Thursday, May 23, 2013

THƠ HẢI PHƯƠNG


Chùm Thơ Viết Cho Queen Thời Hậu Chăn Trâu
Ở Hoàng Liên Sơn

 
                                         
                                       Monarch butterfly - by Abbie Blackwell


Bài Thơ Viết Cho Queen

Tóc em trùng dương sóng biếc
Ru mềm đời kẻ lang thang
Hồn em mây cao đỉnh núi
Trắng ngần sương tuyết thời gian .

Tim ta tím bầm roi vọt
Như là roi vọt tình yêu
Hồn ta rối bời sợi tóc
Như là sợi tóc nàng Kiều .

Tình yêu như là mãi mãi
Nhưng ta chỉ có một đời
Xin em hãy gần gũi lại
Cho hồng thơm phút gọi mời .

Ta từ đâu về bụi cát
Hóa thân làm kiếp con người
Tim ta tím bầm roi vọt
Yêu hoài yêu mãi không thôi .

Hồn ta tím bầm roi vọt
Như đêm đọc lại chuyện Kiều .

Saigon 1986


Như Chút Buồn Riêng

Ta còn giọt nắng đêm khuya
Còn em tâm sự buông chia bên đèn
Còn người – người với ta quen
Còn sông nước ấy còn lên xuống hoài .

Em buồn như sợi tóc mai
Ta buồn như sợi tơ dài nối  thêm
Như là như chút buồn riêng
Như là môi mắt em mềm cỏ hoa .

Có người mà cũng có ta
Có em cát bụi kiêu sa một đời
Bao nhiêu mây ở trên trời
Như là như thể dòng trôi dịu dàng .

Bao nhiêu trút giũ thời gian
Chút buồn riêng lại thênh thang cõi người
Thì xin môi mắt em cười
Như là như thể gọi mời cỏ hoa .

Saigon 1986


Nắng Sân Trường Cũ

Như là bươm bướm ngoài vườn
Như là áo trắng sân trường giữa trưa
Như là ngày xửa ngày xưa
Hẹn em dưới phố trời mưa đầy trời .

Như là giọt nắng trên môi
Như là mái tóc đường ngôi rất tình
Như là em mãi làm thinh
Mà xôn xao cả cung đình mộng mơ .

Chuyện ngày xưa đến bây giờ
Trái tim roi vọt không ngờ tươi nguyên
Mắt môi em dáng hình thuyền
Bao nhiêu tâm sự chở riêng sang bờ .

Ngày xưa áo trắng như thơ
Nắng sân trường cũ bây giờ - ngày xưa .

Saigon 1987


Mưa Biển

Nghe mưa từ biển mưa về
Con sông chở nặng lời thề nước non
Trước sau em đã vuông tròn
Mà sao em vẫn còn ngơ ngẩn buồn .

Nghe mưa từ biển – mưa nguồn
Hồn ta gỗ mục sóng cuồng lũ trôi
Nghe mưa từ biển – mưa rơi
Mái hiên từng giọt – đêm mời mọc nhau .

Nghe mưa từ biển -  mưa mau
Trăm con sóng nhỏ giăng sầu trăm nơi
Nghìn năm nhớ biển xa khơi
Con sông chở nặng những lời tình xưa .

Nghe mưa từ biển – trời mưa
Áo khuya lạnh ngắt hồn chưa tạnh sầu
Đêm mưa trắng xóa biển dâu
Dòng trôi tâm sự qua cầu thời gian .

Đất trời chuyển động quan san
Một cơn mưa biển chứa chan dặm trường .

Saigon 1987


EM  VÀ THƠ

từ khi yêu em ta mất hết trí khôn
từ khi vào thơ ta giàu thêm tưởng tượng
em và thơ trộn lẫn trong đời
em là thơ là xương là máu
là kỷ niệm là lâu đài là tình ái
là mây bay là cỏ rối quê nhà
là bè bạn cùng cây trụ đèn ở lại

từ khi yêu em ta không còn trí nhớ
từ khi vào thơ ta lạc giữa cung đình
ngôn ngữ mới không còn mùi vị nữa
ôi, thênh thang thạch động bướm hoa vàng!

từ khi yêu em ta là người điên
từ khi vào thơ ta là loài ốc biển
hát ngu ngơ trên bãi cát xa miền
nghe sóng vỗ mùa đông con triều dâng nước lớn

từ khi yêu em ta bỏ xứ ra đi
từ khi vào thơ ta là người lưu lạc
ta lang thang trên đỉnh núi mù sương
vào rừng cấm tìm giống nòi thuở trước
đã đọa đày, đã tai họa … ngàn năm

ta lạc vào thơ  -  ta yêu thơ mãi mãi
ta lạc vào em  -  xanh biếc một trời riêng.

Apr.1991
ở san jose
HẢI PHƯƠNG

Monday, May 20, 2013

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH


Mùa Xuân Lót Ổ…


 


                                      Nụ hồng ướt mưa. Photo: NT Khánh Minh


Mùa xuân không thể thiếu tình yêu, mùa chim làm tổ mùa người lót ổ…(Huuluan123-vnphoto.net)

    Một đêm có mưa và lạnh, vào cái thời gian còn ít ỏi của mùa đông, mưa đến và đi rất nhanh, tôi vẫn thường để hé một chút của sổ để bất ngờ khi mưa đến có thể nghe tiếng rơi của nó trên mái nhà (nếu nó đến vào ban đêm thì thật là nao núng giấc ngủ, thức giấc, trăn trở với cảm khoái mơ màng trong tiếng mưa xa). Tôi ngưng làm việc, ngước nhìn tấm lịch, mắt như bị giật ra khỏi cơn buồn ngủ bởi cái chữ Spring equinox trong ô số 20 của tháng 3…. Ô, thế cơn mưa ngoài kia là lời chia tay của mùa đông đấy ư. Hay là cái rung chuông nũng nịu của xuân đang mấp mé cuối chân trời?

   Tôi khoác áo lạnh bước ra thềm, hương ban đêm ngất trong, mưa vừa rào rào đây thôi, bây giờ đã là những tiếng rơi không âm thanh, muôn nghìn hạt tan trên thềm như tờ giấy thấm loang lổ dưới ánh đèn mờ nhạt trên hiên. Lắng nghe trong khí lạnh ướt xem có chút gì xao động của hơi xuân chăng. Ngày mai nó đã thực sự mở cánh cửa thời gian để bước vào nhịp sống của chúng ta rồi. Và trong thân thể trẻ trung của cây, của người, những mầm tươi lại tiếp tục nẩy chồi đơm hoa để họ tận hưởng được hết tinh túy ngọt ngào của phơi phới lòng xuân. Họ sẽ đồng hành cùng với xuân cái khí hừng hực của những tế bào đang sinh sôi nẩy nở. Hãy sống và thật trọn vẹn nhé, những non tươi.

