Sunday, April 26, 2026

ĐỌC THƠ: VẪN SỐNG CÙNG NGỤ NGÔN

Phan Tấn Hải
 
TĐSC & TT. tác phẩm
 
Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt
 
Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc Thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:
Đạn bom chôn một mối tình
Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...
Vườn xưa hoa nở mưa dầm
Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.
(VSCNN, trang 71)
   
    Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi) của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.
     Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.
      Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới 19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này, trích:
“Trong một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 14)
Nhà thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:
“Bên cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu (Cổ Vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân), là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đăng), là Đoàn Thanh Liêm (Yên nghĩ) rồi ĐT, Hà Thùy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trân Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)
    Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016) như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với cương vị Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở lại cùng với dân tộc.
Tháng 2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà nước  hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.
Trần Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên Nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:
"A morning cup of Jazz"
Điệu Blues hóa chén trà lưu vong
Chén trà tiễn một lương tâm
Mùi hương theo gió thổi nhằm tim ta...
(VSCNN, trang 70)
Một khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.
Điểm ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang 24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).
Trong bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường, trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu Thân 1968, trích:
Khi tôi lớn lên
Các anh như bầy chim di
Trốn xa thành phố
Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù
Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát
Hàng long não với gió chiều nhã nhạc
Bông Sầu Đông tím lặng
Chờ ai
  
Khi tôi lớn lên
Các anh như huyền thoại
Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi
Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời
Mơ các anh
Như mơ thần tượng
(VSCNN, trang 53)
 
   Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một Thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch Thiết thực hiện.
Nơi trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:
“Trong giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông kia..." (Tựa, Ý Nhi)
Cũng như:
"...Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)
Tập thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với nhan đề “Nội Chiến” có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ, chưa nguôi nỗi đau?
Hình ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:
 
BỨC TRANH CHIỀU 30-4
Bao thuốc lá ai đánh rơi
Điếu thuốc kéo ra lưng chừng
Nằm lại bên thềm nắng
Chiều Ba Mươi Tháng Tư
 
Bức tranh ba chiều
Màu xám tối tràn xuống bậc thềm
Màu vàng nắng ải
Tuổi trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu
Hạnh phúc ai để lại đằng sau
Người tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ
Mảnh pháo năm im trong tim
Kỷ vật sau cùng, chiến tranh gửi lại
Chiều Ba Mươi Tháng Tư.
(VSCNN, trang 39)
Tương tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ Vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối, trích:
Chiều 30 ấy úa vàng
Bao thuốc rớt lại
vỡ tan
một thời...
 
Hình như
có giọt lệ rơi
Mộng xưa
đọng mãi tim người lưu vong
Một thời lãng mạn bão giông
Hóa thành tĩnh vật
trơ cùng tháng năm...
(VSCNN, trang 58)
 
     Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito Tiễn Mẹ, ghi lại, trích ba đoạn thơ cuối bài là:
Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển
Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử
Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt
Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay
 
"Tháng Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay
Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở
Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ
Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương...
 
Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường
Bao giận thương tan cùng nắng gió
Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ
Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.
(VSCNN, trang 82)
     Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ Tôi, chỉ dài 8 dòng, viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:
Năm xưa nhớ mẹ đi tù
Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ
Trưa hè chị dắt thăm nuôi
Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!
 
Ôm tôi. Nước mắt mẹ trào
Mẹ nhai cơm khống. Cục đường cho con
Mẹ tôi. Nay đã không còn
Cục đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.
(VSCNN, trang 83)
    Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong bài thơ Biển Đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần đình Sơn Cước viết:
Thả bông hồng trôi vào biển khơi
Xác em nơi mô hồn em đâu
Lòng mẹ quặn đau trời bão gió
Sóng biển chiều nay phủ oán sầu
(VSCNN, trang 87)
Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám Hối, viết năm 2015, để tưởng nhớ Linh Mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:
Vết thương Quốc, Cộng
Vết thương thắng, bại
Vết thương trong, ngoài
Vết thương từ trái tim ngăn ngại
(VSCNN, trang 91)
Để rồi bài thơ tựa đề Lụi Tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:
Thế hệ chúng tôi
Thế hệ chiến tranh
Hận thù, tàn phá
Những đứa con tài hoa của Huế
(VSCNN, trang 96)
     Thế đó. Các văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.
    Thơ của Trần Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ. Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không ghi địa chỉ liên lạc.
PTH
  

