VĂN HỌC
PRESS
22
Agostino, Irvine, CA 92614 USA *Vmail: +1-949-981-3978
Trân trọng
giới thiệu
JAMES
JOYCE
Dubliners
Những kiếp sống mòn
Tập truyện
Tranh
& thiết kế bìa ĐINH TRƯỜNG CHINH
VĂN HỌC
PRESS xuất bản, 2026
LỜI NGƯỜI DỊCH
Trước
khi vào sách
Tập
truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản
lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối
tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng
leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là
thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện,
những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho
người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã
hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn
thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những
cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức
tạp, ghi lại nỗi tuyệt vọng câm lặng và nỗi thất vọng âm ỉ của cuộc sống bị mắc
kẹt trong một vòng xoay trì trệ dường như không lối thoát.
Sự
quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những
sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức
tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.
Những
nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một
người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự
khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực,
dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận
và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì
kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ
tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất
nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được
Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về
sự vỡ mộng của thành phố Dublin.
Những
câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những
quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc
xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết
bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những
trận mưa, thay vào đó là sự chấp nhận cái tầm thường một cách đầy cam chịu. Tiếng
cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ
bên dưới bề mặt.
Joyce
không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc
trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không
nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý
nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một
bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ
bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
Dubliners
không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm
lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng
trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn
mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau
cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.
Người
đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà
Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn
của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt
của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc
của kiếp người.
Tập
truyện này của Joyce được giới phê bình văn học đánh giá như là sự đổi mới
trong văn học, với việc Joyce sử dụng các kỹ thuật hiện đại và phong cách tự sự
đặc biệt mà sau này trở thành dấu ấn trong các tác phẩm văn học khác của ông.
Xuyên qua việc khám phá những điều tầm thường lẫn phi thường trong cuộc sống của
người dân Dublin, Joyce đưa ra một bình luận sâu sắc về thân phận con người. Với
một văn phong gợi cảm và cái nhìn xuyên thấu tâm lý con người đã biến Dubliners
trở thành một tác phẩm văn học kinh điển được ca ngợi và có sức sống trường tồn
trong nền văn học Tây phương.
*
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ JAMES JOYCE
James
Joyce là một nhà văn được xem là tiên phong của chủ nghĩa Hiện đại. Những cách
tân của ông trong phong cách tự sự, đặc biệt là kỹ thuật “dòng ý thức”, đã đưa
ông trở thành một trong những tác giả tầm vóc đặc biệt, có ảnh hưởng lớn trong
thế kỷ XX.
Sinh
ngày 2 tháng 2 năm 1882 tại Rathgar, Dublin, là người con cả trong một gia đình
Công giáo đông con và gặp nhiều khó khăn về tài chính. Ông theo học tại trường
Clongowes Wood, trường Belvedere, và sau đó là Đại học Dublin (University
College Dublin), nơi ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại.
Năm
1904, Joyce rời Ireland cùng vợ là Nora Barnacle, bắt đầu một cuộc sống lưu
vong tự nguyện tại lục địa châu Âu. Ông đã sống tại Pola, Trieste, Zurich và
Paris, chủ yếu tự nuôi sống bản thân bằng nghề dạy tiếng Anh. Trong những năm
tháng này, ông đã sáng tác và xuất bản những tác phẩm định hình cho nền Văn học
Hiện đại Tây phương.
Văn
phong của Joyce định hình hình thức tự sự xuyên qua kỹ thuật độc thoại nội tâm,
các cấu trúc biểu tượng và những thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ. Các tác phẩm
chính của ông bao gồm:
•
Dubliners (1914): Tập truyện ngắn khắc họa sự trì trệ, bế tắc trong đời
sống tại Dublin.
•
Portrait of the Artist as a Young Man (1916): Tiểu thuyết mang tính bán tự truyện,
theo dấu quá trình trưởng thành và phát triển của nhân vật Stephen Dedalus.
•
Ulysses (1922): Thiên sử thi Hiện đại mang tính đột phá của ông, tái hiện
hành trình tương tự như trường thi Odyssey của Homer nhưng diễn ra chỉ trong vỏn
vẹn một ngày tại Dublin.
•
Finnegans Wake (1939): Tác phẩm mang tính thử nghiệm cao, là một câu
chuyện kể về giấc mơ được thể hiện qua sự pha trộn của nhiều ngôn ngữ khác
nhau.
Trong
Thế Chiến thứ nhất, Joyce dành phần lớn thời gian sinh sống tại Zurich, sau đó
chuyển đến Paris và sống tại đó cho đến năm 1940. Ông qua đời tại Zurich vào ngày 13 tháng 1 năm
1941 sau một ca phẫu thuật điều trị chứng loét dạ dày.
