Saturday, May 9, 2026

GIAI ĐIỆU TỪ CƠN MƠ – Theme from a Dream (*)

Vũ Hoàng Thư
tản mạn
 
Al Hirt. Theme from a dream
 
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
 
Tiếng trumpet của Al Hirt “Theme from a Dream” vọng lại một trưa tháng 5, mơ màng như một giấc mơ đang tan. Cái gì đọng lại sau một cơn mơ nhỉ? Một chốn cũ, một thời đã qua? Tiếng kèn cất lên mồn một, đưa dẫn những bước chân vô định trở về quá khứ. Bản nhạc không lời nên không có câu chuyện kể. Chỉ âm nhạc dập dồn luống nhớ. Như một luồng gió thổi qua, hồi tưởng ngất ngây rồi bay mất. Chớp nhoáng như một ánh mắt, như vệt nắng đậu hờ bờ tóc đã không còn. Như tiếng guốc cuối hành lang và hương tóc ngậm hờn gió biển. Có phải giai điệu từ cơn mơ là những khoảnh khắc ấy? Theme from a Dream?
 
Thế nào là Theme from a dream? Có thật giấc mơ diễn biến theo một sắp đặt từ đời sống? Rất có thể. Cuối cùng những hoạt cảnh trong đời sống của chúng ta là gì? Những giấc mơ tiếp tục từ phóng cảnh này sang góc thấy khác. Có chăng ta trở thành người quan sát trong giấc mơ. Mọi sự xoay chiều. Có lúc ta làm chủ tình hình, có lúc ta bị lôi cuốn y hệt như dòng đời trôi nổi lúc mở mắt. Trang Tử thấy con bướm trong giấc mơ. Có thể là thật sự có một giấc mơ về con bướm. Nhưng khi con bướm đi ra khỏi giấc mơ nó tạo những mối tư lự. Từ đó có sự so sánh, từ đó có phân biệt và ta cuốn hút mãi trong thế giới của chính mình. Mọi sự nảy sinh từ ý niệm. Tôi suy tư nên tôi hiện hữu như là điều tất yếu, Descartes nói thế.
 
Có một bài thơ của Hoàng Chân Y (Hwang Jin-yi, 1506-1544) khá thú vị ở chỗ cô nói về mơ ước ngay trong cơn mơ, mộng trung hữu mộng. Hwang Jin-yi là một gisaeng (kỹ nữ) nổi tiếng nhất thời vua Trung Tông (Jungjong), triều đại Joseon Đại Hàn. Nàng còn có kỹ danh là Myeongwol, Minh Nguyệt. Nàng rất đẹp, thông minh và trí tuệ phi thường. Nói đến Minh Nguyệt không thể không nhớ đến nàng Thúy của Đoạn Trường Tân Thanh, mai cốt cách tuyết tinh thần.
Gisaeng là một giai cấp được huấn luyện từ nhỏ về cầm kỳ thi họa để khi lớn lên phục vụ giai cấp thượng lưu và quan lại thời xưa ở Triều Tiên. Gisaeng tương đương như geisha ở Nhật. Gần đây Đại Hàn, Nam cũng như Bắc, đều có phim ảnh, phim bộ nổi tiếng về cuộc đời của bà do nữ tài tử Song Hye Kyo diễn.
Hoàng Chân Y mộng như thế này,
 
Tương tư mộng
Tương tư tương kiến chỉ bằng mộng    
Nông phỏng hoan thời hoan phỏng nông   
Nguyện sử dao dao tha dạ mộng
Nhất thời đồng tác lộ trung phùng
 
Dịch nghĩa :
Nhớ nhau gặp nhau chỉ bằng mộng
Ta bắt chước người yêu cùng một lúc người cũng làm theo giống ta
Ước cùng nhau chạy nhanh vào mộng
Để cùng lúc gặp nhau giữa đường trong mộng
 