   Còn mình thì thế nào nhỉ. Mình sẽ nâng niu những gì đang ở lại với mình. Mình sẽ chăm bón những hơi thở mãi tha thiết với những buồn vui cuộc sống, mình sẽ vẫn bước đi, hết sức có thể theo vẫy gọi muôn màu của cảm xúc thơ, mình sẽ vẫn lắng nghe và gìn giữ những nhịp tim còn biết lay động, gói mở cùng mình những thương yêu, rất thật, cả cho dù, là giấc mơ. Hãy đi với nhau, dẫu có mịt mù điểm tận cùng gặp gỡ, giấc mơ nhé.

   Đã gần 10 giờ đêm. Uống một ly sữa nóng cho ấm đường dẫn vào giấc ngủ. Đợi một điều chúc tốt lành cho một giấc mơ. Giấc mơ cũng là khoảng thời gian chúng ta sống một cõi rất riêng trong miền vô thức. Một cõi sống, rồi có thể ngày mai nó chui vào cái kén riêng của nó, khóc cười một phía khác, của hơi thở. Vẫn mong đêm nay, tiếng mưa cuối mùa là lời ru dịu dàng…

    Và ngày mai tôi sẽ lấy một ngọn nắng non nhất để thắp mừng sinh nhật mùa xuân.

    Thế mà tôi lại dậy hơi muộn. Nhưng lại là hay vì nghe nói trời lúc sớm mù mù như sắp mưa. Bây giờ nắng tràn trề màu hổ phách, cũng ngang bằng màu ly nước trà tôi đang cầm trên tay. Uống một hớp nắng nhỉ. Sao không gọi tôi thức sớm hơn để được đón bước chân đạp đất của mùa xuân trên những bậc thềm, tôi đang lách chách thế thì người bạn đời bảo, nói nhiều quá làm con chim nó hết hót rồi. Vậy đó, chứ cặp uyên ương nào rủ nhau ngày đầu xuân xây tổ để rù rì, và tiếng hót tôi thì chả phải là đã được chắt chiu nghe? Bây giờ thì phải, yên đi, nghe chim nó đang hót kìa. Đã tự bao giờ mình thôi là con chim sơn ca đấy nhỉ. Thôi nhé, không chết tế bào vui nào mà dòng máu xuân đang chuyên chở trong tôi đâu. Dòng thời gian mộng ảo kia đang mở ra những cánh cửa đấy thôi, hồi tưởng, ước mơ, để xem, sẽ mở cánh cửa nào đây. Gió đang thổi ấm và nắng đang chín tới…

    Tôi phải đi để dự một bữa tiệc sinh nhật daffodil vàng, có một đóa từ xa xưa như tiền kiếp đã nở trong vườn nhà tôi, và nói rằng, mầu vàng ấy bắt đầu một giấc mơ. Cộng một lần nữa, tôi sống thêm, mùa xuân của tôi. Mùa xuân của tiếng chuông đánh thức mỗi ban mai, có mùi cà phê cao nguyên quê cũ thơm ngát. Mùa xuân của tiếng đóng lại nhẹ nhàng cánh cửa buổi tối, hương một khúc ca ru ngủ. Mùa xuân của những giấc mơ, bất chợt ghé vào giấc ngủ. Ôi, đó có phải là mùa xuân của tuổi thanh xuân? mà ơn phước sao, lúc nào nhịp tim tôi cũng rộn ràng cảm thấy.

   Hóa ra mùa xuân là thế. Cả tuần này mọi thứ của trời đất, kể cả con người, cứ rạo rực lên theo tiết háo hức xuân phân. Từng đường hoa vẽ lên trước mỗi sân nhà, và ong bay rộn rịp trên bàn tiệc hoa, chúng tới ăn rồi “to go” về nữa, tha hồ mà trữ đầy kho. Và bướm. Những cánh trắng nhỏ rất nhẹ như những nốt nhạc lên xuống nhịp nhàng trên khuôn nắng. Nốt cao nhất là đây, bên thềm nhà tôi có thêm cư dân mới. Cặp chim cu gáy rủ nhau về lót ổ dưới mái cổng, chị chim mẹ nằm im trong tổ, và anh chim bố thì bay tới bay lui rất tất bật, cái tất bật của một anh chồng biết rõ bổn phận của mình, hẳn là cũng với tất cả chăm sóc thương yêu trong từng sợi cỏ khô ngậm trên miệng để lót ổ cho nàng. Thật diễm tình là chuyện uyên ương đôi lứa. Sau những ngày theo dõi, vào một buổi chiều, chúng tôi thấy cả chú chim bố (tôi đoán thế vì chú tha rơm) kia cũng ấp trứng thay thế cho chim mẹ, nó bay về tổ và ngay sau đó nó nằm lại và con chim đang ấp trứng trong tổ thì bay đi.

   Thành ra mỗi sáng, trước khi bắt đầu những việc và thói quen thường nhật, chúng tôi ra thăm chừng tổ chim trước. Mỗi ngày, mỗi ngày bố mẹ chim vẫn thay nhau yên lặng ấp trứng, tôi muốn lấy máy hình chụp, nhưng sợ kinh động chúng, ảnh hưởng đến việc ấp trứng nên những hình tôi chụp được từ xa không được rõ nét lắm, mà cũng bởi chiếc máy hình nhỏ, tay chụp lại không nhà nghề. Lại nhớ một mùa xuân cách đây mấy năm, lần đầu tiên thấy tổ chim hummingbird, tôi đã kê máy hình sát vào chụp, thế mà con chim mẹ vẫn bất động, giờ nghĩ lại thấy ân hận, vì chắc lúc ấy có lẽ nó sợ lắm nhưng vì con mà chịu đựng. Nên lần này, tôi đã dành yên lặng hết mức có thể để chim mẹ được yên tâm, chúng tôi không đi phía cổng đó nữa mà đi cổng sau, tưới cây cũng thận trọng, lỡ có đi ngang thì rón rén như ngày xưa đi ngang giường mẹ vào buổi trưa sợ mẹ thức dậy (thì bị tóm ngay vào để ngủ trưa).

   Lúc này trong nhà tôi lại xảy ra vụ mối. Phải trùm mền cái nhà để diệt mối. Không được đâu, tôi la lên, chim con chưa nở. Vì cái tổ ở dưới cái cổng dính vào khối nhà nên chùm là phải phủ cả mái cổng. Mọi người trong nhà đều đồng ý trì hoãn lại, cậu con trai cũng rất vui vì điều ấy, mỗi khi đi đâu về, lại hỏi tôi, chim con nở chưa mẹ. Mà hình như tôi muốn điều đó kéo dài ra, vì nỗi chờ đợi một tin vui chắc chắn sẽ đến làm lòng mình nôn nả xôn xao khác thường. Như thể chiếc bánh ngon, giữ mãi trong tay không muốn ăn. Để ngâm ngấm cái cảm giác.

   Ngày đã sang tháng 4. Trời đã ấm lên nhiều. Không nhớ chính xác là chim ấp trứng bao lâu. Có lẽ cũng hơn hai tuần rồi. Chúng tôi thăm nó nhiều lần trong ngày. Đêm kia trời bỗng mưa. Tôi chạy ra thềm. Cặp chim cu gáy chọn nơi xây tổ nằm cữ khá là chính xác, lá phủ kín thế chắc mưa không tạt vào được. Yên tâm tôi vào ngủ. Nghĩ cũng vui, cả nhà ba người đang cùng có một quan tâm, và rất ý hợp tâm đầu về mọi chuyện liên quan đến nhà chim. Manh nha một nỗi buồn trong tôi, nếu chim non nở và chúng sẽ bỏ đi, rộng một bầu trời cho chúng, đâu biết để lại cho tôi nỗi trống vắng khi phải nhìn chiếc tổ nhỏ bé đã một lúc ấm hơi thở của tình mẫu tử, tình gia đình.

