Wednesday, November 22, 2017

BÔNG HỒNG VÀNG & LẴNG QUẢ THÔNG


nguyễn xuân thiệp

Bông Hồng Vàng

Lẵng Quả Thông

MỞ ĐẦU

Vừa đọc thấy trên facebook Vũ Thư Hiên những dòng sau đây:

     “Cuối tuần này chúng ta cũng có cái để thư giãn - vài truyện ngắn của Konstantin Paustovsky, nhà văn xô-viết mà không xô-viết được bao nhiêu, người đã trở thành quen thuộc với độc giả Việt Nam, bắt đầu bằng cuốn sách viết về nghề văn “Bông Hồng Vàng”.
     Bạn nào chưa biết nhà văn này là ai thì đừng bỏ qua Lời Nói Đầu để biết con người cứng cổ đã tạo ra một dòng lãng mạn bên cạnh dòng văn thống trị thị trường sách của cái gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa.
     Tôi có đọc ở đâu đó, quên mất rồi, rằng trước khi chết, Konstantin Paustovsky có di chúc: “Tôi không muốn những người đứng đầu nhà nước Liên Xô đi đưa tôi, tôi không thuộc về họ”. Vì thế, các quan chức đi đưa ông phải đi sau đám tang, nhưng cách một quãng.
     Nhà văn đích thực không thuộc về bất cứ cái gì khác, trừ người đọc anh ta.

Paustovsky. Ôi, Konstantin Paustovsky. Nguyễn biết đến ông cũng là qua bản dịch Bông Hồng Vàng của Vũ Thư Hiên. Đọc và mê cho tới bây giờ.

