Saturday, May 16, 2026

BA LAN: GIẢI VĂN HỌC CHO ANA BLANDIANA, VIẾT VÌ SỰ THẬT VÀ CÔNG LÝ

Phan Tấn Hải


Ana Blandiana và tác phẩm
 
   Giải thưởng Văn học Herbert 2026 của Ba Lan đã trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Giải này có tên chính thức là "2026 Zbigniew Herbert International Literary Prize."
   
    Thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan loan tin hôm Thứ hai ngày 4 tháng 5/2026: Giải thưởng Văn học Herbert của Ba Lan trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania.
     Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến ​​chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20.
      Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
      Trang Poets.org tại Hoa Kỳ ghi sơ lược tiểu sử nhà thơ như sau: Ana Blandiana—bút danh của Otilia Valeria Coman Rusan—sinh ngày 25 tháng 3/1942 tại Timişoara, Romania. Ngay từ khi còn ở tuổi vị thành niên, bà đã đặt cho mình bút danh này, lấy cảm hứng từ tên ngôi làng quê hương của mẹ bà tại vùng Transylvania. Cha bà là một linh mục Chính thống giáo, người từng bị cầm tù vì là một nhân vật bất đồng chính kiến. Blandiana đã đăng tải những bài thơ đầu tay của mình trên tạp chí Tribuna [Tòa án] có trụ sở tại Cluj, trong khoảng thời gian bà đang theo học trung học tại Oradea. Năm 1967, Blandiana đã tốt nghiệp chuyên ngành Ngữ văn tại Đại học Cluj-Napoca (nay là Đại học Kỹ thuật Cluj-Napoca). Nhà thơ cũng là một biểu tượng bất đồng chính kiến từ Eastern Block (Khối Đông Âu, các nước cựu cộng sản trong cựu Liên Xô).
      
      Trong một thông cáo báo chí, Quỹ Zbigniew Herbert viết rằng: "Tác phẩm của Blandiana – vốn gắn bó sâu sắc với lịch sử bi tráng của Khối phía Đông – là một tiếng nói kháng cự đầy dũng cảm và kiên định chống lại chủ nghĩa toàn trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng của thế giới các giá trị nhân văn."
       Quỹ này cũng nói thêm rằng: "Những bài thơ của Blandiana không chỉ là minh chứng cho cuộc đấu tranh vì sự thật, phẩm giá và công lý, mà còn là lời nhắc nhở về bổn phận đạo đức của người thi sĩ – đặc biệt là trong những thời khắc gian khó. Thơ ca của bà phản chiếu một cách sâu sắc quan niệm của Herbert về nghệ thuật: coi nghệ thuật là một lãnh địa của những đức hạnh phổ quát và thái độ đạo đức, những giá trị cần được bảo vệ đến cùng bất chấp mọi nghịch cảnh."
       Trong bài phát biểu của mình, nhà thơ nữ Blandiana chia sẻ rằng mặc dù có sự cách biệt về thế hệ, cố thi sĩ Herbert vẫn luôn rất gần gũi với bà nhờ vào sự tương đồng về số phận. "Ông đã bước lên đồi Golgotha ​​của cuộc chiến chống lại sự kiểm duyệt trước cả tôi – có lẽ trên một con dốc còn cheo leo hơn nhiều – nhưng những cơ chế thẩm mỹ của sự kháng cự thì vẫn y nguyên, cũng giống như những hình thức đàn áp vốn đã không thể khuất phục được chúng tôi," theo lời bà phát biểu.
        Lễ trao giải dự kiến ​​sẽ được tổ chức tại Warsaw vào ngày 27 tháng 5/2026. Là một người công khai phản đối chế độ cộng sản, Blandiana từng được mệnh danh là "Joan d’Arc của Romania". Trong các giai đoạn 1959–1964, năm 1985, và 1988–1989, các tác phẩm của bà đã phải chịu lệnh cấm xuất bản. Sau Cách mạng Romania năm 1989 và sự lật đổ của chế độ Ceaușescu, Bandiana đã thành lập Quỹ Liên minh Công dân (Civic Alliance Foundation) – một phong trào phi đảng phái nhằm xoa dịu những hậu quả để lại sau hơn năm thập niên dưới chế độ cộng sản tại Romania.
         Các danh hiệu mà bà được trao tặng bao gồm Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, Giải thưởng Herder của Áo, Giải thưởng Thơ ca Griffin của Canada, và Giải thưởng Văn học Công chúa xứ Asturias.
        Ngoài thơ ca, các tác phẩm của Bandiana còn bao gồm những tập tiểu luận và văn xuôi. Các tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 15 ngôn ngữ.
        Được trao tặng từ năm 2013, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert nhằm tôn vinh những thành tựu nghệ thuật và trí tuệ xuất sắc, được khơi nguồn cảm hứng từ những giá trị và lý tưởng mà chính Herbert đã luôn đề cao.
       Sinh năm 1924, Herbert là một trong những nhà thơ, nhà tiểu luận và nhà đạo đức học có tầm ảnh hưởng lớn nhất tại Ba Lan. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm "Pan Cogito" (Ông Cogito), "Struna światła" (Dây đàn Ánh sáng), "Hermes, pies i gwiazda" (Hermes, Chú chó và Ngôi sao), và "Barbarzyńca w ogrodzie" (Kẻ man rợ trong khu vườn). Là một người kiên quyết chống cộng, Herbert đã dành sự ủng hộ hết mình cho phong trào Đoàn kết (Solidarity). Sau khi thiết quân luật ban hành vào tháng 12 năm 1981, những bài thơ của ông thường được ngâm đọc trong các cuộc họp bí mật của phong trào Đoàn kết. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang 40 ngôn ngữ. Ông qua đời vào năm 1998.
        Một bài thơ nổi tiếng của bà cho thấy hình ảnh cô đơn của người bất đồng chính kiến dưới chế độ toàn trị, nơi mọi người y hệt như giả chết và chỉ có nhà thơ là tỉnh thức, quan sát. Bài thơ "Loneliness" của Ana Blandiana do Seamus Heaney dịch từ tiếng Romania sang tiếng Anh, và dưới đây là bản dịch tiếng Việt:
  