    Một tối, chưa khuya lắm, tôi nghe tiếng chim gáy u u ngoài thềm, tôi vội vã chạy ra, đêm rồi sao nó còn kêu vậy. Tôi nghe những tiếng soạt nhỏ phía tổ chim, như tiếng lá quẹt nhau. Yên tâm, tôi vào ngủ. Sáng hôm sau, lại thăm chừng, tôi nhìn lên, không thấy gì ngoài con chim mẹ đang xoay xoay liên tục. Chồng tôi cũng nhìn lên, và vì anh cao hơn nên đã thấy và nói nhỏ - có chim con rồi! hai con!-. - bắc dùm minh cái ghế, mau lên- tôi nói với giọng cuống quít và, ô tôi thấy đầu con chim bé nhô lên, cái đầu màu xám ướt, rồi sợ làm chúng sợ, chúng tôi rón rén đi xa cái tổ. Tôi cười và thấy lòng vui sướng. Tràn ngập. Sự sinh nở, là thông điệp tuyệt nhất về sự mới mẻ của điều đầu tiên. Một tiếng khóc vừa lọt lòng mẹ. Một chồi non vừa nhú. Một mặt trời nõn hồng vừa trồi lên mặt biển đầu ngày.

   Chồng tôi cũng đã canh chụp được hình bố mẹ con nhà chim. Đây cũng là một việc làm hơi lạ, của anh. Khi chúng tôi đang mải mê xem cái hình thì nhận được điện thoại bên nhà, báo tin con dâu tôi vừa mổ, sinh một bé trai! Hai chúng tôi cùng cười vang, tuyệt vời quá. Cùng ngày với hai con chim non vừa nở bên mái cổng nhà tôi. Sau đó con trai ở Los cũng gọi, - mẹ, chị Hạnh sinh rồi đó- - mẹ vừa biết đây, mà con biết không hai con chim non nhà mình cũng ra đời đấy- - Vậy ạ, vui thiệt há- Tôi nghe tiếng cười của con trai. Chia sẻ làm sao! Cái khí lạnh mùa đông tan ra, ngọn núi xanh mềm dưới nắng hứng trọn mùa xuân vừa đến.

    Tôi những muốn, bế con chim non bé bỏng kia vào bàn tay ấm áp của tôi.

    Đêm, kéo chăn lên ngang miệng tôi thấy mình tràn đầy xúc cảm. Tim thổn thức như đang nghe một lời tình tự. Tôi muốn hát một lời ru mà tôi từng nghe trong giấc mộng. Ru cháu bé trai giấc ngủ đầu tiên trên cõi đời, giấc ngủ môi thơm mùi sữa, giấc ngủ lòng mẹ ấp ưu. Ru cho những cánh chim thân yêu bên mái thềm sẽ ở mãi trong tổ ấm hương gia đình ấy. mai hay mốt. chắc đời tươi đẹp/ ta vẫn tin. như nghĩa đá vàng/…xin em ở. cho chim cùng ở/ cõi lòng ta sẽ ủ bếp hồng…(Thơ Nguyễn Xuân Thiệp) ru tôi bay vào đêm trăng mộng có vòng tay thơ ôm tôi thanh bình. Ru ngon một giấc mơ. Cho tôi nghe nồng nàn cõi riêng mình một mùa xuân về lót ổ những lời thơ hạnh phúc.

   Lót ổ tạo một tổ ấm, lót ổ để chào con ra đời của mọi động vật, người nữa, cũng đúng vậy, tôi cũng muốn dùng hình ảnh ấy tượng trưng cho bất cứ sửa soạn nào với ý đón chờ một điềm lành. Còn gì ý nghĩa hơn sự sinh nở, còn gì quấn quít hơn đôi bạn tình rủ nhau xây mái ấm, và còn gì ơn phước hơn là mùa xuân đẹp đẽ này là tổ nuôi muôn ý thơ trên đời? Hình ảnh ấy đối với tôi, thiêng liêng đến thế, nên thơ biết là chùng nào, mà khi tôi nói cùng Vỵ, tôi vừa viết một tản văn Mùa Xuân Lót Ổ, bạn cười bảo, cái tựa cải lương. Không sao, chả phải các bạn trẻ khi tán tỉnh nhau đã từng đùa, có cải lương nó mới tới, đó sao.

   Nhân đây, tôi chép lại một đoạn rất cảm động về chuyện lót ổ của một loài chim, chuyện thần thoại kể cho học sinh lớp 3, bạn Vỵ xem thử có cải lương không nghe, (câu đậm nét là câu làm tôi ưng ức trong ngực) “Chim Thiên Đường đi tha rác về lót ổ để chuẩn bị cho mùa đông sắp đến. Mỗi khi tìm được chiếc lá đẹp, các bạn như: Sáo Đen, Gõ Kiến,… ngỏ lời xin, Thiên đường đều vui vẻ tặng lại các bạn. Lâu lắm, Thiên Đường mới tìm được cụm cỏ mật khô vàng như màu nắng. Về qua tổ Mai Hoa, thấy bạn ốm, tổ tuềnh toàng, Thiên Đường gài cụm cỏ che gió cho bạn. Rồi Thiên Đường lấy mỏ rứt từng túm lông mịn trên ngực mình, lót ổ cho Hoa Mai.
   Mùa đông đã đến. Những cơn gió lạnh buốt thổi vào chiếc tổ sơ sài của chim Thiên Đường. Chim Thiên Đường loay hoay sửa lại tổ, che kín được mặt này thì mặt kia lại trống hoác. Bộ lông màu nâu nhạt của Thiên Đường xù lên, trông thật xơ xác và tội nghiệp.Chèo Bẻo bay ngang qua, trông thấy thế vội loan báo cho mọi loài chim được biết. Sáo Đen, Gõ Kiến, Mai Hoa, Bói Cá… cùng rất nhiều bạn bè khác bay ngay đến sửa lại tổ giúp Thiên Đường. Ai cũng yêu quý người bạn tốt bụng nên chẳng mấy chốc Thiên Đường đã có một chiếc tổ rất đẹp. Chèo Bẻo chợt nảy ra một ý định và đem bàn với các bạn. Lời Chèo Bẻo được các bạn tán thưởng. Lập tức, mỗi chú chim rứt trên bộ lông của mình một chiếc lông quý: chiếc màu đỏ thắm, chiếc màu xanh cánh trả, chiếc màu vàng tươi, chiếc đen tuyền…. gom góp lại thành một chiếc áo đem tặng chim Thiên Đường.
   Từ đó, chim Thiên Đường luôn khoác trên mình một chiếc áo nhiều màu rực rỡ, vật kỉ niệm đầy ý nghĩa của biết bao loài chim bè bạn.TheoTrần Hoài Dương. Violet.vn”

   Tôi tin vào cái Đẹp trong những chuyện thần thoại, những lý giải trong thần thoại luôn hợp với “nhân chi sơ tính bổn thiện” và nói lên khát khao của con người vươn tới cái đẹp, hoàn hảo - là điều khó thấy trong cuộc sống-. Xin các bà mẹ trẻ, mỗi tối nhớ đọc cho con mình nghe những chuyện cổ tích thần thoại hay hát ru những lời ca đẹp, đó là hạt mầm nuôi tâm hồn luôn hướng về Chân Thiện Mỹ, theo tôi.

