Wednesday, August 16, 2017

CUNG GIŨ NGUYÊN: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM


Trương Vũ

(Bài viết sau đây nguyên là bài thuyết trình của Trương Vũ đọc trong buổi ra mắt tác phẩm Le Boujoum, do các học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên tổ chức tại giảng đường đại học George Mason, Virginia vào tháng 11, 2003.)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên (1909-2008)

Nhà văn Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế. Lấy tên thật làm bút danh. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế. Trước 1954, làm phóng viên và biên tập viên nhiều nhật báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng Pháp. Chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie (Á Châu Buổi Chiều) (1940-1941) và nhật báo La Presse d’Extrême-Orient (Viễn Đông Thời Báo) vào 1954. Từ 1947, dạy Pháp văn ở trung học và sau đó làm hiệu trưởng trường trung học Lê Quý Đôn ở Nha Trang. Từ 1972 đến 1975, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Đại học Duyên hải Nha Trang. Từ 1989 đến 1999, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Pháp tại trường Cao đẳng Sư phạm Nha trang. Ông là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947, lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.

Cung Giũ Nguyên viết văn bằng tiếng Pháp, Việt, và Anh. Ông đã sáng tác và dịch trên 50 tác phẩm. Sáng tác đầu tiên bằng tiếng Việt là một truyện ngắn nhan đề “Tình ái mỹ” đăng ở Đông Pháp Thời Báo Sài Gòn năm 1928. Sách tiếng Pháp đã xuất bản gồm có: Volontés d’Existence (“Những ý chí sống còn”, tiểu luận), Le Fils de la Baleine (“Kẻ thừa tự của ông Nam Hải”, tiểu thuyết), Le Domaine Maudit (“Vùng Cấm”, tiểu thuyết), … Le Fils de la Baleine đã được dịch sang tiếng Đức và xuất bản năm 1957 tại Genève và Francfort dưới nhan đề Der Sohn des Walfischs. Trong vòng một năm, 1958, tiểu thuyết này đã được tái bản đến lần thứ mười tại Pháp, do nhà xuất bản Arthème Fayard, Paris.

Tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên là Le Boujoum, tiểu thuyết. Tác phẩm được khởi sự viết một năm sau biến cố 1975 và hoàn tất năm 1980 tại Nha Trang. Cũng trong năm này, một chương trong tác phẩm, Khúc Hát của Amdo (“Le Chant d’Amdo”), đã được đăng tải trên một tạp chí văn học ở Pháp, với lời giới thiệu và ngợi khen đầy nhiệt tình của giáo sư Camille Souyris, chủ biên của tạp chí. (“Fer de Lance”, Rythmes et Couleurs, Cannes, France, Décembre 1980). Le Boujoum được dự trù xuất bản ở Pháp vào đầu thập niên 80, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là sự khó khăn tài chánh của nhà xuất bản Arthème Fayard vào lúc đó, sách không ra đời được. Đây là một tác phẩm khó đọc, nó giới hạn số độc giả, và không ai hy vọng nó mang lại một lợi tức tài chánh cho nhà xuất bản. Năm 1993, nhà xuất bản Đại Nam ở Hoa Kỳ đề nghị tác giả dịch Le Boujoum sang tiếng Việt. Tác giả đồng ý và Le Boujoum chuyển sang tiếng Việt thành Thái Huyền, chia làm hai tập. Sau khi xuất bản tập I vào năm 1994, nhà xuất bản lỗ vốn, và quyết định không xuất bản tập II. Cách đây hai năm, một vài học trò cũ của nhà văn Cung Giũ Nguyên quyết định cho xuất bản Le Boujoum. Với một lý do rất đơn giản, ít nhất với những người học trò này, đây là một cuốn sách rất cần được xuất bản, rất đáng được đọc, và không hẳn là một cuốn sách khó đọc như nhiều người nghĩ. Năm 2002, Le Boujoum, tiểu thuyết, dày 654 trang, được Trung Tâm Cung Giũ Nguyên ở Hoa Kỳ xuất bản. Như cái số phận vốn long đong của nó, đến mãi hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2003, nó mới được chính thức ra mắt người đọc, tại giảng đường Luật Khoa Đại Học George Mason, Virginia, Hoa Kỳ.

Trong bài viết này tôi không nhằm làm công việc của một nhà phê bình văn học. Tôi chỉ muốn đóng góp một ít thông tin về con người của tác giả và về bối cảnh để tác giả xây dựng nên tác phẩm.

Cuốn tiểu thuyết được xây dựng bằng một cấu trúc kỳ lạ, có lẽ không giống cấu trúc của bất cứ một cuốn tiểu thuyết nào mà bạn đã đọc. Mở những trang đầu của sách, người đọc có thể cảm nhận được điều đó ngay, khi đọc những câu rất đặc biệt mà tác giả trích dẫn từ cuốn The Hunting of the Snark của Lewis Carroll: “Bởi Snark (…) là một boujoum, các bạn hãy hình dung đi. Trước kia tôi chẳng hiểu nghĩa nó là gì. Bây giờ tôi vẫn không hiểu.”

Tác giả là một trí thức thuộc tinh thần Phục Hưng, a Renaissance man, có một hiểu biết sâu rộng về nhiều vấn đề khác nhau, nhất là những vấn đề đang chi phối nếp sống, cách suy nghĩ, ước mơ và thao thức của con người. Những nhân vật của truyện và những vấn đề đặt ra trong truyện ít nhiều chịu ảnh hưởng của tinh thần này. Có vẻ như cuốn sách đòi hỏi người đọc phải có kiến thức trong nhiều lãnh vực khác nhau, những kiến thức về toán học hay về cơ học lượng tử chẳng hạn. Thật ra, dù người đọc không có những kiến thức đó, ông ta vẫn có thể tiếp cận được với tác phẩm một cách thoải mái. Cũng giống như trong đời sống thật có biết bao vấn đề mà mình chẳng biết gì hết, mà mình vẫn có thể sống hết mình và tận hưởng được mọi cái thi vị của cuộc sống. Chính những cái “không biết” hiện diện ở trong truyện làm cho nó gần với đời sống thật hơn. Tuy nhiên, nếu bạn cố gắng đi tìm cốt truyện thì không khéo, bạn lạc vào một khu rừng rậm không lối ra, cho dù sau khi bạn tin rằng bạn đã tìm được nó.

Là một tín đồ Công giáo, tác giả vẫn hâm mộ và nhận thức một cách sâu xa những tinh hoa của các tôn giáo khác, như Lão giáo và Phật giáo, và đặc biệt là Lão giáo. Amdo va Domicella được tái tạo từ Vườn Địa Đàng, cùng với cái đối đãi giữa âm và đương, cái quan niệm trong dương có âm, trong âm có dương, hoặc ý niệm về đâu là chỗ bắt đầu, đâu là chỗ kết thúc, ý niệm về chiều thời gian, lúc nào tới, lúc nào lui, v.v… Tính cách này cũng được biểu lộ rõ rệt khi tác giả chọn hai chữ Thái Huyền cho bản dịch tiếng Việt. Cũng như, khi tác giả cho đăng lại vài dòng trên bức hí họa ở bìa sau của Le Boujoum, lấy từ câu nói của đệ tử một thiền sư Trung Quốc (Trước khi theo Thầy lên núi học đạo, thấy núi là núi thấy sông là sông. Khi học đạo, thấy núi không còn là núi thấy sông không còn là sông. Sau khi học đạo, thấy núi cũng chỉ là núi thấy sông cũng chỉ là sông). Có phải là để người đọc tự vấn “khi đọc sách này, anh thấy sông là sông, hay không phải là sông?”