Tuesday, April 21, 2026

BUỔI SÁNG NƠI CON PHỐ NHỎ

Nguyễn Đức Nhân
 
Phố nhỏ
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
cơn đói nghiêm khắc nhắc nhở hắn thức dậy đúng giờ
cửa sổ mở
rạng đông dường như xuất phát từ chùm hoa huệ hương vàng đang mỉm cười
con mèo chui qua hàng rào ngồi sắp xếp kinh nghiệm đi hoang trong bóng tối
cơn ho ngoài con hẽm dự báo thời tiết
tiếng chim hót đầu ngày được cành cây đón nhận
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
sương chưa tan
tiếng rao của người đàn bà bán hàng rong lơ lửng trên ngọn dừa
chiếc đồng hồ quả lắc trên tường đang đung đưa những ánh nhìn xưa cũ
tư tưởng trở mình trong quyển sách
và tiếng chuông lịm tắt trong nghĩa trang
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
trên trang nhất tờ báo các con chữ rung lắc
động cơ gầm rú trên bầu trời Iran
đảo kharg không cất giấu hận thù
mặt trời tung rải ánh sáng chưa hề giận dữ
mặt trời không tà kiến cực đoan
không ban cho
không lấy đi
không quan tâm các mệnh đề khẳng định và phũ định
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
ông lão nhìn lên bầu trời
buổi sáng mùa hạ đông nam á trong xanh
ly cà phê nguội lạnh
 
B'lao, 16/4/2026
NĐN
 

 

Sunday, April 19, 2026

KHÚC THANH VÔ THANH

Hoàng Xuân Sơn
 
Photo Phạm Anh Dũng
 
Trà thơm ngát mù sương
Dưới chân đồi cỏ lục
Bông tường vi hỏi đường
Ghé thăm chùa vạn phước
 
Vàng sa di trong nắng
Mộ ôm chầm bóng khe
Những cánh lá chiết mỏng
Bay theo một quận về
 
Phải không. hồn đương sứ
Rụng trắng ngát từ bi
Hiền lành không ai nỡ
Đạp thanh dưới kiêu kỳ
 
Nhẹ lắm, màu thao vẽ
Đôi mắt lụa nhang trầm
Thoảng già lam xám áo
Che vừa một tịnh tâm
 
Để mặc trưa huyên náo
Chim gọi tên võng chuyền
Ru đưa tình vừa chớm
Hạnh thục tràn như nhiên
 
• •
H O À N G X U Â N S Ơ N
12 tháng tư, 2026

Thursday, April 16, 2026

NỐT CUỐI MỘT HỢP ÂM

Đặng Mai Lan
 
Đặng Mai Lan. Tác phẩm
 
    Biên bước chậm lại khi thoáng nghe tiếng khóc tỉ tê phát ra từ một ngôi nhà có người phụ nữ đang ngồi trước một quan tài, cạnh đó là vài đứa trẻ đang cười nói vô tư với những trò chơi nào đó. Khuôn mặt người góa phụ xanh xao, mệt mỏi. Chiếc áo sô lùng thùng trên một thân thể rũ rượi như một cánh buồm gãy gập, tan tác trước bão giông.
    Biên bước nhanh hơn. Tất cả quanh anh có phải là ảo giác? Không chỉ là một ngôi nhà mà dường như còn vài căn nhà khác trong khu xóm trại nghèo nàn. Những giọng khóc nỉ non, đầy cam chịu sau khi đã kêu gào thống thiết. Hình ảnh bi thảm này nào có xa lạ với Biên. Anh đã chứng kiến từ nhiều năm trước, trong những trại gia binh nơi biên trấn, mà ngay cả Sài Gòn. Nó đầy dẫy khắp cùng và bây giờ thì còn nhiều hơn nữa. Nhiều hơn gấp bội lần. Khăn tang phất phơ khắp mọi miền đất nước. Bao giờ rồi sẽ tới phiên anh? Hòa bình được nói đến từ năm 1973. Nhưng hòa bình chỉ là những bông hoa trên bàn cờ chính trị.
            Tất cả mới chỉ là một cuộc pháo kích vào căn cứ. Tiếp nối sẽ là những gì? Anh vừa được cấp đầy đủ quân trang, chờ lệnh lên đường vào cuộc tử sinh.