   Chú chim cu gáy vừa mở mắt trong tổ rơm dưới mái cổng nhà tôi để thấy bầu trời xanh trong hơi ấm của lòng mẹ, và, Khánh ơi, cháu cũng đang ngủ no trong ổ rơm chắt chiu của bố mẹ, những sợi rơm vàng óng tươm mật chúc phúc của bà mụ mùa xuân, từ nơi đó cháu sẽ được cấy từng ngày lớn lên, tin yêu và mạnh mẽ.

   Và tôi, tôi mơ màng những cọng gió đang kết thành những sợi tơ lót ổ cho tôi thêm một mùa xuân nữa trong dòng thời gian. Có phải là mùa xuân trẻ trung của tâm hồn nuôi nấng cho tôi một giấc mơ. Và không có cơn bão nào làm kinh động giấc mơ đang chờ cắn vỏ để nhìn mặt trời mùa xuân…

Mùa xuân, April 8 2013

Kỷ niệm Quý Khánh chào đời




Đoản văn Lưu Na


TẬN CÙNG





Khi những ngày lễ Mẹ qua đi, một lúc nào đó tôi chợt nhận ra mình cứ vương vấn nghĩ hoài đến Ba dù tháng Năm chưa qua hết.

Tháng Năm là tháng của những cành hoa tim tím bé xinh xinh _ dẫu tôi biết Jacaranda không phải là loài hoa được nhắc đến trong bài hát đó.  Giữa những ngày nóng gắt cho mùa hè sắp tới sẽ là những ngày xám ướt ủ ê, để hoa tím được đong đưa trong gió, được rơi lả tả tím ngát con đường rợp bóng cây.  Tôi mang máy hình lên xe, định tâm đi tìm những cành hoa tím rồi không hiểu sao lại về nơi dốc đồi nghiêng.  Ngồi dưới trời bao la, nhìn những chiếc máy bay nhỏ lên xuống lượn vòng vèo như đua chen với những lằn xe cộ nhung nhúc bên dưới tôi nhớ những ngày về lại quê nhà để tang Ba. 

Ba qua đời đã lâu, kể như là lâu lắm.  Tôi về, xác Ba ngay ngắn trong hòm đã đóng chặt với một khung kính vuông cho người xa về được thấy mặt.  Màu da dường như vẫn tươi, râu vẫn còn nhú ra lún phún.  Sự sống, không phải mình chết đi là hết cả hay sao? 

Tôi quanh quẩn bên quan tài chứ không đi đâu vì tôi vẫn là kẻ lạ trên quê mình, không chỉ là nỗi cảm nhận mà còn là những ánh mắt tò mò của nhà phường đám ma mà tôi bắt gặp.  Mỗi khi họ hàng chòm xóm người quen ghé thắp nhang, tôi vẫn theo đúng thủ tục lạy trả để người chết không mang nợ ai.  Có người những người nghiêm trang mặc niệm rồi thắp nhang vái lạy, có những người cắm nhang vào bát hương rồi mới quỳ xuống lạy.  Mỗi một cách lạy cho tôi biết một chút về người đến viếng, tôi nhận ra mình cũng đã chân thành đáp lại theo đúng cung cách thọ nhận.  Nghi lễ, khi được làm với trọn lòng cho tôi biết ý nghĩa của thành kính. 

Khi xác Ba đã về lại bụi tro, Ba được đưa vào chùa Vĩnh Nghiêm nơi Ông và Cậu đã ở sẵn.  Mỗi sớm mai khi trời còn trong mát, tôi đạp xe một vòng.  Ra khỏi đầu hẻm thì quẹo phải xuôi xuống đường Trương Tấn Bửu. Con đường hèm hẹp cong cong, dù rộn ràng người đi chợ đi làm cũng vẫn gieo chút bình an trong lòng đứa con gái quê mùa.  Ra tới đường Công Lý thì lại quẹo phải, băng qua cầu vào chùa Vĩnh Nghiêm.  Tôi vào tháp cốt, loay hoay tìm Ba tìm Ông tìm Cậu.  Rồi tôi lại đạp xe xuống Sài Gòn, băng qua những hàng cây những con đường rộng phẳng trước khi lao vào dòng xe cộ ồn ào đầy ối người buôn bán làm ăn.  Tôi quẹo xuống Thủ Khoa Huân, quanh co những con đường nho nhỏ mà đi mãi lúc còn nhỏ bây giờ không nhớ được tên, rồi về lại Trương Minh Giảng.  Đạp xe dưới hàng cây cao và luôn luôn quẹo phải thành ritual hằng ngày, cho đến khi tôi về lại nơi mình đang sống.  Đó là những lúc tôi triền miên nhớ những kỷ niệm vụn vặt nho nhỏ chả ý nghĩa gì lúc Ba còn sống, những chi tiết thật là tào lao mà không hiểu sao tôi vẫn nhớ hoài.  Tôi đạp xe dưới những hàng cây, tưởng như trong mỗi chiếc lá có mắt của Ba nhìn xuống, tưởng trong tiếng lá lao xao có tiếng Ba sắp nói một chuyện vớ vẩn gì đó chỉ với riêng tôi.

Phải nói rằng chúng tôi không thích Ba lúc Ba còn sống.  Ba Má luôn cắn đắng cãi nhau.  Má luôn lớn tiếng phản đối, Ba luôn lẩm bẩm chì chiết đắng cay, và các con luôn theo phe Má quật cường can đảm gồng gánh để chống đối Ba nhu nhược ích kỷ.  Cũng là rituals, những rituals buồn bã trong tuổi thơ tôi.  Ở giữa cái hỗn loạn của đời sống, tính cách của Ba như những giọt nước chầm chậm từ từ và kiên trì.  Ba thủng thỉnh sống cái cách của riêng mình mặc cái chuyện vợ con nghĩ sao.

