Monday, June 1, 2026

CHUYỆN ĐỒ

Tố Nghi
 
Tranh đồ chơi
 
Lâu rồi trong phố, tình cờ nghe nhắc tới chữ đồ. Đúng tinh thần chữ nghĩa bài bản, tui đi ngó sách chữ đồ làm màn học hỏi.
Đồ mang nghĩa đồ vật, đồ đạc, đồ dùng, là chữ thấy hoài mỗi bữa. Tại miền nam, nó trở thành đồ ngắn ngủi.
Và tùy ngữ cảnh văn cảnh, người nghe biết đích xác nó là cái chi.
Đồ là thức ăn thức uống (để... ăn uống), là quần áo để bận (giặt đồ phơi đồ), là công việc phải làm v.v...
Trong nam, đồ nghe hoài mỗi bữa (mua đồ, giặt đồ...) Nhưng ngoài bắc đồ mang nghĩa khác hẳn.
Thoạt đầu nó là đám nhuyễn thể (mollusks trai sò ốc hến...) sanh sống trong nước mặn đại dương.
Rồi... thương hải biến vi tang điền... chúng tỉnh bơ lội vô bờ, chạy vào đóng trụ trong cơ thể phái yếu, thu hút năng lượng mặt trời, giúp đám yếu nọ dẻo dai tràng giang phát thanh mỏi mệt.
 
Dà, chiệng Quế Lin kể bữa trước, "dead end" được tui việt hóa thành "cùng đồ" là sai quá sai!
Đúng ra dead end là ngõ cụt, đường cùng (... thiếu đồ), tây nôm na là cái cul de sac.
Tới cụt cùng rồi coi như hết lối đi tiếp, buộc phải quẹo cua vòng trở ra. Tới đó rồi mà cứ xấn vô nữa, nên tai nạn mới sanh ra.
 
Tướng công hỏi: cùng đồ là cái chi vậy má nó? Rồi ổng click vô site tiếng việt (cộng) kia, có bài viết với đề tựa "Chảy máu cùng đồ", theo sau là lời phụ chú "chảy máu cùng đồ sau khi giao hợp".
Giao hợp thì hiểu nhưng cùng đồ thì không. Thế là hai cái đầu chụm vô tham khảo ý kiến.
Giao hợp rồi chảy máu, nhưng hổng biết chảy vì lủng bình lủng phin lủng tách hay... chảy máu cam.
Cùng đồ là đường cùng ngõ cụt, là dead end hay cul de sac
Thành ra... đồ ở đây hẳn phải là tiếng bắc - và cùng đồ là tiếng dziệc cộng - Term y học là cái Cul de sac de Douglas. Hổng rõ ngài Douglas đã làm chi, để xui xẻo (vs may mắn), tên được chọn đặt cho con hẻm cụt nọ. Mơi mốt chữ đồ - mua đồ, nấu đồ, giặt đồ, phơi đồ, đeo đồ, bận đồ... - có lẽ nên đổi thành Douglas hết cho... shang.
 
Ngôn ngữ bình dân giản dị ngắn gọn dễ nhớ. Đồ đứng riêng lẻ là một bộ phận trong cơ thể con người, chỉ đờn bà con gái mới có. Làm chi với nó cũng đặng nhưng không nên, đừng bao giờ mang nó đội lên đầu, kẻo trí thông minh sẽ tàn lụi.
Và hổng rõ từ bao giờ, nó còn được dùng để mạ lị đối phương. Điêu là giả, là dối trong tiếng bắc, nói điêu là nói xạo trong tiếng nam. Điêu hay đi với ngoa, ám chỉ đứa tỉnh rụi ăn nói thiếu cơ sở mà hổng ngại ngùng. Rồi để tăng trọng lượng ngữ cảnh, người tố giác còn long trọng tặng thêm đứa điêu ngoa nọ cái đồ: Đồ điêu ngoa!
 
Sách vở cũng nhắc tới một chữ đồ rất là "ngoại chủng", bản đồ, tức cái họa đồ về ngõ ngách di chuyển trong một khu vực ấn định. Bởi vậy, vì thế, cho nên... đám đỉnh cao trí tuệ nọ mới dịch nghĩa cái cul de sac nớ là cùng đồ. Hổng rõ đồ đây là bản đồ, hay đồ đây là đồ trong nghĩa... "đêm nằm đồ nọ tưởng đồ kia" (đồ đầu là người còn đồ sau y hình là vật)!
Nhớ có lần má bị hỏi: Chị ơi, thấy có cửa hàng đề chữ tiệm cầm đồ. Má nói: Ừa tiệm cầm đồ là chỗ mang đồ vật trong nhà ra cầm, cầm đồ là đưa đồ ra thế chấp để đổi lấy tiền. Chừng xong việc thì đưa tiền ra trả cùng với tiền lời, rồi chúng trả đồ lợi - Ôi giời, vậy mà chúng em cười mãi, cứ tưởng mang đồ nhà ra cho người ta cầm chơi chút!
Sau cùng thì... cái đứa chế ra term cùng đồ trong bài viết nọ, hẳn phải là đứa chữ nghĩa đầy mình, cả hán lẫn nôm, cả quốc ngữ lẫn ngoại ngữ! Quý ông túng tiền tiêu vặt cứ mang Douglas nhà ra đưa chúng cầm đỡ, cho lửa không bén mồi để khói khỏi bốc cao, mần màn bảo vệ... môi sanh!
 
Xin hỏi một chữ đồ khác: dư đồ. Nhớ term nọ trong thơ "vịnh bức dư đồ nát" tên tác giả quên dồi. Dư đồ, bản đồ, hoạ đồ, địa đồ... do cùng là đồ nên hẳn phải gần xa anh em thúc bá với nhau. Bản đồ là cái map, họa đồ là cái đồ họa trong kiến trúc, địa đồ là đồ về đất đai. Nhưng dư đồ thì hổng biết là đồ về cái chi, và dư là gì, việt hay hán việt, là phản nghĩa với thiếu? Rồi còn thêm cái đồ nữa chỉ người: tội đồ, môn đồ, ... Hổng biết cách viết mấy chữ đồ nọ có giống nhau hông.
 
*
 
Rồi... thinh không tin tức chình ình trong báo lá cải Kansas.
https://ca.news.yahoo.com/naked-teacher ... 44146.html
Cũng dead end, cul de sac y chang, nhưng máu hổng chảy ở cùng đồ, mà ở trán và tay chơn (vì thằng nọ hổng có cùng đồ) do đã đâm xe vô nhà thiên hạ, rồi lô ca chân bỏ chạy nước rút cùng nhau. Quả lắc đồng hồ sanh học của nó chạy trật chìa, nên đã sanh chiệng thiếu synchronisation có lẽ.
Dạo trước tin tức Douglas kiểu này chỉ nghe ở ngoài đường, rồi từ từ tiến vào trường học với bọn thày giáo bất lương. Xã hội loài người cực lực lên án đám đực rựa lợi dụng chức quyền, dụ dỗ ép uổng thanh thiếu nhi vị thành niên có cùng đồ. Nay thì... khuynh hướng bình đẳng phái tánh đang được mùa, chừ tuyền nghe chiệng các cô giáo ép uổng học trò thiếu cùng đồ, y chang hổng khác. Vậy mới suspense!
 
Sau cùng thì... máu cũng chảy do trầy sát, mà cùng đồ lại hổng sao. Nhưng chủ nhơn của nó sẽ mất job, hổng vô ấp đếm lịch ngắn hạn thì cũng phạt vạ tù treo và rút giấy phép hành nghề. Tâm vốn thiện, chỉ hướng lòng dô những chiệng tốt đẹp. Nhưng lực lại sến sệt, cứng đầu, nhứt định ồn ào mạnh mẽ đòi quyền sống. Và đã xảy ra màn lực bất tòng tâm.
Cà phê cà pháo nên uống trong nhà hay ngoài tiệm cho thoải mái an toàn, có thế mới hứng khởi tới giọt cuối cùng, the very last drop. Chớ còn uống cà phê ngoài cul de sac, hổng thoải mái là cái cẳng. Pha cà phê đãi nhau ngoài bìa rừng, có bị phú lít ốp cũng chỉ phạt vạ tội công xúc tu xỉ là cùng. Ai biểu bỏ chạy làm chi!
 