           Từ khi đồng minh quay mặt, cắt đứt mọi viện trợ. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không còn đủ bom đạn để chống lại kẻ thù được tiếp ứng những thứ vũ khí tối tân hiện đại của Nga-Tàu. Những người lính ngày hôm nay đã chiến đấu trong thiếu thốn ngặt nghèo. Lệnh ân xá cho lao công đào binh được thi hành nhiều hơn, dễ dàng hơn. Sau khi được giấy ân xá, được đưa ra hậu cứ trình diện, làm thủ tục khám sức khỏe sơ sài, họ có thể trở lại chiến trường. Vậy mà vẫn không đủ lấp đầy số quân tổn thất. Cuộc chiến này còn kéo dài bao lâu nữa. Liệu anh có may mắn thoát khỏi lằn tên mũi đạn và nếu như anh nằm xuống, anh có được về Sài Gòn, trong ngôi nhà ấm cúng của gia đình anh như những thân xác nằm dưới những mái nhà anh vừa nhìn thấy?
            Biên nhét gói thuốc vào trong túi áo, bước nhanh. Lúc này anh hút thuốc khá nhiều. Thuốc giúp anh xua đuổi những âm u bi lụy trong hồn. Vậy mà lúc này, anh cảm thấy lồng ngực mình nặng nề, môi miệng khô đắng. Biên không còn một hứng thú, thèm muốn nào nữa.
            Những bước chân Biên như chạy, như tìm cách rời khỏi một bãi tha ma hoang lạnh.
            Đào ngũ? Hèn! …
            Anh tưởng mình đã quên ba chữ ngắn gọn ấy. Nhưng nó đang quay về gằn từng tiếng một, thách thức anh. Nó đang gõ trong đầu anh những nhịp gõ nhức nhối, là những tiếng cười khinh khỉnh nhạo báng.
            Thuở mới vào lính, Biên đã từng nghĩ dù anh ở đâu, sống hay chết cũng thế. Không có gì cho anh nuối tiếc, ràng buộc với cuộc đời này. Nhưng bây giờ cái chết, sự sợ hãi, cô đơn vây chiếm anh như một tấm lưới đan khít không một khe hở. Tấm lưới trùm kín chặt chẽ, xoay trở cách nào anh cũng không thể thoát ra.
            Những cuộc tháo chạy, lui binh được loan tin từng ngày trên những trang báo, đài phát thanh. Miền Nam rồi cũng sẽ sớm sụp đổ. Tiếp tục cầm súng để làm gì? Làm anh hùng vào giờ thứ hai mươi lăm chăng? Mọi niềm tin đã bị hủy hoại. Hai thằng bạn nhạc sĩ được thuyên chuyển cùng anh đã biến mất ngay ngày đầu sau khi nhận quân trang. Chúng nó không bỏ rơi anh, đã rủ anh cùng đi, nhưng ngần ngừ mãi, cuối cùng anh từ chối. Sự từ khước không đến từ lòng dũng cảm, lý tưởng đời trai mà là những lo sợ. Chắc gì anh đã thoát và còn nỗi nhục nhã nào hơn nếu bị bắt giữ. Hai thằng đó có lẽ đã về đến Sài Gòn, đã trốn chui trốn nhủi đâu đó. Có đáng sống không, một đời sống như thế?
Nhục nhã lắm, hèn lắm!
            Những tiếng nói khác lại cất lên trong đầu anh vừa răn đe, vừa bỡn cợt cùng với khuôn mặt của Diễm. Cái khuôn mặt tươi sáng, thông minh ấy hồ như đang nhìn anh trách móc.
            Diễm đến phòng trà tìm anh như ngọn gió cuối ngày. Ngọn gió thất thường, ào ạt đến và vội vàng bay đi. Họ đứng với nhau dưới mái hiên của một cửa tiệm cạnh phòng trà. Những câu chuyện ngắn ngủi, thiếu tiếng cười hồn nhiên nghịch ngợp của cô lại làm anh vui, vui hơn bao giờ hết.
            Diễm nói:
            – Tìm anh rất khó, mà đến đây nhờ ông gác cửa hoài em cũng ngại. Thôi khi nào rảnh và buồn… cần cà phê, cà pháo, tán dóc thì đến nhà tìm em. Trông anh hiền lành nhút nhát thí mồ, nhưng đừng ngại. Bố mẹ em cũng dễ thôi. Nhà đàn ông, lính tráng tới rần rần nên mẹ em quen rồi.
            Hai chữ "thí mồ" của Diễm làm anh bật cười.
            Diễm cho anh biết Tuấn và Tâm hai cậu học trò anh đã đàn cho hát hôm nào đã phải bỏ học đăng lính. Nghĩ mà thương! Công chưa thành, danh chưa toại, em không biết cả hai đang ở đâu để đi thăm? Làm con trai ở đất nước này thiệt thòi quá.
            Cô than vãn:
            – Bộ Tổng Tham Mưu nhà em giờ cũng vắng như chùa bà đanh. Ông anh em không cầm súng, nhưng là phóng viên, cũng đang lăn lộn ở những chiến trường, không biết số phận ra sao.
            Diễm cho anh số nhà, điều mà từ lâu anh mong mỏi muốn biết. Căn nhà ở khu Đa-Kao, trong một con hẻm rộng. Diễm có tả sơ sơ về khoảng đường, lối bước vào con ngõ nhà cô. Diễm có chờ anh không? Cô nào biết sau lần gặp đó, anh đã nhận lệnh cấp tốc phải xa Sài Gòn. Giữa hai người chỉ đơn thuần một thứ tình bạn, còn quá mông lung trên bến bờ tình cảm lứa đôi. Nhưng anh đang thiết tha nghĩ tới Diễm, nồng ấm, buồn rầu. Như thể anh vừa đánh rơi một điều gì đó, quý báu mà anh vừa có được trong tay. Không đúng sao? Tình thế hiện nay biết khi nào gặp lại?
 
