Friday, September 23, 2011




Nguyễn Du và
Long Thành Cầm Giả Ca

Tô Thẩm Huy


Không rõ Nguyễn Du có sinh ra (1765) ở đấy không, nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì ngày ấy cái tên Hà Nội chưa có.  Ông hẳn rất mực yêu mến cái kinh đô cổ kính lúc bấy giờ không rõ đã mấy phố, bao phường.  Cậu ấm chiêu, con quan Tể Tướng Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Tham Tụng Toản Quận Công Nguyễn Khản, lớn lên giữa lòng đô hội, lòng tràn đầy bao ý đẹp, tâm tư nuôi bao hoài bão, mộng vung kiếm giúp đời.  Thế rồi đất nước ly loạn, hết nổi trôi nơi Quỳnh Côi, Thái Bình quê vợ, lại ẩn thân về nguyên quán Tiên Điền, Hà Tĩnh, ông ngày ngày ngao du trên rặng Hồng Lĩnh, nhìn tóc mình ngày mỗi bạc mà ngậm ngùi thế sự.  Khi Gia Long lên ngôi, ông được vời ra Phú Xuân làm quan, nhưng lòng những chán chường, chỉ muốn lui về ẩn dật.  
Năm 1813, Gia Long cử ông làm chánh sứ, đại diện nước Nam sang Trung Hoa.  Trên đường từ Huế sang Bắc Kinh, lần đầu tiên sau mấy mươi năm xa cách mới có dịp về lại Thăng Long, lòng ông hẳn dạt dào bao nỗi niềm xao xuyến.  Từ xa, ta đã nghe tiếng ông reo mừng:  Kìa là rặng Tản Viên, nọ là giòng Lô Giang, ta sắp gặp lại Thăng Long rồi.  Nhưng bước chân vào đến năm cửa ô thì than ôi, cảnh đấy người đây luống đoạn trường.  Đọc lại hai bài Thăng Long ông viết vào thời kỳ này lại càng thấy nỗi lòng chua xót của ông:
Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu than tức
Tư gia đầu bạch diệc tinh tinh
 Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn vì muốn xoá hết dấu tích nhà Lê đã san bằng thành xưa quách cũ.  Đâu là điện Trung Hoà Đại Nội ?  Đâu là ngõ cũ nơi ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn hiệp thiếu, mỹ nhân ?  Đâu là dinh cơ, nhà cửa xây từ nghìn năm trước?  Những thiên niên cự thất nay đã thành quan đạo, những cố cung, cựu tích nay đã bị vùi mất dưới bức tân thành.  Cả âm nhạc ngày cũ nay cũng biến đâu mất.  Nằm thao thức giữa lòng kinh đô cũ, ông trằn trọc không sao ngủ, đã khổ vô thuỵ, lại nghe tiếng sáo, tiếng nhạc gì mà xa lạ, chõi cả tai.  Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.  Sáo đâu, dây đâu mà tiếng nghe nhốn nháo thế này ?  Chả trách sao lúc ngồi trên chiếu tiệc giữa Thăng Long, nghe lại tiếng đàn người ca kỹ của năm xưa, nghe lại giòng nhạc vàng của cung điện Đại Nội Nhà Lê, ông đã xúc động viết “Long Thành Cầm Giả Ca”, Bài Cho Người Gẩy Đàn Thành Thăng Long, mà ngậm ngùi thương xót cho thân phận người ca kỹ lạc loài giữa ba đào, dâu bể.  Hay thật ra ông chỉ mượn hình ảnh người gảy đàn để khóc thương cho bóng ma của một trời hội cũ ?  Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người cầm giả ấy.  Thậm chí lại còn trách ông sao lại vì muốn giữ thể diện của đường đường chánh sứ mà tránh không nhìn mặt người xưa.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Tôi không tin là thế.  Tôi không tin là đã có gì giữa họ.  Ai đời nào lại nói về người tình xưa của mình là trán dô, mặt gẫy.  Nàng không phải là người tình cũ, cũng không phải chỉ là một người cầm giả đơn thuần, mà chính là biểu tượng của Hà Thành đài các, của mày thanh má thắm, của lụa biếc xiêm hồng, của cả một nếp sống thanh lịch ngàn năm xưa nay đã bị dập vùi, tan biến.  Tâm sự Nguyễn Du lúc bấy giờ  ngổn ngang trăm mối, đâu riêng gì chỉ một hồng nhan, trong lòng ông là cả mùa hội cũ của một thời hùng tâm tráng chí nay đã tàn lụn: Tằng Lăng trường kiếm ỷ thiên thanh mà tự bao giờ đã thành Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm.  Cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh mà tự bao giờ đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự ?  Văn tự hà tằng vi ngã dụng ?  Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay càng làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột chia bào ?  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Mở trừng hai mắt mà chỉ thấy trống không những mông lung mộng tưởng.  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long!  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào Thăng Long có thấu cho lòng ta !  Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !
TÔ THẨM HUY 

Nguyễn Du
Long Thành Cầm Giả Ca
龍城琴者歌
Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long
Tô-Thẩm Huy diễn Nôm

Tiểu dẫn
      Long Thành cầm giả bất tri tính thị.  Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi cựu nhạc tử tán.  Kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao thuộc tản bộ. Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn.  Toại xưng nhất thời tuyệt kĩ.
      Dư thiếu thời tham huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch triếp tận.  Triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột, diện ao, bất thậm lệ.  Cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường.  Xước xước nhiên hữu dư vận, tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã.
   Hậu sổ tải dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ.  Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ.  Kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả.  Bất phục tri vi thùy hà, duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán chất chi nhạc nhân tức kì nhân dã.  Ta hồ ! Thị nhân hà chí thử da!  Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên nhân ca dĩ thác hứng.

小引
龍城琴者不知姓氏.聞其幼年從學撥阮琴於黎宮花嬪部中.西山兵起舊樂死散.其人流落市廛挾技以遨屬散部.所彈皆御前供奉曲非外人所聞.遂稱一時絕技.
余少時探兄抵京旅宿鑑湖店.其傍西山諸臣大集女樂名姬不下數十.其人獨以阮琴聲擅場.頗能歌作俳諧語一坐盡顚倒.數賞以大白輒盡纏頭無算,金帛委積滿地余時匿身暗中,不甚明白後見之兄處,短身闊臉額凸面凹不甚麗.肌白而體豐善修飾淡眉濃粉,衣以紅翠綃裳.綽綽然有餘韻性善飲喜浪謔,眼霍霍眶中無一人.在兄家每飲輒盡醉嘔吐狼藉臥地上同輩非之不恤也.

後數載余從家南歸不到龍城若十年矣.今春將奉命北使道經龍城.諸公辱餞于宣撫衙畢召在城女樂,少姬數十,並不識名面,迭起歌舞.繼聞琴聲清越,迥異時曲,心異之.視其人顏瘦,神枯面黑,色如鬼,衣服並粗布,敗灰色,多白補,默坐席末,不言亦不笑,其狀殆不堪者.不復知爲誰何,惟於琴聲中似曾相識,側然于心.席散質之樂人即其人也.嗟乎!是人何至此耶.俯仰徘徊不勝今昔之感.人生百年辱哀樂其可量耶別後一路上深有感焉因歌以托興.


