Vũ
Hoàng Thư
tản mạn
Chim hồng hạc bay qua bầu
trời
“Như
chim hồng, chim hạc. Dù lưu lạc mười phương, chúng ta vẫn bay mãi trên vùng trời
quê hương. Đuôi xòe đóa sen, lưng chở núi, lòng ôm mặt trời, đôi mắt trừng trừng
nhìn hư không xanh, và đôi cánh lộng làm rơi rụng nghìn dặm cách chia.”
(Logo tạp chí Quê Mẹ, Paris)
Nếu có thể nào
thu tóm lại một đám mây, thứ hơi nước mang hâm hấp nhiệt độ, một ân tình của biển
bốc hơi nơi xa xăm? Tôi sẽ cất giữ lại dù biết rằng đó chỉ là ảo tưởng hư hao.
Mây sẽ trắng bay, điểm cho trời xanh bật dậy hẳn lên, hay mây sẽ vươn trong buổi
cuối chân ngày làm ráng cam óng đỏ. Mây cũng có thể cuồn cuộn đen màu ly biệt
ngậm ngùi. Mây rất có thể làm nhiều điều. Và mây sẽ bay mãi trong bầu trời lữ
thứ. Có một chốn về chăng? Không, đời vô định vì bản thể của mây vốn là hơi. Vì
thân thế ấy sẽ ngưng đọng thành mưa khi thời tiết, điều kiện cho phép. Còn nếu
không? Mây sẽ lang thang mãi không định hướng. Như một định mệnh.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những
vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu
và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen
nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái
gở xuống lòng vịnh.
Sau khi nghe tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng trên đài
phát thanh Saigon, đơn vị tôi rã ngũ, chưa biết phải đi đâu nhưng chắc phải ra
khơi, chẳng còn lựa chọn nào khác.
Thương thuyền Challenger neo ngoài xa trong vịnh Phú Quốc,
không hẹn mà như điểm đến. Suốt mấy đêm qua, tàu nhỏ đã di chuyển hàng ngàn người
ra tàu Challenger. Thì ra vậy, mọi sự việc đã được an bài, mọi kế hoạch đã được
tính toán. Những mắt xích của guồng máy sẽ được tháo gỡ và vứt bỏ khi chúng
không còn cần thiết nữa.
Những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ gác ở cầu thang
tàu Challenger chỉ cho đàn bà và con nít lên tàu, theo truyền thống lady first
của Mỹ. Ph. và gia đình đã được lên trước, tôi là người cuối cùng may mắn thoát
được lên tàu trong một khắc giây định mệnh.
Vừa bước lên boong tàu, tôi liền nghe tiếng khóc dội vang theo tiếng
sóng rầm rì đập vào mạn tàu. Thì ra tàu đã nhổ neo rời đi. Gia đình chia cắt,
người lên được, kẻ thân yêu còn kẹt lại bên dưới, khóc than khôn xiết. Khúc
phim của một quê hương đau khổ quay thật lẹ trong đầu, tôi đứng bất động nhìn
biển khơi giữa những người đang cùng chung số phận. Cuộc chiến chấm dứt đột ngột,
không hề có kẻ thắng người thua, nhân dân hai miền đất nước đều thua lỗ. Xa khuất
phía bờ, Việt Nam bây giờ là một dãi thẫm đen mờ cuối chân trời, xa dần, xa dần...
Đất nước tôi đang chìm vào màn đêm đen đặc. Không hiểu vì lý do nào, hay từ một
linh tính, tôi thầm vẫy tay chào. Chào gì nhỉ? Tôi không biết. Lòng tôi tắt tiếng,
hồn tôi bâng khuâng, cảm giác của sự mất mát tuôn trào không nói được. Chiếc
thương thuyền hướng mũi ra khơi càng lúc càng nhanh cho kịp vào vùng biển quốc
tế vì bấy giờ Việt Nam đã hoàn toàn nằm trong tay kiểm soát của Hà nội. Giữa tiếng
khóc bốn bề, nhớ mấy câu thơ bài Ai Sính của Khuất Nguyên khi ông nhìn dân gian
chạy loạn, lúc đất Sở mất về tay Tần, Miễu bất tri kỳ sở chích / Thuận phong
ba dĩ tòng lưu hề / Yên dương dương nhi vị khách. (Chẳng biết sẽ đặt chân
đâu / Theo sóng gió mà trôi nổi a / Biết lênh đênh về chốn nào. – Đào Duy Anh dịch).
