Chúc mừng bạn ta
Monday, July 27, 2026
ĐÊM ĐỌC THƠ & HÁT THƠ Ở DALLAS 10.7.2011
Đêm Bên Hồ Irving với Nguyễn
Xuân Phước,
Hoàng Đình Bình, Nghĩa Bùi,
Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc,
Trương Vũ, Đinh Yên Thảo, Nguyễn Xuân
Thiệp…
Xin bấm vào Link để xem
https://www.youtube.com/watch?v=881ZUQ1KLRQ
Monday, July 20, 2026
XÓM CHUỒNG BÒ NGÀY XƯA
TỐ
NGHI
Xóm nhỏ ngày
xưa. Tranh màu nước
Xóm chuồng bò có quán hớt tóc
Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh,
tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi
chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn
viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh (Phan tấn Hải)
Nhưng chợ chuồng bò lại tuốt bùng binh Ngã bảy lận. Hổng hiểu rồi
dân trong xóm chợ búa ở đâu?
Ngã bảy là nơi giao thoa của 4 con đường: 1 ngã của đường Bà hạt.
Lý thái tổ, Minh mạng, Petrus ký mỗi đường 2 ngã do bị cái bùng binh cắt đôi.
Tổng cộng 7 ngã cả thảy.
Gần ngã bảy, có một đường đất nhỏ trổ ra Lý thái tổ, nơi có chợ
chuồng bò. Chợ nhóm mỗi bữa, ngay cả cuối tuần. Thời xa xăm ấy, cuối tuần chỉ
mỗi ngày chúa nhựt thôi, thứ bảy vẫn đi làm. Sau này, luật lao động đã cho thêm
thứ bảy để thợ thuyền đủ thời giờ nghỉ ngơi.
Chợ chuồng bò vốn "tự phát" và "dã chiến".
Thoạt tiên chỉ là những gánh hàng rong bán sớm cho dân lao động lẫn đám bàn
giấy tép riu, mang loong hộp hay gàu mên tới mua trước giờ tới sở. Chợ từ từ
tấn lên, cả phẩm lẫn lượng, người mua lẫn người bán, thực phẩm nấu sẵn lẫn thực
phẩm còn sống sít, rau trái thịt cá ê hề.
Rồi upgrade thành chợ thiệt. nhưng chỉ họp từ sáng tới quá trưa là
tan. Tờ mờ sáng, hàng họ được gánh hay bưng tới chợ, giữ nguyên trong rổ trong
quang, hay bày trên một tấm bạt. Xong từ từ thích nghi, vài mảnh gỗ vuông và
vài chiếc ghế gấp (thấp và nhỏ) mang theo ra chợ để dựng sạp dã chiến, tan chợ
sẽ mang dìa.
Rồi bán buôn upgrade thêm nữa, hàng hóa vật liệu ra chợ bằng xe
cút-kít. Cút kít là xe gỗ chữ nhựt, thấp nhỏ thiếu mui, có 4 bánh xe tí hon,
ngay giữa sàn xe trước có một cái càng dài, nắm vào rồi kéo cho xe lăn đi - nó
là tiền thân của xe cút đồ chơi trẻ con bây giờ có lẽ -
Hổng có màn thu thuế đóng thuế chi ráo, đất họp chợ vốn là đất
công cộng nên thiếu chủ chợ, mạnh ai nấy "tự biên tự diễn" và tự
thích nghi.
Rồi thì... dọc trên lề đường Lý thái tổ tại khúc chợ này, từ từ
mọc thêm những sạp vải nhỏ. Thoạt tiên là sạp dã chiến, ráp vào tháo ra mỗi
bữa. Rồi lâu lâu cứ để nguyên sạp lợi một bữa coi sao. Do đã hổng sao ráo, nên
tỉnh bơ để luôn lại cho gọn.
Nền sạp cao cỡ nửa thước, có mái che lợp tôn và 4 cột chống. Hai
mặt bên của sạp là các mảnh gỗ ngắn và nhỏ, xếp chồng cách khoảng đều đặn thành
nhiều tầng (3 4), làm ngăn chứa vải. Vải hoặc cắt sẵn, hoặc còn cuộn trong cây
vải, được xếp lên tầng chứa.
