Saturday, September 5, 2026

P H O N G L I N H

Hoàng Xuân Sơn
 


tôi lanh canh đời tôi
mà em nào nghe thấy
)(
HXS@271121

18 BÀI HAIKU. GỞI ÁNH TÀ DƯƠNG

Nguyễn Đức Nhân
 
Tranh thơ Kaiku
 
         * Thân tặng nhà văn Lê THỊ HUỆ, chủ biên GIÓ-O hải ngoại.
 
1.
Chập choạng tà dương
dường như người tiều phu vung rìu
đốn  giấc mơ của đá
 
2.
Nắng chang chang trên đồng
chim chiền chiện lao vút tầng không                       
tiếng hót trong mây rơi lả tả
 
3.
Đậu trên đầu  trụ cọc giữa ao
chim bói cá đang rình
bắt bóng mây mùa hạ
 
4.
Dưới chân núi
tiếng chuông giáo đường thôi thúc
âm thanh tung rơi những búp hoa huệ trắng
 
5.
Nắng chiều đã cạn, chim không hót nữa
trên tán cây, bóng tối thì thầm
chiếc lá vàng rơi nghiêng
 
6.
Mùa hạ sắp qua
những chiếc lá già khẽ khàng
mang sắc thu tiềm ẩn
 
7.
Kìa, nhìn vầng trăng khuyết
bạn ơi đừng hỏi
một vầng trăng xưa
 
8.
Màu trắng là gì
lưỡi tôi băng giá
hởi người bạn mù lòa
 
9.
Chú chim đứng một chân
giấu trong đôi cánh
cơn gió mùa thu
 
10.
Trăng mờ sương
tiếng chuông khuya
vuốt cong mái ngói rêu phong              
 
11.
Thời tiết đang hanh khô
đàn kiến gồng gánh, bồng bế ra đi
gió đã chuyển mùa
 
12.
Đi qua đồi cỏ lau
tôi dừng chân
bên đóa hoa nhỏ nhiệm màu
 
13.
Hoan hỷ biết bao
sự thật ngàn xưa
còn lưu trong lá cỏ
 
14.
Kìa, hạt sương long lanh
ồ, cái đẹp mong manh 
rơi trong khoảnh khắc nầy
 
15.
Cao nguyên  vào thu
ngọn thông và chóp núi
nhấp nhô  giữa biển sương mù
 
16.
Gió chiều thoảng hương
tôi cùng ánh nắng
ngắm đoá hoa dại bên đường
 
17.
Mở cánh cửa chiều thu
mái tóc xanh bay trong  gió thu vàng
người ra đi
 
18.
Tia nắng ban mai
vừa xoi thủng màn sương
rừng thông tỏa hào quang ngũ sắc
 
Đà-lạt, 30.8.2026
NĐN
 
 

Friday, September 4, 2026

SÁCH MỚI


Trân trọng giới thiệu:
 

LANG THANG NGHÌN DẶM TẬP II
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
 
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026
 
 
@@@
 
 
 
LỜI GIỚI THIỆU
 
Lang Thang Nghìn Dặm Tập II: Một thời của
thơ mộng, ly tán
Phan Tấn Hải
 
Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm.
 
Nơi sách này, chúng ta sẽ đọc qua mắt nhìn của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) về các tác giả:
 
-- Đỗ Hồng Ngọc, một chàng Đỗ Nghê làm thơ rất "tinh nghịch, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, cảm động" -- và là một người viết về Thiền để mời độc giả "chậm lại, nghe tiếng trái tim, cho ta năng lực để thấm thía được hết những đau khổ và hạnh phúc, mới tu học được bốn tâm vô lượng";
-- Ngô Thế Vinh, qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, nơi NTKM viết là "Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh";
 
-- Đặng Mai Lan, người "đã dẫn tôi vào một cõi hư hư thực thực với bóng đêm, với tiếng thầm của nước mắt chảy trên gò má, với tiếng sương rơi, tiếng dế gõ khuya, tiếng cười rúc rích trong lá, với tiếng chuông tình yêu lao xao tàng cây";
 
-- Trịnh Y Thư, người viết "trữ tình mà không thiếu ánh sáng lóng lánh của trí tuệ. Có đủ cả hai như thế là do Trịnh Y Thư vừa có tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ vừa có nội lực dồi dào của tri thức";
 