Tình cảnh mấy ngàn năm trước sao vẫn giống như hôm nay!
Như thế, tôi
cùng với một số bạn bè Hải quân theo tàu Challenger làm chuyến hải hành cuối
cùng bất đắc dĩ.
Tàu chạy suốt đêm. Sáng hôm sau, tàu thả trôi ngoài khơi
Vũng Tàu để vớt thêm ghe của dân chúng từ bờ ào ạt tiến ra. Vang vang từ radio
của dân chúng mang theo trên tàu lời kêu gọi lính Ngụy ra đầu thú của đài phát
thanh Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Ngoài kia biển Vũng Tàu lấm chấm đen hàng vạn
con thuyền nhỏ bé bấp bênh trôi. Như những chiếc lá rụng mùa thu dù bấy giờ chỉ
mới mùa xuân. Câu hát thuở ấu thời không dưng hiện về, đời như chiếc thuyền
nan,Tính tính tính tình tang tang tang / Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan
/ Trôi nó trôi bềnh bồng... Bây giờ trăm nghìn bá tánh bềnh bồng số phận
sau cuộc đổi dời. Rồi cũng sẽ đến Tokyo, Chicago, Karachi, Mexico, và nhiều nơi
khác nữa trên khắp châu lục nhưng nào phải là những cuộc du hí vui tươi như lời
bài hát “Chiếc thuyền nan”.
Những chiếc thuyền nhỏ bé như thế tiếp tục ra khơi trong
hơn 20 năm sau 1975. Sóng gió, bão tố, hải tặc chờ đợi người vượt biển. “Thuyền
nhân”, dịch từ tiếng Anh “Boat People”, thành danh từ thông dụng đầu môi của cộng
đồng hải ngoại sau 1975 và thập niên 80, 90 để gọi những người bỏ nước tìm tự
do. Ở trong nước, chính quyền gọi họ là những kẻ “vượt biên” với chủ ý ám chỉ một
việc làm phi pháp. Nhưng có bao giờ Nhà Nước tự hỏi vì sao người dân bỏ nước ra
đi?
Danh từ thuyền nhân nói lên sự quyết chí trong vô vọng vì
lý tưởng sống cho xứng đáng nhân phẩm của con người. Thuyền Nhân là Kẻ Vượt
Thoát, quyết định nắm lấy sinh mệnh của chính mình để thách thức quyền lực nhân
danh Giải Phóng. Họ là những cử tri tuyệt vời nhất, sử dụng lá phiếu bằng chính
đôi chân của mình, một lựa chọn nhân bản đẹp nhất trên cuộc đời để đối đầu với
bạo tàn, với bóc lột vô nhân đang xảy ra trên quê hương. Dẫu rằng mỗi chuyến ra
đi đều có thể là một hành trình đưa đến tử biệt, Thuyền trôi xa về đâu ai biết
/ Thuyền có về ghé bến tự do? Bài “Lời Kinh Đêm” của Việt Dzũng hát ở thời
đại oan khiên ấy nói hết thân phần của người vượt biển, Thuyền Nhân. Không chỉ
biển vô tình, nhân loại làm ngơ, chính sách hà khắc của Nhà Nước trên quê hương
đã xua đuổi nhân dân ra biển lớn.
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh.
Biển
ngây ngô hay biển man rợ
Biển
có buồn hay biển chỉ làm ngơ.
(Lời
kinh đêm – nhạc Việt Dzũng)
Và
tôi bắt đầu cuộc đời tỵ nạn tại trại Orote Point nơi Guam mù mờ ốc đảo, có nắng
dài ngày, có đêm thức rỗng, chờ đợi những mịt mù ngày tới. Tôi rướm lệ khi tình
nguyện viên tập cho chúng tôi hát bài “This land is your land” ở trại tỵ nạn.
Có thật vậy, chúng ta đã mất quê hương?
Những
năm lưu xứ tiếp tục trôi qua, chuyện cơm áo, gia đình, như bất cứ người tỵ nạn
nào, trở thành chuyện bình thường của đời sống.