Trang tiểu sử Paustovsky

Paustovsky ra đời ngày 31 tháng 5 năm 1892 trong một ngõ hẻm thành Mátxcơva.
Cụ thân sinh ra Paustovsky là người mơ mộng và là người ở không yên chỗ. Sau thời gian tòng sự tại Mátxcơva, ông đổi đi Vino, rồi Pskov, sau cùng mới đậu lại Kiev.
Cậu bé Paustovsky lớn lên trong tiếng đàn dương cầm, những giọng ca, những cuộc cãi vã nghệ thuật và những rạp hát.
Cậu bé bắt đầu cuộc đời học trò ở trường trung học số 1 thành phố Kiev. Khi cậu học tới lớp 6 thì gia đình khánh kiệt, cậu phải tự nuôi thân bằng một nghề bất đắc dĩ không xứng với tuổi học trò là nghề “gia sư”.
Truyện ngắn đầu tiên của Paustovsky được in khi Paustovsky còn là học sinh năm chót của trường trung học. Nó xuất hiện trong tạp chí “Những Ngọn Lửa”, là tạp chí văn học duy nhất của Kiev hồi bấy giờ, vào khoảng năm 1911. Sau khi tốt nghiệp trung học, Paustovsky thi vào đại học Tổng hợp Kiev. Hai năm sau, Paustovsky chuyển qua một trường đại học khác ở Mátxcơva và ở hẳn thành phố này từ đấy.
Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất bùng nổ. Paustovsky làm nghề bán vé xe điện, rồi lái xe điện, rồi y tá trong các đoàn tàu quân y con thoi chạy đi chạy lại giữa hậu phương và tiền tuyến. Mùa thu năm 1915 ông bỏ công việc dân sự để đi theo một đơn vị quân y dã chiến và làm một chuyến đi dài suốt từ thành phố Lublin (Ba Lan) đến tỉnh lỵ Nesvizh ở Belorussya. Trên đường, tình cờ nhặt được một mẩu báo, ông mới biết hai anh ông đã tử trận trong cùng một ngày trên hai mặt trận khác nhau. Paustovsky vội vã trở về với mẹ.
Bà cụ lúc đó đang ở Mátxcơva.
Nhưng Paustovsky không thể ngồi lâu một chỗ. Bệnh xê dịch dày vò ông và ông lại lên đường, tiếp tục cuộc sống nay đây mai đó.
Năm 1923, Paustovsky trở về Mátxcơva trong một chuyến dừng chân, xin làm biên tập viên cho một tờ báo. Cũng từ đó tên tuổi của ông bắt đầu trở thành quen thuộc với độc giả qua những tác phẩm nối tiếp nhau ra đời.
Cuốn sách đầu tiên được Paustovsky coi là tác phẩm thực sự của ông là tuyển tập truyện ngắn “Những Con Tàu Đi Ngược Chiều Nhau”.
Mùa hè năm 1932 Paustovsky bắt đầu cuốn “Kara-Bugaz” và một số truyện ngắn khác mà về sau này ông đã kể lại khá tỉ mỉ trong “Bông Hồng Vàng”.
Sau khi “Kara-Bugaz” ra đời, Paustovsky xin ra ngoài biên chế, tức là thôi không làm cho nhà nước nữa, để chuyên viết văn, “cái công việc duy nhất, choán hết mọi việc khác, có lúc thực cay cực, nhưng là cái bao giờ tôi cũng yêu mến”.
Trong cuộc sống tự do khỏi công việc nhà nước Paustovsky còn đi nhiều hơn nữa. Dấu chân ông in khắp mọi miền đất nước. Ngoài ra, ông còn đến Tiệp Khắc, đi tàu biển vòng quanh châu Âu, qua các thành phố Istanbul, Athena, Napoli, Roma, Paris, Rotterdam, Stockholm…
Trong Đại chiến Thế giới lần thứ Hai, ông làm phóng viên chiến tranh của Mặt trận phía Nam và ở đó ông cũng đi rất nhiều.
Paustovsky nói rằng nhà văn cần phải biết tạo ra tiểu sử cho mình. Tức là, ông muốn nói, nhà văn cần phải chủ động ném mình vào trong những xoáy lốc của cuộc đời, để được sống nhiều, sống thật trong nó, tự mình tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho công việc viết văn sau này. Ông nhìn những nhà văn cạo giấy, những viên chức văn chương bằng cái nhìn khinh bỉ.
Ông không chỉ viết nhiều, mà còn viết hay. Hiếm có nhà văn nào ở nước Nga được in toàn tập trong khi còn sống.
Paustovsky là nhà văn không biết hài lòng về mình. Ông luôn nói rằng những gì ông đã viết chỉ là bước đầu, chứ toàn bộ công việc thực sự thì bao giờ cũng vậy, còn ở phía trước.  (theo Lê Thanh Minh)
NXT


TẠ


Trần Yên Hòa


Tạ người trong chốn trần ai đó
Dừng lại bên ta một lúc nào
Áo có phai màu nên bạc thếch
Ta còn nỗi nhớ đến hư hao

Tạ sương gió giật cơn phiêu hốt
Dắt díu ta lên chốn thị thành
Quẳng những ngày qua quanh phố chợ
Nhớ người lầm lũi một thanh âm

Ta quay quắt những đêm chờ sáng
Mái tranh che nếp áo vai sờn
Ta cam khổ lụy như mường mán
Thuyền ai cứu vớt khỏi nguồn cơn

Mùa mùa tiếp nối cơn đau hạn
Bao nhiêu năm cho bạc mái đầu
Ta gẫm cơn nguy giờ đã cạn
Mưa trên nỗi nhớ có sờn đâu

Bao năm phiêu bạt ơi thành bại
Nợ nước tình em ta biển dâu
Hai vai thống khổ, cơn đau nhức
Nhừ cả châu thân vạn cổ sầu

Ta đi qua những mùa khô hạn
Biến cơn bỉ cực nỗi đau khan
Tạ bão giông, tạ người bội bạc
Đọa đày ta trong bước phong trần