Lời Tựa

Người gảy đàn ở Thăng Long ấy tên họ là gì không ai rõ.  Nghe nói ngày còn nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn trong đội nữ nhạc của vua Lê.  Sau khi quân Tây Sơn dấy lên, đội nữ nhạc ấy lớp chết, lớp tiêu tán.  Nàng trôi dạt nay đây mai đó, dạo đàn nơi quán chợ.  Những khúc nàng gảy vốn là nhạc trong cung vua triều trước, mấy ai đã được nghe.  Quả là những khúc nhạc hay nhất trần đời.
Ngày còn trẻ đến kinh đô thăm người anh (Nguyễn Nễ, bấy giờ làm quan cho Tây Sơn) tôi ở trọ cạnh Hồ Giám (hồ Gương), nơi quan quân Tây Sơn triệu tập mấy chục đào nương ca hát.  Trong đám ca kỹ ấy nàng nổi bật với tiếng đàn điêu luyện, đã hát hay, lại pha trò duyên dáng, làm cử toạ say mê điên đảo, tranh nhau khen tặng, vàng lụa chất đầy cả sân.  Rượu thưởng ban đến đâu, nàng uống cạn đến đấy. Lúc ấy tôi đứng khuất không nhìn rõ mặt nàng, nhưng sau lại gặp ở nhà anh tôi, thì thấy nàng người thấp, má bầu, trán dô, mặt gẫy, không đẹp lắm nhưng khéo trang điểm, thân hình tròn trĩnh, làn da trắng, mày thanh má thắm, lụa biếc xiêm hồng, đôi mắt sắc lạnh, dễ đã ai lọt vào được.  Nàng uống rượu liền tay, nói đùa khanh khách.  Tại nhà anh tôi nàng say tuý luý, nằm lăn ra đất, nôn mửa đầy sân. Dẫu đám chị em có ai lắc đầu chê cười nàng cũng mặc lòng.
Sau đấy ít năm tôi dọn vào Nam (đến Phú Xuân, làm quan cho Gia Long).  Bẵng đi mấy mươi năm, mãi đến mùa xuân năm nay trên đường phụng mệnh đi sứ sang Trung Hoa tôi mới lại có dịp trở về Thăng Long (đau lòng nhìn phố xưa thành cũ đã đổi thay, mất hết dấu vết cũ).  Chư vị quan nhân bầy tiệc tiễn đưa tại dinh Tuần Phủ, lại cho gọi cả mấy mươi ca kỹ thay nhau đàn ca, múa hát.  Tôi chẳng biết tên, quen mặt người nào.  Chợt tiếng đàn ai ngân lên trong trẻo lạ thường, tôi giật mình nhìn lại, thấy nàng ấy mặt gầy, thân héo, đen đủi như ma, áo quần tả tơi, may bằng vải thô, lại vá nhiều mảnh trắng. Nàng ngồi lặng nơi cuối chiếu, không cười, chẳng nói.  Cảnh tượng trông đến là ngược đời.  Tôi không rõ là ai, nhưng giọng đàn nghe quen lắm, làm xáo động cả tâm tư.  Tiệc xong tôi hỏi thăm, thì quả đúng là người gảy đàn ngày trước.  Chao ôi, người ấy sao nay lại đến nông nỗi này !  Tôi đứng ngồi, cúi ngửa chẳng yên, lòng bồi hồi bao chuyện hôm nay, bao điều ngày cũ.  Kiếp người dài ngắn luống trăm năm, mà vinh nhục buồn vui thật chẳng biết đâu lường.  Từ biệt Thăng Long lên đường rong ruổi, tôi ngậm ngùi viết mấy lời hòng ký thác nỗi niềm.

Long Thành Cầm Giả Ca  

Long Thành giai nhân 
Tính thị bất ký thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chính phương niên
Hồng trang yểm ái đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái tích lịch
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mĩ mĩ bất tri quyện
Tiện thị Trung Hòa Đại Nội âm.
Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ Lăng thiếu niên bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoạt tố Trường An vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống Thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trọng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan sấu thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn mi bất sức trang
Thùy tri tựu thị đương thời Thành trung đệ nhất diệu
Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi
Thành quách thôi di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên năng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà qui lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.

Nguyễn Du


Bài cho người gảy đàn thành Thăng Long

Đất Thăng Long thủa ai nhan sắc,
Giọng Nguyễn cầm, hiu hắt âm thanh.
Hỏi tên, đã mất tính danh,
Chỉ nghe quen gọi phong phanh nàng Cầm.

Tay lựa khúc nội âm triều cũ,
Khắp đất trời, thiên cổ họa hai.
Vi vu gió cợt rừng mai,
Sét tung bia đá, sấm ngoài động mây.

Ta thủa trẻ mộng đầy tươi sáng,
Gặp một lần, Hồ Giám tiệc hoa.
Hai mươi, phong vận mượt mà,
Men đào lửng mắt, môi pha ráng hồng.

Mười ngón gọi trời trong mây trắng,
Đôi hạc lùa u vẳng duềnh khơi.
Nhẹ hơn thoảng tiếng mưa rơi.
Sầu hơn cố quận ngậm ngùi đường quê.

Ấy cung nhạc triều Lê, Đại Nội.
Càng nghe càng đắm đuối ngẩn ngơ.
Tây Sơn tướng sĩ say sưa,
Vàng tung như ngói, tiền mưa như bùn.

Đêm ngun ngút,
Đàn tuôn phách hứng.
Bệ trời xuân,
Dễ xứng một ngai.
Long Thành hào khí chen vai,
Tranh nhau chút ánh mắt ai hé cười.

Thoáng rồi đã hai mươi năm vội.
Sau Tây Sơn ta đổi vào Nam.
Thăng Long bao nả tấc gang,
Mà nay mới lại về ngang một lần.

Quan Tổng Trấn ân cần đãi tiệc,
Mặt đào nương ửng biếc bao người,
Riêng trông một ả rối bời,
Tóc hoa xô lệch, nhạt rời phấn son.

Thân gầy nhẽ, nhẹ buông tay vẩy,
Vuột cung đàn, buốt nẩy hồn ta.
Dội theo năm tháng vỡ oà,
Đây trời hội cũ, bóng ma hiện về.

Đâu Hồ Giám ? Lặng nghe lệ nấc.
Phải đàn ai ? Vương vất thanh âm.
Tang thương hết giã lại vần,
Lối xưa, nền cũ bao lần đục trong.

Nghiệp Tây Sơn đổ xong, tan biến.
Lạc loài rơi nửa phiến hồng nhan.
Trăm năm đọng giữa cung đàn,
Bóng tà cỏ áy, lệ lan bao ngần.

Ta về cũng da sần, tóc bạc,
Thì trách ai trâm lạc gương mờ.
Mắt trừng, đối mặt còn ngờ,
Biết bao chua xót cho vừa chiêm bao !

TÔ THẨM HUY

Tuesday, September 20, 2011


thơ nguyễn xuân thiệp


trong mưa, nghĩ về những ngọn nến.

candles in the rain



                                                     Hình Dân Làm Báo


Mưa
những cuộc tình mù
trong thơ tôi
thoảng mùi hương. của bão tố 

đã khép lại
như cánh cửa chợt đóng

và chợt mở
cho một sang chủ nhật. ở sài gòn
bình minh. mưa
những chiếc áo màu vàng
dưới hang cây. khuynh diệp. của mùa thu
mang logo chống quỷ
với những dòng dụ ngôn
như lát gươm
cắt đứt cái lưỡi bò. khốn kiếp. của phường phù thủy



                                                     Hình Dân Làm Báo

 
tôi chợt nhớ lại
những ngọn nến trong mưa
ở woodstock ngày nào
cách nay đã ngoài bốn mươi năm
khi melanie safka
hát
candles in the rain
chúng ta quá gần nhau
không khoảng cách
máu chúng ta, cùng hòa chung. trong một vết thương
hãy đưa cao. những ngọn nến. trong mưa
hippie. ma túy. bùn lầy. tự do. hơi thở. và hòa bình
bức tranh siêu thực

ôi các anh. ôi em
những chiếc áo. màu vàng
và những giọt mưa
của sáng chủ nhật. ở sài gòn
kêu gào. hoàng sa. trường sa. và nước mắt
thà chúng ta chết
hay sống. vòng tay ôm biển
của tổ quốc ta
những tiếng nói trẻ
trên cánh bay. của gió
một ngày không có mặt trời
chỉ có bùn. mưa
và ánh nến

Thứ hai, 19 tháng 9. 2011

NXT






Sunday, September 11, 2011


Tản mạn

bên tách cà phê



Nguyễn Xuân Thiệp




Buổi sáng,

với những bông hướng dương…





Sáng nay, một buổi sáng Chủ Nhật đầy nắng, trong lúc ngồi uống cà phê , Nguyễn đọc được trên lưới hai đoạn văn ý nghĩa. Một, về những bông hướng dương. Một, về Boris Pasternak với tác phẩm Doctor Zhivago, ngôi nhà dacha và ảnh hưởng tư tưởng của ông trên một lớp người một thời kỳ. Cả hai  bài văn tưởng chừng không dính dáng gì tới nhau mà vẫn có những mạch ngầm nối kết, nhìn theo góc nào đó.  

   Trước hết xin nói về những bông hoa hướng dương. Nguyễn vốn là người yêu hoa hướng dương, tức hoa quỳ vàng.  Loài hoa này đã có mặt trong nhiều bài thơ, bài văn của Nguyễn. Thậm chí, nó đã đi vào một truyện ngấn có tên Dã Quỳ. Nhìn lại thấy quả hơi nhiều. Thậm chí, một bạn văn thân thiết còn nói màu vàng của dã quỳ khiến cô thấy chói mắt quá và phát ớn luôn. Riêng Nguyễn thì chưa bao giờ thấy chói mắt vì hoa hướng dương cả. Chẳng những thế, Nguyễn còn yêu màu vàng cháy đầy mê sảng của những bức  tranh  sunflowers Van Gogh vẽ ở miền Provence nước Pháp.  Cho nên  nhìn lại những trang văn trang thơ có bông dã quỳ mình đã viết thì thấy cũng ổn thôi vì nó là tính cách, là màu sắc của riêng mình. Thậm chí còn nghĩ mai sau khi chết nếu có một nấm mồ thì xin ai đó trồng bên cạnh một cây hoa quỳ để nó làm bạn với mình.

