Wednesday, May 6, 2026

MAI THẢO. MỘT LẦN GẶP

Huỳnh Liễu Ngạn
 

Mai Thảo. Tác phẩm
 
em đủ mười phương từ tuổi nhỏ
ngần anh phương anh tới tuổi già
(Mai Thảo)
 
Một buổi sáng trời thật xanh. Tôi một mình đi trên đường Bolsa. Đi lên Phước Lộc Thọ. Đi như nỗi buồn tha phương bên góc phố chợ đời. Đi theo từng bước chân không biết sẽ về đâu của một ngày nắng ráo. Trời thì đầy những tiêng động của buổi sớm mai. Đi tìm một ly cà phê hay là đi tìm một vầng thơ nơi đất khách. Chỉ có vậy thôi mà sao dòng đời cứ tất bật. Cứ cô quạnh hẩm hiu...Cứ quanh quẩn những muộn phiền không tên tuổi. Tại sao phải là thơ. Nếu không đời mình sẽ là gì giữa xôn xao cuộc sống. Trước mắt tôi là một dáng người cao đi ngược lại. Không quen biết. Nhưng sao nhìn nhau rồi mỉm cười. Hai người tha phương trên con phố mượn tạm của xứ người lạc lỏng. Không ai tự giới thiệu mình là ai. Nhưng tôi biết đó là người đã chối bỏ tất cả. "Tôi xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi.Tôi thơ..." *. Dừng lại rồi cùng nói về thơ. Về những tác giả trên báo Văn. Trong đó có tôi người đứng trước mặt. Phải làm mới đừng lập lại như những bài thơ đã qua. Tôi nhớ nhưng đến bây giờ vẫn chưa vượt qua nỗi. Cảm ơn nhà văn Mai Thảo, một lần gặp
Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi
(Bùi Giáng)
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
9.3.2026
 
* Bờ cõi khởi đầu (Mai Thảo) 

Sunday, May 3, 2026

BIỂN. SÓNG

duyên
 
Vienice, CA. March 2026
 
Biển màu xanh. trời giặc sương mù
những cánh hải âu…
từ Việt Nam bay đến?
người chạy bộ bên chú chó lon ton…
một buổi sáng bình yên. đẹp.
 
Ly cà phê trong tay. người qua lại
một người cuộn chăn ngủ ven đường
giầy da đen. đắt tiền. ngạo nghễ
dấu vết một dĩ vãng đẹp. mới hôm qua.
 
Tiếng cười nói ồn ào đi tới
tay trong tay…
bên mình. những túi hàng thương hiệu lớn
người khỏe đẹp… 
trên vai: thuyền trượt nước
khẳng định một lối sống vui. đầy thử thách.
 
Biển bỗng ồn ào. cuồng nộ từ khơi…
sóng từ đâu đến
không lẽ… Việt Nam?
ngọn sóng bạo tàn năm cũ
đã cướp bao sinh mạng
biết bao gia đình
những “thuyền nhân” vượt biển
đánh đổi đời mình / cho hai chữ tự do.
 
Những mảnh đời còn lại
đã cập bến bờ
mong yên bình…
mãi đẹp như biển sáng nay
có được không
hay sóng ngầm từ lòng biển 
vẫn đợi chờ?
 
DUYÊN
03.25.2026

  

Thursday, April 30, 2026

NOOR HINDI: THƠ CHO MỘT ĐẤT NƯỚC ĐÃ MẤT

Phan Tấn Hải


Noor Hindi đọc thơ trên YouTube.



Noor Hindi. Tác phẩm
 
    Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của cô nói gì?
    Cô đã đứng đọc thơ tại các trường đại học, đọc lên những bài thơ nói lên căn cước của cô, thí dụ như bài có tựa đề "Self-Portrait as a Palestinian" (Tự mô tả như một người Palestine) với những dòng như:
 
Tôi là tấm bản đồ của một đất nước không còn hiện hữu
trên các bức tường lớp học của bạn. Tôi là lớp đất
dưới các móng tay của một bóng ma.
Mỗi khi cất lời, tôi đang phiên dịch một nỗi câm lặng
trong nhiều thập niên bị bưng bít.
 