Cách đây hơn 30 năm, các cựu học sinh của trường trung học Võ Tánh Nha Trang tổ chức một buổi họp mặt tại trường cũ, để thăm lại trường xưa và đồng thời cũng để tỏ lòng nhớ ơn thầy cô giáo cũ của minh. Nhiều cựu học sinh lên phát biểu cảm tưởng. Có người cho rằng cái thời còn đi học ở mái trường thật là tuyệt vời và ước sao mình vẫn còn cặp sách đến trường như thuở nào. Có người tiếc rằng hồi đó mình còn trẻ thơ nên không hiểu được lòng thương yêu vô bờ của thầy cô đối với mình, nếu bắt đầu trở lại, chắc chắn sẽ khác đi, v.v… Nghĩ thật mà nói cũng có, nói cho đúng “sách vở” cũng có, và nói cho phải đạo cũng có. Khi đến lượt thầy Nguyên lên phát biểu, thầy kể câu chuyện về Orpheus trong thần thoại Hy Lạp. Orpheus là vị thần của âm nhạc. Những bài thơ và tiếng hát của ông có khả năng cứu sống cả một đoàn thủy thủ bị ma quỷ hóa hình mỹ nhân ngư để dụ dỗ và ám hại. Ông có một người vợ rất đẹp mà ông rất yêu quí là Eurydice. Trong một cuộc săn đuổi vì chính sắc đẹp của mình, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Vô cùng thương xót, Orpheus tìm mọi cách để cứu vợ. Nhờ tiếng đàn tuyệt vời khiến những vị thần giữ cửa địa ngục sao nhãng, ông lẻn vào được âm cung. Cảm động trước tấm lòng và tiếng hát của Orpheus, các tử thần đồng ý cho Eurydice đi theo ông trở lại thế gian, chỉ với điều kiện là trên đường đi Orpheus không được ngoái nhìn lại Eurydice. Nhưng Orpheus đã ngoái lại, Eurydice liền tan biến và mất vĩnh viễn. Orpheus trở nên điên loạn, cuối cùng kết thúc cuộc đời mình một cách thảm khốc.

Câu chuyện thần thoại đó hầu như ai cũng biết, nhưng những lời phát biểu của ông vào lúc đó gây cho chúng tôi một ấn tượng mạnh về cái ngụ ý ông muốn gởi đến chúng tôi. Có điều, không phải bất cứ bài học nào của thầy cũng được học trò mang theo ra khỏi cổng trường. Nhưng với ông, về điều ông muốn nhắn nhủ chúng tôi, tôi tin ông sống rất thật với nó. Tôi tin chắc thầy Nguyên có rất nhiều mất mát trong đời ông, và dĩ nhiên là ông ý thức rất rõ về những mất mát đó, nhưng ông không bao giờ chịu để những mất mát đó đánh gục ông. Tinh thần này bàng bạc trong những sáng tác của Cung Giũ Nguyên. Đồng thời, trong Le Boujoum, cũng có rất nhiều bài thơ và tiếng hát biểu lộ phong cách đó.

Cung Giũ Nguyên khởi đầu viết Le Boujoum từ 1976 và hoàn tất năm 1980 ở Nha Trang. Người đọc có thể cảm nhận được ảnh hưởng sâu đậm của thời gian và không gian này trong tác phẩm. Tôi còn nhớ rất rõ những kỷ niệm với ông vào những ngày cuối tháng ba năm 1975 tại Nha Trang. Thành phố hỗn loạn. Người chạy tứ tán. Từ nơi khác chạy đến thành phố, từ thành phố chạy đi, chạy loanh quanh ngơ ngác. Một buổi sáng, đài phát thanh phát lệnh truyền cho mọi quân nhân và công chức ở nguyên tại nhiệm sở. Tôi với ông đến dự một phiên họp bất thường của đại học. Phiên họp chưa bắt đầu thì được tin riêng cho biết thành phố đã bỏ ngõ. Đài phát thanh thật ra chỉ phát lại thông lệnh đã thâu hôm trước, và vẫn còn tiếp tục phát. Tôi thấy ông ngồi im lặng, cuối cùng ông chỉ nói một câu, làm lạnh cả phòng họp: “Chúng ta thua trận vì chúng ta có quá nhiều người có quyền hành mà vô trách nhiệm”. Tối hôm đó, tội phạm từ quân lao thoát ra, súng nổ suốt đêm, khắp mọi hướng, từ mọi góc đường, không ai phân biệt được từ phe nào, nhóm nào. Thành phố dẫy chết. Vài hôm sau, tiếng súng ngưng, những chiếc T54 đầu tiên tiến vào thành phố, và một giai đoạn mới bắt đầu.

Tôi vẫn tiếp tục gặp ông, trò chuyện, hay làm chung với ông vài công việc lỉnh kỉnh ở trường, cho đến ngày tôi lặng lẽ rời quê hương, tháng 3 năm sau. Từ đó tôi không còn có mặt để cảm nhận thật sâu sắc tâm trạng và cuộc sống của mỗi con người ở thành phố này. Nhưng tôi nghĩ tôi có thể hiểu một cách đơn giản là những con người đó đang bị thời gian bỏ quên và thế giới bỏ quên. Và mặc dầu tôi có thể cảm nhận được nỗi cô đơn cùng cực của họ, tôi không thể hình dung nổi làm sao mỗi một con người mà tôi biết, tồn tại được khi thân phận của họ mong manh như vậy. Tôi không dám nghĩ đến những điều gì lớn hơn. Tôi hoàn toàn không biết rằng trong khoảng thời gian đó Thầy Nguyên đã ngồi viết Le Boujoum. Mà lúc đó chỉ riêng cái chuyện trên thế gian không ai tưởng tượng nổi lại có thể là một vấn đề cho con người, là chuyện kiếm một tờ giấy để viết, thì ở nơi thầy đang sống, học trò lớn nhỏ được nhà trường khuyến khích đi nhặt giấy vụn từ những đống rác, gọi là kế hoạch nhỏ. Tác phẩm Le Boujoum đã được hoàn tất trong một bối cảnh như vậy. Nhưng điều quan trọng cho một trí thức, đặc biệt cho người làm văn học, là tác phẩm dù có lấy chất liệu từ tim óc, từ thực tế của thời gian và không gian đó, giá trị của nó và cái nó nhằm đạt tới đã vượt qua khỏi cái thời gian ngắn ngủi và không gian nhỏ hẹp này. Ngày nay, hơn hai mươi năm sau, ở xa nửa vòng trái đất, khi đọc Le Boujoum, chúng ta có thể vẫn thấy bóng dáng mình, quẩn quanh đâu đó trong tác phẩm. Bóng dáng mình của ngày hôm nay, ở đây. Cũng như, có thể cảm thấy rằng cái kết thúc trong Le Boujoum của Cung Giũ Nguyên lại biết đâu cũng là cái khởi đầu một cách rất “Boujoum” của chính cuộc đời mình?

Nhà văn Cung Giũ Nguyên đã mở đầu cuốn tiểu thuyết Le Boujoum không giống như cách mở đầu thường thấy trong những cuốn tiểu thuyết khác, mà… chỉ như một tiếp nối: “… một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. / Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…” Và, cuối sách, kết thúc bằng một câu giống như câu đã bắt đầu với chỉ thêm một tĩnh từ.

Trong những năm gần đây ở hải ngoại, nhiều nhà phê bình văn học tranh luận về văn chương hậu hiện đại, nhưng chưa thấy ai khẳng định và được sự đồng ý của hơn một nhà phê bình, là một tác phẩm nào đó của văn chương Việt Nam được xem là hậu hiện đại. Le Boujoum, được viết cách đây hơn 20 năm ở trong nước, theo tôi, rất đáng để trở thành một đề tài tranh luận nghiêm túc về văn chương hậu hiện đại của những nhà văn Việt Nam, dùng bất cứ ngôn ngữ nào để hoàn thành tác phẩm.

Hôm nay, 16 tháng 11 năm 2003. Chỉ còn 4 ngày nữa là sinh nhật thứ 94 của Thầy Nguyên. Chín mươi bốn tuổi. Tuy vậy, hằng ngày, ông vẫn ngồi trước máy vi tính, cặm cụi làm việc, hoặc sáng tác, hoặc trao đổi điện thư với bạn bè, người thân, và các học trò cũ ở những nơi rất xa. Tôi tự hỏi, không biết những lúc cặm cụi làm việc như vậy, ông có nghĩ đến những dòng chữ ông đã dùng để kết thúc Le Boujoum : “...một vật mỏng manh lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại.” Và, tôi cũng tự hỏi, không biết, ông có mỉm cười một cách hài lòng là ông đã chỉ kết thúc như vậy rồi “chấm chấm chấm” mà không viết tiếp, như khi bắt đầu: “Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng?”

TV
Virginia, tháng 11 năm 2003

BẠT

Nhà văn Cung Giũ Nguyên mất lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 7 tháng 11 năm 2008 trong căn nhà riêng của ông trên đường Hoàng Văn Thụ, Nha Trang. Rất đông hướng đạo sinh mặc đồng phục cùng với học trò cũ và đồng nghiệp tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Đại diện các học trò đã đọc điếu văn trước khi hạ huyệt. Ông được chôn bên cạnh mộ vợ và con gái, mất trước đó khoảng hai năm. Ông thọ gần đúng một trăm tuổi. Hiện diện trong tang lễ có một thiếu phụ cầm lư nhang đi trước quan tài. Thiếu phụ này là con gái ông với nhà văn NTH, kết quả một mối tình lãng mạn và đầy sóng gió vào cuối thập niên 50.