Joyce
được tôn vinh là một trong những nhà văn
quan trọng nhất của trường phái Hiện đại trong văn học, được ngưỡng mộ nhờ những
kỹ thuật tự sự mang tính cách tân đột phá, cùng chiều sâu tâm lý và sự sáng tạo
vô biên trong ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục định hình nền văn học,
lý luận phê bình và thực hành nghệ thuật trên phạm vi toàn cầu.
*
Dịch Dubliners
Tại
sao dịch Dubliners?
Câu trả lời là tại sao không? Một tác phẩm kinh điển được cả thế giới ngưỡng mộ
và dịch, rất xứng đáng được đọc và dịch (thực ra, dịch là đọc một cách kỹ lưỡng
hơn).
Tập
truyện Dubliners có đặc tính là đằng sau những hành động, những tự sự miêu thuật
bình thường, thậm chí tẻ nhạt, là tiềm năng diễn giải phong phú của câu chuyện,
một câu chuyện luôn liên quan đến cuộc sống. Đối tượng của văn học ở đây luôn
là con người. Một trong những dấu ấn của Joyce trong văn chương là không bao giờ
để lộ một chủ ý rõ rệt nào mà luôn “mở” cho người đọc tùy nghi và tùy tiện diễn
dịch hoặc phỏng đoán. (Một giai thoại không rõ có đúng không là: Có người hỏi tại
sao ông viết cuốn tiểu thuyết Ulysses khó hiểu như vậy, để làm gì, thì ông trả
lời, “Để các nhà phê bình biên khảo bận rộn đọc trong suốt 300 năm tới.”)
Dù
dễ đọc hơn các tác phẩm sau này của Joyce, dịch Dubliners sang tiếng Việt, đối
với tôi, vẫn là một thách thức lớn.
Thách
thức lớn nhất trong việc dịch Dubliners sang một ngôn ngữ khác đến từ sự chính
xác tuyệt đối của Joyce. Thêm nữa, các thành ngữ, phương ngữ, cú điệu, tham chiếu
văn hóa, và nhất là cái “ý tại ngôn ngoại” của Joyce khó có thể chuyển tải một
cách suôn sẻ sang bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào khác.
Tác
phẩm chứa đựng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, tiếng lóng của văn hóa
và đời sống đặc thù dân tộc Ireland. Đối thoại của cư dân Dublin là tiếng
Anh-Dublin đầu thế kỷ XX, đầy tiếng lóng, mang tính giai cấp. Các từ vựng Công
giáo và Dân tộc chủ nghĩa cũng không thiếu. Sự cố ý cho nhân vật phát âm sai và
dùng từ sai (thuật ngữ tiếng Anh là malapropisms, một thủ pháp văn học thường
thấy trong văn học Tây phương cốt ám chỉ trình độ xã hội và văn hóa của nhân vật,
chính Miguel de Cervantes, trong tác phẩm tiểu thuyết Don Quixote, cũng thường
hay sử dụng thủ pháp này.)
Các
dịch giả thường “sửa chữa” hoặc làm mượt mà những đặc điểm này, nhưng làm như vậy
lại xóa bỏ kết cấu ngôn ngữ có chủ ý của Joyce. Vấn đề này được ghi nhận trong
các nghiên cứu về các bản dịch tiếng Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, nơi các dịch
giả thường xuyên thay đổi hoặc “chuẩn hóa” ngôn ngữ của Joyce.
Đối
với tiếng Việt, thách thức thậm chí còn gay gắt hơn, bởi thường ta không có cụm
từ tương đương trực tiếp cho nhiều thành ngữ tiếng Anh-Ireland. Người dịch phải
lựa chọn giữa sự khó hiểu theo nghĩa đen hoặc cách diễn đạt phù hợp với văn
hóa.
Rồi
đến các tham chiếu văn hóa và lịch sử trong tác phẩm. Dubliners chứa đầy các
tham chiếu đến chủ nghĩa Dân tộc Ireland; các nghi lễ Công giáo; chính quyền
thuộc địa Anh; địa lý Dublin; các nhân vật lịch sử-chính trị (Parnell, Sir John
Gray, v.v.); các thể chế xã hội (trường học một-xu-mỗi-tuần)… Những tham chiếu
này thường xa lạ với độc giả không phải người Ireland, và đôi khi người dịch phải
thêm chú thích hoặc giải thích. Các học giả lưu ý rằng người dịch thường cung cấp
thêm chú thích vì họ không thể kỳ vọng độc giả trong ngôn ngữ mình nắm vững tường
tận các chi tiết này.
Đối
với độc giả Việt Nam, khoảng cách văn hóa thậm chí còn lớn hơn.
