Monday, April 24, 2017

ĐỖ HỒNG NGỌC Ở ĐÀ NÃNG


Nguyễn Quang Chơn

Đỗ Hồng Ngọc đang nói chuyện về
"hạnh phúc trong đời sống hiện đại" ở Hội An.
Tháng 4. 2017

Anh Đỗ Hồng Ngọc nổi tiếng mọi thứ. Là bác sĩ nhi giỏi. Nhà thơ tài năng từ khi còn đi học. Nhà học Phật uyên áo. Tay viết ký tài ba. Thiền hành bền vững…
Tháng tư năm 2017 này ở Đà Nẵng có hội sách. Công ty Phương Nam mời anh ra nói chuyện và giao lưu cùng độc giả. Tháng ba anh đã gởi email báo tin. Tháng tư Tâm đã soạn kế hoạch “hành Bắc phương”, không biết có trùng ngày anh ra không, nên chỉ trả lời “hờ hững”. “Dạ, hẹn gặp anh!”  Vậy là… anh giận. “Chơn có vẻ không nhiệt tình!”… 

Hi hi, mình biết tính anh. Rất thận trọng chu đáo mọi việc. Dẫu đi làm hay đi chơi anh đều như thế. Nên luôn muốn có sự chuẩn bị rõ ràng, chứ không chung chung được!…
May quá, chuyến đi của 2 vợ chồng kết thúc ngày 19 thì 20 anh ra. Vậy là được dành thời gian trọn vẹn cho anh…
Anh Ngọc được ban tổ chức bố trí ở một phòng khách sạn nhìn ra bờ sông Hàn thơ mộng cho hợp với tâm hồn đầy thơ của ông bác sĩ . Và tình cờ chỉ cách căn mhà vợ chồng tôi chưa tới 100 bước chân. Vậy là quá duyên. Quá vui. Quá tiện…
Ngay buổi chiều, chúng tôi đưa anh thăm “Biên cương hành” Phạm Ngọc Lư. Hai anh tay bắt mặt mừng. Mừng vì anh Lư bị K, bệnh viện đã chữa trị hết thuốc, cho về nhà để…, thì bỗng anh khỏe ra, hôm nay da dẻ hồng hào, tóc mọc lại, hân hoan như trẻ nít, biểu diễn cho bác sĩ Ngọc thấy những bước đi tới đi lui vững vàng. Thật là cảm động!
Đỗ Hồng Ngọc đã gần 80 mà bước chân vẫn trầm ổn. Giọng tự tại. Thần sắc ung dung… Hội “Không gian đọc” ở Hội An mời anh nói chuyện về “Hạnh phúc trong đời sống hiện đại“. Một không gian ấm đẹp bên sông Hoài với gần 70 thân hữu cùng những người ái mộ đã đến nghe và giao lưu cùng anh. Có nhà thơ Hoàng Lộc đến gặp anh để chỉ bắt tay chào mừng rồi bay đi Mỹ. Có thi sĩ bụi đời Nguyễn Như Mây đi xe máy từ Phan Thiết ra chơi, biết tin, cũng ở lại rộn ràng, làm không khí thêm náo nhiệt, thêm vui. Nhiều người trẻ tuổi cũng có mặt. Đặc biệt, thượng tọa Như Giải từ Duy Xuyên cũng hạ san gặp bác sĩ nhà thơ, nhà Phật học!…

