Đọc tiểu thuyết hồi ký tù cải tạo của Lê Lạc Giao
Vũ
Hoàng Thư
Tháng
6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ
đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất,
mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê
hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu
bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố
Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo
trong 30 ngày!
Tháng
6, không hẹn, tôi nhận được tập bản thảo “Tổ Quốc Trăm Năm” của nhà văn Lê Lạc
Giao. Cũng tháng 6, năm mươi mốt năm trước, Lê Lạc Giao cùng toàn bộ giới chức
lãnh đạo các cấp của chế độ cũ bắt đầu một hành trình không ai có thể lường trước.
Từ lời hứa hẹn 30 ngày học tập kéo dài thành năm tháng tù đày lê thê vô tận, và
có rất nhiều người đã không bao giờ trở về nữa...
Tôi
đọc say mê 17 chương “Tổ Quốc Trăm Năm”, một cuốn tiểu thuyết hồi ký chính trị
có giá trị tư liệu lịch sử đáng nể, mang màu sắc triết luận dân tộc với chủ nghĩa
nhân bản hơn là ý thức hệ. Cũng qua cuốn tiểu thuyết này, nhiều tin tức ở trong
tù về những nhân vật cao cấp quen thuộc của chính quyền miền Nam trước đây đã được
tiết lộ.
Tôi
bắt gặp một Tổ Quốc Trăm Năm đầy lôi cuốn qua lối kể chuyện cũng như phương
cách ghi nhận sự kiện cùng sự suy tưởng của ông từ những kinh nghiệm một thời
đày đọa đó. Lê Lạc Giao tạo một cảm giác rất thật trong lòng độc giả mà chỉ có những
người giàu trải nghiệm sống, kinh qua một khoảng đời đầy biến động mới bật lên
trang giấy một văn phong như thế. Tôi đọc mà như đang nghe giọng nói bình thản,
chân thành trong phong cách đàm thoại mà ta thường bắt gặp từ những con người vùng
đất Khánh Hòa hiền hậu. Ông làm tôi nhớ hương âm Nha Trang và những ngày mới lớn
nơi chốn ấy khôn cùng, khiến tôi thiên vị đặc biệt chú ý đến những đoạn Lê Lạc Giao
nói về Nha Trang. Ví dụ khi ăn chén cháo tại trại trung chuyển Thủ Đức, dù “loãng
như nước cơm vo nhưng phảng phất có vị béo của nước vôi trong nấu theo kiểu miền
Trung (Tổ Quốc Trăm Năm, Chương 7)” cũng làm ông nhớ đến ông nội và mẹ ở
Nha Trang, “Quê hương Nha Trang của Hảo trở thành nơi ẩn trú tinh thần, giúp
anh vượt qua được những khó khăn phát sinh từ cuộc chiến tranh mà anh từng bước
tham dự vào (Tổ Quốc Trăm Năm, Chương 10).” Chỉ cần biết bạn tù Phước dù
không phải là dân Nha Trang nhưng đã ở và làm việc tại Đồng Đế trong 15 năm
cũng khiến tác giả qua nhân vật Hảo, “trong lòng xem Phước như đồng hương của
mình.” Hay khi gặp bạn tù Hoài, anh “hình dung vùng đất nếu từ Thành đi
Nha Trang qua khỏi Võ Cạnh, Phú Vinh đến trước Xóm Dừa. Phú Vinh lưu trong ký ức
Hảo đậm nét chiếc ga xe lửa cô đơn với
con
đường ray chạy vào chân núi xa, từ những ngày đầu tiên Hảo đi học bằng xe đò thập
niên sáu mươi trên lộ trình Thành – Nha Trang. (Tổ Quốc Trăm Năm,
Chương 13)”
Lối
tự thuật của Lê Lạc Giao vận hành theo một nguyên tắc khá nhất quán và tài
tình, ông đi thẳng vào sự kiện và hạn chế tối đa sự can thiệp của người kể chuyện.