            Khi Biên về đến nhà thì trời đã chập choạng tối. Con đường anh vừa đi qua dài hơn bao giờ hết. Bình thường dù có trục trặc gì đó trên đường, xe đò dù chạy chậm cũng không quá nửa ngày. Con đường suôn sẻ, nhưng anh đã mất trọn một ngày vì thay đổi phương tiện di chuyển. Xe đò, xe lam, xe ôm, cùng nỗi lo sợ theo anh từ nơi này qua nơi khác anh mới về được nhà.
            Những đôi mắt nhìn anh kinh ngạc, nhưng anh không còn sức lực để giải thích. Mà giải thích thế nào? Bây giờ, anh mới thực sự chạm trán nỗi hổ ngươi, nhục nhã.
            Biên ngả người nằm xuống nệm. Cơ thể nặng nhọc, mệt mỏi. Dù có mệt cỡ nào Biên biết mình sẽ không cách chi ngủ được. Anh muốn ngủ một giấc dài, muốn quên những thực tại vừa diễn ra. Nhà không có thuốc ngủ, ừ thì cứ nốc đại nửa chai thuốc ho cũng ngủ được thôi. Biên ngẫm nghĩ… và anh lại buồn rầu khi cầm chai thuốc ho trên tay. Quá khứ xa lắc xa lơ bỗng hiện về rõ nét. Trong căn phòng này, ngày xưa anh cũng từng cầm chai thuốc ho uống cạn trong lần nhập ngũ bị tóm cổ bắt về nhà. Nếu ngày đó, nhà có thuốc ngủ có lẽ anh đã tự tử, đã chết vì nhục và buồn. Chai thuốc ho này có khác gì chai thuốc của ngày xưa.
            
               Khi Biên đến cũng là lúc chuyến xe đò liên tỉnh vừa lăn rời khỏi bến. Nắng tháng Ba rát, bỏng. Mồ hôi đổ từng giọt, thấm ẩm lưng áo anh. Biên thoáng thấy người đàn ông chạy xe ôm đang đậu xe dưới một tàn cây chờ khách.
            Biên nhào tới đưa cánh tay chỉ về hướng chiếc xe đò đang chạy, anh nói giọng hổn hển:
            – Chú ơi, chú chở tôi chạy theo cái xe đò kia được không? Chạy theo cho tới khi nào nó dừng lại, thế nào xe cũng ngừng đón khách dọc đường.
            – Cậu điên hả? Làm sao tui đuổi theo kịp. Biết nó dừng lại ở đâu? Mà cậu định đi đâu?
            – Tôi phải về đơn vị gấp.
            Xe chạy liền liền. Trễ chuyến này thì cũng còn chuyến khác. Lính thiệt hay Việt cộng, hay tội phạm đây?
            Gã lái xe tròn mắt nhìn Biên đầy nghi hoặc:
            – Về đơn vị sao không mặc quân phục, quá giang mấy chiếc GMC. Đường này lúc nào chẳng có xe nhà binh chạy.
            Biên nài nỉ:
            – Đợi lâu lắm, chú làm ơn chở tôi đi. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả.
            – Mà đơn vị cậu ở đâu? Chính xác là cậu muốn đi đâu?
            Biên nhìn gã lái xe, xem ra gã có vẻ xiêu lòng.
            – Chú chở tôi về Trảng Bàng đi!
            – Xa lắm, không được đâu. Tôi chỉ có thể chở cậu tới Củ Chi thôi.
            Củ Chi, phải rồi, gần nhất là Củ Chi… Đi đâu cũng được, mình không thể đứng xớ rớ ở đây.
            Biên đưa gã tài xế những tờ giấy bạc rồi nhảy thót ngồi sau lưng gã. Xe chạy, mặt trời lên cao, không một gợn gió. Nắng chói lòa đổ lửa, tưởng chừng như thiêu đốt phần lưng áo, thịt da. Biên không biết mình đang ở đoạn đường nào? Bụi như khói mù che ngang tầm mắt, nhưng anh vẫn nhìn thấy bóng những người lính Quân Cảnh đứng phía xa.
            Gã tài xế lách xe hẳn vào phía trong con lộ để tránh một chiếc GMC đang chạy tới.
            Tạch tạch, đoàng đoàng, những tiếng nổ khô khan phát ra từ một lùm cây rậm rạp.
            Gã tài xế bất thần quay xe, xô anh ngã xuống lòng đường.
            – Tui không muốn chết. Cậu tự lo liệu đi!
            Biên lồm cồm ngồi dậy, lủi nhanh vào một con đường mòn. Hình như đang có giao tranh của hai bên. Chắc là Việt cộng phục kích. Mình sẽ bị bên nào bắt giữ? Chống cự hay tự bắn vào đầu?
            Biên sờ soạng túi quần tìm cây Colt 45. Anh đã mang nó theo, nhưng sao giờ không thấy nó? Mình đã đánh rơi nó ở đâu? Mất súng là một tội nặng. Biên hốt hoảng, mồi hôi tuôn ra đầm đìa.
            