   Bây giờ xin trở lại với cái tin về những bông hướng dương. Tin này do anh bạn thân từ hồi còn ở Đà Lạt là anh Nguyễn Đình Cường gởi tới sáng nay. Bản tin này là của An Bình viết theo Reuter, Nguyễn có tra cứu bổ sung thêm vài ý:
   Những tàn lửa từ giấy bản và vàng mã bốc lên trong bầu không khí nóng bức của mùa hè, mang theo tên của những người chết cuộn bay trên nóc ngôi chùa ở Fukushima nơi hàng ngàn hàng ngàn bông hướng đã được trồng để giúp hút hết bụi phóng xạ nguyên tử. Được biết, nhà máy nguyên tử chỉ cách đó 30 miles đã bị rò rỉ và phát nổ sau cơn động đất và sóng thần ngày 11 tháng ba đã làm cho toàn vùng trở thành hoang phế, đổ nát. “Nó (bụi phóng xạ) giống như là tuyết rơi một lớp mỏng vô hình  xuống cảnh vật Fukushima và tiếp tục rơi bao phủ toàn vùng.” Nhà sư Koyu Abe sư trưởng chùa Joenji nói. “Lớp tuyết này không tan, tạo cho Fukushima một mùa đông dài thật là dài.” Đã có vào khoảng 80,000 người rời bỏ vùng đất cư ngụ bị nhiễm  phóng xạ không biết tới bao giờ mới về lại nơi chôn nhau cắt rốn.


   Nhà sư Abe đã thành lập một nhóm tình nguyện nhằm trồng hàng ngàn cây hoa hướng dương cùng những cây khác để hấp thụ chất phóng xạ, vốn bị rò rỉ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima sau thảm họa kép vừa kể. Nhà sư cũng đã tổ chức một nhóm tình nguyện để phân phát các hạt hướng dương cho người dân địa phương cùng trồng. Ngay tại ngôi đền Joenji, có khoảng 200,000 cây hướng dương đã được trồng. Rồi đây sẽ có ít nhất 8 triệu bông hướng dương nở rộ ở Fukishima phát xuất từ ngôi chùa Joenji. Những cánh đồng hướng dương vàng rực khắp nơi không chỉ giúp khử chất phóng xạ mà còn mang lại cảnh quan tươi đẹp cho Fukushima. Và người ta nhớ lại: Trước đó, trong thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, người dân Ukraine cũng trồng hướng dương để hấp thụ chất phóng xạ.
   Nhìn những tấm ảnh chụp hoa hướng dương trong vườn chùa Joenji của nhà sư Abe Nguyễn thấy đẹp quá, rực rỡ quá. Đây quả là một ý tưởng độc đáo biến thành  hiện thực, biến thành hàng trăm ngàn bông hoa vàng rực cả một chân trời. Rừng hướng dương này rồi sẽ hút hết chất độc phóng xạ, đem lại không khí trong lành cho người. Chủ nghĩa Cộng Sản, hiểu theo cách nào đó, cũng giống như bụi phóng xạ nguyên tử vô cùng độc hại. Nhìn bóng nhà sư nổi bật giữa biển màu vàng của hoa hướng dương, Nguyễn chợt nghĩ làm sao đất nước Việt Nam có những rừng hướng dương như thế để hút hết chất độc của chủ nghĩa Cộng Sản, làm cho con người và bầu không khí chung quanh trở nên trong sạch, thuần khiết.

   Bây giờ xin nói về bài văn của nhà thơ Đỗ Quý Toàn (Ngô Nhân Dụng) viết về Boris Pasternak và Doctor Zhivago. Một bài viết rất hay. Tất nhiên nơi đây không có rừng hoa hướng dương mà chỉ có những cánh đồng tuyết phủ trắng mênh mông. Mở đầu, Đỗ Quý Toàn nói về cuộc viếng thăm ngôi nhà cũ của Pasternak vào một buổi trưa. Nhà thơ kể lại: “Để được nhìn những hàng cây, khu vườn, quanh ngôi nhà nơi ông đã sống, đặt chân lên mặt đất, bước trên những con đường mà ông thường đi bộ. Tôi đã xúc động và suy nghĩ về những bài thơ, về cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago trước đây nửa thế kỷ; và cảm thấy mang nợ ông từ thời đó. Sau khi Pasternak được trao giải Nobel năm 1958, hai dịch giả Văn Tự và Mậu Hải đã cho in bản tiếng Việt ở Sài Gòn. Bản dịch vẽ ngoài bìa hình ảnh một cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xám nhạt và chân trời mầu tím, cũng là hình vẽ bìa cuốn sách in tiếng Ý, ấn bản đầu tiên được công bố trong thời gian đó.”




   Cái gây ấn tượng nhất cho Nguyễn chính là cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xanh nhạt và chân trời màu tím này. Thật vậy, đọc sách cũng như xem phim Dr. Zhivago, người ta luôn luôn gặp cảnh tuyết phủ trắng cả đất trời ấy. Bạn bè ơi, hãy nhớ lại xem  những đoạn cuối phim khi Yuri  lang thang trong rừng tuyết ủng băng qua thảo nguyên gió tuyết, cảnh ngôi nhà chìm trong băng giá đêm đêm tiếng sói tru trăng, cảnh những bông hoa vàng (yellow daffodils?) nở trên tuyết khi mùa xuân đến, cảnh Yuri và Lara chia tay nhau  và rồi xa nhau mãi mãi. Màu tuyết trắng ấy là màu định mệnh của nước Nga khi chủ nghĩa Cộng Sản đè lên số phận con người. Và Nguyễn, với óc tưởng tượng hơi cà chớn của mình, hình dung ra nhữn g cánh đồng hoa hướng dương vàng rộ nở ra trên đất ấy như một sự cứu rỗi. Ôi, đẹp biết bao.  
   Và sự thật đẹp đẽ ấy được báo hiệu từ Dr. Zhivago. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn viết tiếp:
   “Trên con đường đi bộ từ nhà ga xe lửa Peredelkino tới dacha (biệt thự miền quê) của nhà văn, trong đầu tôi chợt nhớ câu nói của một nhân vật trong Bác Sĩ Zhivago “Con người ta sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống.” Ý tưởng này đã len vào đầu tôi từ nửa thế kỷ nay; càng sống và ngẫm nghĩ càng thấm thía. Hồi 20 tuổi, khi đọc tới câu đó tôi nghĩ đến những khẩu hiệu kêu gọi “xây dựng một thế giới mới,” những bài thơ ca ngợi một “ngày mai tươi sáng,” mà thế hệ cha anh cho đến thế hệ tôi đã được nghe. Chính Pasternak chắc đã cảm thấy chán ngán với những khẩu hiệu “chuẩn bị sống” như vậy trong nhiều năm, trước khi đặt bút viết.








   “Nhân vật Bác Sĩ Zhivago đã cảm thấy “Cuộc Cách Mạng không mang lại ánh sáng mà họ mong đợi.” Họ thấy loài người không thể cứ tiếp tục “chuẩn bị sống” suốt thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là suốt ngày cứ phải nghe máy phóng thanh đầu phố thúc giục “chuẩn bị sống,” hy sinh hôm nay cho một ngày mai càng ngày càng xa vời! Chính tâm trạng chán ngán lan trong toàn thể xã hội đã khiến người dân thờ ơ, lãnh đạm với cuộc sống thật, đưa tới cảnh trì trệ kinh tế trong chế độ Xô viết sau này.”
   Tác phẩm Dr. Zhivago cho thấy cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga là một ảo vọng, nó không đem lại hạnh phúc đích thực cho con người, và cho dù nó sụp đỏ vẫn để lại những chất độc như bụi phóng xạ. Pasternak viết: “Người ta không trông thấy lịch sử, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc, không ai thấy rừng lá đang đổi mầu!” Vậy mà những rừng hướng dương rồi đây sẽ mọc lên trên những đất nước đã lầm than khốn khổ vì chủ nghĩa Cộng Sản, để cho bầu không khí này hết ô nhiễm và mọi người vui sống dưới ánh mặt trời.