Nhớ người từ mộng
Nhớ nhau tìm gặp chỉ trong mơ
Ta ngóng theo người, người cũng chờ
Cùng bước thênh thang trôi đêm mộng
Mê lộ trùng phùng giữa bước mơ
(Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)
 
Đang nói về mộng lại vừa hay tin nhà thơ Phạm Thiên Thư đã vĩnh viễn ra đi. Không gì trùng hợp hơn! “Ngày xưa” trong ngày xưa hoàng thị của ông Phạm không phải là mốc thời gian mà chính là một cõi mộng. Mộng của lá me, sân trường, áo trắng, chuông chùa, mùa thu, cỏ hoang… Tất cả vừa rất thật vừa rất xa. Thơ Phạm Thiên Thư nối Tình cùng Đạo. Không nói cao siêu về lẽ đạo nhưng bàng bạc chất vô thường của trần gian. Hoa vui cùng bướm qua xuân rồi hạ, rụng xuống khi gió heo may về, em vào nằm trong đất để bướm khua râu. (**) “Hỡi em ơi, mây đã qua cầu”! Như giấc mộng đấy chứ! Như vòng xích thành, trụ, hoại, không của kiếp nhân sinh.  “Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng”, người thơ đã thật sự bước vào cõi mộng hoa vàng. Xin đốt nén trầm, nghiêng mình cùng hương khói đưa tiễn ông, một tài hoa hiếm hoi, trác tuyệt của thi ca Việt!
 
Lại nhớ đến những đêm khuya đối ẩm cùng người bạn Lê Lạc Giao, anh ngồi gục đầu, thỉnh thoảng ghé ly rượu vào tai. Anh bảo chỉ có thính giác mới nhận biết những lời trầm lắng của men. Chúng ta, cõi người, anh nói, “là những dạt trôi tìm một bến bờ vô định”.
 
Ừ những cơn mộng, những dạt trôi, vô bờ...
 
VŨ HOÀNG THƯ
May 7, 2026.
-----------------------------
(*) “Theme from a Dream”, Al Hirt, Honey in the Horn, 1963
https://www.youtube.com/watch?v=m7eMMlV5GyI
 
(**) “Em lễ chùa này”, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy
 

  

Friday, May 8, 2026

PHẠM THIÊN THƯ. CAFE ÂM U

Lê Chiều Giang
                                   
                                  
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
 
                                                                                   “...Cõi người có bao nhiêu
                                                                                       Mà tình sầu vô lượng…”
                                                                                                     [PhạmThiênThư]
 
Khi bay tới Havana, tôi không ở tại thành phố có những kiến trúc nửa cổ điển, nửa tân kỳ. Những hào nhoáng của vài building, cố gắng hết sức để từa tựa như White House hay Toà Nhà Quốc Hội ở Washington DC.
Đáp chuyến xe lửa ầm ĩ, còn nguyên những trăm năm của một chuyến tàu vừa chậm chạp, vừa cũ kỹ. Từ Havana tôi ghé Matanzas Town.
Loanh quanh trong những xóm nghèo, tôi tìm ra con phố bé xíu, nơi tôi hỏi thuê một căn phòng nhỏ, chẳng có chút tiện nghi nào.
Tiện nghi? Có phải đã chẳng đâu bằng nước Mỹ, nhất lại là California...
Khi đến với Cuba, tôi mê những heo hắt, những nắng tàn mưa sớm, cùng sự quạnh hiu của mỗi đêm về, trong những khu xóm nghèo nàn của phố nhỏ Mantanzas.
Chiều chiều, tôi hay ngồi cafe ở một quán nhỏ ngoài trời. Dựa lưng bên tường vôi loang lở, nhìn những vũng nước chẻ đôi chẻ ba trên nền gạch vừa nghiêng chao, vừa như sắp vỡ.
Tôi ngồi đó tới tối, chờ khi ánh đèn măng xông thắp sáng. Cái ánh sáng không tối, cũng chẳng bao giờ đủ sáng, hắt ra từ cái xóm lạ mà như đã rọi soi, đã theo tôi tìm về chút tàn rơi, của một đời sống từ những tháng ngày vô cùng xưa cũ…
 
-----------
 
Ôm ấp nhiều mơ màng, tuổi 15, 17 tôi mang thơ Phạm Thiên Thư rải trên tóc thơm tho, viết trong tà áo trắng.
 