Chừ ngó bộ nhiều tội cô giáo trung niên nọ phải chống đỡ. Một là công xúc tu xỉ trên kia. Hai là dụ dỗ trai vị thành niên (mới 17 tuổi). Ba là phản bội giáo đức (đức độ nhà giáo - học trò) Bốn là giúp thanh danh gia đình nổi tiếng. Và mơi mốt dễ dàng ra sách thành phim làm giàu.
Xẩm nô nói: sao nó hổng bỏ ít tiền túi vô motel hotel cho an toàn?
Tướng công biểu: có sức chơi nhưng cỏn thích chơi chùa từ A tới Z. Còn không thì cỏn dòm xa, chỗ mô không bill không file lưu trữ làm màn an toàn - bằng cớ hổng có sau này sao mà thưa trình đặng -
 
Và dĩ nhiên chuyện xúc phạm giáo đức lần này chưa chắc đã là lần thứ nhứt. Chừ có thể sẽ tìm ra thêm vài nạn nhơn khác, và nhà trường có thể bị hội phụ huynh thưa kiện ngoài toà. Báo chí và đám đạo đức gia (cả thiệt lẫn giả) sẽ nhảy xổ vô ý kiến ý voi. Đám dân cử lưỡng đảng sẽ nhào vô làm màn ăn có.
Rồi... có thể cái cùng đồ lẫm lỡ nọ sẽ thút thít màn đổ thừa, rằng gia đình tui đang cơm hổng lành canh hổng ngọt, tui bị chấn thương tâm lý nên hổng còn tỉnh táo, rồi tui bị cái bình cà phê với công suất cao nọ lợi dụng thời cơ dụ dỗ ép uổng - thêm chiệng tốn kém, mang xe móp méo tới garage sơn phết, gõ sửa dàn đồng -
Và gia đạo cái cùng đồ nọ bảo đảm sẽ... đứt chến!
Tội nghiệp ông chồng thì ít, nhưng tội nghiệp ba đứa con nhiều hơn!
TN
  

Sunday, May 31, 2026

THƠ NGUYỄN ĐỨC NHÂN

Bầu trời đêm. Hình Internet
 
BÓNG ĐÊM
 
Bóng đêm lạ đứng bên ngoài cửa sổ
tóc đêm dài.  đôi mắt ánh sao xa
hồn đêm đọng màu trăng khuya tím núi
ừ.  nhớ rồi.  cái bóng của đêm xưa

 
CHIỀU TẮT NẮNG
 
Khói bụi lang thang.  đường chiều tắt nắng                    
bụi ngàn thu ám ảnh thoáng hương người
ta cúi xuống.  núi đồi sương ngấn lệ                    
nghe mơ hồ trong gió tiếng xưa rơi
 
 
HÒN SỎI
 
Hòn sỏi nhỏ trên đường chiều trơ trọi
cúi nhặt lên.  mười ngón chạm thiên thu
sỏi tự tại.  cả đất trời thinh lặng
ta lặng thinh giữa thiên địa mịt mù
 
 
CHIỀU PHI NÔM
 
Bước mây trắng cơ hồ như đã lở
ta bạc màu hối hả giữa đồi sương
chờ với nhé.  hởi bụi đường phiêu bạt
chút tình xưa trăng đứng đợi bên đường
 
 
CHIỀU MUỘN
 
Con chim nhỏ đậu cành khô ngái ngủ
nắng chiều đi.  bóng núi bỗng mơ hồ
mặt đất xám. trời âm u bất tận
sương mịt mù.  đêm gió lạnh lao xao
đời vô thường.  làm sao ai biết được
mai có còn ngái ngủ dưới trăng sao
 
 
BỤI ĐƯỜNG XA
 
Ngày trở lại hiên chiều xưa cỏ mọc
bụi đường xa còn bám áo sờn vai
hồn cát bụi ánh màu trăng rực rỡ
"nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài" (*)
 
NĐN 2026
 
(*) là một câu nổi tiếng trong bài hát nói "Vịnh Phật" của Uy Viễn Tướng Công - Nguyễn Công Trứ.

 

 

 

  

TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ TRANG CHÂU

• Trần Thị Nguyệt Mai thực hiện qua eMail
 
 

 
Nhà văn Trang Châu và tác phẩm
 
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI:  Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?
 
TRANG CHÂU:  Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.
Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.
Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
 
TC đứng trên tàu Mary của Médecins du Monde
đi cứu người vượt biển, năm 1988.
 
TTNM:  Được biết anh làm thơ từ năm 15 tuổi. Nguyên do gì đã đưa anh đến với thơ?
 
TRANG CHÂU: Tôi còn nhớ, lúc bắt đầu đánh vần được chữ quốc ngữ, tình cờ thấy cuốn truyện thơ Lục Vân Tiên mẹ tôi để ở đầu giường, tôi tò mò mở ra đọc, đánh vần từng chữ, chữ hiểu chữ không. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mấy câu thơ sau đây:
‘’Đêm khuya ngọn gió thổi lò
Sương sa ẩm thấp, mưa to lạnh lùng...’’
 
Hai câu thơ tả cảnh Lục Vân Tiên, mù lòa, bị đem bỏ trong hang Xương Tòng cho chết đói. Tôi đã khóc khi đọc và hiểu được hai câu thơ này. Cũng như tôi đã sung sướng vui mừng tiếp đó khi đọc hai câu thơ sau:
‘’Đêm nằm thấy một ông tiên
Đem cho thuốc uống mắt liền sáng ra...’’
 
Đó là kỷ niệm khó quên lần chạm mặt đầu tiên với thơ.
Vì theo học chương trình Pháp giờ Việt văn rất ít: mỗi tuần chỉ 2 giờ học. Vị giáo sư là một linh mục: Cha Bính. Sau khi giảng dạy các thể thơ VN như: lục bát, song thất lục bát, phú, Đường thi, tứ tuyệt, thơ Mới, cha Bính bắt cả lớp làm thơ; đề tài : tự do, thể thơ : tự do. Bài thơ đầu đời của tôi ở tuổi 15 là viết về người mẹ vắn số của mình:
 
Thăm Mộ Mẹ
 
Tôi đứng nhìn xem nấm mộ tàn
Im lìm an giấc dưới trời lam
Trên đầu bia đá rêu xanh phủ
Cỏ úa lan tràn phủ dọc ngang
 
Lúc ấy hồn tôi cố tưởng mơ
Bóng người từ mẫu tận mây mờ
Với bàn tay trắng êm êm mát
Ôm ẵm người tôi lúc trẻ thơ
 
Nhưng hết, hôm nay hết cả rồi
Còn đâu hình bóng quý yêu tôi
Với bàn tay trắng êm êm mát
Vỏn vẹn còn trơ nấm mộ tồi
 
Cha Bính phê trong tập vở của tôi: “Hay quá!”. Ngài đã đem bài thơ của tôi đọc cho cả lớp nghe. Tôi nổi tiếng từ hôm đó. Bài thơ đầu đời của tôi, tôi chưa bao giờ gởi đăng báo hay cho in trong các tập thơ của mình. Có lẽ tôi vẫn ngại bài thơ còn “non” quá. Nhưng thơ đã đến với tôi từ đó và sẽ ở với tôi mãi mãi.
 
TTNM:  Do đâu anh chọn bút hiệu Trang Châu? Bài viết xuất hiện đầu tiên của anh trên báo có phải từ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa? Hay là một tờ báo nào khác?
 
TRANG CHÂU:  Trang là tên ông anh ruột.
Đúng. Thời đó tôi bắt đầu và chỉ viết cho nguyệt san Tình Thương.
 
TTNM:  Qua tiết lộ của anh, NM tìm đọc các số báo Tình Thương* được nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập và khôi phục từ Đại học Cornell (Hoa Kỳ). Bài thơ đầu tiên của anh xuất hiện trên báo là bài Buồn Một Phương, đi trên Tình Thương số 2 – Xuân Giáp Thìn 1964 (tháng 2/1964). Cũng nhờ bộ sưu tập này, NM được biết từ số 14 - Xuân Ất Tỵ tháng 2/1965 đến số 24 tháng 12/1965, anh cùng đứng chung trên manchette tờ báo với Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Lê Văn Châu, Quản lý kiêm Thủ quỹ: Vũ Thiện Đạm.