NXT







TRƯA LẮNG IM

 
Lưu Na



 
Mây lên xe.  Mười hai giờ trưa trời bắt đầu đổ lửa, con đường El Toro đi về hướng Bắc lấp loáng như ướt nước.  Qua khỏi phố thị, bắt đầu băng ngang đồi dốc quanh co.  Mây lái qua con đường này đã bao lần?  Hai mươi lăm năm trước đường chỉ có 1 lane mỗi chiều, gập ghềnh khúc khuỷu.  Lái xe lúc đó phải thật chú ý nếu không sẽ dễ gây tai nạn.  Và lái xe trên khúc đường này, mình chỉ có mình. 

Mà cũng không thật chỉ có  mình.  Những trưa nắng 2 bên đường bóng dương thoai thoải như vỗ về.  Nắng đổ xuống yêu ma, dường như hàng bạch dương cong cành, tróc vỏ.  Có đoạn triền dốc, bạch dương đứng một hàng rũ lá xanh trên thân vỏ tróc loang lổ, như một hàng lính nghiêm chào.  Đã chào.  Người đã nằm xuống thật sâu, dưới làn hơi bốc dàn dụa trên mặt đường nhựa.  Đã tới nửa đường, khi xưa bên này là bãi đất mấp mô chỗ đua xe gắn máy dirt bikes, bên kia, cây cỏ vàng rụm một mầu.  Bây giờ đường đã rộng ra 2 lanes mỗi bên và cỏ cây xanh mát, nhưng mỗi lần qua Mây vẫn thấy khô môi.  Loáng thoáng trong đầu hình ảnh trung tâm huấn luyện Quang Trung.  Cả trường đại học Kinh tế chiếm mé bên này của trung tâm.  Bên kia là trường Bách Khoa, chả biết vào bằng ngõ nào nhưng từ trại Mây ở đến đó phải đi dọc theo con đường ngoằn ngoèo cả tiếng đồng hồ mới đến.   

Cả lũ, từ K1 đến K3 ngồi trong hội trường ngờm ngợp mồ hôi.  K3 dĩ nhiên là lính mới, nhưng cũng không chỉ có nghé con mới hết trung học như Mây, K3 còn có bộ đội mặt xanh mướt mắt loe lóe miệng tươi cười, có những học viên già cỗi (hơn 30!!!) từ các tỉnh đổ về.  Rồi bị lùa vào đây học 1 tháng quân sự.  Bắt đầu hát.  Trời xanh hòa bình trải rộng khắp Việt Nam… Mây lơ đãng ngó ra ngoài, quả trời xanh ngắt, quả đã mấy năm hòa bình, sao vẫn xa lạ và ghê gai như vỏ cây bạch dương lúc mới sờm xạm tróc.  Đất trời cao rộng bao la, mai này trời có vẫn trong xanh?  Tuổi trẻ nhung nhúc trong hội trường, cháy vàng trong nắng Quang Trung.  Nắng nung nấu ước vọng khát khao, tuổi trẻ lăn lộn mờ bụi nhớp nháp.  Cuối tuần dắt nhau ra quán lá của dân ăn cháo vịt, mới biết người ta ăn cháo với bắp cải bào mỏng.  Cù lần!!!  Rồi đi bộ cả giờ qua bên kia tìm bạn, con Lan cười có lúm đồng tiền mắt có đuôi ghẹo thầy Xã hội chủ nghĩa tận tình.  Đêm xuống, phải về thôi.  Anh nọ, Nguyễn việt Hùng K1 Nông nghiệp, bây giờ chả nhớ tại sao quen, nói để anh dắt về.  Được.  Cũng có lúm đồng tiền.  Vừa đi anh vừa giảng ý nghĩa bài hát.  Thấy vui vui, thấy trăng quấn quanh mình một lớp thật êm đềm.  Nhưng anh không hiền.  Mai mốt, anh thấy Mây chạy xe đạp ngang nhà anh làm lơ, nhưng rồi phóng xe vespa ngang qua mặt Mây, như muốn bảo tui đây nè.  Không thèm.  Không biết ai mách, mà ngày văn nghệ anh ghé nhà dặn nhỏ em nói Mây chờ anh ghé đón.  Nhưng Mây đâu phải là bồ của anh mà chờ, Mây đi tuốt.  Lỡ tàu, anh mắng nhỏ em xối xả.   Buổi tối hát xong Mây gọi Dũng Thủ đức đứng trông cửa cho Mây thay bộ áo dài bằng quần tây.  Anh đón Mây về chơi chỗ bạn anh trọ học, hỏi sao không cứ mặc áo dài.  Ông này kỳ !!!  Nghĩ lại, không biết người ta ra sao mà dám đi theo.  Cái thuở người chưa phải sợ người!!!

Anh Hùng đó thích con gái điệu đàng dịu dàng mà dường như Mây cộc cằn và không biết ý người nên chỉ hò hẹn được đôi lần là hết.  Rơm khô trong nắng.  Rơm, Mây khô như cọng rơm.

 
Mây tới ngã tư, qua khỏi quãng đồng không mông quạnh bắt đầu vào một phố khác.  Quẹo trái, đi một lúc là có quán cà phê trên đỉnh đồi Orange.  Trước sau gì các cô cậu cũng dắt nhau đến đây một lần để uống ly cà phê trên sườn đồi ngó xuống biển đèn lấp lánh.  Có phải tuổi trẻ người ta bồng bột như nhau và đam mê như nhau?  Có tuổi trẻ nào ngại ngần một bóng đêm tưởng như nó là đại diện chính thức của sự chết?  Có tuổi trẻ nào nằm trong đêm vắng tự hỏi mình chết là thế nào?  Con đường vẫn dài lê thê và bao năm qua không bao giờ nói với Mây một điều gì.

 
Mây đã về lại phố quen dưới Bôn-sa.  Ngang quán Starbucks Mây quẹo vào sân.  Vắng lặng, không có người ấy dưới bóng cây ấy.  Bao nhiêu trưa hè bốc khói, người ấy ngồi dưới gốc cây quen thuộc, trên nền xi măng.  Trước mắt một ly cà phê, trên tay một làn hơi mỏng chờn vờn, quấn quít cùng khói vô hình dưới nền bốc lên.  Râu ria um xùm tóc ngắn gọn và hai hàm răng trắng phơi phới.  Mây thường thấy anh ngồi nơi đó, lúc một mình, thỉnh thoảng với một ông bạn, lúc với một cô vóc nhỏ khuôn mặt nhỏ tóc xòe.  Xa xa không nghe được họ nói gì nhưng chắc chắn là những tràng cười dòn dã.  Mây lắng nghe trong gió, Mây chúi mắt tìm trong hơi nóng.  Chỉ còn thinh lặng.

Mây lái đi tiếp.  Đường Fifth.  Nơi đây Mây đã bắt đầu một cuộc đời mới, hoang mang vụng dại, và cô đơn.  Hành trang vào đời là lòng kiêu ngạo, là nền nếp, và thật nhiều hoang tưởng.   Tháng 11 Thu về trời ươn ướt, lũ học trò buồn ngây không biết vì sao.  Mỗi dịp lễ Mây rủ rê lũ bạn quen cùng trường chẳng kể thân sơ đến nhà ăn nhậu.  Căn condo 1 phòng 60 thước vuông chứa 30 đứa.  Trưa anh Tâm anh Tiến đến bắt đầu phụ lai rai, nổi lửa lên nấu nồi bún.  Uống tạm một chai cho mát, anh Tâm.  Anh Tiến, giúp em một tay với cái nồi.  Ok em cũng uống đại, kẻo bạn buồn!!!  Chiều đến, đồ ăn đặt trước đã xếp xong.  Lai rai ăn uống trêu ghẹo cười đùa.  Mười hai giờ đêm, vãn tuồng.  Anh Tâm ra xe ngủ khoèo không dám lái.  Anh Tiến dông mất tiêu.  Mây vừa lau bếp vừa đếm chai.  Ba đứa, mỗi đứa 1 chai, 12 tiếng 12 chai… tốn gần 2 két.

Rồi những đêm thao thức.  Những nụ hôn trong mưa quả là ngọt.  Gió đêm thật ấm tình.  Dưới khoảng trời xanh lạnh khô giăng mắc sao đêm người ta quả thật thở khói thương nhau.  Bằng chứng tình yêu thường chỉ là những điều vụn vặt vô lý mà Mây chỉ nhớ ra chỉ biết đến khi đã qua, thật xa.  Mây không biết vì sao mình xa người và không biết mình đã yêu người.  Mây chỉ thấy sao mình mãi đau.  Dưới garage Mây cùng Bé ôm đàn hát liên miên uống liên miên.  Gần sáng cũng gần hết chai Rosé.  Mây đã trốn nắng quái lung linh vô hình để vùi vào đêm đen bất tận.  Đêm cũng lặng im.  Có đêm, 2 giờ sáng buồn quá không biết làm chi, Mây gọi anh Thường.  Chạy qua, 2 anh em ngồi uống ly cà phê muộn.  Anh ôm đàn hát cho Mây nghe.  Giọng khàn đục, mắt u buồn.  Anh đàn tay trái, cây đàn rồi đã theo anh xuống mộ.  Anh lắng tai hứng những lời buồn bã.  Anh chả bao giờ nói thương Mây.  Mây cũng không bao giờ hỏi.  Hình như mọi người đều biết và tin cái điều không nói ấy. 