    Nếu bạn vào YouTube và gõ hai chữ "Noor Hindi" bạn sẽ thấy những buổi đọc thơ của cô tràn ngập giảng đường đại học Hoa Kỳ. Cô có văn phong thơ phù hợp với giới trẻ Hoa Kỳ, và những đau đớn vì dân tộc Palestine bị quân đội Israel diệt chủng đã chuyển thành một ngôn ngữ thơ rất đặc biệt nơi đây.
 
     Noor Hindi đặt chân đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn là một đứa trẻ thơ. Cô sinh năm 1995 tại Amman, Jordan, trong một gia đình tị nạn người Palestine. Đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn nhỏ, cô lớn lên tại Akron, Ohio, trong một cộng đồng chủ yếu bao gồm những người tị nạn đến từ Bhutan và Nepal. Tiểu sử công khai của cô không ghi rõ năm vào Mỹ, chỉ biết rằng cô đã sinh sống tại Hoa Kỳ từ cuối những năm 1990s hoặc đầu những năm 2000s.
     Sau khi lấy bằng Cử nhân (BA) chuyên ngành Tiếng Anh tại Đại học Akron, cô tiếp tục theo học chương trình Thạc sĩ Mỹ thuật (MFA) chuyên ngành Thơ ca của trường (giai đoạn 2017–2019) thông qua chương trình NEOMFA. Năm 2020, tổ chức Twelve Literary Arts đã lựa chọn cô tham gia Chương trình Nghệ sĩ Lưu trú Barbara Smith của họ. Một năm sau đó, cô vinh dự nhận được Học bổng Thơ ca Ruth Lilly và Dorothy Sargent Rosenberg do Quỹ Thơ ca (Poetry Foundation) trao tặng.
      Tập thơ đầu tay của cô— "Dear God, Dear Bones, Dear Yellow" (Haymarket Books, 2022)—đã nhận được giải thưởng Danh dự (Honorable Mention) tại Giải thưởng Sách Mỹ gốc Ả Rập (Arab American Book Award). Hiện cô đang biên tập một tuyển tập thơ Palestine cùng với George Abraham (Haymarket Books, 2025).
     Bên cạnh việc biên tập các tuyển tập thơ có chủ đề Palestine, cô vẫn tiếp tục công việc phóng viên của mình, tập trung vào các vấn đề về sự công bằng và tính hòa nhập. Cô từng đảm nhiệm vị trí Phóng viên chuyên trách về Công bằng và Hòa nhập cho tờ báo The Devil Strip tại Ohio.
     Tính đến đầu năm 2026, cô đã thực hiện các chuyến lưu diễn và tham gia các buổi đọc thơ tại những tổ chức lớn—chẳng hạn như Đại học California, Irvine—cũng như tại các lễ hội văn học, tiêu biểu là Lễ hội Thơ New Orleans; tại đây, cô tham gia các phiên thảo luận bàn tròn xoay quanh chủ đề thơ tài liệu và báo chí hoạt động xã hội.
     Hiện tại, cô đang sinh sống và làm việc tại Dearborn, Michigan—nơi được biết đến là quê hương của một trong những cộng đồng người Mỹ gốc Ả Rập lớn nhất cả nước—một yếu tố góp phần định hình sâu sắc trọng tâm trong các tác phẩm thơ ca cũng như hoạt động báo chí của cô về cộng đồng người Palestine hải ngoại.
    
      Sự xuất hiện của nhà thơ Noor Hindi trong giới văn chương được đánh dấu bằng thành công vang dội của bài thơ "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" (Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối), tác phẩm mà sau này đã trở thành tựa đề cho tập thơ đầu tay của cô, được nhà xuất bản Haymarket Books ấn hành vào năm 2022. Bài thơ đã tạo nên tiếng vang trên phạm vi toàn cầu, phản ánh một cách chân thực nỗi đau của những cây bút thường bị các tạp chí thơ yêu cầu phải đặt "vẻ đẹp thẩm mỹ" lên trên thực tại khẩn thiết của bạo lực và chiến tranh.
      Sau đây là bản dịch bài thơ tự do tựa đề "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" dài 14 dòng của Noor Hindi:
 
Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối
 
THƠ NOOR HINDI
 
Bọn thực dân viết về hoa.
Còn tôi kể cho quý vị nghe về các trẻ em ném đá vào xe tăng Israel
chỉ vài giây trước khi hóa thành những đóa hoa cúc.
Tôi muốn được như các nhà thơ kia—những người say đắm với mặt trăng.
Dân Palestine không thể nhìn thấy trăng từ sau song sắt nhà tù.
Trăng đẹp biết bao.
Và hoa cũng đẹp biết bao.
Tôi hái hoa dâng lên người cha đã chết mỗi khi tôi buồn
Cha tôi cả ngày chỉ ngồi xem đài Al Jazeera.
Tôi ước rằng Jessica đừng nhắn tin chúc tôi "Lễ Ramadan vui vẻ" nữa.
Tôi biết mình là người Mỹ, vì mỗi khi tôi bước vào một căn phòng, thì lại có điều gì nơi đó chết đi.
Các ẩn dụ về cái chết chỉ dành cho các nhà thơ nghĩ rằng những hồn ma cũng bận tâm đến âm thanh.
Khi tôi chết, tôi hứa rằng tôi sẽ về ám ảnh quý vị mãi mãi.
Rồi một hôm, tôi sẽ viết về những đóa hoa—như thể chúng thực sự thuộc về chúng ta vậy..
 
PTH

Tuesday, April 28, 2026

THIỆP MỜI RA MẮT SÁCH

Tạp chí Ngôn Ngữ, Diễn đàn Da Màu & Việt Báo Foundation
 
trân trọng kính mời quý vị tham dự buổi ra mắt sách
 
Bùi Vĩnh Phúc • Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương
 

của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc

tại Coffee Factory, 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683 

vào lúc 4:00 giờ chiều ngày 16 tháng Năm, 2026

Sự hiện diện của quý vị sẽ làm cho buổi gặp mặt thêm phần trang trọng và ấm cúng.

Ban Tổ Chức trân trọng kính mời


 


Sunday, April 26, 2026

ĐỌC THƠ: VẪN SỐNG CÙNG NGỤ NGÔN

Phan Tấn Hải
 
TĐSC & TT. tác phẩm
 
Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt
 
Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc Thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:
Đạn bom chôn một mối tình
Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...
Vườn xưa hoa nở mưa dầm
Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.
(VSCNN, trang 71)
   
    Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi) của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.
     Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.
      Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới 19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này, trích:
“Trong một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 14)
Nhà thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:
“Bên cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu (Cổ Vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân), là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đăng), là Đoàn Thanh Liêm (Yên nghĩ) rồi ĐT, Hà Thùy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trân Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)
    Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016) như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với cương vị Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở lại cùng với dân tộc.
Tháng 2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà nước  hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.
Trần Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên Nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:
"A morning cup of Jazz"
Điệu Blues hóa chén trà lưu vong
Chén trà tiễn một lương tâm
Mùi hương theo gió thổi nhằm tim ta...
(VSCNN, trang 70)
Một khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.
Điểm ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang 24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).
Trong bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường, trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu Thân 1968, trích:
Khi tôi lớn lên
Các anh như bầy chim di
Trốn xa thành phố
Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù
Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát
Hàng long não với gió chiều nhã nhạc
Bông Sầu Đông tím lặng
Chờ ai
  
Khi tôi lớn lên
Các anh như huyền thoại
Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi
Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời
Mơ các anh
Như mơ thần tượng
(VSCNN, trang 53)
 
   Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một Thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch Thiết thực hiện.
Nơi trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:
“Trong giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông kia..." (Tựa, Ý Nhi)
Cũng như:
"...Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)
Tập thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với nhan đề “Nội Chiến” có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ, chưa nguôi nỗi đau?
Hình ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:
 
BỨC TRANH CHIỀU 30-4
Bao thuốc lá ai đánh rơi
Điếu thuốc kéo ra lưng chừng
Nằm lại bên thềm nắng
Chiều Ba Mươi Tháng Tư
 
Bức tranh ba chiều
Màu xám tối tràn xuống bậc thềm
Màu vàng nắng ải
Tuổi trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu
Hạnh phúc ai để lại đằng sau
Người tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ
Mảnh pháo năm im trong tim
Kỷ vật sau cùng, chiến tranh gửi lại
Chiều Ba Mươi Tháng Tư.
(VSCNN, trang 39)
Tương tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ Vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối, trích:
Chiều 30 ấy úa vàng
Bao thuốc rớt lại
vỡ tan
một thời...
 
