Saturday, August 29, 2026

TÔI KHÓC. NHỮNG ĐÔI GIÀY BÊN BỜ SÔNG DANUBE

nguyễnxuânthiệp


Riêng gởi Hạnh đang soi bóng bên dòng sông Danube
    Đến thăm thủ đô Hungary, du khách không chỉ được Budapest “chiêu đãi” bằng những tòa lâu đài cổ kính, những địa danh nổi tiếng cùng các món ăn ngon, mang đậm bản sắc dân tộc. Tới đây, bạn còn được nghe về một câu chuyện rất buồn nhưng đầy tính nhân văn gắn liền với sông Danube. Đó chính là nguồn gốc của 60 đôi giày sắt hoen rỉ, cũ mèm vì mưa nắng nằm ngổn ngang dọc theo bờ.
     Nằm cách tòa nhà quốc hội Hungary khoảng 300m, công trình điêu khắc bằng sắt dài 40m này là một đài tưởng niệm những người Do Thái bị bắn chết trên bờ sông Danube vào mùa đông năm 1944 – 1945.     Trước khi bị các thành viên thuộc đảng Arrow Cross -phe thân Hitler ở Budapest- sát hại, nhiều nạn nhân từ già trẻ, lớn bé không phân biệt trai, gái đều bị dồn đến trước dòng sông. Chúng bắt họ phải cởi giày để lại trên bờ và bắn họ rồi quăng xác xuống sông, cho nước cuốn trôi. Các nạn nhân phải cởi bỏ lại giày dép vì đây là những món đồ có giá trị trong thời chiến và quân phát xít đã thu gom chúng lại để giao dịch trên thị trường chợ đen.
     Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi (từ tháng 10/1944 đến tháng 3/1945), đảng Arrow Cross đã giết hại khoảng 50,000 người bên bờ sông Danube và chở gần 80,000 người khác đến “lò sát sinh” Auschwitz ở Ba Lan. Quá khứ đen tối cùng tội ác đẫm máu của phe phát xít vẫn khiến người dân nơi đây không khỏi rùng mình và đau lòng nhớ lại. Ngày nay, hình ảnh về những đôi giày vô chủ nằm rải rác bên bờ sông với nhiều hình dáng, kích cỡ khác nhau trở thành một điểm đến nổi tiếng tại Budapest. 
     Một đài tưởng niệm được dựng lên trên bờ sông Danube.
     Đài tưởng niệm được thực hiện bởi đạo diễn Can Togay và nhà điêu khắc Gyula Pauer vào năm 2005 -tái hiện 60 đôi giày bằng sắt, mô phỏng giày của đàn ông, phụ nữ, trẻ em Do Thái.
     Đây là một trong những đài tưởng niệm Holocaust giản dị nhưng sâu sắc nhất châu Âu. Không chỉ để tưởng nhớ, mà còn là lời nhắc nhở ám ảnh về điều lòng thù hận có thể gây ra.

Tôi khóc
sao tôi khóc
cây bàng mùa đông
người thi sĩ ấy vừa ra đi
và mặt trăng mùa đông
bản concerto
trong ngôi nhà đổ. ở thành warszawa
không. chiều nay. tôi khóc
những đôi giày
bên bờ sông danube
chiều
trời mùa đông. xám lạnh
tôi ngồi
tưởng tượng
hàng ngàn. hàng ngàn người. già. trẻ. lớn. bé. phụ nữ và đàn ông. bé trai. bé gái
trong thế chiến hai
bị những họng súng của quân mọi rợ
dồn ra bờ sông danube
bắt cởi giày
rồi bắn chết
hàng loạt. hàng loạt
xô xuống dòng sông của thành budapest
nước mắt. ôi. nước mắt
đã tuôn rơi
trên kè đá
 
tôi biết
thanh tâm tuyền đã viết. cho anh khóc bằng mắt em. những cuộc tình duyên budapest
tôi khóc những đôi giày
để lại bên bờ sông
ôi. dòng sông danube
trong bản valse
le beau danube
bleu
của johann strauss
bản valse. anh và em đã nghe. một đêm nào. trong quán serenade. trước giờ chia tay
hỏa châu. những ngọn nến trên trời
mùi hoa dạ ly. đã chết. trên những trang thơ
bên bờ sông danube
những bóng người. cúi gục
ánh nến. qua hàng nước mắt. nhòa
khuya nay
tôi cũng muốn thắp lên một ngọn nến
bên cửa sổ
chong. hồn
khóc. cho những đôi giày. trên kè đá
khóc cho đồng bào tôi
ngày nào
chết
ở bãi dâu. bờ sông hương
chết
trên xa lộ. hoàng hôn
trong cuộc chiến tranh khốn kiếp
và xác ai. anh em tôi. tan chưa. trên rừng dưới biển
sóng danube ơi
xin hát
lời ru
cánh bướm. chiều nào. chết khô trên cửa kính. quán cà phê trieste
nhớ không. đinh cường
người không về nữa
 
NGUYỄN XUÂN THIỆP
Mùa đông 2014

 

 

 

 

 

  

ĐỂ XA MÀ NHỚ

Phan Dụy


 *Kỷ niệm 45 năm xa Huế
.
Lời Từ Biệt do PTHải viết: Tác giả Phan Dụy (1952–2026) đã qua đời vào ngày 20/8/2026 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Cô từng là sinh viên ban Triết Học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cô là thành viên của Nhóm Nghiên cứu Triết học gồm các cựu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn trong và ngoài nước. Cô hoạt động tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật tại Houston với các vai trò như nhà văn, nhà thơ, xướng ngôn viên và MC. Sau đây là một bài viết của Phan Dụy về xứ Huế, nơi cô ra đời, lớn lên cho tới khi vào Sài Gòn để theo bậc đại học. Tang lễ của cô Phan Dụy sẽ cử hành vào Chủ Nhật 30/8/2026 tại Houston. Nhóm Nghiên Cứu Triết Đại Học Văn Khoa Sài Gòn xin mượn lời nhà thơ Bùi Giáng để từ biệt bạn Phan Dụy:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.
 
Lời riêng của Nguyễn tôi: Mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Cũng như với Hà Thanh và Quỳnh Giao. Trước hết là do cùng quê Huế.
 
Nếu Tô Thùy Yên có bài Huế Oán
 
HUẾ OÁN
 
Nửa khuya, vua trẻ lìa kinh khuyết.
Từ đó, thâm cung lạnh lửa đèn…
Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở.
Thương em còn thơm hồn nhãn sen.
Mấy bận, sóng thần lấp cửa phá.
Đêm giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn.
Bạn về quê bạn, đường xa ngái,
Trong nớ, ngoài ni, nhớ chẳng yên.
Tóc mai rụng đã bao nhiêu sợi,
Mãi chẳng nguôi thầm một lỡ duyên.
Sông chậm lặng trôi đời ẩn nhẹm,
E tản đi hương bóng chập chờn.
Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng,
Sao nắng mưa này da diết hơn?
 
