*Kỷ
niệm 45 năm xa Huế
.
Lời
Từ Biệt do PTHải viết: Tác giả Phan Dụy (1952–2026) đã qua đời vào ngày
20/8/2026 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Cô từng là sinh viên ban Triết Học tại
Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cô là thành viên của Nhóm Nghiên cứu Triết học gồm
các cựu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn trong và ngoài nước. Cô hoạt động tích cực
trong đời sống văn học nghệ thuật tại Houston với các vai trò như nhà văn, nhà
thơ, xướng ngôn viên và MC. Sau đây là một bài viết của Phan Dụy về xứ Huế, nơi
cô ra đời, lớn lên cho tới khi vào Sài Gòn để theo bậc đại học. Tang lễ của cô
Phan Dụy sẽ cử hành vào Chủ Nhật 30/8/2026 tại Houston. Nhóm Nghiên Cứu Triết
Đại Học Văn Khoa Sài Gòn xin mượn lời nhà thơ Bùi Giáng để từ biệt bạn Phan
Dụy:
Xin
chào nhau giữa con đường
Mùa
xuân phía trước, miên trường phía sau.
Lời
riêng của Nguyễn tôi: Mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Cũng như với Hà
Thanh và Quỳnh Giao. Trước hết là do cùng quê Huế.
Nếu
Tô Thùy Yên có bài Huế Oán
HUẾ
OÁN
Nửa
khuya, vua trẻ lìa kinh khuyết.
Từ
đó, thâm cung lạnh lửa đèn…
Trường
thành nhiều chỗ đã sụt lở.
Thương
em còn thơm hồn nhãn sen.
Mấy
bận, sóng thần lấp cửa phá.
Đêm
giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn.
Bạn
về quê bạn, đường xa ngái,
Trong
nớ, ngoài ni, nhớ chẳng yên.
Tóc
mai rụng đã bao nhiêu sợi,
Mãi
chẳng nguôi thầm một lỡ duyên.
Sông
chậm lặng trôi đời ẩn nhẹm,
E
tản đi hương bóng chập chờn.
Nắng
mưa đâu chẳng là mưa nắng,
Sao
nắng mưa này da diết hơn?
Một
buổi, mây qua tầng tháp cổ.
Trăm
năm, em khóc lẽ vô thường.
Mùa
nhãn, mùa sen chừng đã quá.
Lâu
rồi, công chúa chưa về thăm.
Khói
sương trúc đá nỗi vương vất,
Nhang
thắp, nghe đời chạng vạng thêm.
Đèo
cao, phá rộng, sông trăm nhánh…
Chuyển
bước làm sao khỏi động tâm?
Chim
kêu, ghềnh khóc, sóng tan dạ…
Người
lỡ thời đi tới xứ mô?
Một
mai, chắc mỗi điều duy nhất:
Rêu
mốc mờ thêm những đã mờ.
10
– 1999
TTY
thì
Nguyễn cũng có viết trong bài Thảo Nguyên ghi chút tình với người chị họ là
người Huế:
mai
mốt chị qua vùng thảo nguyên
như
xưa một lần về quê ngoại
ngày
reo vui. vườn chim bay chim
long
reo vui. reo tà áo lụa
chị
gội đầu bằng nước hoa chanh
hương
tóc bay sang. chiều vời vợi
chị
ơi. mai qua vùng thảo nguyên
mang cho em một chùm nhãn chín
ôi. tình xưa như nhãn và sen
dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn
thì khuya sau xin trăng hạ huyền
tiếp truyền đi những lời non biển
Đoạn tản mạn trên là nhân tưởng nhớ Phan Dụy của Huế tôi.
Ở trên có nói mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy.
Thời tóc còn xanh ấy mà, người ta gặp nhau ở đầu sông cuối phố không biết bao
nhiêu lần nhưng Nguyễn chỉ nhớ rõ hai lần gặp Phan Dụy. Một lần khoảng năm 1982 khi Cao Đông Khánh
thuê xe lái lên Minesota ra mắt sách. Về lại Dallas có thêm Phan Dụy, mình cầm
tay lái, Dụy ngồi băng sau, nhìn qua kính chiếu hậu, ui, gặp đôi mắt to của
Phan Dụy, cảm xúc bàng hoàng. Lần thứ hai ở Houston năm 2012 mình ra mắt ba tác phẩm.