-- Đặng Thơ Thơ, người ghi lại "một hiện tại chứa đựng vẻ đẹp của miên viễn, vẻ đẹp tâm linh của thiên nhiên, của đồ vật, nhìn thấy được qua hơi thở của sự sống, chẳng phải nhà văn đã lôi ra cho chúng ta thấy cái đẹp thường hằng trong mong manh? Đó là tuệ giác về vô thường";
 
-- Trần Mộng Tú, người có dòng thơ ghi lại "Sự cảm thụ thời gian được thể hiện hết sức hồn nhiên, tự nhiên, nên nó hết sức trẻ, cho dù sau nó là ẩn ý sự tàn phai";
 
-- Nguyên Yên, người viết "bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén, can đảm và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình";
 
-- Cao Vị Khanh, người "không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ";
 
-- Lê Giang Trần, qua thi tập Trạm Người Quá Bước, "là nỗi lưu đày của thân phận ly hương, và nỗi trôi giạt phận Người. Thế ra nhà thơ, cũng như triệu người Việt tha phương chịu tới hai lần lưu vong. Cái lưu vong nguyên thủy kiếp người. Cái lưu vong của nghiệp, phần Việt Nam";
 
-- Nguyễn Đức Cường, một nhà thơ "ngẩn ngơ bởi tiếng vọng của chợt thấy, và, lặng yên bình an trong tiếng thầm thì, Ta Xa Nhau Thành Thơ. Một hành trình khởi đi từ cảm thức hiện sinh, và nơi đến của cảm thức tâm linh. Một cuộc hóa thân nhiệm mầu ở cuối cuộc hành trình, để người thơ gặp lại tiếng khóc đầu tiên và nấm mồ nên thơ của khói sương mộng huyễn";
 
-- Phan Tấn Hải, người viết truyện "hư hư thực thực, thời gian thì phi tuyến tính, cái hấp dẫn là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man vào mơ, rồi tan như ảnh ảo, đó là không khí của hiện thực huyễn ảo... Như mùi hương ẩn mật, như vạt nắng sớm trong lời kinh Pháp Cú";
 
-- Khế Iêm, người làm thơ đã "thấu cảm được hiệu quả cùng sự bất lực của lời đối với ý tưởng và cảm xúc của mình, sự tích lũy kinh nghiệm ấy khiến dặm trường của ngôn ngữ thơ là cuộc thể nghiệm chữ không ngừng. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm là một hành trình theo đuổi, tìm tòi...";
 
@@@
 
Phần 2 của tuyển tập được Nguyễn Thị Khánh Minh đặt nhan đề là Tâm Hương, nơi chị ghi lại suy nghĩ và các bài thơ chị tặng các bạn văn đã rời cõi này, trong đó có Nguyễn Tôn Nhan (rời cõi này năm 2010), Trương Thìn (2012), Nguyễn Xuân Hoàng (2014), Phùng Nguyễn (2015), Đinh Cường (2016), Du Tử Lê (2019), Nguyễn Lương Vỵ (2021), Huỳnh Ngọc Chiến (2021), Cung Tiến (2022), Lê Thiết Cương (2015).
 
Và đặc biệt là lời Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại một kỷ niệm năm 2009 khi chị được hội kiến cố Hòa Thượng Tuệ Sỹ, người đã ra đi năm 2023. Nhà thơ nữ họ Nguyễn kể rằng cơ duyên này là sau buổi ra mắt tập thơ Bùa Hương của chị tại quán cà phê Du Miên, lúc đó in chỉ với 50 ấn bản do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009. Nhà thơ Lữ Kiều sau đó đưa nhà thơ đến chùa Già Lam để hội kiến Thầy Tuệ Sỹ.
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại, trích: "Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Thiền Sư gõ trên phím những nốt nhạc âm vang lời kinh hồi hướng, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc ôi, Như Lai đâu có đi có đến… Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu… Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… Thời gian tiếng dương cầm, như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người..."
 
Độc giả sẽ tìm thấy giá trị văn học trong tuyển tập Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 qua những dòng chữ thơ mộng của Nguyễn Thị Khánh Minh, sẽ cảm nhận những buồn vui của các tác giả trong một thời sáng tác đầy ly tán, và sẽ nghe được những âm vang lịch sử -- như khi tự thấy mình đang ngồi trong tiếng đàn của Thầy Tuệ Sỹ.
 
Từng dòng chữ của Nguyễn Thị Khánh Minh là cả một khung trời thơ mộng rất mực hy hữu, nơi chúng ta sẽ ngưng lại ở nhiều trang để suy nghĩ: vì sao các dòng văn xuôi của phê bình văn học trong ngòi bút của chị lại có sức mạnh của thi ca như thế. Hy hữu. Cực kỳ hy hữu. 
 
