Sunday, October 12, 2014

CÁNH CHIM ƯNG ĐÃ BAY QUA



truyện ngắn Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Chim ưng


Cây sồi

(Cho Charlie P., trong tiếc thương vô bờ)

1.

Hết đồi lại đến đồi. Khu Danville tràn đầy những ngọn đồi. Căn nhà của Chú và Dì cũng ở gần đỉnh một ngọn đồi. Thơ mộng lắm. Những cây sồi đặc trưng của vùng này, ai đó đã trồng từ bao lâu không biết, điểm lác đác như những ông thần bảo vệ cho các ngôi nhà. Vườn tược xanh tươi, hoa cỏ óng mượt. Các loại hoa như thể chẳng ai trồng, cứ sau một cơn gió hay một trận mưa là được “cắm” xuống đất. Tự nhiên là vậy!
À, đừng quên nơi đây, khu “xóm” này, cũng là nơi từng có viên phi công tài ba hướng chiếc máy bay chở cả mấy trăm hành khách đáp nhẹ nhàng xuống dòng sông Hudson ở New York. Nhớ năm nào sau sự kiện “Hudson River” ấy, cả khu “xóm” nhộn nhịp hẳn lên và hầu như ai cũng thấy hãnh diện lây bởi người anh hùng đó. Chú và Dì thường vui khi nói về kỷ niệm này.
Thế mà đã mấy năm rồi. Thời gian đưa đẩy nhiều thứ trong đời đến và đi.

Chú nắm tay Dì. Trời! Đã quá quen từ mấy chục năm nay, sao mà vẫn nghe như còn mới?
“Ngồi xuống đây, để nói về những nắm tro.”
Ngày đầu tiên khi nghe về những nắm tro, Dì rất sợ hãi. Sao ông lại nói điều chi ghê gớm vậy? Lâu nay Chú vẫn chiều chuộng Dì. Nhưng bây giờ thì Chú xin Dì chiều Chú một chuyện. Nghe về những nắm tro. Có nghĩa là Chú đang tập cho Dì nghe, đối diện, và không hãi sợ cái chết. Dì không sợ nữa, nhưng nghe điếng cả lòng.
Mà không những thế, Chú còn tập cho Dì ngồi ăn một mình, xem TV một mình, đi phố một mình, làm mọi việc giấy tờ trong nhà một mình. “Một mình”, nhưng có Chú ở đàng xa nhìn lại. Hai người như chơi trò chơi “đồ hàng” của trẻ nhỏ. Đâm ra Dì cũng quen dần, hết phản đối.
“Mình nhớ không, cách nay hai năm, chúng ta đã theo tiễn bà Michelle ra biển. Tro của bà theo chiếc bình trong suốt đã chìm xuống, biến mất. Mình nói cảnh đó trông thật buồn.”
“Nhớ chứ! Thật là buồn mình ạ! Mình nè, ở quê tôi, người ta rải tro trên mặt sông hoặc biển. Tro sẽ hòa trong dòng nước và cũng biến mất theo một cách nào đó.”
“Có người muốn gửi hũ tro của mình trong nhà chùa, hoặc nhà thờ. Cũng hay há mình!”
“Phải. Cách nào cũng hay cả.”
“Còn tôi…”
Dì toan bụm miệng Chú lại nhưng đang có tiếng chuông điện vang lên. Dì đứng lên đi ra mở cửa. Mấy bạn nhỏ đến thăm. Nói là “bạn nhỏ” nhưng có nghĩa là chỉ nhỏ hơn Chú và Dì thôi.
“Các bạn không quên hôm nay hát với chúng tôi chứ?”
“Dĩ nhiên là không quên. Dì cho tụi cháu mượn cây đàn guitar nghen!”
Thế là cây đàn được mang ra. Chú bảo đưa cây đàn cho Chú. Chú ngắm nghía và thở dài. Mọi người nhìn nhau. Chẳng là Chú đã chọn thật kỹ cây đàn này lúc Chú muốn “dợt” đàn trở lại. Bao nhiêu năm tháng bận bịu với công việc Chú đã không đàn. Trong thời gian làm bạn với các “bạn nhỏ” này Chú muốn học đàn lại, và đã sắm cây đàn này. Rồi Chú lại làm việc, lại bỏ quên nó. Bây giờ thì Chú lại không thể đàn. Thôi thì đứa nào đàn và hát cho Chú nghe bản “El Condor Pasa” đi, bản này Chú thích từ lâu lắm rồi.
“Thích làm chim sẻ hơn làm ốc sên, thích làm cây búa hơn làm cây đinh, thích làm rừng vắng hơn làm phố thị… Tôi nghe mặt đất ngay dưới chân mình…”
Bầu trời tự do, không khí tự do đang vây lấy Chú…

