Wednesday, March 11, 2026

NHỚ VỀ IRAN: MỘT THỜI TỪ BI, THƠ MỘNG

Nguyên Giác Phan Tấn Hải
 
Phù điêu chạm khắc trên tường các công trình cổ của Persepolis,
thủ đô Ba Tư cổ đại thuộc đế quốc Achaemenid (ngày nay là Iran). Phoo: iStockphoto.
 
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt --  để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Một thời xa xưa, thời trước khi Hồi giáo tới Iran, Phật giáo đã truyền sang Iran và nhiều quốc gia lân bang, làm người dân sống rất mực từ bi và thơ mộng, nơi họ kể cho nhau nghe các truyện Bản Sanh trong Tiểu Bộ Kinh của nhà Phật, nơi những người đạo đức có thể nghe được các con voi, nai, chim và các thú rừng nói chuyện với nhau. Nhiều thế kỷ sau, một số truyện này ghi dấu trong kho truyện cổ tích Ba Tư, rải rác trong Ngàn Lẻ Một Đêm, bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Điểm chung của các lần xuất bản bộ truyện là truyện nền ban đầu kể về vị vua Shahryār và vợ của vua là nàng Scheherazade. Truyện nền đã giúp kết hợp chặt chẽ xuyên suốt cho chính các truyện kể khác. Nếu bạn đã từng đọc truyện Bản Sanh của Phật giáo trong Tiểu Bộ Kinh, bạn sẽ kinh ngạc thấy nhiều yếu tố rất gần nhau, khi đối chiếu vài truyện với nhau.
Kho tàng truyện cổ Ngàn Lẻ Một Đêm được kết nối xoay quanh một sợi chỉ xuyên suốt, theo Wikipedia: Xưa kia ở miền Đông Ả-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư tên là Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc.  Ban đầu, ông vốn là một vị hoàng đế anh minh, hiền hậu nhưng do hoàng hậu và phi tần ngoại tình nên vua đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ, cứ mỗi ngày vua cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết. Nhằm thoát khỏi thảm kịch, các gia đình có con gái lần lượt bỏ xứ di cư. Thấy đất nước lâm nguy, cô Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình nói như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con, ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe tiếp “hồi sau thì sẽ rõ”, không thể ra lệnh xử tử nàng.
 

Ngàn Lẻ Một Đêm, tranh của họa sĩ Sani‛ Ol-Molk (1814-66).
Photo: Boston University Libraries.
 
Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như dân thường, người thương buôn, kẻ ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua từ bi trở lại, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến vua đã quên tâm sát nhân. Cảm phục từ các truyện kể rất nhân đạo và và rồi chân thực yêu thương nàng Sheherazade, vua đã bỏ lệnh bắt thiếu nữ làm sủng phi một đêm để giết một cách tàn nhẫn và lập nàng làm hoàng hậu bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu, rồi họ có với nhau ba người con trai.
Bạn thấy gì? Tất cả các hình ảnh đó đều có trong Truyện Bản Sanh. Khi vua độc ác, nghe lời khuyên từ các ẩn sĩ, từ các tể tướng, từ các chàng trai và thiếu nữ thông tuệ, rồi trở thành từ bi... Kinh Bản Sanh (Jataka) của Phật Giáo thường bắt đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa, tại Benares...” Trong khi đó, truyện Ngàn Lẻ Một Đêm thường bắt đầu bằng “Người ta kể rằng, ở một vùng núi xa xôi...”
Về xây dựng nhân vật cũng có yếu tố tương tự. Truyện Bản Sanh thường có các con vật là tiền thân Đức Phật hay các bậc thánh tăng, và nói ra ngôn ngữ rất đạo đức. Ngàn Lẻ Một Đêm cũng có nhiều thú vật biết nói, thường trích dẫn triết lý và thơ ca. Các đoạn kết thì y hệt nhau, nhưng dị biệt là: Truyện Bản Sanh rút ra bài học về luân hồi hoặc đức hạnh. Còn Ngàn Lẻ Một Đêm đưa ra bài học về sự khôn ngoan và sự quan phòng của Thượng đế (đã được Hồi giáo hóa). Nếu chúng ta thay chữ Thượng Đế bằng chữ Nguyên Lý Tối Cao, Luật Nhân Quả, Pháp Duyên Khởi... thì dị biệt không nhiều. Nếu chuyển hóa từ ngôn ngữ "Đức Phật trong tiền kiếp" thành "Vị ẩn sĩ Hồi giáo" thì sẽ là những tương tự tuyệt vời.
Như truyện The Tale of King Jali'ad of Hind and his Vizier Shimas (Truyện về vua Jali'ad của xứ Hind [Ấn Độ] và tể tướng Shimas) trong Ngàn Lẻ Một Đêm, kể về Vua Jali’ad, người cai trị Ấn Độ (Hind), và vị tể tướng thông thái Shimas. Truyện cấu trúc như một chuỗi truyện ngụ ngôn được các nhân vật sử dụng để đưa ra lời khuyên về đạo đức và chính trị. Thường bắt đầu với việc Vua Jali’ad có một giấc mơ kinh hoàng (chẳng hạn như đổ nước lên cây và thấy chúng bốc cháy), và vua yêu cầu tể tướng Shimas giải thích giấc mơ đó.
Vua Jali'ad là một vị vua nhân từ nhưng ban đầu chưa có con nối dõi. Sau khi cầu nguyện và có được hoàng tử Wird Khan, vua đã nhờ tể tướng Shimas dạy dỗ con mình. Phần lớn truyện là các bài giảng của Shimas dành cho nhà vua và hoàng tử thông qua các câu chuyện ngụ ngôn về loài vật và thiên nhiên để dạy về cách kiềm chế dục vọng, lòng từ bi, và sự nguy hiểm của tâm tham và sân. Khi Hoàng tử Wird Khan lên ngôi vua, Shimas tiếp tục sử dụng truyện ngụ ngôn để hướng dẫn tân vương trở thành một người cai trị công bằng. Các lời răn dạy của Shimas về việc một vị vua phải nhiếp phục bản thân trước khi nhiếp phục thiên hạ rất gần gũi với Phật giáo.
Trong truyện trên, một phần y hệt như đời Đức Phật, khi so sánh các tình tiết chính giữa nhân vật Hoàng tử Wird Khan (trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm) và Thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật). Sử Phật giáo ghi rằng Vua Tịnh Phạn hiếm muộn, cầu nguyện và nằm mơ mới có con là ngài Tất Đạt Đa. Trong khi đó, truyện Iran kể rằng Vua Jali'ad già yếu, không có con, sau khi cầu nguyện khẩn thiết mới sinh được Wird Khan.
Đối chiếu về lời các tiên tri nhìn về tương lai cũng tương tự. Phật sử kể rằng các đạo sĩ tiên tri Thái tử Tất Đạt Đa sẽ là bậc Chuyển luân Thánh vương hoặc sẽ là Pháp Vương nếu xuất gia. Trong truyện cổ Iran, các chiêm tinh gia tiên đoán hoàng tử Khan sẽ có trí tuệ siêu phàm và thay đổi vận mệnh vương quốc. Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa học thông thạo các môn nghệ thuật và võ thuật từ nhỏ. Truyện cổ Iran này kể tương tự: Hoàng tử Wird Khan được tể tướng Shimas dạy dỗ về triết học và đạo đức từ năm 5 tuổi, bộc lộ trí tuệ vượt bậc.