Hình chụp trước tòa soạn báo Tình Thương năm 1964-65.
Từ trái qua: Bùi Thế Hoành, Lê Văn Châu, Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy.
 
Từ thơ rồi sau đó anh cũng viết văn. Điều gì đã khiến anh viết văn? Hình như anh viết khi đã vào lính. Thời tạp chí Tình Thương anh chỉ làm thơ và rất nổi tiếng với những bài thơ đăng trên đó. Có phải vậy không?
TRANG CHÂU:  Phải nhìn nhận thời gian 2 năm (1964-1965) cộng tác với tờ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn đã giúp tôi tìm được một lối đi riêng cho thơ mình. Dạo đó tôi hay mua đọc thơ, văn Pháp loại livre de poche. Tôi thích nhất thơ của Jacques Prévert. Tôi muốn sáng tác thơ mình theo cái style của ông ấy. Dí dỏm, tinh nghịch, thỉnh thoảng pha chút mỉa mai, chua chát. Đại loại như:
 
‘’Để thay đổi không khí cho tình yêu
Em nên đi lấy chồng
Và nhớ đến anh
Trong những giờ hạnh phúc…’’
……………………………………………………
‘’Nếu em không là Hồng, là Mai, là Cúc
Thì xin gọi em là em
Người con gái phụng phịu trả lời: em muốn
Anh gọi em bằng tên... anh’’
 
Thời cộng tác với nguyệt san Tình Thương tôi có viết văn, nhưng chưa viết truyện ngắn. Chỉ là những bài viết về thời cuộc. Chỉ có bài ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ viết vào năm 1964 khi một toán sinh viên quân y hai năm cuối nhận lệnh Cục Quân Y lên đường ra miền Trung (Quế Sơn) cứu trợ nạn lụt. Bài viết này coi như tiền thân của những bài bút ký sau này trong tác phẩm văn đầu tay: Y Sĩ Tiền Tuyến.
Tôi chỉ thực sự bắt đầu viết truyện ngắn vào khoảng năm 1969-1970 khi cộng tác với tờ Văn Học do anh Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm. Viết truyện ngắn có nhuận bút, thơ thì không. Không biết có phải viết truyện ngắn được nhuận bút là một vuốt ve tự ái đã thôi thúc tôi viết hay thực sự tôi muốn thử nghiệm một lãnh vực mới.
Tôi nhớ tôi đã viết được 14 truyện ngắn. Nhà xuất bản Đường Sáng (đã in và phát hành cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến của tôi) đã nhận xuất bản và đã trả tác quyền trước. Nhưng sách chưa kịp in thì miền Nam mất. Ra hải ngoại tôi còn nhớ nội dung vài truyện và cố gắng viết lại với đôi chút thêm bớt như các truyện: Dì Thu, Chị Xuyến, Nhung nào khác, Bên Đường…
Tôi tự trách mãi việc mình, trưa 29 tháng 4 năm 1975, do vội vã rời nhà để đào thoát, đã xách túi đồ nghề theo mà bỏ lại túi đựng bản thảo thơ, văn cùng cuốn album trong đó có 3 tấm hình tôi quý: Hình vào Dinh Độc Lập bắt tay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhận giải thưởng văn học nghệ thuật với tác phẩm đầu tay: cuốn bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến. Hình được Tướng Nguyễn Ngọc Loan gắn Dân Vụ Bội Tinh tại vùng đóng quân ở Kinh Sáng (Chợ Đệm - Bình Chánh) và tấm hình tôi đang săn sóc một thương binh Bắc Việt bị trọng thương (có ghi lại ở chương Đường Ra Bến Hải, trong Y Sĩ Tiền Tuyến).
 
TTNM:  Khi học xong ra trường, anh chọn về Quân Y Dù. Có điều gì quyến rũ anh trong việc chọn binh chủng này thay vì các binh chủng khác hay không?
 
TRANG CHÂU:  Tình hình chính trị thời điểm 1964-1966 rất rối ren, sinh viên xuống đường chống chính quyền quân sự liên miên.
Nhân sự trong tòa soạn nguyệt san Tình Thương chia ra làm 2 phe: một bênh vực, một chống. Tôi đứng ở giữa. Tôi nhớ tôi đã nói rằng: Trước khi muốn làm cách mạng cho đất nước hãy làm cách mạng bản thân đã. Đất nước đang chiến tranh. Vậy mình phải làm nhiệm vụ của một người trai thời chiến. Tôi chọn phục vụ một lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù. Về Dù phải tình nguyện chứ không do Cục Quân Y phân chia đơn vị lúc ra trường. Theo bước tôi đi, về sau có Phạm Đình Vy về Thủy Quân Lục Chiến, Ngô Thế Vinh về Lực Lượng Đặc Biệt. Về Nhảy Dù có Trần Đông A và Đường Thiện Đồng.
 
TTNM:  Được biết Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký của Tạp chí Tình Thương, học chung lớp, ra trường cùng năm và cùng về Quân y Dù với anh. Sau này, tháng 4/1968, anh Tuấn đã hy sinh khi đang săn sóc cho một thương binh ở Khe Sanh. Xin anh kể về những kỷ niệm với anh Nghiêm Sỹ Tuấn khi cùng học chung ở Đại học Y khoa cũng như khi ở trong quân đội.
 
TRANG CHÂU:  Nghiêm Sỹ Tuấn là bạn học cùng lớp với tôi. Chỉ khác nhau ở chỗ Tuấn là trưng tập còn tôi là hiện dịch. Tôi đáo nhậm đơn vị trước Tuấn 6 tháng. Khi Tuấn tình nguyện về Quân y Dù tôi đang ở trạm cứu thương tiểu đoàn 6 Dù, hậu cứ ở Vũng Tàu. Tôi xin đổi về trạm cứu thương tiểu đoàn 3 Dù cho được gần nhà vì hậu cứ tiểu đoàn 3 Dù nằm ở Sài Gòn. Tuấn thế tôi ở tiểu đoàn 6 Dù.
Tuấn nhỏ con, tính tình trầm lặng, uyên bác, giỏi ngoại ngữ. Nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn dạo đó có đăng từng kỳ tác phẩm nổi tiếng Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, dịch giả là Nguyễn Vĩnh Đức & Nghiêm Sỹ Tuấn.
Nghiêm Sỹ Tuấn là bác sĩ Dù duy nhất hai lần bị thương, một lần nhẹ ở Dakto (mảnh đạn xước bờ vai) và một lần khá nặng ở Cao Lãnh (đạn ghim vào đầu gối). Sau khi lành vết thương đầu gối, Tuấn được gởi đi thụ huấn khóa giải phẫu tổng quát một năm tại Tổng Y viện Cộng Hòa. Nghe nói Tuấn xin được trở về phục vụ bệnh viện Đỗ Vinh của sư đoàn Dù sau khi mãn khóa. Hình như yêu cầu của Tuấn không được Cục Quân Y chấp thuận. Và Tuấn từ chối theo học khóa giải phẫu tổng quát, trở về làm y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Dù cho tròn nhiệm vụ 2 năm ở cấp tiểu đoàn của đơn vị tổng trừ bị.
Năm Mậu Thân 1968, trận Khe Sanh mở màn. Tuấn ghé bệnh viện Đỗ Vinh thăm tôi trước khi theo đơn vị ra vùng hỏa tuyến. Anh tâm sự với tôi:
- Sếp vừa cho tôi hay, tôi ‘’lội ‘’ chuyến này là chuyến chót.
Tuấn đã lội chuyến chót, nhưng đi không bao giờ trở về. Một quả pháo của địch đã rơi đúng chỗ Tuấn đang đứng, chuẩn bị truyền dung dịch cho một thương binh nằm trên cáng đặt trên miệng hầm. Tôi là người nhận lệnh đi báo tin buồn cho gia đình Tuấn. Hình ảnh ông cụ thân sinh của Tuấn, rơi phịch xuống ghế ngồi, hai mắt trừng trừng nhìn tôi, sau khi tôi báo tin dữ, ám ảnh tôi suốt đời.
Tôi có làm cho Tuấn một bài thơ, khá dài, 6 đoạn. Hôm nay chỉ xin trích một đoạn, coi như để tưởng nhớ một bạn học cùng lớp, một đồng đội cùng binh chủng:
Hỡi thằng y sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi!
Đi chưa bao giờ biết mệt
Chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
Đêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
Chiều Cao Lãnh đạn ghim sâu vào gối
Và Dakto mảnh xước bờ vai
Hỡi thằng duy nhất của chúng tao ơi!
Hai lần chiến thương vẫn còn “súng, xắc”…
 
TTNM:  Nhân nhắc đến tác phẩm Y sĩ tiền tuyến, điều gì đã thôi thúc anh viết cuốn sách này? Anh đã có những kỷ niệm khó quên nào với tác phẩm ghi đậm dấu ấn của một Trang Châu - Y sĩ tiền tuyến?
 