NỖI CÔ ĐƠN
 
Cô đơn là một thị trấn
Nơi mọi người khác đều đã chết.
Những con phố thật sạch,
Những khu chợ vắng tanh,
Bỗng chốc mọi thứ hiện lên trong ánh sáng chân thực
Nhờ vào sự hoang vắng ấy – chính xác
Như lẽ vốn dĩ của chúng.
Cô đơn là một thành phố
Nơi tuyết luôn rơi
Một cách ngập tràn, và chẳng có bước chân nào
Từng vấy bẩn lên những lớp
Ánh sáng đang chất chồng.
Và chỉ riêng bạn, con mắt không ngủ
Đang dõi trông những kẻ đang say ngủ; bạn
Nhìn thấu, thấu hiểu, và chẳng bao giờ thấy đủ
Một sự tĩnh lặng quá đỗi tinh khôi.
Chẳng ai tranh đấu ở đó,
Chẳng ai bị lừa dối,
Và ngay cả giọt lệ trong mắt
Của một con vật bị bỏ rơi
Cũng quá đỗi trong sáng để có thể gây đau thương.
Trên ranh giới
Giữa khổ đau và cái chết,
Cô đơn là một thị trấn hạnh phúc.
.
Sau đây là bài thơ "Oh Your Body" sẽ được dịch ra tiếng Việt theo bản tiếng Anh của Paul Scott Derrick và Viorica Patea; vì tác giả là phụ nữ, nên chúng ta tạm dịch là "Ôi cơ thể của anh." Nơi đây, nàng nhìn thấy cơ thể chàng qua những dòng chữ (có lẽ là thơ, hay truyện?). Hòan toàn tách rời nền văn học hiện thực xã hội xưa cũ, và rất là "hiện sinh Phương Tây" nói theo thời kỳ khi thế giới còn Chiến Tranh Lạnh.
 
Ô CƠ THỂ CỦA ANH
 
Ô, em vẫn thấy cơ thể anh xuyên qua lớp mực,
Lớp mực nhuốm bẩn cả chúng ta ngay trong những giấc mơ,
Tựa như thứ mồ hôi đắng chát của loài thú hoang.
Em muốn vươn tay chạm tới anh,
Nhưng các ngón tay em lại trượt dài;
Em hầu như chẳng thể nhìn thấy anh,
Em hầu như chẳng thể nghe thấy anh.
Hãy nói đi, hãy nói với em thêm một lần nữa rằng:
Cơn xoáy nước mà em đang lao mình vào
Đã nhấn chìm cả hai ta trong bóng tối như nhau.
Em cất tiếng gọi anh,
Nhưng dòng mực lại tuôn trào dữ dội
Giữa hai ta—tựa như máu đang rỉ ra từ một vết thương.
Anh còn nhận ra em chăng? Còn chờ đợi em chăng?
Liệu anh có còn để em quay trở về,
Liệu anh có còn đón nhận em
Từ chốn bùn lầy tím thẫm kia?
Liệu anh có còn trở lại
Với những cánh đồng xanh này,
Với những đại dương hoang mạc kia—
Trong câm nín và lệ nhòa—
Để em có thể dâng hiến khuôn miệng run rẩy,
Cùng đôi môi bầm tím vì những lời nói,
Cho nụ hôn của anh?
.
Sau đây là bài thơ "In a Wound" (Trong Một Vết Thương), theo bản Anh dịch của Paul Scott Derrick và Viorica Patea. Chữ "we" (chúng ta) trong bài thơ cho thấy vết thương là của đông người, ít nhất là vết thương của một cặp tình nhân, hay nhiều hơn thì sẽ là vết thương của một dân tộc.
 
TRONG MỘT VẾT THƯƠNG
 
Chúng ta sống trong một vết thương
Và chẳng hề hay biết
Vết thương ấy thuộc về thân xác của ai,
Cũng chẳng hiểu vì sao.
Điều duy nhất chắc chắn, chính là nỗi đau
Đang bao vây quanh  ta—
Nỗi đau
Mà chính sự hiện diện của chúng ta
Đã làm nhiễm trùng thêm,
Mỗi khi vết thương kia cố lành lại.
.
Nói ngắn gọn thế nào về nhà thơ Ana Blandiana? Ngay cả khi bày tỏ bất đồng chính kiến, dòng thơ của bà cũng rất lãng mạn, tế nhị, như dường chữ nghĩa của bà không thể dùng để làm tổn thương bất kỳ ai. Thơ của Ana Blandiana thực sự là những dòng chữ nói lên sự thật và công lý, để ngợi ca đời sống và con người.
PTH 

KÌA. CON BƯỚM VÀNG

Ái Điểu
 
 
Con bướm vàng
 
1-
Kìa con bướm vàng
xoè đôi cánh mang dấu đạn
bay trong vườn địa đàng
Vườn đã xanh
sẹo cũng đã lành
con bướm vàng xoè đôi cánh
lao chao bay loanh quanh
 
2-
Tôi ngồi trong quán cà phê địa đàng
hay quán cà phê ngồi trong tôi
tôi đang mặc cái váy màu vàng
hay đang che thân thể bằng vệt nắng vàng
sót lại sau khi lau khô một thời mưa đỏ
Con bướm vàng đậu trên tách cà phê đen
nó không nhìn tôi
nó nhìn vào khoảng không gian của thế kỷ hai mươi
Ly cà phê hay ly nước cốt đất bazan
con bướm vàng đang run rẩy đôi cánh có dấu đạn
      hay là tôi đang hoang mang trong sóng wifi và khói thuốc
Viên đạn xuyên qua cánh con bướm vàng từ thế kỷ trước
vừa găm vào trái tim tôi.
Ly cà phê, và con bướm vàng, và tôi, và chủ nhân viên đạn
                                                                 không ngồi bên nhau
chúng tôi xâm lấn vào nhau
 
3-
Người nhạc công mù mệt mỏi kéo slide của cây kèn trombone
                                                                      dài gấp đôi cơ thể
ông cố mở to đôi mắt trắng dã
gồng mình chơi điệu nhạc có máu, xác người và sự đập phá
Tôi cảm nhận trong tiếng kèn có niềm vui chiến tranh
                                                                 và nỗi buồn hoà bình.
 
