Sunday, January 16, 2022

CÁ VÀNG

Lê Chiều Giang
 
DC self portrait . Collection TungDuyen 1994
 
“Sao lòng ta bỗng rộn ràng
Như những toa tàu sắp chạy
Thăm những nhà ga sắp hồi sinh
Những nhà ga sắp thở…”
                                        [Đinh Cường 1969]
 
 
Anh Đinh Cường gọi phone cho tôi chỉ hỏi: “Làm sao để thành… Cá?”.
 
Cá bơi xuôi lội ngược, vẫy vùng trong biển lớn, hay quanh quẩn trong hồ ao? Cá đẹp óng ánh bơi ngược dòng, hay lừ đừ chịu trận trong lưới ngày, và ngay cả đang giãy giụa chết bởi những lưỡi câu lờ lững?
 
Không phải, anh hỏi tôi về cá khác. Cá Vàng.
Năm 1997, anh Trần Công Sung từ Paris viết bài về chuyến ghé thăm một số bạn bè sống ở California và một vài tiểu bang khác.
Tạp Chí Thế Kỷ 21 gửi xuống San Diego bài viết của Trần Công Sung viết riêng cho Nghiêu Đề, chỉ bởi từ câu nói đùa của anh: “Suốt bao năm, Giang ngắm nhìn tôi như thích một con Cá Vàng”.
Anh Trần Công Sung viết bài ngợi ca, khen tặng tất cả những “Vợ hiền” trên trái đất. Dù có thấp thoáng chút hồn thơ mộng, vẫn không dám chểnh mảng cái trách nhiệm khó khăn muôn đời của “Hội Phụ nữ” chúng tôi: Bằng mọi giá, luôn xây dựng, vun xới quyết liệt cho một gia đình ấm êm, và hạnh phúc. Cuối cùng, anh Nghiêu Đề đau ốm buông bỏ hết mọi thứ, rồi ra đi.
 
Và trước khi tôi bước những bước dài theo một Nhân Duyên hoàn toàn mới. Trong những chuyến du lịch xa xôi, tôi ghé Virginia thăm ngôi nhà thơ mộng của anh chị Đinh Cường.
 
Trên chiếc xe nhỏ màu đỏ, anh chạy nhiều vòng qua mọi phố, loanh quanh cùng tôi xem những kiến trúc yêu kiều của DC.
Nhớ nhất là lúc tôi ngồi dưới bóng của một tàn cây xanh mát, kiên nhẫn chờ anh viết cho xong bài thơ bên dòng Potomac. Dòng sông với nước lung linh sáng trong ánh nắng gay gắt giữa trưa. Đúng giờ Ngọ.
Nhìn bóng nước xôn xao, tôi chợt tự hỏi có phải anh đang nghĩ đến chiếc nhẫn anh đã quăng xuống hồ Tịnh Tâm? Ném đi mất tăm mối tình đầu tan vỡ của anh, ngay giữa dòng nước hồ tịch lặng.
Chiếc nhẫn cũng như đáy hồ… Toàn những chuyện tôi được nghe kể lại. Chỉ có điều duy nhất mà tôi còn nhớ, sau 75 lúc phải sống, phải điên đầu trong than lửa nhọc nhằn, anh Nguyên Khai đã tiếc nuối hỏi đùa Đinh Cường: “Mi ném nhẫn đó góc nào? Để tau ra Huế, tìm cho ra chiếc nhẫn vàng dưới đáy hồ, sửa soạn một bữa tiệc linh đình, đãi anh em”.
 
Lái xe có khi lạc đường, quên lối, nhưng chúng tôi chẳng mấy quan tâm. Anh ghé hai quán café có trưng tranh, treo bán nhiều tác phẩm rất nhỏ anh ký gửi. Tôi thú vị tìm ra cái hay hay của những bố cục muốn vượt hẳn ra ngoài khung tranh, những nét vẽ miên man, bất tận trong một không gian nhỏ hẹp. Rõ ràng tôi đã quen thưởng lãm tác phẩm Đinh Cường qua những tấm canvas lớn. Bóng thiếu nữ dịu dàng đứng bên góc nhà thờ, thanh thoát bay cùng tiếng chuông xa vời, trong chiều thu im vắng.
 