Buổi sáng sau cà phê, tôi đưa anh vượt Hải Vân Quan. Đỗ Hồng Ngọc thích lắm. Anh ghét chui qua những đường hầm khô khan. Chỉ thích sông biển núi đèo. Đèo Hải Vân đã có hầm chui từ lâu. Đường đèo hiểm trở chỉ thường dành cho du lịch. Chúng tôi lên giữa lưng chừng thì trời trở gió, mây mù và mưa nặng hạt, tầm nhìn chưa tới 2 mét. Lên đến đỉnh mưa gió vần vũ. Mù che kín Ải Vân Quan. Tôi sợ anh cảm lạnh thì sẽ hỏng cuộc nói chuyện tối nay của anh nên vội quay về. Dầu biết rằng bên kia đèo có mấy người nổi tiếng khác cũng đang sắp vượt đèo vào Đà Nẵng, đang hẹn hò cùng anh. Đó là vợ chồng luật sư, nhà giáo, đại gia Ngô Tiến Nhân và nhà báo lỗi lạc tài hoa Nguyễn Trọng Chức.
Anh Nhân và chị Bình người gốc Huế nhưng sinh ở Hà Nội. Học tập tại Hungary. Sống tại Sài Gòn. Và, Huế là “một cõi đi, về”. Anh chị rất quảng giao và cũng là người học Phật. Giới văn nghệ sĩ… “heo may” trong và ngoài nước, đa số đều quen thân với anh chị…
Anh Chức thì khỏi nói. Người cao đẹp. Dáng dấp như tài tử xi nê với hàng ria mép rất Charles Bronson! Anh làm báo từ trước 75, đã từng thư ký tòa soạn Tuổi Trẻ Chủ nhật và nhiều báo khác. Anh lại dây mơ rễ má với Tâm. Cô ruột anh lấy chú ruột Tâm nên hai gia đình thân quen đã lâu. Anh Ngọc ngạc nhiên khi thấy chúng tôi mới gặp mà đã thân tình!…
Thật là vui. Anh Chức quen biết tùm lum. Có nhiều kỷ niệm với sông Hàn nên bạn bè nghe tin rủ rê loạn xạ…
Anh Chức và anh Nhân vừa có máu văn nghệ lại có máu… tửu đồ nên chúng tôi thật hợp. Mấy ngày với thiền sư Đỗ Hồng Ngọc không được đối ẩm cho đã. Nay gặp hai bằng hữu của Lệnh Hồ đại ca thật sướng. Chúng tôi hể hả uống rượu vui đùa. Đỗ Hồng Ngọc cứ nhìn chai rượu vơi dần mà nhăn mặt. “Sư thầy” cái chi cũng biết, cái chi cũng giỏi, chỉ có rượu là lơ tơ mơ. Thấy chúng tôi khoái hoạt về các loại whisky, cognac, anh như… vịt nghe sấm. Khuôn mặt thờ ơ. Rồi. Đành lòng… đàm đạo với Tâm và chị Bình!
Thấy tôi sung sướng ẩm tửu để anh… lạc loài, anh bảo tôi “trả thù”. “Quân tử… ba ngày trả thù chưa muộn! “Hi hi!…

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Trọng Chức, Nguyễn Quang Chơn,
Ngô Tiến Nhân, chị Bình và Tâm.

Đêm giao lưu với độc giả bên bến sông Hàn, bên cây cầu Rồng màu sắc, trong một đêm se lạnh với gió mùa đông bắc thổi về, thật tuyệt! Mọi người nghe anh nói về an lạc. Nghe ca sĩ Thu Vàng hát, và đặt những câu hỏi cho anh…
Có những người đi bộ 5 cây số đến từ sớm để hỏi anh một câu rồi hân hoan đi bộ trở về. Có một nhà báo trẻ đẹp từ Hà Nội vào công tác biết tin cũng có mặt đặt cho anh câu hỏi mở màn thật đặc sắc và thực tế. Nhiều. Nhiều cánh tay giơ lên để xin hỏi và được nghe anh nhỏ nhẹ từ tốn ấm áp trả lời, để thấy một chút “an lạc trong nếp sống” như chủ đề cuộc nói chuyện hôm nay!…
Trời đã khuya. Mọi người già, trẻ vẫn vây anh xin chụp hình lưu niệm và xin chữ ký. Tâm cả ngày cùng tôi sát cánh bên anh cũng nhõng nhẽo mua tập thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc “Thư cho bé sơ sinh” để được anh ký tặng riêng!…