Ý thức về khổ và vô thường: Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa đi dạo 4 cửa thành, thấy hình ảnh Sinh-Lão-Bệnh-Tử và quyết định từ bỏ ngai vàng. Trong truyện cổ Iran, sau cái chết của vua cha, Wird Khan đối mặt với sự vô thường của quyền lực và những bài học về khổ đau. Dĩ nhiên là có dị biệt: được kể lại trong môi trường Hồi giáo, kết thúc của Wird Khan là thiên về việc trở thành một "Vị vua hiền triết".  Tuy nhiên, các bài học ngụ ngôn về con báo, con cá, và con chim trong truyện chính là những bản sao của các truyện Jataka (Bản Sanh) mà Đức Phật dùng để dạy về Nghiệp và Giải thoát.
Sự tương đồng không phải ngẫu nhiên. Một số nhà nghiên cứu (như chuyên gia văn học dân gian Joseph Campbell) khẳng định rằng: Tiền thân của Ngàn Lẻ Một Đêm là tập truyện Ba Tư Hezar Afsan, vốn được dịch và phóng tác từ các nguồn văn học Ấn Độ (từ ngôn ngữ Sanskrit). Khi Phật giáo lan tỏa sang Trung Á, các truyện Bản Sanh, thường dùng thế giới loài vật để dạy đạo, đã hòa nhập vào dòng chảy văn học dân gian của người Ba Tư và Arab, sau đó được "Hồi giáo hóa" nhưng vẫn giữ cốt lõi triết lý.
Trong bộ Ngàn Lẻ Một Đêm, có truyện "Vị Ẩn sĩ và Những Con Thú" (The Hermit and the Animals). Một vị ẩn sĩ sống trong núi, thực hành khổ hạnh và từ bi. Vị này cứu một con chim bị thương, chia sẻ thức ăn cho những con thú hoang. Khi một thợ săn đến, các con vật đã hợp sức để bảo vệ vị ẩn sĩ và lừa người thợ săn rời đi (trong truyện Bản Sanh, người thợ săn thường là tiền thân của Đề Bà Đạt Đa, tượng trưng cho ác tâm). Truyện này nêu lên Tâm Từ là dấu ấn Phật giáo: Nhân vật chính không chỉ là một ẩn sĩ từ bi, đạo đức mà còn là người bảo hộ muôn loài, phản chiếu hình ảnh Bồ Tát trong tiền kiếp. Truyện cũng nêu lên nghiệp báo (Karma): Kẻ ác (người thợ săn) bị trừng phạt bởi chính lòng tham của mình, trong khi lòng tốt của vị ẩn sĩ tạo ra một "mạng lưới bảo vệ" từ những sinh linh nhỏ bé nhất. Truyện vị ẩn sĩ bị người thợ săn khởi tâm hại tương tự trong Kinh Tiểu Bộ Phật Giáo, truyện Bản Sanh 206 Kurunga-Miga Jātaka, nơi các con vật trong rừng yêu thương nhau, cứu nhau tránh bị tiền thân Đề Bà Đạt Đa làm hại.
Bây giờ nói về sử: một nhân vật trong Hồi Giáo Sufi của thời Iran cổ đại cho chúng ta thấy một ảnh hưởng rất kinh ngạc từ Phật giáo sơ kỳ. Đó là Ibrahim ibn Adham (mất khoảng năm 777-782 Tây lịch), người được coi là một vị thánh vĩ đại của dòng Hồi giáo Sufi, và cuộc đời của ông thường được gọi là "Bản sao của Đức Phật trong thế giới Hồi giáo."
Ibrahim ibn Adham sinh ra tại Balkh (thuộc vùng Khorasan, nay là Afghanistan). Vào thế kỷ thứ 8, Balkh là một trung tâm văn hóa lớn của Iran cổ đại. Quan trọng hơn, trước khi Hồi giáo đến, Balkh chính là "trái tim" của Phật giáo tại Trung Á với tu viện nổi tiếng Nava Vihara (Nowbahar). Lịch sử Iran kể rằng ngài là vua của vương quốc Balkh, sống trong nhung lụa, cung vàng điện ngọc. Một ngày nọ, khi đang đi săn hoặc đang ngủ trong cung điện, ngài nghe thấy những lời cảnh tỉnh tâm linh về sự vô nghĩa của quyền lực thế gian. Vua nghe thấy tiếng động trên mái cung điện và gặp một người đàn ông đang tìm lạc đà. Khi vua hỏi "Sao lại tìm lạc đà trên mái nhà?", người đó đáp: "Vậy thì, làm sao nhà vua tìm được Thượng đế trên ngai vàng?". Vua ngay lập tức từ bỏ ngai vàng, rời bỏ gia đình, sống cuộc đời của một tu sĩ nghèo khổ, đi bộ đến Mecca (thánh địa Hồi giáo) và dành phần đời còn lại để tu hành, lao động chân tay và thuyết pháp.
Các nhà nghiên cứu phương Tây như Ignác Goldziher và R.A. Nicholson đã chỉ ra rằng tiểu sử của Ibrahim ibn Adham gần như là một sự "phóng tác" trực tiếp từ cuộc đời Đức Phật. Ibrahim trở thành một người khổ hạnh, thực hành sự nghèo khó tự nguyện, diệt trừ ham muốn (Ái dục), từ bỏ cái tôi và của cải để đạt đến sự hợp nhất với Thượng đế [theo Hồi giáo Sufi]. Điểm khác nổi bật: Đức Phật không công nhận có Thượng Đế, ngài tự tìm ra Trung đạo và đạt Giác ngộ.
Tại sao lại có sự giống nhau này? Vùng đất Balkh là nơi giao thoa của con đường Tơ Lụa. Khi người Iran cổ đại ở vùng này chuyển sang Hồi giáo, họ không xóa bỏ hoàn toàn ký ức văn hóa cũ. Các truyện về "Vị hoàng tử từ bỏ ngai vàng" (Đức Phật) đã ăn sâu vào tâm thức dân gian vùng Khorasan. Khi họ viết về các thánh nhân Hồi giáo, họ đã vô tình (hoặc hữu ý) sử dụng "khuôn mẫu" của Đức Phật để mô tả sự thánh thiện của Ibrahim ibn Adham. Điều này giúp người dân địa phương dễ dàng tiếp nhận đức tin mới thông qua những hình ảnh quen thuộc.
 