2.
Tôi đã mất tự do. Hoàn toàn như thế. Tôi không được tự do làm những việc tôi muốn nữa rồi!
Trời xanh, đất rộng. Nhưng tôi lại không còn tự do. Mỗi ngày là một ngày tù ngục. Tôi phải uống vô số loại thuốc. Mỗi nửa tháng tôi phải đi cho thuốc vào người. Người ta nói thuốc mới không gây nhiều hiệu ứng phụ. Chao ôi, cái chữ “hiệu ứng phụ” này trước đây tôi từng cười khi nghe nói tới. Vì tôi nghĩ đó là do người ta tưởng tượng thêm ra mà thôi. Chịu khó một chút thì xong. “Không gây nhiều hiệu ứng phụ”, tôi tự tạo ấn tượng cho mình như thế. Và cũng để cho cô ấy yên tâm.
Tôi ngồi ăn cùng bàn với cô ấy, như xưa nay vẫn thế. Tôi đưa thức ăn vào miệng. Như là răng tôi đang chạm vào kim loại. Không mùi vị. Tôi cố nuốt, và mỉm cười với cô ấy. À, mình hãy chơi trò chơi “đồ hàng” với cô ấy, “giả bộ” không có tôi, cho cô ấy ăn một mình. Tôi bảo cô ấy quay lưng lại, đừng nhìn tôi, như vậy dễ “đóng tuồng” hơn. Và như thế là cô ấy ăn, tôi thì cố nuốt. Cô ấy không thấy gương mặt khổ sở của tôi. Một bữa ăn qua đi.

3.
Những trò chơi “đồ hàng” cuối cùng hết tác dụng với Dì. Dì đã nhận ra sự gắng gượng của Chú. Dì van nài:
“Mình ơi, đừng vậy nữa! Tôi phải đối diện với sự thật, tôi chịu nổi. Mình không thể chịu đựng lặng lẽ như thế. Tôi cùng gánh với mình.”
Dì và Chú bước ra ngoài sân. Kìa, ngọn cây sồi! Đã bao nhiêu năm nay ngọn cây vẫn thế. Cây sồi không lớn thêm, hay đã lớn từ lâu. Chú nói:
“Mình coi nhé, cây sồi to lớn thế mà thua hoa hồng. Hoa hồng bé nhỏ mọc được trên ngọn cây sồi.”
Dì tưởng Chú nói sảng. Dì hoảng hốt sờ trán Chú. Không, Chú rất bình thường. Chú kéo Dì lại gần, hướng Dì nhìn theo một đường thẳng hàng với cây hoa hồng và cây sồi. Thì ra là thật. Hoa hồng nở trên ngọn cây sồi.
“Mình hãy hứa với tôi…”
“Hứa sao cơ?”
“Mình hãy hứa rằng mình đừng bỏ ca hát.”
“Tôi có phải ca sĩ đâu mà mình bảo thế? Hát hay không hát đâu phải là chuyện lớn, tôi chỉ hát cho vui với bạn bè.”
“Bởi vậy tôi mới nói. Mình rất thích hát mà! Chẳng là mình kể cho tôi nghe hồi mình còn bé mỗi lần đi hát về là mình bị đánh đòn, nhưng mình chấp nhận ăn đòn mà không thể bỏ hát.”
“Mình nhớ dai dữ!”
“Chuyện gì của mình tôi cũng nhớ dai.”
“Người ta gọi là “thù dai” đó! Mình nè, mình đau ốm, tôi chỉ muốn ở bên mình, không hát ca gì hết.”
“Nhưng cuộc đời không hát ca sẽ buồn chán lắm. Bây giờ đâu còn các cụ để đánh đòn mình. Tôi thì luôn ủng hộ mình. Tôi chẳng đã từng mặc áo dài, đội khăn đóng để diễn nhạc cổ với mình và các bạn đó sao? Đi đến các bạn Việt đi! Hát nhạc tình, nhạc hùng, ca Huế, ca cải lương…”
Hai người cùng cười vui vẻ. Ngọn cây sồi có hoa hồng nở. Dì đưa mắt nhìn Chú, cái nhìn biết ơn.