@@@
 
Sách có bán trên BARNES & NOBLE
358 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
 
Lang thang nghin dam 2 | Barnes & Noble®
 
Từ tìm kiếm: lang thang nghin dam 2, nguyen thi khanh minh
 
– Văn Học Press
vanhocpress@gmail.com

  

Thursday, September 3, 2026

TRÁI TIM MÙA HÈ

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Thiếu nữ. Tranh Nguyên Khai
 
    *Tặng Thanh Lương cùng mùa hè rất xa
 
Thời gian vừa rơi hạt lệ
Mang trái tim tôi treo trên cây
Những mắt lá rưng rưng chiều bóng xế
Hỏi thầm nhau. Mùa hè sao đầy mây
 
Hỏi thầm nhau. Lòng ai sao chưa nguôi
Đường nào xa. Gió nào xanh xao thổi
Trái tim tôi chong hoài con mắt đợi
phương trời lạc giọng tiếng mưa rơi
 
Khung cửa sổ. ngày đêm thao thức
Nắng âm hao. Giấc mộng vừa tan
Lời côi cút. Bóng co ro hỏi
Ai đèn khuya. Ai níu mộng trăng tàn*
 
Nói tiếng gì. Cho thời gian mở
Trái tim tôi trên cành xanh nở
Goi ngày về ríu rít ban mai
Ai bình minh. Ai nắng vàng tri ngộ
 
Nói tiếng gì. Cho đất trời gần lại
Nhịp trần gian cố cựu hạt mưa xưa
Bỏ nhỏ trên tay hỏi lòng năm cũ
Trái tim trong. Ở lại. Ấm giao mùa
NTKM
2025
 
*lấy ý thơ Tuệ Sỹ: Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

 

  

Monday, August 31, 2026

PHƯƠNG THU

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh từ trang Facebook Nu Dang
 
Những hạt khô đính vào tường
Sao chim vẫn đứng rất buồn trong tranh
Vạt mùa đã tự vàng hanh
Xa
Vẫn nhau
                   [Em của anh]
Phương nào

H O À N G X U Â N S Ơ N
21 tháng 8, 26 

Saturday, August 29, 2026

TÔI KHÓC. NHỮNG ĐÔI GIÀY BÊN BỜ SÔNG DANUBE

nguyễnxuânthiệp

Hình từ trang Phạm Cao Hoàng

Riêng gởi Hạnh đang soi bóng bên dòng sông Danube
    Đến thăm thủ đô Hungary, du khách không chỉ được Budapest “chiêu đãi” bằng những tòa lâu đài cổ kính, những địa danh nổi tiếng cùng các món ăn ngon, mang đậm bản sắc dân tộc. Tới đây, bạn còn được nghe về một câu chuyện rất buồn nhưng đầy tính nhân văn gắn liền với sông Danube. Đó chính là nguồn gốc của 60 đôi giày sắt hoen rỉ, cũ mèm vì mưa nắng nằm ngổn ngang dọc theo bờ.
     Nằm cách tòa nhà quốc hội Hungary khoảng 300m, công trình điêu khắc bằng sắt dài 40m này là một đài tưởng niệm những người Do Thái bị bắn chết trên bờ sông Danube vào mùa đông năm 1944 – 1945.     Trước khi bị các thành viên thuộc đảng Arrow Cross -phe thân Hitler ở Budapest- sát hại, nhiều nạn nhân từ già trẻ, lớn bé không phân biệt trai, gái đều bị dồn đến trước dòng sông. Chúng bắt họ phải cởi giày để lại trên bờ và bắn họ rồi quăng xác xuống sông, cho nước cuốn trôi. Các nạn nhân phải cởi bỏ lại giày dép vì đây là những món đồ có giá trị trong thời chiến và quân phát xít đã thu gom chúng lại để giao dịch trên thị trường chợ đen.
     Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi (từ tháng 10/1944 đến tháng 3/1945), đảng Arrow Cross đã giết hại khoảng 50,000 người bên bờ sông Danube và chở gần 80,000 người khác đến “lò sát sinh” Auschwitz ở Ba Lan. Quá khứ đen tối cùng tội ác đẫm máu của phe phát xít vẫn khiến người dân nơi đây không khỏi rùng mình và đau lòng nhớ lại. Ngày nay, hình ảnh về những đôi giày vô chủ nằm rải rác bên bờ sông với nhiều hình dáng, kích cỡ khác nhau trở thành một điểm đến nổi tiếng tại Budapest. 
     Một đài tưởng niệm được dựng lên trên bờ sông Danube.
     Đài tưởng niệm được thực hiện bởi đạo diễn Can Togay và nhà điêu khắc Gyula Pauer vào năm 2005 -tái hiện 60 đôi giày bằng sắt, mô phỏng giày của đàn ông, phụ nữ, trẻ em Do Thái.
     Đây là một trong những đài tưởng niệm Holocaust giản dị nhưng sâu sắc nhất châu Âu. Không chỉ để tưởng nhớ, mà còn là lời nhắc nhở ám ảnh về điều lòng thù hận có thể gây ra.