Ta lê lếch sống như phung phá
Trí não cuồng trong giấc mơ hoang
Dường như có tiếng rền đâu đó
Của sấm trời xoay đổ nát tan

Mưa, mưa, mưa trên thành quách cũ
Ta dang tay níu bụi giang hồ
Tạ bến sông, tạ con nước lũ
Cuốn trôi về cuối bãi san hô

(cho khánh h.)
Tạ em những tháng năm dài rộng
Cùng anh đi đến một đoạn đường
Những ngã đường là cơn sóng lớn
Những vết đời cào xước yêu thương

Tạ những người sau và kẻ trước
Đến cùng ta cho dẫu bạc lòng
Cũng như ân nghĩa bao lần được
Đời đã phai giấc mộng trầm luân

Tạ mưa tạ gió tạ sông biển
Tạ rủi may phủ khắp một đời
Ta hắt bóng mình qua cửa sổ
Giữ im lìm tịnh độ trong tôi

Tạ người phủ sóng trên đường vắng
Bỏ ta côi cút giữa lao lung
Mai mốt em có quay đầu lại
Ta vẫn còng lưng giữa cố cùng

Tạ cha mẹ tạ cùng non nước
Ta bỏ quê xiêu lạc xứ này
Nay nhớ trường giang mai nhớ núi
Bóng người phủ mãi xuống hai vai

(với Thành Tôn, Đạm Thạch, Phạm Phú Minh,
Trần Văn Nam, Trần Thế Phong... và Ngô Thanh Mỹ)

Thâm tạ những vòng tay níu chặc
Đời ta bừng sáng buổi hôm nay
Có em ta ráng tay hoài giữ
Khúc quê ngào ngạt ngời hương bay

Thâm tạ tình em thâm tạ đất
Cho tôi hôn mãi phút giây này

Trần Yên Hòa
(Thanksgiving 2017, 21.11. 17. Anaheim, CA, USA)

Monday, November 20, 2017

MỘT CHUYỆN THU CẢM.


Tố Nghi
      

Năm 81, vào trại của tui hai bịnh nhơn có triệu chứng AIDS, cả hai đều đực rựa, homosexual và trên 40. Một trự bị suy hô hấp vì Pneumocystis carinii Pneumonia, trự kia bướu nấm não và cằm nổi mụt ruồi tổ chảng sần sùi, ung thư Kaposi (sarcoma). Thời ấy giả thuyết AIDS là bịnh nhiễm virus coi như đã chắc lắm dzồi. Nhưng virus gì thì hổng biết, lan lây thế nào cũng hổng biết luôn (đường sinh dục, đường máu, đường hô hấp…). Y học còn lớ ngớ chưa lần ra, thành thử AIDS khi ấy đồng nghĩa với  «ghê-gớm” và với... đi tàu suốt !
Bịnh nhơn AIDS bị cách ly trăm phần dầu, một mình đối bóng trong căn phòng nhỏ. Nội bất xuất đã đành, nhưng ngoại cũng tránh nhập luôn. Nếu bất đấc dĩ phải nhập thì người ta mần màn gown mũ mask găng và slipper, tất cả đều disposable, ra tới cửa phòng là cởi hết quăng lại. Thế vẫn chưa đủ, còn phải kỳ cọ rửa tay với xà bông sát trùng và xịt alcohol. Bước vào phòng, ta có liền cái cảm giác thần chết đang núp đâu đó, rồi bất ngờ ló ra ôm gọn lấy ta. Không khí trong phòng ngột ngạt vì ”mật độ” quá cao của virus thở ra từ "hơi" người bịnh (mà chời ơi chời... cái mask hở thôi là hở, có cũng như không !)
Tình trạng dầu sôi lửa bỏng vậy nên người ta mần màn lương y như mẹ ghẻ, làm đủ bổn phận cho xong rồi gọn lẹ dọt. Khỏi có vụ nán lại vòng vo ân cần tán dóc chuyện xã hội, chuyện văn thơ, chuyện nắng mưa trăng gió - cho dù tán là nghề ruột của nàng - Đại khái bịnh đến dzồi bịnh đi (... ra nghĩa địa), may lắm ta còn nhớ được cái tên chớ mặt mũi bịnh ta quên tuốt luốt ! Hồi hai bịnh nhơn AIDS lìa đời, cả trại bịnh thở phào như thoát gánh nặng ! Kỳ thị hở ? Hẳn là vậy dzồi. Người chớ có phải mẹ Teresa đâu !
Rồi 84-86, rồi 87-89, do hiểu biết chánh xác, chuyện kỳ thị giảm nhanh trong môi trường y tế, nhưng các thông tin dồn dập của truyền thông báo chí đã gieo rắc những bất an ở xã hội bên ngoài.  Người ta sanh lòng ái ngại khi phải tiếp xúc với người có bịnh, thậm chí người ta còn đâm nghi kỵ luôn cả những người đang ngon lành đứng thẳng - nghĩa là mạnh khoẻ như voi - nếu chẳng may lòi ra chuyện đi nghiêng của nó - đứng thẳng đấy nhưng đi… vòng kiềng –
Vào lúc còn tranh tối tranh sáng, tâm lý tinh thần người bịnh AIDS ra sao ? Vụ này tui thiệt hổng tường, bị vì hổng có dịp (đúng hơn hổng kiếm dịp) để hỏi thăm tìm hiểu. Ở thời điểm cuối thập niên 80 ấy, y hình AIDS chưa kip xuất hiện trong cộng đồng "thẳng", nên rồi bịnh nhơn AIDS đương nhiên bị dán nhãn (và thường là dán đúng) homosexual.