Nhà thơ Rumi (1207-1273) trong tranh của Sufism.
Photo: Wikipedia.
 
Trường hợp nhà thơ Rumi cũng là một đối chiếu văn học đầy kinh ngạc. Một nhà thơ Hồi giáo Sufi của Iran cổ đại, nhưng hiện thân như một cư sĩ Phật tử tuyệt vời. Rumi (1207–1273) không chỉ là một nhà thơ; ông là biểu tượng của sự hợp nhất tâm linh giữa Đông và Tây. Trong bối cảnh lịch sử Iran và Trung Á, Rumi là đứa con của một vùng đất mà Phật giáo và Hồi giáo từng chung sống và thẩm thấu lẫn nhau suốt nhiều thế kỷ. Tên đầy đủ là Mawlānā Jalāl-ad-Dīn Muhammad Rūmī, nhưng văn học gọi tắt ngài là Rumi.
Rumi sinh ra tại Balkh (thuộc Afghanistan/Iran cổ đại). Balkh từng là trung tâm Phật giáo rực rỡ với tu viện Nava Vihara. Do cuộc xâm lược của quân Mông cổ, gia đình nhà thơ di cư sang Konya (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), khi đó thuộc đế quốc Seljuk của người Ba Tư. Rumi viết chủ yếu bằng tiếng Ba Tư (Persian/Farsi). Di sản của nhà thơ là đỉnh cao của văn học Iran cổ đại, cho dù ông sống phần lớn đời mình ở vùng đất của người Thổ Nhĩ Kỳ.
Dù Rumi là một giáo sĩ Hồi giáo hệ phái Sufism, các học giả nhận thấy những dấu ấn sâu sắc của tư tưởng Phật Giáo trong thơ ông. Từ bỏ "cái tôi" trong thơ Rumi là khái niệm Hồi giáo Sufism, diệt trừ tự ngã (Fana): tan biến cái tôi cá nhân vào Nguyên lý Tối cao, sự dập tắt ngọn lửa tham ái và bản ngã.
Thơ Rumi thường trực nói về cách sống Chánh niệm và ý thức về cái Hiện tiền. Rumi luôn nhắc nhở về việc thoát khỏi quá khứ và tương lai để sống trong "Cái bây giờ", lời dạy của Đức Phật và thường được nhắc tới trong tư tưởng Thiền Tông Việt Nam. Thơ Rumi cũng đề cao tình yêu vô điều kiện, một hiển lộ của Tâm Từ Bi. Dưới đây là hai bài thơ nổi tiếng nhất của Rumi thể hiện sự buông bỏ tự ngã và sống trong nhận thức về Tánh không.
Bài thơ Rumi đầu tiên dẫn dưới đây có tựa đề "The Guest House" (Ngôi nhà khách) nghe y hệt lời dạy thiền. Bài thơ nói về Chánh niệm (Mindfulness), đón nhận mọi cảm thọ (vui, buồn, thiện, ác, đau, khổ) như những vị khách đi ngang qua tâm mình. Nơi đây, chúng ta trích dịch theo bản Anh văn của Coleman Barks.
 
Ngôi nhà khách

Thân tâm này như một nhà trọ.
Mỗi buổi sáng lại có một vị khách mới.
Một niệm vui, một niệm lo, một niệm dữ
một tỉnh thức thoáng qua đến
như vị khách không mời mà đến.
Hãy chào đón và tiếp nhận tất cả!
Ngay cả khi đó là một đám đông niệm buồn,
những niệm hung bạo quét sạch nhà của bạn
dọn trống trơn các đồ đạc trong nhà
vẫn hãy trân trọng đối xử với mỗi vị khách
Có thể niệm đó đang dọn [thân tâm] bạn cho trống chỗ
cho một niềm vui mới.
Những niệm đen tối, xấu hổ, độc ác,
hãy đón các niệm ở cửa với nụ cười,
và mời chúng vào.
Hãy biết ơn bất cứ ai đến,
vì mỗi người đều được gửi đến
như một người dẫn đường từ bờ bên kia.
 
Tương tự, bài thơ tựa đề "Only Breath" (Chỉ là hơi thở), thể hiện tư tưởng Vô ngã (Anatta). Rumi rũ bỏ mọi nhãn hiệu về tôn giáo, quốc gia và bản sắc để trở về với cái cốt lõi trống rỗng nhưng là toàn thể. Nghe y hệt như thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Bản Việt dịch như sau.
 