 
Một đêm nằm thao thức Mây sợ cứng người nghĩ đến cái chết.  Nghĩa là sẽ phải đầu thai trở lại, đi qua muôn lối gập ghềnh của kiếp nhân sinh… những nỗi nhọc nhằn của tuổi thơ.  Bàn chân bé bỏng đi trên từng lối loang lổ nắng trưa.  Đường “vắng,” trẻ con gọi vậy, chả biết vắng hay rắn, gồm 2 dẫy nhà khang trang có vườn với bờ tường rào bằng xi măng bao bọc.  Đi thẳng sẽ ra đường Cao Thắng rạp Văn Hoa Sài gòn.  Buổi trưa, gia chủ ngủ, chó cũng ngủ.  Len lén đu lên bệ rào xi măng hái chùm hoa nho trắng hồng (lớn mới biết cái tên thơ mộng hoa ty gôn), hoa chuông vàng, hoa bụp cam đỏ…  Phải chăng người ta luôn muốn chiếm hữu cái đẹp.  Mà cũng nghèo quá.  Một căn gác chật lấy đâu ra chỗ để gieo cỏ hoa.  Hái chút gì xanh mơn trong gió tươi trong nắng cũng mát phần nào cái hầm hập tù túng của cuộc sống.  

Mây không chỉ đi qua đường “vắng.”  Mây đi từ cuối xóm con Tám, ngang qua nhà làm giò chả nhìn những tấm thân trần trùng trục nện rầm rập cối chày, băng qua đường vào hẻm Hòa Phú coi bà già hơ lửa bóng đèn giác hơi.  Những cái mái thấp che nền đất tăm tối.  Sài gòn đó, không phải quê đâu.  Sài gòn của những đứa trẻ nghèo khô không biết chơi với cái gì ngoại trừ lang thang ngắm nghía.  Lên trung học, Mây vẫn chưa hết thói lang thang.  Con đường đến trường Mây không cần biết gần xa, Mây chỉ lựa những đường có bóng me tươi mát, có những ngôi nhà im lắng trong nắng trưa để qua.  Mây ngán ngẩm mà sao không thể xa rời cái im ắng quắt queo khô kiệt ấy.  Như cái nóng làm Mây tan chẩy, hòa vào với trăm năm ngàn năm xưa, như khói nắng là muôn mảnh hồn của muôn kiếp đã bị nung quyện không tan la đà quẩn quanh trên mặt đất quấn chân mình.  Chỉ là những sợi khói vô hình là là trên mặt đất, ngập ngụa dàn dụa trên mặt đất.  Nhưng những khi mưa phố phường tươi mới mà cái lặng im vẫn như một lớp trong veo phủ lên những cao ốc những con đường.  Từ sâu dưới cái ồn ào náo nhiệt, hồn đất toát ra bất kể nắng mưa.

Mây đã về đến Mile-Square Park.  Vườn cỏ quanh co xanh ngút mắt.  Những lúc nằm dưới gốc xum xuê nghe gió mát nhìn nắng xiên qua tàng cây Mây thường tưởng như mình đang trở thành một tấm bia trong vườn vình cữu.  Hồ nước lấp lánh, chóe muôn sao nắng.  Mười một con thiên nga đen bơi tà tà một hàng dọc qua gầm cầu.  Còn công chúa bị nhốt ở phía nào trên tháp cao nào?  Khi ngả hoàng hôn biết 11 hoàng tử có băng qua đại dương kịp về tháp trú?  Biết Mây có lái kịp về nơi dốc đồi ấy không…

Mây đã nghe nặng mắt nhẹ đầu.

Mây không còn có thể nấn ná lâu hơn.  Mây sắp tìm thấy câu trả lời.  Có lẽ Mây sẽ tìm lại được mảng trời xanh năm xưa.  Có thể Mây sẽ hiểu ra tại sao K1 Nông nghiệp không thích Mây.  Rồi Mây sẽ biết có bao nhiêu đứa mang trong hồn mảnh trời xanh khô ngày ấy.  Đứa nào tiền che hết.  Đứa nào lưu lạc quên hết.  Đứa nào tuổi đời trùm lấp hết …  Có lẽ Mây sẽ thấy lại anh Thường mắt buồn bã giọng khàn khàn hát bài anh gầy như que củi phơi áo dưới tàn đông…  Anh sẽ nhếch miệng cười vuốt má Mây khi tái ngộ.  Có lẽ… 

 
Mây ráng lết xe vào ngọn đồi ấy.  Chỉ còn mấy bước chân, Mây ráng hết sức mình bước tới.  Nơi đây nhìn xuống được gần giáp vòng đồi, ban ngày là khói tỏa từ những nhà máy, những con hươu cao cổ gật gù lọc dầu, là xe cộ theo dòng đèn xanh đỏ và biển Long Beach xa xa; ban đêm là muôn vạn đèn sao như nối từ trời xuống đất.  Nằm dọc theo sườn đồi nơi đây Mây sẽ được mát lòng.  Nằm dọc theo sườn đồi nơi đây Mây sẽ có cơ may tìm thấy vì sao anh.  Trời đang nắng gắt nhưng Mây sẽ nằm chờ.  Khói nắng nung dưới bờ cỏ êm mướt như lục đục muốn trồi lên đẩy thân Mây bần bật.  Mây nghiến răng nằm đè thân mình xuống cỏ.  Trưa, lắng im, lắng im.  Gió mát mơn man, Mây không còn nhìn rõ được.  Gió dụi lao xao Mây không còn nghe rõ được.  Ai đó hỏi ok?  Ok, ok…  Mây mỉm miệng cười thấy như một giòng suối nước ngọt ngào đang từ tim chảy ra.  Mây đang được tan vào nắng.  Mây đang được hòa vào trưa lắng im.

Mây sắp biết mình có gặp lại người ấy.

Lưu Na
09/06/2011

thơ hoàng xuân sơn


G Á I  T H U


                                                        Tranh Hoang Trong Ban

Lá sông mặt mỏng
con chuồn chuồn để lòi rốn trắng
gờn gợn thu xưa
gió biếc thổi về tóc hương ngạ
mùa lớn ngây chúm sen. mòng nước
ảo thiếp nền trăng

ngày phát nhiệt môi son đỏ
cắn vào cơn sốt len mường xuân
thuôn dài rơi nghiêng nét đồi
rừng cọ đan thảo chớm

nứt nắng chạm căng sừng khôi vĩ
áo phin hờ cuồn cuộn heo may
chim gõ kiến chiều đưa kinh kệ
yên xưa mồng đỏ
ngân sơn trời tụng ánh hồng

HXS

T H U Y Ê N
hoa ẩn mặt
nhiếp sóng. xanh
đường cây hun hút chiều tranh ngạn
người con gái mặc áo tím qua truông
gió khơi mù đoan. tóc
rã rượi đoạn phi lô một mình trời câu lưu
gã thiền sư mạn tính
căn bệnh tánh khôn vào mật ngữ
hoa bay bay mưa khuyên ý nghĩ đen trầm hoặc
phố nhà lặn sâu những ngọn đồi
miệt mài úp mặt đồng hoang
lên đại tào con trăng thề biển ngoài hốt nhiên động vỡ
tuổi lầy vô căn

hoàng ngâu                                đời xưa
uẩn khúc
kinh thừa tự
đau đáu hương tự vẫn
cùng mùa
kẻ ẩn cư nhập nhằng tim phổi
sấm rền thơ ngây