Một buổi, mây qua tầng tháp cổ.
Trăm năm, em khóc lẽ vô thường.
Mùa nhãn, mùa sen chừng đã quá.
Lâu rồi, công chúa chưa về thăm.
Khói sương trúc đá nỗi vương vất,
Nhang thắp, nghe đời chạng vạng thêm.
Đèo cao, phá rộng, sông trăm nhánh…
Chuyển bước làm sao khỏi động tâm?
Chim kêu, ghềnh khóc, sóng tan dạ…
Người lỡ thời đi tới xứ mô?
Một mai, chắc mỗi điều duy nhất:
Rêu mốc mờ thêm những đã mờ.
10 – 1999
TTY
 
thì Nguyễn cũng có viết trong bài Thảo Nguyên ghi chút tình với người chị họ là người Huế:
 
mai mốt chị qua vùng thảo nguyên
như xưa một lần về quê ngoại
ngày reo vui. vườn chim bay chim
long reo vui. reo tà áo lụa
chị gội đầu bằng nước hoa chanh
hương tóc bay sang. chiều vời vợi
chị ơi. mai qua vùng thảo nguyên
mang cho em một chùm nhãn chín
ôi. tình xưa như nhãn và sen
dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn
thì khuya sau xin trăng hạ huyền
tiếp truyền đi những lời non biển
 
Đoạn tản mạn trên là nhân tưởng nhớ Phan Dụy của Huế tôi.
Ở trên có nói mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Thời tóc còn xanh ấy mà, người ta gặp nhau ở đầu sông cuối phố không biết bao nhiêu lần nhưng Nguyễn chỉ nhớ rõ hai lần gặp Phan Dụy.  Một lần khoảng năm 1982 khi Cao Đông Khánh thuê xe lái lên Minesota ra mắt sách. Về lại Dallas có thêm Phan Dụy, mình cầm tay lái, Dụy ngồi băng sau, nhìn qua kính chiếu hậu, ui, gặp đôi mắt to của Phan Dụy, cảm xúc bàng hoàng. Lần thứ hai ở Houston năm 2012 mình ra mắt ba tác phẩm. Hôm ấy Dụy lên ngâm bài Khúc H. trong tập Thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Sau hai lần vừa kể không còn gặp lại nhau nữa nhưng hình ảnh Phan Dụy và Huế vẫn còn, mãi mãi…
Hôm nay, ngồi viết mấy dòng nhớ Dụy bèn post lên bài văn Dụy viết ‘Để Xa Mà Nhớ’ (bản của Việt Báo) gọi là một chút hương bay. NGUYỄN
 
 
    Từ dạo bỏ Huế ra đi, vào một buổi chớm thu, dưới bầu trời mây xám giăng phủ khắp sân bay Phú Bài, Huế trong tôi chỉ còn là hình ảnh của một người yêu với dáng phong trần ra đi trong một chiều lộng gió, khuất dần dưới làn mưa bụi chập chùng, để lại những hụt hẩng chơi vơi, những nhớ thương quay quắt.
 
      Khi nhận diện được sự hiện hữu tràn trề, đầy ấp của Huế trong tôi, thì cũng chính là lúc tôi ý thức được Huế đang rời xa, đang dần dà mất mát. Sự mất mát của Huế trong tôi, không đến bất ngờ như tin người tình ngã gục ngoài chiến trường. Không hỏa tốc như cơn gió lốc bỗng từ đâu kéo đến cuốn xoáy hết bụi cát lên trời, cũng không ùa vỡ như con sóng ngoài khơi, giận dữ ập vào vách đá, để làm vỡ tung ngàn cánh hoa bọt biển. Mà sự mất mát của Huế âm thầm, rả rich như những cơn mưa triền miên của Huế, làm ướt đẫm cả những mẩu trời xanh hy vọng, làm ray rứt xót xa những tâm hồn vẫn vọng nhớ đến quê nhà.
 
     Không ai thực sự có được niềm kính phục về sự huyền bí, cổ kính của những lăng tẩm đền đài và những phong tục nền nếp của Huế bằng chính những người đã từng là nạn nhân của sự bí hiểm, cổ kính, phong tục nền nếp đó. Không ai cảm nhận được ý nghĩa của cái đẹp một cách trọn vẹn khi nhìn ánh trăng vàng lấp lánh trên sông Hương, bằng những kẻ đã bao phen đói rách vì những trận lụt đã dâng lên cũng chính từ dòng sông đó. Không ai thấu hiểu và quý trọng cái nét đa tình mà trọn vẹn, cái lãng mạn mà thủy chung của người con gái Huế, bằng những kẻ đã yêu gái Huế mà chuyện tình đành dở dang…Khách lãng du chỉ chợt đến rồi đi, chỉ biết ngắm hoàng hôn dần khuất dưới rặng Trường Sơn hùng vĩ, chỉ biết đắm mình trong lạc thú, trong mạn thuyền dưới những đêm trăng, chỉ biết say sưa với muôn tà áo trắng trong những buổi tan trường. Có biết đâu bên rặng Trường Sơn kia có những ngọn gió Lào đổ lửa mùa hè, và cắt da xé thịt mùa đông. Có biết đâu trên những mạn thuyền là những thiếu phụ lái đò, chắt chiu bữa một bữa hai, và có biết đâu trong muôn tà áo trắng có những mảnh đời loang lỗ vết đau thương? Vâng, có sống trong khô cằn sỏi đá mới biết quý cái lãng mạn đa tình. Có sống trong nghiêm luật lễ nghi, trong hào quang hư ảo của nền phong kiến mới hiểu được tinh thần đấu tranh cách mạng cao độ của người dân miền Trung. Có sống những ngày ấu thơ niên thiếu ở Huế mới cảm thông được tình yêu Huế trong lòng người tha hương. Một tình yêu đôi khi thật êm đềm mà chua xót như một giấc mơ vàng chóng tan…
 
    Tan đi rồi những ngày ấu thơ vô tư dưới mái trường tiểu học duy nhất của làng Xuân Hòa, nơi có đình thờ thần linh, mà mỗi năm người lớn tranh giành nhau chức chủ lễ, chiếu dưới chiếu trên. Nơi mà trẻ thơ say sưa theo tiếng nhạc đăng đàn, rộn ràng theo tiếng mỏ làng thúc dục, và nô nức vì được sống ra ngoài cái nhịp sống bình lặng êm đềm của mọi ngày thường. Một nhịp sống quá bình lặng, để cho người dân như cảm thấy có cái gì không ổn ở ngay chính trong ta. Quá bình lặng để người đầu làng cũng biết cả tông chi của kẻ cuối làng. Quá bình lặng để cho những gia đình đông con gái bỗng sợ sệt vì những dòm ngó, dè bỉu, mỉa mai…
 
     Tan đi rồi hình ảnh những đêm tối trời, có muôn ngàn ánh nến lung linh phản chiếu trên mặt nước sông Hương như con trăn khổng lồ của những ngày lễ có phóng sinh phóng đăng. Những buổi sáng thức giấc trong không khí trong lành, trong tiếng lòng còng của đoàn thuyền đánh cá, trong tiếng chuông ngân nga lê thê của chùa Linh Mụ, trong tiếng gà gáy eo óc của làng Long Thọ bên kia sông. Những buổi sáng của tuổi dậy thì, để bắt đầu một ngày trong đời như bắt đầu một cuộc viễn du đầy những bất ngờ hứng thú cũng như những lo sợ đợi chờ. Con đường dài bốn cây số từ chùa Linh Mụ đến trường Đồng Khánh là một lộ trình quen thuộc và cố định, nhưng luôn luôn chào đón và quyến rũ những bước chân chim với nhiều hứa hẹn của những khám phá mới mỗi ngày.
 