4-
Tôi đứng dậy, bay qua cửa sổ
trời đang mưa
cơn mưa có màu máu đỏ
con bướm vàng ngồi lại
quơ râu gọi thêm một ly cà phê
cho chủ nhân của viên đạn đã bắn thủng cánh của nó.
 
5-
Tôi bay
như trái đất mang nặng nỗi buồn bay quanh mặt trời
tôi bay loanh quanh theo giọt nắng vàng còn sót lại trong cơn mưa đỏ
Và,
lười biếng tan dần dưới sức nặng của những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
ÁI ĐIỂU

  

Thursday, May 14, 2026

VÔ ẢNH

Hoàng Xuân Sơn
 
Bóng thuyền
 
Bóng thuyền cũng có khi say*
Khều sào lên thấu thơ ngây của trời
Vàng thiệt buồn
Như xám trôi
Gỗ và nước đất nằm nơi
Xanh
Lùm
Miệt già rúng đại hồng chung
Ta về tế tự
Mung lung bến đàn
Nghe rồi âm
                [Dự]
                       Lầm than
 
H O À N G X U Â N S Ơ N
11 mai 2026

  

LEBANON: THƠ, HỌA DƯỚI TRỜI MƯA BOM

Phan Tấn Hải
 
Tranh của Etel Adnan, chi tiết từ 'Explosion Florale'.

Họa sĩ Nabil Kanso trước tấm tranh của ông
để kêu gọi hòa bình. (Photo: Wikipedia)

Họa sĩ Ayman Baalbaki ngồi trước tranh của ông
(Photo: Tạp chí Lebanon Traveler)
 
Lebanon sẽ trở thành một kiểu tro bụi như Gaza sau khi không quân Israel tung ra nhiều đợt dội bom ngay giữa thủ đô Beirut nhiều tuần lễ qua, bất kể Hoa Kỳ và Iran đang ngưng bắn và đàm phán? Có nên hy vọng vào cuộc đàm phán ngập ngừng đương hữu giữa Israel và Lebanon hay không, sau nhiều thập niên họ vẫn nhìn nhau qua họng súng? Chúng ta không thể biết đất nước xinh đẹp này tương lai có thể bị xóa sổ hay không, trong khi Lebanon trải qua gần một thế kỷ trở thành một chiến trường khi nhiều nền văn minh hội ngộ, và cũng là nơi đã khai sinh ra nhiều nhà thơ và họa sĩ tuyệt vời.
Một nhà thơ lớn của Lebanon là Kahlil Gibran (1883—1931), người để lại tập thơ bất tử The Prophet trong đó có bài thơ Love (Tình yêu) với những dòng bất tử, như dường đang nói với người tình, và cũng có thể hiểu là Đấng Tối Cao, trích:
... Thà là, hãy để cho tôi đói,
Và hãy để tim tôi khô héo vì khát,
Và hãy để cho tôi chết và tan rã
Còn hơn phải đưa tay
Chạm vào cái tách mà người chẳng rót đầy,
Hay cái chén mà người chẳng ban phước. (ngưng trích)

 Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó  95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1%  Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác.
Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến ​​tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính.
Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài suốt 15 năm, được châm ngòi bởi những căng thẳng giáo phái nội bộ và sự hiện diện của các phe phái vũ trang Palestine. Cuộc chiến kết thúc vào năm 1990 bằng Hiệp ước Taif, nhưng lại để lại đất nước dưới sự chiếm đóng kéo dài của Syria cho đến tận cuộc Cách mạng Cây tuyết tùng năm 2005.
Thế kỷ 21 đã chứng kiến ​​những biến động cực độ: một cuộc chiến tranh tàn khốc với Israel vào năm 2006, những hệ lụy lan sang từ cuộc Nội chiến Syria, và một cuộc sụp đổ kinh tế thảm khốc vào năm 2019. Vụ nổ tại Cảng Beirut năm 2020 đã trở thành một biểu tượng bi thương cho sự tắc trách của bộ máy nhà nước. Ngày nay, Lebanon đang phải đối mặt với thách thức sống còn lớn nhất từ ​​trước đến nay—bị kẹp giữa một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện và nguy cơ chiến tranh vào năm 2026—trong khi vẫn phải chật vật bảo vệ chủ quyền của mình giữa bối cảnh những xung đột ủy nhiệm khu vực đã ăn sâu bám rễ.
June Jordan (1936—2002), một nhà thơ Hoa Kỳ gốc Jamaica, đã viết bài thơ tựa đề "Apologies to All the People in Lebanon" (Lời xin lỗi gửi tới tất cả người dân Lebanon) với lời ghi là "Dành tặng cho 600.000 người nam, nữ và trẻ em Palestine đã sinh sống tại Lebanon từ năm 1948 đến 1983" trong đó có những dòng thơ, trích:
...Họ nói rằng quý vị đã bắn vị Đại sứ London
và khi điều đó không đúng sự thật
thì họ vẫn cứ nói thế
thì sao nào?
Họ nói rằng quý vị đã pháo kích các ngôi làng phía bắc của họ
và khi lực lượng Liên Hợp Quốc báo cáo rằng điều đó không đúng
bởi vì phía của quý vị vẫn đang tuân thủ lệnh ngừng bắn
đã hơn một năm trước đó rồi
thì họ vẫn cứ nói thế
thì sao nào?
Họ nói rằng họ chỉ đơn thuần muốn thiết lập
một vùng đệm rộng 25 dặm, và rồi
họ tàn phá nguồn
nước, nguồn điện của quý
các bệnh viện, trường học, mọi xa lộ và lối mòn của quý vị
dọc suốt lên tận phía bắc tới Beirut; bởi họ nói rằng đây
chính là cuộc tìm kiếm hòa bình của họ
Họ cho nổ tung nhà cửa của quý vị, san phẳng các cửa hàng thực phẩm
chặn đường Hội Hồng Thập Tự, bắt giam các bác sĩ
và họ ném bom chùm xuống những bé trai, bé gái
mà thân thể các em
sưng tấy bầm tím, đen sạm, phình to gấp đôi kích thước ban đầu
và xé toạc phần mông của một em bé mới bốn tháng tuổi...
(ngưng trich)