Bài điếu văn do Trương Vũ viết, thay mặt Trung Tâm Cung Giũ Nguyên và các học trò của ông ở hải ngoại. Sau đây là một vài trích đoạn trong bài điếu văn đó:

“… Học trò Thầy rời mái trường đã lâu lắm rồi, hầu hết đầu đã bạc, vậy mà âm vang những câu chuyện hay bài học “ngoài môn học”, hay những lời giảng về cách nhìn cuộc đời, cách nhìn một thế giới lớn rộng hơn cái không gian nhỏ bé của mình hay vượt ngoài cái thời gian hạn hẹp của mỗi đời người, dường như vẫn còn đâu đó…

Bài học nhiều lắm. Chúng con chỉ muốn nhắc lại ba bài học chính của Thầy, được nhắc đi nhắc lại rất nhiều, mà chúng con phải học mãi trong suốt cuộc đời mình. Những bài học ngỡ rằng đơn giản nhưng thật không dễ học… Nhắc lại ở đây như một lời biết ơn trước khi nói lời vĩnh biệt Thầy:

Hãy luôn nhìn về tương lai. Hãy luôn làm việc hết mình và không ngừng học hỏi. Hãy nuôi hy vọng.

Thời gian mấy mươi năm qua, học trò Thầy và cả chính Thầy, đã trải qua bao thăng trầm. Càng thấm thía với những lời dạy này. Với rất nhiều học trò của Thầy, nó trở thành một cái phao tinh thần cho cuộc đời họ. Bởi vì, trong suốt mấy mươi năm qua, có mấy ai không có những lúc muốn quỵ xuống, muốn buông xuôi, muốn bỏ cuộc, muốn mặc cho thế sự quay cuồng như thế nào, quay mình đi như thế nào. Bài dạy chỉ thật sự có tác dụng nếu chính người dạy tin và sống theo đó. Từ những nơi rất xa nhìn về quê nhà, thấy cách sống của Thầy, ở vào tuổi của Thầy mà vẫn lừng lững không chịu thua với khả năng tàn phá của thời gian, của thời cuộc, học trò Thầy ngưỡng mộ vô cùng…

TRƯƠNG VŨ
Maryland, tháng 8 năm 2017



MÙA HẠ ĐÃ QUA


nguyễn xuân thiệp

Cánh phượng đỏ

bây giờ. mùa hạ đã qua
nụ cười đã tắt
chỉ còn những vệt máu khô. trên bức tường kia

những con ve sầu cũng đã lặng tiếng
lại thấy mình
ngồi ở quán cà phê. trong con hẻm. cây bông giấy
tiếng đàn thùng. của người nhạc sĩ du ca
và tiếng hát khàn. đục
lê uyên phương
những giọt nắng
và những cánh bông giấy. trên mặt bàn
tôi ngồi buồn. như cây
mơ về. một con phố
dốc cao
và vạt hoa quỳ
nơi yêu nhau. si như nắng. dại
ngày trôi

ai chờ
còn ai chờ tôi

này em
hãy về trên lối mưa quen
ngửa mặt nhìn trời cao. những ngày mưa cuối hạ
thương cho tuổi mình
em hãy về. đốt lửa. trong căn nhà gỗ giữa rừng
đốt lửa vào đôi mắt
để cho anh sưởi ấm
trong tâm tưởng mù sương

vì mùa thu đang tới
vì mùa hạ lên đường
NXT

SỰ KỲ NGỘ TRONG BÀI THƠ ‘NIỆM KHÚC’ CỦA NGUYỄN LƯƠNG VỴ


Tô Đăng Khoa

Niệm khúc vĩ cầm. Nguồn: Internet

“Trong u tịch, xương máu bỗng khua vang
Cho ta rơi giữa trời sâu không đáy…”

Niệm Khúc? Khúc nhạc của sự hoài niệm? Thi sĩ vì nhân duyên gì mà tấu lên Niệm Khúc này? Ngôn ngữ thi ca của Nguyễn Lương Vỵ sẽ đưa chúng ta chạm trán điều gì qua ba đoản khúc trong sự liên hoàn hoài niệm của bài thơ Niệm Khúc?
Hoài niệm về quá khứ là một việc làm liều lĩnh, nếu không muốn nói là nguy hiểm. Nhưng ở đâu có hiểm nguy, ở đó có sự thoát hiểm. Sự thoát hiểm chính là nguồn lực hiệu quả nhất giúp con người chuyển đổi nhận thức. Đó chính là vị thầy lớn nhất mà chúng ta nên học. Nguyễn Lương Vỵ đã liều lĩnh hẹn hò với cô quạnh và tan vỡ của bóng ma quá khứ để tấu lên bài Niệm Khúc này, và qua đó đã cống hiến cho các độc giả hữu duyên một Sự Kỳ Ngộ hy hữu đệ nhất. Nhưng mà Kỳ Ngộ với Ai? Với Cái gì? Làm sao ông đã thành tựu sự Thoát Hiểm ngoạn mục này? Ta hãy thong thả theo dõi cuộc hẹn hò của Nguyễn Lương Vỵ với bóng ma quá khứ khi ông vừa châm lửa mồi điếu thuốc trên môi, mở màn cho một cuộc hoài niệm phiêu bồng:

“Hẹn hò với cô quạnh
dịu dàng lắm không?!
Niệm khúc vang màu hồng
Câu thơ vang màu mắt
Mang theo niềm bí mật
Khỏa thân tuyết trắng ngần
Vĩ cầm như lệ ngân
Bay đi cùng nỗi nhớ

Hẹn hò với tan vỡ
Có nói điều gì không?!
Hay chỉ có bão giông
Nghiêng đêm cành khô gãy
Que diêm vừa bật cháy
Dăm chiếc lá vừa rơi
Điếu thuốc ngậm trên môi
Mù sương về trên mái…"

Không như những cuộc hoài niệm thông thường, trong đó, kẻ hoài niệm không “hẹn trước”, tức là không có một sự chuẩn bị, sự huấn luyện tâm thức cho thật quân bình  cho nên bị vùi lấp trong những con sóng xúc cảm: Có khi bâng khuâng trong tiếc nuối về việc lẽ ra nên làm, hoặc bàng hoàng ưu hận trước những đổ vỡ khôn hàn: “phải chi ngày ấy…”.  Ở đây, thi sĩ đã ý thức rất rõ việc mình đang làm. Ông đã có “hẹn trước” cùng với cô quạnh và tan vỡ. Nhưng trong cái tan vỡ, cô quạnh đó, ông vẫn làm cho độc giả “dự cảm” được dòng mạch ngầm “bí mật” đang vang vang và thật như thanh khí thường hằng (cái-đang-là) của sự sống:

“Niệm khúc vang màu hồng
Câu thơ vang màu mắt
Mang theo niềm bí mật
Khỏa thân tuyết trắng ngần…”

Khi khói thuốc mù sương đã tụ về trên mái, là lúc thi sĩ dùng bút pháp dời độc giả sang cảnh giới khác của quá khứ. (“càn-khôn-đại-nã-di-tâm-pháp” trong lãng vực thi ca?).  Không gian thời gian, dịch chuyển, đưa người khách lạ bước vào ma trận của cuộc hoài niệm.