Vậy là “công việc” anh đã hết. Chúng tôi lên “kế hoạch” đi chơi! Sáng hôm sau, đoàn chúng tôi thuê xe đi Tam kỳ, thăm làng bích họa Tam Thanh… Bãi biển hoang sơ. Người dân chân chất. Cái làng chài nhỏ bé, bỗng nên thơ bởi những bích hoạ của các họa sĩ Hàn quốc, đã trở thành điểm đến trữ tình. Nhiều bạn trẻ đổ về đây để thăm viếng. Selfie. Chúng tôi ngồi trong bóng mát nhà quê. Uống ly nước dừa. Ăn ly chè đậu đen mà nghe mát ruột…
Tôi tranh thủ thời gian để đưa các anh chị đi thăm hồ Phú Ninh. Một hồ thủy nông hữu ích đã giúp bao ruộng lúa của Quảng Nam vàng óng… Công trình thủy lợi này đã có kế hoạch xây dựng từ thời VNCH nhưng vì chiến tranh nên không thực hiện được. Sau 75, chính quyền mới tiếp quản và kêu gọi tất cả các thanh thiếu niên trong tỉnh góp sức dựng xây, đã tưới tiêu cho cả một vùng ruộng rộng lớn bao la Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành…
Chúng tôi đi thuyền ra giữa lòng hồ. Neo ở một mỏ nước khoáng mãi tuôn lên từ một đường ống cắm sâu vào lòng đất, với nguồn nước nóng đến 64 độ nhiều khoáng chất tốt cho cơ thể. Được nhà nước chế biến thành nước khoáng Phú Ninh thơm ngọt và bổ dưỡng…

Trên đường về ngang Vĩnh Điện, chúng tôi ghé ngang Thạch Lâm Viên để thăm kỳ sĩ ẩn cư Mạc Phụ Đynh Trầm Ca. Anh là nhạc sĩ nổi danh với “mười năm tình cũ”, với bài thơ nhớ quê đầy chất giang hồ mà tình quê lai láng….

…. Quán cóc bốn thằng ngồi cụng ly
Quê nghèo một thuở rủ nhau đi
Chiều nay quê cũ thổi mây nhớ
Xuống đọng ngang đầu bốn miệng ly…”

Trời. Những người xa quê ngồi uống bia hoài hương vườn cũ. Thấy bọt bia trắng mà tưởng mây từ ải vân quan thổi về, đậu gieo thương nhớ. Ý tưởng thật tài tình!…

… Quán cóc bốn thằng ngồi như mê
Có ai vừa nhắc chuyện ngoài quê
Ai ca giọng Quảng nghe thương quá
Bốn cốc hoài hương chảy ngược về!

Quá hay. Tuyệt cú với Mạc Phụ tài hoa!…
Kịp sketch cho Mạc Phụ hai bức chân dung rồi chia tay bịn rịn. Chiều nay mấy anh còn đi Hội An. Tôi còn nhóm bạn từ Úc về chơi. Ngày mai tôi cũng phải đi Sài Gòn. Anh Chức cũng bay. Nghe thấy phone của nhóm văn nghệ Đà Nẵng, nghe đâu có nhiều nhà thơ, thầy thuốc nam, đạo sĩ, “hùng anh quần hội”, gọi mời anh Ngọc ngày mai giao lưu. Anh quá bận rộn, vậy mà cứ “an lạc”, thật hay!….
Cuộc vui nào rồi cũng phải chia tay. Cám ơn anh Đỗ Hồng Ngọc. Cám ơn anh Nguyễn Trọng Chức, anh Ngô Tiến Nhân, chị Bình, bằng hữu của các anh. Và, cám ơn Tâm nữa, đã làm cho Đà Nẵng những ngày đầu hè thơm thảo, ấm tình!…
Nguyễn Quang Chơn
24/4/2017


THƠ NGUYỄN TÔN NHAN

Nguyễn Tôn Nhan

Thánh Ca

thăng hoa

Nửa đêm xanh trăng nằm cuộn ngọc
Thi sĩ đọc thánh ca
Máu trườn trong óc người vô nghĩa
Tôi khạc hồn tôi ra hư vô
Đâm chết loài người tôi mất ngủ
Tôi ngậm đầu tôi trong hồn tôi
Đêm vỡ nanh dao ác quỷ
Tôi khạc hồn tôi ra hư vô
Không ai là thi sĩ
Không ai là thi sĩ
Đêm vỡ trăng nằm xác tôi ngậm ngọc
Nhân loại đeo tang đen


chiều chiều

Sáng hôm nay mặt trời xanh
Nàng giữ trên môi bông tuyết nhỏ
Lá trong vườn từng lưỡi dao găm
Nàng giữ trên tay bông tuyết đỏ
Chim không bay đến mái hồn tôi
Nơi cô đơn rêu ngàn năm đã phủ
Nơi vinh diệu của những kẻ u buồn
Nơi sáng hôm nay của tôi của nàng
Của hai kẻ đem phơi hồn ủ rũ
Chiều tôi trở về trên đồi cây
Dưới cành khô có bóng nàng treo cổ