4.
Chú té quỵ trên nền nhà. Dì đỡ Chú không nổi. Dì toan gọi 911, Chú không cho. Chú nói Chú còn gắng được, Chú phải gắng đứng lên.
Chú đã thôi vào thuốc, bác sĩ quyết định như vậy. Bác sĩ bảo Chú muốn ăn gì cứ ăn, không còn phải kiêng cữ nữa. Chú còn cười nói tếu với bác sĩ:
“Tôi ăn… tới bến luôn ha bác sĩ!”
Thôi vào thuốc, muốn ăn gì thì ăn. Thế là quá rõ.
Nhưng rồi Chú không thể ăn gì hơn những bữa xúp.
Chú gắng đứng lên. Và Chú lại té quỵ. Dì cãi Chú, gọi 911.
Bác sĩ khám cho Chú, quyết định cho Chú hưởng “hospice tại gia.”

5.
“Mình làm gì thế?”
“Tôi muốn mình ra thăm cây sồi và hoa hồng với tôi.”
“Được thôi.”
Dì loay hoay sửa soạn chiếc xe lăn. Cô Rice giành lấy, nói:
“Bà để tôi giúp. Bà ốm yếu bé nhỏ thế không làm nổi đâu.”
“Cám ơn cô.”
“Không có chi. Là nhiệm vụ của tôi thôi.”
“Không đơn giản là nhiệm vụ đâu cô! Chúng tôi thấy cô là một thiên thần.”
Cô Rice chỉ mỉm cười và cám ơn. Cô là một thiên thần thật đấy! Hàng ngày cô phải săn sóc, nói chuyện, an ủi, tắm rửa, giúp đỡ người bệnh, những người bệnh đặc biệt đang “hưởng chế độ hospice”, mà không chút biểu lộ sự mệt nhọc hay khó chịu. Nụ cười thiên thần, ánh mắt thiên thần! Cô Rice khéo léo đưa Chú vào xe lăn. Dì xin để Dì tự mình đưa Chú ra vườn. Chú nói:
“Tôi muốn đàn cho mình hát.”
Dì nhìn cô Rice. Cô khẽ gật đầu, và lấy cây đàn đưa cho Dì.
Vườn đồi xanh ngát. Cây sồi. Hoa hồng. Chú run run khi gảy lên dây đàn guitar. Chú nhìn ra xa, nói:
“Mình à! Đám cây sồi “xóm” này, cứ như là đã có từ lâu, do ông trời “cắm” xuống ha mình!”
“Phải. Ai cũng có cảm giác như vậy.”
“Cảm giác thôi! Thiên nhiên tự nó có, nhưng cũng phải có bàn tay con người. Như những cây sồi kia, chúng không phải tự nhiên mà có mặt trong vườn nhà Sullenberger, ở một vị trí đúng ý muốn như vậy. Phải có con người trồng nó. Nếu trồng từ hột lại càng công phu hơn và chờ đợi lâu hơn. Cao lớn như thế dễ phải trải qua hàng mấy chục hay trăm năm. Còn hoa hồng trong vườn mình cũng vậy, chẳng là chúng ta đã trồng những cây hoa hồng này sao? Nhưng vì chúng dễ trồng quá, cho nên chúng ta có cảm giác trời “cắm” chúng xuống giùm.”
Chú nói một hơi như người khỏe mạnh, dù giọng nói yếu ớt. Dì cười thật vui. Chú đàn cho Dì hát bản “El Condor Pasa”. Như thể Chú đang lấy hết sức lực để đàn. Dì chiều Chú, Dì cũng cố nhớ lời để hát. Dì không thường hát nhạc Mỹ. Dì chỉ quen hát những bài nhạc Việt Nam. Chú gật gù:
“Mình à, mình biết vì sao mà… “El Condor Pasa” không?
“Tôi chỉ biết đó là một bản nhạc hay, mình giải thích cho tôi nghe đi!”
Chú cười nhẹ:
“Giải thích thì cũng chỉ là giải thích theo cảm nhận của chính mình mà thôi. Tác giả đâu có bao giờ giải thích. Chà, có mấy ông nhạc sĩ cứ hay giải thích ý nghĩa bản nhạc của mình, thất bại quá hở! Bản nhạc tự nó đã nói lên ý nghĩa. Tôi hiểu vì sao cánh chim ưng bay qua. Đó là sự tự do cuối cùng. Tự do thoát khỏi kiếp làm ốc sên hay chim sẻ, thoát khỏi thân phận cây đinh hay cây búa, thoát khỏi kiếp rừng hoang hay phố xá. Tự do… thoát khỏi tấm thân đau đớn…”
Dì bật khóc. Chú nói, giọng nhẹ như sương:
“Tự do tuyệt đối. Tự do cuối cùng.”