Ông hiếm khi dừng lại để bình luận dài dòng hay hướng dẫn người đọc phải suy
nghĩ theo một kết luận định trước. Sự tiết chế ấy tạo nên hiệu quả đáng chú ý bất
ngờ. Những chi tiết tưởng như vụn vặt trong đời sống trại giam chẳng hạn một củ
khoai, một bữa cháo loãng, một điếu thuốc lào, một lần chuyển trại, dần dần
tích tụ thành bức tranh toàn cảnh về đời sống tù cải tạo mà không cần đến những
tuyên bố mang tính tố cáo trực tiếp. Nhà văn không mô tả cái đói như một khái
niệm nhưng để cái đói tự hiện ra qua nhịp điệu lặp đi lặp lại của đời sống thường
nhật với củ khoai, củ mì trong tù. Chiếc tàu “Sông Hương” chở tù từ Nam ra Bắc
trong ba ngày bốn đêm, một hành trình không êm ái và thơ mộng như tên gọi của
chiếc tàu. Hơn 800 tù cải tạo trên tàu “lúc nhúc người nằm ngồi la liệt”
bên cạnh “hai cái sô cao to trong góc hầm tàu được quây bằng bốn tấm nilon
che mưa không ngăn được mùi khai hôi thối nồng nặc của nước tiểu và phân người (Tổ
Quốc Trăm Năm, Chương 8).” Nhân vật Hảo thầm nghĩ, “Chúng ta đi chung chuyến
tàu”, trong ý nghĩa bi đát và mỉa mai đến tận cùng đau đớn của định mệnh. Hảo
nhớ lại câu đọc trong bài diễn văn nhận giải Nobel của A. Camus, “Cách mạng khởi
thủy bằng chung một chuyến tàu…”
Bên
cạnh sự tường thuật những nhọc nhằn khốn nạn của kiếp tù đày, chúng ta cũng bắt
gặp những khoảnh khắc chùng lòng người đọc với những tình cảm rất bình thường
cho dẫu trong điều kiện khắc nghiệt, những rung động chỉ tìm thấy ở con người từ
nền giáo dục nhân bản của miền Nam, đối ngược với sự tàn nhẫn, rập khuôn giáo
điều xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Làm thế nào không khỏi bùi ngùi nhìn mưa đêm
qua mái trại giam mà không nhớ những ngày êm ấm bên cạnh người thân yêu, những
bản nhạc ghi dấu một thời như Mưa Rừng, hay một câu thơ Đường man mác “Hoa lạc
tri đa thiểu”?
“Bên tai tiếng mưa dường êm hơn
và lắng trong trí não anh một thứ cảm giác dễ chịu. Hảo cho rằng tiếng mưa là thứ âm thanh uyên
nguyên mang tính tiềm thức hoặc vô thức có khả năng xoa dịu những xung đột mâu
thuẫn tâm thức con người qua hồi tưởng, hoài niệm. Nó đặc biệt thanh lọc gột rửa
những tồn đọng cặn bã, uế trược trong tâm hồn những kẻ lạc loài, bơ vơ mang nặng
mặc cảm lưu đày (Tổ Quốc Trăm Năm, Chương 16).”
Hút
thuốc lào và uống trà là thú tiêu khiển độc nhất mà tù nhân được trại giam cho
phép. Thuốc lào trở thành thứ ma túy đối với tù nhân để họ có thể quên đi sự khắc
nghiệt của chế độ giam cầm.
“Người hút thuốc lào khi say được
đi vào một thế giới khác tuy ngắn ngủi nhưng giúp quên mọi hệ lụy cuộc sống trước mắt. Với tù nhân miền Nam
cái say thuốc lào còn giải quyết nhiều vấn đề hơn nữa: quên cả quá khứ mà mình
cứ phải khai đi khai lại nhiều lần trong mỗi trại, và quên luôn sự vô định của
một tương lai là không hình dung ra được bao giờ trở về gia đình. Hảo kết luận
thuốc lào quả là loại ma túy hợp pháp của dân tộc Việt Nam. (Tổ Quốc Trăm
Năm, Chương 12)”
Có
một số từ vựng lý thú rải rác trong câu chuyện hàng ngày giữa tù nhân hoặc để
làm nhẹ đi sự căng thẳng hoặc nhắc đến sự phi lý, vô nghĩa trong tù cũng như
ngoài xã hội chẳng hạn như “Bị Vong Lục” hoặc đi “Đêm màu hồng”.
Bị Vong Lục là vợ bỏ sau khi đi học tập cải tạo. Đi đêm màu hồng là công an
đánh thức giữa đêm trong tù để dẫn đi đến nơi khác mà không ai biết số phận sẽ
như thế nào.
Tám
chương đầu của “Tổ Quốc Trăm Năm” là một biên niên sử của tầng lớp thất trận miền
Nam, sự chuyển hóa từ hy vọng sang vỡ mộng của tầng lớp tinh hoa miền Nam sau
1975. Những người từng điều hành một quốc gia giờ đây chỉ còn ước mơ tới những
điều giản dị nhất như được trở về nhà, trồng thuốc lá, chăm sóc luống khoai hay
lập gia đình. Tác giả xây dựng song song hai nhà tù, một nhà tù địa lý với tường
cao, vọng gác, chuyển trại và kỷ luật và một nhà tù tinh thần, nơi những người
chiến bại phải đối diện với câu hỏi đau đớn nhất, vì sao họ thất bại.