Tôi khóc
sao tôi khóc
cây bàng mùa đông
người thi sĩ ấy vừa ra đi
và mặt trăng mùa đông
bản concerto
trong ngôi nhà đổ. ở thành warszawa
không. chiều nay. tôi khóc
những đôi giày
bên bờ sông danube
chiều
trời mùa đông. xám lạnh
tôi ngồi
tưởng tượng
hàng ngàn. hàng ngàn người. già. trẻ. lớn. bé. phụ nữ và đàn ông. bé trai. bé gái
trong thế chiến hai
bị những họng súng của quân mọi rợ
dồn ra bờ sông danube
bắt cởi giày
rồi bắn chết
hàng loạt. hàng loạt
xô xuống dòng sông của thành budapest
nước mắt. ôi. nước mắt
đã tuôn rơi
trên kè đá
 
tôi biết
thanh tâm tuyền đã viết. cho anh khóc bằng mắt em. những cuộc tình duyên budapest
tôi khóc những đôi giày
để lại bên bờ sông
ôi. dòng sông danube
trong bản valse
le beau danube
bleu
của johann strauss
bản valse. anh và em đã nghe. một đêm nào. trong quán serenade. trước giờ chia tay
hỏa châu. những ngọn nến trên trời
mùi hoa dạ ly. đã chết. trên những trang thơ
bên bờ sông danube
những bóng người. cúi gục
ánh nến. qua hàng nước mắt. nhòa
khuya nay
tôi cũng muốn thắp lên một ngọn nến
bên cửa sổ
chong. hồn
khóc. cho những đôi giày. trên kè đá
khóc cho đồng bào tôi
ngày nào
chết
ở bãi dâu. bờ sông hương
chết
trên xa lộ. hoàng hôn
trong cuộc chiến tranh khốn kiếp
và xác ai. anh em tôi. tan chưa. trên rừng dưới biển
sóng danube ơi
xin hát
lời ru
cánh bướm. chiều nào. chết khô trên cửa kính. quán cà phê trieste
nhớ không. đinh cường
người không về nữa
 
NGUYỄN XUÂN THIỆP
Mùa đông 2014

 

 

 

 

 

  

ĐỂ XA MÀ NHỚ

Phan Dụy


 *Kỷ niệm 45 năm xa Huế
.
Lời Từ Biệt do PTHải viết: Tác giả Phan Dụy (1952–2026) đã qua đời vào ngày 20/8/2026 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Cô từng là sinh viên ban Triết Học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cô là thành viên của Nhóm Nghiên cứu Triết học gồm các cựu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn trong và ngoài nước. Cô hoạt động tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật tại Houston với các vai trò như nhà văn, nhà thơ, xướng ngôn viên và MC. Sau đây là một bài viết của Phan Dụy về xứ Huế, nơi cô ra đời, lớn lên cho tới khi vào Sài Gòn để theo bậc đại học. Tang lễ của cô Phan Dụy sẽ cử hành vào Chủ Nhật 30/8/2026 tại Houston. Nhóm Nghiên Cứu Triết Đại Học Văn Khoa Sài Gòn xin mượn lời nhà thơ Bùi Giáng để từ biệt bạn Phan Dụy:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.
 
Lời riêng của Nguyễn tôi: Mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Cũng như với Hà Thanh và Quỳnh Giao. Trước hết là do cùng quê Huế.
 
Nếu Tô Thùy Yên có bài Huế Oán
 
HUẾ OÁN
 
Nửa khuya, vua trẻ lìa kinh khuyết.
Từ đó, thâm cung lạnh lửa đèn…
Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở.
Thương em còn thơm hồn nhãn sen.
Mấy bận, sóng thần lấp cửa phá.
Đêm giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn.
Bạn về quê bạn, đường xa ngái,
Trong nớ, ngoài ni, nhớ chẳng yên.
Tóc mai rụng đã bao nhiêu sợi,
Mãi chẳng nguôi thầm một lỡ duyên.
Sông chậm lặng trôi đời ẩn nhẹm,
E tản đi hương bóng chập chờn.
Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng,
Sao nắng mưa này da diết hơn?
 