Mới tuần trước là là một đợt không kích quy mô lớn của Israel đã giết hơn 350 người chỉ trong vài phút, nhằm thẳng vào khu vực trung tâm Beirut và các vùng phía nam mà không hề có lời cảnh báo trước. Hiện tại, bộ binh của Israel đã tiến sâu vào miền nam Lebanon, cho phá hủy các cây cầu dọc theo sông Litani và kêu gọi di tản toàn bộ người dân khỏi phía nam Lebanon. Hơn 1,5 triệu người (chiếm 20% tổng dân số Lebanon) đã phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn, và hệ thống y tế đang đứng bên bờ vực sụp đổ do các cuộc tấn công có chủ đích nhằm vào các cơ sở y tế.
Trong hoàn cảnh gần một thế kỷ khói lửa mưa đạn kiểu như thế, lịch sử nghệ thuật Lebanon là một chuỗi dài kham nhẫn, kiên cường. Những người sống sót cùng cộng đồng Lebanon hải ngoại đã ghi lại nỗi đau thương vào một nền nghệ thuật đầy những nạng chống và băng bột. Và trong những năm như thế, nhiều nghệ sĩ bỗng nhiên biến mất trên cõi đời này. Nhiều nghệ sĩ không chết trong những vụ ám sát chấn động dư luận, mà chỉ đơn thuần "biến mất" tại các trạm lính chận kiểm soát hoặc trong những đợt pháo kích vào các khu dân cư. Nghệ thuật cũng phải gánh chịu những "cái chết mang tính biểu tượng"—sự tàn phá Nhà hát Piccadilly Theatre cùng nạn cướp bóc vô số xưởng vẽ và phòng tranh tư nhân, những sự kiện đã xóa sổ hàng thập niên lịch sử nghệ thuật thị giác.
Đối với nhiều nghệ sĩ Lebanon, nghệ thuật không đơn thuần là một sự theo đuổi về mặt thẩm mỹ, mà còn là một phương tiện thiết yếu để kiến ​​tạo hòa bình, phản biện xã hội, cũng như gìn giữ ký ức tập thể—thứ mà chiến tranh thường tìm cách xóa nhòa.
Một nhân chứng chiến tranh nổi bật là họa sĩ Nabil Kanso (1940–2019). Có lẽ rất ít nghệ sĩ nào lột tả sự tàn bạo trần trụi của xung đột một cách đầy ám ảnh và đau đớn như Kanso. Loạt tác phẩm đồ sộ của ông, "The Split of Life" (Sự chia cắt của Cuộc sống), bao gồm hơn 80 bức tranh sơn dầu khổ lớn (tương đương tranh tường), được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1994. Kanso đã sử dụng phong cách "tân biểu hiện" (neo-expressionist) — với những gam màu cam rực rỡ, đỏ thẫm và đen hỗn loạn — để khắc họa nỗi thống khổ của cuộc Nội chiến Lebanon. Tranh của ông không phải để tôn vinh chiến trận, mà là khơi dậy một "lời hiệu triệu mới cho sự thức tỉnh", biến tranh thành một lời tự vấn đạo đức nhằm đòi hỏi hòa bình.
Theo Wikipedia, họa sĩ Nabil Kanso sinh tại Beirut, Lebanon vào ngày 26/9/1940; ông là người con thứ sáu trong gia đình có tám người con của ông bà Melhem Kanso và Munira Saab. Cha ông là một thương nhân buôn bán vải lanh thành đạt đến từ vùng Mukhtara. Năm 1958, khủng hoảng chính trị tại Lebanon đã buộc trường học của ông đóng cửa, và Kanso rời khỏi đất nước này. Ông theo học tại Trường Bách khoa Regent Street, và sau khi tốt nghiệp, ông chuyển đến Thành phố New York. Năm 1966, ông nhập học tại Đại học New York (NYU), nơi ông học lịch sử nghệ thuật, triết học và khoa học chính trị; ông nhận bằng Thạc sĩ (M.A.) năm 1971. Ông bắt đầu cầm cọ vẽ từ năm 1967. Các nhà phê bình nghệ thuật thường liên hệ những chủ đề mang tính tận thế xuất hiện trong các tác phẩm của Kanso với cuộc Nội chiến Lebanon.
Các tranh về đề tài Kuwait của ông vẽ hình ảnh các phụ nữ đau khổ khi mất con, trở thành những nạn nhân của chiến tranh. Một số nhà phê bình nhận định rằng chủ đề tình mẫu tử đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các tác phẩm về phụ nữ của Kanso; người xem có thể bắt gặp hình ảnh những người mẹ trong khoảnh khắc sinh nở, cũng như trong khoảnh khắc cái chết ập đến khi họ vẫn đang ôm chặt những đứa con trong vòng tay. Những song sắt — ​​chi tiết thường xuyên lặp lại từ tác phẩm này sang tác phẩm khác — đôi khi được đặt ngay tại cửa mình của người phụ nữ. Màu xanh lá cây gần như vắng bóng trong các tác phẩm của Kanso được xem là một dấu ấn cho thấy sự phê phán của ông đối với vấn nạn hủy hoại môi trường. Chẳng gì có thể sinh sôi nảy nở giữa thời chiến. Thịt xương dường như hiện diện khắp chốn. Nước sinh ra chỉ để nhấn chìm, hoặc để đóng băng. Những cột băng trông tựa như những chiếc chân côn trùng đầy lông lá, hay những cuộn dây thép gai. Bầu trời—vốn hiếm khi được nhìn thấy—thỉnh thoảng lại hé lộ thoáng qua hình bóng của những bậc tiền nhân, tựa như những bóng ma xanh nhạt đang dõi mắt nhìn xuống hậu thế.
Họa sĩ Ayman Baalbaki (sinh năm 1975) cũng có nét vẽ nhân chứng chiến tranh. Baalbaki tập trung vẽ những tàn tích sau trận bom từ các cuộc giao chiến. Ông nổi danh với các tranh vẽ các tòa nhà đổ nát cùng những nhân vật đội khăn kaffiyeh. Thông qua việc tái hiện những "đài tưởng niệm của sự mất mát" này, Baalbaki buộc người xem phải đối diện với tình trạng ly tán xã hội do chiến tranh gây ra, nét vẽ là một lời kêu gọi hòa bình và công bằng xã hội cho người chết và những người lưu vonTrong cuộc phỏng vấn của tạp chí Lebanon Traveler ngày 4/4/2022, họa sĩ Ayman Baalbaki được hỏi "Lớn lên trong cuộc nội chiến tại Lebanon đã ảnh hưởng như thế nào đến các tranh vẽ của ông?" đã trả lời:
Việc tôi chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến là điều tất yếu, bởi lẽ gia đình tôi sinh sống ngay trên "ranh giới xanh" (Green Line). Thư viện của cha tôi chứa đầy những cuốn sách về chính trị và nghệ thuật; và mọi cuộc trò chuyện của ông với bạn hữu cũng đều xoay quanh hai chủ đề này. Điều đó đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và bền vững. Cuộc chiến khép lại vào năm 1989 với Hiệp ước Ta’if, và đến năm 1991, một đạo luật ân xá đã được ban hành để miễn trừ mọi tội danh chính trị xảy ra trước thời điểm đó. Người ta ra sức xóa bỏ mọi dấu vết  chiến tranh: những tòa nhà chằng chịt vết đạn ở khu trung tâm Beirut bị xe ủi san phẳng hoàn toàn, còn thân nhân của người mất tích thì buộc phải chính thức từ bỏ quyền đòi hỏi thông tin về người thân của mình. Cho đến tận ngày nay, vẫn chưa hề có một bản tường thuật chính thức nào về những gì đã thực sự diễn ra trong suốt thời kỳ chiến tranh. Tất cả những điều này, đối với tôi—cũng như đối với những người từng trực tiếp nếm trải nỗi đau thương và chứng kiến ​​những cuộc thảm sát ấy—chẳng khác nào một sự khiêu khích. Chính điều đó đã thôi thúc tôi—cùng với biết bao nghệ sĩ và văn sĩ khác thuộc thế hệ mình—thực hiện một "bổn phận ghi nhớ", nhằm kiến ​​tạo sự hòa giải với lịch sử thông qua một sứ mệnh lưu trữ đầy trách nhiệm.”
Dùng nghệ thuật để hàn gắn, chữa lành nổi bật có nhà thơ và là họa sĩ Etel Adnan (1925–2021). Là một người đa tài, luôn chuyển mình giữa hội họa và thi ca, bà Adnan tin rằng: “Nếu tôi khẳng định sự sống và vẻ đẹp của thế giới, thì tôi càng trở nên gần gũi hơn với những người chủ trương hòa bình.” Những bức tranh phong cảnh trừu tượng nhỏ nhắn, rực rỡ sắc màu của bà—thường lấy núi Tamalpais làm chủ đề—chính là những lời phản kháng thầm lặng chống lại sự hỗn loạn của chính trị. Đối với Adnan, màu sắc là một ngôn ngữ của hòa bình, có khả năng vượt qua mọi biên giới và sự chia rẽ phe phái.
Theo Wikipedia, bà Etel Adnan sinh năm 1925 tại Beirut, Lebanon. Mẹ của Adnan, bà Rose "Lily" Lacorte, là người Hy Lạp Chính thống giáo đến từ Smyrna; còn cha bà, ông Assaf Kadri, là một người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi giáo Sunni và là một sĩ quan cấp cao của Đế chế Ottoman, sinh ra tại Damascus thuộc vùng Syria dưới quyền cai trị của Ottoman.
Những tác phẩm trừu tượng đầu tay của bà Adnan được sáng tác bằng cách dùng dao để phết sơn dầu lên canvas. Trọng tâm bố cục thường là một hình vuông màu đỏ; bà đặc biệt quan tâm đến "vẻ đẹp tức thời của màu sắc". Adnan từng nhắc đến họa sĩ Paul Klee (1879-1940) như một người có ảnh hưởng quan trọng đối với nét vẽ thời kỳ đầu của bà. Khi nói về Klee, bà nhận định: "Klee thuộc về dòng dõi những thiên tài mà đối với họ, bất kỳ một danh xưng đơn lẻ nào – dù là 'họa sĩ', 'nhạc sĩ' hay 'kiến trúc sư' – đều trở nên quá chật hẹp. Mỗi bức tranh của Klee tựa như một hành trình khám phá, được hiện thực hóa thông qua một quá trình tìm tòi, tựa như một con thuyền đang lênh đênh giữa đại dương bao la."
Vào thập niên 1960s, bà bắt đầu ghép nghệ thuật thư pháp Ả Rập vào các tác phẩm nghệ thuật cũng như các cuốn sách của mình – điển hình là bộ sách "Livres d'Artistes" [Sách Nghệ sĩ]. Bà kể lại rằng mình từng ngồi hàng giờ liền để chép lại các từ ngữ từ một cuốn ngữ pháp tiếng Ả Rập, mà không hề cố gắng tìm hiểu ý nghĩa thực sự của những từ đó.
Etel Adnan cũng là nhà thơ nổi tiếng, với nhiều bài về chiến tranh ở Lebanon. Trong bài thơ tựa đề "XXXIX from The Arab Apocalypse" của Etel Adnan, chúng ta trích một đoạn như sau:
Khi kẻ sống thối rữa trên thân xác kẻ chết
Khi răng của các chiến binh hóa thành dao bén
Khi chữ mất đi ý nghĩa và biến thành độc dược thạch tín
Khi móng tay kẻ xâm lược hóa thành vuốt nhọn
Khi những bạn cũ vội vã lao vào cuộc tàn sát
Khi ánh mắt kẻ chiến thắng hóa thành các quả đạn pháo đang nổ
Khi hàng giáo sĩ cầm búa lên và đóng đinh kẻ khác
Khi các quan chức mở toang cửa đón kẻ thù
Khi bước chân của dân miền núi nặng trĩu tựa voi rừng
Khi hoa hồng chỉ còn mọc nơi nghĩa địa
Khi chúng ăn gan người Palestine ngay cả khi các anh chưa trút hơi thở cuối cùng
Khi chính mặt trời cũng chẳng còn mục đích nào khác ngoài việc trở thành một tấm vải liệm
thì dòng thác nhân loại vẫn cứ tiếp bước...
(ngưng trích)