Tiêu
đề của chương 9 là Quê Hương Xã Hội Chủ Nghĩa, một tên gọi biểu lộ trần truồng
sự đồng hóa giữa quê hương và xã hội chủ nghĩa của người cộng sản, yêu quê
hương chính là yêu xã hội chủ nghĩa! Kể từ đây tù cải tạo mới thực sự tiếp xúc
trực tiếp với hiện thực của xã hội miền Bắc sau 1975. Họ bắt đầu chuyển biến dần
từ hành trình lưu đày sang đời sống lao động cải tạo thực sự tại Tân Lập, nơi
những thử thách về thể xác, niềm tin và nhân cách sẽ trở nên khắc nghiệt hơn
nhiều so với những gì đã diễn ra ở Long Thành hay Thủ Đức từ miền Nam. Chính
trong sự tiếp xúc ấy, tác giả đặt ra một câu hỏi lớn hơn đề tài nhà tù, đó là
liệu cùng một dân tộc, có thể nào tồn tại những nhận định hoàn toàn khác nhau về
tổ quốc, quê hương, tự do và chính nghĩa hay không?
Kể
từ chương 9 cho đến cuối sách, nhà tù là một bối cảnh để tác giả khảo sát về sự
tan rã và tái cấu trúc của tầng lớp miền Nam sau 1975 dưới áp lực của lao động cưỡng
bách, ý thức hệ và thất bại của lịch sử. Qua đó chúng ta thấy rõ hơn sự chia rẽ,
ảo tưởng cũng như phe nhóm đã nằm sẵn bên trong thế giới tù cải tạo. Sự sinh tồn
của con người trong hoàn cảnh cay nghiệt đã vô hình chi phối sự suy nghĩ, hành
động, đạo đức, và cả những quyết định sinh tử của người tù cải tạo.
Trở
về lại miền Nam và những năm cuối cùng ở trại tù Z30D đã mở ra niềm hy vọng cho
người tù. Quê hương phương nam dù đã đổi khác nhưng sống gần “nhà” vẫn thấy dễ
chịu hơn rất nhiều so với miền Bắc xa xôi. Tù nhân không còn chỉ chiến đấu để sống
sót nhưng họ bắt đầu học cách sống với sự chờ đợi, dẫu đôi khi, như tác phẩm ngầm
gợi ý, chờ đợi còn khó khăn hơn cả chịu đựng.
Trong
“Lời Mở Đầu” tác giả xác định tác phẩm là một dạng “hồi ký tiểu thuyết”, nghĩa
là dựa trên trải nghiệm thật nhưng có những chỗ tái tạo bằng trí nhớ và hư cấu
tối thiểu để lấp khoảng trống dữ kiện. Đồng thời tác giả tuyên bố rõ một nguyên
tắc là quan điểm có thể chủ quan nhưng sự kiện phải trung thực, một tuyên bố
mang tính phương pháp luận và sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta đánh giá toàn bộ
cuốn sách sau này.
Trong
dòng văn học viết về biến cố 1975 và hệ thống trại cải tạo của cộng sản, phần lớn
các tác phẩm thường đi theo một trong hai khuynh hướng sau đây: hoặc nhấn mạnh
vào khía cạnh tố cáo đàn áp chính trị của chế độ mới, hoặc tập trung vào những
kinh nghiệm khổ nạn của cá nhân. Cuốn tiểu thuyết gồm mười bảy chương của Lê Lạc
Giao, tuy không hoàn toàn thoát khỏi hai khuynh hướng ấy, nhưng đã đi xa hơn
khi đặt thân phận người tù cải tạo vào một bình diện rộng lớn hơn trong lịch sử,
ký ức dân tộc và căn tính Việt Nam sau chiến tranh.
“Tổ
Quốc Trăm Năm”
được tác giả thuật lại qua nhân vật Hảo, một nhân viên tình báo từ Sở Nghiên Cứu
Địa Lý thuộc Phủ Tổng Thống của chế độ cũ, trải qua 8 năm trong những trại tù từ
miền Nam ra đến Bắc rồi trở lại miền Nam trước khi được trả lại tự do năm 1983.