Mặt trước mặt sau sạp để trống, là chỗ khách mua đứng chọn hàng,
chỗ người bán leo vô ngồi "tiếp thị" - lóng rày chữ nghĩa đỉnh cao
nhuyễn nhừ heng - Sớm mơi, xe cút kít mang vải tới, chỉều tan chợ chở vải về.
Đang buôn bán mà trời đổ mưa, người bán phải mang bạt che hết 4
bên, móc bạt vô đám đinh sát nóc sạp để mưa đừng hắt ướt.
Ngồi trong sạp, nghe tiếng mưa tí tách trên nóc, nghe hạt mưa theo
gió tạt vào bạt - và còn cả sấm chớp - tưởng như một khúc nhã nhạc thiên nhiên
êm đềm.
*
Đối diện đám sạp vải bên kia đường Lý thái tổ, là Tổng liên đoàn
lao động VN của ông Trần quốc Bửu, nơi hội họp toàn thể các nghiệp đoàn
(syndicats) lao động toàn quốc. Khi này Mặt trận giải phóng miền nam chưa có,
Bất đồng giữa chủ thợ, giữa "quần chúng nhơn dân" với chánh quyền,
nếu có thường chỉ nhó, và luôn luôn giàn xếp ổn thoả... mãi cho tới đầu thập
niên 60.
Qua khỏi chợ chuồng bò, qua luôn Lý thái tổ, đường Bà hạt đất bụi
thay hình đổi dạng thành đường đá sỏi rộng sạch, dẫn thẳng tới rạp hát Thành
chung rồi tới chợ Vườn lài.
Một bận tui theo tía má ra đây coi tuồng nhựt bổn "Hoa lạc
giữa rừng gươm". Ngó lõ mắt hổng thấy vườn, cũng hổng thấy hoa. Dám chừng
khu vườn trổng lài nay đã "thương hải biến vi tang điền", thay bằng
những nhà những xóm lao động. Dân xóm rảnh rang ghé rạp Thành chung coi phim
nhựt phim tàu và cả phim ca vũ nhạc ấn độ !
Rồi... khi đó gia đình tui ở đâu mà rành rẽ khúc này vậy hở ? Thưa
ở trong một con hẻm lao động nhỏ ở đường Lý thái tổ cùng bên chợ chuống bò,
giữa bùng binh ngã bảy và đường Sư Vạn hạnh - mải mê chọi long bắn bi đá dế với
bạn tri kỷ Thông giới, một chú tiểu nhỏ tu hành ở chùa sát bên - Đầu hẻm có
trường dạy lái xe Thăng long của một cặp bắc kỳ 54 gốc hà nội.
Đây là khoảng thời gian êm đềm nhứt của thời thơ ấu, được tía má
giữ lợi học ở nhà - vì ngu si mê muội mà phá phách vàn trời mây, nên lâu lâu
bị... đuổi học một bận!
*
Lý thái tổ là đại lộ lớn thời ấy, một trong vài huyết mạch giao
thông quan trọng thành phố, có bịnh viện nhi đồng lớn với cửa hông trái trổ ra
Sư Vạn Hạnh. Cả Sư vạn hạnh lẫn Bà Hạt xiên xiên cong cong, rồi chạm nhau tại khúc
rạp Thành chung.
Nếu đi tiếp Lý thái tổ sẽ đụng trại lính hiến binh quốc gia (với
đoàn quân khuyển G9), lề bên kia là nhà thờ Ngã bảy. Qua khỏi nhà thờ sẽ...
teng teng teng tèng... đụng quán Tàu bay, chuyên trị phở bắc 54 còn gin - trong
nghĩa chưa xì cúc theo vị giác nam kỳ sau này, phở có giá sống và cả rau dấp cá
-
Đi chút xíu nữa sẽ đụng ngã ba Lý thái Tổ-Nguyễn tri phương - ngã
ba biến thành ngã tư sau này, khi Nguyễn tri Phương có thêm khúc nối dài, dẫn
luôn tới đường Tô hiến thành Hoà hưng -
Gần ngã ba ngã tư nọ, chiều chiều xe máy xe đạp đậu san sát, nhiều
tới nỗi sau này đã có dịch vụ giữ xe cho khách. Đây là chỗ ăn hàng nhậu nhẹt
"tự phát". Ghế bàn mi-ca nhỏ và thấp được xếp sẵn từ giấc xế trưa.