 
     Mỗi ngày được thức giấc bằng những tà áo trắng loáng thoáng, cố vượt ra ngoài những mái nhà tranh còn ngái ngủ, vượt ra ngoài những đường xóm còn rợp bóng cây còn chĩu nặng những giọt sương đêm, để chờ nhau mỗi đầu xóm, để được nhập vào đám áo trắng, như một bầy thiên nga đang cùng nhau vỗ cánh hường về phía trời đông đang hừng lên những áng mây tím, hồng rồi đỏ ửng. Tiếng guốc mộc gõ đều và rộn ràng lẫn trong tiếng nói cười ròn rã. Nhưng rồi, như đoàn người hành hương đã được chuẩn bị để đón chờ những bất trắc. Khi vừa qua khỏi chợ Kim Long, không ai bảo nhau, guốc mộc được cầm tay, áo dài giắt vào lưng quần để chuẩn bị vượt qua quảng đường của nhà thờ kín Kim Long càng nhanh càng tốt. Trong những giờ phút ấy, cái giá trị lịch sử của nhà thờ kín Kim Long, nơi đã che chở cho Tôn Thất Tường khỏi vòng truy lùng của Pháp đã không còn ai quan tâm đến, cái giá trị nghệ thuật về vẻ đẹp bí hiểm của những nóc nguyện đường cổ kính dưới bóng me cao rợp trời, và hàng cây củ đậu leo che kín cổng ra vào, cũng không được ai chiêm ngưỡng, mà cái âu lo duy nhất là phải làm sao tránh được những bãi nước trầu tai quái, những đuổi bắt phập phồng, một thú vui và trò chơi quỷ quái của mụ già điên gánh nước cho nhà thờ mỗi buổi sáng. Vượt qua khỏi nhà thờ kín Kim Long là địa phận của làng Vạn Xuân, guốc mộc được trở lại ôm ấp những bàn chân thon, áo dài được thả xuống, được vuốt ve lại những nếp nhăn, vì qua khỏi Vạn Xuân là giao lộ của những con đường lớn, của đại lộ Trần Hưng Đạo thênh thang, của quốc lộ Một từ phía Phong Điền vào và từ trên Linh Mụ xuống, là nơi tiếp giáp với cầu Bạch Hổ, lối qua sông gần nhất của phía Bắc thành phố Huế, là nơi bắt đầu xuất hiện những bóng dáng nam sinh của Quốc Học, của Bình Linh, của Kỹ Thuật… Hình ảnh đáng ghét của mụ già điên gánh nước với nỗi phập phồng lo sợ, tan biến nhanh chóng nhường chỗ cho vẻ thẹn thùng, e lệ, khi có bóng dáng của các học sinh khác phái.
 
     Cầu Bạch Hổ không phải là chiếc cầu được xây cất cho sự lưu thông bình thường của xe cộ và khách bộ hành, mà là lối đi độc đạo của những toa xe lửa tốc hành trên quốc lộ Một. Với lối đi nhỏ hẹp cho người bộ hành, cầu Bạch Hổ là nơi nhân hòa và địa lợi cho những lời tỏ tình vụng dại, những chân chim cuống quit và ngượng ngùng, những vướng víu va chạm của những tâm hồn chưa thân quen. Cầu Bạch Hổ cũng là một chứng nhân, qua bao năm tháng, kết quả đau thương của những mối tình không trọn, những kết liễu lìa đời theo giòng nước cuốn trôi đi. Cuộc hành trình buổi sáng như tăng thêm phần sinh động, khi nhập cuộc với những rộn rịp bụi bặm của sinh hoạt ở cầu Kho Rèn, hay nên thơ và huyền bí như ngôi nhà của người ca sĩ làng Liễu Hạ tên Hà. Những hội ngộ, những chia ly, nơi sân ga xe lửa. Và đây, là con đường áo trắng thênh thang với hai hàng phượng rợp bóng như lối dẫn vào thiên thai. Tại sao là đại lộ Lê Lợi? Thật khó mà có được lời giải thích ổn thỏa cho cái nguyên tắc liên tưởng hợp lý giữa hình ảnh oai hùng lẫm liệt của người anh hùng áo vải đất Lam sơn và hình ảnh những nàng tiên nữ yêu kiều! Tại sao lại không là đại lộ Ngọc Lan, Thiên Nga, đại lộ của những nàng tiên áo trắng vì bị các chàng Lưu Nguyễn Quốc Học phá phách nên đành bị đày xuống trần gian? 
 
    Còn ai lễ nghi, nền nếp nghiêm ngặt hơn những người sống kề cận nơi kinh đô triều đình điện ngọc. Còn ai thấu hiểu ý nghĩa cuả câu "nam nữ thọ thọ bất thân” hơn những ông quan bộ Lễ đại diện cho triều đình, ấy thế mà chỉ cách môt giòng sông, bên kia điện ngọc cung vàng uy nghi nghiêm ngặt, bên này “Quốc Học, Đồng Khánh thọ tương thân”, cách nhau đúng một cái dậu bìm bìm! Có mâu thuẫn không? Có khó hiểu không? Chắc chắn là không! Huế là rứa đó. Cái gì cũng có vẻ dị biệt nhưng không tương phản mà lại rất tương đồng, như trên mặt nước sông Hương hiền hòa, lặng lờ, lăn tăn gợn sóng để che dấu bên dưới là những luồng nước cuốn xoáy, để sẵn sàng làm cơn lụt mỗi năm. Huế là rứa đó, có chi lạ mô, cái gì cũng có vẻ huyền bí, lạ kỳ, nhưng không khó hiểu, như vành nón bài thơ quay đi e ấp chối từ, nhưng mắt huyền len lén liếc nhẹ đưa tình. Như tình người Huế không ồn ào vồn vã, nhưng bền bỉ lâu dài, dù lãng mạn nhưng chung thủy trọn vẹn.
 
    Một ngày trong đời của Huế, của tuổi học trò sẽ không trọn vẹn, nếu buổi trưa không được đèo nhau trên xe đạp lên Làng Quán, làng Nguyệt Biều hái trộm dưa hường rồi đập vỡ ra ăn ngay tại chỗ. Buổi chiều sau giờ học, năm bảy đứa kéo nhau bơi lội trên bến Kim Long, để cho những chàng phi công trực thăng tưởng mình đã bay ra ngoài tầng khí quyển và đang lạc lối thiên thai. Những ngày cuối tuần đạp xe qua cồn Hến ăn chè bắp, hay lên Thiên An để nhìn xuống thành phố Huế ẩn hiện trong làn khói sương mờ như một bức tranh Thủy Mạc của Tàu, hoặc trèo lên núi trọc Ngự Bình, khi chân mỏi thì ghé vào quán mụ Rớt để thưởng thức món bánh nậm nóng hổi vừa thổi vừa ăn, và còn nhiều nhiều nữa…
 
    Chì có người Huế mới có cái kiên nhẫn để nghe một người Huế kể chuyện về Huế. Chỉ có người Huế mới hiểu được cái tâm tình khúc mắc trắc ẩn của con gái Huế. Và cũng chỉ có người Huế mới hiểu được cái phong phú trong ý nghĩa và cái êm ái trong âm thanh của ngôn ngữ Huế, như chữ “Ai” trong thơ của Hàn mặc Tử “Vườn Ai mướt quá xanh như ngọc… Ai biết tình Ai có đậm đà”, hay: “Mời Ai ra ăn cơm tề... Ai mời Ai rứa… thì mời Ai chứ còn Ai nữa…”
 
     Ấy thế mà đã có mấy người Huế chịu nhận rằng một người Huế khác kể chuyện hay và đầy đủ hơn mình. Đã có mấy người Huế chịu quý trọng, thương mến nâng niu và xoa dịu những tâm tình khúc mắc, trắc ẩn đó? Đã có bao nhiêu người Huế mà không hơn một lần cảm thấy tiếng nói mình lạc lõng xa lạ trong âm thanh ngôn ngữ của ba miền?
 