Tác giả dùng nhà tù như một sân khấu đời để miêu tả số phận của con người Việt
Nam trong một thời đại lịch sử đổ vỡ ấy. Ông quan niệm rằng “Những người
liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc chiến đều là nạn nhân và nhân chứng một
giai đoạn bi đát của đất nước (Tổ Quốc Trăm Năm, Lời Mở Đầu)”. Qua hơn
300 trang của “Tổ Quốc Trăm Năm” chúng ta có thể rút tỉa được vài điểm chính yếu
dưới đây.
Hảo và những nhân vật chính trong Tổ Quốc Trăm Năm
Hảo là nhân vật trung tâm của cuốn sách
nhưng không phải là một nhân vật hành động theo nghĩa thông thường. Anh từng là
đội trưởng trong tù một thời gian với tiêu chí là giúp đỡ bạn tù đồng cảnh ngộ.
Anh không lãnh đạo đấu tranh, không tổ chức vượt ngục, cũng như không thực hiện
những hành động anh hùng. Anh trực diện đối đầu với khổ sai như bao người bình
thường khác bằng cặp mắt tỉnh táo. Anh chỉ chủ yếu quan sát, suy nghĩ và đối
thoại. Có thể nói Hảo là tấm gương để tác giả phản chiếu nhân sinh quan của
ông, hay nói cách khác là một “phát ngôn nhân” của tác giả. Một lựa chọn đặc biệt
khiến tác phẩm thiên về triết luận hơn là kịch tính.
Ngoài
Hảo, thành công đáng kể của cuốn sách nằm ở những nhân vật phụ. Những lời đối
thoại giữa họ và Hảo phác họa cho chúng ta thấy khí hậu của trại giam, mối
tương quan giữa tù nhân với nhau cũng như với cán bộ quản giáo. Đơn cử vài nhân
vật nổi trội sau đây trong số hàng chục nhân vật khác không kém phần lý thú từng
xuất hiện và lui lại phía sau hậu trường.
Ông
Linh, cựu dân biểu VNCH, là nhân vật có chiều sâu nhất. Một trí thức già nua,
mang theo ký ức của một thế hệ đã mất. Nỗi lo lắng cho những đứa con vượt biên,
những đàm luận thơ Đường và thái độ bình thản trước số phận khiến ông trở thành
một trong những chân dung đáng nhớ nhất.
Trạch,
cựu sĩ quan thám kích, đội trưởng của Hảo, lại là mẫu người Nam Bộ rất sống động
với đầy đủ tính cách ngang tàng, cộc cằn nhưng giàu tình nghĩa. Bên dưới lớp vỏ
thô ráp là một tâm hồn nhiều cảm xúc.
Vạng,
cựu trung úy tình báo quân đội, đội phó của Hảo, đem đến cho cuốn sách một sinh
khí đặc biệt. Thực dụng, láu lỉnh, biết thích nghi nhưng không đánh mất tình
người, Vạng là biểu tượng của bản năng sinh tồn trong xã hội hậu chiến.
Chính
những nhân vật ấy đã giúp cuốn sách sống động bên cạnh những luận đề chính trị
đòi hỏi người đọc phải dừng lại để chiêm nghiệm và trầm tư lâu hơn.
Ngoài
ra còn rất nhiều nhân vật khác từ phía tù cải tạo cũng như cán bộ quản giáo,
công an. Tác giả quả có một trí nhớ phi thường về những biến cố, chi tiết của một
quãng thời gian dài 8 năm cách đây đã gần nửa thế kỷ! Có lẽ đó là những ký ức
đau buồn nhất đã hằn sâu trong tâm khảm chẳng thể nào dứt đi được của một đời
người.
Chiến tranh chưa thực sự kết thúc sau năm 1975
Một trong những luận đề nổi bật của tác phẩm
là ý niệm rằng chiến tranh không thật sự kết thúc vào tháng Tư năm 1975. Chiến
tranh có thể kết thúc trên chiến trường, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại trong ký ức,
trong chính trị, trong đời sống xã hội và trong thân phận con người. Những người
tù cải tạo chính là biểu tượng cụ thể nhất của cuộc chiến kéo dài ấy.
Suốt
mười bảy chương, người đọc chứng kiến những con người bị tước bỏ tự do nhưng
chưa bao giờ rời bỏ ký ức của mình. Họ sống trong một không gian tuy chiến
tranh đã qua nhưng sự phân chia thắng bại vẫn còn nguyên. Những người tù mang
theo quá khứ của mình như một bản án không thời hạn. Cũng như vậy, cán bộ quản
giáo với lập trường và nhận định về ngụy quân, ngụy quyền thua cuộc là những nhận
thức cứng nhắc và đóng băng trong giáo điều cộng sản.