Tôi đã trở về Việt Nam lần đầu sau 32 năm
xa xứ. Nhớ nước đưa chân tôi về. Không gì khác. Buổi sáng đầu tiên hít thở
không khí quê nhà, tôi đã ghi lại như thế này trong tập Bắt Nắng:
“Nắng đầy lên lòng mắt. Nắng vỡ xuống rừng
tùng. Ve râm ran dài suốt một vùng đồi. Tiếng hát diệu kỳ lâu lắm chưa được
nghe, người hẫng trong dãy phượng đỏ chói chan những ngày mới lớn. Thơ ấu đi và
thơ ấu trở về giữa không gian quê nhà. Khoảng đời ở giữa là nỗi trống lưu vong.
Những chuyến về Đông phương nói theo anh Thi Vũ là những lần “recharge our
batteries”. Những thỏi pin cạn dần chất điện, hao hớt nguồn năng nơi những vật
lộn xứ người. Người khô héo miền đất khách như cây quít Hương Cần đem trồng nơi
xứ tuyết. Cho đến sáng hôm nay tôi được tắm lại khung trời của nắng, gió và hơi
hám người phương đông. Bây giờ hương quê là hít thở thật gần, trầm trầm khí quản.
Mọi lời nói ngưng và không cần thiết khi buồng phổi căng gió, những cơn nồm của
biển xa một thời và ngọn gió bấc mùa tháng chạp thuở trước quay về làm nổi ụ
làn da vừa se lên trong cơn nắng.”
(32
năm nhìn lại, Bắt Nắng, Vũ Hoàng Thư)
Trở lại Nhatrang, mái nhà xưa đã
không còn, biết bao kỷ niệm từ nơi ấy một thuở thiếu thời. Tất cả đã đổi thay,
cảnh vật cũng như lòng người. Tôi đâm thấy mình xa lạ ngay trên quê hương. Những
háo hức nay thành hụt hẫng. Ngậm ngùi với ý nghĩa của hai chữ lưu vong. Khi cất
bước ra đi như thân cây chỉ còn núm rễ đứt, èo uột những rễ con còn lại bám vào
đất mới, thế rồi một ngày tôi nhận ra mình chẳng thuộc về đâu, bên đó hay bên
này... Lại bước đi, có lẽ.
đêm
cuối ở nhatrang
hàng
phi lao còn sót lại
vi
vút gào ký ức
gởi
lại em một mùa xanh
khi
tóc cùng màu như liễu
tôi
sẽ đi như 32 năm trước
tôi
sẽ đi vội vã
như một lần
có
thật đã 32 năm?
(Đêm
cuối ở Nhatrang – Vũ Hoàng Thư)
oOo
Năm 1975 đối với người Việt là một năm tràn
đầy biến động, đổi dời định mệnh, trên phương diện cá nhân cũng như của nước
nhà. Nói như ông thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt, có một triệu người vui thì
cũng có một triệu người buồn. Ông chỉ nói đúng một phần nhỏ, thực sự có hơn ba
triệu người “di tản” buồn bên ngoài và hàng chục triệu người không-di-tản buồn
bên trong.
Danh
từ “di tản” thường được dùng trong thuật ngữ quân đội. “Di tản chiến thuật” để
nói đến việc di dời đội quân tạm thời cho một chiến thuật nhất định nào đó
trong tương lai gần. Có thể nói di tản là triệt thoái để chỉnh đốn cho nhu cầu
mới. Thời chống Pháp ta có tản cư để tránh giặc và hồi cư là trở về lại nguyên
quán. Khi di tản không còn là tạm thời, hồi cư là vô vọng, tương lai đầy chông
gai trước mặt nơi xứ lạ quê người, người Việt lưu vong buồn trong chờ đợi. Họ
trở thành “người di tản buồn” khi “chiều rơi nhanh và đêm xuống rất mau”. Họ
nhìn qua phía bên kia chân trời, giọng nhừa nhựa Khánh Ly như châm chích thêm
niềm đau, “nhìn xa xăm về quê hương rất xa”. Bài hát “Người di tản buồn” của
Nam Lộc càng lúc nghe càng thấm thía.