“...Anh khoác áo nâu sòng
Em chân trời biền biệt…
 
...Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông…”
                       [PhạmThiênThư]
 
Và rồi khi đất nước điêu linh năm 1975. Những thơ, những văn chương chữ nghĩa đã rụng rơi theo mọi thứ hoang tàn, của một quê hương lầm than với đầy những tai ương và điên đảo.
 
Lần đầu tiên anh đến nhà chúng tôi ở Cư xá Thanh Đa, Phạm Thiên Thư chẳng mang dáng vẻ gì của một Thi sĩ như tôi từng tưởng tượng qua những vần thơ hằng đọc thời thiếu nữ. Anh cũng chẳng màng gì̀ nữa đến chuyện thi ca, văn chương hay thơ phú.
Nghiêu Đề và Phạm Thiên Thư, hai nhân vật sống vất vưởng trên mây, giờ phải ngồi giữa nhà, bàn chuyện cơm áo. Đó là những tháng ngày của đầu năm 1977.
Anh nói với giọng điềm đạm, chậm rãi. Chú chó nhỏ của tôi nằm bên bàn tay ve vuốt của Anh mà lim dim như sắp ngủ.
“CON CHÓ LIÊM SỈ”, tên mới anh Nghiêu Đề đặt, khi qua đã nhiều ngày mà nó nhất định không ăn bo bo, mì sợi, khoai sắn, như chúng tôi đã phải ăn mọi sáng, mọi trưa và
chiều tối.
Nó có liêm sỉ hơn chúng tôi, nó quyết liệt, nó thà nhịn đói, nó thà chết...
 
----------
 
Phạm Thiên Thư giận dữ với câu chửi thề hiếm hoi, quăng hộp diêm mà dù cố gắng lắm, cũng chẳng có que nào cháy, vô lò than. Loại than mà không phải riêng anh, cả nước đã không ai nhóm nổi. Có lần tôi đã phải đầm đìa nước mắt vì khói và với cả tức giận, vì sau 2 tiếng loay hoay, tôi cũng không biết làm sao cho than cháy trước bữa cơm chiều.
 
“Quán” Cafe mà luôn chỉ có 2 người. Anh Nghiêu Đề và tôi.
Một ông yêu thơ Phạm Thiên Thư, có căn nhà trên đường Phan Thanh Giản, tốt bụng cho Anh Chị kê 2 chiếc bàn nhỏ bên góc hiên nhà để bán cafe, đặc biệt là chỉ được bán buổi chiều, sau 5 giờ.
Quán không có điện, chút ánh sáng vật vờ từ những ngọn đèn đường, không đủ cho chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Nhờ chút ánh lửa từ lò than rực rỡ, có khi đã làm cho đêm bớt tối tăm, và như đã sưởi ấm bốn người chúng tôi, nhỏ to quanh những câu chuyện mà ai cũng chỉ dám thì thào, nho nhỏ...
Khởi đầu cho những tiếng cười, luôn là lúc anh Nghiêu Đề quăng gói Vàm Cỏ trên bàn mời mọc: “Hút đi ông, hút đại đi cho nó… bổ”.
Mỗi tháng, “Văn nghệ sĩ” được mua 4 gói thuốc lá, anh Phạm Thiên Thư phải để dành Vàm Cỏ để bán lẻ cho khách, anh chỉ hút thuốc “lá đu đủ Lạng Sơn”. Rất chậm rãi, và lặng lẽ, anh quấn những sợi thuốc lá trong tờ giấy lịch, hình ảnh trông hiền lành, lại có chút gì như sắp cam tâm.
Để ý, tôi thấy anh chỉ sôi nổi khi bàn về ‘Dưỡng Sinh Điển Công”, một môn Đông Y mà sau 1975 rất nhiều người theo học, vì cả nước có nhu cầu mà chẳng bao giờ được đầy đủ thuốc men.
Bạn bè thường nhờ anh hướng dẫn về thuốc Nam, nhân tiện anh giúp bấm huyệt cho hết nhức mỏi, đau tứ chi, hay cả đau đầu...
Có khi tôi thấy anh có tướng của một ông thày bốc thuốc hơn là một Thi sĩ. Tôi đã dần quên đi một Phạm Thiên Thư có những vần thơ trác tuyệt, một Phạm Thiên Thư đã mang đầy hương lửa bay theo gió thơm tho, tỏa hương vào giấy vở học trò thơ mộng của chúng tôi.
Thay vào đó, chị Mai Trinh, hiền thê của anh nhẩn nha đọc thơ của chị như một lời giải bày buồn bã:
 