6.
Dì trao chiếc hộp trong có đựng khẩu súng của Chú cho người nhân viên được ủy quyền. Khẩu súng này gắn bó với Chú nửa đời. Dì hay nói với Chú một cách rất công thức: đó là khẩu súng “trừ gian diệt bạo”. Chú đã sống rất xứng đáng.
Cô Rice bước đến ôm lấy vai Dì. Rồi trong một cử chỉ đầy trân trọng và yêu thương, cô ôm siết Dì. Vòng tay cô ấm, chắc, như thể cô muốn truyền thật nhiều nghị lực cho người đàn bà yếu ớt này. Dì không khóc. Dì muốn cô Rice thấy Dì cũng sẽ mạnh mẽ như cô.

7.
Vườn đồi xanh ngát. Cây sồi và hoa hồng.
Cây sồi là của nhà Sullenberger. Hoa hồng là do Chú và Dì trồng. Bây giờ Dì ngồi đúng vào vị trí hôm trước ngồi với Chú trong vườn. Dì thấy hoa hồng nở trên ngọn cây sồi. Thì ra đơn giản là vậy. Cây sồi cao lớn nhưng mọc trên đất của nhà bên kia là nơi sườn đồi thấp, còn hoa hồng bé nhỏ thế này nhưng mọc ở nơi đất cao. Miễn là mình ngồi đúng vị trí này, tầm mắt như thế này, là được.
Ào một cái. Dì nghe như tiếng phát ra từ đôi cánh của một con chim rất lớn. Dì ngơ ngác. Không có gì xung quanh cả. Chỉ có Dì và tiếng của thời gian, im lặng…
“Mình à, nhớ nhé, hãy cám ơn và từ chối mọi vòng hoa. Mình đã sống với thật nhiều hoa rồi. Mình hãy xin những thân hữu muốn mua vòng hoa thì để tiền ấy tặng cho Hospice of the East Bay, để những người như cô Rice có thêm phương tiện làm việc.”
“Vâng.”
“Mình hãy hứa với tôi, hãy tiếp tục bước tới, ngẩng cao đầu, đừng bao giờ bỏ cuộc.”
“Vâng.”
“Riêng tôi đã được tự do.”
Chú bao lấy Dì như một làn sương trắng. Dì đưa hai tay chới với níu giữ làn sương. Được một vài giây, làn sương vút bay lên cao, tiếng của Chú thoang thoảng:
“I love you.”
Và hết. Dì bàng hoàng.
  