Liệu
chiến tranh Việt Nam đã thật sự kết thúc hay chưa? Hay nó vẫn tiếp tục tồn tại
trong ký ức của thế hệ thứ nhất, trong diễn ngôn chính trị, trong sách giáo
khoa, trong cộng đồng hải ngoại, và trong cách người Việt nhìn nhau? Chúng ta
đang nói về một vấn đề lịch sử lớn.
Chính
vì vậy, cuốn sách không chỉ kể chuyện tù đày trong bốn bức tường nhưng đi xa
hơn trong bối cảnh hậu chiến. Và đôi khi xã hội hậu chiến lúc đó còn khắc nghiệt
hơn cả cuộc chiến tranh dai dẳng trong 20 năm trước.
Văn hóa miền Nam như một quê hương tinh thần
Tổ Quốc Trăm Năm kể rất nhiều về các trại
giam Long Thành, Thủ Đức, Tân Lập, Nam Hà, Z30D. Nếu đọc kỹ, người đọc sẽ thấy
một địa danh khác xuất hiện thường xuyên hơn, Nha Trang. Điều kỳ lạ là Nha
Trang không hiện diện như một địa điểm bên ngoài. Nha Trang hiện diện như một
trạng thái tinh thần khi ăn một bát cháo, khi gặp một người đồng hương, khi nhớ
ông nội, khi nhắc đến Đồng Đế, khi nghĩ đến Phú Vinh… Nha Trang luôn trở về. Tại
sao? Bởi vì đối với Hảo, quê hương không còn là nơi anh đang sống. Quê hương là
nơi anh mang theo bên trong mình. Đó là một chuyển dịch rất quan trọng. Từ quê
hương như lãnh thổ sang quê hương như ký ức. Những chi tiết ấy không phải chỉ
là hoài niệm địa phương. Chúng tạo thành một không gian văn hóa miền Nam tồn tại
ngay cả khi nhà nước đã biến mất.
Nha
Trang trong tác phẩm có thể không đơn thuần là quê quán của Lê Lạc Giao mà gần
như trở thành một biểu tượng. Một “miền Nam đã mất.” Một thế giới đã biến mất
sau năm 1975. Cũng giống như Odessa trong văn học Nga lưu vong, Prague trong
văn học Tiệp hậu 1968, Budapest trong văn học Hung gia lợi sau 1956. Những địa
danh ấy không chỉ là địa lý, chúng trở thành ký ức tập thể.
Theo
cách ấy, Nha Trang trong Tổ Quốc Trăm Năm có thể được nhìn như một hình ảnh thu
nhỏ của cả miền Nam trước 1975.
Điều
làm tôi xúc động nhất là Hảo tồn tại nhờ văn hóa. Khi mọi thứ như quyền công
dân, nghề nghiệp, tương lai, tự do bị tước đoạt thì thơ Đường, Truyện Kiều, Kim
Dung, tiếng mưa, giọng nói quê nhà, ký ức Nha Trang vẫn còn đấy. Những thứ dưỡng
nuôi thần trí con người. Trong nhiều tác phẩm văn học nhà tù của thế kỷ 20, văn
hóa thường xuất hiện như thành trì cuối cùng của nhân phẩm. Tổ Quốc Trăm Năm
cũng vậy. Hảo không chống lại nhà tù bằng bạo lực. Anh chống lại sự hủy diệt bằng
ký ức văn hóa.
Từ ý thức hệ đến Tổ Quốc Trăm Năm như một triết lý lịch sử hậu
chiến
Trong văn học thế kỷ trước, nhà tù không chỉ
là một không gian giam giữ kẻ bại trận trong bốn bức tường. Từ các trại lao động
Stalin được Solzhenitsyn mô tả trong The Gulag Archipelago cho
tới thế giới phi nhân hóa của Gheorghiu trong The Twenty-Fifth Hour,
kinh nghiệm tù đày thường trở thành điểm xuất phát cho những suy tư rộng lớn
hơn về lịch sử, quyền lực và thân phận con người. Đọc Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc
Giao trong bối cảnh ấy, người đọc dễ nhận ra rằng đằng sau câu chuyện của Hảo
là một cố gắng lý giải một bi kịch lớn hơn, bi kịch của một cộng đồng thất trận
và cuộc khủng hoảng căn tính của người Việt Nam sau cuộc nội chiến dài nhất
trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Đối
với tác giả Tổ Quốc Trăm Năm, Long Thành, Thủ Đức, Tân Lập, Nam Hà, Z30D, không
phải là những trại giam riêng lẻ. Chúng tạo thành một mạng lưới. Người tù liên
tục bị chuyển dịch, tái phân loại và tái định danh. Nhà tù vì vậy không còn là
một địa điểm mà trở thành một phương thức quản trị xã hội. Tuy nhiên, khác với
Solzhenitsyn, mục tiêu của Lê Lạc Giao không phải giải phẫu cơ chế toàn trị,
ông quan tâm nhiều hơn đến ảnh hưởng của cơ chế ấy đối với đời sống tinh thần của
những người bại trận.