TRANG CHÂU:  Thành thật mà nói, nếu không có việc nền Đệ Nhị Cộng Hòa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật, còn được nôm na gọi là giải Tổng Thống, thì có lẽ không có tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến.
     Bài ký đầu tiên tôi viết là ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ kể lại chuyến đi cứu trợ nạn lụt năm 1964 ở Quế Sơn (miền Trung) của toán sinh viên Quân Y, theo lệnh của Cục Quân Y. Bài ký này được đăng ở nguyệt san Tình Thương của sinh viên y khoa Sài Gòn.
     Bài ký thứ hai tôi viết lúc đang còn phục vụ ở tiểu đoàn 3 Dù. Khoảng đầu năm 1967, Cục Tâm lý chiến tổ chức một cuộc thi toàn quốc với đề tài: Bút ký chiến đấu. Tiểu đoàn 3 Dù lúc đó đang đóng ở Chợ Đệm (Bình Chánh). Ngoài đôi lần khám bệnh, phát thuốc cho dân chúng, tôi khá rảnh rang thì giờ. Một hôm mở đài phát thanh nghe thì biết tin trên. Tôi viết bài ‘Đường Ra Bến Hải’ gởi đi dự thi. Bài ký kể lại cuộc hành quân ở vùng Cùa của quận Cam Lộ. Một cuộc hành quân không đụng độ lớn nhưng rất kham khổ dưới cái nắng nóng ghê gớm. Bài ký được chấm giải nhất.
     Bài ký thứ ba tôi viết lúc đang làm việc ở bệnh viện Đỗ Vinh của sư đoàn Dù. Lúc bấy giờ Phòng Tâm lý chiến của sư đoàn Dù cho ấn hành đặc san Mũ Đỏ. Họ gặp tôi xin góp bài. Bài ký này có tựa ‘Thử Lửa’, trong đó tôi kể lại trận đánh lớn mà tôi tham gia trong lần hành quân đầu tiên với tiểu đoàn 6 Dù.
     Chỉ khi nghe tin Bộ Văn Hóa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật tôi mới có ý định viết thêm những đoạn ký khác, sắp xếp lại theo thứ tự thời gian cho thành một tác phẩm. Tác phẩm dự thi không bắt buộc phải là tác phẩm đã xuất bản càng làm tôi phấn khởi. Tôi gởi bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến đi dự thi dưới dạng chữ đánh máy. Và Y Sĩ Tiền Tuyến đã là một trong ba tác phẩm trúng giải năm 1969.
     Nếu có ai hỏi tôi nghĩ gì về chiến tranh VN thì tôi sẽ mượn mấy câu cuối trong bài ‘Đường Ra Bến Hải’ để trả lời: “Và một ngày sắp tới, ngồi trên trực thăng, nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẩn vơ... Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào, một đằng từ châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau...’’
 
TTNM:  Nghề bác sĩ giúp anh tiếp xúc với rất nhiều người cũng như nhiều cảnh đời. Nhưng nó có giúp anh chút nào trong cảm hứng sáng tác văn cũng như thơ?
 
TRANG CHÂU:  Tôi nghĩ nghề của tôi đã giúp tôi có đề tài để viết truyện ngắn hơn làm thơ. Xuyên qua bệnh nhân, ở nhiều lứa tuổi, những cảnh đời khác biệt của họ, giúp tôi có những sự kiện mới, lạ để khởi đầu một câu chuyện. Nhưng những cảnh đời đó chỉ giúp tôi vào truyện, kết thúc câu chuyện lại là cái hướng tôi chọn để nhân vật của tôi nhắm tới mà đi, nhận lấy mà sống hay cam chịu.  Truyện ngắn của tôi vào đầu 60 phần trăm là có thật ngoài đời, đoạn kết đa phần lại là hư cấu. Còn nhớ khi nhờ nhà văn Mai Kim Ngọc đề tựa cho tập truyện Dì Thu, ông cứ đùa đùa hỏi: Phần thật chiếm bao nhiêu phần trăm vậy Trang Châu? 
 
TTNM:  Trong những sáng tác của anh, anh ưng ý những tác phẩm nào nhất và vì sao?
 
TRANG CHÂU:  Với tôi không có tác phẩm nào tôi ưng ý nhất. Chỉ có bài viết nào gây xúc động mạnh khi tôi sáng tác và có âm hưởng lâu bền khi tôi có dịp đọc lại thì tôi coi là ưng ý. Thơ thì có: Mừng Em, Dặn con khi khôn lớn, Xuân nhớ bạn. Truyện ngắn thì có: Dì Thu, Chị Xuyến, Bên Đường. Bút ký thì có: Đường Ra Bến Hải. Đồng hạng thì có nhưng nhất thì chưa. Cũng có thể sẽ không bao giờ có.
 
TTNM:  Về nghề nghiệp, tại sao anh chọn ngành y? Điều gì trong y khoa khiến anh thấy thích thú khi theo nghề này?
 
TRANG CHÂU:  Khi còn học lớp seconde (đệ tam) tôi ước lên đại học tôi sẽ chọn y khoa để tìm hiểu mẹ tôi mất về bệnh gì. Thế nhưng rồi sau khi đậu tú tài 2, ban triết, tôi lại muốn đi học Luật để ra làm luật sư. Nhưng trường Luật năm đó bỏ tiếng Pháp, đổi sang dạy bằng tiếng Việt. Thấy tôi có vẻ lừng khừng chọn ngành, bà kế mẫu tôi nói: nhà muốn có một bác sĩ nhưng sợ y khoa khó lắm e Châu học không nổi. Thế là chạm tự ái thằng nhỏ. Thế là tôi ghi danh học y khoa. Ba năm đầu thật vất vả. Ngoài chồng bài vở, thực tập còn phải chống chỏi với cái thiếu hăng say của chính mình. Cho đến khi lên năm thứ ba, thực tập ở bệnh viện Từ Dũ, mỗi sinh viên có trách nhiệm phải đỡ 20 ca sinh đẻ bình thường tôi mới bắt đầu yêu nghề của mình. Còn nhớ sau khi kéo được đứa bé sơ sinh ra khỏi người mẹ nó, đặt ống hút nhớt trong mũi, trong miệng, vỗ đít nhẹ cho nó khóc, nhỏ thuốc vào mắt, cắt cuốn rún, lau mình mẩy, quấn tã cho nó rồi đem đứa bé lại cho mẹ nó. Nhìn cảnh người mẹ, mới vừa đây kêu la khi rặn đẻ, giờ hai tay ôm con, mắt sáng với nụ cười sung sướng, tiếp theo hai tiếng cám ơn, mình mới thấy mình vừa đóng góp một chút gì cho hạnh phúc của người khác.
 
TTNM:  Khi nhắc đến tên Trang Châu, anh mong độc giả nhớ tới anh ở những điều gì?
 
TRANG CHÂU:  Hơi khó trả lời. Có lẽ tôi nên mượn lời những nhà văn nhà thơ đã viết về tôi và mong những gì họ nghĩ về Trang Châu cũng được đông đảo độc giả nghĩ như vậy.
 