Hôm ấy Dụy lên ngâm bài Khúc H. trong tập Thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Sau hai lần
vừa kể không còn gặp lại nhau nữa nhưng hình ảnh Phan Dụy và Huế vẫn còn, mãi
mãi…
Hôm nay, ngồi viết mấy dòng nhớ Dụy bèn post lên bài văn
Dụy viết ‘Để Xa Mà Nhớ’ (bản của Việt Báo) gọi là một chút hương bay. NGUYỄN
Từ dạo bỏ Huế
ra đi, vào một buổi chớm thu, dưới bầu trời mây xám giăng phủ khắp sân bay Phú
Bài, Huế trong tôi chỉ còn là hình ảnh của một người yêu với dáng phong trần ra
đi trong một chiều lộng gió, khuất dần dưới làn mưa bụi chập chùng, để lại
những hụt hẩng chơi vơi, những nhớ thương quay quắt.
Khi nhận diện
được sự hiện hữu tràn trề, đầy ấp của Huế trong tôi, thì cũng chính là lúc tôi
ý thức được Huế đang rời xa, đang dần dà mất mát. Sự mất mát của Huế trong tôi,
không đến bất ngờ như tin người tình ngã gục ngoài chiến trường. Không hỏa tốc
như cơn gió lốc bỗng từ đâu kéo đến cuốn xoáy hết bụi cát lên trời, cũng không
ùa vỡ như con sóng ngoài khơi, giận dữ ập vào vách đá, để làm vỡ tung ngàn cánh
hoa bọt biển. Mà sự mất mát của Huế âm thầm, rả rich như những cơn mưa triền
miên của Huế, làm ướt đẫm cả những mẩu trời xanh hy vọng, làm ray rứt xót xa
những tâm hồn vẫn vọng nhớ đến quê nhà.
Không ai thực
sự có được niềm kính phục về sự huyền bí, cổ kính của những lăng tẩm đền đài và
những phong tục nền nếp của Huế bằng chính những người đã từng là nạn nhân của
sự bí hiểm, cổ kính, phong tục nền nếp đó. Không ai cảm nhận được ý nghĩa của cái
đẹp một cách trọn vẹn khi nhìn ánh trăng vàng lấp lánh trên sông Hương, bằng
những kẻ đã bao phen đói rách vì những trận lụt đã dâng lên cũng chính từ dòng
sông đó. Không ai thấu hiểu và quý trọng cái nét đa tình mà trọn vẹn, cái lãng
mạn mà thủy chung của người con gái Huế, bằng những kẻ đã yêu gái Huế mà chuyện
tình đành dở dang…Khách lãng du chỉ chợt đến rồi đi, chỉ biết ngắm hoàng hôn
dần khuất dưới rặng Trường Sơn hùng vĩ, chỉ biết đắm mình trong lạc thú, trong
mạn thuyền dưới những đêm trăng, chỉ biết say sưa với muôn tà áo trắng trong
những buổi tan trường. Có biết đâu bên rặng Trường Sơn kia có những ngọn gió
Lào đổ lửa mùa hè, và cắt da xé thịt mùa đông. Có biết đâu trên những mạn
thuyền là những thiếu phụ lái đò, chắt chiu bữa một bữa hai, và có biết đâu
trong muôn tà áo trắng có những mảnh đời loang lỗ vết đau thương? Vâng, có sống
trong khô cằn sỏi đá mới biết quý cái lãng mạn đa tình. Có sống trong nghiêm
luật lễ nghi, trong hào quang hư ảo của nền phong kiến mới hiểu được tinh thần
đấu tranh cách mạng cao độ của người dân miền Trung. Có sống những ngày ấu thơ
niên thiếu ở Huế mới cảm thông được tình yêu Huế trong lòng người tha hương.