Chỉ là hơi thở

Không phải Ki tô giáo, Do Thái giáo hay Hồi giáo, không phải Ấn Độ giáo
Phật giáo, Sufi hay Thiền Tông. Không thuộc bất kỳ tôn giáo nào
hay hệ thống văn hóa nào. Tôi không đến từ phương Đông
hay phương Tây, không từ đại dương hay từ mặt đất
không phải tự nhiên hay siêu nhiên, không
được cấu tạo từ các yếu tố nào cả. Tôi không hiện hữu,
không phải là một thực thể trong thế giới này hay thế giới sắp tới,
không phải hậu duệ của Adam và Eva hay bất kỳ
câu chuyện cội nguồn nào. Nơi của tôi là không dấu vết, một dấu vết
của không dấu vết. Không thân xác cũng không linh hồn.
Tôi thuộc về cái được yêu thương, đã nhìn thấy hai
thế giới là một và lời kêu gọi duy nhất đó hướng đến và thấu hiểu,
đầu tiên, cuối cùng, bên ngoài, bên trong, chỉ hơi thở đó của người đang thở.
 
Bạn có thể nói thơ Rumi là ngôn ngữ của Tánh Không, vô tướng, vô ngã, vô thường, bờ bên kia, hay là bất cứ gì của từ bi và thơ mộng. Vì sao kho tàng từ bi, yêu thương và vô ngã của nhà thơ cực kỳ tuyệt vời này bỗng nhiên biến mất ở Iran bây giờ, để thay vào đó là lãi những nhãn hiệu đầy tranh chấp và những tự ngã lớn như núi? Hỡi Iran cổ đại, một thời của từ bi và thơ mộng, bây giờ đang ở đâu? Trong các trang cổ thư bị quên lãng? Hay dưới các gạch vụn cổ mộ của lịch sử?
THAM KHẢO:
- Buddhism ii. In Islamic Times:
https://www.iranicaonline.org/articles/buddhism-ii/
- The Indian Origin of the Thousand and One Nights
https://www.sacred-texts.com/neu/lang1k1/index.htm
- The Jataka (Truyện Bản Sanh): https://sacred-texts.com/bud/j1/index.htm   
- Thơ Rumi, bản dịch Anh văn của Coleman Barks:
. The Guest House: https://grateful.org/resource/guest-house-rumi/
. Only Breath: https://allpoetry.com/Only-Breath
 
  

Tuesday, March 10, 2026

H Ọ A

Hoàng Xuân Sơn
 
 
Tranh Họa Bì, mượn sách cũ
 
 
Xin nhẹ tay vẽ
Bỏng da
Đừng vạch thẳng đứng
Sợ tà thân
                       bay
 
Vẽ một đêm nát cơn say
Vò nhàu hết áo thơ ngây của nàng
 
Đứng lên tím
Trút lưng
Vàng
Chợt ông mặt đỏ lang thang
Trời chiều
 
Họa hoằn
                        Vẽ
Ái thành yêu
Nét ngang môi sổ
Màu điều của tranh
 
)+(
H O À N G X U Â N S Ơ N
6 tháng 3. 2026

  

Saturday, March 7, 2026

GIƠI THIỆU SÁCH MỚI

CÓ NHỮNG KẺ ĐI MÃI KHÔNG VỀ 

Tiểu thuyết NGUYỄN VIỆN 

Bạt của Trịnh Y Thư và Nguyễn Đức Tùng.

Tôi không cố để giải thích về cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua. Tôi cũng không muốn lý giải về những nghiệt ngã trong hoà bình mà tôi đang sống.

Dù chiến tranh hay hoà bình, tôi bao giờ cũng là nạn nhân và là kẻ chạy trốn. Nhưng làm sao tôi có thể thoát khỏi thực tại? Điều đó trở thành bi kịch.
Tiểu thuyết CÓ NHỮNG KẺ ĐI MÃI KHÔNG VỀ là bi kịch của một nạn nhân không chỉ như tôi. Nó là bi kịch của một làng quê của một đất nước mà tôi là một giọt máu. Rume đã tồn tại như huyền thoại và mất đi như cụm khói của bom đạn. Có thể cái làng quê được gọi là Rume ấy không có thật, nhưng ký ức về nó giống như ký ức của tất cả những ai đã từng có một quê hương.
Tôi đã có những ngày tháng hân hoan hoặc bùi ngùi với những nhân vật và tác phẩm của mình, nhưng chưa bao giờ tôi thật sự khóc như khi tôi viết xong những dòng cuối của tiểu thuyết CÓ NHỮNG KẺ ĐI MÃI KHÔNG VỀ này. Tôi đã khóc mà không cầm được nỗi bi thương kiếp người. Đấy cũng là tình yêu của tôi với sự chân thật của những số phận.
Tôi không viết lại lịch sử. Nhưng tôi đã kể lại những nỗi niềm mà con người cưu mang giữa thời cuộc. Với tôi, đó mới thật là lịch sử.
NGUYỄN VIỆN
 