Anh dặn dò: “Hôm nay anh mời, Giang phải uống rất nhiều, có thể uống trăm ly café cho hết tiền của hai bức tranh nhỏ vừa bán”. Tôi cũng hay café sáng, trưa và chiều tối, có khi cả tỷ tỷ ly trong những lúc chán đời, buồn bã từ ngày anh Nghiêu Đề đau ốm rồi ra đi. Nhưng hôm nay, một ngày rất đẹp, rất vui ở DC, chắc tôi không nên phí hoài như thế.
 
Anh tiếp tục lái xe, cứ lạc lối và cứ lạc đường, quyết để tìm mua những chai Red Wine, dưới trăm cái tên mà cả anh và tôi đều chẳng biết rượu ngon hay dở. Anh muốn dùng cho hết tiền tranh vừa mới có, không hết bởi café, thì phải uống thêm rượu đỏ. Uống như sự đãi ngộ, phải như một tưởng nhớ về người bạn thân vừa mới bỏ đời, ra đi…
 
Chiều nhạt nắng với ngàn lá phong rơi rụng, con đường mòn phía sau nhà anh trải đầy lá úa. Chúng tôi ngồi café, nhắc lại nhiều kỷ niệm từ những ngày còn Hội Họa Sĩ Trẻ, những ngày tôi còn đi học, tôi còn bé xíu.
 
Tôi nhất định không muốn quên lời khiếu nại trong lần đầu tiên tôi gặp anh, anh theo dõi bức tranh của Nghiêu Đề. Bức tranh mà khi mang tới phòng triển lãm của Hội Họa Sĩ Trẻ ở Alliance Française Gallery. Chân dung đẹp mơ màng của tôi với khung tranh chỉ được anh Nghiêu Đề quấn rất vội vàng bằng những sợi dây lạt. Với tôi, đó là một khung tranh khác lạ hay hay, còn có thêm cả sự chân tình, dễ thương. Nhưng ngay lập tức, anh Đinh Cường nói với tôi theo một ý nghĩa khác: “Bằng mấy vòng dây lạt đó, “nó” sẽ trói đời cô vào cái kiếp sống lơ tơ mơ, sống vất vưởng trên cung trăng, sống lang thang bên ngoài trái đất …”
Và lời anh Đinh Cường nói đã như một tiên tri, những sợi dây lạt tưởng như mong manh dễ rớt rơi đó, đã trói buộc tôi với anh Nghiêu Đề, một họa sĩ tài hoa nhưng nghèo nhất nước. Chúng tôi đã sống chan hòa, sống cùng nhau cho đến hết, và cho đến chết.
 
Chị Đinh Cường mời thêm họa sĩ Ngọc Dũng, người có nhà rất gần, một bạn thân mà như hàng xóm. Chiều tà với lá tả tơi bay, lá rụng vàng theo gió sau hiên nhà. Chúng tôi ngồi với café, và những ly rượu đỏ.
 
“… Ngoài ta ai đón trăng huyền lặn
Mà dẫn đi qua khỏi cửu trùng?…”
[Trần Dần]
 
Anh Ngọc Dũng đọc thơ Trần Dần, Hữu Loan. Tôi ngâm thơ Hoàng Cầm, Quang Dũng…
 
“… Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?…”
[Quang Dũng]
 
Chúng tôi như đang sướt mướt, gọi mời những hồn ma bóng quế trong Nhân Văn Giai Phẩm về đây, ngồi với.
 
“…Chồng em rách nát chiến bào
Vi vu gió thổi, bay vào Kinh Đô…”
[Hoàng Cầm]
 
Chút se sắt lạnh của chiều như làm những lời thơ xưa, nửa hùng tráng nửa buồn hơn.
 
Tôi nhắc anh Đinh Cường bài thơ mới bên dòng Potomac.
 
Anh tìm trong túi áo, anh ra tìm ngoài xe… Bài thơ chưa thuộc, bài thơ biến mất. Anh tiếc nuối những vần thơ vừa mất tích.
 
Nhớ nhớ quên quên, anh thở những hơi dài trong pipe thuốc, đọc chút thơ có nhắc chiếc nhẫn đã quăng giữa lòng hồ Tịnh Tâm. Nhìn khói half & half mơ màng bay, nghe thơ mà cứ tưởng như đang nghe anh kể lại những kỷ niệm xa vời…
 
Tránh đi chút nặng nề của quá khứ, anh mời chúng tôi xuống basement, studio với rất nhiều tranh sơn dầu. Hội Họa Sĩ Trẻ chỉ có anh là người vẽ nhiều tranh nhất. Anh có nhã ý tặng bức nào tôi muốn mang về California.
Tranh của anh tôi treo trong phòng khách, vẫn rất mơ màng và u hoài như một bài thơ cổ.
 
oOo
 
Chỉ một năm, sau lần chúng tôi ngồi café bên khu rừng phong rất đẹp ở nhà anh Đinh Cường. Từ nơi khác xa xôi, tôi biết tin anh Ngọc Dũng ra đi.
Nghiêu Đề, Ngọc Dũng, và rồi Đinh Cường. Những con Cá Vàng như lời ví von của một năm nào, rất cũ. Lần lượt đã theo dòng nước trôi, rồi biến mất tăm, và sẽ quên lãng hết, ngay cả trong lòng người.
 