            Biên bật dậy, chỉ là một cơn ác mộng. Còn trong trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ nhưng có một thúc đẩy mơ hồ dẫn anh bước tới chiếc tủ ở một góc phòng. Anh mở tủ mò mẫm tìm chiếc hộp sắt giữa bao nhiêu đồ vật, nơi anh đã cất cây súng đem về ngày hôm qua. Cây súng nằm gọn giữa những trái lựu đạn. Những trái lựu đạn mini đã được anh mang về từ lâu, từ ngày anh giã từ biên trấn. Anh buồn rầu chạm tay, mân mê những miếng sắt lạnh lẽo. Rồi mình sẽ làm gì với nó. Đời lính chiến của anh đã kết thúc nơi chiếc hộp này chăng. Hay ngày mai mình sẽ quay về chốn cũ?
 
     Cuộc sống quân trường gian khổ. Biết bao nhiêu đứa trốn lính, chạy chọt đủ cách để khỏi đi lính. Mày đã làm được cái gì nặng nhọc chưa mà đòi đi lính?
            Người cha ngồi trầm ngâm. Ông nhớ lại những câu nói ngày xưa ông đã từng nói với thằng con trai sau khi tìm cách lên phòng tuyển mộ tân binh bắt nó về nhà. Điều ông có thể làm được, vì ngày ấy nó chỉ tròn mười bảy tuổi. Cuối cùng thì nó cũng được toại nguyện với ước mơ. Cả nhà không ai ngờ nó lại chọn một binh chủng dữ dằn, trú đóng một nơi mà cộng sản thường xuyên tấn công, xâm nhập. Thôi thì lý tưởng của nó. Nhưng bây giờ thì sao? Thời gian nó về Sài Gòn làm lính tâm lý chiến chưa đầy ba năm, sao có thể làm nó nhụt chí, thay đổi đến tận cùng. Rồi điều gì sẽ đến? Ông sẽ không còn cách nào cứu được nó. Mà ai cứu được ai trong tình hình rối ren hiện tại. Hai thằng anh lớn trong quân ngũ, nhờ tài năng nên may mắn không phải ra chiến trường. Những đứa em của nó đang tuổi học hành, tương lai rộng mở. Trong gia đình, chỉ có nó lạc loài, tính ý khác thường. Và đời sống nó bây giờ còn khác xa hơn nữa.
            Từ lúc bước vào phòng, ông muốn nói với Biên nhiều lắm. Nhưng ông chỉ hỏi thăm vài câu lấy lệ về đoạn đường suôn sẻ đã đưa Biên về nhà. Và ông rời khỏi phòng sau khi buông ra một câu ngắn ngủi: Thôi thì cứ đợi coi tình hình ra sao!
 