    Ngày đưa Chú vào nơi hỏa táng, Dì đã theo lời dặn của Chú, chọn chiếc bình hình con chim ưng. Nắm tro của Chú vào nằm gọn trong đó. Dì không đưa vào nhà thờ, không đưa vào chùa. Dì mang về nhà, đặt vào chiếc tủ kính, thắp đèn lên, thật ấm áp. Chú có đó hàng ngày, nhìn Dì, vui buồn với Dì. Có thể một ngày nào đó Chú cũng sẽ ra biển hay một nơi nào Chú muốn.
Cánh chim ưng đã bay qua. Chú đã được tự do khỏi thân xác. Tự do tuyệt đối. Tự do cuối cùng.
Tháng 9, 2014
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Nguồn: http://vietbao.com/p210528a227766/canh-chim-ung-da-bay-qua


CHÙM 6



thơ Hoàng Xuân Sơn




                            Collage  Derek Gores                 

khoảnh khắc

một chặp.  cây.  lùm.  nở bông
một chặp sen cụp lá.  nằm
một chặp thuyền lẻn vô xóm
chận người bước tới xăm xăm

làm như

làm như ai đâm vô mạn
sườn oai oái cạnh đau ran
làm như ai đương làm dáng
miệng hát lia bữa ôm đàn
 
kẻ lạ người quen

hôm lười không đi ra phố
nằm nhà nghía một bàn chân
gót sưng đau giùm kẻ lạ
đau xa một bước lại gần

bạn đi lúc nào không nhớ
rõ ràng cười cợt mới đây
tự nhiên cung trầm lắng xuống
nghe đêm chạm vỡ tiếng ngày
 
hòa tan

hạt đường đè lên hạt muối
ngẫu nhiên mặn ngọt cuộc đời
chiều tôi dắt em qua phố
luồn tay ngắm một cuộc chơi

đường vòng.  đường đi rất lạ
tuyến xe chờ nắng lên đèo
ngó nhau.  mắt dài sông biển
và thèm.  nhu giọt nước đeo

và rồi.  ai xô mộng dữ
sợi tóc treo gió trước đèn
mù mờ lương tri đốm sáng
cuối đường hầm một vết đen

mình cứ thương nhau như đã
đạp lên gai sước cuộc tình
một ngày con trăng hóa đá
là ngày cứu chuộc phồn sinh

ví như mạch đời hoang dã
chẳng còn gì ướm lòng nhau
mũi xương cuối chiều khâu vá
áo.  xin nhẹ khoác qua cầu

HOÀNG XUÂN SƠN
21, 22, 28 tháng 8. 2014
[trên giàn thơ 6]

TRÊN ĐỈNH MÙ SƯƠNG



Ban Mai

Đỉnh mù sương Bà Nà

    Q chở tôi bay trên xa lộ, đường vắng. Những cây cầu diễm lệ bắc qua sông Hàn rực rỡ về khuya. Đêm se lạnh, những đôi tình nhân âu yếm bên thành cầu, họ ngắm nhìn thành phố rực sáng ở phía chân trời.
    Qua khu mới, hai bên đường rợp bóng cây, ánh sáng của ngọn đèn đường hắt trên những cành lá đong đưa như những linh hồn đứng phất phơ trong gió. Đà Nẵng mà tôi biết trong “Tháng ba gãy súng” của Cao Xuân Huy, với tiếng xe tăng rít trên đường nhựa, người di tản dồn cứng ở cửa Thuận An, với xác người ngập ngụa trên biển cả, người con gái điên lõa lồ trên boong tàu, viên sĩ quan choàng vội chiếc áo lính quanh mình cô, tiếng cười ngây dại của người đàn bà đi tìm con, tiếng van xin của những cậu lính trẻ thất thần cố gắng bám lên thành tàu trong ngày cuối…Tôi trôi trên những con đường mọc đầy quán bar quanh đồn lính, những dây thép gai chằng chịt trong “Mùa biển động” của Nguyễn Mộng Giác.