Duy nhất anh Đinh Cường, người ước ao biến thành “Cá Vàng”.
Cá vàng đã lững lờ lặn sâu xuống dòng nước cũ, đã tìm cho ra dưới lòng hồ Tịnh Tâm, chiếc nhẫn nào đã ném đi từ những năm xưa.
 
Trên chiếc cổ nho nhỏ, Cá Vàng có mang thêm chiếc nhẫn.
 
Nhẫn vẫn đẹp rực rỡ và óng ánh sáng như một chiếc kiềng vàng.
LCG

Tranh Đinh Cường

 

  

Friday, January 14, 2022

SÁCH MỚI

Văn Hc Press

 
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press
 
Trân trọng giới thiệu:
 

 
VIỆT NAM CỘNG HÒA
1955-1975
Kinh Nghiệm Kiến Quốc
 
 Chủ biên:
 
VŨ TƯỜNG & SEAN FEAR
 
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2022
 
@@@
 
 
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
 
Việt Nam Cộng Hòa, 1955-1975: Kinh Nghiệm Kiến Quốc là ấn phẩm đầu tiên do Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ tổ chức thực hiện, bắt đầu từ một Hội thảo ở Đại học California, Berkeley vào tháng 10 năm 2016. Bản tiếng Anh của sách tên là The Republic of Vietnam, 1955-1975: Vietnamese Perspectives on Nation Building, được xuất bản bởi Chương trình Đông Nam Á của Đại học Cornell năm 2019, đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Việt Nam. Chúng tôi mong bản tiếng Việt sẽ giúp ích cho người Việt ở khắp thế giới và ở Việt Nam có thêm hiểu biết về Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi bản tiếng Anh được xuất bản, bốn tác giả trong sách, ông Phạm Kim Ngọc, Giáo sư Cao Văn Thân, ông Bùi Quyền và Giáo sư Vũ Quốc Thúc, đã qua đời. Chúng tôi biết ơn đóng góp của họ cho sách và cảm thấy hân hạnh đã kịp giúp họ để lại một chút gì đó cho thế hệ sau.
 
Trong quá trình tổ chức Hội thảo, biên tập, dịch thuật và xuất bản, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình về mọi mặt, nhất là hỗ trợ tài chính. Chúng tôi xin hết sức cảm tạ các bậc tiền bối, thân hữu, và thức giả xa gần, đặc biệt là các ông bà Nguyễn Đức Cường, Hoàng Đức Nhã, Phan Công Tâm, Phan Lương Quang, Trần Quang Minh, Trần Văn Sơn (đã quá cố), Trùng Dương, và Bùi Văn Phú. Chúng tôi cũng cảm tạ sự động viên và giúp đỡ của các giáo sư, giảng viên và nhà nghiên cứu Peter Zinoman, Olga Dror, Keith Taylor, Trần Nữ-Anh, Tuấn Hoàng, Vân Nguyễn-Marshall, Sarah Maxims, Nguyễn Nguyệt Cầm, Trần Hạnh, Alex-Thái Võ, Lưu Mỹ Trinh và Kevin Li.
 
Ra đời năm 2019, Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ dành nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu và giáo dục trên ba lĩnh vực, bao gồm Việt Nam đương đại, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, và cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tại Đại học Oregon, Trung tâm là một phần của Viện Nghiên cứu Toàn cầu (Global Studies Institute) do Giáo sư Dennis Galvan đứng đầu. Viện Nghiên cứu Toàn cầu tổ chức và hỗ trợ 11 trung tâm, chương trình và sáng kiến nghiên cứu theo định hướng quốc tế của Đại học Oregon.
 
Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ được thành lập vào năm 2019 và hiện do Vũ Tường, Giáo sư và Trưởng khoa Chính trị học tại Đại học Oregon, làm giám đốc. Hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ nhắm vào công chúng và cộng đồng chuyên gia ở Hoa Kỳ, Việt Nam và các nơi khác thông qua các dự án nghiên cứu, việc thu thập và phổ biến tài liệu lịch sử, cũng như các hội thảo và hội nghị chuyên đề. Trung tâm phát hành Tạp chí song ngữ Việt-Mỹ, một tạp chí trực tuyến có các bài phân tích thường xuyên về các vấn đề thời sự, phỏng vấn các học giả và lãnh đạo cộng đồng, và phần công bố tài liệu lưu trữ và nghiên cứu. Vào tháng 10 năm 2019, Trung tâm đã tổ chức Hội thảo quốc tế tại Eugene, OR với tiêu đề “Nghiên cứu về Chính trị và Chủ thuyết Cộng Hòa ở Việt Nam: Vấn đề, Thách thức và Triển vọng”. Đường dẫn đến trang web của Trung tâm: https://usvietnam. uoregon.edu/
 
Trích dẫn từ các tác giả
 
“Can đảm, đối với tôi, bây giờ có nghĩa là tôi phải dám nói lên cho thế giới biết về sự bất công mà dân tộc Việt Nam phải chịu, cũng như về điều tốt đẹp vẫn còn tràn đầy trong mọi trái tim người Việt. Nên tôi sẽ tiếp tục can đảm mà làm công việc của một nhà báo bằng cách cất tiếng nói thay cho những tiếng nói đã và đang bị bóp nghẹt. Có phải đó chính là mục đích của ngành truyền thông không? Tôi hãnh diện là một phóng viên chiến trường của miền Nam Việt Nam.” Vũ Thanh Thuỷ, phóng viên chiến trường.
 
“Năm 2016 đánh dấu 120 năm điện ảnh thế giới được khai sinh, đồng thời cũng đánh dấu 120 năm ngày người Việt biết cái máy quay phim. Điều này cho thấy điện ảnh đến Việt Nam rất sớm, trước nhiều nước lân bang. Nhưng, cho tới nay, điện ảnh đã trở thành ngành công nghiệp tối tân, kể cả tại nhiều nước Á châu, riêng với Việt Nam, bộ môn nghệ thuật thứ bẩy này, sau cả thế kỷ, vẫn còn trong tình trạng “đang phát triển”. Sở dĩ có sự chậm trễ này chỉ là vì: điện ảnh trong một quốc gia, như mọi ngành nghề khác, luôn có chung số phận với đất nước và dân tộc của nó.” Kiều Chinh, diễn viên điện ảnh.
 
“Đi theo gia đình di cư vào Sài Gòn vào khoảng tháng 7 năm 1954, tôi hoàn toàn ngỡ ngàng trước nhà cửa và đường xá ở Sài Gòn. Phố xá dài rộng, nhà cửa san sát, người dân chơn chất và việc mưu sinh có vẻ dễ dàng. Nhiều tiện nghi mà tại Hà Nội lúc bấy giờ chưa có. Một sự việc khiến tôi đến nay vẫn chưa quên là việc xé đôi tờ giấy bạc để trả lại người mua vì không có tiền lẻ. Tôi nghĩ trên thế giới việc này chỉ có thể xuất hiện duy nhất tại miền nam VN vào thời điểm đó. Điều độc đáo này nói lên bản tính dung dị của người dân miền Nam.” Trung tá Bùi Quyền, Tư lệnh phó Lữ đoàn 3 Dù.
 
“Những chính sách nông nghiệp dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã biến chuyển vùng nông thôn và góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam trong những năm cuối của chiến tranh. Các chính sách này bao gồm cải cách điền địa, phát triển nông nghiệp, rỡ bỏ kiểm soát giá cả, và ổn định thị trường. Kết quả là miền Nam đã xoá bỏ tình trạng tá điền, giảm bất bình đẳng ở nông thôn bằng cách tạo ra một tầng lớp chủ đất nhỏ đông đảo, nhanh chóng mở rộng sản xuất theo hướng tự túc về thực phẩm, ổn định thị trường cung cấp và tiêu thụ thực phẩm. Đây là một cuộc cách mạng nông thôn thành công diễn ra giữa một cuộc chiến tranh tàn bạo, một cuộc cách mạng chưa được sử gia công nhận một cách đầy đủ. Thay vì đấu tranh giai cấp bằng bạo lực, cuộc cách mạng của chúng tôi được thực hiện dựa trên sự kết hợp giữa các quyền lợi về kinh tế và kỹ thuật canh tác mới để thu hút sự tham gia và đem lại lợi ích cho đa số nông dân miền Nam.” Giáo sư Cao Văn Thân, Tổng trưởng Cải cách Điền địa và Phát triển Nông nghiệp, đảm trách thực hiện Chương trình Người Cầy Có Ruộng.
 