“...Ta với người giữa dâu bể mênh mông
Ta với người đã hơn là như thế
Mới hiểu trái tim hồi chuông tắt lửa
Suốt đời nhau rên rỉ điệu cầu hồn…”
[Mai Trinh]
 
 Với đôi mắt long lanh sáng, bên bếp lửa Cafe, chúng tôi thường được nghe chị đọc những vần thơ đẹp như trăng như sao …
 
 Cafe Phạm Thiên Thư vắng tanh, với những im lìm, dù quán chỉ xao xác với 2 chiếc bàn.
Thỉnh thoảngThi sĩ Bùi Giáng, vai khoác chiếc túi rách tả tơi, tay kéo theo sợi giây dài có gắn rất nhiều lon sữa bò sét rỉ. Với vẻ mặt hóm hỉnh, Ông nghênh ngang tới ngồi ở chiếc bàn còn lại, thở lấy thở để và hít hà mùi khô khét của khói than.
Tiếng kêu của những lon sữa kéo lê, khi chầm chậm, lúc vội vã trên nền ciment, tạo ra một âm thanh vừa kỳ quái, vừa dễ sợ. Cộng thêm là tiếng cười man dại, đầy cuồng điên của Bùi Giáng…
 
Nhưng đó là những âm thanh, những lao xao duy nhất của Cafe Âm U.
 
-------------
 
Tôi uống tới ly cafe thứ 4, trong buổi chiều cuối cùng ngồi với Cuba.
Mưa lất phất lạnh, tôi vẫn dựa lưng trên vách ướt ngoài trời, vẫn ngó mông xa ra con hẻm nhỏ có những mái nhà hoang sơ ướt.
Chủ quán múa tay cho tôi hiểu phố xá đang bị cúp điện. Bà muốn tôi vô trong ngồi cho ấm áp..
Hơ đôi tay lạnh, tôi nhìn ngọn lửa đỏ chấp chới trong bếp nấu cafe.
Ánh lửa làm bùng cháy nỗi nhớ của tôi về quán cafe tăm tối của Phạm Thiên Thư 40 năm về trước. Cái quán mà bàn ghế cũng quạnh hiu, chỉ có 4 chúng tôi buồn rầu ngồi thở than cùng ế ẩm. Cafe âm u tối, Cafe với những mưa bay, và gió se sắt lạnh của Sài Gòn.
 
“Quán cúp điện” ở tận Cuba, mà sao tôi lại thiết tha nhớ về những con đường tăm tối, những ngày Sàigon, nhiều khi ánh điện đã chẳng tới được bất cứ nhà ai?
Đêm đó, cũng như mọi đêm không đèn đóm. Cafe Phạm Thiên Thư ngoài ánh lửa, còn có chút trăng soi.
Trăng nghiêng trên tóc anh, và lần đầu tiên chúng tôi nghe anh thầm thì, lan man đọc lại những vần thơ cũ.
 