NTN

Sunday, April 23, 2017

HỒI SINH CƠN HÔN MÊ


Ban Mai

Đinh Cường. Lữ Quỳnh
Nguyễn Xuân Hoàng

*Viết tặng những người bạn văn đàn anh của tôi

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về       
nói cười ấm áp
tôi rất vui- rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối
quanh hiu (*)

Tháng 6, khi những cơn gió Lào khô rốc từ Vịnh Bengal thổi vào dãy Trường Sơn đem hơi nóng ngùn ngụt lửa phả vào mặt, đó là lúc các tin buồn tới tấp bay về bên tôi. Từng người, từng người bạn thay nhau giã từ cuộc chơi. Cái nóng hực lửa bên ngoài, và cái nóng trong lòng tôi ngày một dâng cao.

Mới tuần trước thôi, anh Nguyễn Xuân Hoàng vẫn còn email trả lời, anh nói bài viết này anh thích quá cho anh post trên Voa đi, tôi còn đùa anh mệt như vậy mà vẫn còn làm việc sao, tùy anh thôi. Em sẽ gửi các bài tùy bút ngắn anh đọc hàng ngày cho vui.

Đó là thời gian sau này khi biết bệnh tình anh đến giai đoạn cuối, anh đau đớn với cơn bệnh ung thư chống chọi hàng giờ, tôi không còn email hỏi thăm sức khỏe nữa. Vô ích, sáo rỗng. Đừng đụng đến vấn đề này, hãy viết những cái gì nhẹ nhàng cho anh đọc, anh vui.

Nhiều hôm sau khi hóa trị về, chắc là đau đớn lắm, không kiềm hãm nổi anh viết, anh chỉ muốn chết thôi, bây giờ ước mơ lớn nhất của anh là được chết.

Tôi biết, một người đàn ông can trường như anh mà thốt lời như vậy là đã quá giới hạn chịu đựng của con người, anh đang chống chọi với nỗi đau kinh hoàng. Bắt đầu hôm đó, tuần nào tôi cũng gửi cho anh vài câu chuyện vui, vài dòng tùy bút, không nói đến chuyện tử sinh. Tôi biết, anh muốn quên cơn đau trong những khoảng thời gian cơn bệnh không hoành hành.

Tôi xem anh như một người anh lớn, bắt đầu từ ngày Cổ Ngư giới thiệu tôi đăng bài trên trang web Tạp chí Văn của anh. Lúc đó Tạp chí Văn có trang chuyên đề TCS do chị Lệ phụ trách, bạn tôi rủ rê viết bài cho vui.

Nguyễn Xuân Hoàng với tiểu thuyết “Khu rừng hực lửa” đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Văn trước 75, những cuốn tạp chí trong tủ sách gia đình khi lớn lên tôi đã đọc. Tôi không ngờ có ngày mình lại quen biết với người chủ biên Tạp chí này.

Anh nhiều lần gửi các tập Tạp chí Văn về cho tôi nhưng lần nào cũng “thất lạc”. Mấy năm trước, anh đề nghị tôi cho anh post bài trên Voa Tiếng Việt, trang blog văn học nghệ thuật của anh. Tôi cộng tác với trang nhà của anh từ đó. Tôi tin một giáo sư am tường Triết học, một nhà văn dày dạn kinh nghiệm như anh, chắc chắn hiểu rỏ lẽ vô thường, và anh đã dọn sẵn cho mình những giây phút cuối thanh thản nhẹ nhàng. Trong “Bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu” anh đã từng viết: Đừng sợ. Sống thì khó chứ chết thì ai mà chẳng có phần.
 
 *
Còn anh Lữ Quỳnh thì:
                                               
Sức khỏe cũng đang có vấn đề, nghe nói bác sĩ đang dò tìm các mạch máu trên não, không biết ác tính hay lành tính đây.

Tin tức này tôi đã biết, nhưng khi nghe tôi vẫn nao lòng, cuộc đời thật quá phù du, ai rồi cũng đến ngày đó mà, tôi rồi cũng vậy thôi.

Với tôi, Lữ Quỳnh như một người anh trai mà tôi trân quý.
Tôi quen anh cũng thật tình cờ.