Những
năm sau, trong cái buồn chung lưu xứ, bắt đầu hé ra đôi tia sáng, hy vọng. Tin
kháng chiến dậy lên hừng hực lòng người hải ngoại. Mọi con tim trông chờ để rồi
cuối cùng tắt ngúm trong tuyệt vọng của mọi người. Mặt khác, điểm nổi bật là
báo chí truyền thông Việt bắt đầu ra đời làm việc kết nối đồng bào tỵ nạn năm
châu. Những tờ tiên phong lúc ban đầu có Quê Mẹ ở Pháp, Hồn Việt, Văn Nghệ Tiền
Phong ở Mỹ, v..v...
Tạp
chí Quê Mẹ - Paris khởi xướng chiến dịch “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” đến biển
Đông cứu vớt người vượt biển bằng con tàu Île de Lumière (Đảo Ánh Sáng). Chiến
dịch này đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của hơn 160 nhân vật nổi tiếng trên thế giới
bao gồm các nhà văn, nhà báo, công đoàn và chính giới đủ mọi khuynh hướng. Ngoạn
mục nhất, những trí thức thân tả của Pháp trước đây như Jean Paul Sartre,
Raymond Aron vẫn thường đứng về phía cọng sản nay xoay qua ủng hộ cho người vượt
biển Việt Nam. Ngoài ra Quê Mẹ còn chủ xướng phong trào “Chuyển lửa về Việt
Nam” bằng cách gửi bài vở, tin tức, truyền đơn, báo chí hải ngoại về trong nước.
Chủ đích là phá vỡ bức trường thành che đậy ngu dân từ nhà nước, và khai sáng,
chiêu hồi cán bộ cọng sản, giúp họ bỏ chất cọng để trở lại bản thể Việt của người
Việt, không còn là Việt cọng u muội nữa. Được như vậy, “chuyển lửa về Việt Nam”
sẽ tạo nên một phong trào quốc kháng mạnh mẽ trong nước. Quốc kháng là gì? Nhà
tranh đấu nhân quyền Thi Vũ – Võ Văn Ái chủ nhiệm báo Quê Mẹ giải thích:
“Toàn
dân đã hận là hận sự dại khờ phá phách, hận sự phung phí di sản của tiền nhân,
hận sự giam người không xét xử, đày người không lý do, giết người không gớm
tay. Cho nên bung thức đầu tiên là niềm Quốc hận, mà kỳ thực chứa ngầm một ý thức
Quốc Kháng.
Vì
sao quốc kháng? Ý thức quốc kháng là gì?
Quốc
kháng là sự đối kháng của toàn dân. Tính chất tiêu cực của đối kháng là quốc hận
và tính chất tích cực của quốc hận là quốc kháng.” (30-4-1978)
Dần
dà văn nghệ sĩ hải ngoại kết hợp làm báo văn học, đáng kể phải nói đến tạp chí
Văn Học Nghệ Thuật, Văn, Văn Học, Khởi Hành, Làng Văn, v..v... Cho đến khi kỹ
thuật liên mạng phát triển, nhiều trang mạng văn học của người Việt xuất hiện
làm đầu cầu cho việc sáng tác, nghiên cứu văn chương Việt đi thẳng đến đại
chúng nhiều hơn, nhanh hơn báo giấy. Đầu tiên là trang Văn Học Nghệ Thuật Liên
Mạng của Phạm Chi Lan, Gio-O của Lê Thị Huệ, Talawas của Phạm Thị Hoài. Không hẹn
mà giới nữ lưu đứng đầu tiên phong trong việc sử dụng internet để giao lưu văn
học cùng đại chúng. Sau đó rất nhiều trang mạng, blog của người Việt mọc lên khắp
nơi trên thế giới.
Sự
ra đời của báo giấy, báo liên mạng văn học của người Việt hải ngoại đã thiết lập
lại nền văn học nhân bản có từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Một cộng đồng văn chương
Việt ở ngoài nước, nuôi dưỡng và làm sáng, làm đẹp ngôn ngữ Việt. Văn học Việt
hải ngoại có phải là cánh tay nối dài của văn học Miền Nam trước 1975 hay không
đó là một câu hỏi đáng được bàn luận. Tuy nhiên hít thở trong không khí tự do
và vun xới tinh thần độc lập từ những giá trị căn bản con người ở các nước dân
chủ tự do, giới sáng tác người Việt hải ngoại đã tạo cho mình một chỗ đứng rất
riêng biệt trong văn học Việt Nam. Họ đã tạo nên một thành trì đối kháng với nền
văn hóa chỉ đạo marxist, văn công, ca ngợi chế độ vẫn còn duy trì ở trong nước.
