơ hong
 
tôi trở giấc nghe mùa lên vỡ vụn
của môi kia đã lắng xuống vai hờ
em mơ màng như trăng sao rụng vỡ
nở sáng bừng một khoảng ngực ngác ngơ
 
nở như thơ tôi nắm mơ mộng mãi
em trở màu da thịt sáng lung linh
tôi khát khao một tiếng cười vỡ dại
vỡ lên trời cho ướt mộng rung rinh
 
đời mấy lần đã làm tôi rướm máu
để cho em được nhan sắc gọi mời
em đừng nói đừng chờ và đừng đợi
thời gian trôi tôi mòn mỏi đứng ngồi
 
sao lại thế sao lại buồn đến thế
sao lại hờn trách móc cả trời xanh
em cứ giữ chút hương lòng đã nguội
cho tôi hoài ngắt ngoải giữa cao xanh.
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
5 tháng 6/2020

KHÔNG ĐIỂM. VÀ MƯA, SÓNG

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh Duy Thanh
 
k h ô n g  Đ i m

kinh koong gõ tiếng chuông tà
tịch mặc chiều lên kinh kệ
một mùa nhang khói đã xa
còn thơm trăng thuở bồng bế
 
mặt người sáng nuột khung xanh
tóc đã bay theo ngày gió
cầm tay yểu điệu nghiêng thành
nói một điều gì khôn tỏ
 
nét cắt ở point zéro
uốn éo đường cong tuyệt mỹ
viết một câu thơ điên rồ
cười. vẫn rất chi thần bí
 
có gì nơi tuyết khỏa thân
vẫn trắng đầy những năm lạ
ai bảo nhìn nhau thất thần
nhánh cây níu mùa. đuối. lả
 
hôn nồng ở tụ điểm. không
là đời có nhau tất cả
ngàn năm đá tảng vẫn chồng
một ngàn năm sau hạnh ngã


v à m Ư a, s ó n g

gác chân
tìm chút hương nồng
chao ơi lạnh quá
da đồng tượng
câm
tội tình chi
một chỗ nằm
mà chăn chiếu nỡ
trầm ngâm
miệng tình
xô đời
trụ
ngã chênh vênh
ngàn con sóng dữ
vô tình
bãi hoang
gợn buồn
xưa
cũng ngút ngàn
còn chi trăm nỗi
dịu dàng
suối
sông
đâu mùa tịnh
bão
long đong
cuối mưa
còn một chút lòng
hẩm hiu
 
HOÀNG XUÂN SƠN
tháng mười hai ngàn
(Văn Học , bộ mới)
 
 

Monday, January 18, 2021

GIỚI THIỆU ‘CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ’ CỦA VŨ ĐÌNH KH

 Văn Hc Press
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

 Trân trọng giới thiệu:
 
CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ
Tập truyện
VŨ ĐÌNH Kh
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021
 
Tựa: Đoàn Nhã Văn
Tranh bìa: Đinh Trường Chinh
Thiết kế bìa: Lê Giang Trần
356 trang, ấn phí: US$20.00

 
Tìm mua trên BARNES & NOBLE
Keyword: co nhung dem trang vo
Hoặc bấm vào đường dẫn sau:
 
TỰA. Đoàn Nhã Văn
 
Khi bị bứng ra khỏi quê hương, người ta thường hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Là nhà văn, khi phải viết bên ngoài xứ sở, không khí trong tác phẩm của họ thường ẩn hiện một vùng đất, một thổ ngơi, hay in đậm nét một nhân vật của địa phương đã ám ảnh họ suốt một thời mới lớn. Vũ Đình Kh cũng không ra ngoài thông lệ đó.
 