HoàngXuânSơn
song bát mười một

Ngôi trường trong ký ức

Nguyễn Ước



            Năm 1961, từ một làng quê bên cạnh sông Bồ, tôi rời trường trung học Tương Lai vào Huế theo học trường Thiên Hựu. Thuở đó, khoảng cách hai chục cây số là một con đường dài. Xe đò Huế-An Lỗ-Sịa hai giờ mới có một chuyến, lết khục khặc với tốc độ chỉ nhanh gần gấp rưỡi xe đạp, mất tới khoảng một tiếng đồng hồ. Xe chạy ngúc ngắc một quãng lại dừng, thường ở Đốc Sơ, Hương Trà, Văn Xá, hay PK. 17 để đón khách. Lâu lâu có một bà bán cá nục hấp nồi đất ngồi trong quán bên đường, tay ngoắt xe, tay têm cho xong miếng trầu, chờ chú "ét" đưa quang gánh lên mui, rồi mới cho trầu vào miệng nhai, đủng đỉnh bước ra xe về Sịa.
            Tôi ở nội trú hai lần, đời Linh mục Trần Hữu Tôn làm hiệu trưởng. Lần thứ nhất năm Đệ tứ (1961-1962), sắp hết niên học thì bị đuổi vì "đánh pạc-co" với một học sinh ngoại trú, ở góc cuối sân banh, gần cửa sau đi sang Tiểu chủng viện Hoan Thiện đang xây. Năm đệ tam sang ở nội trú trường Bình Linh. Tới năm Đệ nhị (1963-1964), được cha Tôn xá tội, lại quay về nội trú Thiên Hựu. Câu chuyện cuộc đời 50 năm trước trong ngôi trường cũ đó tưởng đã lắng nay đột nhiên sôi nổi trở lại vì cơ duyên nhận được lời gọi viết cho đặc san Thiên Hựu. Xin cám ơn đại huynh Trương Hữu Lượng với người bạn cùng thời Võ Văn Lượng ở Montréal.
            Năm đó, cảm giác đầu tiên của tôi khi tay xách chiếc valise nhôm, mặc quần soóc, chân mang giày bata vải, đầu đội mũ cối đánh xi trắng như vôi, đi theo mẹ vào trường Thiên Hựu là xúc động và lo sợ. Tâm trạng của một thiếu niên ở nhà quê thì trạng mạo nhưng khi ra tỉnh lại rụt rè, thấy cái gì cũng lạ, làm gì nói gì cũng sợ bị người ta cười.
   Xúc động vì ba tôi, tuy chỉ là một quân nhân hạ sĩ quan nhưng cố hết sức cho con vào học nội trú mà phí tổn hàng tháng lúc ấy bằng tiền lương của một công chức hạng thấp. Cha mẹ tôi là người chưa bao giờ được cắp sách tới trường, thuộc loại tự học để biết đọc biết viết, từ một thôn làng gần như vô danh cạnh chân cầu Quán Hàu, bên sông Nhật Lệ, di cư vào nam năm 1954. Theo lời khuyên của cha sở Bồ Điền, ông bà phó thác đứa con trai đầu lòng cho trường Thiên Hựu, chắt chiu đóng tiền ăn học bằng một nửa tiền lương của mình.
   Lo sợ vì vẻ đồ sộ của ngôi trường mới. Trường Tương Lai cũ của tôi nằm bên đường quốc lộ 1, quẹo tay mặt là tỉnh lộ về Sịa. Trường vỏn vẹn bốn phòng học với chiếc sân rộng, lưa thưa mấy cây soan mùa nắng nở đầy hoa tím đưa hương dìu dịu, mùa lạnh trơ cành xương xẩu, ngó thấy mà "sầu đông". Cũng như những dãy nhà đồng loại, nó được người Việt mình gọi "trường học" vì là nơi có thầy có trò, còn ngoài ra, không có một phương tiện giải trí, phòng thí nghiệm, thư viện hay thể dục thể thao nào. Bây giờ, sang phương Tây, thấy trường học của người ta, nhớ lại các trường trung tiểu học ở xứ mình mà vừa tủi vừa thương.
   Tuy thế, cơ ngơi của trường Thiên Hựu khác hẳn trường Tương Lai. Nó là một quần thể gồm ba dãy nhà lầu, được bố trí nối liền nhau theo hình chữ U, ở sân có nhà chơi như một hạt nhân. Dãy chính giữa tầng dưới làm phòng étude nhỏ, văn phòng, vài phòng học, phòng giáo sư, hội đường; tầng hai phòng riêng của các linh mục và nhà nguyện; tầng ba làm phòng ngủ của học sinh nội trú, hai đầu là phòng nhỏ của hai thầy đại chủng sinh về làm giám thị theo nhiệm kỳ giúp xứ. Dãy bên phải hai tầng làm các lớp học chung cả ngoại trú lẫn nội trú, phòng étude lớn, phòng chiếu phim Charlot quanh năm của nhà khoa học Oxarango. Dãy bên trái tầng dưới làm phòng ăn nội trú, nhà bếp, tầng trên làm phòng ăn các cha và phòng bệnh cho học sinh nội trú. Kế bên dãy này là khu vực của các nữ tu Mến Thánh giá giúp việc nội trợ, y tế của nhà trường. Trường có một sân bóng rổ, sân đá banh, và một bàn ping pong đặt ở nhà chơi, về sau có "khoét vách" bán thức giải khát cho học sinh vào giờ ra chơi.
   Trước vẻ đồ sộ đó, lòng tôi thêm phập phồng khi nhập học với mấy trăm bạn nội trú từ nhiều ngả đường đất nước tụ về. Sàigòn. Quảng Trị. Nha Trang. Pleiku. Kontum, Đà Nẵng, v.v. mà cha mẹ thuộc các thành phần xã hội có tiếng tăm, trí thức hay khá giả: bộ trưởng, tỉnh trưởng, tướng tá, bác sĩ, luật sư, nha dược sĩ, thương gia, v.v. Đối với một số bạn bên kia đèo Hải Vân và miền nam, phải nói chuyện gần cả tháng trời mới nghe ra "hắn nói cái chi". Ngồi sát tôi trong phòng étude lớn là thầy Nguyễn Văn Hoàng, người Quảng Trị, tục gọi là Hoàng mệ vì hơi móm, về sau có lúc làm cha sở giáo xứ Đại Phong ở Bãi Dâu. Lúc mới gặp các "công tử" và các "nhà tu hành" đó, tôi rất ái ngại vì bản thân mình là một cậu bé nhà quê, xuất thân quá khiêm tốn, lại quen sống nhảy sông tắm giếng, leo cây hái quả, bẫy chim bắt dế, thả diều đánh căng tập võ nơi đồng ruộng.
   Nhưng rồi cuộc đời cũng tự nó giải quyết. May nhờ lối sinh hoạt hội đoàn thiếu nhi Công giáo từ lúc năm sáu tuổi khiến tôi quen sống tập thể. Mới sáu giờ sáng đã thức dậy. Làm vệ sinh thật lẹ. Ai đi lễ thì vào nhà nguyện. Ai không Công giáo xuống phòng học trước, được các cha luân phiên ngồi đầu phòng làm giám thị. Tới bảy giờ rưỡi: ăn sáng. Tám giờ: vào lớp học ba giờ, có 15 phút ra chơi. Cơm trưa. Ngủ trưa 45 phút. Học bài trưa. Vào lớp học 2 giờ. Ăn bữa lỡ. Chơi thể thao khoảng 1 giờ. Tắm. Học bài tối. Ăn tối. 9 giờ đi ngủ. Ai muốn học bài nữa thì có thêm 1 giờ xuống phòng học. Bệnh thì khai báo rồi ra mấy phòng bệnh nằm riêng, uống thuốc, ăn cháo với thịt bằm nhuyển của các dì phước. Gouter bữa nào cũng chuối với bánh mì. Thức ăn quanh năm chủ yếu thịt trâu, sữa bột, cá kho, trứng tráng, cơm hấp hơi trong thau nhỏ, v.v. Mỗi mâm bốn người, bốn món ăn chơi; cậu nào hay mút nĩa mà không nghe lời anh em thì được xin cha cho qua mâm khác.
   Thuở đó, chúng tôi may mắn chỉ học ở lớp một ngày năm giờ, chia làm hai buổi. Nghỉ chiều thứ năm xem phim cha Oxarango chiếu, và thứ bảy. Ngày chủ nhật xem lễ, học bài, ăn sáng xong, tới 9 giờ, ai không bị phạt consigne thì được tự do ra ngoài đi chơi cho tới 12 giờ. Sau đó về ăn trưa, ngủ trưa, rồi "xếp hàng dọc đi du ngoạn", thường là lên núi Ngự Bình "chơi" một chồng dĩa bánh bèo, húp nước mắm ngon hơn ăn bánh. Hằng bữa, đầu phòng ăn có một linh mục vừa ăn vừa trông coi. Đi ngủ cũng có linh mục, thường là cha Petijean, "đi tuần" trước khi tắt đèn. Thỉnh thoảng cha kiểm tra xem có giường nào nằm hai đứa không, hay có đứa nào dùng mền gối giả như làm hình nhân đang ngủ, để trốn ra ngoài đi chơi không.
   Năm học lớp Đệ nhị, tôi cũng có mấy lần ban đêm trốn ra ngoài đi chơi. Lợi dụng giờ học bài thêm, rủ nhau len lén tới một cửa sổ nào đó, vặn "trái xoài" mở cửa nhảy ra rồi đè chặt lại. Đi lòng vòng khu vực Dòng Chúa Cứu thế hay An Cựu, hút thuốc, đánh bi-da, uống cà-phê, chọc ghẹo tào lao, hay ghé quán chị Đầm trước mặt trường ngồi tán dóc, khoảng một hai giờ. Khi quay về, kéo ngay cánh cửa sổ đó ra, nhảy vào, vặn "trái xoài" lại. Có lần đang "đi hổng chân như ma" lên cầu thang bị cha Nguyễn Phương bắt được, vặn muốn đứt tai, mách cha Tôn, phạt consigne viết ba trăm lần "Tôi không trốn đi chơi ban đêm nữa". Từ đó hết dám.
Cứ đến dịp lễ lớn, ngày tết hay tuần nghỉ lễ bắc cầu mới được về thăm nhà. Trên nguyên tắc, tiền bạc cha mẹ phải gởi cha Hiệu trưởng giữ. Chủ nhật, ra ngoài chơi phải xếp hàng, kiếm cách xin cha phát cho một hai chục để đi ciné Tân Tân hay Châu Tinh, vé hạng nhì, uống cà phê đá Lạc Sơn hay Thành Lập, ngồi "nghễ", và hút bốn điếu Ruby ba đồng. Sách vở giấy bút cần mua thêm thì thưa với cha Tôn để văn phòng đặt hàng nhà sách Ưng Hạ. Hàng về, bác Nhạc, trưởng văn phòng, kêu lên phát cho.
   Cuộc sống nội trú xa nhà riết rồi đâu vào đấy và ấm dần lên với tình bè bạn cùng trang lứa. Ngày tháng đều đặn trôi, dần dà tập cho mình thành nền nếp kỷ luật; việc ăn và học, chơi và ngủ, ngăn nắp điều độ như trong trại lính. Từ chuyện tiêu pha tới giao tế cái gì cũng vào khuôn phép và hòa nhã. Bạn bè tuy hay trêu chọc nhau nhưng gần như không ai lừa gạt hay thô bạo với ai. Cứ thế ăn sâu vào tâm thức, tới độ khoảng năm bảy năm sau ngày 30.4.1975, tại Sàigòn, tôi gặp lại Vinh, một bạn thân nội trú cũ, con của một nha sĩ ở Gia Hội. Hắn than vãn với tôi là rất oán trách các cha các thầy ở Thiên Hựu, nhất là cha Tôn: các vị dạy dỗ hắn đàng hoàng quá khiến cho lúc này, hắn không thể nào ra đứng chợ trời mánh mung để kiếm sống qua ngày!
    Tôi chỉ biết mỉm cười khi nghe lời than trách đó vì bản thân lúc ấy cũng "đứng chợ trời" suốt buổi luôn miệng hỏi người qua kẻ lại "có gì bán không, có mua gì không". Tôi cũng chỉ tạm đủ sống qua ngày nhờ "cần cù, có kỷ luật, cố gắng giữ lời hứa", nhưng không phất lên được vì dù lỡ buột miệng "có nói không, không nói có" cũng cảm thấy hổ thẹn, nổi da gà. Và như tôi vừa trình bày, ảnh hưởng thứ nhất mà tôi tin rằng trường Thiên Hựu tạo ra trong rất đông học sinh, cả nội trú lẫn ngoại trú của nó, là dù bạn có cố ý làm lem luốc tâm hồn mình hoặc muốn để mặc bản thân trôi theo một khúc sông vẩn đục nào đó của dòng đời cũng không là chuyện dễ dàng.