‘’Đọc Trang Châu người ta dễ dàng cảm thấy chuyện rất thật, rất cuộc đời, như một phiên bản thật thà của cuộc sống quanh ta. Chúng có cái hấp lực riêng níu kéo người đọc. Tôi vẫn cho một truyện thành công phải giữ người đọc tới dòng chữ cuối. Và khi đọc xong, truyện vẫn còn vương vấn trong trí người đọc, không dễ gì mà rời xa, không dễ gì mà xếp lại.’’ -- SONG THAO (trích Đọc Dì Thu của Trang Châu).
 
‘’Thơ Trang Châu nói chung là thơ rất hiền. Trong thơ Trang Châu ta thấy phảng phất những âm điệu êm đềm như thơ Nguyễn Bính hay yêu kiều như giọng Đinh Hùng. Trong thơ Trang Châu tiếng nói không bị đập phá, không bị xô đẩy tới những biên cương không chờ đợi. Vì vậy tôi chắc thơ Trang Châu sẽ được tiếp đón dễ dàng với nhiều thế hệ người đọc thơ.’’ -- ĐỖ QUÝ TOÀN (Trích Tựa - Thơ Trang Châu)
 
‘’Hình như có nhà phê bình văn học nào đó đã nói văn thơ khi đã đạt tới mức nghệ thuật thì nên vứt bỏ kỹ thuật đi. Chúng ta không thấy cái công dụng sửa chữ đổi lời nào trong toàn tập thơ. Trang Châu nghĩ sao viết vậy, suôn sẻ và gẫy gọn, êm ái mà thân tình. Có một thứ tình yêu rất lớn, thiệt lớn mà tác giả say mê hơn tất cả mọi thứ say mê. Đó là tình yêu quê hương đất nước. Lúc nào anh cũng ‘’muốn làm một cái gì ‘’. Theo tôi người có trái tim bình thường là những người bình thường, có trái tim thật lớn mới là thi sĩ.’’ -- VÕ KỲ ĐIỀN (Trích Bạt - Thơ Trang Châu)
 
‘’Dù đã viết Y Sĩ Tiền Tuyến tác phẩm được giải thưởng văn chương toàn quốc, thơ Trang Châu lại rực rỡ và sáng trưng trong những mảnh đời sống. Thơ của tình một thuở, của quê hương, của trái tim không bao giờ ngưng đập nhịp. Thơ Trang Châu ngắn lời nhưng dài ý. Một chút Huy Cận, một chút Nguyễn Bính phảng phất. Thơ tình yêu không bao giờ cũ. Thơ Trang Châu còn là niềm suy tư của người con trai đối với quê hương dân tộc.’’ --NGUYỄN MẠNH TRINH (Trích báo Hồn Việt).
 
‘’Quê hương và chiến tranh đã được nói tới nhiều, nhìn ngắm nhiều, và lần này qua ngòi bút của một nhà văn Y sĩ, nghĩa là qua một lương tâm đích thực. Đây là một ký sự, một tác phẩm văn chương. Bởi vì tất cả những sự kiện có thực trong đời sống, khi đem vào tác phẩm, dù được sắp xếp hoặc hỗn độn, hoặc trật tự như thế nào cũng đều thoát ra một dẫn giải. Ở đây lẽ tự nhiên, là một dẫn giải về cuộc chiến mà tất cả chúng ta đang chịu đựng và chống trả trong đau đớn và hy vọng.’’ -- NGUYỄN ĐÌNH TOÀN (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến)
 
‘’Có những sự kiện, những cảm giác mà tất cả mọi người đều biết, đều viết, đều thấy là thông thường. Chính trong những sự kiện thông thường ấy, những cảm giác mà mọi người đều biết, đều viết ấy, Trang Châu đi tìm cái lạ, cái mới. Anh đem tâm tư mình lên bàn mổ, đem cảm nghĩ của mình ra giải phẫu. Mỗi câu văn, mỗi trang sách của Trang Châu đều là một phần của chính anh. Đọc Trang Châu, cái thích nhất là thấy anh viết rất thật.’’ -- NGUYỄN ĐẠT THỊNH (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến).
 
‘’Đi vào đời sống sinh động và nhiều mặt của đất nước hiện nay, hạnh phúc và may mắn của một nhà văn mới lên đường, như trường hợp Trang Châu, là từ điểm khởi hành đi thẳng, đi ngay vào những thực tế lớn. Thực tế lớn của đất nước bây giờ là tuyến đầu, là mặt trận. Trang Châu đã có mặt ở đó. Qua những ghi nhận khỏe, tốt, tích cực và có hiệu lực của ông, tôi muốn nghĩ nếu một thực tế gai lửa không bao giờ đến với nhà văn như một tiếp nhận dễ dàng, mà như một thử thách dữ dội, Trang Châu đã có đủ điều kiện để đương đầu và biểu hiện được những đặc thù của nó.’’ -- MAI THẢO (Trích lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến, in đợt 2 của nhà xuất bản Đường Sáng). 
 
‘’Văn chương nghệ thuật đã xua vào binh chủng ưu tú của quân đội một chiến sĩ đắc lực. Ở Trang Châu có một trường hợp ngộ nghĩnh: trường hợp một người vừa phục vụ nghệ thuật vừa phục vụ nhân sinh thật kỹ, nói một cách khác là một người vì nghệ thuật mà nhào vô phục vụ nhân sinh đến nơi đến chốn. Phải nói ra như thế để thấy cái giá phải trả cho cuốn ký này nó cao đến đâu.’’ -- VÕ PHIẾN (Văn Học Miền Nam - Trích Ký).
 
‘’Nghe lời kêu cứu thống thiết của đồng bào nơi Biển Đông, ông đóng của phòng mạch lên đường ra trùng khơi tìm cơ hội nối lại nghĩa đồng bào. Chỉ cần một tâm hồn nhân hậu như thế cũng đủ hấp lực lôi cuốn chúng ta vào truyện rồi. Nhưng ở đây, tác giả còn khéo léo bố cục cho câu chuyện có tiền có hậu, có trước có sau, tưởng như một tiểu thuyết hư cấu. Nhưng không, đây là chuyện thật một trăm phần trăm, viết trong những lời văn trong sáng, chân thật, không chút làm dáng mà vẫn chuyên chở được nỗi khát khao đem lại chút hạnh phúc cho người đồng chủng.’’ -- TRƯƠNG ANH THỤY (Trích bài giới thiệu bút ký Về Biển Đông - Xuân Ất Hợi 1995)
 
‘’Trang Châu đã có những chọn lựa tuyệt đẹp cho cuộc đời của ông bằng những năm mặc bộ quân phục màu ngụy trang. Thế rồi, ở cái tuổi ai cũng nghĩ không còn làm được gì nữa, Trang Châu trở lại Biển Đông và đem về cuốn bút ký Về Biển Đông. Những thứ ông mang về là những tài sản vô giá như hình ảnh con tàu chật chội, những gắn bó tình người, như biển Đông nồng mặn, như niềm vui không bờ bến của những người nhìn thấy khung trời Tự Do. Về Biển Đông là một cuốn sách do một thuyền nhân viết về những thuyền nhân và cho những thuyền nhân.’’ -- BÙI BẢO TRÚC (trích bài giới thiệu buổi ra mắt bút ký Về Biển Đông, Arlington 1995).
 