Một buổi, mây qua tầng tháp cổ.
Trăm năm, em khóc lẽ vô thường.
Mùa nhãn, mùa sen chừng đã quá.
Lâu rồi, công chúa chưa về thăm.
Khói sương trúc đá nỗi vương vất,
Nhang thắp, nghe đời chạng vạng thêm.
Đèo cao, phá rộng, sông trăm nhánh…
Chuyển bước làm sao khỏi động tâm?
Chim kêu, ghềnh khóc, sóng tan dạ…
Người lỡ thời đi tới xứ mô?
Một mai, chắc mỗi điều duy nhất:
Rêu mốc mờ thêm những đã mờ.
10 – 1999
TTY
 
thì Nguyễn cũng có viết trong bài Thảo Nguyên ghi chút tình với người chị họ là người Huế:
 
mai mốt chị qua vùng thảo nguyên
như xưa một lần về quê ngoại
ngày reo vui. vườn chim bay chim
long reo vui. reo tà áo lụa
chị gội đầu bằng nước hoa chanh
hương tóc bay sang. chiều vời vợi
chị ơi. mai qua vùng thảo nguyên
mang cho em một chùm nhãn chín
ôi. tình xưa như nhãn và sen
dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn
thì khuya sau xin trăng hạ huyền
tiếp truyền đi những lời non biển
 
Đoạn tản mạn trên là nhân tưởng nhớ Phan Dụy của Huế tôi.
Ở trên có nói mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Thời tóc còn xanh ấy mà, người ta gặp nhau ở đầu sông cuối phố không biết bao nhiêu lần nhưng Nguyễn chỉ nhớ rõ hai lần gặp Phan Dụy.  Một lần khoảng năm 1982 khi Cao Đông Khánh thuê xe lái lên Minesota ra mắt sách. Về lại Dallas có thêm Phan Dụy, mình cầm tay lái, Dụy ngồi băng sau, nhìn qua kính chiếu hậu, ui, gặp đôi mắt to của Phan Dụy, cảm xúc bàng hoàng. Lần thứ hai ở Houston năm 2012 mình ra mắt ba tác phẩm. Hôm ấy Dụy lên ngâm bài Khúc H. trong tập Thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Sau hai lần vừa kể không còn gặp lại nhau nữa nhưng hình ảnh Phan Dụy và Huế vẫn còn, mãi mãi…
Hôm nay, ngồi viết mấy dòng nhớ Dụy bèn post lên bài văn Dụy viết ‘Để Xa Mà Nhớ’ (bản của Việt Báo) gọi là một chút hương bay. NGUYỄN
 
 
    Từ dạo bỏ Huế ra đi, vào một buổi chớm thu, dưới bầu trời mây xám giăng phủ khắp sân bay Phú Bài, Huế trong tôi chỉ còn là hình ảnh của một người yêu với dáng phong trần ra đi trong một chiều lộng gió, khuất dần dưới làn mưa bụi chập chùng, để lại những hụt hẩng chơi vơi, những nhớ thương quay quắt.
 
      Khi nhận diện được sự hiện hữu tràn trề, đầy ấp của Huế trong tôi, thì cũng chính là lúc tôi ý thức được Huế đang rời xa, đang dần dà mất mát. Sự mất mát của Huế trong tôi, không đến bất ngờ như tin người tình ngã gục ngoài chiến trường. Không hỏa tốc như cơn gió lốc bỗng từ đâu kéo đến cuốn xoáy hết bụi cát lên trời, cũng không ùa vỡ như con sóng ngoài khơi, giận dữ ập vào vách đá, để làm vỡ tung ngàn cánh hoa bọt biển. Mà sự mất mát của Huế âm thầm, rả rich như những cơn mưa triền miên của Huế, làm ướt đẫm cả những mẩu trời xanh hy vọng, làm ray rứt xót xa những tâm hồn vẫn vọng nhớ đến quê nhà.
 
