Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.
Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nảy:
“Ông
nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”
***
Vào
dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề.
Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của
ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều
ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền
Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa
như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở
tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen
thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo
thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc
Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường:
một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất
nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá
hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục.
Vậy thì… họ đi đâu?
Họ
đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.
Mi
lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn
cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao
giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp
học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.
Cô
bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều
ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống
khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem
bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu
cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được
đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh
ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời
khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích
là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay
“cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành,
không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy
phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ
nhớ những câu rời rạc như:
Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở
khắp mọi nơi,
Ghé đây
đàm đạo chuyện đời trần gian...
…Hoặc hồn
ở đầu sông đầu suối
Hoặc hồn
nơi bụi chuối, cành đa
Hoặc hồn
nơi bóng xế chiều tà
Hoặc hồn
lãng đãng là đà mây xanh
Rồi
có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp,
qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những
chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.
Những
buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”
**
Khi
Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan
tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn
khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?
Má
và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được
siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp
người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu
năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất
mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng
người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn
toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?
Nhưng
có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai
lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi
lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã
trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!
Nỗi
đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời
khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được
lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có
hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông
vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân
yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng”
để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của
mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm
được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.
Mỗi
dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội
vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy,
ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn
thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của
mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.
Các
nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng
đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết.
Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là
trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã
“đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa.
Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm
qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết
anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được,
phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm
nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn
mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh
trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám
ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ,
cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!
Họ
đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người
còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My
Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết
bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua
đời.
Do
not stand at my grave and weep
I
am not there; I do not sleep.
I
am a thousand winds that blow,
I
am the diamond glints on snow,
I
am the sun on ripened grain,
I
am the gentle autumn rain.
When
you awaken in the morning's hush,
I
am the swift uplifting rush
Of
quiet birds in circled flight.
I
am the soft stars that shine at night.
Do
not stand at my grave and cry,
I
am not there; I did not die.
Và
nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác
khá sát ý bài thơ:
Đừng
đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi
đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi
trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong
lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
Đừng
đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi
đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi
nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong
thu êm dịu lất phất mưa giăng.
Tinh
sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi
là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời
lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như
cánh thiên di xa bay xứ lạ.
Khi
đêm tối buông lối anh đi về
Tôi
ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn
nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi
ánh sao xa góc trời mơ ảo…
…
Nghe
giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở
lại.
Mùa
Vu Lan 2026
Cam
Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Phim
“Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker
Bài
thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

No comments:
Post a Comment