Một ngày mùa hè mấy năm về trước, tôi bắt gặp bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu tập truyện “Những cơn mưa mùa đông” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản của Trần Hoài Thư ấn hành. Tôi email cho Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh hỏi thăm về tập sách, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng Văn chương hải ngoại.

Ngay lập tức tôi nhận được phản hồi, và một tháng sau tôi nhận sách của anh từ một người bạn đem về nước. Anh nói, sách bên này gửi qua bưu điện thường thất lạc.

Khi biết tôi là tác giả tập sách “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” anh rất vui.

Mấy ngày sau, Lữ Quỳnh email hỏi tôi tập sách Trịnh Công Sơn ở Việt Nam ra sao rồi, báo chí dòng chính mấy năm trước đánh tơi bời em có ảnh hưởng gì không? Sách có được tái bản không? Tôi nói em vẫn bình thường, sách bán hết rồi, người tìm mua không có. Sau khi báo chí đưa tin, Cục Xuất Bản đã yêu cầu lần sau tái bản phải chỉnh sửa lại phần “Trịnh Công Sơn và Chiến tranh Việt Nam” nên có lẽ em sẽ không tái bản lúc này vì em muốn giữ nguyên quan điểm của mình.

Thật bất ngờ, khi tôi nghe anh nói anh sẽ gọi điện thoại cho NXB Văn Mới tại Cali, giúp tôi xuất bản sách tại Mỹ. Anh thấy sách của em in ở Việt Nam có bày bán bên này. TCS là bạn của anh, và anh muốn những cuốn sách nghiêm túc viết về bạn của mình được phổ biến rộng rãi cho người Việt đọc. Và chỉ trong vòng 4 tháng sau tập sách đã tái bản ở Mỹ, một điều mà tôi không dám nghĩ đến. Với tôi, đó là một ân tình tôi không bao giờ quên.

Lần đầu tiên gặp anh ở Huế, nhân dịp khai mạc phòng tranh Đinh Cường tại Nguyễn Trường Tộ ngôi nhà ngày xưa của Trịnh Công Sơn, anh từ tốn, chân tình và rất chu đáo. Tôi thật hạnh phúc và may mắn có được những người bạn như các anh, những người bạn lớn hơn tôi mấy thế hệ mà tôi kính trọng, bên họ tôi luôn có cảm giác an toàn, ấm áp.

Giờ đây, nghe tin các anh đều bạo bệnh, tôi thật đau buồn, ở xa không biết làm gì chỉ biết ngóng tin. Lâu lâu anh Lữ Quỳnh điện thoại thăm hỏi là tôi vui cả ngày.

Tôi vẫn còn nhớ ngày Cao Xuân Huy bệnh nặng, Trần Vũ báo tin, tôi điện thoại xin phép anh làm chuyên đề trên Vanchuongviet nhưng chưa kịp thực hiện anh đã mệnh chung, ngày đó tôi ân hận hoài. Rồi đến cái chết của nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh, người mà tôi chưa kịp nói lời cảm ơn, chưa kịp viết bài cho cuốn thơ “Lời tình buồn” với những ca từ mà thế hệ tôi ai cũng thuộc:

Anh đi rồi còn ai vuốt tóc/Lời tình thơm sách vở học trò/Đêm xuống rồi em buồn không hở/Trời xa mù tầm tay với âu lo… tập thơ anh gửi tặng khi anh còn sống.

Càng lớn, tôi càng thấy tình bạn quý giá vô cùng, tìm một người bạn chơi được đã khó,  kiếm được người tri kỷ hiểu mình càng khó hơn.

Có lẽ những người làm nghệ thuật, là những người thường cô đơn nhất, mặc dù bạn bè của họ lúc nào cũng vây quanh.

Trong tập thơ “Sinh nhật của một người không còn trẻ” anh Lữ Quỳnh từng viết:

Những ngọn nến thắp
Là hồi ức buồn…
Một ly mình. Và một ly không
Quán hoa giấy chiều nay lãng đãng
Uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không

Chiếc ly không là một chỗ ngồi trống vắng, là bóng dáng của một người bạn đã đi xa.

Bây giờ tôi mới hiểu vì sao ngày xưa, Trịnh Công Sơn đã viết tình bạn quý hơn tình yêu: “May thay trong đời vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa."

Tôi biết, những người bạn thế hệ các anh đã từng sống như vậy. Và tôi cũng tin một tình bạn quý có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được.