Thức ăn ê hề đủ món tha hồ gọi, nhưng nổi tiếng nhứt là món nghêu luộc.
Nghêu bưng ra bàn cho khách hổng chứa bằng dĩa bằng tô, nhưng bằng
rổ bằng thau. Khách cầm con dao nhỏ nạy nghêu (những con nghêu lì lợm nhứt định
tử chiến với nưóc nóng trong nồi) rồi dùng nĩa khều thịt ra, chấm nước mắm gừng
chua ngọt.
Và đã có những thực khách sừng sỏ, hổng theo cách này. Khách dùng
tay bẻ đôi con nghêu, dục bớt nửa vỏ, rồi cầm phần vỏ có thịt nhúng thẳng vô tô
nước chấm, xong đưa lên miệng, ngửa cổ gọn lẹ hút chụt một cái vô họng. Hỏi sao
hổng ăn bằng dao bằng nĩa cho lịch sự thanh cảnh con nhà, rồi nghe trả lời
rằng, ăn kiểu đó khi mô mới hết được thau nghêu - Cũng bởi nó phái ăn mình ên,
vì bạn nó nhỏ lớn chưa từng ăn hàng đầu đường góc chợ bao giờ.
Đớp hít no nê rồi, mới tà tà tiến xa hơn, tới bùng binh gần đại
học xá Minh mạng, kêu đậu đỏ bánh lọt, sâm bổ lượng, nước mía ép hay sinh tố
xay uống cầm hơi. Chừng về nhà y phép bỏ cơm vì... "bữa nay học nhiều mệt
quá nuốt hết vô, phải lên giường ngủ sớm dưỡng sức"!
Dà, chạy xe đạp lòng vòng từ chợ chuồng bò qua tới quán nghêu,
cũng bởi khoảng cách không gian quá ngắn. Chớ còn "trường sơn đông-trường
sơn tây" là khỏi. Xe gắn máy hổng xong, nói chi tới xe đạp!
TỐ NGHI
Sunday, July 12, 2026
GIỚI THIỆU BÀI THƠ CỦA NỮ SĨ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Ngu
Yên
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh
Minh. Đinh Cường vẽ
(Trích
trong tập thơ “duyên. lê chiều giang. nguyễn thị khánh minh. 2025. Văn học
Press.)
“NÓI
NHỎ” là một bài thơ tình, nhưng nó không được xây dựng như một lời tỏ tình hay
một lời ca ngợi người yêu. Nó được dựng như một lời khẩn cầu lặp đi lặp lại, gần
với một lời kinh hơn là một bài tình ca. Mỗi khổ thơ gồm ba câu theo cùng một
khuôn: có lời xin, rồi ba chữ “vì em sợ,” rồi sợ điều gì?. Suốt
chín khổ, cái khuôn ấy không đổi, chỉ có nỗi sợ, mỗi lần sợ khác nhau.
Bài
thơ này có sức thu hút như một lời cầu
nguyện chống lại bóng tối, trong đó người yêu được mời tới để giữ lấy ánh sáng;
điều sâu nhất của bài thơ là ở dòng cuối, khi nó phát hiện ra rằng cái đêm cầu
nguyện để chống lại, hóa ra, nằm ngay trong chính người cầu nguyện.
Bạn
đọc thử bài thơ này, ít nhất ba lần, trước khi đọc tiếp lời giới thiệu của tôi.