“Xưa em làm kiếp chim
Chết mục trên đường cỏ
Anh làm cội băng mai
Để tang em mấy thuở
 
Xưa em làm chữ biếc
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là Thiền Sư buồn
Ngồi tụng dưới ánh trăng…”
[Phạm Thiên Thư]
 
Rời Cuba khi trời còn mờ mờ tối, quán Cafe tôi hay ngồi vẫn chưa mở cửa.
Phía trước tôi, là một ông Cuban. Trong ánh sáng mù câm, tôi chẳng thấy gì, chỉ nghe tiếng rớt rơi của những chiếc lon, mà Ông đang quăng ra từ vài đống rác nhỏ ven đường.
Chút lúng túng của những tiếng rơi, sao tôi nghe như nhiều gần gũi?
Suốt chuyến bay dài, tôi đã chẳng nghe thấy gì khác. Bên tai tôi là vang vọng cái âm thanh lạ kỳ...
Âm thanh từ chuỗi những chiếc lon được kéo rất ngập ngừng, nhưng lê thê buồn của Bùi Giáng.
LÊ CHIỀU GIANG
[ Trích Không Đứng Mãi Trong Tranh]

  

Thursday, May 7, 2026

TIỄN PHẠM THIÊN THƯ


 

Rằng xưa có gã từ quan
n non tìm động hoa vàng ngủ say  

Thi sĩ đã về tới động hoa vàng
Xin người yên giấc

Wednesday, May 6, 2026

MAI THẢO. MỘT LẦN GẶP

Huỳnh Liễu Ngạn
 

Mai Thảo. Tác phẩm
 
em đủ mười phương từ tuổi nhỏ
ngần anh phương anh tới tuổi già
(Mai Thảo)
 
Một buổi sáng trời thật xanh. Tôi một mình đi trên đường Bolsa. Đi lên Phước Lộc Thọ. Đi như nỗi buồn tha phương bên góc phố chợ đời. Đi theo từng bước chân không biết sẽ về đâu của một ngày nắng ráo. Trời thì đầy những tiêng động của buổi sớm mai. Đi tìm một ly cà phê hay là đi tìm một vầng thơ nơi đất khách. Chỉ có vậy thôi mà sao dòng đời cứ tất bật. Cứ cô quạnh hẩm hiu...Cứ quanh quẩn những muộn phiền không tên tuổi. Tại sao phải là thơ. Nếu không đời mình sẽ là gì giữa xôn xao cuộc sống. Trước mắt tôi là một dáng người cao đi ngược lại. Không quen biết. Nhưng sao nhìn nhau rồi mỉm cười. Hai người tha phương trên con phố mượn tạm của xứ người lạc lỏng. Không ai tự giới thiệu mình là ai. Nhưng tôi biết đó là người đã chối bỏ tất cả. "Tôi xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi.Tôi thơ..." *. Dừng lại rồi cùng nói về thơ. Về những tác giả trên báo Văn. Trong đó có tôi người đứng trước mặt. Phải làm mới đừng lập lại như những bài thơ đã qua. Tôi nhớ nhưng đến bây giờ vẫn chưa vượt qua nỗi. Cảm ơn nhà văn Mai Thảo, một lần gặp
Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi
(Bùi Giáng)
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
9.3.2026
 
* Bờ cõi khởi đầu (Mai Thảo) 

Sunday, May 3, 2026

BIỂN. SÓNG

duyên
 
Vienice, CA. March 2026
 
Biển màu xanh. trời giặc sương mù
những cánh hải âu…
từ Việt Nam bay đến?
người chạy bộ bên chú chó lon ton…
một buổi sáng bình yên. đẹp.
 
Ly cà phê trong tay. người qua lại
một người cuộn chăn ngủ ven đường
giầy da đen. đắt tiền. ngạo nghễ
dấu vết một dĩ vãng đẹp. mới hôm qua.
 