   Tôi còn nhớ năm lớp Đệ tứ, học Việt văn với thầy Phạm Đình Bách. Bài luận dù hay dù dở, hể xuống hàng mà đầu dòng không thụt vào đều đặn hai ô là bị zéro ngay. Năm Đệ nhị, con của thầy là Vinh học chung lớp với tôi rồi sau theo ngành bác sĩ. Thầy là một thi sĩ nổi tiếng và là chiến sĩ Việt Quốc, tử nạn vụ Mậu Thân, nhưng hình ảnh đầu húi cua và sự cẩn trọng ngay hàng thẳng lối trong chữ nghĩa cùng tác phong khắc khổ của thầy vẫn sống mãi trong tôi. Bên cạnh đó, là cung cách làm việc tận tụy theo lối nhà binh, chiếc áo chùng thâm bạc từng vệt phấn của các cha Lefas, Duval, Petitjean, v.v. sau mỗi giờ giảng dạy, như một tấm gương lao động hết mình.
    Sống chung với các bạn đủ mọi tầng lớp xã hội và thuộc các tôn giáo khác nhau dần dà tạo cho tôi thái độ không biết sợ hãi trước những gì gọi là chức vụ, vị vọng hay giàu sang, cũng như không có tinh thần phân biệt tín ngưỡng. Thiên Hựu, cũng như các trường Công giáo khác, là cơ sở giáo dục tự trị, được tổ chức và điều hành theo tinh thần Kitô giáo chứ không phải là cơ sở truyền giáo, vì thế không có giờ dạy giáo lý và tạo được không khí thoải mái cho cuộc sống chung của các học sinh lương giáo. Nhờ đa số học sinh không là người Công giáo, cả ngoại trú lẫn nội trú, và nhờ các bạn từ nhiều miền đất nước về sống chung dưới một mái trường nên tạo được tinh thần "hòa hợp dân tộc và tôn giáo" cho chúng tôi trong tuổi thiếu niên.
   Lối xử sự của các linh mục, nhất là của cha Tôn, không phân biệt học sinh giàu nghèo, con quan chức hay con thường dân, gây cho chúng tôi ấn tượng về sự bình đẳng xã hội. Tôi nhớ có lần bọn nội trú chúng tôi quậy phá tập thể vào một sáng chủ nhật trên phòng ngủ: đua nhau thả bi rồi đồng loạt thét lớn nhiều lần "Monsieur Vincent", làm các cha ở tầng dưới điếc óc! Cha Tôn bắt bỏ phiếu kín, ghi tên ba đứa "đầu đảng". Sau khi kiểm phiếu, có được tên ba kẻ trúng thăm nhiều nhất, ngài kêu lên từng đứa, bắt nằm sấp xuống. Rồi quấn xong điếu thuốc cẩm lệ, ngài vung roi mây quất sàn sạt xuống bắp chân mỗi đứa, vừa đánh vừa hài ra địa vị của cha hắn: "Con bộ trưởng mà rứa hả, con bác sĩ con ty trưởng cảnh sát mà ri hả, tau đập cho mà nhớ, tau đập cho mà chừa, v.v."
   Bên cạnh việc học thầy còn có học bạn. Như đã viết ở trên, ngồi kế bên tôi năm Đệ tứ trong phòng étude lớn là thầy Hoàng, sau này đi trọn đường tu, làm cha. Thân phụ của thầy lúc đó cũng là hạ sĩ quan như ba tôi, nên chúng tôi rất thân nhau; tôi học hỏi được nơi thầy rất nhiều. Ngồi sau lưng tôi là thầy Lanh, thích viết văn và hướng dẫn tôi làm thơ, về sau xuất. Không hiểu sao lớp của các thầy đang học chương trình Việt lại bị bắt sang học chương trình Pháp nên các thầy phải cố gắng rất nhiều. Lớp này đá banh rất giỏi, làm nồng cốt đội banh của trường, nhất là thầy Nhơn mà nghe nói sau này làm giám mục. Còn các lớp chủng sinh khác như của thầy Huy, thầy Hiệu, (về sau làm cha, có người làm giám mục), vẫn học chương trình Việt. Cùng học một thời với tôi, tuy khác lớp là cha Nguyễn Văn Lý, và các linh mục nhóm Nguyễn Kim Điền trong đó có cha Giản, con của bác Nhạc, chủ lực của Khối 8406 sau này. Tôi tin rằng lối giáo dục của trường Thiên Hựu cũng như tình trạng học chung chơi chung giữa người tu và kẻ tục của chúng tôi suốt ngày đêm dưới một mái trường đã ảnh hưởng ít nhiều lên các vị ấy.
   Thiên Hựu còn để lại trong tôi những bài học căn bản về nghệ thuật. Lớp hội họa của thầy Phi Hùng. Lớp âm nhạc của thầy Lê Quang Nhạc. Hai vị đều là danh sư. Cũng tại đó, tôi viết nên những bài thơ bài văn đầu tiên đầy mơ mộng cuộc đời hoặc nhớ thương vơ vẩn. Những ngày giá rét như lạnh từ trong xuơng lạnh ra, những đêm trăng sáng vằng vặc như trời buông lụa bạc khắp chung quanh. Mùa đông, ở trong phòng ngủ rộng hay phòng học lớn của học sinh nội trú cho cảm giác buồn xa vắng và nhớ mênh mông. Những bữa tối trời, ăn cơm xong đi dạo ở sân banh, đom đóm bay đầy. Trời sắp vào hạ, lang thang trong sân trường trong tai đầy tiếng ve ran mới thấy lòng nôn nao mong cho mau hết năm học để được về với thôn làng, tắm sông dạo đồng, lang thang trên đường quê với các bạn trai gái. Mỗi lần hè tới, cuốn lưu bút đầy những lời trêu ghẹo, nhắc nhở kỷ niệm và hẹn hò chia tay thắm thiết: Mi đi tau nhớ mi đi! Chỉ tiếc những trang giấy ấy đang nằm đâu đó theo mấy chục năm can qua, tị nạn chiến tranh, lưu lạc giang hồ, tù ngục rồi vượt biên. Thiên Hựu cũng dạy cho tôi những bước diễn tập quân sự ắc-ê un deux trois quatre, dưới sự huớng dẫn rất nhà nghề của linh mục cựu quân nhân Etcheren, để chuẩn bị cuộc diễn hành của học sinh các trường theo thông lệ ngày quốc khánh 26.10 hằng năm tại Phu Văn Lâu.
   Tôi gọi là "nằm đâu đó" vì trong cuộc đời mình, chẳng có gì mất hút. Mọi sự không hiện lên trong ý thức thì chúng nằm đâu đó trong cõi tiềm thức. Và đêm nào đó bỗng dưng thảng thốt vì nó chợt tái hiện trong giấc mơ. Hết năm Đệ nhị, thi đỗ Tú Tài I, gia cảnh thay đổi khiến tôi phải sang học một trường bán công. Cũng chỉ ở đó được mấy tháng, vì không chịu nổi cảnh xô bồ, tôi đành bỏ về nhà tự học để thi Tú Tài II theo diện thí sinh tự do.
    Cha Tôn mấy năm sau cũng rời trường, sang làm cha sở họ Phanxicô ở gần đó. Bác Nhạc mà cuộc đời gắn bó với Thiên Hựu, cũng rời trường dưới thời cha Nguyễn Tiến Huynh, trong sự buồn tiếc của nhiều người vì bác là "bộ nhớ" của trường. Thời làm hiệu trưởng, cha Nguyễn Văn Thành cũng đồng thời là tuyên úy cho Liên đoàn Sinh viên Công giáo mà tôi làm chủ tịch. Rồi sau đó, cha rời cuộc sống tu trì, mới qua đời cách đây vài năm ở Thụy Sĩ. Thầy Nam làm linh mục quản xứ Quán Ngang Gio Linh. Thầy Hàm làm tuyên úy Tiểu khu Quảng Trị. Thầy Trọn làm cha sở Quảng Biên ở mé ngoài Hố Nai. Trước 1974, nhờ làm cán bộ của Phong trào Công lý & Hoà bình và Công giáo Tiến hành của Tòa Tổng giám mục Huế, tôi thường có dịp gặp lại các “nhà tu hành” cũ khi đi công tác giáo xứ.
   Năm 1999, từ Canada về Huế, một trong những nơi tôi nhất định phải "hành hương" là trường Thiên Hựu. Nhưng rồi khi đi ngang đường Nguyễn Huệ, tôi không dám vào vì thấy trường xưa nay treo bảng Đại học Khoa học. Đứng bên vệ đường, tôi ngậm ngùi tưởng tượng mình sẽ trả lời ra sao nếu lúc này có đứa con trai độc nhất đứng bên cạnh, yêu cầu dẫn vào thăm ngôi trường ba nội trú ngày xưa. Làm sao tôi có thể dẫn con vào đó khi vận mệnh của ngôi trường cũ đã đổi thay theo vận nước và chung chia số phận với những cha những thầy giảng dạy cùng những học trò từng ngồi trong đó.
   “Quốc phá sơn hà tại” nhưng cảnh cũ chỉ còn trong tâm tưởng, người cũ không biết nay về đâu. Tôi chỉ còn lại trong mình bài học được từ trường xưa, đó là không nên chủ quan dựa vào sức mình mà phải biết trông cậy vào thánh ý quan phòng. Lồng trong bài học đó là hình ảnh của ngôi trường khả kính, linh mục và giáo sư đầy ân nghĩa và bạn bè chí tình mà tôi mang theo tâm thức để giữ tinh thần ung dung lạc quan khi phải sống trong tình thế ngặt nghèo ở trong nước, và sau đó, quặn mình đổi đời nơi hải ngoại.
    Cũng may còn có một số hình ảnh của trường Thiên Hựu trên mạng AnhK19.com. Còn ngôi trường Tương Lai Bồ Điền của tôi thì hoàn toàn biến mất dù một trong các học sinh của nó về sau làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trường đã bị san bằng, mặt bằng của trường bị người ta cắt ra chia nhau; có lẽ vì đất ở địa điểm ấy được giá, nằm sát ngả tư quốc lộ và tỉnh lộ.
Nhưng rồi suy đi nghĩ lại, tôi tin rằng khoảng mươi lăm năm nữa, khi cháu nội khôn lớn, tôi sẽ không còn chỉ vào lồng ngực mình mà nói ngôi trường Thiên Hựu ông nội học ngày xưa nay đang nằm ở đây, chỗ có trái tim ông. Với những gì hiện xảy ra trên thế giới và tại Việt Nam, tôi chắc chắn đã tới lúc cái thiện chiếm ưu thế trên cái ác, vì đó là qui luật của cuộc sáng thế ngày càng tốt đẹp hơn và lẽ tuần hoàn vật cùng tắc biến. Và đang đi tới ngày tòa nhà có hình chữ U đó trở về với cái tên La Providence Thiên Hựu thuở trước.
Có ai dám đoan chắc sẽ không thể nào có một ngày như thế? Tôi nói đương nhiên có vì La Providence hay Thiên Hựu có nghĩa Trời lo, Thánh ý quan phòng của Thượng đế. Là Kitô hữu và cựu học sinh Thiên Hựu, tôi được gieo sâu trong lòng niềm tin vào thiên ý. Sẽ tới một ngày tôi dẫn cháu nội vào ngôi trường cũ, bên đường Nguyễn Huệ, trên đường lên An Lăng và qua An Cựu. Tôi sẽ chỉ cho cháu thấy những chỗ ông nội nằm ngủ, ngồi học bài, làm thơ, diễn kịch, đá banh, chơi bóng rổ bóng bàn, v.v. Và đây là nơi cha Tôn thường dựng xe mobylette rồi đứng vấn thuốc cẩm lệ ngó quanh, cha Lefas vừa đi vừa nói càm ràm với bộ râu đầy bụi phấn. Tôi sẽ dẫn cháu nội tới một cửa sổ ở cuối dãy bên phải. Ở đó, tôi sẽ kéo cánh cửa có buộc sợi dây thun xe đạp ra, và hai ông cháu cùng xem một cuốn phim Charlot do cha Oxarango cài đặt sẵn từ hơn sáu chục năm trước. 