Để có thể hình dung nỗi đau đớn trong các cuộc nội chiến ở ebanon, chúng ta có thể nói về nhà thơ Khalil Hawi (1919-1982): ba ngày sau khi chứng kiến quân Israel xâm lược Lebanon và sự bất lực của thế giới Ả Rập, nhà thơ đã tự sát ngay trên ban công nhà mình tại Beirut như một lời phản kháng cuối cùng đầy bi tráng.
Wikipedia ghi rằng Khalil Hawi lớn lên tại Shwayr, Lebanon. Ông học triết học và văn học Ả Rập tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut (AUB), nơi ông nhận bằng Nghệ thuật vào năm 1955. Sau vài năm giảng dạy, ông nhận được học bổng để theo học tại Đại học Cambridge (Anh), và tại đây ông được trao bằng Tiến sĩ vào năm 1959. Sau đó, ông trở thành giáo sư văn học Ả Rập tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut. Thơ của ông sử dụng đậm đặc các biểu tượng, ẩn dụ và hình ảnh, đồng thời thường mang những âm hưởng chính trị và xã hội sâu sắc. Là một người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập từ tận đáy lòng, ông nhiều lần bày tỏ nỗi hổ thẹn và sự phẫn nộ trước việc đánh mất Palestine vào năm 1948, cũng như trước những thất bại liên tiếp của khối Ả Rập dưới tay Israel sau đó. Ông vô cùng phẫn nộ khi Lebanon bất lực trong việc chống trả quân đội Israel tới xâm lược vào ngày 3 tháng 6/1982. Ông đã tự kết liễu đời mình vào ngày 6 tháng 6 năm 1982.
Một bài thơ Khalil Hawi để lại có tựa đề "Lebanon" và chỉ vài dòng:
Chúng ta như các bức tường đối diện nhau
Thật đau đớn khi cất lời
Thật đau đớn khi cảm nhận cách xa
Nghẹt thở giữa bi kịch
Thật đau đớn khi cất lời.
PTH 