‘’Trong cương vị nhà văn, Trang Châu đem đến cho người tị nạn một chút tình người, tình máu mủ, đồng bào. Trong cương vị của một y sĩ, ông đã phần nào xoa dịu những đớn đau thể chất của đồng loại.’’ -- HOÀNG KHỞI PHONG (Về Biển Đông - Trích báo Người Việt số tháng 6-1995)
 
‘’Tập truyện là một sưu tập người nữ, và truyện cũng như người của Trang Châu rất hấp dẫn. Trang Châu kinh sợ sự nhạt nhẽo và thích chất muối mà chỉ người nữ phong trần mới có. Về muối quả thật nhân vật nữ của Trang Châu có sẵn đến mức đậm đà, có khi đến chỗ mặn chát. Họ đối ứng có duyên, xử lý mọi chuyện dễ dàng, dễ dãi, và cái đùa cợt bất cần đời của họ dễ lây sang người đọc. Nhưng ngẫm lại, câu chuyện không hẳn chỉ có khôi hài mà còn rất nhiều bất hạnh. Nhân vật nữ của Trang Châu không được đời ưu đãi’’. -- MAI KIM NGỌC (Trích Tựa - Tập truyện Dì Thu)
 
‘’Truyện của Trang Châu giản dị, nồng nàn, nhiều tình cảm, giàu lòng thương và có hậu. Nhân vật của tác giả nam cũng như nữ, lăng xăng đi tìm một tình yêu, một sự âu yếm, một tâm hồn đồng điệu. một hạnh phúc. Có khi tìm được có khi không, có khi không có kết thúc. Và người đọc được mời tham dự vẽ ra đoạn cuối. Cám ơn tác giả đã có một ý nghĩ âu yếm về phái nữ: ‘’Tôi nghĩ trên đời này không có người đàn bà nào xấu cả, chỉ có những người đàn ông không biết mỗi người đàn bà đẹp ở chỗ nào mà thôi.’’ -- KIỆT TẤN (Trích Bạt - Tập truyện Dì Thu)
 
‘’Gần nửa thế kỷ. Có vẻ như vị y sĩ oai phong áo hoa mũ đỏ ngày xưa và bức chân dung tác giả bây giờ chả liên hệ gì với nhau. Nhưng tôi lại nghĩ ngay, có đấy. Tuy thời gian đã làm thay đổi hình hài, quy luật chung mà, song mãi mãi vẫn bất biến những đam mê, nhất là văn chương nghệ thuật. Mai sau người ta có thể không còn nhớ bác sĩ Lê Văn Châu nhưng chắc chắn nhà văn Trang Châu sẽ còn đó, trong dòng chảy của văn học Việt.’’ -- KHÁNH TRƯỜNG (Trích lời giới thiệu trang bìa sau tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe)
 
‘’Muốn sử dụng chất liệu tầm thường để tạo ra những truyện ngắn hấp dẫn, người viết cần phải có một tâm hồn nhạy cảm, một khả năng quan sát tinh tường, cộng thêm với óc sáng tạo và tài năng pha trộn thực kiện với hư cấu. Qua những loạt truyện ngắn mới nhất Trang Châu tỏ ra đáp ứng được những đòi hỏi vừa kể. Tài khéo léo nơi ngọn bút Trang Châu được thể hiện rõ nhất khi anh mô tả các nhân vật trong truyện. Chỉ vài ba nét phác họa, anh đã khiến độc giả hình dung ra được khuôn mặt, dáng vẻ, lời nói, cử chỉ và ngay cả tính tình người anh muốn giới thiệu. Một đặc điểm khác trong cách hành văn của Trang Châu là tính chất dễ dàng thoải mái, không gò bó điệu đà.’’ -- LÊ VĂN (Trích Bạt - Tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe).
 
 Nếu có ai nhắc đến tên Trang Châu, tôi mong được cảm thông về con người của tôi, con người như nhà văn Võ Kỳ Điền từng nhận xét: ‘’lúc nào cũng muốn làm một cái gì’’. Và cái gì tôi muốn làm đó thường không phải là cái được đa số chọn làm. Có thể vì ngoài hai chữ y sĩ, tôi còn đeo thêm hai chữ nghệ sĩ, nhất là khi hai chữ sau nằm trong tim nhiều hơn ở trong đầu.
 
TTNM:  Chân thành cảm ơn anh Trang Châu đã dành cho Nguyệt Mai một cuộc trò chuyện thật thú vị. Kính chúc anh luôn được vui khỏe, an lành và có nhiều hứng thú để tiếp tục sáng tác.
 
TRANG CHÂU:  Cám ơn Nguyệt Mai đã thực hiện phỏng vấn.
 
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
Thực hiện 22/3/2026 – 11/4/2026

 

  

Thursday, May 28, 2026

MỘC MIÊN

Hoàng Xuân Sơn
 
Mộc miên hoa gạo đỏ
 
Từ bao giờ mộc miên thấm hơi đất
rồi nở thơm hương gạo diệu kỳ
những cánh hoa lay bay trong gió
tôi mang đi mang đi mang đi
 
Tôi mang đi hết cả điều bí mật
dấu đêm. vành trăng lưỡi liềm thoa son
hồn mảnh vút lời êm môi hồng duyệt
ghi khẽ qua tim một lối mòn
 
Rồi bay lên thảo nguyên màu gió
phiến tuổi tôi gõ dương cầm nâu
trên bản tình ca lang thang cuồng dại
hương vẫn mộc miên từ nốt lặng đầu
 
Là vết tích miệt mài khuôn ngực trắng
của đời ghi dấu một riêng ai
kiếm ấn trôi tôi vào chuôi hiệp sĩ
hiến tặng đêm xanh chuỗi mộng đầy
 
Trên rú rẫy guồng nước thinh không
đời nghiêm túc những cánh quạt gió
rải phúc âm từng ngón chiêm đòng
lúa trổ bông một tình yêu lạ
 
Cơn dông và lưỡi sét thất thần
lưới mưa đan những trái tim màu huyết
ví dụ thiên đường trôi về bến than
vẫn còn loài chim mang hình rẽ quạt
 
Thấy tôi quàng vai tôi thật chậm
thử nhìn nhau những kẻ không nhà
đi đi chúng ta đi về hướng mặt trời mọc
mộc miên thầm như một chiếc hoa
)(
H O À N G X U Â N S Ơ N
15.mai.23

  

Sunday, May 24, 2026

THOÁNG CHIM BAY

 Trần Thị Nguyệt Mai
 
* Tưởng nhớ hai năm ngày mất
của anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến.
 
Nhà văn Trần Hoài Thư ngồi khâu 
di sản văn chương Miền Nam

Anh chị Trần Hoài Thư – Nguyễn Ngọc Yến
 
       Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
       Anh yêu chị nhiều lắm. Những ngày chị nằm bệnh, anh chăm sóc, lắng lo. Không phải đôi ba ngày hay đôi ba tháng mà gần 12 năm. Từ một người chưa bao giờ phải nấu ăn, anh đã tìm tòi, học hỏi nấu thức ăn Việt dặm thêm gia vị tình yêu để mỗi ngày hai bận mang vào nursing home cho chị. Cứ như vậy trong suốt thời gian chị nằm bệnh cho đến thời đại dịch Covid-19 phải chịu cách ly... Chị không ăn được đồ Mỹ, cộng thêm có quá nhiều cư dân ở đó, y tá đâu thể đảm đương việc ăn uống cho từng bệnh nhân đầy đủ như anh lo cho chị trước đây. Dần dà chị mất khả năng nhai, nuốt. Nên từ đó chị phải sống nhờ G-tube đưa thức ăn vào thẳng bao tử và anh cũng “mất job” nấu ăn... Sau tang lễ vào đầu tháng 6/2024, chúng tôi cùng ghé đến thăm căn nhà của anh chị lần cuối. Có quý anh Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Nguyễn Đình Hiếu, quý anh chị Phạm Cao Hoàng – Cúc Hoa, Nguyễn Minh Nữu – Kim Mai, các con của nhà văn Doãn Dân và những thân hữu quý mến anh cùng gia đình các cháu Thoại, Hưng. Tôi thật cảm động khi bắt gặp cuốn sách dạy nấu ăn nằm chơ vơ trên chiếc bàn phụ nhỏ dưới tầng hầm, nơi chốn thân thương từng gắn bó mỗi ngày với anh. Từ đây, anh đã cho ra đời tạp chí văn học nghệ thuật Thư Quán Bản Thảo (TQBT) vào tháng 9/2001, hồi phục những tạp chí văn học Miền Nam qua dạng flipbooks phổ biến trên trang blog Trần Hoài Thư cũng như in ấn Di sản Văn chương Miền Nam với biết bao công lao khó nhọc của anh chị đi sưu tầm tài liệu từ thư viện các Đại học Cornell (Ithaca, New York) và Yale (New Haven, Connecticut) của Hoa Kỳ.
        “... 4 giờ sáng mồng 7 Tết Tân Mão, bắt đầu rời nhà. Rời nhà khi trời còn đen tối, khi tuyết bão, khi trời sương mù dày dặc. Khi chúng tôi đến Scranton, cách thư viện Cornell khoảng 50 dặm, vào lúc 8 giờ sáng thì đường đông đá. Chiếc xe đầu chạy chậm lại khiến tôi, quen như một phản xạ, cũng đạp thắng và đạp rất nhẹ. Vậy mà xe đã mất điều khiển trợt tự do. Hết trái, rồi qua phải, không thể kiềm chế nó nổi. Trong khi đó phía đường ngược chiều nằm phía bên trái, một chiếc xe truck chạy ngược lại. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt...”
[Rong bút – Trần Hoài Thư – tr. 5 (TQBT số 46 tháng 4/2011)].
      