   Nhà của S thuộc vùng ngoại ô, mưa bắt đầu nặng hạt. Tụi tôi đến trễ, vì Q bận việc ở Đài. Mưa bắn vào người tôi lạnh buốt khi tôi chạy dưới cơn mưa. Căn biệt thự kiểu mới với khu vườn thoáng đãng, xanh mát ở giữa khuôn viên. Những cành trúc đọng nước lấp lánh dưới ngọn đèn vàng. Ngôi nhà ấm áp với những đứa con ngoan, S đã có một cuộc sống ổn định qua bao thăng trầm. Những lát bánh hồng thơm dẻo, sừng sực dừa béo ngọt của xứ Tam Quan, quà quê tôi mang vào. Mấy chục năm rồi, nhưng tụi bạn tôi vẫn còn hồn nhiên như con nít. Thời đại học vô tư, đứa nào cùng mang trong lòng nhiệt huyết, thời của “Thép đã tôi thế đấy” sách gối đầu giường của lũ chúng tôi. Nhưng ra trường, mọi mơ ước của thế hệ chúng tôi sụp đỗ tan tành trước thực tế cuộc đời trần trụi. Thời bao cấp nghề giáo là một trong những nghề đói rách, thê thảm, muốn giữ lấy hình ảnh đẹp của người thầy trong mắt học trò có lẽ phải bỏ dạy, bạn tôi than. Bây giờ S là bà chủ cửa hàng xây dựng đang ăn nên làm ra.

   Quán gỏi cá Thanh Hương vắng khách vì trời mưa, vì giờ ăn tối đã trễ, ly rượu vang màu đỏ sóng sánh. Lần đầu tiên tôi ăn món gỏi cá trích cuốn với các loại rau rừng, những món dân quê bây giờ đã lên mâm “đặc sản”. Ngày nay đi du lịch, từ Nam chí Bắc nơi đâu bạn cũng được tiếp thị món rau đặc sản vùng quê. Đến Tam Đảo, trong các nhà hàng bạn sẽ được đãi món đọt susu xào tỏi, thịt thỏ nướng. Đến Pleiku khách sẽ có món lẩu nấm với các loại rau rừng, về Bình Định bạn sẽ có món rau lang luộc chấm mắm cua… món ăn mà ông Võ Phiến mấy chục năm đi xa vẫn nhớ tha thiết trong tùy bút của mình.

   Q kể tôi nghe ngày mới ra trường Q dạy trên vùng núi, những ngày hè đói khổ, bạn theo xe hàng xuôi Nam ngược Bắc, có lúc bạn thấy cuộc đời vô nghĩa, buồn đến mức, cái chết như một cứu rổi. Một thời gian, không chịu nổi cảnh tù hãm, Q bỏ dạy xuống Đà Nẵng tìm việc, rồi đi học tiếp, rồi chuyển sang làm Đài truyền hình. Tính Q sôi nổi, nắm bắt nhanh nhạy, có tay nghề vững trong biên tập bài, nên chẳng bao lâu Q làm đạo diễn truyền hình. Nghề này phải đi nhiều, tiếp xúc nhiều, bạn khác hẳn Q của những ngày xưa. Bốn năm học, chúng tôi ngồi cùng bàn, đi thực tập cùng nhau, cả hai trở thành hai đứa bạn thân. Nhớ những buổi chiều ở vùng quê Nhơn Hậu, bên cạnh thành Đồ Bàn, Q giành xách nước trên cái thành giếng đá ong cho P và tôi nấu cơm, cầm đèn hột vịt dò dẫm trên con đường làng tối đen cho chúng tôi đi sưu tầm văn học dân gian. Đêm nghe tiếng dế mèn nỉ non, tiếng ếch nhái ộp oạp dưới cánh đồng, tiếng gà gáy cầm canh…