Văn
phong của Joyce qua sự lặp lại có chủ ý và cú pháp cũng là một thách thức lớn
khác cho người dịch. Joyce sử dụng sự lặp lại như một thủ pháp văn học, phản
ánh sự đơn điệu và tê liệt của cuộc sống ở Dublin. Tuy nhiên, các dịch giả thường
loại bỏ hoặc giảm thiểu sự lặp lại, cho rằng nó vụng về hoặc thiếu tính văn
chương. Đây là một mô hình được ghi nhận trong nhiều bản dịch tiếng Âu.
Văn
xuôi tiếng Việt có xu hướng coi trọng sự ngắn gọn và trôi chảy, vì vậy việc giữ
nguyên cú điệu lặp lại của Joyce có thể cảm thấy không tự nhiên. Tuy nhiên, việc
loại bỏ lại làm suy yếu hiệu quả nghệ thuật của nội dung.
Joyce
cũng ưa chuộng lối viết mà ta hay gọi là
“ý tại ngôn ngoại”, một hình thức hiện thực chủ nghĩa được tinh giản
hóa, mang tính khách quan gần như tuyệt đối. Giọng điệu này rất khó tái hiện bởi
phong cách văn xuôi tiếng Việt thường thiên về việc thể hiện các tín hiệu cảm
xúc một cách rõ ràng, trực diện hơn. Sự tiết chế của Joyce có thể khiến văn
chương trở nên nhạt nhẽo hoặc mơ hồ nếu không được xử lý một cách khéo léo. Người
dịch buộc phải kềm nén thôi thúc muốn “giải thích” những điều mà Joyce để ngỏ,
bỏ lửng lơ.
Những
khoảnh khắc giác ngộ (epiphanies) trong tác phẩm của Joyce thường rất thầm
lặng, chúng là những nhận thức nội tâm nho nhỏ, không phải sự bừng ngộ mang kịch
tính chấn động. (Điển hình là truyện The Dead/ Kẻ đã khuất). Do đó, người
dịch cần phải duy trì tính mơ hồ cùng sự kiệm lời, và sự tĩnh lặng về mặt cảm
xúc của những khoảnh khắc ấy. Việc dịch quá tải (over-translation) có
nguy cơ khiến khoảnh khắc giác ngộ trở nên quá lộ liễu; ngược lại, việc dịch giản
lược (under-translation) lại có nguy cơ khiến nó trở nên vô hình, tan biến.
Các
học giả chỉ ra rằng đôi khi người dịch thường “sửa lại” những gì họ cho là lỗi
lầm của Joyce – chẳng hạn như thủ pháp dùng sai từ (malapropisms), cấu
trúc cú pháp lạ lùng, hay ngữ pháp mang tính khẩu ngữ – qua đó vô tình làm sai
lệch chủ ý nghệ thuật trong nguyên tác. Sự cám dỗ này đặc biệt mạnh mẽ khi chuyển
ngữ sang một ngôn ngữ như tiếng Việt, nơi mà các cấu trúc ngữ pháp có sự khác
biệt căn bản, lối nói khẩu ngữ được mã hóa theo những cách hoàn toàn khác, và
người dịch có thể cảm thấy áp lực phải tạo ra một văn phong “suôn sẻ”, thậm chí
mềm mại, óng mượt.
Thế
nhưng, những nét thô ráp, gai góc, khúc khuỷu trong văn phong của Joyce lại
hoàn toàn là chủ ý của ông.
Một
nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng chỉ nắm vững tiếng Anh thôi là chưa đủ để dịch các
tác phẩm của Joyce; người dịch còn phải là những học giả am hiểu sâu sắc về
chính tác phẩm của ông cũng như bối cảnh sáng tác của chúng. Điều này đặc biệt
đúng đối với tác phẩm Dubliners, nơi mà những chi tiết tầm thường vặt vãnh lại
mang sức nặng biểu tượng to lớn, các tham chiếu lịch sử đóng vai trò vô cùng
quan trọng, và kết cấu mặt bằng xã hội thành phố Dublin là yếu tố then chốt để
giải mã ý nghĩa tác phẩm.
Đối
với người dịch tiếng Việt, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện những
nghiên cứu sâu rộng về lịch sử Ireland, Công giáo, và đời sống tại Dublin vào đầu
thế kỷ XX.
Các
học giả nghiên cứu về những bản dịch sang các ngôn ngữ khác đều khẳng định rằng
văn phong của Joyce có tính “kháng cự” rất mạnh đối với việc chuyển ngữ một
cách suôn sẻ, và rằng người dịch buộc phải tìm được sự cân bằng hài hòa giữa
tính trung thực với nguyên tác với khả năng tiếp cận về mặt văn hóa của ngôn ngữ
dịch.
Để
đương đầu và phần nào khắc phục những thách thức khó khăn nêu trên trong việc dịch
tác phẩm Dubliners, tôi có một trợ tá đắc lực: Internet.