Saturday, May 9, 2026

GIAI ĐIỆU TỪ CƠN MƠ – Theme from a Dream (*)

Vũ Hoàng Thư
tản mạn
 
Al Hirt. Theme from a dream
 
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
 
Tiếng trumpet của Al Hirt “Theme from a Dream” vọng lại một trưa tháng 5, mơ màng như một giấc mơ đang tan. Cái gì đọng lại sau một cơn mơ nhỉ? Một chốn cũ, một thời đã qua? Tiếng kèn cất lên mồn một, đưa dẫn những bước chân vô định trở về quá khứ. Bản nhạc không lời nên không có câu chuyện kể. Chỉ âm nhạc dập dồn luống nhớ. Như một luồng gió thổi qua, hồi tưởng ngất ngây rồi bay mất. Chớp nhoáng như một ánh mắt, như vệt nắng đậu hờ bờ tóc đã không còn. Như tiếng guốc cuối hành lang và hương tóc ngậm hờn gió biển. Có phải giai điệu từ cơn mơ là những khoảnh khắc ấy? Theme from a Dream?
 
Thế nào là Theme from a dream? Có thật giấc mơ diễn biến theo một sắp đặt từ đời sống? Rất có thể. Cuối cùng những hoạt cảnh trong đời sống của chúng ta là gì? Những giấc mơ tiếp tục từ phóng cảnh này sang góc thấy khác. Có chăng ta trở thành người quan sát trong giấc mơ. Mọi sự xoay chiều. Có lúc ta làm chủ tình hình, có lúc ta bị lôi cuốn y hệt như dòng đời trôi nổi lúc mở mắt. Trang Tử thấy con bướm trong giấc mơ. Có thể là thật sự có một giấc mơ về con bướm. Nhưng khi con bướm đi ra khỏi giấc mơ nó tạo những mối tư lự. Từ đó có sự so sánh, từ đó có phân biệt và ta cuốn hút mãi trong thế giới của chính mình. Mọi sự nảy sinh từ ý niệm. Tôi suy tư nên tôi hiện hữu như là điều tất yếu, Descartes nói thế.
 
Có một bài thơ của Hoàng Chân Y (Hwang Jin-yi, 1506-1544) khá thú vị ở chỗ cô nói về mơ ước ngay trong cơn mơ, mộng trung hữu mộng. Hwang Jin-yi là một gisaeng (kỹ nữ) nổi tiếng nhất thời vua Trung Tông (Jungjong), triều đại Joseon Đại Hàn. Nàng còn có kỹ danh là Myeongwol, Minh Nguyệt. Nàng rất đẹp, thông minh và trí tuệ phi thường. Nói đến Minh Nguyệt không thể không nhớ đến nàng Thúy của Đoạn Trường Tân Thanh, mai cốt cách tuyết tinh thần.
Gisaeng là một giai cấp được huấn luyện từ nhỏ về cầm kỳ thi họa để khi lớn lên phục vụ giai cấp thượng lưu và quan lại thời xưa ở Triều Tiên. Gisaeng tương đương như geisha ở Nhật. Gần đây Đại Hàn, Nam cũng như Bắc, đều có phim ảnh, phim bộ nổi tiếng về cuộc đời của bà do nữ tài tử Song Hye Kyo diễn.
Hoàng Chân Y mộng như thế này,
 
Tương tư mộng
Tương tư tương kiến chỉ bằng mộng    
Nông phỏng hoan thời hoan phỏng nông   
Nguyện sử dao dao tha dạ mộng
Nhất thời đồng tác lộ trung phùng
 
Dịch nghĩa :
Nhớ nhau gặp nhau chỉ bằng mộng
Ta bắt chước người yêu cùng một lúc người cũng làm theo giống ta
Ước cùng nhau chạy nhanh vào mộng
Để cùng lúc gặp nhau giữa đường trong mộng
 
Nhớ người từ mộng
Nhớ nhau tìm gặp chỉ trong mơ
Ta ngóng theo người, người cũng chờ
Cùng bước thênh thang trôi đêm mộng
Mê lộ trùng phùng giữa bước mơ
(Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)
 