            Biên nhìn qua khung cửa, những ngọn cây đương xuân thắm màu lá biếc khoe sắc dưới nắng trưa. Không gian êm ả, nắng thả xuống ngày những phiến thủy tinh lấp lánh. Mây trắng lờ lững với trời xanh. Thỉnh thoảng có vài tiếng chim kêu chiêm chiếp ở một lùm cây nào đó. Thứ không gian trong vắt, vời vợi yên bình trước mắt lại dấy lên trong hồn Biên một nỗi âm u buồn chán. Có bao giờ anh lắng lòng ngồi nghe một tiếng chim kêu.
            Chiến tranh chưa thực sự về thành phố. Dưới đường, bóng dáng một vài tà áo học trò thẩn thơ bước chậm. Những cửa tiệm buôn bán vẫn mở, người ra người vào. Dòng xe cộ vẫn huyên náo vùn vụt đi qua. Nơi chốn này, anh rời xa nó chỉ hơn một tuần mà sao cảm tưởng như đã "vật đổi sao dời". Sao trong lòng anh là một miền tịch liêu, vắng lặng. Giá như mình cũng được hồn nhiên bước ra đường, đi đâu đó như những con người tất bật ngoài kia.
            Biên cầm cây đàn rồi bỏ xuống. Những sợi dây đàn không rung nổi một âm điệu, nếu có chỉ là những tiếng khô khốc.
            Tấm áp phích treo trên tường có hình của một cô gái trẻ trung với mái tóc ngắn gọn kiểu con trai. Cô ca sĩ trẻ nhất ban nhạc, thích chơi trống và khá thân với Biên. Là một người trầm lặng, kín đáo nhưng hình như anh chỉ cảm thấy thoải mái khi trò chuyện với những cô gái tính tình bộc trực, đơn giản. Anh sợ sự điệu đàng, đỏng đảnh. Ai nhìn tấm hình to ngạo nghễ trong không gian riêng tư này hẳn sẽ nghĩ Biên yêu người thiếu nữ ấy. Ngay chính người trong ảnh cũng không biết Biên đã xin anh ký giả tấm quảng cáo cô ta ngay khi nhìn thấy. Cô không hề biết anh đã nâng niu dán nó trên tường, trong phòng ngủ của anh. Chỉ vì bức ảnh đẹp, nghệ thuật. Chỉ là một người bạn nhỏ dạn dĩ đáng yêu. Lạ lùng, bây giờ anh mới nhìn kỹ tấm hình và nhận ra mái tóc ngắn, nụ cười linh hoạt kia hanh hao những đường nét trên khuôn mặt của Diễm.
            Biên nghĩ, mình đâu phải là một tên tội phạm nguy hiểm vừa vượt ngục và kẻ đào tẩu đang bị cảnh sát lùng sục trên các ngả đường. Anh chỉ là một thằng lính vừa trốn trại và biết đâu sáng mai anh sẽ vượt đường trở về đơn vị. Sẽ bị những "củ" phạt như những thằng lính ba gai đào ngũ một hai ngày chỉ vì ham chơi, hay những lý do riêng tư nào đó. Ý tưởng "quay về" như những hơi thở nặng nề mệt nhọc trong một thân xác yếu đuối.
            Hay tối nay mình đến nhà gặp Diễm. Chỉ đi một đoạn đường ngắn, vòng qua bùng binh, rẽ vào con đường nhỏ, ra đường lớn, qua hai ba ngã tư là sẽ đến khu phố nơi Diễm ở. Anh chưa biết con hẻm nhà cô ở khoảng nào nơi dãy phố sầm uất, đầy những quán hàng và cả rạp xi nê. Anh đang mường tượng từng khoảng đường, từng góc phố. Nơi chốn ấy nào có xa lạ với anh. Nó không gần ngôi trường anh học, nhưng là nơi anh từng lang thang rong chơi với vài thằng bạn cùng lớp thời cắp sách đến trường.
            Anh sẽ cho Diễm biết mai anh về đơn vị mới, anh đến từ giã cô để Diễm đừng nhọc công đến phòng trà tìm anh nữa. Lý do hợp lý. Nhưng nếu ngày mai, ngày mốt anh vẫn còn đây sau những chấn song cửa này như một gã tù thì sao? Anh không thể nói dối.
            Biên thèm được gặp một ai đó trò chuyện trong lúc này. Ngoài Thuần và Phú anh chẳng còn một tâm giao tương đắc nào khác. Thuần thì không thể được. Biên vẫn còn nhớ kỷ niệm chuyến đi chơi nhạc ngoài Vũng Tàu, đêm lánh nạn ở Bà Rịa. Nhớ người thương binh hừng hực khí thế, giận dữ, chỉ muốn quay lại chiến trường khi nghe tiếng súng giao tranh. Thuần sẽ khinh bỉ anh đến ngần nào.
            Nhưng anh chẳng còn có thể đi bất cứ nơi nào. Căn cứ anh trú đóng đã không còn nguyên vẹn, chỉ sau ba ngày bị tấn công ào ạt. Một căn cứ phòng thủ mà cách đây hai năm đã xảy ra một trận đánh vang dội trong chiến sử. Một chiến thắng lẫy lừng nhờ chiến lược và sự liều lĩnh của vị chỉ huy, đã được các hãng truyền thông quốc tế ào ạt đưa tin ca ngợi.
            Cũng nơi ấy, hôm nay, người Tiểu đoàn trưởng đơn vị anh đã tử trận cùng hàng trăm binh lính. Số còn lại hoặc bị thương, hoặc đã bị bắt làm tù binh. Tin tức làm Biên rúng động. Anh thoát chết, nhưng bơ vơ trong cõi sống. Không còn đường nào để trở về. Không còn gì để chờ đợi. Nếu có, lẽ nào như thế! Anh không mong những suy nghĩ u tối trong đầu mình sẽ trở thành sự thật, nhưng ngoài nó, chẳng còn một ý nghĩ nào khác.
 