N.U

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp

khuôn mặt em



những lúc đớn đau. tuyệt vọng
tôi thường nhìn thấy. khuôn mặt em
như vầng trăng
sáng rỡ

dù là trong mưa
dù là khi hoàng hôn. tím. phía chân trời
hay trong tuyết phủ

như đêm qua
trong giấc mơ
tôi nhìn thấy. em
đứng cười
bên tấm mộ bia. khắc bài thơ. con chim màu đỏ

như trên trang văn tôi đã viết
khi đàn bướm dại. loài bướm monarch. từ khu rừng nhiệt đới. bên kia sông
bay về. rợp nắng
và khuôn mặt em. cũng nổi lên. trên biển của màu. và gió
cười
nói với tôi
về một vẻ đẹp. không bao giờ hiện thực

buổi chiều
khi tôi ra bờ sông
nhìn khuôn mặt em. trôi theo sóng nước
em cười bảo tôi
mai đây. hãy theo em. về miền hoa hướng dương. nơi những con ong chờ chết
và mặt trời. héo khô

em bé mặc áo cổ lá sen
quần cánh bướm
đã đi về phía của vầng trăng khuất
sau ngọn đồi. cỏ may

ôi. khuôn mặt em
không bao giờ hiện thực
Tháng 8. 2011

NXT