Vũ Đình Kh đã viết về quê hương thu nhỏ của mình với một giọng văn nhẹ nhàng và đượm ngọt. Cái ngọt của những đợt trái đầu mùa nơi quê hương ông: Thành. Địa danh chỉ có một chữ duy nhất, nhưng nếu ai đã đi dọc đất nước đều nhớ, đó là ngã ba Thành. Hướng bắc chạy ra Ninh Hòa. Hướng Nam về vùng Cam Ranh, Phan Rang, và hướng đông về thành phố biển Nha Trang. Cũng tại nơi đây, trước kia đã xảy ra những trận đánh long trời lở đất, dai dẳng giằng co, giữa binh lính hai bên: Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh. Cửa Thành Đông, Tây, bây giờ chỉ còn lại những rêu phong, mà ngay cả người dân sinh ra và lớn lên ở đây cũng hiếm khi chú ý đến một vùng đất mang đầy những dấu tích lịch sử cùng bước chân của những người đi trước giữa một thời chinh chiến điêu linh. Không xa Thành là bao, nơi con sông Cái, nhà cách mạng Trần Quý Cáp đã ngã xuống, đem máu mình nuôi dưỡng những niềm tin trong một thời loạn lạc. Rộng thêm một chút, đó là cả vùng đất Diên Khánh mà Vũ Đình Kh đã có chút tham vọng mang cái tên Diên Khánh, mang quê hương mộc mạc, đượm thắm tình người vào những trang chữ của mình. Ở đó, không chỉ cho một cái tên sống lại, mà còn mở ra những rung cảm, để thấy rằng mỗi vùng đất của quê hương luôn ẩn chứa những sức sống tiềm tàng. Ông đã thành công, vì đã tạo được nhiều xúc cảm và để lại không ít những ray rứt nơi bạn đọc, qua nhiều truyện ngắn, trong đó có “Những Mùa Ớt Trong Đời” và “Gió Sang Mùa”. Cũng có thể nói rằng: chính không khí đầy tình người của vùng đất này đã nuôi dưỡng và làm nên những trang chữ mang tên Vũ Đình Kh.
 
Rời quê hương để đi về hướng mặt trời, lòng ai cũng đều xát muối. Riêng hoàn cảnh của Vũ Đình Kh có khác với nhiều người trong chúng ta, bởi thân phận trước khi ra đi của ông. Nhưng cũng chính ở cái đặc biệt này, chúng ta được cơ hội nhìn lại, được biết rõ thêm về cuộc sống, được bước sâu vào vùng suy nghĩ và tâm trạng của những người thanh niên vào đời sau 1975, nhất là ở giai đoạn chuyển mùa 1975-1979.  Tuổi trẻ vào đời, không có sự chọn lựa, họ phải mang màu áo lính, của chính quyền mới. Truyện ngắn Vũ Đình Kh dựng lại những mảng đời rất tiêu biểu của thanh niên trong giai đoạn này.  Sau hơn 20 năm nhìn lại, ông cho chúng ta thấy một bao dung, đầy tình người. Ở nhiều đoạn, trong nhiều truyện, ông tạo cho người đọc những cái sững sờ, như truyện ngắn “Niềm Đau” chẳng hạn.
 
 
Viết về cuộc sống trên xứ người, Vũ Đình Kh đi thật cặn kẽ vào một điều mà ông cho là quan trọng nhất trong đời người: Niềm tin. Khi mất niềm tin, con người mất tất cả. Vũ Đình Kh dựng một nhân vật Ba Lan, Ivan, vì mất niềm tin đã để cuộc đời mình rớt xuống bùn nhơ, chẳng thèm đi làm, để khỏi phải đóng thuế, khỏi phải nặng gánh cấp dưỡng vợ con, sau khi đã ly dị trong một hoàn cảnh thương tâm. Và từ đó, nhân vật này có một lối sống khá đặc biệt và có một lối “trả thù” lạ lùng. Viết về những mối tình ngang trái trong một cộng đồng mới trên xứ người, ông cho thấy đằng sau những nụ cười trìu mến là những thủ đoạn, lọc lừa. Những thủ đoạn ấy được thực hiện đối với bạn bè thân nhất, và ngay cả với người phối ngẫu tật nguyền.
 
Ra đi là có một niềm hy vọng để quay về.  Mỗi người có một cách thế trở về khác nhau. Riêng Vũ Đình Kh, ông trở về và nhìn lại quê hương với những niềm đau rát buốt. Nhìn cái tụt hậu mà quặn tấc lòng. Nhìn cái dối trá chung quanh để thấy cả một xã hội quay cuồng trong cơn lốc. Ở đó, tình cảm giữa người với người, ngày càng co lại, để thay vào đó là những giành giật, những tha hóa, những tầm nhìn hạn hẹp, và nhất là những buông tuồng, sợ sống không đến ngày mai. Trước một xã hội đã tạo nên những con người như mất dần, có khi mất hẳn, nhân tính, Vũ Đình Kh đã không ngần ngại dựng lại điều đó trên trang sách của mình dù biết rằng nó là con dao hai lưỡi trong nghệ thuật. Ở đây, đôi lúc ông châm biếm, lắm khi ông nhoẻn cười, nhưng là những cái cười gượng, nát lòng, khi nhìn dâu bể tang thương.
 