     Không ai thực sự có được niềm kính phục về sự huyền bí, cổ kính của những lăng tẩm đền đài và những phong tục nền nếp của Huế bằng chính những người đã từng là nạn nhân của sự bí hiểm, cổ kính, phong tục nền nếp đó. Không ai cảm nhận được ý nghĩa của cái đẹp một cách trọn vẹn khi nhìn ánh trăng vàng lấp lánh trên sông Hương, bằng những kẻ đã bao phen đói rách vì những trận lụt đã dâng lên cũng chính từ dòng sông đó. Không ai thấu hiểu và quý trọng cái nét đa tình mà trọn vẹn, cái lãng mạn mà thủy chung của người con gái Huế, bằng những kẻ đã yêu gái Huế mà chuyện tình đành dở dang…Khách lãng du chỉ chợt đến rồi đi, chỉ biết ngắm hoàng hôn dần khuất dưới rặng Trường Sơn hùng vĩ, chỉ biết đắm mình trong lạc thú, trong mạn thuyền dưới những đêm trăng, chỉ biết say sưa với muôn tà áo trắng trong những buổi tan trường. Có biết đâu bên rặng Trường Sơn kia có những ngọn gió Lào đổ lửa mùa hè, và cắt da xé thịt mùa đông. Có biết đâu trên những mạn thuyền là những thiếu phụ lái đò, chắt chiu bữa một bữa hai, và có biết đâu trong muôn tà áo trắng có những mảnh đời loang lỗ vết đau thương? Vâng, có sống trong khô cằn sỏi đá mới biết quý cái lãng mạn đa tình. Có sống trong nghiêm luật lễ nghi, trong hào quang hư ảo của nền phong kiến mới hiểu được tinh thần đấu tranh cách mạng cao độ của người dân miền Trung. Có sống những ngày ấu thơ niên thiếu ở Huế mới cảm thông được tình yêu Huế trong lòng người tha hương. Một tình yêu đôi khi thật êm đềm mà chua xót như một giấc mơ vàng chóng tan…
 
    Tan đi rồi những ngày ấu thơ vô tư dưới mái trường tiểu học duy nhất của làng Xuân Hòa, nơi có đình thờ thần linh, mà mỗi năm người lớn tranh giành nhau chức chủ lễ, chiếu dưới chiếu trên. Nơi mà trẻ thơ say sưa theo tiếng nhạc đăng đàn, rộn ràng theo tiếng mỏ làng thúc dục, và nô nức vì được sống ra ngoài cái nhịp sống bình lặng êm đềm của mọi ngày thường. Một nhịp sống quá bình lặng, để cho người dân như cảm thấy có cái gì không ổn ở ngay chính trong ta. Quá bình lặng để người đầu làng cũng biết cả tông chi của kẻ cuối làng. Quá bình lặng để cho những gia đình đông con gái bỗng sợ sệt vì những dòm ngó, dè bỉu, mỉa mai…
 
     Tan đi rồi hình ảnh những đêm tối trời, có muôn ngàn ánh nến lung linh phản chiếu trên mặt nước sông Hương như con trăn khổng lồ của những ngày lễ có phóng sinh phóng đăng. Những buổi sáng thức giấc trong không khí trong lành, trong tiếng lòng còng của đoàn thuyền đánh cá, trong tiếng chuông ngân nga lê thê của chùa Linh Mụ, trong tiếng gà gáy eo óc của làng Long Thọ bên kia sông. Những buổi sáng của tuổi dậy thì, để bắt đầu một ngày trong đời như bắt đầu một cuộc viễn du đầy những bất ngờ hứng thú cũng như những lo sợ đợi chờ. Con đường dài bốn cây số từ chùa Linh Mụ đến trường Đồng Khánh là một lộ trình quen thuộc và cố định, nhưng luôn luôn chào đón và quyến rũ những bước chân chim với nhiều hứa hẹn của những khám phá mới mỗi ngày.
 