Một tình yêu đôi khi thật êm đềm mà chua xót như một giấc mơ vàng chóng tan…
Tan đi rồi
những ngày ấu thơ vô tư dưới mái trường tiểu học duy nhất của làng Xuân Hòa,
nơi có đình thờ thần linh, mà mỗi năm người lớn tranh giành nhau chức chủ lễ,
chiếu dưới chiếu trên. Nơi mà trẻ thơ say sưa theo tiếng nhạc đăng đàn, rộn
ràng theo tiếng mỏ làng thúc dục, và nô nức vì được sống ra ngoài cái nhịp sống
bình lặng êm đềm của mọi ngày thường. Một nhịp sống quá bình lặng, để cho người
dân như cảm thấy có cái gì không ổn ở ngay chính trong ta. Quá bình lặng để
người đầu làng cũng biết cả tông chi của kẻ cuối làng. Quá bình lặng để cho
những gia đình đông con gái bỗng sợ sệt vì những dòm ngó, dè bỉu, mỉa mai…
Tan đi rồi
hình ảnh những đêm tối trời, có muôn ngàn ánh nến lung linh phản chiếu trên mặt
nước sông Hương như con trăn khổng lồ của những ngày lễ có phóng sinh phóng
đăng. Những buổi sáng thức giấc trong không khí trong lành, trong tiếng lòng
còng của đoàn thuyền đánh cá, trong tiếng chuông ngân nga lê thê của chùa Linh
Mụ, trong tiếng gà gáy eo óc của làng Long Thọ bên kia sông. Những buổi sáng
của tuổi dậy thì, để bắt đầu một ngày trong đời như bắt đầu một cuộc viễn du
đầy những bất ngờ hứng thú cũng như những lo sợ đợi chờ. Con đường dài bốn cây
số từ chùa Linh Mụ đến trường Đồng Khánh là một lộ trình quen thuộc và cố định,
nhưng luôn luôn chào đón và quyến rũ những bước chân chim với nhiều hứa hẹn của
những khám phá mới mỗi ngày.
Mỗi ngày được
thức giấc bằng những tà áo trắng loáng thoáng, cố vượt ra ngoài những mái nhà
tranh còn ngái ngủ, vượt ra ngoài những đường xóm còn rợp bóng cây còn chĩu
nặng những giọt sương đêm, để chờ nhau mỗi đầu xóm, để được nhập vào đám áo
trắng, như một bầy thiên nga đang cùng nhau vỗ cánh hường về phía trời đông
đang hừng lên những áng mây tím, hồng rồi đỏ ửng. Tiếng guốc mộc gõ đều và rộn
ràng lẫn trong tiếng nói cười ròn rã. Nhưng rồi, như đoàn người hành hương đã
được chuẩn bị để đón chờ những bất trắc. Khi vừa qua khỏi chợ Kim Long, không
ai bảo nhau, guốc mộc được cầm tay, áo dài giắt vào lưng quần để chuẩn bị vượt
qua quảng đường của nhà thờ kín Kim Long càng nhanh càng tốt. Trong những giờ
phút ấy, cái giá trị lịch sử của nhà thờ kín Kim Long, nơi đã che chở cho Tôn
Thất Tường khỏi vòng truy lùng của Pháp đã không còn ai quan tâm đến, cái giá
trị nghệ thuật về vẻ đẹp bí hiểm của những nóc nguyện đường cổ kính dưới bóng
me cao rợp trời, và hàng cây củ đậu leo che kín cổng ra vào, cũng không được ai
chiêm ngưỡng, mà cái âu lo duy nhất là phải làm sao tránh được những bãi nước
trầu tai quái, những đuổi bắt phập phồng, một thú vui và trò chơi quỷ quái của
mụ già điên gánh nước cho nhà thờ mỗi buổi sáng. Vượt qua khỏi nhà thờ kín Kim
Long là địa phận của làng Vạn Xuân, guốc mộc được trở lại ôm ấp những bàn chân
thon, áo dài được thả xuống, được vuốt ve lại những nếp nhăn, vì qua khỏi Vạn
Xuân là giao lộ của những con đường lớn, của đại lộ Trần Hưng Đạo thênh thang,
của quốc lộ Một từ phía Phong Điền vào và từ trên Linh Mụ xuống, là nơi tiếp
giáp với cầu Bạch Hổ, lối qua sông gần nhất của phía Bắc thành phố Huế, là nơi
bắt đầu xuất hiện những bóng dáng nam sinh của Quốc Học, của Bình Linh, của Kỹ
Thuật… Hình ảnh đáng ghét của mụ già điên gánh nước với nỗi phập phồng lo sợ,
tan biến nhanh chóng nhường chỗ cho vẻ thẹn thùng, e lệ, khi có bóng dáng của
các học sinh khác phái.