Đó là mốc son của giới cầm bút ở bên ngoài. Hà nội đã lo sợ và không ngừng đã
phá cũng như xâm nhập chia rẽ hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại. Không thể không
nhắc đến nhà văn Trần Hoài Thư một mình một ngựa, gìn vàng giữ ngọc bằng cách
sưu tầm và phổ biến lại tài liệu, văn thơ của văn học Việt Nam Cộng Hòa trước
1975. Hà nội chẳng thể tiêu diệt được nền văn học đó với chính sách đốt sách vở,
học đòi chiêu thức phần thư khanh nho từ thời Tần Thủy Hoàng, từ đám vệ binh đỏ
Maoism sau khi “giải phóng” miền Nam. Nền văn học đó vẫn hiên ngang tồn tại ở hải
ngoại.
oOo
50 mươi năm sau, đủ dài cho hai, ba thế hệ nối
tiếp. Một bên trong, một bên ngoài. Ác mộng chiến tranh hầu như chỉ còn sót lại
trong tâm tưởng của một thiểu số người Việt. Tất cả như nguội dần trong quên
lãng. Tuy nhiên Cờ vàng vẫn tung bay mỗi lần lễ lạy, tưởng niệm, sinh hoạt cộng
đồng và đã trở thành nghi thức. Đó là ID, là căn cước xác định một tập thể người
Việt hải ngoại, độc lập với đảng cầm quyền trong nước. Một cộng đồng hải ngoại
nhà nước không lay chuyển được nhưng vẫn được mời gọi đóng góp những khi cần.
Hà nội vẫn tiếp tục chiến dịch mưa dầm thấm đất cho đến khi địch thủ ngã xuống
trong mòn rữa. Vì vậy người cầm bút hải ngoại đừng quên ghi nhớ và nhắc lại thời
kỳ đen tối ở quê nhà, chẳng phải vì muốn đào xới thêm lên thù hận cũ, nhưng để
lịch sử sẽ không tái diễn trong tương lai. Gần nửa thế kỷ trước nhà thơ Cao Tần
tự hỏi cho mình mà cũng chính cho hết chúng ta, Ta làm gì cho hết nửa đời sau?
Cao Tần đã phó thác hết cho cơn mộng, một cơn mộng dữ đồng bào anh em phải gánh
chịu bên ngoài cũng như bên trong quê hương,
Hãy
đem hết những đổi đời tan tác
Gói
giùm vào cơn mộng dữ đêm qua
(Cao
Tần)
Nhà
thơ Cung Trầm Tưởng trong bài “Ainsi Parlait Le Poète” đã cảnh báo về chế độ tù
đày cải tạo khắc nghiệt của chế độ cọng sản như thế này: "Thế kỷ hung
man này có những vết chàm riêng của nó. So với đồng nghiệp xa xưa, tên cai tù
hiện đại tinh vi hơn, kiến hiệu hơn, tỉnh táo hơn, giỏi hơn trong cái ngón nghề
hành hạ và làm khổ tha nhân.”
Chiều
nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm... Lời ca Tuấn Khanh nhắc lại một ngày xanh tươi
mát mẻ trong quá khứ. Có yên tĩnh quê nhà, có nắng hanh ngủ ngày dưới giàn hoa
thiên lý. Hoa thiên lý có màu vàng, thơm ngát, tên thiên lý gọi kêu vạn dặm
muôn trùng xa. Dù có xa bao xa, ta vẫn nhận ra người. Những cái xa còn lay lắt
khôn nguôi. Vươn tay ra tìm dù không nắm được cái đã mất, nhưng cái mất vẫn nằm
mãi ngay trong hồn.
“Người
di tản buồn” có còn buồn sau 50 năm? Có lẽ... cho đến cuối đời. Một điệu buồn
man mác như sợi khói bay lên từ mái rạ cuối chiều ở một nơi xa xăm ngút ngàn ký
ức.
VŨ
HOÀNG THƯ
Năm
thứ 50 lưu xứ
(trích
Tự do cùng ngôn ngữ, 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại, Gió-O sắp xuất bản)





