Phan
Tấn Hải
TĐSC & TT. tác phẩm
Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt
Nỗi
buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại
Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước
chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe
lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm
cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở
quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ
đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống
Cùng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nỗi
buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc Thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước
viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ
nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân
1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài
thơ:
Đạn
bom chôn một mối tình
Vùi
trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...
Vườn
xưa hoa nở mưa dầm
Hải
đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.
(VSCNN,
trang 71)
Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống
nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng
thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn
hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô
Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ
triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian
hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh
văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi)
của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ
Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện
và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc
cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.
Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó
có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo
cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận
cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại
một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết
rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người
đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.
Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới
19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này,
trích:
“Trong
một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn
sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi
yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế
hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm
xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của
Ý Nhi, trang 14)
Nhà
thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu
ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:
“Bên
cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu
(Cổ Vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân
Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân),
là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đăng), là Đoàn Thanh
Liêm (Yên nghĩ) rồi ĐT, Hà Thùy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất
cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn
giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trân Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước
là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.”
(VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)
Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản
thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư
Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)
như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét
đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người
quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với
cương vị Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện
hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở
lại cùng với dân tộc.
Tháng
2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà
nước hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng
nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài
VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh
thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu
năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển
nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền
của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình
để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau
đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa
trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa
soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.
Trần
Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên Nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh
Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc
Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:
"A
morning cup of Jazz"
Điệu
Blues hóa chén trà lưu vong
Chén
trà tiễn một lương tâm
Mùi
hương theo gió thổi nhằm tim ta...
(VSCNN,
trang 70)
Một
khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn Sống Cùng Ngụ
Ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị
của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản
tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục
trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần
Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.
Điểm
ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là
Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang
24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).
Trong
bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường,
trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về
thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu
Thân 1968, trích:
Khi
tôi lớn lên
Các
anh như bầy chim di
Trốn
xa thành phố
Bỏ
lại giòng sông những sáng sương mù
Cây
cầu gãy và cổ thành đổ nát
Hàng
long não với gió chiều nhã nhạc
Bông
Sầu Đông tím lặng
Chờ
ai
Khi
tôi lớn lên
Các
anh như huyền thoại
Xao
xuyến lòng các cô gái đôi mươi
Những
chàng trai ôm giấc mộng đổi dời
Mơ
các anh
Như
mơ thần tượng
(VSCNN,
trang 53)
Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần
Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một Thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch
Thiết thực hiện.
Nơi
trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:
“Trong
giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng
là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ
ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông
kia..." (Tựa, Ý Nhi)
Cũng
như:
"...Có
thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn
chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại
nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)
Tập
thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc
Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi
trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với
nhan đề “Nội Chiến” có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra
hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng
chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng
trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ,
chưa nguôi nỗi đau?
Hình
ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh
Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:
BỨC
TRANH CHIỀU 30-4
Bao
thuốc lá ai đánh rơi
Điếu
thuốc kéo ra lưng chừng
Nằm
lại bên thềm nắng
Chiều
Ba Mươi Tháng Tư
Bức
tranh ba chiều
Màu
xám tối tràn xuống bậc thềm
Màu
vàng nắng ải
Tuổi
trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu
Hạnh
phúc ai để lại đằng sau
Người
tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ
Mảnh
pháo năm im trong tim
Kỷ
vật sau cùng, chiến tranh gửi lại
Chiều
Ba Mươi Tháng Tư.
(VSCNN,
trang 39)
Tương
tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ Vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ
Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối,
trích:
Chiều
30 ấy úa vàng
Bao
thuốc rớt lại
vỡ
tan
một
thời...
Hình
như
có
giọt lệ rơi
Mộng
xưa
đọng
mãi tim người lưu vong
Một
thời lãng mạn bão giông
Hóa
thành tĩnh vật
trơ
cùng tháng năm...
(VSCNN,
trang 58)
Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như
thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong
bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito Tiễn Mẹ, ghi lại,
trích ba đoạn thơ cuối bài là:
Nhớ
xưa mẹ ôm đàn con vượt biển
Đất
nước bạc tình mẹ tìm cửa tử
Ba
nằm lại nơi trại tù Bắc Việt
Phút
lâm chung mơ viên kẹo cầm tay
"Tháng
Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay
Thân
gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở
Ngăn
nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ
Bước
chân liều qua sóng dữ trùng dương...
Biển
chiều nay lại tiễn mẹ lên đường
Bao
giận thương tan cùng nắng gió
Nhìn
bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ
Chúng
con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.
(VSCNN,
trang 82)
Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường
thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình
Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ Tôi, chỉ dài 8 dòng,
viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng Thống
Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:
Năm
xưa nhớ mẹ đi tù
Bầy
con thơ dại lù mù tuổi thơ
Trưa
hè chị dắt thăm nuôi
Mo
cơm bới với cục đường mẹ ơi!
Ôm
tôi. Nước mắt mẹ trào
Mẹ
nhai cơm khống. Cục đường cho con
Mẹ
tôi. Nay đã không còn
Cục
đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.
(VSCNN,
trang 83)
Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong
bài thơ Biển Đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần đình Sơn Cước viết:
Thả
bông hồng trôi vào biển khơi
Xác em nơi mô hồn em đâu
Lòng mẹ quặn đau trời bão gió
Sóng biển chiều nay phủ oán sầu
(VSCNN, trang 87)
Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám Hối, viết năm 2015,
để tưởng nhớ Linh Mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:
Vết thương Quốc, Cộng
Vết thương thắng, bại
Vết thương trong, ngoài
Vết thương từ trái tim ngăn ngại
(VSCNN, trang 91)
Để rồi bài thơ tựa đề Lụi Tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần
Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:
Thế hệ chúng tôi
Thế hệ chiến tranh
Hận thù, tàn phá
Những đứa con tài hoa của Huế
(VSCNN, trang 96)
Thế đó. Các
văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần
Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả
sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có
những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là
các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào
thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.
Thơ của Trần
Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín
đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ.
Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất
mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một
thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt
cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không
ghi địa chỉ liên lạc.
PTH



.jpg)