 
     Mỗi ngày được thức giấc bằng những tà áo trắng loáng thoáng, cố vượt ra ngoài những mái nhà tranh còn ngái ngủ, vượt ra ngoài những đường xóm còn rợp bóng cây còn chĩu nặng những giọt sương đêm, để chờ nhau mỗi đầu xóm, để được nhập vào đám áo trắng, như một bầy thiên nga đang cùng nhau vỗ cánh hường về phía trời đông đang hừng lên những áng mây tím, hồng rồi đỏ ửng. Tiếng guốc mộc gõ đều và rộn ràng lẫn trong tiếng nói cười ròn rã. Nhưng rồi, như đoàn người hành hương đã được chuẩn bị để đón chờ những bất trắc. Khi vừa qua khỏi chợ Kim Long, không ai bảo nhau, guốc mộc được cầm tay, áo dài giắt vào lưng quần để chuẩn bị vượt qua quảng đường của nhà thờ kín Kim Long càng nhanh càng tốt. Trong những giờ phút ấy, cái giá trị lịch sử của nhà thờ kín Kim Long, nơi đã che chở cho Tôn Thất Tường khỏi vòng truy lùng của Pháp đã không còn ai quan tâm đến, cái giá trị nghệ thuật về vẻ đẹp bí hiểm của những nóc nguyện đường cổ kính dưới bóng me cao rợp trời, và hàng cây củ đậu leo che kín cổng ra vào, cũng không được ai chiêm ngưỡng, mà cái âu lo duy nhất là phải làm sao tránh được những bãi nước trầu tai quái, những đuổi bắt phập phồng, một thú vui và trò chơi quỷ quái của mụ già điên gánh nước cho nhà thờ mỗi buổi sáng. Vượt qua khỏi nhà thờ kín Kim Long là địa phận của làng Vạn Xuân, guốc mộc được trở lại ôm ấp những bàn chân thon, áo dài được thả xuống, được vuốt ve lại những nếp nhăn, vì qua khỏi Vạn Xuân là giao lộ của những con đường lớn, của đại lộ Trần Hưng Đạo thênh thang, của quốc lộ Một từ phía Phong Điền vào và từ trên Linh Mụ xuống, là nơi tiếp giáp với cầu Bạch Hổ, lối qua sông gần nhất của phía Bắc thành phố Huế, là nơi bắt đầu xuất hiện những bóng dáng nam sinh của Quốc Học, của Bình Linh, của Kỹ Thuật… Hình ảnh đáng ghét của mụ già điên gánh nước với nỗi phập phồng lo sợ, tan biến nhanh chóng nhường chỗ cho vẻ thẹn thùng, e lệ, khi có bóng dáng của các học sinh khác phái.
 
     Cầu Bạch Hổ không phải là chiếc cầu được xây cất cho sự lưu thông bình thường của xe cộ và khách bộ hành, mà là lối đi độc đạo của những toa xe lửa tốc hành trên quốc lộ Một. Với lối đi nhỏ hẹp cho người bộ hành, cầu Bạch Hổ là nơi nhân hòa và địa lợi cho những lời tỏ tình vụng dại, những chân chim cuống quit và ngượng ngùng, những vướng víu va chạm của những tâm hồn chưa thân quen. Cầu Bạch Hổ cũng là một chứng nhân, qua bao năm tháng, kết quả đau thương của những mối tình không trọn, những kết liễu lìa đời theo giòng nước cuốn trôi đi. Cuộc hành trình buổi sáng như tăng thêm phần sinh động, khi nhập cuộc với những rộn rịp bụi bặm của sinh hoạt ở cầu Kho Rèn, hay nên thơ và huyền bí như ngôi nhà của người ca sĩ làng Liễu Hạ tên Hà. Những hội ngộ, những chia ly, nơi sân ga xe lửa. Và đây, là con đường áo trắng thênh thang với hai hàng phượng rợp bóng như lối dẫn vào thiên thai. Tại sao là đại lộ Lê Lợi? Thật khó mà có được lời giải thích ổn thỏa cho cái nguyên tắc liên tưởng hợp lý giữa hình ảnh oai hùng lẫm liệt của người anh hùng áo vải đất Lam sơn và hình ảnh những nàng tiên nữ yêu kiều! Tại sao lại không là đại lộ Ngọc Lan, Thiên Nga, đại lộ của những nàng tiên áo trắng vì bị các chàng Lưu Nguyễn Quốc Học phá phách nên đành bị đày xuống trần gian? 
 
    Còn ai lễ nghi, nền nếp nghiêm ngặt hơn những người sống kề cận nơi kinh đô triều đình điện ngọc. Còn ai thấu hiểu ý nghĩa cuả câu "nam nữ thọ thọ bất thân” hơn những ông quan bộ Lễ đại diện cho triều đình, ấy thế mà chỉ cách môt giòng sông, bên kia điện ngọc cung vàng uy nghi nghiêm ngặt, bên này “Quốc Học, Đồng Khánh thọ tương thân”, cách nhau đúng một cái dậu bìm bìm! Có mâu thuẫn không? Có khó hiểu không? Chắc chắn là không! Huế là rứa đó. Cái gì cũng có vẻ dị biệt nhưng không tương phản mà lại rất tương đồng, như trên mặt nước sông Hương hiền hòa, lặng lờ, lăn tăn gợn sóng để che dấu bên dưới là những luồng nước cuốn xoáy, để sẵn sàng làm cơn lụt mỗi năm. Huế là rứa đó, có chi lạ mô, cái gì cũng có vẻ huyền bí, lạ kỳ, nhưng không khó hiểu, như vành nón bài thơ quay đi e ấp chối từ, nhưng mắt huyền len lén liếc nhẹ đưa tình. Như tình người Huế không ồn ào vồn vã, nhưng bền bỉ lâu dài, dù lãng mạn nhưng chung thủy trọn vẹn.
 