Địa chỉ mua sách: amazon.com
https://www.amazon.com/C%C3%B3-Nh%E1%BB%AFng-M%C3%A3i-Kh%C3%B4ng-Vietnamese/dp/B0GRD5W4W6/ref=sr_1_2?crid=4UO9PMOXPU3H&dib=eyJ2IjoiMSJ9.pe9jJniP6Gr4HSU1Y5Z_RRYcw5LVdxmU0OOWtzuxfsLiHaG2duZgd2ORajOOo0RXFUIYBPrJ5lPcKPZpnkTEY-MIGMw6icbCpHedmt43e3k7puED9cX0PHQuaWaFpRoB_T8pZBIWTbNuMl4wTrbVyIkvCvdimXaC9IMvtmFFWNAHcr5p_DMtX7PBXNsfywxkdBUNqAlzSK5fyyPe3sQq1hGHT-ajcbGmTrkb6V9ERzk.odk_kkYyvXK3S0xLKL8LgA2VxlhRL415pq8Ja9qKMu8&dib_tag=se&keywords=Nguy%E1%BB%85n+Vi%E1%BB%87n&qid=1772900121&s=books&sprefix=nguy%E1%BB%85n+vi%E1%BB%87n%2Cstripbooks-intl-ship%2C525&sr=1-2&xpid=jFK6x4Vb2GtWb
 
Giá bán trong nước: 400.000đ
Liên hệ tác giả: nguyenvien49@gmail.com

 

 

Tuesday, March 3, 2026

NIỀM VUI MÙA XUÂN NHÀ THIỀN: ĐỌC THƠ ‘MỘT ĐÓA TRÀ MY’

Nguyên Giác Phan Tấn Hải
 
Tác phẩm Một Đóa Trà My
 
Niềm vui trong mùa xuân theo truyền thống của dân tộc Việt là những thời khắc nghỉ ngơi sau các vụ mùa, hành hương các kiểng chùa, để rồi ngồi thư giãn với tách trà, nhìn ngắm hoa mai, cành đào... Và dĩ nhiên, còn nhiều niềm vui khác khi gió xuân thổi tới. Bên câu đối đỏ chúc cho năm mới an vui, cũng là những dòng thơ mang nhiều đạo vị, những dòng thơ khi đọc lên là thấy hỷ lạc, an bình. Như thế, tập thơ Một Đóa Trà My của nhà thơ Thiện Trí đã hiển lộ một khung trời niềm vui mùa xuân được gói lại trong các dòng chữ.
Nơi đó, nhà thơ chỉ ra niềm vui không ở đâu xa, nơi đây là những gì nhìn thấy được: đó là là sự bình an trong tâm khi nhìn thấy chim bay trên cành. Nơi trang 82, thi tập Một Đóa Trà My, hình ảnh này ghi lại, niềm vui từ một cảm thọ trừu tượng của người đang nhìn cũng chính là cái gì cất cụ thề ngoài cõi thiên nhiên, từ sự an yên trong tâm nhà thơ cũng là hình ảnh chim chuyền cành:
Niềm vui là an yên
Niềm vui là chim chuyền
Bỏ quên bao bận bịu
Trần duyên nhiều chướng duyên...
Thi tập Một Đóa Trà My của nhà thơ thiền sư Thiện Trí dày 152 trang, in trên giấy láng và dày để giữ màu sắc nguyên vẹn, khổ hình vuông có hộp đựng, không chỉ thích hợp để làm quà tặng mùa xuân cho người yêu thơ, mà cũng có thể dùng làm quà tặng cho thầy cô, cha mẹ và bạn hữu. Trong thi tập, những bài thơ có chủ đề mang ơn rất nhiều, mang ơn đạo, mang ơn đời, mang ơn thầy cô và cha mẹ, mang ơn bạn, và cả mang ơn những người có cơ duyên tới học pháp từ Thiền sư Thiện Trí, người đang dạy Thiền Tứ Niệm Xứ theo hình thức mà nhà thơ tăng sĩ này gọi là Thiền Thực Nghiệm, nghĩa là cảm nhận được rõ ràng, chứ không phải chữ nghĩa xa vời khó hiểu.
Trong bài Lời Đầu Của Tác Giả (trang 16-21) nhà thơ Thiện Trí giải thích về duyên khởi về tập thơ Vạt Nắng Phù Hư đã in trước đây và bây giờ là in tập thơ Một Đóa Trà My, về phản ứng của mẹ và các cơ duyên mới của thơ:
 