    Huế chỉ thật sự đẹp, thật sự quyến rũ, thật sự đáng yêu, với cái nghĩa trọn vẹn của nó, trong lòng của cả người Huế lẫn du khách khi người ta không còn ở trên phần đất, dưới cơn nắng nung người của ngọn gió Lào, hay cái lạnh cắt da dưới cơn mưa phùn âm ỉ suốt mùa đông. Huế chỉ được ngợi ca xưng tụng khi người ta không còn ở Huế. Huế chỉ được yêu thương như một hoài niệm về quá khứ mà không được sống với, không được nhận diện như một hiện hữu có thật bên mình. Tại sao? tại sao người chỉ NHỚ Huế mà không THƯƠNG Huế? Tại sao? Ai mà biết vì răng!
 
    Vì răng mà mấy chục năm rồi, từ khi bỏ Huế ra đi, có những lúc tưởng mình như đã không còn cái chất Huế đặc sệt nữa, để trở thành một cái chất Việt Nam rắn chắc bền bỉ. Bền bỉ để không bị “cuốn theo chiều gió” ngoại lai, rắn chắc để còn được hiện hữu sống còn, dù sống còn hiện hữu bằng chất Huế, hay Sài Gòn. Rứa mà, trong một ngày Xuân đẹp trời của miền Cali nắng ấm, Đại Hội Huế Hải Ngoại 2012, đã mang lại luồng gió mới, thổi bay đi những lớp bụi thời gian, làm sống lại cái chất Huế muôn thuở trong lòng mình. Và rồi tình Huế, tiếng Huế, người Huế rộ nở như những nụ tầm xuân chỗi mình sau những tháng giá lạnh lẽo của mùa Đông, đề từ đây, còn có một nơi chốn, một cơ hội cho cánh chim bằng trở về với mùa Xuân, như trở về thăm lại Huế xưa!
 
PHAN DỤY
 
 
 
 

 

HỒN ĐÃ ĐI VỀ ĐÂU?

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Ngọn nến cháy. Nguồn Internet
 
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó.
Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau:
“Ông đã đi đâu rồi?”
Và ngẩn người. Ông đã vào nằm trong một chiếc “hòm” và như đã biến mất. Mi, đứa bé lên năm, nhìn vào chiếc đèn nến mới hình thành, lẩm bẩm:
“Có phải Ông đã đi vào cây đèn này không?”
Nhà nội có một căn gác rất rộng, được gọi là gác thờ, nhưng thật ra không chỉ dùng để thờ. Có một góc lưu giữ toàn những vật cũ kỹ, không mấy khi dùng, như cái mâm đồng nặng trịch, chiếc bàn ủi than có cái chốt hình con gà trống, hay cây đèn “măng-sông” khi đốt phải bơm hì hục… Đặc biệt nhất là chiếc máy hát đĩa. Cái máy hát đĩa này không biết có từ bao giờ, dễ chừng còn hơn tuổi của Ba. Phải “lên dây thiều” cho nó hát. Khi đặt cái đĩa hát to tướng vào xong, phải cầm cái cần đã gắn kim đặt lên đĩa. Khi đĩa quay, tiếng nhạc cất lên. Nhiều chỗ đĩa bị hư, máy cứ lặp đi lặp lại một câu, nghe buồn cười lắm. Vào trong một chút là khu vực thờ. Nhà nội thờ các vị Phật, và thờ ông bà tổ tiên. Có đến sáu, bảy bàn thờ, đối với Mi là nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ thường kéo nhau lên gác, rồi cùng rủ nhau xuống. Chẳng đứa nào dám ở lại một mình. Không khí trên gác thờ là lạ. Có thể là vì ánh sáng tù mù, vì những ngọn đèn dầu thắp cả ngày đêm, hay vì mùi khói hương thoang thoảng chăng? Lũ nhóc thường nhìn thật nhanh lên những gương mặt trong các khung hình, đầu óc non thơ lóe lên những điều chưa hiểu.

Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.

Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nảy:

“Ông nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”

 ***

Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường: một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục. Vậy thì… họ đi đâu?

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.

Mi lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.

Cô bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay “cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành, không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ nhớ những câu rời rạc như:

Hồn ai ở chốn non bồng,

Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.

Dù hồn ở khắp mọi nơi,

Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian...

…Hoặc hồn ở đầu sông đầu suối

Hoặc hồn nơi bụi chuối, cành đa

Hoặc hồn nơi bóng xế chiều tà

Hoặc hồn lãng đãng là đà mây xanh

Rồi có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp, qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.

Những buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”

**

Khi Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?

Má và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?

Nhưng có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!

Nỗi đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng” để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.

Mỗi dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy, ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.

Các nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết. Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã “đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa. Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được, phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ, cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua đời.

Do not stand at my grave and weep

I am not there; I do not sleep.

I am a thousand winds that blow,

I am the diamond glints on snow,

I am the sun on ripened grain,

I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning's hush,

I am the swift uplifting rush

Of quiet birds in circled flight.

I am the soft stars that shine at night.

Do not stand at my grave and cry,

I am not there; I did not die.

Và nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác khá sát ý bài thơ:

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,

Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn

Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man

Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.

 

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt

Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan

Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng

Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.

 

Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy

Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay

Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy

Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.

 

Khi đêm tối buông lối anh đi về

Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen

Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng

Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo…

Nghe giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở lại.