            Từ cao nguyên rồi đến những tỉnh lỵ đồng bằng, những địa danh lần lượt bị bôi đỏ trên bản đồ chiến sự. Sài Gòn rộn ràng vui đã mang một khuôn mặt nhốn nháo âu lo. Như một người bệnh, tưởng chỉ là những cảm cúm sơ sài, bỗng khám phá ra khối u nhọt ung thư đang loang dần từng phần trong cơ thể. Đã đến giai đoạn cuối rồi sao. Sài Gòn có cầm cự nổi?
            Tất cả những tụ điểm văn nghệ đều được dẹp bỏ. Không còn gì để làm, Phú rảnh rỗi hơn và cũng là người đã thường xuyên đến thăm Biên. Ủi an, bàn bạc, rủ rê, hối thúc.
            – Cậu đừng suy nghĩ, mặc cảm ăn năn. Việc làm của cậu không sai đâu. Cậu thấy đó, từ nơi này đến nơi kia, chúng ta đang dần mất hết. Cậu nên đi theo tôi!
            Theo Phú là con đường duy nhất để Biên quên hết hiện tại u ám. Theo Phú là đi đến một chân trời xa lạ. Là bước vào một đời sống khác. Là quên đi những lỡ lầm. Theo Phú cũng là chối bỏ quá khứ, quê hương, dứt bỏ tình thân ruột thịt.
            Ngày trước, Biên đã từng ước ao một cuộc sống tự lập, tìm mọi cách rời khỏi gia đình, trốn nhà đi lính khi chưa đủ trưởng thành. Nhưng bây giờ, ý nghĩ theo Phú di tản lại làm Biên băn khoăn, nghĩ ngợi. Rồi mình sẽ sống ra sao, làm gì nơi vùng đất không phải là quê hương, không cùng màu da tiếng nói.
            Biên thối thác bằng nỗi ngờ vực:
            – Hiện tại em không có một giấy tờ nào hợp lệ, làm sao em có thể an toàn vào Tân Sơn Nhất?
            – Cậu nhớ thằng Dick mà tôi thường kể cậu nghe chứ!
            Dick, đã từng làm việc cho tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, là bạn rất thân của Phú. Dick mới từ Thái Lan qua thăm Phú. Là cựu nhân viên của Lãnh sự quán Hoa Kỳ, Dick có đủ khả năng cấp cho Biên một giấy bảo lãnh, đưa anh vào tòa Đại sứ tại Sài Gòn và chờ được bốc đi di tản. Con đường nhà anh đến đường Thống Nhất nào có bao xa. Nhưng sự đắn đo của Biên thì giăng mắc trăm điều, kéo dài ngày này qua ngày khác. Cho đến ngày 24/4 khi  nghe tin Tổng Thống phải từ chức ra đi thì Phú cũng đã nghìn trùng. Tất cả đã trễ tràng, sai lỡ.
            Biên mang cây súng ra ngắm nghía. Khẩu súng ngắn chỉ dùng khi bước vào đường cùng trong cuộc tử sinh. Hình như anh chưa bắn một viên đạn tự vệ nào từ nòng súng này. Nếu có, chỉ là những thử thách ngoại lệ.
            Gần một tháng nay, đài phát thanh Sài Gòn chỉ phát ra những bản tin mà những xướng ngôn viên đã đọc lên một cách buồn bã. Là những tiếng nói dồn dập, nghẹn, nấc. Và bây giờ là một giọng nói khác, tiếng nói cuối cùng dõng dạc, lạ lùng trong chuỗi âm thanh rè rè chưa được sàng lọc.
            Yêu cầu Tất cả quân nhân các cấp phải buông súng…
            Đầu hàng thật sao? Biên không còn vai đeo súng để buông như mệnh lệnh. Anh chỉ có nó, cây súng ngắn đã cùng anh trốn chạy. Đã cùng anh phản bội quay mặt với chính nghĩa, lòng trung thành dũng cảm của một thằng lính. Có cần đầu hàng thêm lần nữa không?
            Đoàng! Tiếng động khô khốc như một nốt nhạc sai anh vừa bấm, hòa cùng một đoạn nhạc bập bùng đầy mai mỉa vang vang trên làn sóng điện.
            Rừng núi dang tay nối lại biển xa… (1)
            Những tiếng kêu hốt hoảng, những khuôn mặt vây quanh và bao nhiêu cặp mắt nhìn lên cái lỗ sâu hoắm trên trần nhà, thoảng mùi khói khét. Khuôn mặt ngưởi ca sĩ trong tấm poster vẫn vô tư, nhìn Biên cười mỉm.
            – Mày khùng hả Biên? Tại sao làm như vậy? Mày đâu phải là tướng lãnh, là những sĩ quan cao cấp. Thời nào cũng sống được!
            Bao nhiêu câu nói bật lên. Những câu nói của chính mình hay của mọi người đang vây quanh mình? Tai Biên lùng bùng. Biên không muốn nghe gì nữa.
            Anh nhìn cây súng lạnh lùng.
            – Mọi người yên tâm đi. Ngày mai, ngày mốt, nó sẽ biến mất khỏi nơi này.
            Biên cất cây súng vào vị trí cũ. Sẽ không ai có quyền giữ lấy khẩu súng này. Nó sẽ được nằm thanh thản dưới một đáy sông nào đó. Nó sẽ được chôn theo một quê hương đã bị bức tử. Nhưng mình thì sao? Anh cũng chỉ muốn bắn một phát súng vào đầu.
 