“Không gian đưa tay vẫy
Thời gian nhón gót về
Ngã tư nằm lóng nghe
Ngã ba rao lạc giọng
Đời lầm than hắt bóng
Phố rách vai hắt hiu
Ta khách lạ thầm kêu
Gọi ta xưa biệt tích…”

Và thế là cuộc hoài niệm đến hồi gay cấn, không gian, thời gian dồn về trong một niệm. Người Khách như lọt vào trung tâm cơn bão giông: “Ngã ba rao lạc giọng / Đời lầm than hắt bóng / Phố rách vai hắt hiu…” là những hình ảnh ẩn dụ được Nguyễn Lương Vỵ sử dụng mô tả trạng thái hoang mang và bi đát của việc rơi vào cơn lốc xoáy của tư tưởng hoài niệm.  Và khách lạ, đã đánh mất chính mình, đã lạc lối trong ma trận của cuộc hoài niệm“Ta khách lạ thầm kêu  / Gọi ta xưa biệt tích”. Và đây là đỉnh điểm của sự hiểm nguy: Sự đánh mất chính mình trong chính cuộc hoài niệm của chính mình. Nhưng ở đâu có hiểm nguy, ở đó có sự thoát hiểm. Và mầu nhiệm thay, chỗ thoát hiểm khỏi ma trận của cuộc hoài niệm này lại nằm ngay cái “Ngã Tư” của ma trận trong một câu rất vu vơ: “Ngã tư nằm lóng nghe”  (Ngã Tư? Phải chăng đây là cách chơi chữ rất tài tình của Thi Sĩ Nguyễn Lương Vỵ?  Ngã Tư còn có thể được hiểu là một cái Ngã rất riêng Tư, hay cũng có thể là cái Ngã Biết Suy Tư? “Tôi Tư Duy cho nên Tôi Hiện Hữu?”)
Ngã Tư này có liên hệ gì chăng với "Con Đường Ngã Ba" của Bùi Giáng?
Sự lóng nghe của “Ngã tư nằm lóng nghe” này có liên hệ gì với sự lóng nghe của viên đá trong hai câu thơ của Tuệ Sỹ?:

“Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi”

Sự biết-lóng-nghe đó, của một “Ngã-Tư” hay của viên “đá mòn phơi nẻo tà dương” là cách thức duy nhất thoát ra khỏi ma trận của sự hoài niệm: Tác dụng của nó là sự nghe ra bản chất đích thực của đời: tức là “sự lầm than” hay cũng chính là Khổ Uẩn trong Tứ Diệu Đế của nhà Phật:  “Đời lầm than hắt bóng/Phố rách vai hắt hiu”
Cuộc hoài niệm nào suy cho cùng chỉ là một cuộc chơi, theo lối “vui thôi mà” của Bùi Giáng. Nhưng ở đây vui chơi mà Kỳ Ngộ. Mà cuộc Kỳ Ngộ này mới thật là ngoạn mục: Nó thành tựu được là nhờ sự biết lóng nghe của cái “Ngã Tư” đã hoàn toàn thuần thục an trú trong u tịch:

“Phải đâu trong u tịch
Xương máu bỗng khua vang
Âm âm âm khuất oan
Âm âm âm ưu hận
Phải đâu trong vô tận
Những trận gió thâm tình
Âm âm âm trắng tinh
Âm âm âm đỏ ối…”

Trong u tịch, thi sỹ bỗng “Nghe Ra” hay “Kỳ Ngộ” một điều kỳ diệuXương máu bỗng khua vang… và cả những trận gió thâm tình, những Âm âm âm khuất oan / Âm âm âm ưu hận, và cả những âm âm âm sắc màu trắng tinh và đỏ ối!?
Trong u tịch, xương máu Kỳ Ngộ cùng xương máu. Xương máu đã Nghe Ra xương máu.
Trong u tịch, ngôn ngữ đành bất lực. Ở đây, trong u tịch: xương máu hòa tan trong âm thanh, âm thanh rền vang xương máu, tất cả được phổ trong một Niệm Khúc liên hoàn bất tận. Thật là một sự Kỳ Ngộ Hy Hữu Đệ Nhất trong cái ma trận của sự hoài niệm của cái “Ngã-Tư”!
Cơn bão lớn của bóng ma quá khứ, thường sẽ nhận chìm người hoài niệm trong sự hối tiếc khôn kham, nay đã tan biến, vì dấu hỏi nghi vấn nay đã xóa tan. Biệt Ly và Kỳ Ngộ đã trở thành không-hai như hai mặt của một bàn tay. Người khách lạ chẳng còn nghi, thõng tay trôi vào luân hồi.

“Niệm khúc hay dấu hỏi
Chẳng cầu mong đáp lời
Ta đi như ta trôi
Như luân hồi vậy đó…”

Ta đi như ta trôi / Như luân hồi vậy đó.  Lời thơ thật bình dị, chân thật, và đẹp biết bao! Đi như trôi trong cuộc đời, đó là biểu hiện của bậc chân tu ẩn sĩ ở đời.
Sự thoát hiểm trong ma trận của sự hoài niệm cho người khách lạ một nguồn sống mới dồi dào sinh lực.
Thi CaÂm Nhạc vốn không đủ sức diễn tả hết sự mầu nhiệm của sự Kỳ Ngộ này, trở nên lạnh câm, lạnh ngắt, chỉ còn lại tình thương yêu và lòng bi mẫn gửi gấm không những chỉ giữa hai dòng chữ, và giữa những con dấu sắc huyền:

“Nhương sao trong lá cỏ
Tìm bóng trong hạt mầm
Câu thơ buông lạnh câm
Câu hát buông lạnh ngắt
Biệt khúc hay dấu sắc
Thương dấu huyền bơ vơ…”

 Sự hẹn hò, sự tan vỡ, và niềm cô quạnh, tất cả hiện rõ chân tướng trong một chuổi nhân duyên tuần tự của chính nó. Sự háo hức lúc hẹn hò, cõi lòng tan hoang lúc tan vỡ, hay sự gậm nhấm niềm cô quạnh lúc chia xa, khi đầy đủ nhân duyên thì tự nó sẽ đến, khi hết duyên hãy để cho nó tự trôi đi.  Xin đừng bao giờ níu kéo.  Vì lẽ?  Hẹn hò như sợi tơ, như bọt nước. Cuộc hẹn hò nào chung cuộc cũng ly tan, sợi tơ nào cũng mong manh dễ đứt, bọt nước nào cũng tan vỡ.

“Hẹn hò như sợi tơ
Chẳng bao giờ níu được
Hẹn hò như bọt nước
Ta chờ như ta rơi
Rơi rơi rơi rơi rơi
Giữa trời sâu không đáy…”

 Cuộc Kỳ Ngộ trong Niệm Khúc của Thi Sĩ NLV giúp tác giảđộc giả nhận ra nhau, nhận ra cái Ta-ảo tưởng trong ma trận của cuộc hoài niệm, và cùng lúc đó được Kỳ Ngộ cùng cái Ta chân thật: Đó là cái Tánh Linh ẩn trong xương máu này nhưng biết lóng nghe những vui buồn, và những hoài niệm hiện khởi từng phút từng giây.

TÔ ĐĂNG KHOA


Ghi Chú: Bài Thơ Niệm Khúc - Trích trong thi tập Tám Câu Lục Huyền Âm, NXB Q&P Production 2013 của Nguyễn Lương Vỵ.


Tuesday, August 15, 2017

ĐỌC THƠ NAOMI SHIHAB NYE: LÒNG TỬ TẾ


Nguyễn Đức Tùng

  Naomi Shihab Nye & tác phẩm. Nguồn: Internet

Trước khi biết lòng tử tế là gì
Bạn phải mất đi nhiều thứ

Đã có lần nào trong đời bạn lâm vào cảnh chán nản, thua sạch, mất hết, tuyệt vọng không?
Lúc ấy bạn muốn đi tới sự bình an. Bằng một ý tưởng, không phải hình ảnh, Naomi Nye tìm được cách nói giản dị, dễ hiểu, chỉ ra tính chất của sự việc từ lời mở đầu, trong khi vẫn ngấm ngầm báo hiệu cho những người đọc khác, gần mình hơn, thấy được sức nặng của sự khai triển bất ngờ về sau. Chỉ khi ở trong tình huống tột cùng, cực đoan, gay cấn, chúng ta mới đủ sức đánh mất tất cả. Sự thật có thể không chịu đựng nổi: không một người nào tự nguyện rời bỏ các thói quen và niềm tin và chân lý của mình dễ dàng, cũng như không một nhà độc tài nào từ bỏ dễ dàng ngai vàng của mình: chúng ta phải bị đánh bật ra từ cội rễ của chúng ta; chúng ta không thể lấy một tay mình để chặt đứt tay khác. Chỉ trong trường hợp cực đoan như thế, đánh mất tất cả, con người mới thấy được chân diện mục. Như một kẻ bị hất xuống vực thẳm nhưng còn sống, bạn từ từ ngoi lên, thở phào, mở mắt: mây trời lặng lẽ bay.

Bạn muốn về nhà.

Lòng Tử Tế

Trước khi biết lòng tử tế là gì
Bạn phải mất đi nhiều thứ

Cả tương lai bỗng chốc hóa thành không
Như muối tan trong bọt nước.
Điều gì trước đây bạn nắm được trong tay,
Đếm lui đếm tới mỗi ngày, nâng niu gìn giữ:
Tất cả đều phải ra đi

Nhờ thế, may ra bạn biết
Cảnh đời đơn chiếc ra sao

Giữa những miền đất xôn xao hạnh phúc
Bạn đi cuộc đi vô cùng tận
Cứ tưởng rằng chuyến xe chẳng bao giờ ngừng hẳn
Bạn tưởng những hành khách ngồi kia
Đang ăn thịt gà và bắp
Sẽ suốt đời ngồi bên cửa sổ nhìn ra bầu trời.