*
Xã hội đời thường sao hổng biết, chớ trong bịnh viện người ta thấy rõ cái tình lân ái của đám vòng kiềng này. Chúng tận tâm tận lực với nhau dể sợ lắm kia. Một trự vào nhà thương liệt giường liệt chiếu, cả cái cộng đồng có nó là thành viên bỗng gắn bó ồn ào. Chúng thay phiên nhau thăm viếng, thậm chí nếu cần còn túc trực thường xuyên mần màn hầu hạ chăm sóc (đút cơm cháo, tắm gội, đổ bô...). Vào phòng bịnh, nhơn viên y tế lên đồ còn hơn phi hành gia đổ bộ mặt trăng, vậy chớ bắt buộc cái đám ni mới nai nịt theo mình, chừng mình vừa ngoảng mặt, chúng cởi ráo ! Chúng rần rần như party, ồn ào vui vẻ hết biết, làm đám y tế đứng vòng ngoài phải ngẩn ngơ !
Rồi gia đình ruột thịt của người bịnh đâu à ? Thường thường ít thấy lắm. Có thể hoặc vì gia đình ái ngại chuyện bịnh tật thì ít, nhưng chuyện vòng kiềng nhiều hơn - xã hội lúc ấy đã và đang rất homophobia ! Cũng có thể dân vòng kiềng lẳng lặng rời gia đình hổng nói lời từ biệt nên rồi bịnh tật cũng chẳng ai hay. Một số trường hợp, thân nhơn người bịnh vì biết con cháu anh em mình có người bạn đường tận tâm tận lực nên yên trí, hoặc ngại đụng "nó" rồi hổng biết xử sự ra sao, nên rồi cũng ít tới lui!
Hồi chuyện homo trong xã hội còn là phobia thứ thiệt, thì tui cũng bị lên ruột theo ! Diễn ý văn vẻ thì dzầy : Hễ cứ đụng đám vòng kiềng là y phép tui dòm liền hai cái cẳng của chúng, coi chúng đi giày size mấy, kiểu gì, màu sắc ra sao, vớ len dày hay vớ vải mỏng... đại khái là tui quan sát tỉ mỉ coi chúng giống mình chỗ nào, khác mình chỗ nào... Tới một lúc nào đó, chuyện dòm cẳng đám vòng kiểng từ từ lùi vào dĩ-dzãng. Gió tuy đổi chiều, nhưng tình của tui với đám vòng kiềng cũng chỉ tới đó chớ hổng tiến xa thêm, tui vẫn chưa kiếm ra thì giờ để tìm hiểu tâm tư tình cảm của "chúng giới" !