Mùa Vu Lan 2026

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Phim “Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker

Bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

 

 

SÁCH MỚI


Trân trọng giới thiệu:

 
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
TA CÒN ĐỂ LẠI GÌ KHÔNG
 
Cuộc đời &
Những tác phẩm tiểu biểu của
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương
Nhóm biên soạn:
 
TRẦN HUY BÍCH • TRẦN MẠNH TOÀN •
TRẦN NGỌC KHÔI • NGUYỄN NGỌC DUNG •
PHẠM THỊ LỆ-HƯƠNG
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026
 
LỜI MỞ ĐẦU
 
Trần Huy Bích
 
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả.
Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương. Cùng mấy người bạn, cũng là cựu môn sinh của cố thi sĩ, và một số thân hữu yêu thơ, nhận ra giá trị đáng trân trọng trong di sản nhà thơ Vũ Hoàng Chương để lại, chúng tôi cảm thấy sự cần thiết của một cuốn sách viết một cách nghiêm túc, để góp phần vào việc trình bày, nhằm giúp một số thi phẩm nhà thơ để lại có thể được hiểu dễ hơn. Muốn được như thế, cần tuần tự tóm lược lại cuộc đời của tác giả, chú ý đến những biến cố và giao tiếp quan trọng, lồng trong khung cảnh của đất nước và với bối cảnh thế giới, những dữ kiện đã tạo ảnh hưởng lên cuộc đời và tác phẩm của ông.
Xét đại cương, cuộc đời Vũ Hoàng Chương có thể chia làm hai giai đoạn: Từ nhỏ tới mùa hè năm 1954, tức 39 năm đầu khi ông ở miền Bắc; và từ tháng 8 năm 1954 tới tháng 9 năm 1976 khi ông qua đời, tức 22 năm sau ở miền Nam. Hai chương chủ yếu trong sách, Chương I và Chương V, được dành cho mục đích ấy. Trong cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương có ba sự kiện đáng được chú ý một cách đặc biệt, là nguyên nhân đưa tới một số lượng tác phẩm đặc sắc và rất đáng kể của ông: mối “duyên thơ nợ kịch” với nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, tình tri âm với nữ sĩ Ngân Giang, và việc giao tiếp với một số văn thi sĩ Âu Châu, khiến một số thơ ông được dịch ra ngoại ngữ, cùng ít bài đặc sắc ông làm cho một nữ thi sĩ trẻ tuổi của nước Bỉ, Ysabel Baes mà ông gọi tắt là Ysa.
Các chương II, III, và IV được dành cho mục đích này.
Số lượng thi phẩm Vũ Hoàng Chương để lại rất phong phú. Ngoài hơn 20 thi tập đã xuất bản (một số bài được in lại), ông còn nhiều bài thơ đăng trên các báo và tạp chí, chưa được in vào thi tập nào. Phần phân tích nội dung chúng tôi trình bày ở đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong thi nghiệp của ông. Chúng tôi quan niệm tập sách này mới chỉ là bước khởi đầu, mong ước sẽ hữu ích phần nào cho những nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về sau. Với tập sách này, tôn chỉ của chúng tôi là chính xác. Nhiều sự kiện được kiểm chứng bằng nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Mỗi khi dẫn thơ Vũ Hoàng Chương, chúng tôi cố gắng nói rõ câu ấy được trích từ bài nào, và được in lần đầu trong thi tập hay trên báo, tạp chí nào.
Khi thực hiện tập sách này, chúng tôi đã được nhờ công trình của một số người đi trước, chẳng hạn bài viết rất công phu của chị Phạm Thị Nhung, giáo sư trường nữ Trung học Gia Long, về mối tình giữa nhà thơ họ Vũ với người yêu đầu đời. Một số bài phổ biến từ trước của một số cựu môn sinh từng được học với nhà giáo Vũ Hoàng Chương như các anh Song Thao, Đào Trường Phúc cũng giúp tôi rất nhiều. Tôi thành thật đã không viết nổi cuốn sách nếu không nhờ sự sưu tầm tài liệu rất công phu cùng việc góp ý kiến của ba người bạn quý, các anh Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, và chị Phạm Thị Lệ-Hương. Chị Lệ-Hương còn thực hiện một “Thư tịch Vũ Hoàng Chương” rất phong phú. Người giúp tôi tra cứu lại các điển cố, nhất là những điển cố liên quan đến bài “Đọc Bành Ngọc Lân,” đã đánh lại chữ Hán trong một số trường hợp cần thiết, đã “nhòe mắt” duyệt lại bản thảo là “người yêu thơ” Nguyễn Ngọc Dung. Giúp chúng tôi có những hình ảnh sáng, rõ, cho một số nhân vật được nhắc đến trong sách cũng như cho một số tác phẩm cũ cần được giới thiệu, là người bạn trẻ Nguyễn Vũ. Anh bạn cố cựu Thành Tôn đã chia sẻ, cho mượn một số tác phẩm không dễ kiếm. Tôi cũng xin cảm ơn những nhắc nhở, khích lệ, giúp ý của một số bạn quý trong văn giới, học giới như các anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Duy Chính, Huy Văn Trương, Uyên Thao, Trần Ngọc Vân..., sự nhắc nhở, khích lệ với niềm tin của một người bạn cố cựu ở nơi xa, anh Trần Dạ Từ. Cuốn sách không thể đến với người đọc nếu không nhờ tấm lòng tận tụy, kiên nhẫn, đầy thông cảm của người chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press, anh Trịnh Y Thư. Ở lớp bạn trẻ hơn, Thơ Thơ tìm giúp tôi một số tài liệu hiếm, Hòa Bình đóng vai chèo lái trong việc giúp cuốn sách thành hình. Cũng xin ghi nhận những khích lệ tinh thần của anh Phạm Văn Quảng, cũng là môn sinh của “Thầy Vũ Hoàng Chương,” chị Vũ Ngọc Diệp, thuộc một gia đình vô cùng đặc biệt, đầy tình nghĩa với bà Vũ Hoàng Chương và thi sĩ Đinh Hùng.
Với các thân hữu vừa kể cũng như với những thân hữu từng cho lời nhắc nhở, khích lệ trong nhiều năm vừa qua, tôi xin ghi ở đây lời cảm ơn chân thành. Tôi cũng xin cảm ơn những độc giả lưu tâm tới cuốn sách, và mong ước sẽ được nhận những phê bình, chỉ dẫn nếu thấy trong sách có chỗ chưa chính xác. Trong việc đi tìm sự thật, chúng ta là những người đồng hành, vì theo lời thi sĩ Vũ Hoàng Chương, “chúng ta mất hết, chỉ còn nhau.”
Trân trọng,
Trần Huy Bích
(Viết ở ngoài nước, tháng 8 năm 2026, 50 năm sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời.)
 
@@@
 
Sách có bán trên BARNES & NOBLE
296 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
 
Vu Hoang Chuong Ta Con De Lai Gi Khong | Barnes & Noble®

  

Friday, August 28, 2026

KHI CÁC NHÀ THƠ RA GIỮA PHỐ ĐỌC THƠ

Phan Tấn Hải
 
Nhà thơ Karmadin đọc thơ ở quảng trường giữa Moscow

Đọc thơ, theo truyền thống và thói quen, thường là lặng lẽ, đơn độc. Bạn pha xong tách trà hay cà phê, ngồi đơn độc nơi bàn giấy, mở ra trang giấy để đọc bài thơ ghi vội, được ghi nháp để rồi đọc tới, đọc lui và sửa chữa chút đỉnh. Đôi khi mở ra một thi tập của một tác giả bạn mới nhận qua bưu điện, bạn cẩn trọng đọc kỹ, suy nghĩ, tham khảo và khởi tâm muốn viết một bài giới thiệu tập thơ này. Đọc thơ như dường là chuyện riêng, đơn độc. Tuy nhiên, đọc thơ trước đám đông lại là chuyện khác.
Tại nhiều quốc độ, không phải chuyện dễ khi bạn muốn đọc thơ giữa nơi phố thị. Đặc biệt, là tại Trung Quốc và Nga, bất kể rằng hai dân tộc này trong nhiều thế kỷ vẫn có truyền thống ưa chuộng thi ca. Bởi vì như dường, hầu hết những bài thơ đọc giữa phố thị không được phép in ấn, phổ biến, và các nhà thơ chỉ còn cách duy nhất là ra giữa phố đọc, bất kể hậu quả bất tường.
Trên báo Vision Times: ngày 23/4/2026, bản tin "China Protest Video Goes Viral After Man Recites ‘How to Kill a Bird’ in Shenyang" (Video về cuộc phản kháng tại Trung Quốc lan truyền mạnh mẽ sau khi một người đàn ông đọc bài "Cách giết một con chim" ở Thẩm Dương) của phóng viên Cai Siyun ghi nhận về một chàng trai ra giữa phố đọc thơ.
 