Internet
là kho tài liệu phong phú gần như vô tận giúp tôi tra cứu những điều khúc mắc
khó hiểu, hoặc không thể hiểu nổi trong văn bản nguyên tác. Thêm nữa, Dubliners
đã có mặt trên trăm năm nay, được giới phê bình văn học đánh giá là tác phẩm
kinh điển, nhờ thế, đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về nó. Vấn đề còn
lại chỉ là thời gian, thời gian đọc và nghiền ngẫm. Quá trình “dịch” tác phẩm,
đối với tôi, trở thành quá trình “học”, và quả thực, tôi đã học hỏi được rất
nhiều trong lúc dịch.
Những
điều “học” được, tôi cho vào các chú thích và phần “Phân tích và cảm nhận của
người dịch” nằm sau mỗi truyện. Mặc dù đã cố hết sức mình, tôi biết chắc vẫn có
những khiếm khuyết, sai sót đâu đó, chờ đợi bạn đọc bốn phương chỉ giáo cho bản
dịch được hoàn chỉnh hơn.
*
Dịch Dubliners như là một hành động tôn vinh nhà
văn Nam Cao của văn học Việt Nam
Trong
lúc lần giở từng trang sách tác phẩm Dubliners của James Joyce, đến truyện ngắn
A Little Cloud/ Một cụm mây nhỏ, tôi bỗng nhận thấy sự tương tự giữa
nhân vật Little Chandler trong truyện với nhân vật Điền trong truyện ngắn
Trăng sáng của nhà văn Nam Cao. Cũng như Little Chandler, Điền là một
nhà văn có ước vọng và tham vọng nhiều trong văn chương. Anh muốn sống hết mình
cho nghệ thuật, nhưng hoàn cảnh túng bấn, nghèo khó, thôi thúc của đời sống
không cho phép giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Từ đó, nhìn sâu rộng hơn,
và một điều khá hiển nhiên là giữa Dubliners của Joyce và văn chương Nam
Cao có những điểm tương đồng lạ lùng về đối tượng văn học.
Cũng
như Joyce, sáng tác của Nam Cao đặt ra trước người đọc hàng loạt những vấn đề
nhân sinh: những cảnh đời tù đọng, bế tắc, những bi kịch đau đớn, chua cay. Nam
Cao phản ánh được cái thực tại bối cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam
thời tiền chiến. Từ truyện ngắn nổi tiếng đầu tay Chí Phèo cho đến tiểu thuyết Sống
mòn, văn chương Nam Cao luôn lấy những chủ đề về cuộc sống cùng khổ của cả
một tầng lớp con người, từ nông thôn ra thành thị, từ anh nông dân chất phác
chân lấm tay bùn cho đến người thầy giáo trí thức tiểu tư sản nghèo ngoài thành
phố. Trên nhiều bình diện, nó thể hiện một cách rõ nét thân phận con người
trong xã hội mà thời nào cũng có thể xảy ra.
Giống
như Joyce, Nam Cao cũng cho các nhân vật của mình chìm nổi, vật vã trong cuộc đấu
tranh với hoàn cảnh. Họ không dửng dưng lạnh nhạt với sự đời, nhưng họ cũng là
những con người thiếu hành động. Nhìn chung họ bị dồn vào thế bế tắc, không có
hướng giải thoát. Họ vật vã, đau đớn trong những kiếp sống luôn bị dằn vặt, xói
mòn. Suy nghĩ và hối hận nhưng họ không tìm ra cho chính mình phương hướng để
hành động, và nếu có thì lại dễ hối hận với việc làm của mình.
Các
nhân vật của Nam Cao cũng rất vất vả để chống lại tình trạng tha hóa với bản chất
mình. Họ cũng bị lôi cuốn vào nhiều ham muốn tầm thường, nhiều tính toán nhỏ
nhen. Chính trong bản thân họ cũng chất
chứa biết bao mâu thuẫn.
Qua
tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao phản ánh sâu sắc không khí ngột ngạt, tù
túng, quẩn quanh do một sức mạnh tưởng như vô hình nhưng tác động lại rất cụ thể,
sự hủy hoại thầm lặng làm cho con người mỏi mòn dần cho đến kiệt sức. Tất cả mỏi
mòn, chết dần chết mòn.
Đó
là lý do vì sao tôi chọn nhan đề tiếng Việt cho tập truyện Dubliners của
Joyce là Những kiếp sống mòn.
Nó
không phải sự nhái lại, mà là một hành động trân trọng tôn vinh nhà văn Nam
Cao, một nhà văn có vị trí rất lớn, rất riêng trong văn học Việt Nam.
–
TRỊNH Y THƯ
(Cuối
Hè, 2026)



No comments:
Post a Comment