            Biên rời khỏi nhà, ra khỏi nơi đã tự giam giữ mình hơn một tháng dài dằng dặc. Là nơi dù bi lụy, anh còn thấy chính mình, còn những ước ao. Bây giờ thì đã hết. Cuộc đời cũ đã chết đã yên nghỉ dưới những lá cờ màu đỏ rực, phất phơ bay theo từng ngọn gió thở dài. Sài Gòn đầy những tiếng than van trầm uất sau một cơn mưa không đợi đúng mùa, rơi trong tức tưởi.
            Biên đi lang thang và hình như anh đang đứng trước khu nhà của Diễm. Nhà số mấy? Biên chỉ còn nhớ lờ mờ. Những giấy tờ, sổ tay ghi chép lưu giữ một thời làm lính trú nơi biên phòng Biên đã đốt. Giữa tâm thức hỗn mang, Biên không ngờ trong những thứ giấy tưởng bất ly thân ấy có cả địa chỉ nhà Diễm. Một cơn mộng du nằm trong thứ định mệnh, sai, lỡ. Nhà đã cháy, tất cả mọi thứ quý giá đều đã tro than.
            Biên đi qua những khu phố, nhìn những ngôi nhà cửa khóa. Những cánh cửa rồi sẽ mở ra. Nhưng Diễm mất hút từ ngày hôm ấy.
 
1/ Nối Vòng Tay Lớn (Trịnh Công Sơn)
 
ĐẶNG MAI LAN
 
* Trích (chương 18-19) truyện dài Nốt Cuối Một Hợp Âm
 Sách đã được phát hành trên librairie Lulu.com
 
 

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO

Huỳnh Liễu Ngạn

Tranh Đặng Can 1957
 
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố
mùa đi qua cho lá rụng xuống đường
tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ
khi mưa về làm ướt cả muôn phương
 
lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết
màu trời kia đã sáng xuống bên đồi
muốn che hết chút phận người quá mỏng
để thấy đời như hạt bụi rong chơi
 
sẽ là gì khi thời gian không đợi
cứ lãng du theo gió bão trên trời
biết là vậy mà quên đi một bữa
nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi
 
rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm
tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao
đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ
giữa đêm dài hư ảo với trăng sao
 
đừng chờ nữa một mùi hương đã chín
đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm
dù mơ ước khỏng thành mây trên núi
sao đợi hoài giọt máu chảy về tim
 
rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc
đem chải đầy từng sợi khói qua tay
lần này nữa quyết đưa hương lên áo
để níu về giấc mộng sót trên cây.
 
10.3.2026
HUỲNH LIỄU NGẠN

 

 

Monday, April 13, 2026

VIẾT LÚC HÔN HOÀNG

Hoàng Xuân Sơn
 
Hoàng hôn. Tranh Đinh Trường Chinh
 
Viết gì
rồi sẽ làm gì
Hay khoanh tay ngó ngày đi
lững lờ
Điểm xuất phát vẫn đứng chờ
Mây bay trên trán
Đạn thồ dưới chân
Tình thơ bạc tóc
xa
gần
Viết. như quyn một hồng ân của đời
Khi chờ ban phát tình tôi
Con sâu
Cái kiến
Biết mời gọi nhau
Viết. có khi nông
khi sâu
Viết từ tốn chút sắc mầu lãng du
Thưa em
mầu nắng chợt gù
Xin chạng vạng gối đêm thu
nguyệt trào
 
)(
H O À N G X U Â N S Ơ N
27 mars