Hình như
có giọt lệ rơi
Mộng xưa
đọng mãi tim người lưu vong
Một thời lãng mạn bão giông
Hóa thành tĩnh vật
trơ cùng tháng năm...
(VSCNN, trang 58)
 
     Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito Tiễn Mẹ, ghi lại, trích ba đoạn thơ cuối bài là:
Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển
Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử
Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt
Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay
 
"Tháng Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay
Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở
Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ
Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương...
 
Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường
Bao giận thương tan cùng nắng gió
Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ
Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.
(VSCNN, trang 82)
     Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ Tôi, chỉ dài 8 dòng, viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:
Năm xưa nhớ mẹ đi tù
Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ
Trưa hè chị dắt thăm nuôi
Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!
 
Ôm tôi. Nước mắt mẹ trào
Mẹ nhai cơm khống. Cục đường cho con
Mẹ tôi. Nay đã không còn
Cục đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.
(VSCNN, trang 83)
    Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong bài thơ Biển Đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần đình Sơn Cước viết:
Thả bông hồng trôi vào biển khơi
Xác em nơi mô hồn em đâu
Lòng mẹ quặn đau trời bão gió
Sóng biển chiều nay phủ oán sầu
(VSCNN, trang 87)
Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám Hối, viết năm 2015, để tưởng nhớ Linh Mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:
Vết thương Quốc, Cộng
Vết thương thắng, bại
Vết thương trong, ngoài
Vết thương từ trái tim ngăn ngại
(VSCNN, trang 91)
Để rồi bài thơ tựa đề Lụi Tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:
Thế hệ chúng tôi
Thế hệ chiến tranh
Hận thù, tàn phá
Những đứa con tài hoa của Huế
(VSCNN, trang 96)
     Thế đó. Các văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.
    Thơ của Trần Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ. Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không ghi địa chỉ liên lạc.
PTH
  

Tuesday, April 21, 2026

BUỔI SÁNG NƠI CON PHỐ NHỎ

Nguyễn Đức Nhân
 
Phố nhỏ
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
cơn đói nghiêm khắc nhắc nhở hắn thức dậy đúng giờ
cửa sổ mở
rạng đông dường như xuất phát từ chùm hoa huệ hương vàng đang mỉm cười
con mèo chui qua hàng rào ngồi sắp xếp kinh nghiệm đi hoang trong bóng tối
cơn ho ngoài con hẽm dự báo thời tiết
tiếng chim hót đầu ngày được cành cây đón nhận
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
sương chưa tan
tiếng rao của người đàn bà bán hàng rong lơ lửng trên ngọn dừa
chiếc đồng hồ quả lắc trên tường đang đung đưa những ánh nhìn xưa cũ
tư tưởng trở mình trong quyển sách
và tiếng chuông lịm tắt trong nghĩa trang
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
trên trang nhất tờ báo các con chữ rung lắc
động cơ gầm rú trên bầu trời Iran
đảo kharg không cất giấu hận thù
mặt trời tung rải ánh sáng chưa hề giận dữ
mặt trời không tà kiến cực đoan
không ban cho
không lấy đi
không quan tâm các mệnh đề khẳng định và phũ định
 
buổi sáng nơi con phố nhỏ
ông lão nhìn lên bầu trời
buổi sáng mùa hạ đông nam á trong xanh
ly cà phê nguội lạnh
 
B'lao, 16/4/2026
NĐN
 

 

Sunday, April 19, 2026

KHÚC THANH VÔ THANH

Hoàng Xuân Sơn
 
Photo Phạm Anh Dũng
 
Trà thơm ngát mù sương
Dưới chân đồi cỏ lục
Bông tường vi hỏi đường
Ghé thăm chùa vạn phước
 
Vàng sa di trong nắng
Mộ ôm chầm bóng khe
Những cánh lá chiết mỏng
Bay theo một quận về
 
Phải không. hồn đương sứ
Rụng trắng ngát từ bi
Hiền lành không ai nỡ
Đạp thanh dưới kiêu kỳ
 
Nhẹ lắm, màu thao vẽ
Đôi mắt lụa nhang trầm
Thoảng già lam xám áo
Che vừa một tịnh tâm
 
Để mặc trưa huyên náo
Chim gọi tên võng chuyền
Ru đưa tình vừa chớm
Hạnh thục tràn như nhiên
 
• •
H O À N G X U Â N S Ơ N
12 tháng tư, 2026