    Thời gian êm đềm tôi sống trong vòng tay gia đình, của những năm đầu tiên thời đại học cũng là thời gian H lang thang khắp nước Mỹ. Người bạn thân ngày tôi mới lớn, học hơn tôi một năm. Ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau nói chuyện trên trời dưới đất, cùng học bài, cùng nghe nhạc, cùng đọc sách, cùng kể những câu chuyện phiêu lưu. Khi đó, chúng tôi thích đọc cuốn “Hai vạn dặm dưới đáy biển” của Jules Verne và mê thuyền trưởng Nemo. Rồi một ngày, H biến mất, một năm sau tôi nhận thư H từ Phi Luật Tân, lúc đó tôi học năm thứ nhất đại học. Thời đó, nhận thư từ nước ngoài trong thế giới tư bản là một điều còn cấm kỵ, nhất là từ những người vượt biển bị cho là phản quốc. Tôi được phê trong học bạ là sống xa rời quần chúng! Thành phần tiểu tư sản! Hàng tháng họp phê bình và tự phê bình xếp loại hạnh kiểm A,B,C…
    Sau này, tôi nghe H kể, sau gần hai năm ở trại tị nạn H định cư ở Mỹ. Nơi H đặt chân đến là Seattle, Washington, miền Tây nước Mỹ. Lần đầu tiên đến đất nước xa lạ, rơi trúng mùa Đông, thành phố Seattle buốt giá, mưa nhiều, bầu trời u ám. Mọi viễn cảnh mà H vẽ ra trong đầu khi còn ở trại tị nạn sụp đỗ tan tành trước thực tế trước mắt. Khung cảnh nơi này buồn chán, không sinh động như H nghĩ. Nhiều lần H cảm thấy tuyệt vọng, là một người thích phiêu lưu, khám phá, H quyết định đón xe bus đến những tiểu bang khác, mong tìm một nơi khí hậu ấm áp hơn, không am tường địa lý, không quen biết ai, không biết phải đi đâu, nhưng H quyết đi. Vậy là H lang thang từ tiểu bang này đến tiểu bang khác để sinh sống, đến nơi nào H cũng vào nhà thờ hỏi xin việc làm, và không từ nan bất cứ công việc gì từ dọn dẹp sau vườn, hái quả, lau dọn nhà cửa. Lúc đó niềm khao khát lớn nhất của H là được đi học, H liên lạc với bạn bè đang tứ tán khắp nước Mỹ để hỏi thăm cách thức và nhờ chỉ cho con đường đi. Cuối cùng H đến tiểu bang Ohio, một nơi thật lạnh, xung quanh là băng tuyết, có nhiều khi nhiệt độ xuống đến -20 độ, nhưng bạn không nề hà, lại rất vui vì ở nơi này mình được đi học.
    Đó cũng là thời gian đêm nào tôi cũng mở đài BBC để nghe tin tức về những người Việt Nam vượt biển tị nạn, mong tìm tin tức bạn bè.
Và rồi, hành trình của chúng tôi mỗi người mỗi ngã bặt tin nhau suốt 30 năm. Ba mươi năm một thời gian quá dài của cuộc đời mỗi con người.