Đang nói về mộng lại vừa hay tin nhà thơ Phạm Thiên Thư đã vĩnh viễn ra đi. Không gì trùng hợp hơn! “Ngày xưa” trong ngày xưa hoàng thị của ông Phạm không phải là mốc thời gian mà chính là một cõi mộng. Mộng của lá me, sân trường, áo trắng, chuông chùa, mùa thu, cỏ hoang… Tất cả vừa rất thật vừa rất xa. Thơ Phạm Thiên Thư nối Tình cùng Đạo. Không nói cao siêu về lẽ đạo nhưng bàng bạc chất vô thường của trần gian. Hoa vui cùng bướm qua xuân rồi hạ, rụng xuống khi gió heo may về, em vào nằm trong đất để bướm khua râu. (**) “Hỡi em ơi, mây đã qua cầu”! Như giấc mộng đấy chứ! Như vòng xích thành, trụ, hoại, không của kiếp nhân sinh.  “Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng”, người thơ đã thật sự bước vào cõi mộng hoa vàng. Xin đốt nén trầm, nghiêng mình cùng hương khói đưa tiễn ông, một tài hoa hiếm hoi, trác tuyệt của thi ca Việt!
 
Lại nhớ đến những đêm khuya đối ẩm cùng người bạn Lê Lạc Giao, anh ngồi gục đầu, thỉnh thoảng ghé ly rượu vào tai. Anh bảo chỉ có thính giác mới nhận biết những lời trầm lắng của men. Chúng ta, cõi người, anh nói, “là những dạt trôi tìm một bến bờ vô định”.
 
Ừ những cơn mộng, những dạt trôi, vô bờ...
 
VŨ HOÀNG THƯ
May 7, 2026.
-----------------------------
(*) “Theme from a Dream”, Al Hirt, Honey in the Horn, 1963
https://www.youtube.com/watch?v=m7eMMlV5GyI
 
(**) “Em lễ chùa này”, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy
 

  

Friday, May 8, 2026

PHẠM THIÊN THƯ. CAFE ÂM U

Lê Chiều Giang
                                   
                                  
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
 
                                                                                   “...Cõi người có bao nhiêu
                                                                                       Mà tình sầu vô lượng…”
                                                                                                     [PhạmThiênThư]
 
Khi bay tới Havana, tôi không ở tại thành phố có những kiến trúc nửa cổ điển, nửa tân kỳ. Những hào nhoáng của vài building, cố gắng hết sức để từa tựa như White House hay Toà Nhà Quốc Hội ở Washington DC.
Đáp chuyến xe lửa ầm ĩ, còn nguyên những trăm năm của một chuyến tàu vừa chậm chạp, vừa cũ kỹ. Từ Havana tôi ghé Matanzas Town.
Loanh quanh trong những xóm nghèo, tôi tìm ra con phố bé xíu, nơi tôi hỏi thuê một căn phòng nhỏ, chẳng có chút tiện nghi nào.
Tiện nghi? Có phải đã chẳng đâu bằng nước Mỹ, nhất lại là California...
Khi đến với Cuba, tôi mê những heo hắt, những nắng tàn mưa sớm, cùng sự quạnh hiu của mỗi đêm về, trong những khu xóm nghèo nàn của phố nhỏ Mantanzas.
Chiều chiều, tôi hay ngồi cafe ở một quán nhỏ ngoài trời. Dựa lưng bên tường vôi loang lở, nhìn những vũng nước chẻ đôi chẻ ba trên nền gạch vừa nghiêng chao, vừa như sắp vỡ.
Tôi ngồi đó tới tối, chờ khi ánh đèn măng xông thắp sáng. Cái ánh sáng không tối, cũng chẳng bao giờ đủ sáng, hắt ra từ cái xóm lạ mà như đã rọi soi, đã theo tôi tìm về chút tàn rơi, của một đời sống từ những tháng ngày vô cùng xưa cũ…
 
-----------
 
Ôm ấp nhiều mơ màng, tuổi 15, 17 tôi mang thơ Phạm Thiên Thư rải trên tóc thơm tho, viết trong tà áo trắng.
 
“...Anh khoác áo nâu sòng
Em chân trời biền biệt…
 
...Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông…”
                       [PhạmThiênThư]
 
Và rồi khi đất nước điêu linh năm 1975. Những thơ, những văn chương chữ nghĩa đã rụng rơi theo mọi thứ hoang tàn, của một quê hương lầm than với đầy những tai ương và điên đảo.
 
Lần đầu tiên anh đến nhà chúng tôi ở Cư xá Thanh Đa, Phạm Thiên Thư chẳng mang dáng vẻ gì của một Thi sĩ như tôi từng tưởng tượng qua những vần thơ hằng đọc thời thiếu nữ. Anh cũng chẳng màng gì̀ nữa đến chuyện thi ca, văn chương hay thơ phú.
Nghiêu Đề và Phạm Thiên Thư, hai nhân vật sống vất vưởng trên mây, giờ phải ngồi giữa nhà, bàn chuyện cơm áo. Đó là những tháng ngày của đầu năm 1977.
Anh nói với giọng điềm đạm, chậm rãi. Chú chó nhỏ của tôi nằm bên bàn tay ve vuốt của Anh mà lim dim như sắp ngủ.
“CON CHÓ LIÊM SỈ”, tên mới anh Nghiêu Đề đặt, khi qua đã nhiều ngày mà nó nhất định không ăn bo bo, mì sợi, khoai sắn, như chúng tôi đã phải ăn mọi sáng, mọi trưa và
chiều tối.
Nó có liêm sỉ hơn chúng tôi, nó quyết liệt, nó thà nhịn đói, nó thà chết...
 
----------
 
Phạm Thiên Thư giận dữ với câu chửi thề hiếm hoi, quăng hộp diêm mà dù cố gắng lắm, cũng chẳng có que nào cháy, vô lò than. Loại than mà không phải riêng anh, cả nước đã không ai nhóm nổi. Có lần tôi đã phải đầm đìa nước mắt vì khói và với cả tức giận, vì sau 2 tiếng loay hoay, tôi cũng không biết làm sao cho than cháy trước bữa cơm chiều.
 