Tiếng cười nói ồn ào đi tới
tay trong tay…
bên mình. những túi hàng thương hiệu lớn
người khỏe đẹp… 
trên vai: thuyền trượt nước
khẳng định một lối sống vui. đầy thử thách.
 
Biển bỗng ồn ào. cuồng nộ từ khơi…
sóng từ đâu đến
không lẽ… Việt Nam?
ngọn sóng bạo tàn năm cũ
đã cướp bao sinh mạng
biết bao gia đình
những “thuyền nhân” vượt biển
đánh đổi đời mình / cho hai chữ tự do.
 
Những mảnh đời còn lại
đã cập bến bờ
mong yên bình…
mãi đẹp như biển sáng nay
có được không
hay sóng ngầm từ lòng biển 
vẫn đợi chờ?
 
DUYÊN
03.25.2026

  

Thursday, April 30, 2026

NOOR HINDI: THƠ CHO MỘT ĐẤT NƯỚC ĐÃ MẤT

Phan Tấn Hải


Noor Hindi đọc thơ trên YouTube.



Noor Hindi. Tác phẩm
 
    Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của cô nói gì?
    Cô đã đứng đọc thơ tại các trường đại học, đọc lên những bài thơ nói lên căn cước của cô, thí dụ như bài có tựa đề "Self-Portrait as a Palestinian" (Tự mô tả như một người Palestine) với những dòng như:
 
Tôi là tấm bản đồ của một đất nước không còn hiện hữu
trên các bức tường lớp học của bạn. Tôi là lớp đất
dưới các móng tay của một bóng ma.
Mỗi khi cất lời, tôi đang phiên dịch một nỗi câm lặng
trong nhiều thập niên bị bưng bít.
 
    Nếu bạn vào YouTube và gõ hai chữ "Noor Hindi" bạn sẽ thấy những buổi đọc thơ của cô tràn ngập giảng đường đại học Hoa Kỳ. Cô có văn phong thơ phù hợp với giới trẻ Hoa Kỳ, và những đau đớn vì dân tộc Palestine bị quân đội Israel diệt chủng đã chuyển thành một ngôn ngữ thơ rất đặc biệt nơi đây.
 
     Noor Hindi đặt chân đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn là một đứa trẻ thơ. Cô sinh năm 1995 tại Amman, Jordan, trong một gia đình tị nạn người Palestine. Đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn nhỏ, cô lớn lên tại Akron, Ohio, trong một cộng đồng chủ yếu bao gồm những người tị nạn đến từ Bhutan và Nepal. Tiểu sử công khai của cô không ghi rõ năm vào Mỹ, chỉ biết rằng cô đã sinh sống tại Hoa Kỳ từ cuối những năm 1990s hoặc đầu những năm 2000s.
     Sau khi lấy bằng Cử nhân (BA) chuyên ngành Tiếng Anh tại Đại học Akron, cô tiếp tục theo học chương trình Thạc sĩ Mỹ thuật (MFA) chuyên ngành Thơ ca của trường (giai đoạn 2017–2019) thông qua chương trình NEOMFA. Năm 2020, tổ chức Twelve Literary Arts đã lựa chọn cô tham gia Chương trình Nghệ sĩ Lưu trú Barbara Smith của họ. Một năm sau đó, cô vinh dự nhận được Học bổng Thơ ca Ruth Lilly và Dorothy Sargent Rosenberg do Quỹ Thơ ca (Poetry Foundation) trao tặng.
      Tập thơ đầu tay của cô— "Dear God, Dear Bones, Dear Yellow" (Haymarket Books, 2022)—đã nhận được giải thưởng Danh dự (Honorable Mention) tại Giải thưởng Sách Mỹ gốc Ả Rập (Arab American Book Award). Hiện cô đang biên tập một tuyển tập thơ Palestine cùng với George Abraham (Haymarket Books, 2025).
     Bên cạnh việc biên tập các tuyển tập thơ có chủ đề Palestine, cô vẫn tiếp tục công việc phóng viên của mình, tập trung vào các vấn đề về sự công bằng và tính hòa nhập. Cô từng đảm nhiệm vị trí Phóng viên chuyên trách về Công bằng và Hòa nhập cho tờ báo The Devil Strip tại Ohio.
     Tính đến đầu năm 2026, cô đã thực hiện các chuyến lưu diễn và tham gia các buổi đọc thơ tại những tổ chức lớn—chẳng hạn như Đại học California, Irvine—cũng như tại các lễ hội văn học, tiêu biểu là Lễ hội Thơ New Orleans; tại đây, cô tham gia các phiên thảo luận bàn tròn xoay quanh chủ đề thơ tài liệu và báo chí hoạt động xã hội.
     Hiện tại, cô đang sinh sống và làm việc tại Dearborn, Michigan—nơi được biết đến là quê hương của một trong những cộng đồng người Mỹ gốc Ả Rập lớn nhất cả nước—một yếu tố góp phần định hình sâu sắc trọng tâm trong các tác phẩm thơ ca cũng như hoạt động báo chí của cô về cộng đồng người Palestine hải ngoại.
    