Truyện của Vũ Đình Kh chuyên chở nhiều nét đặc thù của xã hội: một bên trong Việt Nam và một cộng đồng bên ngoài Việt Nam. Sống trên xứ người, sầu muộn bởi ngăn cách, đã đành. Bước đi trên quê hương, mà nghe những niềm đau thốn lên từ tâm can, dậy lên từ phế phủ mới là điều đáng nói. Đi giữa nơi chôn nhau cắt rún mà như đi vào một vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ông thấy mình bơ vơ giữa chốn chợ đông. Ông thấy mình lạc lõng giữa phố phường chật hẹp. Ông thấy mình lẻ loi giữa phố xá đầy người. Vì thế, khi đọc Vũ Đình Kh, ta bắt gặp những cái cô đơn: cô đơn trong suy nghĩ, cô đơn trong tiềm thức, cô đơn đến lặng người của một kẻ trở về mảnh đất xưa, nơi bắt đầu tiếng khóc vào đời, nơi nuôi dưỡng những tấm lòng quê, nơi ẩn chứa muôn vàn kỷ niệm, mà không có được một cảm thông, một chia sẻ.
 
Khi vẽ những chiếc mặt nạ gớm ghiếc trong cõi nhân sinh; khi ném những cái nhìn ghê tởm vào những thay trắng đổi đen; khi muốn xóc tung quá khứ của một đời người; ở tập truyện ngắn này, Vũ Đình Kh muốn  bước về tương lai, muốn nhìn về phía trước với cái nhìn đẹp hơn và người hơn. Giọng văn của ông trong những truyện ngắn này như chậm lại và có khi giãn ra như một vết chùng, để kéo dài nỗi buồn man mác, lắm cảnh thương tâm, đã tấp vào những cuộc đời vốn chứa đầy những vết cắt.
 
Cho dù mở ra và đóng lại ra sao đi nữa, chúng ta sẽ không ngạc nhiên thấy Vũ Đình Kh nuôi dưỡng và nâng niu những trang chữ bằng nhịp đập trái tim mình. Vì thế chữ nghĩa dễ tạo được rung cảm ở người đọc cùng một góc nhìn. Nhưng ngược lại, có khi nó làm người khác dị ứng, khi đứng ở một góc độ khác. Và, như tôi đã thấy, ông chấp nhận điều này, bước thoải mái về hướng mình muốn bước.
 
CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ không phải là tập truyện đầu tay của Vũ Đình Kh. Tuy nhiên, tập truyện này đã chứng nghiệm cái “tình” mà Vũ Đình Kh đã dành cho một vùng đất mang tên Diên Khánh. Mà Diên Khánh là một vựa trái cây của Khánh Hòa. Phải chăng, vì yêu từng hòn sỏi quê hương, yêu từng ngọn cỏ, luống rau nơi mình khôn lớn, yêu từng con dế của những buổi thiếu thời, v.v., mà ông đã viết tắt hai chữ Khánh Hòa, làm bút hiệu cho mình? 
 
Những tấm lòng nặng tình với quê hương như thế, dù sống bất kỳ nơi đâu trên trái đất này, đều rất đáng được trân trọng.
ĐNV
(2000, hiệu đính 2020)
 

Sunday, January 17, 2021

CÁT BỤI NÀO. MÙA THU ƠI. GIỌT LỆ

nguyễnxuânthiệp
 
Tôi về làm cát bụi.
Tưởng nhớ Lệ Thu. Tranh Duyên vẽ. 16.1.2021
 
Ở đâu
đêm màu hồng
em. và tôi
thành phố quen. lời hư ảo
rồi tiếng hát
bay lên trời cao
gọi mùa thu
về trong giọt lệ
ôi. em khóc
trước cánh cửa. của loài cú đêm
rồi tiếng hát. như mây
bay đi. bay đi
qua sông. qua biển biếc
những khu rừng. vàng lá. mùa thu
để gặp. thơ tôi. và bạn bè
ở studio. phan hà
với tranh đinh cường. nguyễn trung. hồ hữu thủ. trịnh cung
và nguyên khai nữa
em hát lại hương xưa
cung tiến. con bướm vàng. và câu ca dao
khung tơ. mái rạ
lời đường thi. trong sương mưa
ôi. cát bụi nào. mùa thu ơi. giọt lệ
tôi về. đọc kinh
cứu rỗi
NXT