Rồi trước khi bạn biết sức nặng dịu dàng
Của lòng tử tế
Bạn cần phải đi xa hơn thế, đến một nơi
Một người da đỏ nằm chết
Bên vệ đường, trong tấm vải poncho

Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn,
Anh ta có thể là người
Đi trong đêm trường với nhiều kế hoạch
Chỉ hơi thở mong manh buộc chặt với đời.

Trước khi bạn biết lòng tử tế từ sâu sắc nguồn cơn
Bạn phải biết đau buồn kia cũng sâu xa như thế

Bạn phải thức dậy mỗi ngày với nỗi đau buồn ấy
Tập chuyện trò với nó
Chưa đủ đâu: bạn còn phải trò chuyện suốt ngày
Mê mải cho đến khi giọng nói của bạn
Khàn đi, cúi nhặt
Những sợi chỉ khổ đau vương vãi thế gian này

Bạn sẽ thấy được tấm vải ngày ngày chúng ta đan dệt

Rồi cuối cùng thật ra chỉ còn lòng tử tế, sau hết chỉ còn chúng là có nghĩa
Chỉ lòng tử tế thắt lại dây giày cho bạn
Dẫn bạn ra đường, đi tới thùng thư, mua bánh mì
Chỉ lòng tử tế ngẩng đầu lên
Như một người lạ mặt từ đám đông, của thế giới rộn ràng kia
Bảo bạn rằng: chính tôi là người bạn đi tìm
Khắp thế gian

Rồi nắm tay bạn đi qua những ngã đường
Như một cái bóng
Hay như một người tri kỷ.

(Naomi Shihab Nye)
(1)

Nhịp điệu của thơ: là nhịp tim của người viết và người đọc. Nếu bạn di chuyển mau lẹ, nhịp đập của tim tăng lên, ảnh hưởng đến sự phát ra âm thanh của chữ. Sau một giai đoạn nhấn mạnh gay cấn ở phần giữa của bài thơ, Naomi Nye trở lại nhịp cân bằng mà bà tự mình làm mất đi sau những câu đầu tiên. Các hình ảnh xảy ra tự nhiên khiến người đọc có cảm giác chúng xuất hiện trước như kẻ dẫn đường. Hầu hết các cảm xúc và ý tưởng khác đến sau, gần như phi tuyến tính, tiền ngôn ngữ.
Có một sự khác biệt rõ ràng giữa câu thơ và câu văn phạm trong thơ của Naomi Nye. Câu thơ là những nhịp đập mà chúng ta không biết đến, hệt như một người khỏe mạnh không cảm nhận được nhịp đập của tim mình. Trong khi chúng là thành phần căn bản về nhạc điệu thì câu văn phạm có vai trò trong việc tạo ra vóc dáng cấu trúc của bài thơ. Tác giả chọn phương pháp đặc sắc mà tôi muốn chỉ ra: không một câu thơ nào đứng một mình như một câu văn phạm. Tất cả đều là các đoạn bị cắt rời, làm cho sự ngắt dòng trở nên tươi mới, duyên dáng và nhịp đi có tính dồn dập, thúc đẩy.

Đọc chậm:

What you held in your hand,
what you counted and carefully saved,
all this must go so you know
how desolate the landscape can be
between the regions of kindness.

Nhưng Naomi Nye là ai?

Sinh năm 1952, bà thuộc thế hệ những nhà thơ Hoa Kỳ sau thế chiến thứ II. Thật khó mà biết được họ đã chịu ảnh hưởng như thế nào từ những người đi trước, trong không khí văn chương sôi động của những năm sáu mươi, bảy mươi. Robert Lowell, Anne Sexton, Mariane Moore, Allen Ginsberg, Sylvia Plath, Gerald Stern, John Ashbery và những người khác. Nhất là Dylan Thomas. Thơ của bà kết hợp được phong cách dữ dội, nổi loạn của Lucille Clifton, Maya Angelou và tính dịu dàng nhưng cương nghị của Mariane Moore, Nikki Giovanni. Đọc Naomi Nye, tôi thường lấy lại cảm giác bình tĩnh như được trấn an.

Chính tôi là người bạn đi tìm khắp thế gian

Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một chấn thương lớn của Hoa Kỳ, cũng là của cộng đồng Hồi giáo, cho những người có nguồn gốc Trung Đông và những người yêu mến văn hóa Ả Rập. Và chấn thương ấy sẽ lâu dài. Naomi Nye sinh ở Mỹ, nhưng thân phụ bà sinh ở Jerusalem; ông lớn lên giữa những người Do Thái, người Armenia và Hy Lạp. Mẹ là một phụ nữ Mỹ. Nhà thơ thường quay về Trung Đông thăm viếng và tham dự những sinh hoạt văn hóa xã hội; và trong gia đình bà, tiếng Ả Rập cũng được nói bên cạnh tiếng Anh. Cuộc chiến tranh Palestine, sự khủng hoảng Hồi Giáo sau sự kiện 911, sự đàn áp phụ nữ, đàn áp dân chủ và nhân quyền, chống lại các giá trị phổ biến, chiến tranh, tội ác chống nhân loại, là những mối quan tâm sâu sắc và thường trực của bà.

Khi tin tức về cái chết của anh truyền tới
Chúng tôi ngồi khép lại vòng tròn
Có người khóc, có người không khóc

Ngày xa xưa, trên một xứ sở khác
Những cô gái dịu dàng đội lên đầu thùng nước
Và nhịp nhàng bước đi

(2)

(The Grieving Ring)

Cái gì đã nối những người ngồi thành vòng tròn với cái chết, nối cái chết với những thùng nước đội đầu của các cô gái?
Tôi nghĩ đến vòng tròn. Sự trở đi trở lại. Sức nảy nở của hạt giống mùa màng. Các qui ước, nghi lễ, nghi thức (rituals) tiêu biểu cho trạng thái tịch lặng, an nhiên, vững chãi của đời sống tâm linh cộng đồng. Những kẻ muốn tạo ra các thế hệ mới, các thế hệ được trang bị ký ức có tính chọn lọc về quá khứ, có thể tài giỏi về chuyên môn nhưng nô lệ về tinh thần, là những kẻ sợ hãi các nghi thức, vì chúng chống lại sự thay đổi.
Nghi thức không phải chỉ là, thậm chí không bao giờ là, các lễ hội ồn ào có nhiều người tham dự với các hình thức ồn ào hào nhoáng. Như nhiều người vẫn hiểu lầm, vô tình hay với dụng ý. Chúng bao quát hơn, tinh tế hơn, thường ngày hơn, và quan trọng nhất là, chúng phải được tạo nên qua nhiều năm tháng, dần dà một cách “tự nhiên”. Không có tác giả. Cũng như ngôn ngữ hay ca dao. Cũng như, một ví dụ khác, bữa ăn tối gia đình mỗi ngày có đông đủ mọi người, thời bây giờ rất khó làm được, là một thứ nghi thức.

Một kẻ không nhà
Tháo giày ra
Trước căn phòng bằng giấy các tông của mình

(Penny Harter, haiku, ghi theo trí nhớ)

Nhân loại yêu mến các nghi thức. Vì đó là căn nhà của họ, hay là quán cà – phê - vỉa - hè - dưới- hàng - phượng - vĩ tụ tập bạn bè mấy mươi năm của họ.