Nhưng không chỉ có vậy, những điều tôi nhớ về Ba.  Khi Má cằn nhằn Ba vụng về mua trật cỡ cái vòi nước, Ba phân bua với tôi nó bằng đồng thiệt _ Ba giải thích sao tôi không nhớ, nhưng tôi hiểu, tôi đồng ý và thấy như cái lỗi vụng về kia có chỗ để cảm thông.  Như khi Ba nói tại sao Út Bạch Lan được gọi là Sầu Nữ, chỉ cho tôi nghe cái buồn thương tự nhiên trong giọng hát, tại sao giọng Hoàng Oanh trong và khỏe nhưng ngâm thơ không thể hay hơn Hồ Điệp, hay lẩm cẩm hơn là tại sao mình không nên phơi quần áo ngoài sương qua đêm, tại sao Ba thích ăn cơm thố với canh cải xanh dù tiệm Tàu có nhiều món ngon đặc sắc thịt thà…  Những chuyện vụn vặt đó cho tôi thấy một tâm hồn mẫn cảm, mà mấy mươi năm sau tôi mới đủ hiểu biết để nhận ra rằng tâm hồn nghệ sĩ không phải ở văn hóa cao ở tài năng lớn hay dồi dào.  Những điều vụn vặt đó là bước khởi đầu cho tôi hiểu khác biệt giữa nghệ thuật và mỹ thuật.  Tôi ngờ Ba cũng là một “tiếu tự thư sinh lạc đệ thì…,” cũng chỉ là một nhà nho lạc thời lạc quẻ mà chẳng may cái tật lạc quẻ đó đã truyền xuống cho tôi.

Như bây giờ, tôi đi tìm hoa tím mà lại lạc quẻ về nơi dốc đồi nghiêng để lòng tơi tả nghĩ tới những điều đã cũ đã qua và không thể nào khác.  Chắc chắn ở một nơi nào đó người ta đã trồng cây hoa tím, nhưng nó phải nở phải rơi mỗi tháng Năm.  Và nó phải màu tím.  Như Ba phải là Ba, lỡ phận lỡ thời.  Khi hoa tím rơi xuống, khi Ba nằm xuống, một phận một đời qua đi trọn vẹn, và chỉ khi xế bóng khi đã sống qua nhiều nỗi muộn phiền tôi mới hiểu được cái điều không nói nơi cách sống của Ba.  Bây giờ, dẫu muốn từ bỏ cõi đời tôi cũng sẽ như Ba, sống trọn cái phận mình đã sinh ra dẫu thế nào mặc dầu, sống cho hết kỳ hoa nở, hết phấn hương, hết mọi nỗi nhọc nhằn.  Dẫu đời nhẹ khôn kham, dẫu kiếp nhân sinh rất nhẹ, sự sống là một điều to tát lớn lao mà tôi e rằng chỉ khi sống trọn vẹn phận mình mới may ra hiểu được cái đẹp cái huyền nhiệm.

Nơi dốc đồi nghiêng tôi tưởng thấy muôn cánh hoa tim tím bay bay trong gió phủ tím mặt đường, lòng da diết nhớ…

Con đường em về năm xưa
Có biết hay chăng bây giờ
Hoa tím thôi không chờ nữa
Chỉ còn ta đứng dưới mưa…

Tôi nhớ Ba.

Lưu Na
05/16/2013

Thursday, May 16, 2013

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN


t ặ n g  n g u y ễ n  x u â n  t h i ệ p



                                        Hai người bạn. Tranh của CHOÉ

giả bộ úp lá
thiệt ra ván bài đã lật ngửa
người trôi bềnh bồng.  cây.  và trái
kết của nhân
nụ                               
                        từ
mắt đã thuý bích
mềm năng lượng.                  xanh đời
tôi tự nhận là kẻ rộng lượng
thiệt ra chỉ là cách túm áo hỏi mình
trù trừ tới lúc tuột hết khuy
búp sen tưởng chừng nhu nhú
rộng lượng tôi không bằng độ lượng anh
người thi sĩ như chim chích giữa cuộc thế oi nồng
một xác thần nhỏ nhoi nơi đấng trời
và rừng người
độ lượng thơ anh luôn có sắc mầu những bông hoa
thanh âm sấm động buổi chiều
và mặt trời ban mai ửng đỏ
xưng tên một ngày mới
tâm hồn mới
nhốt hận thù vào kẽ rêu
và ở cùng cỏ cây.  đá sỏi
[ hòn đá lăn trên đồi ]*
rớt xuống hang hóc tối ám
bật tung lên những đỉnh cao hú trời

người thi sĩ ấy sống thâm trầm giữa người
trên thảo nguyên những bầy sói
không hề mặc cảm
bởi vì sương đã làm tan những gợn sóng hồ thu
người thi sĩ gom thơ lui về tưởng dung thu dọn những chiếc vỏ ốc mơ hồ
đơn phương bờ bãi
rồi nhìn ra thế giới triệu triệu vết thương ngời sáng
con tim và ngày hội
nơi có bằng hữu giao lưu
những chiếc ly thuỷ tinh
hồng hào thêm máu rượu

hãy cụng ly mừng nhân loại mới
cho tôi được trở về nơi rộng lượng
rút kíp tôi từ hạn hẹp môi cười
những sải bơi lặng lờ
ngoài vô tri đáy thẳm

HoàngXuânSơn
ngày 8 tháng 5 mười ba
*Ngẫu Nhiên, Trịnh Công Sơn

KÝ ỨC SƠ SÀI


Nguyễn Anh Khiêm

 

                                 Tranh Duy Thanh

22

       Mục mới “Ngôn Ngữ Của Đảng CS Việt Nam” được tập hợp thành từ điển trên trang Vietstudies của giáo sư Trần Hữu Dũng chắc được độc giả theo dõi với nhiều thích thú. Từ ngữ ở đó đương nhiên là cũ, tức vẫn thuộc vốn từ của dân tộc Việt nhưng rõ ràng ngữ nghĩa thì khác nhiều với nghĩa truyền thống chúng vốn có. Đặc biệt chúng được liên tục dùng theo “thời vụ”, đầy tính công thức nên mau chóng trở thành sáo ngữ và chắng mấy chốc ngầm chứa  hài hước, không nhiều thì ít, đối với người không hứng thú mấy với chế độ Bắc kỳ toàn trị. Chẳng hạn từ “bọn xấu” nay không còn nghĩa bọn ác độc chuyên giết người cướp của, tham lam lừa gạt…mà có nghĩa phổ biến chỉ “bọn” hay phê bình hoặc bày tỏ ý kiến bất lợi cho chính sách cai trị của Đảng. Trị dân càng độc đoán thì càng phải vận dụng chữ nghĩa, chữ mang nghĩa mới càng phát triển vì nhu cầu biện minh, giải thích lòng vòng. Tỉ như xưa nay vẫn nói quốc kỳ hoặc cờ nước, nếu muốn dùng chữ Nôm, nay thì phải là “cờ tổ quốc”, tức phải hiểu cờ đó đã có từ thời ông cố ông tổ xa lắc xa lơ. Mọi người đều biết sự thật không phải vậy nhưng vẫn…OK nói như vậy vì truyền thông, báo chí dạy nói vậy. Tự nhiên như… người Hà Nội! Người ta không thể đặt thêm từ nên đành dùng từ cũ để cấu tạo nhóm từ tạo nghĩa khác, nghĩa đôi khi chung chung, khá mơ hồ. Chẳng hạn “diễn biến hòa bình”, theo nghĩa thông thường phải là tốt nhưng ở đây phải hiểu có nghĩa vô cùng xấu xa chứa đầy âm mưu đen tối, chống Đảng, tức là chống “tổ quốc”! Rõ ràng chưa có thời nào ntừ tiếng Việt lại biến nghĩa rầm rộ tràn ngập như ngày nay.