    Một ngày trong đời của Huế, của tuổi học trò sẽ không trọn vẹn, nếu buổi trưa không được đèo nhau trên xe đạp lên Làng Quán, làng Nguyệt Biều hái trộm dưa hường rồi đập vỡ ra ăn ngay tại chỗ. Buổi chiều sau giờ học, năm bảy đứa kéo nhau bơi lội trên bến Kim Long, để cho những chàng phi công trực thăng tưởng mình đã bay ra ngoài tầng khí quyển và đang lạc lối thiên thai. Những ngày cuối tuần đạp xe qua cồn Hến ăn chè bắp, hay lên Thiên An để nhìn xuống thành phố Huế ẩn hiện trong làn khói sương mờ như một bức tranh Thủy Mạc của Tàu, hoặc trèo lên núi trọc Ngự Bình, khi chân mỏi thì ghé vào quán mụ Rớt để thưởng thức món bánh nậm nóng hổi vừa thổi vừa ăn, và còn nhiều nhiều nữa…
 
    Chì có người Huế mới có cái kiên nhẫn để nghe một người Huế kể chuyện về Huế. Chỉ có người Huế mới hiểu được cái tâm tình khúc mắc trắc ẩn của con gái Huế. Và cũng chỉ có người Huế mới hiểu được cái phong phú trong ý nghĩa và cái êm ái trong âm thanh của ngôn ngữ Huế, như chữ “Ai” trong thơ của Hàn mặc Tử “Vườn Ai mướt quá xanh như ngọc… Ai biết tình Ai có đậm đà”, hay: “Mời Ai ra ăn cơm tề... Ai mời Ai rứa… thì mời Ai chứ còn Ai nữa…”
 
     Ấy thế mà đã có mấy người Huế chịu nhận rằng một người Huế khác kể chuyện hay và đầy đủ hơn mình. Đã có mấy người Huế chịu quý trọng, thương mến nâng niu và xoa dịu những tâm tình khúc mắc, trắc ẩn đó? Đã có bao nhiêu người Huế mà không hơn một lần cảm thấy tiếng nói mình lạc lõng xa lạ trong âm thanh ngôn ngữ của ba miền?
 
    Huế chỉ thật sự đẹp, thật sự quyến rũ, thật sự đáng yêu, với cái nghĩa trọn vẹn của nó, trong lòng của cả người Huế lẫn du khách khi người ta không còn ở trên phần đất, dưới cơn nắng nung người của ngọn gió Lào, hay cái lạnh cắt da dưới cơn mưa phùn âm ỉ suốt mùa đông. Huế chỉ được ngợi ca xưng tụng khi người ta không còn ở Huế. Huế chỉ được yêu thương như một hoài niệm về quá khứ mà không được sống với, không được nhận diện như một hiện hữu có thật bên mình. Tại sao? tại sao người chỉ NHỚ Huế mà không THƯƠNG Huế? Tại sao? Ai mà biết vì răng!
 
    Vì răng mà mấy chục năm rồi, từ khi bỏ Huế ra đi, có những lúc tưởng mình như đã không còn cái chất Huế đặc sệt nữa, để trở thành một cái chất Việt Nam rắn chắc bền bỉ. Bền bỉ để không bị “cuốn theo chiều gió” ngoại lai, rắn chắc để còn được hiện hữu sống còn, dù sống còn hiện hữu bằng chất Huế, hay Sài Gòn. Rứa mà, trong một ngày Xuân đẹp trời của miền Cali nắng ấm, Đại Hội Huế Hải Ngoại 2012, đã mang lại luồng gió mới, thổi bay đi những lớp bụi thời gian, làm sống lại cái chất Huế muôn thuở trong lòng mình. Và rồi tình Huế, tiếng Huế, người Huế rộ nở như những nụ tầm xuân chỗi mình sau những tháng giá lạnh lẽo của mùa Đông, đề từ đây, còn có một nơi chốn, một cơ hội cho cánh chim bằng trở về với mùa Xuân, như trở về thăm lại Huế xưa!
 
PHAN DỤY