Có
lẽ không ngẫu nhiên sự liên tưởng thú vị mà tác giả đã gợi đến trong lòng độc
giả là sự so sánh Tổ Quốc Trăm Năm với Giờ thứ 25 của
Gheorghiu. Ông cũng có nhắc đến nhân vật Traian trong Tổ Quốc Trăm Năm.
Nhân
vật Traian Koruga trong The Twenty-Fifth Hour là một con người
liên tục bị các bộ máy quyền lực tái định nghĩa. Đối với Đức quốc xã, anh là
người Do Thái. Đối với phe Đồng minh, anh là lao động cưỡng bức. Đối với bộ máy
hành chính hiện đại, anh chỉ là một hồ sơ. Bi kịch của Traian không nằm ở việc
anh là ai nhưng chính anh không còn được quyền quyết định mình là ai nữa.
Hảo
trong Tổ Quốc Trăm Năm có một số điểm tương đồng đáng chú ý.
Anh cũng nhiều lần bị đổi tên, phân loại, xếp án và chuyển trại. Trước năm
1975, anh là một sĩ quan. Sau năm 1975, anh trở thành “ngụy quân”. Sau đó là “đối
tượng cải tạo” để trở thành “lao động cải tạo” với “án ba năm”. Rồi “chồng án”,
để trở thành “tù nhân”. Mỗi giai đoạn là một lần căn tính bị tái định nghĩa bởi
quyền lực. Điều khác biệt là Hảo không hoàn toàn bị nghiền nát như Traian. Anh
vẫn giữ được một điểm tựa, đó là tổ quốc trăm năm, một nội tâm tự do. Chính
vùng tự do ấy là nơi tác giả đặt toàn bộ trọng tâm tư tưởng của cuốn sách, nơi
bảo tồn ký ức. Những gì giúp Hảo tồn tại không phải là các học thuyết hay những
diễn ngôn chính trị nhưng là thơ Đường, là Truyện Kiều, là Kim Dung, là ký ức về
Nha Trang, là mùi thuốc lào, là một ổ bánh mì Sài Gòn, là những mảnh vụn văn
hóa tích tụ qua nhiều thế hệ. Những chi tiết tưởng như nhỏ bé ấy dần dần tạo
thành một không gian tinh thần đối lập với không gian quyền lực của nhà tù. Nếu
nhà tù tìm cách tái định nghĩa con người bằng các phạm trù chính trị, thì ký ức
văn hóa lại âm thầm khôi phục cho họ căn tính đã bị tước đoạt. Những ký ức ấy
trở thành một hình thức phản kháng văn hóa, gắn liền với tổ quốc trăm năm, đối
trọng với tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Điểm
đáng chú ý nhất về mặt tư tưởng của tác phẩm là không dừng lại ở lập trường chống
cộng sản đơn thuần. Dĩ nhiên tác giả phê phán gay gắt hệ thống cải tạo, nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa thời hậu chiến và cơ chế chính trị độc quyền. Điều đó
hiện diện xuyên suốt tác phẩm nhưng đằng sau những phê phán ấy là một suy tư lớn
hơn.
Ý
nghĩa Tổ Quốc Trăm Năm có lẽ không nằm ở những trang viết về nhà tù mà ở
nỗ lực xây dựng một quan niệm về lịch sử sau khi mọi hệ thống niềm tin đã bị thử
thách bởi chiến tranh.
Trong
phần lớn các cuộc nội chiến của thế kỷ 20, chiến thắng quân sự thường kéo theo
sự độc quyền diễn giải lịch sử. Người chiến thắng không chỉ kiểm soát lãnh thổ
mà còn xác lập quyền kể lại quá khứ. Trong hoàn cảnh ấy, lịch sử dễ bị thu hẹp
thành câu chuyện của một phe phái, một giai cấp hay một ý thức hệ. Những ký ức
khác biệt hoặc bị loại bỏ, hoặc bị đẩy ra bên lề.