(Trích) "...ước nguyện của mình để dâng lên Mẹ. Chắc hẳn Mẹ tôi đã đọc hầu như mỗi ngày nên cho đến khi Mẹ tôi mất đi, tôi nhận ra rằng tập thơ không còn nguyên vẹn. Nó bị sút chỉ và Mẹ tôi đã dùng keo để dán lại. Viết đến đây, tôi lại rưng rưng nhớ Người. Đó là sự ra đời của tập thơ Vạt Nắng Phù Hư!
Riêng tập thơ này, Một Đóa Trà My, tôi lại cho ra đời trong hoàn cảnh khác. Trong một năm tôi ở trên núi San Diego vừa nghiên cứu chương trình tiến sĩ Tôn Giáo Học, vừa đi hướng dẫn thiền tập. Thi thoảng tôi được ngắm mây trôi, được nếm trải hương vị thiền trong khung cảnh đầy chất thơ và viết lại những thi vị của lòng mình. Thật lòng nói rằng, chưa bao giờ tôi được sống những ngày bình yên với không gian thật đẹp như vậy.
Có những buổi sáng sớm trước khi mặt trời tỏa nắng, tôi trèo lên dốc đá rồi hít một hơi thở thật sâu và lúc ấy, chất thơ len lén vào hồn làm ý thơ dâng trào:
 
Nắng về sau bận sương mù
Nắng về mang giọt vàng ru sang ngày
Sáng trong sáng nụ hồng say
Nở màu trắng dáng trang đài kiêu sa
(Cõi Thiền)
 
Có những đêm đông lạnh, tôi và vài huynh đệ nhóm lửa, pha trà. Phía ngoài hiên, những đóa hoa Trà My nở...
 
Im ắng ngoài hiên mưa phùn rơi
Bên trong nhìn ánh lửa hồng phơi
Sưởi hồn Tăng sĩ non xa lánh
Đuốc tuệ đêm Đông bừng sáng ngời
(Một Đóa Trà My)
 
Tôi cảm ơn những ngày "ẩn cư" rất đẹp và cũng xin tri ân một Thầy bạn trên núi cao đã cho phép tôi được tá túc trong những ngày này. Tôi muốn cảm ơn chung trà nóng vào sáng và tối mùa Đông, những chú chó thông minh cùng chúng tôi đi dạo...Tất cả là những kỷ niệm đẹp mà tôi muốn ghép lại thành MỘT ĐÓA TRÀ MỸ để làm món quà tặng cho đời và xin gởi đến những người thân thương của tôi.
Tôi cũng muốn gởi lời cám ơn đến những anh chị độc giả đã viết lời bình cho những bài thơ tôi gởi tặng...(ngưng trích)
 
Bạn cũng có thể thỉnh tập thơ về để tới ngày lễ Vu Lan trao tặng mẹ cha. Trong thi tập, độc giả sẽ gặp những dòng thơ tri ân mẹ cha, như các bài Sắc Màu Vu Lan (trang 34), Chiều Nhớ Má (trang 38), Mồ Côi (trang 70), Hoa Vạn Thọ (trang 92), Nhớ Ba (trang 101), Người Dân Quê (trang 105)... Và dĩ nhiên, tất cả các bài thơ khác đều viết về Thiền, về quán sát, về soi tâm, về quét bụi lòng, về yên tâm mới yên bình.
Một điều cũng đặc biệt trong thi tập Một Đóa Trà My là bài Hoa Lá Mùa Xuân (thơ Thiện Trí, nhạc Trần Chí Phúc). Bài này viết theo thể thơ lục bát, một hình thức phổ biến trong ca dao Việt Nam. Bài này nơi trang 117 hiển nhiên sẽ là quan tâm đối với những người biết đàn và hát.
Những lời giới thiệu trong sách Một Đóa Trà My là từ BS Nguyễn Hiếu Nhân, nhà thơ Nguyên Giác...
 
Nhà thơ Thiện Trí là ai? Bạn hãy mở trang 148-150 của thi tập Một Đóa Trà My và đọc về tiểu sử nhà thơ.
. TT Thích Thiện Trí (tên thật là: Nguyễn Công Minh) sinh năm 1974 tại Tỉnh Đồng Tháp.
. 1997 - 2001: Tốt nghiệp chương trình Cử Nhân (Bachelor) khóa IV tại Học viện Phật giáo TPHCM
. 2002: Định cư tại Hoa Kỳ.
. 2004: Mở nhóm thiền tập cho người Việt và người bản xứ bang Mississippi và sau đó, tiếp tục ở các bang khác.
. 2015 đến 2020: Mở trung tâm Thiền "Zen and Mind Family" tại bang Louisiana, trong các trung tâm người bản xứ tại TP New Orleans xuyên suốt cho đến khi dịch Covid-19.
. 2017 - 2019: Đặc biệt, hai trườngĐại Học Xavier và Loyola mời làm giảng viên môn "Kỹ Năng Thiền Phật Giáo" theo hệ đào tạo chính quy & từ xa cho sinh viên tại trường.
. 2019: Nhận được học bổng danh giá toàn phần tại trường Đại Học Loyola cho chương trình Cao học chuyên ngành Tôn giáo Giáo Dục. Sau đó, chuyển về trường University of the West tại Los Angeles để học ngành Tôn giáo học và tốt nghiệp Thạc sĩ (Master).
Hiện nay:
. Nghiên cứu sinh tiến sĩ Tôn giáo học và là Giảng viên dạy các lớp Thiền Thực Nghiệm tại trường University of the West.
. Giáo thọ tại Tu Viện Phổ Quang Thành Phố Fort Worth-Dallas, Texas.
. Giáo thọ Tu Viện Trúc Lâm tại TP Houston, Texas.
Tác phẩm đã xuất bản:
1. Foundation of Mindfulness (thuộc sách giáo khoa hướng dẫn chuyên về các lớp thiền tập)
2. Tập Thơ: Vạt Nắng Phù Hư.
3. Tập Thơ: Một Đóa Trà My
 