Chàng trai đọc bài thơ qua loa cầm tay trên phố đi bộ
ở Thẩm Dương, Liêu Ninh, Trung Quốc,
 
Vào buổi chiều tối ngày 15 tháng 4/2026, một chàng thanh niên  đứng giữa Zhongjie – con phố mua sắm dành cho người đi bộ tại Thẩm Dương (Shenyang), thủ phủ tỉnh Liêu Ninh (Liaoning) ở Đông Bắc Trung Quốc – và ngâm thơ qua loa phóng thanh cầm tay. Khi dứt lời, chàng trai quỳ xuống và gào lên. Một đám đông, chủ yếu là người trẻ, đã vây quanh chàng trai; nhiều người trong số đó dùng điện thoại để ghi lại sự việc.
Zhongjie, con phố có lịch sử từ thời nhà Thanh, là một trong những tuyến phố thương mại sầm uất nhất thành phố. Việc cất tiếng nói tại đây – nơi mà mọi sự thể hiện quan điểm công khai đều có thể thu hút sự chú ý của giới chức trách – đã khiến sự việc nhanh chóng được nhiều người biết đến.
Bài thơ chàng ngâm có tựa đề "Cách giết một con chim" (How to Kill a Bird), do Chu Trường Phong (Zhou Changfeng) sáng tác. Ông Chu là nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Trung Quốc – một cơ quan nhà nước quản lý các tổ chức văn học tại nước này. Nội dung bài thơ như sau:
 
Cách tốt nhất để giết một con chim
là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu,
bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
.
Dù nó đang chửi rủa hay khóc than,
bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
.
Dù nó đang gào khóc hay van xin,
bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
.
Tôi không tin rằng bình minh nào cũng đẹp như người ta vẫn nói,
ngay cả trong đôi mắt của một chú chim.
 