Nói Nhỏ
Hãy ngồi gần cho em nói nhỏ
Vì
em sợ
Tiếng
ồn ào sẽ làm nên khoảng cách
Hãy
ngồi sát hơn cho em nghe nhịp sống
Vì
em sợ
Khoảnh
cách xa dần của hơi thở
Hãy giữ em đừng để em trôi đi
Vì em sợ
Mùa chạm vào khắc nghiệt của thời gian
Hãy đọc cho em lời thơ cuộn chảy dòng
sông
Vì em sợ
Cây tháng ngày mình không còn xanh thảo
mộc
Hãy nhìn em cho em thấy ánh nắng
Vì em sợ
Bóng tối sẽ nuốt chửng những giấc mơ
Hãy mở cho em giấc mơ bình an
Vì em sợ
Cơn bão của mộng dữ sẽ làm đau lời
tình tự
Hãy bay cùng em vào mầu xanh bầu trời
Vì em sợ
Bóng cột em vào u hoài nỗi đợi
Hãy nắm bàn tay cho em nghe hơi ấm
Vì em sợ
Nỗi hoang vắng của tấm lòng không ánh
lửa
Hãy giữ ánh sáng
Soi gần lại bóng chúng ta
Vì em sợ
Đêm trong em
Bạn gọi đây là
thể thơ ba hàng, và đúng là mỗi khổ xoay quanh một bộ ba: lời xin, câu vì em sợ,
và nỗi sợ. Nhưng cần nói cho chính xác về cái thể này. Đây không phải một thể
ba dòng có niêm luật như haiku hay như tercet có vần; nó là một bộ ba tu từ, một
khuôn cú pháp và cảm xúc lặp lại. Cái giữ nó lại với nhau không phải vần hay nhịp,
mà là cái hình dáng được lặp. Sợ là dòng chảy chở ngôn ngữ, tứ và hình. Nhưng
xem chừng ý nghĩa mặt bên dưới.
Cái hình thức ba câu làm một việc tinh xảo: nó hàn dính
tình yêu vào nỗi sợ, như một tam đoạn luận, mỗi tiền đề đều có kết đề: vì em sợ,
để mở ra những nỗi sợ có khả năng đồng cảm một cách thẩm mỹ.
Tâm lý: tình yêu mọc lên từ nỗi sợ
Đây là chỗ đáng chú ý nhất về mặt tâm lý. Cả bài thơ chạy
bằng nỗi sợ. Chín lần vì em sợ là chín lần một ham muốn được định nghĩa bằng
cái nỗi sợ mà nó đáp lại. Người nói không xin một điều gì như một mong muốn;
nàng xin nó như một sự phòng vệ trước một nỗi kinh dị của tình và đời.
Đây là một tâm lý của sự bất an trong gắn bó. Cái nhu cầu
được gần, được giữ, được nắm tay, được nhìn, tất cả đều mọc lên từ nỗi khiếp
cái xa, cái mất, cái lạnh. Tình yêu, ở đây, không phải một niềm vui mà là một
mái che dựng lên chống lại cái sợ. Người nói tự phơi cái yếu đuối của mình ra
không che giấu, đó vừa là sức mạnh vừa là chỗ yếu của bài thơ, như ta sẽ bàn tới.
Hành trình của nỗi sợ: từ ngoài vào
trong
Nếu chỉ có chín nỗi sợ rời rạc thì bài thơ đã thành một bản
kê khai. Cái cứu nó là cái thứ tự của những nỗi sợ, một hành trình đi từ ngoài
vào trong.
Những
khổ đầu, nỗi sợ còn ở ngoài và ở giữa hai người: tiếng ồn làm nên khoảng cách,
hơi thở xa dần. Rồi nỗi sợ chuyển sang thời gian và sự tàn phai: mùa chạm vào sự
khắc nghiệt của thời gian, và một hình ảnh đẹp, cây tháng ngày mình không còn
xanh thảo mộc. Rồi nó chuyển vào giấc mơ và cõi tâm: bóng tối nuốt chửng những
giấc mơ, cơn bão của mộng dữ. Rồi vào sâu hơn nữa, vào cái cô quạnh bên trong:
tấm lòng không ánh lửa. Và cuối cùng, dồn lại thành hai chữ, đêm trong em.
Cái
chuyển động ấy là hướng tâm, từ ngoài vào trong, từ nỗi sợ mất người khác tới nỗi
sợ cái bóng tối trong chính mình. Và dòng cuối hé lộ rằng tất cả những nỗi sợ
bên ngoài kia, rốt cuộc, chỉ là những hình chiếu của một cái đêm nội tâm. Đây
là cấu trúc sâu nhất của bài thơ. Cấu trúc là điểm mạnh của Nói Nhỏ, là một
trong ưu điểm mà Cấu trúc luận hướng tới.