Tổ
Quốc Trăm Năm được
viết từ phía những người thất trận nhưng tác phẩm không dừng lại ở tâm thế của
kẻ thất bại. Điều Lê Lạc Giao hướng tới dường như rộng lớn hơn thế. Nhiều lần
trong tác phẩm, nhân vật Hảo trở lại với khái niệm “Tổ Quốc Trăm Năm”. Thoạt
nhìn, quan niệm này có vẻ chỉ là một cách diễn đạt của lòng yêu nước nhưng càng
về cuối sách, người đọc càng nhận ra đây chính là một điểm tựa tinh thần nằm
ngoài các đối kháng ý thức hệ.
Trong
cách nhìn ấy, mọi chủ nghĩa chính trị đều tùy thuộc thời gian ngắn ngủi của lịch
sử. Khi lịch sử xuất hiện, chủ nghĩa phát triển rồi suy tàn. Chủ nghĩa chính trị
có thể mang lại chiến thắng hoặc thất bại, vinh quang hoặc nhục nhã. Trái lại
dân tộc thì thuộc về một chiều kích thời gian khác. Dân tộc tồn tại trước các
chế độ chính trị và tiếp tục tồn tại sau khi các chế độ ấy biến mất.
Như
vậy Tổ Quốc Trăm Năm không phải là tổ quốc của một thế hệ hay một chính
quyền. Đó là tổ quốc của dòng lịch sử dài lâu mà mọi thế hệ đều chỉ là những kẻ
đi ngang qua. Ở điểm này, tác phẩm gợi ra một quan niệm lịch sử đáng suy ngẫm.
Thay vì nhìn lịch sử như cuộc tranh chấp liên tục giữa các lực lượng chính trị,
Lê Lạc Giao dường như muốn nhìn lịch sử như một chuỗi thử thách mà dân tộc phải
trải qua để tự nhận thức về chính mình. Điều quan trọng chẳng phải phe nào chiến
thắng trong từng giai đoạn, mà là dân tộc học được gì từ những bi kịch ấy. Bởi
vậy, “Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta” có lẽ là câu nói mang ý nghĩa
triết học sâu sắc nhất của tác phẩm.
Ở
đây, lịch sử không còn là bản án do những người đương thời tuyên đọc lẫn nhau.
Bản thân các thế hệ hiện tại cũng trở thành đối tượng của một phán xét nặng nề
hơn trong tương lai. Những gì hôm nay được xem là chân lý có thể mai sau trở
thành sai lầm, những điều hôm nay được xem là chiến thắng có thể mai sau chỉ
còn là một biến cố nhỏ trong dòng lịch sử dân tộc. Chính vì thế, triết lý lịch
sử của Tổ Quốc Trăm Năm không nằm ở chiến thắng hay thất bại, nó là triết lý của
sự khiêm tốn trước lịch sử.
Người
tù trong tác phẩm dần nhận ra rằng đời người chỉ kéo dài vài chục năm, trong
khi lịch sử dân tộc trải rộng qua nhiều thế kỷ. Những đam mê chính trị, những
thù hận ý thức hệ và cả những đau thương của chiến tranh rồi cũng sẽ bị đặt lại
trong một viễn cảnh dài hơn. Điều còn lại sau cùng chính là số phận chung của đất
nước.
Nếu
đọc theo cách ấy, Tổ Quốc Trăm Năm là một suy tưởng hậu chiến về khả
năng vượt qua những cắt chia lịch sử. Cuốn sách không kêu gọi lãng quên quá khứ.
Trái lại, nó yêu cầu con người phải nhớ. Nhớ như một ký ức hướng đến sự thấu hiểu
thay vì tiếp tục nuôi dưỡng hận thù.
Trong
một thế kỷ Việt Nam liên tục bị chi phối bởi chiến tranh, cách mạng và đối
kháng ý thức hệ, khái niệm “Tổ Quốc Trăm Năm” như một lời nhắc nhở rằng mọi hệ
thống chính trị đều hữu hạn, trong khi dân tộc luôn lớn hơn bất kỳ chủ nghĩa
nào nhân danh nó. Chính ở điểm ấy, cuốn sách vượt khỏi phạm vi của một chứng từ
lịch sử để trở thành một suy tư về ý nghĩa của lịch sử đối với con người Việt
Nam thời hậu chiến.
‘Có thể nói nội dung “địch – ta”, Hảo
ngày mỗi thấm nhuần thêm sâu sắc. Nó bổ sung cho quan niệm “Tổ quốc Trăm
năm” của anh một bề thế mang tính lịch sử mà anh có thể tin tưởng, hay
nghi ngờ về lòng yêu nước của bất kỳ ai trên mảnh đất quê hương này.