        Mà không chỉ từ và ngữ, những thay đổi về cách diễn đạt tức các kiểu câu mới đáng chú ý. Xem một trận đá banh trên TV, tôi chỉ biết thở dài thườn thượt kiểu nói của mấy tay bình luận. Trăm lần nói chỉ một kiểu câu: Cú đá vừa rồi là của…Cản phá vừa rồi là của…Cuộc thoát xuống là của…Phạm lỗi là của…Người bị phạm lỗi là…(Lúc nào cũng chăm bẳm danh từ hóa động từ tất chỉ còn cách dùng LÀ làm trung gian câu và chỉ độc một kiểu câu này suốt buổi, tại sao “kiên định” quá vậy?). Thay vì nói “rất cần thay đổi chiến thuật” thì lại nói “đa sự”, “những sự thay đổi chiến thuật là rất cần”. Thay vì nói “thủ thành lao ra bắt dính banh” thì lại nói rất chữ nghĩa “thủ môn có cuộc lao ra để có cuộc xử lý bóng chính xác”. Chỉ cần nói “phải chi anh đá nhanh hơn may ra thắng bàn” thì nói “anh không thể có được cú đá nhanh hơn để xử lý tốt tình huống”. Thay vì nói “đội chủ nhà không thể phản công” thì bảo “không có giải pháp phản công cho đội chủ nhà”. Mệt tai thiệt chớ. Câu này nữa, mới khổ: “Đội X với tình trạng hiện nay là rất là khó khăn”. Sao không nói “đội X đang gặp khó khăn lớn”, từ chỉ hơn phân nửa, câu dễ nói, ý rõ hơn. Thay đổi cách nói thì cũng được nhưng sao thay đổi một trăm kiểu câu phong phú của Việt ngữ bằng mỗi kiểu từ LÀ làm trung gian? Mà đâu phải một anh nói, anh nào cũng nói một kiểu như thế, lúc đầu là cái nôi “văn hóa” VTV, nay thì mọi TV, HTV còn bắt chước kỹ hơn. Thường vẫn vậy, học trò luôn thực hành nghiêm hơn thầy! Xin hỏi quí ông bà anh chị một lần, nói thế thì được cái dài hơn, chữ Hán cầu kỳ hơn, nhĩa tối hơn, còn hay hơn là hay chỗ nào xin “chỉ đạo” một lần cho kẻ kém cỏi như tôi được quán triệt! Nghe mãi kiểu tường thuật dài dòng, cầu kỳ và lạt nhách như vậy tự nhiên nhớ tới se lòng chuyên gia tường thuật túc cầu Huyền Vũ của đài phát thanh Sài Gòn thuở trước. Ông này không biết học ở đâu hay thiên tài tự phát mà làm mê mẩn hàng triệu con tim tín đồ túc cầu giáo của miền Nam một thời đá banh , hân hoan vui vẻ. Không cần đến sân Cộng Hòa- nay gọi sân Thống Nhất- xa xôi nắng nôi tốn tiền, nằm nhà ôm cái radio transistor cũng đủ “thấy” quả da lăn tưng bừng trên sân cỏ. Thậm chí thiên hạ mê ông tới nỗi đến sân trực diện trái banh rồi vẫn phải mang theo radio để được nghe ông nói. Thỉnh thoảng ông nhắc oang oang trên máy:
       - Xin quí vị ngồi gần chỗ chúng tôi vặn nhỏ radio  lại hầu đỡ gây trở ngại cho chúng tôi trong việc tường thuật, xin đa tạ.
       Nói tường thuật nhưng thật ra ông miêu tả cụ thể, lời tường thuật phong phú, diễn tả sự việc hết sức sống động, hoạt cảnh như hiện ra trước mắt, đôi khi đưa ra những nhận xét riêng độc đáo với ngôn ngữ văn vẻ rất thú vị. Chẳng hạn:
       “Anh dùng mũi giày hãm đà banh, lắt léo thần tình thoát ra sự truy cản của hai chiếc áo đỏ, đem banh xuống, xuống nữa…anh trả ngược lại sát mép cột dọc lọt qua cả rừng chân…Thưa quí vị, Ngôn- chân- trái vừa dứt tung lưới đội Quan Thuế, đóng thêm cái đinh trên thảm bại của đội này. Bóng chiều đã ngã dài trên sân cỏ Cộng Hòa, trận cầu chỉ còn 5 phút phù du, khán giả quanh chúng tôi đã lục tục ra về…”
       Tôi ghi lại theo ký ức hao mòn, không đủ tài diễn được sự hào hứng không cùng khi nghe Huyền Vũ tường thuật đá banh. Tôi tin những cái tape tài liệu đó vẫn còn lưu ở đài phát thanh Sài Gòn, ước gì các biên tập viên thể thao của “bên thắng cuộc” chịu khó nghe, may ra họ nghĩ lại cách nói của mình sao cho đỡ phần nào hư hao Việt ngữ.
        Nhớ hồi Thanh Tâm Tuyền còn sống, ảnh cứ cười kiểu nói “trời có khả năng mưa”, anh không ngờ ngày nay người ta không còn nói…giản dị (!) vậy nữa mà phát triển thành “khả năng trời mưa là rất lớn”. Câu nào cũng phải LÀ, hình như không là …là sai pháp lệnh. Từ thuở hình thành đất nước, tổ tiên ta vẫn dạy tiếng Việt không bao giờ cần đặt LÀ trước tính từ làm vị ngữ câu. Đóa hoa rất đẹp, bài hát quá hay, anh chị tử tế lắm chứ chẳng ai nói cái hoa rất là đẹp, bài hát rất là hay, anh chị rất là tốt…nó thừa và dở tệ. Nay thì văn nói và viết như nhau, không trực tiếp dùng động từ, tính từ nữa mà gần như tuyệt đối nói, viết theo cách biến động từ tính từ thành danh từ, đặt lên đầu câu làm chủ ngữ, thế rồi phải có LÀ tiếp theo…tỉ như « khả năng thất bại của công ty là rất lớn »,  « khả năng được hỗ trợ của đơn vị là rất nhỏ », « khả năng giải thể công ty là rất lớn », « tình cảnh  khó khăn của làng nghề là rất nghiêm trọng»…Sao không nói dễ nghe hơn : công ty rất có thể thất bại, đơn vị khó tìm được nguồn tài trợ, công ty có nguy cơ bị giải tán, tình cảnh làng nghề quả thật khó khăn…
       Ngôn ngữ nào cũng vậy, tệ nhất cũng phải đủ lời đủ ý rồi làm sao ít lời đủ ý, cuối cùng ít lời nhiều ý là các văn bản nghệ thuật, thơ chẳng hạn. Hồi nhỏ có lần tôi nghe ông bác họ tuy ít học nói với một anh chàng người làng có tật ba hoa : « mi nói cả buổi mà tau cô lại không được chén nhỏ ». Bác mà còn sống chắc ông không khỏi ngạc nhiên nghe nhiều vị tiến sĩ, nhiều ông quan lớn phát biểu chỉ đạo trên TV hoặc qua phỏng vấn các thứ khiến thính giả phát bịnh : dài, dai, tránh trớ, câu hỏi và câu trả lời không ăn nhậu gì tới nhau và có vẻ chính họ đôi khi chắc cũng không biết mình muốn nói gì. Sao lại có một thời thổ tả lạ lùng cùng những loại tiến sĩ dỏm và giả ngập tràn trên đất nước khốn cùng về văn hóa quá mức chịu đựng như vậy.
      Vào được fb, thỉnh thoảng thấy có người than phiền về âm nhạc, ca khúc VN hiện đại, tôi cũng muốn xía vào đôi chút lãnh vực mình không đủ thẩm quyền, nhưng thây kệ, chẳng hạn mình đâu có làm thơ hoặc có làm thơ… dở nhưng vẫn chõ miệng nói chuyện thơ, có hề gì đâu!
       Tôi cũng nghĩ như mấy ông, chưa từng có hiện tượng “văn hóa” nào quái đản bằng cái gọi là âm nhạc, ca khúc VN hiện nay. Nhạc thì đích thị chẳng dây dưa gì tới thứ xưa nay nhân loại vẫn gọi là âm nhạc, tìm đỏ mắt chẳng ra bài nào gọi là có chút giai điệu, còn lời ca thì thô lậu, ngô nghê thua hẳn lời nói bình thường và tầm thường nhất. Nhưng, lạ lùng thay, mấy người viết ra thứ ca nhạc đó vẫn được gọi nhạc sĩ một cách trang trọng, người la hét mấy bài đó vẫn là ca sĩ. (Có người nói lái kiểu Bùi Giáng, họ là “ca sĩ của đảng” tức ca sãng của…). Đặc biệt hơn hết, họ giàu chưa từng thấy, nhất là đám ca hét, uốn éo trong ánh đèn màu chớp nháng quáng mắt. Đã đành, VN bây giờ  là xứ sở của nghịch lý. Nghịch lý gần như tất cả mọi lãnh vực khác, tuy phải tìm nguyên nhân xa gần mệt mỏi, nhưng vẫn có thể hiểu ra. Riêng cái kiểu đờn ca đang thịnh hành là một sản phẩm tinh thần quái dị, không cách gì hiểu được vì sao nó phát  triển và được đông đảo người trẻ hưởng ứng, do đó đem đến giàu có khiếp đảm cho bao nhiêu người làm thứ “nghệ thuật” kinh hoảng đó.
      Nhận xét về lời ca, sau khi bỏ qua phần nhạc điệu, Nguyễn Hưng Quốc cho rằng nghe những ca khúc VN khiến ông phát bịnh vì lời ca dễ dãi, sáo mòn và cũ mèm. Đây có thể  ông chỉ nói tới nhạc VN tiền chiến và miền nam thời nội chiến. Ông trích mấy đoản ngữ như «dòng suối lững lờ”, “mối sầu vạn cổ”, “tim rạn vỡ”…để mà ớn. Theo tôi, nếu ông công bình hơn thì hẳn thông cảm các nhạc sĩ tiền chiến. Họ viết các ca khúc đó cùng thời với sự phát triển của thơ mới. Ca từ của họ mang hơi hám của thơ mới mà nay ai cũng biết không còn mới và những mỹ cảm lãng mạng kiểu đó nay đà lạc hậu.Thật ra, không hẳn tất cả chúng đều quá tệ. Lời trong nhạc Văn Cao cũng rất sang trọng:

Thiên Thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân tiên thiên em ngờ phút mê cuồng có một lần.
Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần…

Sông Lô, sóng ngàn Việt bắc bãi dài ngô lau, núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu
Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa…

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về…
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông…
       
       Lê Thương cũng viết nên những lời ca lộng lẫy, đầy hình tượng:

Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng
Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về
Ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề
Nhìn chân trời xanh biếc bao la
Người mong chờ vẫn nhớ nơi xa

Đường chiều mịt mù cát bay tỏa bước ngựa phi
Đường trường nếp tàn y hùng cường vẫn còn bay trong gió
Bóng từ xa sắp dần qua bóng chàng chập chùng vượt núi qua khe
Với hành lương độ đường, chiếc hùng gươm danh tướng
Dưới tà huy đếm nhịp đi vó ngựa phi
Dấn bước tang bồng giữa nơi núi rừng
Bên nợ tình thâm, bên nợ giang san
Bên đồi ai oán, bên rừng đa đoan, tiễn đưa bóng chàng…

       Tứ thơ dồi dào, chữ nghĩa có vẻ sáo nhưng vô cùng thích nghi với nội dung chuyện kể. Thậm chí nếu không có mấy từ ngữ “dưới tà huy”, “nếp tàn y”, “bước tang bồng”, “hành lương độ đường”, “hùng gươm danh tướng”…thì…hết hay. Và tuyệt vời biết bao: “Đồi ai oán, rừng đa đoan tiễn đưa bóng chàng”
       Khi nhạc cần đến thơ thì hầu như phải thơ…dễ một chút. Hình như Phan Xuân Sinh có lần hỏi Phạm Duy sao không phổ nhạc thơ Tô Thùy Yên, ông bảo thơ đó “trí tuệ” quá, khó lắm! Không tưởng tượng được đem thơ vắt dòng đi phổ nhạc. Chẳng lẽ:

Nàng có ba người anh đi bộ
đội những đứa em nàng…

       Còn thơ “hậu hiện đại” các thứ thì…vô phương, phải không? Muốn thoát ra khỏi không khí thơ mới cũng như các ca khúc ướt át miền nam, Trịnh Công Sơn có vẻ là người nỗ lực cách tân lời ca nhất. Tuy vậy, nhờ giai điệu dịu dàng nâng đỡ ta lướt qua chớ chữ nghĩa của ông cũng nhiều chỗ…làm khó người nghe không ít. Ví như : vết lăn, vết lăn trầm, hằn lên phiến đá nâu thêm ưu phiền, như có lần chim muông…hằn dấu chân người đi phiêu du từ đó…Rõ ràng lời thì đẹp nhưng tìm liên kết các ý với nhau… mệt nghỉ! Câu này nữa: em đi về cầu mưa ướt áo, phải nói lại em đi cầu về mưa ướt áo thì mới đúng…ngữ pháp! (xin lỗi nhạc sĩ nơi vĩnh hằng, tôi đùa giỡn chút, đời buồn quá!).
       Nhạc Phạm Duy có vẻ cần đến thơ lung lắm. Có người nói rằng nhiều thi sĩ nhờ Phạm Duy mà được đời biết đến. Nếu quả thế thì mấy nhà thơ đó không phải thứ thiệt hoặc quần chúng đợi phổ nhạc mới đọc tới thơ họ thì cũng chẳng biết phải nói gì. Ở đây quả thật không biết ông thần cậy cây đa hay cây đa cậy ông thần. Cung Trầm Tưởng có lần nói đúng, thơ tự nó đã có nhạc nên phổ nhạc thêm cho nó chỉ là chuyện vẽ rắn thêm chân, (mặc dù Phạm Duy đã viết nhạc cho thơ của ông). Thật ra, nhạc cổ điển tây phương đâu cần tới thơ. Beethoven viết nhạc cho thơ Schiller trong Huynh Đệ Giao Hưởng Khúc là một chuyện hiếm. Nhân đây cũng nói luôn chuyện ngâm thơ. Tôi vô cùng ngại nghe ngâm thơ theo tiếng sáo tiếng đàn uốn éo dặt dìu. (cũng như hồi còn đi dạy sợ xem giáo viên trường này trường kia múa, lạnh lạnh sống lưng, về bịnh). Những ngân nga kéo dài lời thơ ê a ư ử làm khổ đôi tai phải kỳ khu nhận ra từ để hiểu nghĩa. Mấy điệu ngâm ẻo lả đó phải hay ho gì cho cam mà làm khổ thiên hạ như tra tấn không bằng. Thơ phải chăng chỉ nên đọc lên theo cảm xúc của mình mà sách vở gọi đọc diễn cảm (xin khẳng định không phải đọc diễn cảm bằng cách nhấn giọng tùy tiện rất nhảm nhí của phần lớn giáo viên tiểu học và mẫu giáo dạy cho trẻ nhỏ hiện nay, nghe các em thiếu nhi kể chuyện trên TV, tôi ngượng ngùng vì thấy rằng kiểu diễn cảm đó không dây dưa gì tới tiếng Việt. Chẳng hiểu ai bày đặt thứ ngữ điệu bằng cách nhấn mạnh từ, đụng đâu nhấn đó theo chủ quan người dạy, chướng tai kỳ quặc bao nhiêu năm rồi, Việt ngữ thật ra rất ít trường hợp nhấn từ, Cao Xuân Hạo không nói sai. Không hiểu do đâu mà xứ ta, chỗ nào cũng thấy sai, tại người có quyền chỉ đạo ngồi không đúng ghế chăng? (tự nhiên nhớ tiếng Việt vui của Phan Khôi: sai thì sửa, sai đâu sửa đó, sửa đâu sai đó, sai đó sửa đâu? Tiếng Việt thú vị, có lần mấy đứa nhỏ trong nhà nói chuyện. Một đứa bảo: “cô nớ đàng hoàng lắm, cái nào ra cái đó”. Đứa khác nói: “làm gì cái nào ra…cái đó được, cái nào ra cái nào, cái đó là cái đó, “ngữ điệu” của nó khiến ai cũng cảm được cái đó là cái gì!).
       Phạm Duy còn nương vào dân ca để xây dựng sự nghiệp.Tôi không dám nói ca khúc ông không hay, không nghệ thuật, chỉ nói ông nương nhờ nhiều mấy điệu dân ca thôi. Hình như có lần Cung Tiến nói rằng tân nhạc là tân nhạc, pha trộn dân ca này nọ là không ổn hay không xứng đáng gì đó, tôi không chắc. Lúc bấy giờ Phạm Duy nổi tiếng quá, tôi nghĩ Cung Tiến hơi tị hiềm. Về già, tôi cho rằng Cung Tiến khách quan chứ không phải hiềm khích. Nghe mấy bài hát Hương Xưa, Hoài Cảm…với giai điệu đẹp đẽ sang trọng bàng bạc air nhạc cổ điển, mêng mang một nỗi u hoài của ông thì nghĩ không phải ông nhiều chuyện. Ông chỉ khen Phạm Duy vài bài, hình như Bên Cầu Biên Giới, Thuyền Viễn xứ…Theo tôi, Phạm Duy xuất sắc nhất khi viết lời Việt các ca khúc nổi tiếng phương Tây, trong đó có nhạc cổ điển. Dù sao thì tôi cũng, xin nói thật, ít thích thơ phổ nhạc. Muốn thơ thì đọc thơ, muốn nhạc thì nghe nhạc cổ điển. Không ai hơn ai trong chuyện này, tất cả do thói quen và sở thích. Một phần cũng do may mắn, hồi nhỏ có điều kiện tiếp xúc thánh ca Tin Lành, riết thành quen âm giai cổ điển tây phương, mê thích lúc nào không biết. Nói không thích thơ phổ nhạc còn do nhạc sĩ, vì nhu cầu phù hợp thanh âm trường độ này nọ, phải thêm bớt lời tai hại cho thơ. Nói vậy không phải phủ nhận sự liên tưởng và mối liên lạc thơ nhạc. Trong tập “Thơ Ở Đâu Xa” Thanh Tâm Tuyền dặn con gái ở phần notes cuổi một bài thơ xuôi: để đọc bài thơ trên, cô Th nên nghe đoạn Presto trong concerto Mùa Hạ của Vivaldi”. Ông tinh tế quá!
       Tôi không tin phải thấu đáo nhạc lý thì mới nghe được nhạc cổ điển. Tôi cũng không tin lắm chuyện phân tích giai điệu, nhịp điệu tường minh thì mới hiểu và cảm được thứ âm nhạc đó. Như vậy, phải rành phân tích thơ thì mới hiểu và cảm được thơ sao? Thật ra, chỉ bọn nhà giáo mắc chứng nghề nghiệp lọ mọ phân tích thơ cho học trò tạm hiểu các thứ để thi cử nhảm nhí chứ thơ, chỉ nên làm thinh mà đọc một mình. Cũng như âm nhạc, chỉ nên lặng lẽ nghe mà cảm nhận.
        Rõ ràng rằng cõi đời không mấy gì vui, người lương thiện miên viễn bị các thế lực tôn giáo, phong kiến ngày xưa đàn áp nên âm nhạc của họ buồn quá thể. Ngày nay quan lại còn đàn áp tàn độc vạn lần hơn (nhưng cứ bảo dân chủ triệu lần hơn) mà chỉ có nhạc tôn vinh và tụng ca, làm thế nào hiểu thấu!). Theo cảm nhận chủ quan, ví dụ mấy bài concerto cho đàn violin hay nhất của Beethoven, Chopin, Tchaikovsky, Bruch, Brahms, Sibelius, Mendelssohn…hầu như tất cả phần nhiều đều diễn tả nỗi buồn, khi thì u hoài man mác, lúc thê thiết não lòng. Nhất là mấy dòng đầu violin solo sau lúc dàn nhạc khai từ của mấy bản concerto đó, nghe mà muốn chết. Tiết điệu nhanh đầy kỹ thuật như Paganini vẫn thấy buồn, mới lạ.
       Tạ ơn các bậc thiên tài cho chúng sinh mọn hèn như tôi nghe những thanh âm tuyệt vời, nhận ra tâm hồn vĩ đại của những người văn minh thuở trước. Nhưng ngạc nhiên và đau lòng bao xiết kể khi vào youtube xem thử thì thấy Leonid Kogan chơi violin concerto của Mendelssohn được cả thảy 26,051 người nghe, Akiko Suwanai chơi violin concerto n.1 của Max Bruch thì được 184,836 trong khi Gangnam Style một tỷ bảy trăm triệu lượt người nghe! Nhờ vậy đâm ra bớt buồn bực cho văn hóa, ca nhạc xứ mình. Có lẽ “cái thời nó vậy”!

NAK