Vị
trí người nữ: yếu trong lòng, chủ trong lời
Nhìn
bề mặt, người nữ ở đây đứng đúng cái vị trí truyền thống của phái nữ trong tình
yêu: nàng xin, nàng sợ, nàng cần, nàng nhờ người kia ngồi gần, giữ lấy, đọc thơ
cho nghe, nắm tay, giữ ánh sáng. Nàng là kẻ cần được che chở, được sưởi, được cứu
khỏi bóng tối. Đọc thế thì đây là người nữ thụ động, lệ thuộc, chờ người đàn
ông mang lại an toàn và ánh sáng. Một người thuần túy Việt nữ.
Nhưng
có một dòng ngầm chảy ngược lại, và nó làm cái đọc trên phức tạp hơn. Hãy để ý
cái kinh tế của bài thơ. Người nữ là kẻ duy nhất cất tiếng. Toàn bộ bài thơ là
những mệnh lệnh thức của nàng, hãy thế này, hãy thế kia. Người đàn ông không hề
nói một lời, không hề hiện ra, chỉ tồn tại như cái đích nhận lấy những lời xin
của nàng. Nghĩa là trong cái thế giới của bài thơ, người nữ nắm trọn cái quyền
của tiếng nói; nàng là chủ ngữ, là kẻ điều khiển, là kẻ định ra tình yêu phải
làm những gì. Người đàn ông là một chức năng của nhu cầu nàng, một kẻ được gọi
tới để giữ ánh sáng. Nàng lệ thuộc trong nội dung, nhưng làm chủ trong hình thức;
nàng yếu trong lòng, nhưng chủ trong lời.
Cái
tựa nói nhỏ càng làm rõ điều ấy. Tiếng nàng là tiếng thì thầm, nhỏ, gần như bí
mật. Nhưng nó vẫn là tiếng nói, và nàng đòi được nghe, đòi người kia ngồi gần lại
đủ để nghe được cái tiếng nhỏ nhất của mình. Cái nhỏ ở đây không phải sự im lặng;
nó là một đòi hỏi, đòi cả thế giới lặng xuống và xích lại để cái giọng khẽ của
nàng được ghi nhận. Có một quyền lực trong cái sự nhất quyết được nghe ở mức một
lời thì thầm. Đây là cách người nữ Việt sử dụng để “điều khiển” đàn ông. Nhỏ nhẹ,
thì thầm xin, cầu mà U Vương phải trả ngàn vàng cho nụ cười của Bao Tự.
Và
dòng cuối đẩy điều này tới tạn cùng. “Đêm trong em.” Cái
gì? Người đàn ông, với tất cả những lời xin gửi tới anh ta, rốt cuộc lại đứng
ngoài cái cảnh thật, vì cái cảnh thật là cái đêm nội tâm của nàng. Bài thơ, nói
cho cùng, không phải về anh ta; nó về cái đêm của nàng, với anh ta chỉ là cái
ánh sáng mà nàng triệu tới. Nội tâm của người nữ mới là cái xứ sở thật của bài
thơ. Đêm là gì trong nàng?
Bài thơ như một lời kinh
Chỗ bài thơ làm nên điều hay nhất: Một lời kinh cầu xin
được chở che khỏi cái đêm; nhưng tới dòng cuối, lời kinh ấy phát hiện ra rằng
cái đêm nằm bên trong chính kẻ đang cầu. Đêm trong em là chỗ mà không một đấng
nào, không một người yêu nào, chạm tới trọn vẹn được. Một lời nguyện chống lại
bóng tối, hóa ra, kết thúc bằng việc thú nhận bóng tối ở ngay trong người nguyện.
Đó là một đảo nghịch nhạy sâu, và nó nâng bài thơ lên khỏi một bài thơ bình thường,
thường xuyên kể lể trên mạng.
Điểm cần quan tâm
Thứ nhất là cái
kiến trúc có chủ đích: những nỗi sợ không bày bừa mà đi theo một hành trình từ
ngoài vào trong, dồn về đêm trong em, khiến cái điệp khúc có một đích đến và một
vòng cung tâm lý, chứ không chỉ là sự lặp. Vì em sợ trở thành bảng dẫn đường đi
vào một nơi, bất ngờ, tối.