Cầu Bạch Hổ
không phải là chiếc cầu được xây cất cho sự lưu thông bình thường của xe cộ và
khách bộ hành, mà là lối đi độc đạo của những toa xe lửa tốc hành trên quốc lộ
Một. Với lối đi nhỏ hẹp cho người bộ hành, cầu Bạch Hổ là nơi nhân hòa và địa
lợi cho những lời tỏ tình vụng dại, những chân chim cuống quit và ngượng ngùng,
những vướng víu va chạm của những tâm hồn chưa thân quen. Cầu Bạch Hổ cũng là
một chứng nhân, qua bao năm tháng, kết quả đau thương của những mối tình không
trọn, những kết liễu lìa đời theo giòng nước cuốn trôi đi. Cuộc hành trình buổi
sáng như tăng thêm phần sinh động, khi nhập cuộc với những rộn rịp bụi bặm của
sinh hoạt ở cầu Kho Rèn, hay nên thơ và huyền bí như ngôi nhà của người ca sĩ
làng Liễu Hạ tên Hà. Những hội ngộ, những chia ly, nơi sân ga xe lửa. Và đây,
là con đường áo trắng thênh thang với hai hàng phượng rợp bóng như lối dẫn vào
thiên thai. Tại sao là đại lộ Lê Lợi? Thật khó mà có được lời giải thích ổn
thỏa cho cái nguyên tắc liên tưởng hợp lý giữa hình ảnh oai hùng lẫm liệt của
người anh hùng áo vải đất Lam sơn và hình ảnh những nàng tiên nữ yêu kiều! Tại
sao lại không là đại lộ Ngọc Lan, Thiên Nga, đại lộ của những nàng tiên áo
trắng vì bị các chàng Lưu Nguyễn Quốc Học phá phách nên đành bị đày xuống trần
gian?
Còn ai lễ nghi, nền nếp
nghiêm ngặt hơn những người sống kề cận nơi kinh đô triều đình điện ngọc. Còn
ai thấu hiểu ý nghĩa cuả câu "nam nữ thọ thọ bất thân” hơn những ông quan
bộ Lễ đại diện cho triều đình, ấy thế mà chỉ cách môt giòng sông, bên kia điện
ngọc cung vàng uy nghi nghiêm ngặt, bên này “Quốc Học, Đồng Khánh thọ tương
thân”, cách nhau đúng một cái dậu bìm bìm! Có mâu thuẫn không? Có khó hiểu
không? Chắc chắn là không! Huế là rứa đó. Cái gì cũng có vẻ dị biệt nhưng không
tương phản mà lại rất tương đồng, như trên mặt nước sông Hương hiền hòa, lặng
lờ, lăn tăn gợn sóng để che dấu bên dưới là những luồng nước cuốn xoáy, để sẵn
sàng làm cơn lụt mỗi năm. Huế là rứa đó, có chi lạ mô, cái gì cũng có vẻ huyền
bí, lạ kỳ, nhưng không khó hiểu, như vành nón bài thơ quay đi e ấp chối từ,
nhưng mắt huyền len lén liếc nhẹ đưa tình. Như tình người Huế không ồn ào vồn
vã, nhưng bền bỉ lâu dài, dù lãng mạn nhưng chung thủy trọn vẹn.