Quy Nhơn, 5/7/2014
BAN MAI

(*) Thơ Lữ Quỳnh

QUÊ HƯƠNG THU NHỎ


Nguyễn Đình Toàn

Hoa gạo đồi xa

Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ
Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa
Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn
Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ

Đêm có mây sầu đưa
Trăng giấu đi tuổi thơ
Ven con sông dài
Quê ta thiu ngủ
Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu
Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro
Như quê hương mình thu nhỏ
để người viễn xứ mang cho vừa

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình
Trong tấm gương đầy nước mắt (í)
Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét
Với bao nhiêu đời dở dang

Người chờ người đi
Đã như nhang tàn
Người bỏ người thôi
Khác chi nợ nần
Đã trả xong
Rũ sạch trơn

Từ khi ta bước đi mới hay mình đã mất
Trông ra nơi nào cũng như quê hương lượn quanh
Một cơn gió lướt qua cũng nghe lòng tha thiết
Tưởng một mùi hương nơi vườn cũ bay theo mình

Và tiếng ai gọi ai
Vọng mãi trong hồn tôi
Ôi tiếng chuông chùa nào xa vói
Thèm miếng khoai ngày đói
Hỏi áo xưa mòn vai
Và từng đêm nghe gió lay
Khi nao ta về tới
Soi trong gương sầu ấy
Có còn ta nữa hay là ai

Ôi cố hương xa xôi ...

NĐT

Mời nghe Khánh Ly hát Quê Hương Thu Nhỏ


Saturday, April 22, 2017

NGUYỄN THANH VIỆT TRẢ LỜI PHỎNG VẤN KANYAKRIT VONGKIATKAJORN


Chân Phương dịch


Nguyễn Thanh Việt & tác phẩm

NGUYỄN THANH VIỆT  qua phỏng vấn với Kanyakrit Vongkiatkajorn trên nguyệt san Mother Jones Jan/Feb. 2017.

Trong trí nhớ của ông, tiểu thuyết gia Nguyễn Thanh Việt lúc nào cũng không quên được thân phận tị nạn. Năm 1975 lúc ông bốn tuổi, gia đình ông gia nhập đoàn người miền Nam trốn chạy cộng sản. Ký ức ban đầu ông còn nhớ được khởi sự tại trại định cư ở Pennsylvania nơi gia đình ông đặt chân đến rồi bị chia cách tạm thời. Trường thiên tự sự của họ Nguyễn trên đất Mỹ đã định hình hành trình nhà văn – kể từ thời thơ ấu cô đơn thắc mắc tìm hiểu về những nỗi kinh hoàng mà thân quyến ông phải trải qua. Tiểu thuyết đầu tay của ông – CẢM TÌNH VIÊN (THE SYMPATHIZER) , lời tự thú đậm chất khôi hài đen của tay điệp viên Bắc Việt trốn qua nước Mỹ – đã thắng giải Pulitzer 2016 cho thể loại văn hư cấu. Tác phẩm phi-hư cấu tiếp theo, Nothing Ever Dies: Vietnam and the memory of war( Không có gì thật sự chết đi: VN và ký ức chiến tranh)được vào chung kết giải National Book Award 2016. Cuốn sách vừa ra mắt tháng Hai -2017 là tập truyện ngắn THE REFUGEES (DÂN TỊ NẠN) ông viết rải rác trong vòng hai mươi năm phấn đấu để có được danh hiệu “nhà văn”.

MOTHER JONES: Ông còn nhớ gì về quãng đời ông sống ở VN ?

NTV: Chỉ còn vài chớp lóe. Tôi nghĩ rằng ký ức tự sự bắt đầu khi tôi lên chiếc tàu tị nạn.

MJ: Xin ông nói về cơn hoạn nạn của gia đình ông.

NTV: Tháng 3-1975, mẹ tôi, tôi và anh trai đang sống ở quê nhà trên vùng cao nguyên miền Trung. Bố tôi lúc ấy làm ăn dưới Saigon khi bộ đội Bắc Việt bắt đầu  cuộc xâm  lăng cuối cùng. Thị xã chúng tôi bị chiếm đóng đầu tiên , mẹ tôi quyết định trốn chạy với hai anh em tôi bỏ gia sản lại cho chị nuôi tôi trông nom hi vọng có ngày hồi cư. Chúng tôi lội bộ mấy trăm cây số, leo kịp tàu về Saigon và tìm thấy bố tôi. Một tháng sau, quân cộng sản cũng vào đây và chúng tôi sau cùng leo lên một chiếc tàu đưa ra đảo Guam,  tôi nhớ là như thế. Từ đó chúng tôi bay qua Fort Indiantown Gap, tiểu bang Pennsylvania.