       Kỷ niệm của những ngày phụ anh thực hiện những số TQBT lại hiện ra trong trí. Với sự tiến bộ của khoa học, email và máy tính đã giúp chúng tôi thực hiện những cuốn báo rất dễ dàng mà không cần phải cùng ngồi làm việc trong một tòa soạn nơi có những máy in to lớn cùng những người thợ sắp chữ. Tôi đọc bản thảo, đôi khi anh nhờ đánh máy bài vở trong những tài liệu văn chương mà lúc chưa bị bệnh, chị Yến đã cùng anh lái xe đến các thư viện để sưu tầm những di sản văn chương miền Nam. Nhắc lại thời kỳ này, anh luôn nói đến chị bằng giọng rất thương yêu, trìu mến: “Tội chị lắm em, chị giành lái xe vì mắt anh cận thị nặng không thấy rõ. Và chị hát suốt trên đường ru anh ngủ”. 
Nhớ em, bài hát đường về
Em ơi, tiếng hát bây giờ tìm đâu?
(Trần Hoài Thư – Tiếng Hát)
 
        Mỗi lần thực hiện xong một số báo, anh rất vui. Như niềm vui của người vừa gặt hái xong cánh đồng chữ nghĩa, bội thu những hạt vàng mẩy, chắc, lóng lánh. Hãy nghe tiếng reo vui của anh:
Con tôi đã thức dậy rồi
Đang thi nhau nhả những tờ giấy in
Đứa dưới hầm, đứa ở trên
Đứa chạy chậm, đứa “run” nhanh cấp kỳ
Đứa chớp đèn báo bị jammed
Đứa cho biết giấy đã vơi cạn rồi
Vậy mà vui quá là vui
Hình như xuân cũng về rồi, bạn ơi
Con tôi đã thức dậy rồi
Thư Quán Bản Thảo sắp ra đời, bà con!
(Trần Hoài Thư – Con tôi đã thức dậy rồi)
 
       Trong một trả lời phỏng vấn của nhà văn Trần Doãn Nho, anh THT giãi bày:
      “... nếu người đọc muốn biết về văn chương và tác giả trước 1975, thì sách báo đâu mà đọc? ... sau 1975, văn chương về người lính miền Nam đã bị tận diệt. Sách vở tạp chí bị đốt hủy thì lấy chứng cớ đâu để nói lên tính cách nhân bản của nền văn học thời chiến... Bộ máy nhà nước cũng như mấy ông nhà văn nhà thơ trong hàng ngũ thắng trận luôn luôn trắng trợn vu cáo văn chương chúng tôi là văn chương thực dân kiểu mới, là văn chương đồi trụy, nọc độc văn hóa, vân vân để những khối óc ngây thơ luôn luôn bị tiêm nhiễm. Tôi biết có người sẽ bảo chuyện cũ mấy mươi năm rồi vẫn còn nhắc lại, mất thì giờ. Nhưng sự thật ai trả lại cho chúng tôi đây, hở? Ai biện hộ giùm cho những lời vu cáo người lính thám báo được viết trong ‘Nỗi buồn chiến tranh’ của Bảo Ninh hay trong ‘Cõi người rung chuông tận thế’ của Hồ Anh Thái? Ai?
       Chẳng hạn đoạn sau đây của Hồ Anh Thái trong truyện ngắn vừa nói:
“Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”
       Vai trò thám báo là tuyệt đối giữ bí mật để làm nhiệm vụ săn tin hay chỉ điểm máy bay oanh tạc đơn vị địch. Họ bị đẩy vào những chỗ mà có lẽ mỗi lần ra đi là ít khi có ngày về. Bởi không ai có thể bảo vệ họ được trừ họ. Vậy mà ở đây, cảnh năm tên thám báo bắt một tù binh loại chính quy, nhởn nhơ với một bữa yến tiệc ăn tim gan và tinh hoàn người, giữa thanh thiên bạch nhật, đầy ổ kiến lửa (chúng tôi hay dùng cụm từ này để chỉ một mục tiêu khó nuốt, thường ám chỉ nơi có sự xuất hiện đơn vị chính quy Bắc Việt). Lại tỉnh bơ nổi lửa đốt cho khói bốc lên để ‘lạy ông tôi ở bụi này’! Biết viết văn là bịa, nhưng bịa vừa vừa thôi chứ, ông Hồ Anh Thái ơi. Và thiên chức nhà văn ở đâu? Bịa trắng trợn như thế ai mà tin được!”
       Tôi bỗng liên tưởng đến những giọt nước mắt chảy trên má của người tù binh nào đó của chiến trường Bình Định vào những năm cuối của thập niên 60, như qua bài thơ của Trang Châu sau đây:
 
Nước mắt kẻ thù
 
nó bị thương
bị bắt sống
mọi người đòi giết nó:
nó núp trong hầm
với một khẩu tiểu liên
cầm chân cả trung đội:
nó bắn ngã chúng tôi một người
bắn bị thương hai người khác
tôi đọc nét căm hờn
trên những khuôn mặt đồng đội
mọi người đòi giết nó
tên du kích vùng khốn nạn
gài lựu đạn lùm cây bờ ruộng
giết những người bắt cá mò tôm
 
nó nằm đó
mình bết bùn
máu cánh tay nhầy nhụa
tránh những tia nhìn nổ lửa
những báng súng gờm gờm
nó nằm chờ
một phát súng vào đầu
một lưỡi dao rạch bụng
một cái đạp xuống hố sâu
nó nằm chờ nằm chờ
tử thần
 
nhưng
chỉ có bàn tay vuốt dịu căm hờn
bàn tay băng bó vết thương
bàn tay vỗ về an ủi
nó nằm chờ tử thần
sững sờ bắt gặp tình thương
đồng loại
đôi mắt sát nhân vụt bỗng hiền từ
nhen hai dòng lệ nhỏ
 
trong cuộc chiến hôm nay
cho tôi xin chiến đấu không hận thù
xin những vết thương bình đẳng
cho tôi đổi một trăm chiến thắng
lấy một giọt nước mắt kẻ thù
 
Trang Châu (Bên bờ Kinh Sáng 17-2-67)
(trích trong Dấu vết chiến tranh)
 
       “Ôi cho tôi đổi một trăm chiến thắng lấy một giọt nước mắt kẻ thù! Còn gì là nhân bản hơn, còn gì tình người hơn. Không phải lời ước ao trên phát xuất từ một y sĩ tiền tuyến là Trang Châu, nhưng nó phát xuất từ trái tim của Miền Nam. Đó là bản chất của con người. Đó là cõi lòng thấm đầy Chúa và Phật. Không phải như từ trái tim đen từ những kẻ sống chỉ biết căm thù! Và căm thù mãi mãi!”
 
       Anh yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, yêu cái đẹp trong từng con chữ, từng lời văn, từng câu thơ. Và muốn chia sẻ những nét đẹp đó cho tất cả mọi người.
       Dưới đây là những dòng trích từ Thư Tòa Soạn của Giai Phẩm TQBT số 98, tháng 5/2022:
        “Truyện của Sơn Nam rất nhiều, đăng rải rác trên các nhật báo hay tuần báo thủ đô.
       Mặc dù có sự nỗ lực tìm tòi để cho ra đời ba tuyển tập truyện ngắn Sơn Nam, nhưng vẫn có một số nhiều truyện không tìm thấy trong các tuyển tập này.
       Nhận thấy nếu không sưu tập là cả một thiệt thòi rất lớn cho nền văn học nước nhà, nên chúng tôi cố gắng cho ra đời giai phẩm 98 Thư Quán Bản Thảo để đăng lại một số truyện quý hiếm của nhà văn Sơn Nam mà chúng tôi tìm thấy trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm...”
 