Thứ hai là cái
nước đi hình thức ở cuối. Khổ chót bẻ gãy cái khuôn ba phần, tách lời xin làm
hai dòng rồi đáp xuống hai chữ đêm trong em. Cái khuôn được dựng đều suốt tám
khổ chính là để cho sự bẻ gãy ở khổ cuối rơi xuống cho trúng. Cho bất ngờ. Hình
thức nứt ra đúng chỗ tâm tình nứt ra. Đây là chỗ có sức sáng tạo.
Thứ ba là sự
thành thật của cảm xúc. Bài thơ phơi cái yếu đuối không che, hàn tình vào sợ,
và có gan kết thúc bằng cái đêm nội tâm thay vì bằng một lời trấn an dễ dãi.
Thứ tư là vài
hình ảnh tươi thật sự: cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc là một hình ảnh
thực vật lạ và đẹp về sự già đi; tấm lòng không ánh lửa biến trái tim thành một
lò sưởi đã nguội; và đêm trong em, giản dị nhất mà mạnh nhất, thu cả cái tối
bên ngoài vào trong.
Và sự quan tâm cũng nên nhìn mặt bên kia của ưu điểm.
Thứ nhất, bài
thơ dựa nhiều vào cặp đối lập sáng tối, ấm lạnh, gần xa, vốn là những cặp cổ mẫu,
và đôi chỗ trượt vào cái quen tay. Bóng tối nuốt chửng những giấc mơ, cơn bão của
mộng dữ, là những hình ảnh đã khá mòn. Bảng màu biểu tượng có chỗ đoán trước được.
Nhìn theo hình tượng của Eliot, không có nhiều hình mới, hình sắc và hình động
não.
Thứ hai, cái
thể ba câu ở đây là thể tu từ chứ không phải thể có nhạc tính. Nó dựa hết vào
điệp ngữ và hình ảnh, gần như không có vần, không có một nhịp đều, nên nó nghèo
về phần âm thanh; nó sống hay chết là nhờ hình ảnh và nhờ cái vòng cung cảm
xúc, chứ không nhờ tai. Với một bài thơ thì đó là một sự đánh đổi, được cái
thân mật mà mất cái du dương. Âm thanh của ngôn ngữ, không nhất thiết là vần điệu,
khi đọc lớn tiếng, sẽ gặp những chỗ vấp. Theo cái nhìn chủa chủ nghĩa Ấn tượng,
âmn thanh là ý nghĩa hoặc làm cho ý nghĩ đi vào lòng người, trơn.
Kết
Gói lại, Nói Nhỏ là một bài thơ có sự toàn vẹn về
cảm xúc, mà nước đi hay nhất là cái lật vào trong ở câu cuối. Sức mạnh là sự thành thật của cái yếu đuối và cái cấu
trúc lời kinh đáp xuống đúng ba chữ “đêm trong em.”
Một bài thơ mở ra bằng lời xin được ngồi gần để nói nhỏ,
và khép lại bằng việc hé cho thấy cái mà nàng sợ nhất không phải tiếng ồn,
không phải thời gian, không phải cái bóng bên ngoài, mà là cái đêm nàng mang
trong mình. Đó là một chỗ kết thành thật, cho cả bài thơ một sức nặng mà bình
an không có ở đó.
NGU YÊN
Saturday, July 11, 2026
16 BÀI THƠ HAIKU GỞI MƯA GIÓ MANG ĐI
Nguyễn Đức Nhân
Tranh
thơ Haiku
* Thân tặng Nguyễn Minh Nữu,"nhớ nhau nha"
1.
Con bướm nào nhịp cánh trong sương
trước sân chậu hoa nhỏ
vội vã đưa hương
2.
Chim đã bay rồi
vẫn còn nghe tiếng hót
trong
sâu thẳm hồn tôi
3.
Kìa
con sâu, con sâu, mọi người chỉ chỏ
dưới
ánh nắng ban mai, rập rờn con bướm nhỏ
trăm
mắt nhìn theo
4.
Con
nào khỏe đẹp đã cho qua nhà người
chỉ
còn con mèo xấu xí buồn giỡn với cái đuôi
nơi
xó nhà im vắng
5.
Vườn
cây mưa che phủ
gió
dìu cây khiêu vũ
mỗi
lần sấm chớp đẹp không ngờ
6.