Một ngày trong đời của Huế, của tuổi học
trò sẽ không trọn vẹn, nếu buổi trưa không được đèo nhau trên xe đạp lên Làng
Quán, làng Nguyệt Biều hái trộm dưa hường rồi đập vỡ ra ăn ngay tại chỗ. Buổi
chiều sau giờ học, năm bảy đứa kéo nhau bơi lội trên bến Kim Long, để cho những
chàng phi công trực thăng tưởng mình đã bay ra ngoài tầng khí quyển và đang lạc
lối thiên thai. Những ngày cuối tuần đạp xe qua cồn Hến ăn chè bắp, hay lên
Thiên An để nhìn xuống thành phố Huế ẩn hiện trong làn khói sương mờ như một
bức tranh Thủy Mạc của Tàu, hoặc trèo lên núi trọc Ngự Bình, khi chân mỏi thì
ghé vào quán mụ Rớt để thưởng thức món bánh nậm nóng hổi vừa thổi vừa ăn, và
còn nhiều nhiều nữa…
Chì có người Huế mới có cái kiên nhẫn để
nghe một người Huế kể chuyện về Huế. Chỉ có người Huế mới hiểu được cái tâm
tình khúc mắc trắc ẩn của con gái Huế. Và cũng chỉ có người Huế mới hiểu được
cái phong phú trong ý nghĩa và cái êm ái trong âm thanh của ngôn ngữ Huế, như
chữ “Ai” trong thơ của Hàn mặc Tử “Vườn Ai mướt quá xanh như ngọc… Ai biết tình
Ai có đậm đà”, hay: “Mời Ai ra ăn cơm tề... Ai mời Ai rứa… thì mời Ai chứ còn
Ai nữa…”
Ấy thế mà đã có mấy người Huế chịu nhận
rằng một người Huế khác kể chuyện hay và đầy đủ hơn mình. Đã có mấy người Huế
chịu quý trọng, thương mến nâng niu và xoa dịu những tâm tình khúc mắc, trắc ẩn
đó? Đã có bao nhiêu người Huế mà không hơn một lần cảm thấy tiếng nói mình lạc
lõng xa lạ trong âm thanh ngôn ngữ của ba miền?
Huế chỉ thật sự đẹp, thật sự quyến rũ, thật
sự đáng yêu, với cái nghĩa trọn vẹn của nó, trong lòng của cả người Huế lẫn du
khách khi người ta không còn ở trên phần đất, dưới cơn nắng nung người của ngọn
gió Lào, hay cái lạnh cắt da dưới cơn mưa phùn âm ỉ suốt mùa đông. Huế chỉ được
ngợi ca xưng tụng khi người ta không còn ở Huế. Huế chỉ được yêu thương như một
hoài niệm về quá khứ mà không được sống với, không được nhận diện như một hiện
hữu có thật bên mình. Tại sao? tại sao người chỉ NHỚ Huế mà không THƯƠNG Huế?
Tại sao? Ai mà biết vì răng!
Vì răng mà mấy chục năm rồi, từ khi bỏ Huế
ra đi, có những lúc tưởng mình như đã không còn cái chất Huế đặc sệt nữa, để
trở thành một cái chất Việt Nam rắn chắc bền bỉ. Bền bỉ để không bị “cuốn theo
chiều gió” ngoại lai, rắn chắc để còn được hiện hữu sống còn, dù sống còn hiện
hữu bằng chất Huế, hay Sài Gòn. Rứa mà, trong một ngày Xuân đẹp trời của miền
Cali nắng ấm, Đại Hội Huế Hải Ngoại 2012, đã mang lại luồng gió mới, thổi bay
đi những lớp bụi thời gian, làm sống lại cái chất Huế muôn thuở trong lòng
mình. Và rồi tình Huế, tiếng Huế, người Huế rộ nở như những nụ tầm xuân chỗi
mình sau những tháng giá lạnh lẽo của mùa Đông, đề từ đây, còn có một nơi chốn,
một cơ hội cho cánh chim bằng trở về với mùa Xuân, như trở về thăm lại Huế xưa!
PHAN
DỤY