Bởi vì lòng yêu nước của một tổ quốc trăm năm hoàn toàn độc
lập, không lệ thuộc chủ nghĩa hay ý thức hệ. Chủ nghĩa hay ý thức hệ chỉ có giá
trị nhất thời, gắn liền với vinh quang hay nhục nhã bởi chiến thắng hoặc thất bại,
trong khi ý thức Tổ quốc Trăm năm xuất phát từ nỗi xót xa đau khổ của bi kịch
lịch sử dân tộc. Nó thuần túy tình yêu thương gắn bó một quá khứ lịch
sử với truyền thống bướng bỉnh cố chấp, lệ thuộc một
cách đau đớn vì bản chất địa chính trị của đất nước mình. Đời người
chỉ một trăm năm, tổ quốc trăm năm vốn nôm na ý thức dân tộc dành cho bất kỳ ai
chôn nhau cắt rốn trên mảnh đất quê hương này. Nó vun đắp quyết tâm thay đổi
cái nhìn truyền thống để vượt khỏi sự nô lệ truyền thống qua sự biện minh
rằng đất nước chúng ta “không thể khác được những gì mà lịch sử bao đời dạy bảo.”
Kẻ nào nhìn thấy sự nô lệ quan điểm lịch sử vào truyền thống địa chính trị,
khao khát sự cải cách thay đổi đất nước, kẻ ấy đang hiện thực ý thức tổ quốc
trăm năm.’ (Tổ
Quốc Trăm Năm, Chương 16)
Vô
tình không hẹn mà Lê Lạc Giao gặp gỡ một số nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 20
trong thái độ đối với lịch sử. Ở cuối đời, Solzhenitsyn cũng đi từ việc chống đối
chế độ Xô Viết đến câu hỏi rộng hơn về số phận nước Nga. Milan Kundera đi từ biến
cố 1968 đến ký ức của dân tộc Tiệp, và Václav Havel đi từ nhà tù đến trách nhiệm
đạo đức của công dân trong lịch sử. Nhà văn Lê Lạc Giao cũng chia sẻ một thao
thức tương tự. Làm thế nào để không biến lịch sử thành tài sản riêng của một
phe chiến thắng hay một phe thất bại, mà trả nó lại cho dân tộc trong toàn bộ
chiều dài sử lịch.
Kết
“Tổ Quốc Trăm Năm” là một cuốn tiểu thuyết
với nhiều suy tư sâu sắc qua lời kể chuyện sống động và khách quan. Nếu chỉ đọc
tác phẩm như một hồi ký tù cải tạo thì sẽ bỏ lỡ phần quan trọng nhất của nó. Điều
tác giả muốn nhấn mạnh là người Việt Nam sau 1975 phải sống với ký ức chiến
tranh như thế nào?
Chúng
ta sẽ sống bằng ký ức hay sống với ký ức?
Sống bằng ký
ức có nghĩa là bị quá khứ chi phối mãi mãi, trong khi sống với ký
ức là nhớ quá khứ nhưng không bị giam cầm trong bóng ma của quá khứ.
Toàn
bộ hành trình của Hảo từ Long Thành cho đến ngày được thả tự do có thể xem như
một hành trình đi từ sống bằng ký ức sang sống với ký
ức. Đây là câu chuyện từ một thế hệ trải qua bao nhiêu hệ lụy của tù đày cải tạo
đang cố gắng tìm một ngôn ngữ mới để nói về cuộc chiến Việt Nam. Giá trị của “Tổ
Quốc Trăm Năm” vì thế không chỉ nằm ở phương diện hồi ký tù cải tạo nhưng chúng
ta nên nhìn tác phẩm như một văn bản phản ảnh tiến trình tái cấu trúc ký ức của
cộng đồng người Việt sau năm 1975.
Trong
ý nghĩa ấy, cuốn sách đứng ở giao điểm giữa văn học chứng nhân, hồi ký chính trị
và suy tưởng về căn tính dân tộc. Nó đặt ra một câu hỏi vẫn còn nguyên tính thời
sự đối với nhiều thế hệ người Việt. Một cộng đồng từng bị chia cắt bởi chiến
tranh và ý thức hệ sẽ phải đối diện với ký ức lịch sử của mình như thế nào để
không tiếp tục trở thành tù nhân của chính quá khứ ấy.
Có
lẽ câu kết của cuốn sách cũng là câu kết thích hợp nhất cho toàn bộ hành trình ấy.
Con người có thể có nhiều quê hương trong đời, nhưng chỉ có một Tổ quốc. Tổ
Quốc Trăm Năm. Tôi cho rằng hành trình đi từ nhà tù đến nhận thức này là ý
nghĩa sâu xa và đáng nói nhất của tác phẩm.
Vũ
Hoàng Thư
Tháng 6, 2026