MJ: Ký ức ông bắt đầu từ nơi ấy ?

NTV: Đó là các hoài niệm ban đầu mà tôi còn nhớ. Để rời trại tị nạn, tôi cần người bảo lảnh, nhưng đâu có ai muốn bảo lãnh một gia đình bốn mạng. Bố mẹ tôi đi theo một người sponsor, anh tôi khi ấy 10 tuổi theo một người khác . Tôi thì được gửi cho một gia đình khác. Tôi rất bực tức và rối trí lúc đó, cho nên ký ức đầu tiên của tôi gắn liền với giai đoạn ấy.

MJ: Nhưng gia đình đã đoàn tụ lại sau đó ?

NTV: Có lẽ vài tháng sau; nhưng vài tháng đối với đứa trẻ bốn tuổi là một thời gian rất dài. Chúng tôi sống ở Harrisburg từ 1975 đến 1978. Khi có người bạn cho bố mẹ tôi biết là San Jose có nhiều cơ hội tốt hơn, họ thu xếp ra đi và mở tiệm tạp hóa Việt hình như là thứ hai bên đó.

MJ: Xin nói về chặng đời ấy của ông.

NTV: Bố mẹ tôi đã sống một cuộc đời di dân tiêu biểu – nói tị nạn thì đúng hơn . Một lối sống tiểu thương khổ nhọc; có lần bị cướp vào tiệm nổ súng. Tôi thấy họ sống khá cô độc. Họ làm việc suốt ngày trong khi anh tôi học đại học cho nên tôi thành đứa con một lúc 10-11 tuổi. Tôi tìm được nơi trú náu kỳ diệu trong thư viện. Sách mở một thế giới khác cho tôi trốn vào. Tôi đọc nhiều về cuộc chiến VN. Từ đó tôi bắt đầu bị cuốn hút vào những sự việc đã xảy đến cho gia đình mình.

MJ: Ông có bàn luận chuyện đó với cha mẹ ông ?

NTV: Họ chỉ nói đại khái rằng: “Không phải sống ở VN là may cho con rồi!” Tôi rất thắc mắc về những điều họ không muốn bàn tới. Ví dụ, cả nhà chỉ có một tấm ảnh duy nhất của người con gái nuôi – một khoảng trống to tát . Nhưng khó mà hỏi bố mẹ tôi cho ra lẽ. Tiếng Việt tôi nói không rành lắm. Có nhiều việc tôi không biết hỏi như thế nào.

MJ: Tôi thấy là ông chịu khó phân biệt “di dân” so với “tị nạn”.

NTV: Di dân, cho dù họ là mối nghi vấn đối với một số người, là một phần không thể thiếu trong giả thuyết về Giấc mộng Hoa Kỳ (the American Dream). Một số đông dân Mỹ am hiểu tình cảnh di dân. Người tị nạn là những kẻ bị chiến tranh, thiên tai hoặc đại họa chính trị bứng khỏi quê nhà nên họ có tính đe dọa nhiều hơn vì họ nhắc cho ta nhớ rằng mọi tiện nghi ta vẫn cho là hiển nhiên có thể tan hoang trong chớp mắt.

MJ: Ông trở về VN lần đầu là khi nào?

NTV: 2003 thì phải. Tôi quay về năm hay sáu lần. Những chuyến đi bổ ích nhưng cũng khó khăn vì tôi vừa là người Việt vừa không là người Việt. Ngoài Bắc, thiên hạ rất thích chí: “Đón mừng người trở về quê nhà!” Trong những hoàn cảnh khác, anh phải trả theo giá Việt kiều. Người thân gặp anh thì mừng rỡ nhưng cũng căng vì anh đã bỏ đất nước ra đi và nay chắc anh là một Mỹ kiều giàu có. Thường thì họ hàng anh không khá giả cho lắm. Các điều tị hiềm và mong đợi về mặt tình cảm rắc rối vô cùng.

MJ: Có phải thời niên thiếu ông bị chấn thương tâm lý khi xem phim Apocalypse Now?