    Khách sạn Riverside bên chân cầu Rồng nhộn nhịp, chuyến tập huấn khoa học công nghệ của Bộ Giáo dục triệu tập các trường Đại học tổ chức nơi này. Đêm Đà Nẵng hoa lệ tr ải dài dưới tầm mắt tôi, mới mấy năm trở lại Đà Nẵng thay đổi và phát triển nhanh đến mức kinh ngạc. Cầu Rồng đèn xanh, đỏ nhấp nháy liên tục, dưới chân cầu người ta đang tổ chức cuộc thi nhảy hip hop và các Ban nhạc cho giới trẻ thành phố.
   Tôi không còn trẻ nữa để thả mình vào những âm thanh gầm rú của các nhạc cụ điện tử, không đủ năng lượng để nhảy những vũ điệu quay cuồng.
    Tôi chỉ muốn một không gian yên tĩnh, chìm đắm vào những giai điệu du dương của một thời quá vãng… Quán Piano bar Tiếng dương cầm nằm trên đường Hoàng Văn Thụ, khu dân cư yên tĩnh là nơi chúng tôi tìm đến. Đây là quán của một người bạn Q. Xe con đậu hai bên đường chật cứng. Là một phòng trà nhỏ ấm áp, thân tình, nơi chốn tìm về của những người phần đông thuốc thế hệ chúng tôi. Phòng nhỏ, ca sĩ và khách ngồi nghe gần gũi, như những xẻ chia của người bạn lâu năm gặp mặt. Phong cách lãng tử, nhẹ nhàng.
   Nghe bạn kể căn nhà 3 tầng này trước đây là của một vị đại tá trong quân lực VNCH, sau 1975, vị đại tá đi học tập cải tạo, vợ con bị đuổi ra ngoài bắt đi kinh tế mới, nhà giao cho 3 vị cán bộ mới tiếp quản về, mỗi vị một tầng lầu. Mấy mẹ con vị đại tá này không biết sống ở đâu, không biết phải làm gì. Họ bèn lấy cái bàn đánh bóng bàn của gia đình để một góc trước căn nhà, ban ngày làm sạp bán vải, ban đêm cả nhà che màn ngủ trên cái bàn này. Rồi cũng sống qua, sau khi vị đại tá học tập trở về, cả nhà vượt biển, may mắn sau mấy ngày lênh đênh đói khát được tàu Vatican vớt đưa về định cư tại Ý. Chỉ còn một người con trai ở lại, căn nhà quá đỗi thân thương nên bằng mọi cách anh quyết chí làm ăn mua lại ngôi nhà của ba mẹ. Bây giờ, người con trai đã mua lại 2 tầng lầu, còn 1 tầng lầu nữa vị cán bộ vẫn còn ở chưa bán. Người chủ của quán “Tiếng dương cầm” này là người con trai ấy. Anh con trai buồn kể, đã bao nhiêu lần mời ba mẹ về lại VN thăm nhưng ông bà nhất quyết một đi không trở lại, không biết sau này có thay đổi không.
    Những giai điệu thiết tha của Vũ Thành An trong Bài “Không tên số 1” qua tiếng đàn piano từng giọt thánh thót như thấm vào tim tôi:

Xin đời sống cho tôi mượn tiếng,
Xin cho cơn mê dài thêm một chuyến,
...Còn đắng cay, còn hận, còn đau.

Mai đời có cho tôi gặp gỡ,
Xin cho đôi môi em cười rạng rỡ,
...Để sống thêm, thêm lần trẻ thơ.

   Lần đầu tiên tôi nghe giọng nói của H trên điện thoại sau hơn 30 năm, tôi ngập ngừng... thời gian đã cuốn trôi tất cả. Hành trình của H đã xảy ra điều gì tôi không biết, nhưng giờ đây bạn sống và chiêm nghiệm cuộc đời như một thiền sư. Bây giờ chúng ta suy ngẫm gì sau khi gần hết cuộc đời? có lần H hỏi tôi như vậy.
    Nhìn lại mỗi con người là một hành trình khác biệt, và mấy ai hài lòng với cuộc đời mình đã sống. Nhưng dù sao đi nữa, cuộc sống của muôn loài là vậy, đều phải trãi qua những thăng trầm để tồn tại, cuộc đời là một thể nhị nguyên, luôn luôn bất toàn, luôn luôn thay đổi.
    Một buổi sáng đứng trên đỉnh Bà Nà dưới cơn mưa tầm tã, gió buốt lạnh. Hoa Ban một màu tím biếc trên đỉnh sương mù. Tôi trôi bồng bềnh trong làn sương lạnh. Cảm nhận đời người như khói như sương.
    Tôi hiểu vì sao ngày xưa, Trịnh Công Sơn đã từng viết: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”.
    Bao ngàn năm đã trôi qua câu hỏi  “Ta là ai, Ai là ta…” cuối cùng tất cả đều trở thành cát bụi.

Quy Nhơn, 9/2014
BM