*
Năm 92-93 chi đó, John Doe (tên giả) nhập viện vì xuất huyết não. Khi ấy ông mới 46 tuổi, giáo sư đại học, độc thân. Bịnh sử trắng tinh không tì vết, rượu không, xì ke không, cà phê thuốc lá cũng không. Ông đang đứng dạy học trong giảng đường thì té gục xuống bất tỉnh. Nguyên do : chảy máu não vì một cơn cao áp huyết ác tánh.
JD được đưa vào phòng mổ, khoan sọ đăt drain cho máu chảy thẳng xuống ổ bụng, bone flap giữ đó chờ não bớt ứ máu, bớt sưng sẽ đt trở lại. Một nửa thân trái JD bị dính: liệt cơ, méo mặt sụp mí mắt, nói năng chậm chạp khó nghe, không kiểm soát được bàng quang và hậu môn.v.v. Đại khái tương lai hổng mấy chi sáng sủa... lắm.
JD là con độc nhứt, tía má ông đã thôi nhau từ 20 năm và cả hai đều không lập gia đình thêm. Họ thường xuyên vào thăm JD nhưng luôn tránh đụng mặt nhau. Bạn bè thì... hổng thấy ai hết, ngay cả đám đồng sự. Có chi đó bí ần lạ lùng không thể hiểu nổi. Nhưng... JD hồi phục rất mau. 1 tháng sau đó, tuy vẫn còn ngồi xe lăn nhưng ông đã có thể chống gậy vịn tường đi được 5-7 thước, mặt bớt méo, mí hết sụp, nói rõ và nói nhanh hơn trước.
Tiến triển tốt vậy nên JD được đưa xuống phòng mổ đặt lại bone flap. Chẳng may 5 ngày sau đó, não chảy máu trở lợi. Lại khoan mổ, lại cất giữ bone flap, rồi lại đưa bone flap vào như trước... Rồi lại chẳng may thêm bận nữa (quá tam ba bận hén). Neuro surgical team mổ mãi cũng nản lòng. Test tới test lui hổng tìm ra gì ráo đng giải thích những cơn áp huyết lên đột ngột (và xuống đột ngột) làm mạch máo não cầm cự hổng nổi và bể ra (thì dzậy mới gọi là... ác tánh). Thiếu bone flap nên JD phải đội cái nồi cơm điện tổ chảng trên đầu, tương lai chưa chừng còn phải đội vĩnh viễn. Khoảng bone flap trống vắng đó sẽ là một cái van an toàn để giảm bớt áp não khi cần thiết.
Hy vọng rồi thất vọng, rồi hy vọng nữa và thất vọng nữa... Sau vài lần như vậy thì JD trầm cảm vì tuyệt vọng. Thì thương cảm chớ sao không. Tốt tánh, hiền lành, đẹp trai, học giỏi... vậy mà rồi thinh không mọi việc sụp cái ào, hổng trống kèn báo trước ! Đây là lúc khởi đầu mối cảm thông có hơi ngoại khổ giữa người bịnh và người trị bịnh. Mối cảm thông đến thiệt bất ngờ, éo le và gây cấn.
Số là dzầy... y tá ra lệnh cho BS viết thuốc trĩ vì JD bị trĩ nặng lắm, lòi cả ra ngoài. Trời thần ơi... hổm nay cứ lo cái đầu với nồi cơm điện, thành hổng ngó ngàng chi tới cái... hậu môn. Trĩ thì bôi thuốc trĩ là đúng quá xá dzồi !  Thuốc bôi cả 2 tuần hổng nghe nói năng chi tưởng trĩ đã rút êm rút lẹ, dè đâu hổng có dzậy. Một bữa đi round, bịnh nhơn nắm tay BS thỏ thẻ, rằng tui ngồi hết nổi vì đau quá xá đau, tui muốn đi cắt trĩ cho tuyệt nọc. Hỏi, dzậy chớ bị trĩ từ hồi nào ? Thưa, bị đâu cũng hơn năm mấy dzồi. Trời đất, thế mấy BS trước nói sao ? Ờ, họ cho thuốc bôi, bôi hoài hổng hết !
Chừng khám thì ôi thôi trĩ đâu hổng thấy, chỉ thấy một cái "mồng gà" ngoại khổ, kích thước cỡ trái cam sành hổng ít, sần sùi tím tái. Trái cam ấy nằm ngay "cửa ra vào" và cửa này mở tang hoác hổng dzụt dzè e lệ chi dzáo, ngó thất kinh luôn ! Cửa hậu thường chỉ dùng để… đổ rác. Cửa hậu của JD long đinh sút ốc trật bản lề tùm lum, cũng bởi JD tiếp khách bằng lối này ! Thiệt ra nếu biết chọn mặt gởi vàng, chỉ tiếp những khách khứa đàng hoàng mẫu mực chắc cũng hổng tới nỗi. Còn đây thì… dòm thoáng cái là đoán được liền, rằng dân cư bước qua nó hẳn phải là đám ăn xổi ở thì theo kiểu vui bữa nào hay bữa nấy chớ cũng hổng hề tính chuyện dài lâu !