NTV: Apocalypse now đã để dấu ấn sâu trong tôi. Trải qua năm tháng, giữa tôi với phim này hình thành mối quan hệ hàm hồ . Tôi tôn trọng nó như một tác phẩm nghệ thuật mà Cảm Tình Viênphần nào là sự đáp ứng. Nhưng phim này là hiện thân của cách nhìn tiêu biểu Hollywood đối với các sắc dân không là da trắng,  không phải người Mỹ. Họ bị giản đơn hóa thành các vai dư thừaextras hoặc, khá hơn, như vai phụ diễn sidekicks trong các tự sự mà da trắng, nhất là vai nam chiếm thế trung tâm. Đặc biệt với dân Việt trong phim, điều này có nghĩa là họ xuất hiện để bị giết hại hay được cứu mạng – hoặc giúp vui thân xác. Như thế là rất có vấn đề nếu bạn là người Việt.

MJ: Ông có nói khi trước tác Cảm Tình Viên là ông nhất quyết không chìu theo công chúng Mỹ da trắng.

NTV: Nếu bạn được xem như một nhà văn thiểu số, điều cám dỗ bạn là viết cho đa số đọc. Đó là con đường dễ nhất để được xuất bản, và điều này sẽ làm méo lệch các câu chuyện. Tôi từ chối không làm việc ấy.

MJ: Có ai muốn dựng thành phim?

NTV: Theo tôi , kết cục tốt nhất là được nhóm Coppolas mua lại rồi đạo diễn loạn xị tiểu thuyết tôi nhưng cũng trả cho tôi thật nhiều tiền. Chuyện này mà xảy ra thì hay quá! Thực tế là chúng tôi đang điều đình một khả năng hợp tác với truyền hình. Làm phim thì khó xử lắm vì ta phải cắt bỏ phân nửa cuốn truyện. 

MJ: Tập truyện mới của ông khởi sự với “Black-Eyed Women/ Bọn đàn bà mắt đen” trong đó người phụ nữ viết mướn được hồn ma của người anh thăm viếng. Tại sao ông bắt đầu với truyện này?

NTV: Đó là một trong mấy truyện hay nhất. Nó cũng dẫn nhập cho đôi ba đề tài lớn: Một là cái ý về ma quỉ ám. Truyện này thực chất là một truyện ma quái, nhưng những ai từng trải qua các lịch sử chấn thương đều bị ám và lũ hồn ma tượng trưng điều này. Viết truyện này là một quá trình kinh khiếp. Phải mất 17 năm với khoảng 50 bản nháp!

MJ: Tại sao rối rắm đến thế?

NTV: Tôi là loại nhà văn lúc nào cũng muốn nói nhiều hơn, và tôi đã cố thử vùi ép mình vào khuôn khổ các truyện ngắn. Black-Eyed Women tiêu biểu cho sự vật lộn của tôi.

MJ: Từ khi nào ông biết là mình muốn sống bằng ngòi bút?

NTV: Bao giờ tôi cũng thấy như thế. Ở đại học, tôi đã nuôi hình ảnh vĩ đại buồn cưởi về mình trong quá trình thành văn sĩ, nhưng tôi không nghĩ mình có đủ kỷ luật hay kiên nhẫn – hoặc khả năng và tính khiêm tốn. Phải mất 20 năm để đạt được những điều này. Trước khi viết Cảm Tình Viên , tôi không bao giờ gọi mình là nhà văn bởi như vậy thì huênh hoang quá – nhà văn là một cách xưng tụng do người khác nói ra, như một danh hiệu.  Khi kết thúc Cảm Tình Viên tôi cảm thấy là mình đã trả xong món nợ.

MJ: Trong lời tri ân cho tập The Refugees, ông cho biết là con ông nay gần bằng tuổi cha khi ông trở thành người tị nạn.

NTV: Ba năm đầu đời quan sát đứa con – nó dễ thương và ngây thơ và các thứ – tôi tự hỏi thuở ấu thơ tôi có như thế chăng. Nó giúp tôi cảm thông chính mình nhiều hơn. Tôi hy vọng con tôi sẽ không phải nếm trải các thứ kinh nghiệm sẽ biến nó thành văn sĩ.

Bản dịch Việt văn do
CHÂN PHƯƠNG

Nguồn: Văn Việt