Ngôn ngữ thơ của Nye không dựng trên căn bản của tu từ học, vốn bị giam cầm bên trong các biên giới quốc gia; nó nằm sâu hơn, dưới những tầng lớp cốt lõi của tư tưởng, của cảm xúc, có tính tập thể, của nguồn mạch văn minh văn hóa Ả Rập hùng mạnh.
Hùng mạnh tức là khiêm tốn, cởi mở. Nhờ thế, Naomi Nye có khả năng viết về nhiều đề tài. Plato từng cho rằng đề tài của thơ không phải là sự chọn lựa chủ quan của tác giả. Quả thật, nếu chỉ dựa vào văn bản thì khó biết được bà đã đi đường nào: chọn lựa đề tài, xây dựng các ý tưởng, dựng bài thơ lên như dựng ngôi nhà, hay hoàn toàn ngẫu nhiên, không biết mình nói gì cho đến khi bài thơ đã nói xong? Mặc dù viết về những vấn đề chung, như tự do, chiến tranh, bạo lực, thơ của bà mang nặng tính riêng tư, cá nhân, cũng như nhiều nhà thơ Mỹ cùng thời. Đây có lẽ là một trong những khác biệt tế nhị giữa thơ Mỹ và thơ châu Âu: trong kinh nghiệm đọc của riêng tôi, thơ châu Âu thường trừu tượng hơn, để lại ít hơn các dấu ấn cá biệt của hoàn cảnh riêng tư, trong khi thơ Mỹ “hiện thực” hơn. Tôi nghĩ rằng có phần ảnh hưởng của phong trào “Thơ xưng tội” (Confessional poetry) khởi đi từ Robert Lowell và Anne Sexton. Có con đường đi xuống, đi xuống mãi đến vực lỗi lầm quá khứ, đến tội lỗi của chúng ta, đến niềm hy vọng tan vỡ, đến sự thất vọng đối với con người. Từ bóng tối, chúng ta đi dần lên trở lại, khó nhọc nhưng không bỏ cuộc, cuối cùng chúng ta đi lên được từng bước, nâng đỡ bởi sự tha thứ. Sự tha thứ đối với người khác và đối với chính dĩ vãng của chúng ta. Bài thơ nào cũng có nhiều hình ảnh, nhưng chúng thường xoay quanh một hình ảnh trung tâm, xuyên qua nhiều bậc thang nhận thức. Đây là một hình ảnh trung tâm:

Bạn phải đi xa hơn thế nữa, đến nơi một người
Da đỏ nằm chết bên vệ đường
Trong tấm vải poncho

Hình ảnh là một phần của cuộc sống, có tầm ảnh hưởng rộng hơn nhiều người tưởng. Khi phát âm một chữ, ta thường nghĩ đến một hình ảnh cụ thể; các giấc mơ đọng lại trong ký ức cũng bằng hình ảnh. Chúng là những hoạt động vừa lý trí vừa xúc cảm, đến thẳng từ vô thức. Không thể giải thích được tại sao lại là người da đỏ, lại là tấm vải poncho. Chúng hoàn toàn đặc thù cho một hoàn cảnh riêng tư, nhưng bất kỳ một người đọc nào ở ngoài biên giới Hoa Kỳ cũng có thể cảm nhận và chia sẻ. Bởi vì:
Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn

Đó là cách nói nửa kêu gọi, nửa tâm tình. Nói cho cùng, trong nhiều trường hợp, thơ tâm tình cũng có khả năng mê hoặc, hùng biện. Ví dụ:

Mùa cam đương ngọt trên đầu
Chim kêu ríu rít địa cầu của ta
(Tố Hữu)

Hay, nhưng có phần hùng biện.
Đọc xong, người đọc dễ quên “cam” và “chim” đi mà nghĩ nhiều hơn đến địa cầu. Địa cầu của ta: vì vậy nó đang rộng hóa ra chật. Cái ta bao giờ cũng nhỏ bé.

Tranh luận với người khác, là hùng biện, tranh luận với chính mình, là thơ.
(William B. Yeats)

Tâm tình hay hùng biện là vấn đề giọng điệu. Giọng điệu của một bài thơ là giọng nói của nhà thơ thể hiện trong bài thơ ấy. Là chữ ký, dấu triện của nhà thơ lên một bài cụ thể. Giọng điệu có thể thay đổi; giọng nói thì không. Một bài thơ có thể có nhiều hơn một giọng điệu. Cơ sở vật chất của giọng điệu là từ vựng, văn phạm, cấu trúc câu, cách ngắt dòng, vần, cách nói trực tiếp và cách nói bóng bẩy. Âm thanh bao gồm các nguyên âm, các phụ âm, lên giọng xuống giọng; và trong tiếng Việt còn là các dấu huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Tiếng nói một người, trong một bài thơ, có thể mau lẹ hay chậm rãi, thúc giục gay gắt hay ung dung từ tốn. Sức nặng của mỗi chữ cũng khác nhau: những chữ có “nội dung” nặng hơn những chữ bổ túc, thường là các tính từ, trạng từ, liên từ. Sự khác nhau này cũng tạo ra chú ý của người đọc đối với một câu thơ, nhờ vào việc di lệch khỏi các chuẩn tắc.
Ví dụ đại danh từ có tính liên kết who và liên từ and chuyên chở một nội dung lớn hơn trọng lượng của chính chúng:

Đi trong đêm trường với nhiều kế hoạch
Chỉ hơi thở mong manh buộc chặt với đời.
(3)

Mặc dù truyền thống văn học Trung Đông ảnh hưởng đến bà, ghi dấu ấn của nó trong những bài thơ có hình thức như thể gazelle, Naomi Nye thường làm thơ tự do như bài thơ trên đây. Tương tự các nhà thơ đương đại, thơ tự do của bà rất “tự do”, nghĩa là nếu tháo rời chúng ra như người ta tháo một cái máy, cấu trúc của các bài thơ ấy gần như không còn lại gì cả, có thể làm cho các nhà phê bình cổ điển ngẩn ngơ. Ai cũng biết rằng thơ tự do không có luật cố định về vần, không có khuôn mẫu cố định về điệu (mặc dù tất nhiên chúng vẫn có thể có vần điệu riêng của từng bài), nhưng gần đây chúng cũng đánh mất cả những tiêu điểm cuối cùng như đơn vị câu thơ và sự chuyển câu, ngắt câu (line-ending).
Tôi cho rằng tuy thế vẫn còn một trong hai yếu tố cuối cùng bền bỉ ở lại: (1) sự lập lại (repetition) của các chữ, hay (2) sự lập lại của các mẫu cảm xúc.

Before you know
Before you learn
Before you know

Nhờ thế, có một sự dừng lại, một điều gì gần như là sự treo lơ lửng, nằm xen kẽ giữa các trạng huống gấp rút hơn.
Bà sử dụng trong thơ nhiều hình ảnh mang tính phổ biến, di chuyển gần về phía các biểu tượng, vốn cũng là một loại ẩn dụ nhưng có tầm khái quát cao, mang tính tập thể và bao giờ cũng có tính truyền thống. Chúng có thể xuất hiện đơn nhất hay tạo ra các tổ hợp. Các ẩn dụ chăm chú nói về bản thân nó, trong khi các biểu tượng không nói về bản thân nó.
Naomi Nye thường nhắc đến đất đá, nước, mưa, trà, ngựa, mặt trời, mù sương…đầy khí hậu sa mạc chẳng hạn. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn là tổ hợp ẩn dụ của Tuệ Sỹ. Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm là tổ hợp biểu tượng của Quang Dũng. Bộ lạc ta xưa mất hải tần vừa là ẩn dụ vừa là biểu tượng của Đinh Hùng.

Bài thơ của Naomi Nye đi xa mà không lạc đề, về gần nhưng không ràng buộc; đó là nhờ khả năng cưu mang sự diễn dịch nhiều lớp đối với các ý nghĩa. Dùng một câu thơ để chở một ý tưởng trừu tượng là một trong những công việc khó khăn của nhà thơ. Nó có thể thất bại. Bởi vì ý tưởng trừu tượng đến lượt chúng hạn chế sự phát triển nhiều lớp của các ý nghĩa.  Chủ đề của một bài thơ có thể phức tạp, nhiều hơn một, miễn là tính phức tạp của chúng đừng trở nên quá nặng đối với bài thơ. Naomi Nye có thể đề cập đến cùng lúc nhiều vấn đề như tình yêu, sự đau khổ, sự cô độc, lòng nhân hậu, một phần vì khả năng sử dụng ngôn ngữ có tính liên kết: các giới từ và liên từ nối chúng lại. Tôi có thói quen chú ý đến cách sử dụng các giới từ và liên từ của các nhà thơ, nhất là những nhà thơ mới xuất hiện, nhận xét họ qua một kỹ năng gần như không thay đổi trong các bài thơ khác nhau, cùng một người.

Before you know kindness as the deepest thing inside,
like salt in a weakened broth.