BS âu yếm nắm tay bịnh nhơn ân cần hỏi tới thì tự sự nguồn cơn ló dạng... JD biết mình vòng kiềng, và cố gắng giữ bí mật. Nghề nghiệp, gia đình, xã hội, tôn giáo… tất cả từng ấy thứ trộn lại quả là áp suất có căng phồng ! Mà ẩn mình (… chờ chết) trong closet vậy nên cô đơn quá xá, thế là xảy ra chuyện “double life”, bàn ngày ta là thày giáo đạo mạo tư cách - được cả đồng nghiệp lẫn học trò kính nể yêu mến - bàn tối ta thành con thiêu thân lao vào ánh lửa bập bùng, tỉnh bơ mần màn “huy hoàng một phút” !
Đi đêm miết vậy rồi dở lở sự việc trong gia đình. Ông tiá chấp nhận thực tế phũ phàng, support ông con, nhưng bà má nhứt định một mực lắc, ì xèo bắt thằng cu phải trở về "đường ngay nẻo chánh". Rồi căng thẳng và xào xáo, hai ông bà gây lộn như cơm bữa và họ đồng quyết định… chia tay. JD u buồn do chuyện li dị của tiá má, rồi ông chìm đắm trong cơn trầm uất từ mặc cảm tội lỗi và từ nỗi cô đơn. Ba cái đám chuyên gia tâm lý tâm thần, hổng đứa nào có khả năng giúp ông đặng ! Ông quyết định quyên sinh nhưng lại… sợ chết. Ông tính đi tu rồi thấy ngó bộ hổng xong, có lúc ông định bước khỏi closet để sống thật với chính mình, mà rồi lại sợ hãi bị cô lập coi rẻ. Tóm lại… JD lòng vòng trong mê lộ không cách chi tìm ra lối thoát, sao cho vẹn vẻ mọi đàng.
Khoảng thời gian sau này JD nghỉ dạy (agoraphobia, anxiety), sống khép kín, tách rời xung quanh, từ chối chuyện thăm viếng của bè bạn. Rồi stroke xảy đến, rồi biến chứng tới lui. Có lúc JD sanh paranoid, hồ nghi mình bị AIDS, cho dù test negative - ông vin lý do : sách vở y học có nói đến những case bịnh, đủ triệu chứng clinic nhưng test cứ negative hoài - Mỗi bữa tui nghe một chút, mỗi chút ấy là những mảnh puzzle dần dà ráp lại để ra một bức tranh có gam màu ảm đảm tối thui buồn bã.
Dân vòng kiềng, tất cả có cùng trải nghiệm như JD hay không ? Ai mà biết cho đặng !  Nỗi cô đơn to đùng thì hẳn phải có đó. Mà rồi vì cô đơn nên người ta có khuynh hướng họp đoàn, nương tựa vào nhau, hết lòng với nhau trong cơn hoạn nạn ! Nhưng đây là trường hợp của đám vòng kiềng đã chui ra khỏi closet, chớ đứng trong (như JD), hay ấm ớ chơn trong chơn ngoài thì đoàn tìm đâu ra mà họp cho đặng !
Trường hợp của JD rồi sao hở ? Thì sau cùng… ông vẫn chọn ở lại closet, bone flap được gắn vào, tiến triển khả quan hơn nhưng… hoàn toàn liệt nửa người. Phần đời còn lại của JD dính cứng với chiếc xe lăn. Ông không về sống với tía má mà vào một private nursing home, tiếp tục lặng lẽ và khép kín.
Mỗi năm tui gọi phôn cho ông vào dịp Giáng sanh, ông gọi phôn cho tui vào dịp… valentine. Tụi tui nói chuyện bá vơ, trời mưa trời nắng, hoa cỏ súc vật, rượu trà, và nhạc cổ điển... Có lúc tui tính hỏi ông đã “tìm ra” ai chưa, nhưng rồi hổng dám, sợ rằng sẽ khơi lại một vết thương, thể chất lẫn tinh thần, có thễ không bao giờ lành hẳn !
T NGHI