Dừng
lại bên đường
nhìn
cánh hoa trắng nhỏ
lóng
lánh mặt trời, đại dương
7.
Ai
thở than trên gió
vườn
tôi dưới gió
những
đóa hoa nhỏ buồn lây
8.
Bạn
đi rồi
trên
chiếc ghế ấy
ánh
trăng khuya đến ngồi
9.
Nửa
đêm đổ mưa
vội
vàng khép cửa
thương
ai dặm trường
10.
Chịu
đựng quen rồi
em
có còn buồn tủi
hãy
nghiêng rót vào tôi
11.
Nhìn
trăng ngủ trên cành tre
hương
dạ lan thơm ngát
bệnh
cảm sốt giảm dần
12.
Nắng
dựng đứng hàng cau
Vườn
trưa chim cu gáy
vang vọng vào mai sau
13.
Trưa im vắng
tàu cau rơi
con chó nhỏ giật mình ngơ ngác sủa
14.
Xỏ chỉ, mắt lim dim
cả tâm hồn bà cụ
chui vào trôn kim
15.
giếng gạch bỏ hoang
đêm khuya, sâu thẳm bóng trăng vàng
ấy, tâm hồn tôi
16.
Khuya tĩnh lặng
trên chiếu thiền
ánh trăng đang nhập định
NĐN 2026
THƠ PHAN TẤN HẢI
Đá banh với bức tường
Đá banh từ ngày tuổi nhỏ
chơi với mấy bạn sân ga
mỗi lần xe lửa còi hụ
là tan trận để về nhà
cùng bạn dợt banh góc phố
tiếng la, tiếng hú, tiếng cười
vang dậy tháng năm rất nhớ
kỷ niệm theo khắp chân trời
rồi tới một thời lặng lẽ
ôm banh về góc phô xưa
còn mấy bức tường là bạn
dội banh qua lại ban trưa
bức tường không cần ghi điểm
thắng, thua là chuyện nắng mưa
bức tường không gôn, không lưới
chỉ là banh tới thì đưa
bức tường từ bi loang lổ
dội banh đưa lại chân người
âm vang không còn để nhớ
mặc cho theo gió mà trôi
thấy mình và banh là một
thấy tường banh dội không hai
không còi để ra khai cuộc
năm uẩn đã chạy sân ngoài
đêm về thắp đèn đọc sách
bốn mùa trên giấy trôi qua
banh theo chữ gầy như hạc
chép xuống lời ánh trăng tà
tôi ngồi, tôi nghe, tôi thấy
banh vẫn hiện ra khắp trời
bức tường là tâm bất động
là tâm vô tướng không lời
mắt tai mũi lưỡi thân ý
hện ra như huyễn như sương
banh tới bức tường như thị
không người, không banh, không tường
Banh lăn qua tuổi học trò
Banh lăn qua cỏ sân trường
làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo
đá cho chiều vướng trăng treo
đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem
Pele tới ngó ngoài hiên
hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.
Banh vây bốn phía vô chừng
ôm banh đi khắp phố phường so chân
chỗ nào hễ trống là sân
đá cho nắng hạ, mưa xuân lụi tàn
Messi cũng thấy kinh hoàng
nửa khuya co cẳng đá vàng tuổi thơ
Banh đi qua tuổi học trò
lăn theo đồi núi sông hồ biển xa
sút một cú, trời mưa hoa
cúng dường vô lượng ta bà sắc không.
nửa khuya thức ngó mười phương
thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng
PTH
Thursday, July 9, 2026
TRANH TRƯƠNG VŨ
BÓNG
MA TRONG VƯỜN CŨ
Chất liệu hỗn hợp trên bố
tranh Trương Vũ
(phác họa 2014 tại VN, hoàn tất 2026 tại HK)
Chất liệu hỗn hợp trên bố
tranh Trương Vũ
(phác họa 2014 tại VN, hoàn tất 2026 tại HK)
BÒNG MA TRONG VƯỜN CŨ
Chất
liệu hỗn hợp trên bố
tranh
Trương Vũ
(phác
họa 2014 tại VN, hoàn tất 2026 tại HK)
Subscribe to:
Posts (Atom)