         Hay khi thực hiện xong Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023, chủ đề Mai Thảo – Hạt Vàng Đã Mất, sưu tập những bài tùy bút, tạp ghi, nhận định văn học của Nhà văn Mai Thảo xuất hiện trên tuần báo Khởi Hành, Nghệ Thuật, Vấn Đề, anh tâm sự:
Tôi đâu còn hơi còn sức như ngày nào
Khuân một ít đồ phải thở hào thở hển
Chân đi nay không còn vững
Ngón tay rã rời như không còn thuộc về ta!
Vậy mà điên rồ in sách báo tặng free
Muốn chia sẻ những niềm vui chữ nghĩa
Mới tháng trước vừa ra lò 32 bài văn Mai Thảo*
Thì giờ đây sắp Mai Thảo Hạt Vàng **
Tuổi già ai ai cũng muốn tẩy trần
Tôi lại đem nia đi đãi sàng tìm ra ngọc quý
Mang chiếc giỏ nặng ra ngoài bưu chính
Thấy ánh mắt cô quầy
lòng cũng đủ vui…
(Trần Hoài Thư – Khiêng Giỏ Sách Ra Bưu Điện)
      
       Tạp chí TQBT cũng là nơi anh Trần Hoài Thư lên tiếng bênh vực cho người đã khuất nhưng cô thế, để phục hồi danh dự cho tác giả. Như trường hợp dịch giả Phùng Thăng. Bà tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Là em ruột của cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh) - một danh ni uyên bác của Phật giáo Việt Nam. Phùng Thăng là giáo sư triết học, cùng với chị gái Phùng Khánh, là dịch giả của một số tác phẩm triết học, văn học và tâm linh nổi tiếng đương thời. Giáo sư Thái Kim Lan nhận định: “Quả thật tư tưởng và tác phẩm cũng như hành trạng của họ không những mang lại vẻ cẩm tú trên văn đàn miền Nam thời đó mà còn soi sáng trí tuệ và tâm thức của thế hệ đồng thời.” (Thái Kim Lan – Phùng Khánh và Phùng Thăng: Lộ trình suy tư triết học – phác họa hiện tượng luận tình yêu – TQBT số 71)
 
       “Chỉ khoảng một tháng sau khi Những Ruồi được phát hành thì bị Trần Thiện Đạo (TTĐ) dùng nguyệt san Văn để “phang” nặng nề qua bài viết “Tìm hiểu vở kịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre (nhân đọc bản dịch của Phùng Thăng)”. Bài đăng hai kỳ trên nguyệt san Văn tháng 11, tháng 12, dày tất cả khoảng 50 trang, khổ chữ nhỏ. Bài được người viết ghi là hoàn tất vào cuối tháng 9/1967.
       Đặc biệt, kỳ 2 ông dành trọn bài để phang Những Ruồi: Nào là “một cái kho chất chứa chật ních và đầy đủ hết mọi lỗi lầm trong phép dịch văn”, “bản dịch vừa phản vừa diệt”, “khinh thường độc giả và miệt thị giới phê bình tới độ ấy”, “dịch chữ không dịch tinh thần câu văn”, “cắt bỏ không dịch”, “cái giọng đặc Tây”, ngớ ngẩn”, chối tai”, “một thứ giấy khống chỉ…”, “cẩu thả”, “sai bét”, “ngờ vực cái vốn liếng Pháp ngữ”, “không giữ tánh cách Việt Nam”, “vô nghĩa”, “thiếu nghĩa”, “tối nghĩa”, “lòng thòng”, “dịch ẩu”, “dịch càn”, “sai cả mẹo luật tiếng Việt Nam”, “lối dịch đầu-gà-đít-vịt”, “Chưa lãnh hội thấu đáo mẹo luật Pháp”, v.v…. Ông xả tiểu liên, trung liên, AK, M16, B40. Ông tấn công đủ mặt, từ trang đầu đến trang cuối… Vây chặt, càng vây càng pháo…
       Có điều ngạc nhiên là chẳng thấy một nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ hay phê bình nào thời ấy động lòng trắc ẩn lên tiếng bênh vực Phùng Thăng!
(THT – Khi nghĩa tử không là nghĩa tận – TQBT số 71, tháng 8/2016)
 
       Thời trước không ai lên tiếng bênh vực dịch giả Phùng Thăng. Sau này mới có Nhị Linh dành những lời khen ngợi cho bà. Riêng anh THT đã trân trọng và hết lòng “theo dấu chân Phùng Thăng qua kinh nghiệm của một cựu trung đội trưởng thám kích: bằng sự thu nhặt tin tức, đúc kết, đánh giá” để “vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật”, để rồi ba số báo TQBT với chủ đề Phùng Thăng lần lượt ra đời:
       - TQBT số 59, tháng 3/2014 – Theo dấu Phùng Thăng
       - TQBT số 71, tháng 8/2016 – Chiều đầy bông Phùng Thăng
       - TQBT số 105, tháng 4/2023 – Phản phê bình Trần Thiện Đạo và Thụy Khuê về dịch phẩm Những Ruồi của Phùng Thăng của tác giả Chơn Hạnh Trần Xuân Kiêm
       Bên cạnh việc phát hành TQBT, Thư Ấn Quán cũng tái bản hai dịch phẩm của bà trong tủ sách Di sản Văn chương Miền Nam:
       - Những Ruồi (nguyên tác Les Mouches của Jean-Paul Sartre)
       - Kẻ Lạ ở Thiên Đường (nguyên tác Attente de Dieu của Simone Weil)
để độc giả thấy được một dịch giả Phùng Thăng rất tài hoa, không như lời mạt sát nặng nề của TTĐ.
 
       Đối với anh THT, tạp chí TQBT như một mái nhà để anh em bằng hữu họp mặt, đóng góp, chia sẻ văn chương. Anh không quản công in ấn, đóng gói gửi tặng bạn bè thân hữu. Ai muốn đóng góp tem thư hay tiền bạc phụ giấy mực in với anh cũng tốt, không có cũng chẳng sao. Tuy thế, lúc sinh thời, anh rất buồn mỗi khi tạp chí TQBT bị trả về vì không có người nhận mà anh hoàn toàn không biết lý do. Có thể vì họ đã đáp chuyến tàu hoàng hôn ở cuối cuộc đời, hoặc đã dọn nhà đi xa không lời thông báo... Một nỗi buồn khác là khi độc giả đã nhận được sách báo hay tài liệu anh gửi tặng nhưng rồi ít lâu sau lại phủ nhận và yêu cầu anh gửi lần nữa, khiến anh thật không hiểu... Anh cũng tâm sự, có khi bài viết gửi cho tạp chí TQBT, thay vì ca ngợi người Thầy đáng kính, tác giả lại có ý nâng mình lên, nên anh đã rất tiếc không thể đăng những bài như thế...
 
       Lễ Đại tường năm nay cũng là ngày cháu Thoại xả tang ba mẹ. Ngoài cha, vợ con là những người anh yêu thương, trân quý nhất. Có lần anh chia sẻ, “Chị Yến và Thoại là quà tặng văn chương cao quý mà cuộc đời mang đến cho anh, hơn cả giải thưởng Nobel về văn học”. Ở đầu tập thơ cuối cùng phát hành tháng 4/2024, anh ghi lời đề tặng: “Cho em và con – hai nguồn thơ vô tận, đồng thời cũng là chiếc phao giúp ta mưu sinh và thoát hiểm. Qua em, anh tập therapy về tình yêu. Qua con, với những viên thuốc mầu nhiệm.”   
       Tôi chợt nhớ những câu thơ của Hương Hải Thiền Sư:
“Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm”
        Anh chị đã đến với cuộc đời này và khi ra đi cũng không có ý để lại dấu như chim nhạn kia. Nhưng những công trình phục hồi văn chương Miền Nam của anh chị sẽ mãi còn đó, trên những kệ sách thật và ảo cũng như trong tâm biết bao người Việt yêu mến văn chương.
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
22-05-2026
 
* Ấn bản đặc biệt Tạp chí TQBT, tháng 5/2021:  Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối
** Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023:  Mai Thảo – Hạt vàng đã mất