      Sự xuất hiện của nhà thơ Noor Hindi trong giới văn chương được đánh dấu bằng thành công vang dội của bài thơ "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" (Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối), tác phẩm mà sau này đã trở thành tựa đề cho tập thơ đầu tay của cô, được nhà xuất bản Haymarket Books ấn hành vào năm 2022. Bài thơ đã tạo nên tiếng vang trên phạm vi toàn cầu, phản ánh một cách chân thực nỗi đau của những cây bút thường bị các tạp chí thơ yêu cầu phải đặt "vẻ đẹp thẩm mỹ" lên trên thực tại khẩn thiết của bạo lực và chiến tranh.
      Sau đây là bản dịch bài thơ tự do tựa đề "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" dài 14 dòng của Noor Hindi:
 
Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối
 
THƠ NOOR HINDI
 
Bọn thực dân viết về hoa.
Còn tôi kể cho quý vị nghe về các trẻ em ném đá vào xe tăng Israel
chỉ vài giây trước khi hóa thành những đóa hoa cúc.
Tôi muốn được như các nhà thơ kia—những người say đắm với mặt trăng.
Dân Palestine không thể nhìn thấy trăng từ sau song sắt nhà tù.
Trăng đẹp biết bao.
Và hoa cũng đẹp biết bao.
Tôi hái hoa dâng lên người cha đã chết mỗi khi tôi buồn
Cha tôi cả ngày chỉ ngồi xem đài Al Jazeera.
Tôi ước rằng Jessica đừng nhắn tin chúc tôi "Lễ Ramadan vui vẻ" nữa.
Tôi biết mình là người Mỹ, vì mỗi khi tôi bước vào một căn phòng, thì lại có điều gì nơi đó chết đi.
Các ẩn dụ về cái chết chỉ dành cho các nhà thơ nghĩ rằng những hồn ma cũng bận tâm đến âm thanh.
Khi tôi chết, tôi hứa rằng tôi sẽ về ám ảnh quý vị mãi mãi.
Rồi một hôm, tôi sẽ viết về những đóa hoa—như thể chúng thực sự thuộc về chúng ta vậy..
 
PTH

Tuesday, April 28, 2026

THIỆP MỜI RA MẮT SÁCH

Tạp chí Ngôn Ngữ, Diễn đàn Da Màu & Việt Báo Foundation
 
trân trọng kính mời quý vị tham dự buổi ra mắt sách
 
Bùi Vĩnh Phúc • Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương
 

của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc

tại Coffee Factory, 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683 

vào lúc 4:00 giờ chiều ngày 16 tháng Năm, 2026

Sự hiện diện của quý vị sẽ làm cho buổi gặp mặt thêm phần trang trọng và ấm cúng.

Ban Tổ Chức trân trọng kính mời