Chúng ta chú ý chữ as (như) và chữ like (như) được dùng khác nhau. Đó là các liên từ vừa kết nối vừa phân biệt các sự vật, đối tượng.  Ngưỡng cửa siêu hình:

Bạn phải nhìn cho được: kẻ nằm chết ấy chính là bạn

Thơ không sinh ra trong chân không, nhưng đọc một số nhà thơ tiếng Việt (và cả tiếng Anh) gần đây, tôi không có ấn tượng mạnh mẽ về việc họ đang sống ở đâu, viết ở đâu, triết lý của họ về cuộc đời là gì. Đọc Naomi Nye thì trái lại: bà sống cuộc đời cụ thể mỗi ngày, ghi lại chúng, hít thở không khí tự do hiện đại nhưng vẫn không đi lạc trong môi trường đa văn hóa của Mỹ. Người ta không thể nào kiến tạo một thế giới tốt đẹp mà không bắt đầu từ sự cảm thông giữa một người và một người. Những kẻ không có khả năng “chạnh lòng” trước sự đau khổ cá nhân của người khác, một cách riêng lẻ - sự chạnh lòng đôi khi làm họ mất cả khả năng tự kiểm soát, lạc hướng, thứ tình yêu đôi khi làm họ thất bại - những kẻ ấy không bao giờ có thể trở thành những người cứu giúp thế giới, những nhà cách mạng hay những kẻ tự tuyên bố tương tự.  Sự cảm thông là phương tiện quan trọng nhất để cải thiện các mối quan hệ xã hội. Khi một người bắt đầu tập nhìn sự vật từ tâm trạng của người khác, anh ta sẽ dịu giọng xuống, bớt ra vẻ hùng hồn say đắm, khi một người may mắn thành công bắt đầu tập nhìn sự vật từ khung cửa hẹp của kẻ rủi ro thất bại, anh ta sẽ bớt hăng hái đi trong các tuyên bố về chân lý của mình. Nhờ thế, anh hiểu ra rằng chính anh cũng có thể rơi vào vị trí của người thất bại, hoặc là trong quá khứ, hoặc là trong tương lai: anh trở nên khiêm tốn hơn, và do đó, thông minh hơn, anh trở nên lưỡng lự hơn, và do đó, minh triết hơn.
Tuy thế bạn vẫn có thể tránh được kinh nghiệm trực tiếp mà vẫn học được bài học lịch sử nếu lắng nghe người khác. Lắng nghe các nạn nhân, trẻ con, những người phụ nữ, những người dũng cảm và các đấng thiêng liêng. Không mất thì giờ lắng nghe những kẻ đang bị chi phối bởi lợi ích hay quyền lực, đang say mê bởi các lý thuyết. Lắng nghe tiếng nói của thơ ca. Trẻ con biết cách để cảm thông với người khác mau lẹ. Có lẽ đó là lý do khiến Naomi Nye, sau cuộc chiến tranh vùng vịnh 1991, xuất bản tuyển tập thơ Bầu Trời Chung Của Chúng Ta (This Same Sky), tập hợp 129 nhà thơ nhỏ tuổi khắp thế giới. Trong khi nước Mỹ lao vào cuộc chiến tranh ở Iraq thì nó cũng đủ sức mạnh tinh thần để khiêm tốn tiếp nhận và hào hiệp truyền đi thông điệp từ một cô bé thi sĩ ở Iraq.

Ai có thể mở cánh cửa này
Của dòng sông xanh, của đám mây vàng,
Của trái tim tôi?
(Zuhur Dixon)

Thơ không kêu gọi các hành động cụ thể, không dẫn đến các kết luận, nhưng với chút hài hước nhẹ nhàng, có thể tạo ra các khải thị:

Điều gì trước đây bạn nắm được trong tay,
Đếm lui đếm tới mỗi ngày, nâng niu gìn giữ:
Tất cả đều phải ra đi

Mối quan hệ giữa hình thức và nội dung trong thơ có lẽ bắt đầu như thế này: nội dung kêu gọi hình thức, nhưng đó không phải là một nội dung hiển hiện như ta thấy trong văn bản, tức là trong hình thức sau cùng của nó, sau sự xuất hiện của thể. Ví dụ: ở nông thôn khi rảnh rỗi, xong việc đồng áng, thế nào cũng phát sinh các hình thức tế lễ, ca hát, nhảy múa, trong những hình thức được quy định. Hình thức lễ hội này là biểu hiện sau cùng của sự chờ đợi, mong đợi, của kỳ vọng tập thể. Đó là thể. Biểu hiện bên trong của thể là cấu trúc, biểu hiện bên ngoài của cấu trúc là thể. Đến thăm một người mới qua đời, chúng ta thất vọng nếu không thấy cảnh tang lễ, người thân khóc lóc, đi qua một đám cưới chúng ta thất vọng nếu không thấy cô dâu mặc áo choàng trắng dịu dàng mà thấy một cô nàng mặc quần jeans nói cười ầm ĩ. Như vậy các lễ cưới làm cho niềm vui được trọn vẹn, cũng như tang lễ làm cho sự đau khổ trở nên chịu đựng được, đáng kính trọng và có ý nghĩa. Tuy thế, hình thức không phục vụ cho nội dung theo nghĩa giản dị của chữ này. Thể của một bài thơ không phải là phương tiện của các ý tưởng. Khác với một số nhà thơ có khuynh hướng trừu tượng, sử dụng nghĩa bóng nhiều hơn nghĩa đen, dùng nhiều hình ảnh trong các giấc mơ, ví dụ John Ashbery hay Frank O’Hara thực mà ảo, ảo mà thực, Naomi Nye có lối viết trực tiếp, dẫn chuyện có cao điểm và có kết thúc, một phần nhờ cấu trúc nhiều lớp ý nghĩa.
Sự tiếp nhận của người đọc đối với ý nghĩa là một quan tâm của thơ hậu hiện đại. Trong khi từ chối sự diễn dịch ý nghĩa, nói cho cùng các bài thơ vẫn mời gọi sự đọc kỹ, đọc lại.
Ví dụ, nếu đọc Wallace Stevens (Ngọn Nến Trong Thung Lũng):

Ngọn nến của tôi cháy một mình trong thung lũng bao la
Những tia sáng dài xa của đêm sâu chụm đầu lên nó
Cho đến khi gió thổi.
(4)

Bạn sẽ thấy sự khó hiểu không nằm trong ngôn ngữ. Nó nằm ở ý nghĩa. Ngôn ngữ không chỉ chứa đựng các thông tin; chúng có thể được chia làm hai loại: một loại ngôn ngữ mang tính quy chiếu (referential language), có tính biểu tượng, tượng trưng, đại diện. Đó là ngôn ngữ của các từ điển. Loại thứ hai có thể gọi là ngôn ngữ trình diễn (performative language), khi sự xuất hiện của chúng tạo ra sự thay đổi một tình trạng ở người tiếp nhận. Vì ngôn ngữ thơ là sống động, có tính trình diễn, nên ý nghĩa của chúng không nên được hiểu theo quy chiếu thông thường. Mặt khác trong khi ngôn ngữ thơ không thuần túy là ngôn ngữ thông tin, không nên được hiểu như một ngôn ngữ quy chiếu, thì nó lại chống lại sự trống rỗng, chống lại cái vô tích sự của ngông ngữ đối với cuộc sống. Những bài thơ mô tả sự nhàm chán của đời sống lại không được quyền nhàm chán.

Tôi cho rằng đây là điều mà hiện nay nhiều người nhầm lẫn. Bài thơ của Naomi Nye chứng tỏ ngôn ngữ thơ dày đặc các thông tin: chúng được nén lại trong các câu, giữa các chữ, bên trong các chữ. Ngay khi có những chữ ít quan trọng hơn, ít có ý nghĩa về ký hiệu hơn xuất hiện, thì những chữ ấy cũng cần phải được người đọc và người trình diễn thơ quan tâm hệt như các chữ quan trọng khác. Các nhà thơ có thể viết những chữ hay những câu có vẻ vô nghĩa hay trống rỗng nhưng đó là chủ ý nghệ thuật riêng. Trong trường hợp này chúng cũng quan trọng như bất kỳ một câu hay chữ nào khác.