Bài thơ lan truyền trên mạng bất chấp việc liên tục bị gỡ bỏ. Bài thơ "Cách giết một con chim" từng được xuất bản qua các kênh chính thống và vào năm 2023, tác phẩm này đã lọt vào danh sách các bài thơ được một giải thưởng văn học trong nước công nhận.
Vào tháng 4 năm 2025, bài thơ bắt đầu lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội Trung Quốc. Các video quay cảnh người dân ngâm bài thơ này xuất hiện tràn lan trên những nền tảng video ngắn; dù bị gỡ bỏ, chúng lại nhanh chóng được đăng tải lại thông qua các tài khoản mới.
Sina – một cổng thông tin điện tử lớn của Trung Quốc hoạt động dưới sự giám sát của nhà nước – đã dẫn lời người dùng mô tả đây là một trong những bài thơ được chia sẻ nhiều nhất trên mạng trong giai đoạn 2025-2026. Các bài đăng nhắc đến bài thơ vẫn tiếp tục xuất hiện trên nhiều nền tảng bất chấp việc bị xóa định kỳ. Các video về buổi ngâm thơ tại Thẩm Dương sau đó đã lan rộng ra ngoài phạm vi mạng internet nội địa Trung Quốc.
Bản tin Vision Times ghi nhận rằng phản ứng của cộng đồng mạng bao gồm cả sự ủng hộ lẫn thái độ thận trọng. Trên mạng Douyin (phiên bản TikTok tại Trung Quốc), nhiều bình luận đã xuất hiện trước khi video bị gỡ bỏ. Một số người dùng viết rằng người đàn ông này đang nói lên những điều mà người khác không thể công khai bày tỏ. Những người khác đăng các thông điệp ngắn gọn kêu gọi sự thận trọng, chẳng hạn như "hãy giữ an toàn" và "hãy cẩn thận".
Việc công khai bày tỏ quan điểm như vậy tại Trung Quốc có thể dẫn đến việc bị cơ quan chức năng thẩm vấn, giam giữ hoặc phải gánh chịu các hậu quả khác, tùy thuộc vào cách nội dung đó bị diễn giải.
Trên X – nền tảng mạng xã hội bị chặn tại Trung Quốc nhưng được cộng đồng người Hoa ở nước ngoài sử dụng – các phản ứng diễn ra trực diện hơn. Một số người dùng nhận xét rằng bài thơ phản ánh khoảng cách giữa trải nghiệm thực tế hàng ngày và các thông điệp chính thức. Những người khác lại biến tấu ngôn từ trong bài thơ để bình luận về tình hình kinh tế, bao gồm áp lực việc làm và chi phí sinh hoạt ngày càng tăng.
Nhiều ý kiến ​​tập trung vào những rủi ro khi công khai bày tỏ quan điểm. Trong khi đó, một số người khác coi sự việc này là một phần trong xu hướng thể hiện quan điểm công khai ngày càng phổ biến của giới trẻ.
Bản tin cũng ghi nhận về áp lực kinh tế là bối cảnh chung: Trong những năm gần đây, những sự việc tương tự đã xuất hiện tại nhiều nơi ở Trung Quốc, với các hành động đa dạng từ việc thể hiện quan điểm mang tính biểu tượng cho đến các hình thức phản kháng trực diện hơn. Nhiều người tham gia là các bạn trẻ.
Số liệu chính thức cho thấy áp lực trên thị trường lao động đối với người trẻ đang gia tăng, trong khi sự suy thoái của lĩnh vực bất động sản đã ảnh hưởng đến tài chính của các hộ gia đình. Cơ hội tại các thành phố lớn cũng trở nên hạn hẹp hơn đối với những người mới gia nhập thị trường lao động.
Song song đó, truyền thông nhà nước vẫn tiếp tục nhấn mạnh vào sự ổn định và phục hồi của nền kinh tế.  Đoạn video quay tại Thẩm Dương vẫn đang được lan truyền trên các nền tảng mạng xã hội ở nước ngoài, trong khi khả năng tiếp cận nội dung này trên các nền tảng trong nước vẫn còn hạn chế.
Tại Moscow cũng có một truyền thống của các nhà thơ: Các buổi đọc thơ tại Quảng trường Maiakovskii. Học giả James von Geldern, Giáo sư Đại học Macalester College tại Minnesota, đã ghi nhận về truyền thống đọc thơ giữa phố này: Vào tháng 7 năm 1958, chính quyền Moscow đã dựng tượng đài Vladimir Maiakovskii tại nơi khi đó được đổi tên thành Quảng trường Maiakovskii. Đến năm 1961, giới trẻ Moscow đã biến tượng đài của "nhà thơ xuất sắc và tài năng nhất trong kỷ nguyên Xô viết" (theo lời Stalin) thành nơi tụ họp của riêng mình. Nổi bật nhất là các buổi đọc thơ, thu hút hàng ngàn người tham dự ngay cả trong những ngày đông giá rét. Những vần thơ ở đây thường sắc bén, táo bạo, đôi khi mang tính châm biếm đầy ẩn ý mà chính quyền coi là chống lại chế độ Xô viết.
Đến tháng 4/1061, nhà chức trách bắt đầu hành động: dùng vũ lực giải tán đám đông tại quảng trường, và khi các cuộc tụ họp vẫn tiếp diễn, họ chuyển sang các biện pháp trục xuất, khiêu khích, đàn áp và lục soát. Thậm chí, có lúc họ còn huy động cả xe ủi tuyết để giải tán đám đông. Một số nhà thơ bị bắt giữ, số khác bị cưỡng chế đưa vào các cơ sở điều trị tâm thần. Tháng 5/1961, các đạo luật mới chống lại "thói ăn bám" (những người trốn tránh lao động có ích cho xã hội) được thông qua và áp dụng để trừng phạt các nhà thơ. Tất cả những sự kiện này diễn ra chỉ trong vòng hai tháng sau chuyến bay vào vũ trụ của phi hành gia Yuri Gagarin.
Việc giải tán các buổi tụ họp công khai này—dù ít được đa số công dân Xô viết chú ý—có lẽ lại là sự kiện mang tính bước ngoặt của một năm đầy biến động. Đối với nhiều người, những buổi tụ họp này mang lại trải nghiệm đầu tiên về một xã hội cởi mở; đó là không gian công cộng nơi họ có thể trò chuyện thẳng thắn và hành xử như những con người tự do.
Mặc dù một số người rơi vào tuyệt vọng sau khi các buổi đọc thơ bị cấm, những thành viên khác thuộc "thế hệ 1961" vẫn tiếp tục duy trì tinh thần phản kháng. Vladimir Bukovsky—người từng bị cảnh sát đánh đập tại Quảng trường Mayakovsky—đã trở thành một trong những nhà bất đồng chính kiến ​​đầu tiên và kiên định nhất trong xã hội Xô viết, đồng thời là tấm gương cho những người bất đồng chính kiến ​​sau này. Những hình thức hoạt động tự phát năm 1961, chẳng hạn như việc chuyền tay nhau các tập thơ chép lại bằng giấy than, đã khai sinh ra nền văn học "samizdat" (tự xuất bản)—những ấn phẩm bí mật, không được cấp phép, vốn trở thành huyết mạch cho phong trào bất đồng chính kiến ​​về sau.
Các buổi đọc thơ này là mầm mống của một xã hội dân sự, nhưng chúng cũng khơi mào cho các biện pháp đàn áp của nhà nước—những biện pháp kéo dài dai dẳng suốt những năm 1980s. Việc tống giam các nhà thơ vì tội "ăn bám" và coi những người bất đồng chính kiến ​​là kẻ tâm thần đã trở thành thủ đoạn trấn áp thường thấy của cảnh sát trong những năm sau đó, dẫn đến hàng loạt phiên tòa tàn khốc suốt thập niên 1960s. Ngành tâm lý học Xô viết—vốn đã là một lĩnh vực yếu kém—càng bị mất uy tín hơn khi bị lợi dụng để gán mác bệnh lý cho tinh thần bất đồng chính kiến ​​và khát vọng thể hiện văn hóa của giới trẻ.
Mang đậm tinh thần của chính lãnh tụ Khrushchev, các nhà thơ trẻ là những người ủng hộ nhiệt thành cho chiến dịch phi Stalin hóa—chiến dịch vốn đang trỗi dậy mạnh mẽ trở lại vào... Năm 1961. Tuy nhiên, cũng quan trọng không kém là việc chính những nhà thơ này khẳng định rằng tồn tại một thế giới đầy ắp những niềm vui nằm ngoài phạm vi chính trị---một thế giới đóng vai trò trọng tâm đối với sự hiện hữu của con người và, theo đó, nằm ngoài hệ thống văn học của Liên Xô.
Nhà thơ Vladimir Bukovsky (1942-2019) trong tác phẩm "To Build a Castle. My Life as a Dissenter" (Xây một tòa lâu đài: Cuộc đời tôi với tư cách là một người bất đồng chính kiến) do nxb The Viking Press ấn hành 1979 kể lại nơi trang 142-163 về những ngày đọc thơ nơi quảng trường Mayakovsky ở Moscow.