Độc giả muốn có tập thơ Một Đóa Trà My của nhà thơ Thiện Trí, xin liên lạc:
Tu Viện Phổ Quang
824 Sandy Lane
Fort Worth_Texas 76120
Tel: 626-866-1653
 
 

Sunday, February 22, 2026

THƠ

nguyễnxuânthiệp
 
Chickadee
 
NHỮNG ĐIỀU GHI ĐƯỢC TRONG BUỔI SÁNG
 
Ở nơi xa
em có thấy
con chim
mặc áo đỏ. đầu đội nón dạ
sáng nay. đến hót trước cửa sổ
nhà em
con chickadee. của thơ anh đó
chim hỏi
sao em không đến thăm
trái tim. đau. của nhà thơ
ôi. trái tim anh
như chiếc lá bàng mùa đông. run rẩy trên cây
rồi anh chợt nghĩ tới. trái thông khô trên bàn viết
em còn đi lang thang trên đồi gió. qua khu rừng nhiều thông
anh chợt thấy mình
cùng cô bé. trong văn paustovsky. xách lẵng đi nhặt
                       những trái thông khô. về cho bếp lửa mùa đông
cô bé giống em hồi nhỏ. mặc áo đầm trắng. đôi mắt to. và mái
                                                                     tóc bum bê
và anh cũng thấy. anh với con bé thỏ. như trong văn nhất linh.
                        đêm mùa đông. khuya. lạnh. chạy đuổi những
                        chiếc lá bàng. trên sân. miệng kêu. lạy trời gió lên
 
ở cuối con đường. hôm nay
anh mang trái tim mùa đông
đi gõ cửa từng nhà
xin lửa ầm
 
Mar 09. 2018
 
 
MỘT NGỌN NẾN CHÁY
 
Ngọn nến cháy trên bàn
một ngọn nến cháy*
cây thông trong vườn
thức đợi
em đâu rồi. lara
còn đây khúc hát
và bầu trời thuở xưa
nhưng em không còn nũa
tôi đi trong đêm mùa đông
hồn lạnh giá
bao giờ
bao giờ về tới
khu vườn ở hokaido
với những vị bụt tí hon
tô cơm. với bát canh rau rừng
và bếp lửa…
NXT
 
*Thơ Pasternak

Wednesday, February 18, 2026

THƠ NGUYỄN ĐỨC NHÂN

Tình xuân ý bút
* Thân tặng Đồng Quí,
 


Nắng xuân
 
Nắng xuân
dẫn tôi vào chùm hoa đang
ngát hương
nơi tịnh yên không tỳ vết
do dự
có thể không quay về 
 

Sự cố dưới mái hiên mùa xuân mới

Đóa hoa nguyệt quế mở cửa
đón tôi vào nghỉ chân
ngủ quên trong đài hoa
giấc mơ xanh
tôi bốc hơi
bay vào mây trắng
 
 
Bất chợt
 
Tiếng chuông chùa xa
ướt đẫm mưa xuân năm xưa
ra đi biền biệt
tôi bơ vơ giữa mùa xanh
thơ ấu
Tôi lặng lẽ mù sương
tiếng chuông bất chợt
quay về
ngân quanh trái tim tôi đang
sáng trăng
 
 
Mùi hương trong tiếng chim
 
Gió sớm tôi reo
tán lá xanh
những chồi non hoan hỷ
thỏa thích biết bao
tiếng hót của bầy chim
 
thoang thoảng hương xuân
 
Ngày đầu Xuân Bính Ngọ
17/02/2026
NĐN 

Monday, February 16, 2026

MỪNG NĂM MỚI

Đêm qua sân trước một cành mai


Mừng Năm Mới
Thân chúc các bạn văn mọi điều như ý,
dồi dào sức sống và cảm hứng sáng tác.