ĐIỀU GÌ KHIẾN LÀM NÊN BÀI THƠ?


Vương Ngọc Minh

The reader. By Van Gogh

xuân hạ thu đông
bốn mùa
mùi nhang/ mùi sáp đèn cầy (người chết tế người sống!)
mỗi ngày ở hiệu peet’ s coffee& tea
hầu như tôi đều thấy nàng tay bưng chồng sách
người thiếu nữ á châu
nàng đến
thư thả ngồi xuống ghế
chiếc ghế đặt cạnh chiếc bàn tròn kê
kề sát cửa chính

bất kì ai ra/ vào
thảy đều lách người qua bên
tránh chiếc bàn dù rằng rất muốn đụng nàng

tôi biết
bởi điều đáng chú ý ở nàng
ngoài mái tóc đen huyền dài chấm ngang eo
đôi mắt to
xanh thẳm một màu biển thái bình dương
dáng đượm đầy u uẩn
nàng còn có cặp mông vung
tròn (theo tôi là rất đẹp và

dường
biết tôi ưa chú mục vào cặp mông
mỗi bận đứng lên ánh mắt nàng đều lộ rõ kiêu hãnh!)

cửa hiệu mở 7 giờ sáng
tôi đã có mặt từ 6 giờ rưỡi (không hơn không kém!)
đúng 10 giờ nàng đến
thư thả ngồi xuống ghế   
khoảng 5 phút (xê xích một chút!) gã tiếp viên bưng đến cốc coffee
nhỏ
một ấm trà và cái cốc uống trà

như thế
mọi ngày nàng ngồi nhấm coffee
dùng trà
đọc dăm trang quyển sách này dăm trang quyển sách khác
độ ba tiếng nàng đứng lên rời hiệu coffee
nàng đi đâu? quả tình tôi không biết

đều đặn mỗi ngày
tôi đến trước nàng độ ba tiếng đồng hồ hơn- riết
hóa
đến chỉ để (đón) ngắm nàng hơn là để uống coffee
..
VƯƠNG NGỌC MINH.