Trước khi bạn biết lòng tử tế từ sâu sắc nguồn cơn                            
Bạn phải biết đau buồn kia cũng sâu xa như thế

Thơ trước hết là âm thanh. Các chữ xung quanh chúng ta, tôi nghĩ, cũng tạo nên một trường. Chúng tương tác với nhau, chữ này gọi chữ kia, chữ trước kích thích chữ sau, chữ ngoài hất chữ trong ra. Việc đọc thơ vang lên làm cho trường chữ có tương tác mạnh hơn.
Như thế, đọc thơ tạo ra một kinh nghiệm hiếm có; đọc một bài thơ không phải là lập lại kinh nghiệm của tác giả, như máy ghi âm ghi lại lời người khác, mà tạo nên một tiếng nói thứ ba, ở tầm vóc lớn hơn hay nhỏ hơn, tùy người đọc. Toàn bộ kinh nghiệm sống của người đọc ấy được dồn lại trong khi đọc một bài thơ, chuyển tất cả kí ức thành các niềm mơ ước về tương lai, thẩm định và chuyển giao các giá trị tinh thần. Cách đọc (lớn lên, thành tiếng) một bài thơ quan trọng đến mức tùy theo giọng đọc lớn hay nhỏ, thấp hay cao, tâm trạng buồn rầu hay hứng khởi, các chữ được kéo dài ra hay được nén lại, mà bài thơ có tác động khác nhau lên người nghe, tôi muốn nói là cộng đồng người nghe, trong đó có chính người đọc lên. Đọc theo trí nhớ còn là chuyện khác nữa, vì trí nhớ thay đổi. Các ý tưởng, cũng như các mùi vị, cảm giác chen lẫn nhau khi bạn thưởng thức cái đẹp. Vậy, đọc thơ là một quá trình liên tưởng tự do, giúp chiếu rọi ánh sáng tới những vùng tối riêng, phi điều kiện hóa, nhằm giải phóng lịch sử.
Đọc thơ không nên dừng lại với việc đọc bằng mắt. Thơ cũng viết cho tai: cần đọc chúng vang lên.
Ngoại lệ: đối với các bài thơ dở thì bạn được miễn nhiệm vụ này.
Thơ của Naomi Nye gây cho người đọc ấn tượng về một người suốt đời đi tìm sự thật, mặc dù bà không đặt nhiều niềm tin vào cái gọi là sự thật cuối cùng, vào chân lý cuối cùng, quan trọng nhất. Thật ra, không làm gì có sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử. Tuy vậy, khác với quan điểm của chủ nghĩa giải cấu trúc, như có thể thấy với Jacques Derrida, Naomi Nye tin tưởng vào khả năng của thơ ca trong việc nhìn thấu tận đáy bản chất của sự đau khổ của thế giới, và khả năng nhìn thấy được những khuôn mặt khác nhau của sự thật. Như thế, bà gần với Margaret Atwood hơn, nhà thơ Canada, người viết những câu thơ:

Nếu sự thật của thế giới này một ngày được nhận ra
Sẽ được nhận ra qua nước mắt
(5)
(Dẫn theo Hilda Hollis)

Cách đây vài năm, tôi đến thăm di tích Maya ở Nam Mỹ. Bên những ngọn tháp hùng vĩ, tôi ngạc nhiên khi được biết bí mật cao nhất của người Maya trong xây dựng lại thuộc về âm nhạc. Nếu đứng dưới chân một bức tường, không cần phải là hai bức tường đối diện, và vỗ tay, bạn sẽ nghe được tiếng ngân rất lâu dội đi dội lại. Như thế kiến trúc của tường tháp đã được xây ở mức nhạy cảm khiến cho các rung động âm thanh của bàn tay nhỏ bé được ghi nhận. Vào giây phút ấy, tôi bỗng nhận ra rằng có một sự tương đồng lạ lùng giữa lòng tử tế của con người và sự hài hòa về âm học của các vật thể. Con người cũng như những bức tường đá kia hoàn toàn có khả năng ghi nhận các rung động từ người khác. Dễ dàng quan sát thấy rằng những đứa bé khi đứng gần nhau sẽ bắt chước điệu bộ cử chỉ, cười khóc của nhau. Đó là sự lan tỏa tức thời của các xúc động tinh thần. Nếu sự xúc động không thể lây lan trong một cộng đồng, nếu người này không thể tác động đến người khác để họ đồng cảm với mình, xã hội sẽ rơi vào một tình cảnh đáng sợ. Khi nhìn thấy sự đau khổ ở người khác, nếu chúng ta hoàn toàn thờ ơ, cơ chế tinh thần của chúng ta sẽ bị gãy đổ, các hoạt động tâm lý sẽ tê liệt, cái mà Freud gọi là cơ chế thăng hoa sẽ không làm việc, superego vắng mặt. Khi nhìn thấy sự bất công của xã hội, nếu chúng ta hành động, bất kể hành động ấy đưa đến kết quả cụ thể thế nào, thành công hay thất bại, thì về mặt tinh thần, chúng lập tức tạo kết quả lên chúng ta: đó là sự khẳng định rằng ý thức của chúng ta vẫn còn hoạt động.
Sự im lặng vì lẩn tránh và sợ hãi làm người ta già đi mau lẹ, bào mòn trí tuệ, và quan trọng hơn nhiều, bẻ gãy nhân cách, của họ. Bạn có thể tìm thấy nhiều ví dụ trong các nhân vật nổi tiếng bị đàn áp, dưới các chế độ khác nhau trong lịch sử.
Như thế, các hành động xã hội, bất chấp kết quả thành công hay thất bại, tác động như một liệu pháp tâm hồn. Toàn bộ điều này gọi chung là sự vang động, phản hồi. Chỉ những người có khả năng tiếp nhận sự vang động thì mới có khả năng cất bước ra khỏi ngôi nhà trú ẩn của mình, và về mặt luân lý, thoát ra khỏi sự vị kỷ, trở thành người tự do, mà không cần đến bất kỳ một sự ưu đãi nào. Đây không phải là sự hòa lẫn giữa cái tôi và cái ta, mà chỉ là tương tác giữa những cái tôi trong cộng đồng dân tộc, nhân loại. Khép kín mình lại bao giờ cũng đưa đến sự mất bền vững, không những đối với các định chế xã hội, mà còn đối với sự lành mạnh tâm linh; sự mất bền vững này đến lượt nó thúc đẩy quá trình suy đồi tập thể.
Nhiều người nhận xét, với một chút than phiền rằng, thơ và nhạc thường buồn. Nhận xét đó có thể đúng.

Bạn phải thức dậy mỗi ngày với nỗi đau buồn ấy

Nhưng ý nghĩa của chuyện buồn hay vui trong thơ không dừng ở đó. Nỗi buồn đau là bậc thang, là cánh cửa mà bạn bắt buộc phải bước lên, phải vượt qua, để đi tới một cảnh quan khác, rộng rãi hơn. Bởi vì khả năng cao nhất của trí óc con người là tưởng tượng, khả năng cao nhất của tưởng tượng là sự đồng cảm- vốn là thứ nhiều khi vượt ra ngoài biên cương ngôn ngữ.
Vẫn Naomi Nye:

Người Ả rập thường nói
Khi một người khách lạ mới đến nhà
Trong ba ngày hãy nuôi nấng anh ta
Rồi mới hỏi: bạn là ai thế?
(6)

Nếu điều này làm cho bạn có chút nghĩ ngợi mông lung, ngay giữa một ngày bận rộn, chuyện này lan qua chuyện khác, đó mới thật là thơ. Ngoài ra, thì không phải.

NGUYN ĐC TÙNG


Thi phẩm của Naomi Shihab Nye

(1)

Kindness

Before you know what kindness really is
you must lose things,
feel the future dissolve in a moment
like salt in a weakened broth.
What you held in your hand,
what you counted and carefully saved,
all this must go so you know
how desolate the landscape can be
between the regions of kindness.
How you ride and ride
thinking the bus will never stop,
the passengers eating maize and chicken
will stare out the window forever.

Before you learn the tender gravity of kindness,
you must travel where the Indian in a white poncho
lies dead by the side of the road.
You must see how this could be you,
how he too was someone
who journeyed through the night with plans
and the simple breath that kept him alive.

Before you know kindness as the deepest thing inside,
you must know sorrow as the other deepest thing.
You must wake up with sorrow.
You must speak to it till your voice
catches the thread of all sorrows
and you see the size of the cloth.

Then it is only kindness that makes any sense anymore,
only kindness that ties your shoes
and sends you out into the day to mail letters and
     Purchase bread,
only kindness that raises its head
from the crowd of the world to say
It is I you have been looking for,
and then goes with you everywhere
like a shadow or a friend.

(2)
When word of his death arrived
We sat in a circle for days
Crying or not crying

Long ago in the other country
Girls balanced buckets
On their heads

(3)
who journeyed through the night with plans
and the simple breath that kept him alive.

(4)
My candle burned alone in an immense valley.
Beams of the huge night converged upon it,
Until the wind blew.

(5)
The facts of this world seen clearly
Are seen through tears

(6)
The Arabs used to say,
 When a stranger appears at your door,
Feed him for three days
Before asking who he is