“Quán” Cafe mà luôn chỉ có 2 người. Anh Nghiêu Đề và tôi.
Một ông yêu thơ Phạm Thiên Thư, có căn nhà trên đường Phan Thanh Giản, tốt bụng cho Anh Chị kê 2 chiếc bàn nhỏ bên góc hiên nhà để bán cafe, đặc biệt là chỉ được bán buổi chiều, sau 5 giờ.
Quán không có điện, chút ánh sáng vật vờ từ những ngọn đèn đường, không đủ cho chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Nhờ chút ánh lửa từ lò than rực rỡ, có khi đã làm cho đêm bớt tối tăm, và như đã sưởi ấm bốn người chúng tôi, nhỏ to quanh những câu chuyện mà ai cũng chỉ dám thì thào, nho nhỏ...
Khởi đầu cho những tiếng cười, luôn là lúc anh Nghiêu Đề quăng gói Vàm Cỏ trên bàn mời mọc: “Hút đi ông, hút đại đi cho nó… bổ”.
Mỗi tháng, “Văn nghệ sĩ” được mua 4 gói thuốc lá, anh Phạm Thiên Thư phải để dành Vàm Cỏ để bán lẻ cho khách, anh chỉ hút thuốc “lá đu đủ Lạng Sơn”. Rất chậm rãi, và lặng lẽ, anh quấn những sợi thuốc lá trong tờ giấy lịch, hình ảnh trông hiền lành, lại có chút gì như sắp cam tâm.
Để ý, tôi thấy anh chỉ sôi nổi khi bàn về ‘Dưỡng Sinh Điển Công”, một môn Đông Y mà sau 1975 rất nhiều người theo học, vì cả nước có nhu cầu mà chẳng bao giờ được đầy đủ thuốc men.
Bạn bè thường nhờ anh hướng dẫn về thuốc Nam, nhân tiện anh giúp bấm huyệt cho hết nhức mỏi, đau tứ chi, hay cả đau đầu...
Có khi tôi thấy anh có tướng của một ông thày bốc thuốc hơn là một Thi sĩ. Tôi đã dần quên đi một Phạm Thiên Thư có những vần thơ trác tuyệt, một Phạm Thiên Thư đã mang đầy hương lửa bay theo gió thơm tho, tỏa hương vào giấy vở học trò thơ mộng của chúng tôi.
Thay vào đó, chị Mai Trinh, hiền thê của anh nhẩn nha đọc thơ của chị như một lời giải bày buồn bã:
 
“...Ta với người giữa dâu bể mênh mông
Ta với người đã hơn là như thế
Mới hiểu trái tim hồi chuông tắt lửa
Suốt đời nhau rên rỉ điệu cầu hồn…”
[Mai Trinh]
 
 Với đôi mắt long lanh sáng, bên bếp lửa Cafe, chúng tôi thường được nghe chị đọc những vần thơ đẹp như trăng như sao …
 
 Cafe Phạm Thiên Thư vắng tanh, với những im lìm, dù quán chỉ xao xác với 2 chiếc bàn.
Thỉnh thoảngThi sĩ Bùi Giáng, vai khoác chiếc túi rách tả tơi, tay kéo theo sợi giây dài có gắn rất nhiều lon sữa bò sét rỉ. Với vẻ mặt hóm hỉnh, Ông nghênh ngang tới ngồi ở chiếc bàn còn lại, thở lấy thở để và hít hà mùi khô khét của khói than.
Tiếng kêu của những lon sữa kéo lê, khi chầm chậm, lúc vội vã trên nền ciment, tạo ra một âm thanh vừa kỳ quái, vừa dễ sợ. Cộng thêm là tiếng cười man dại, đầy cuồng điên của Bùi Giáng…
 
Nhưng đó là những âm thanh, những lao xao duy nhất của Cafe Âm U.
 
-------------
 
Tôi uống tới ly cafe thứ 4, trong buổi chiều cuối cùng ngồi với Cuba.
Mưa lất phất lạnh, tôi vẫn dựa lưng trên vách ướt ngoài trời, vẫn ngó mông xa ra con hẻm nhỏ có những mái nhà hoang sơ ướt.
Chủ quán múa tay cho tôi hiểu phố xá đang bị cúp điện. Bà muốn tôi vô trong ngồi cho ấm áp..
Hơ đôi tay lạnh, tôi nhìn ngọn lửa đỏ chấp chới trong bếp nấu cafe.
Ánh lửa làm bùng cháy nỗi nhớ của tôi về quán cafe tăm tối của Phạm Thiên Thư 40 năm về trước. Cái quán mà bàn ghế cũng quạnh hiu, chỉ có 4 chúng tôi buồn rầu ngồi thở than cùng ế ẩm. Cafe âm u tối, Cafe với những mưa bay, và gió se sắt lạnh của Sài Gòn.
 
“Quán cúp điện” ở tận Cuba, mà sao tôi lại thiết tha nhớ về những con đường tăm tối, những ngày Sàigon, nhiều khi ánh điện đã chẳng tới được bất cứ nhà ai?
Đêm đó, cũng như mọi đêm không đèn đóm. Cafe Phạm Thiên Thư ngoài ánh lửa, còn có chút trăng soi.
Trăng nghiêng trên tóc anh, và lần đầu tiên chúng tôi nghe anh thầm thì, lan man đọc lại những vần thơ cũ.
 
“Xưa em làm kiếp chim
Chết mục trên đường cỏ
Anh làm cội băng mai
Để tang em mấy thuở
 
Xưa em làm chữ biếc
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là Thiền Sư buồn
Ngồi tụng dưới ánh trăng…”
[Phạm Thiên Thư]
 
Rời Cuba khi trời còn mờ mờ tối, quán Cafe tôi hay ngồi vẫn chưa mở cửa.
Phía trước tôi, là một ông Cuban. Trong ánh sáng mù câm, tôi chẳng thấy gì, chỉ nghe tiếng rớt rơi của những chiếc lon, mà Ông đang quăng ra từ vài đống rác nhỏ ven đường.
Chút lúng túng của những tiếng rơi, sao tôi nghe như nhiều gần gũi?
Suốt chuyến bay dài, tôi đã chẳng nghe thấy gì khác. Bên tai tôi là vang vọng cái âm thanh lạ kỳ...
Âm thanh từ chuỗi những chiếc lon được kéo rất ngập ngừng, nhưng lê thê buồn của Bùi Giáng.
LÊ CHIỀU GIANG
[ Trích Không Đứng Mãi Trong Tranh]