Những ngày ghi lại là tháng 4 năm 1961. Bukovsky hồi tưởng lại việc các buổi đọc thơ quanh tượng đài Mayakovsky trong thời kỳ "Tan băng" (Thaw)---nơi sinh viên ngâm thơ của các tác giả bị cấm và chuyền tay nhau các tài liệu samizdat (ấn phẩm tự xuất bản ngầm)---đã trở thành một trường học cho tinh thần phản kháng. Những gì khởi đầu như một nhóm văn học ngoài trời đã thu hút sự chú ý của an ninh Komsomol và KGB, cho thấy việc bảo vệ tự do nghệ thuật có thể nhanh chóng chuyển thành cuộc đấu tranh cho tự do chính trị.
Tóm lược câu chuyện cho thấy ban đầu rất đơn giản. Văn hóa samizdat (xuất bản ngầm) bắt đầu hình thành trong giai đoạn này; ban đầu, nó không được chú ý hay công nhận bởi các giải thưởng danh giá như giải Nobel. Vào mùa hè năm 1958, một bức tượng của Mayakovsky được khánh thành; các buổi đọc thơ tự phát đã diễn ra ngay tại buổi lễ, dẫn đến việc hình thành các cuộc tụ họp thường xuyên của giới thi sĩ. Những buổi tụ họp này---ban đầu được chính quyền dung thứ và thậm chí được một tờ báo ở Moscow đưa tin---đã trở thành một câu lạc bộ ngoài trời phổ biến, nơi các nhà thơ đọc những tác phẩm của những tác giả bị lãng quên hoặc bị đàn áp, đồng thời thảo luận về văn học và nghệ thuật. Cuối cùng, chính quyền đã đàn áp các buổi đọc thơ này vì coi chúng là mối đe dọa.
Ban đầu, nhà thơ Bukovsky không tham gia các buổi đọc thơ này nhưng sau đó đã hối tiếc vì bỏ lỡ cơ hội kết nối với những người cùng chí hướng. Vào tháng 9 năm 1960, Bukovsky cùng bạn bè đã khôi phục các buổi đọc thơ gần Quảng trường Mayakovsky, thu hút đông đảo khán giả và kết nối lại với những người kỳ cựu từng tham gia các buổi tụ họp trước đó. Những người kỳ cựu này tích cực tham gia vào các hoạt động samizdat, phân phối thơ bị cấm và sản xuất các tạp chí thơ ngầm như "Syntax", "Phoenix 1961", "Boomerang" và "Cocktail".
Aleksandr Ginzburg, một nhân vật chủ chốt trong hoạt động xuất bản samizdat, đã bị bắt do có liên quan đến tạp chí "Syntax". Những người tham gia cũng góp mặt tại các buổi thuyết trình và thảo luận chính thức của Liên Xô, nơi họ thách thức hiện trạng bằng cách đặt câu hỏi và khơi dậy các cuộc tranh luận về những vấn đề thực tế. Các buổi đọc thơ samizdat cùng những hoạt động liên quan đã quy tụ một nhóm đa dạng và có tầm ảnh hưởng gồm các học giả, nhà văn và nghệ sĩ. Tuy nhiên, khi các nhà thơ với tay không đi vào quảng trường thị công an không có cớ gì để bắt, vì họ không có chữ nào viết ra. Nhà thơ Bukovsky nói rằng ông tìm thấy sự độc đáo và tự do mà mình hằng tìm kiếm trong những buổi tụ họp này; đây là dấu ấn của một phong trào văn hóa và trí thức quan trọng tại Nga.
Nhà thơ Bukovsky kể lại trong sách “To Build a Castle. My Life as a Dissenter”:
“Một trong những tác phẩm thường được đọc nhất tại quảng trường là bài Tuyên ngôn về Con người (Manifesto of Man) của Iurii Galanskov. Bài thơ được đọc bởi chính tác giả và một số diễn viên. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nói liệu đó có phải là một bài thơ hay hay không, và tôi cũng chẳng ở vị thế nào để phán xét điều đó—bởi nó gắn bó quá mật thiết với toàn bộ ký ức của tôi về thời kỳ ấy. Chúng tôi coi Tuyên ngôn về Con người như một bản giao hưởng của sự nổi dậy, như một lời hiệu triệu đấu tranh.
Tôi sẽ bước ra quảng trường
và găm vào tai thành phố
tiếng thét tuyệt vọng...
...những câu thơ ấy từng vang vọng khắp Quảng trường Maiakovskii, tựa như những lời lẽ vừa mới được khám phá ngay khoảnh khắc đó. Bài thơ của Iurii đã diễn tả chính xác những gì chúng tôi cảm nhận và những gì chúng tôi sống vì nó:
Là tôi đây,
đang kêu gọi sự thật và nổi dậy,
không còn muốn làm kẻ tôi tớ nữa
Tôi phá tan những xiềng xích đen tối của các người
được dệt nên từ dối trá.
Cũng như anh, chúng tôi cảm thấy rằng từ chính nỗi tuyệt vọng và sự nổi dậy này, một nhân cách tự do và độc lập có thể được tái sinh và lớn mạnh.
Tôi chẳng màng đến miếng bánh mì của các người
nhào nặn bằng nước mắt.
Và tôi vừa rơi xuống lại vừa bay lên,
nửa mê sảng,
nửa mơ màng...
Và tôi cảm thấy
con người
đang bừng nở trong tôi.
Và quả thực, đây chính là bản tuyên ngôn về con người, chứ không phải là một bản tuyên ngôn mang tính chính trị hẹp hòi nào đó.” (ngưng trích)
Sự kiện đọc thơ giữa Moscow gần nhất là tháng 9/2022, khoảng 7 tháng sau khi lãnh tụ Putin đưa quân xâm lược Ukraine. Bản tin đài Âu châu Tự do RFE ghi nhận về hai nhà thơ Nga bị kết án tù vì ngâm thơ phản đối cuộc chiến tại Ukraine.
Bản tin viết: "Ngày 28 tháng 12/2023, một tòa án tại Moscow đã tuyên phạt hai nhà thơ Artyom Kamardin và Yegor Shtovba lần lượt 7 năm và 5 năm rưỡi tù giam với các cáo buộc ‘kích động thù hận và kêu gọi các hoạt động chống lại nhà nước’, sau khi họ công khai đọc và ngâm những vần thơ lên ​​án cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine. Những người ủng hộ đã hô vang ‘Thật đáng xấu hổ!’ sau khi phán quyết của tòa án được công bố; cảnh sát đã bắt giữ một số người trong số họ. Trước đó, vào tháng 5/2023, một nhà thơ khác là Nikolai Daineko – người đã đồng ý hợp tác với cơ quan điều tra – cũng đã bị kết án 4 năm tù với cùng các cáo buộc này. Cả ba nhà thơ đã bị bắt giữ vào tháng 9/2022 sau khi trình bày các bài thơ phản chiến ở nơi công cộng." (ngưng trích)
Nơi đây, chúng ta dịch một bài thơ, trong này có địa danh Donbas, một vùng phía đông Ukraine, nơi lính Nga đã chiếm từ Ukraine và đã chính thức sáp nhập vào Nga. Bài thơ của Artem Kamardin (bị bắt năm anh 32 tuổi) nguyên tác tiếng Nga, do Neon Mashurov dịch sang tiếng Anh là "Kill me, militiaman!" (“Giết tao đi, gã dân quân!”)
Giết tao đi, gã dân quân!
Cảnh sát sẽ mua súng cho mày bằng tiền ngân sách.
Giết tao đi, gã dân quân!
Hãy trở thành kẻ vung roi trừng phạt.
Dẫu sao thì tao đâu phải con người! Máu tao toàn là cứt!
Giết tao đi, gã dân quân!
Hãy trở thành tai ương của Chúa trời!
Dẫu sao thì tao chẳng phải người yêu nước… hay có lẽ tao chỉ là kẻ chưa đủ tốt.
Cần gì lý do chứ? Mặc xác nó đi! Mày đâu cần lý do!
Giết tao đi, gã dân quân!
Nào!
Giết tao đi, gã dân quân!
Mày đã nếm mùi máu rồi mà!
Mày đã thấy những người anh em thiện chiến
Đào những hố chôn tập thể cho đám đông anh em đồng bào.
Mày sẽ bật tivi lên—và rồi mày sẽ mất kiểm soát,
Tự chủ chưa bao giờ là thế mạnh của mày.
Ít nhất thì mày cũng có nhiều thế mạnh khác.
Giết tao đi, gã tình nguyện quân!
Hãy bắn hạ những con quạ trắng.
Hãy trả thù cho đứa trẻ bị đóng đinh!
Hãy cứu lấy Tổ quốc khỏi tay tao!
Hãy trở thành người hùng!
Giết tao đi, gã tình nguyện quân!
Tổng thống của mày sẽ rất hài lòng về mày đấy.
Hãy xé xác tao ra!
Hãy giẫm nát tao xuống bùn đen!
Những nụ hoa của Mùa xuân Nga đã nở rộ!
Nhanh lên! Giết tao đi, đồ cặn bã!
Dẫu sao thì mày cũng khao khát điều đó lắm mà…
Thấy chưa, trong lúc mày đang chiến đấu vì vùng Donbas,
Tao đã làm tình với con gái mày,
Tao đã bán ma túy tổng hợp cho đứa con trai ba tuổi của mày.
.
Bạn có thể xem Karmadin đọc thơ khi chưa bị bắt trong video dài 6:15 phút này, phụ đề tiếng Nga có thể điều chỉnh sang tiếng Anh hay tiếng Việt (ở nút răng cưa, cc: auto-translated):
Biết tới bao giờ thế giới chúng ta có thể tự do đọc thơ, làm thơ, in thơ... Hẳn là hạnh phúc biết là bao nhiêu, bất kể những gì chúng ta có thể không đồng ý với nhau. Biết tới bao giờ nhỉ.
PTH 
 
Quảng trường Triumfalnaya (tên cũ: quảng trường Mayakovsky)
giữa Moscow, Nga, trước kia là nơi các nhà thơ bất đồng chính kiến
thường tụ tập đọc các bài thơ bị cấm xuất bản.