“Tôi cũng chống lại các kế hoạch của Mỹ về kiểm soát giá cả và phân phối. Đôi khi, tôi không thể không cảm thấy rằng mình đã bị buộc tội (oan) là dung dưỡng tình trạng hoang phí và gian dối, và rằng định mệnh của những nước nhược tiểu là phải để cho các nước tài trợ đạo đức giả nhiếc móc vì tội hoang đàng.” Phạm Kim Ngọc, Tổng trưởng Kinh tế.
 
“Kissinger và phái đoàn của ông đã rất ngạc nhiên khi gặp tôi tại cuộc họp vì tên của tôi vẫn chưa xuất hiện trong số cố vấn của Tổng thống Thiệu họ đã biết. Ông ta trình bày những gì ông mô tả là một hiệp định toàn diện nhất nhằm chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình cho Việt Nam. Ông cũng tuyên bố rằng với thỏa thuận này Hà Nội chịu từ bỏ hoàn toàn những đòi hỏi họ đã bám vào trong nhiều năm. Không thể tin nổi, Kissinger thậm chí còn nói với chúng tôi rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam đã khóc sau khi đồng ý với các điều khoản của hiệp định!” Hoàng Đức Nhã, Bí thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
 
“Từ năm 1956 đến 1971, tổng cộng có 16 Bộ trưởng Giáo dục. Rất may là tất cả 16 Bộ trưởng đều chung lòng lo cho thế hệ tương lai nên người mới vẫn tiếp tục công trình người cũ còn làm dở dang. Tất cả Bộ trưởng giáo dục kẻ trước người sau thực hiện mọi cải tổ trong nền giáo dục đều theo kim chỉ nam của triết lý giáo dục là đặt trọng tâm chương trình học tập trên nền tảng: dân tộc, nhân bản, và khai phóng.”
 
[…]
 
“Khi vào Đại học Sư phạm, vốn Pháp văn sẵn có quả thực giúp tôi rất nhiều và tôi có cơ hội giúp các bạn. Giáo sư các môn chính là người Pháp và cả giáo sư Việt cũng dạy bằng Pháp ngữ vì họ tốt nghiệp ở Pháp mới về Việt Nam. Khổ nỗi là đa số các bạn cùng lớp lại theo chương trình Việt ở trung học nên họ gặp nhiều khó khăn khi nghe giảng bài bằng tiếng Pháp. Rồi đến lúc ra trường chúng tôi cùng khổ như nhau vì phải dạy Vạn vật bằng tiếng Việt.” Tiến sĩ Võ Kim Sơn, giáo sư trường Quốc gia Nghĩa tử, Đại học Sư phạm Sài Gòn, trường Thánh mẫu Gia định.
 
“Cả hai nền Cộng hoà phải dồn hầu hết nỗ lực cho các hoạt động quân sự, bắt đầu từ đối phó với chiến tranh du kích và sau đó là chiến tranh quy ước tổng lực, với hơn 1,5 triệu quân đội Quốc gia. Nếu không có viện trợ nước ngoài, đây là một gánh nặng không thể chịu được cho một quốc gia nghèo với 17 triệu dân. Tuy nhiên, chúng tôi đã đạt được một mức độ ổn định và tăng trưởng kinh tế trong những năm đầu của nền Cộng hòa nhờ vào sự trợ giúp đáng kể của Mỹ.”
 
[…]
 
“Nhìn lại, chúng tôi không có vốn để phung phí vào các dự án lớn. Chúng tôi không có nhân lực hoặc tổ chức để phát triển chuyên môn trong bất kỳ lĩnh vực cụ thể nào. Đôi khi chúng tôi cố gắng can thiệp vào thị trường với giả định sai lầm rằng chúng tôi có thể kiểm soát giá cả, ngăn chặn đầu cơ, và ngăn thực phẩm không đến tay kẻ thù. Nhưng thường thì chúng tôi cố gắng thuyết phục các nhà lãnh đạo của mình để cho thị trường vận hành dù nó có thể không hoàn hảo. Nhiệm vụ của chúng tôi chỉ đơn giản là thiết lập nền tảng pháp lý vững chắc, thúc đẩy các thể chế mạnh mẽ, thực hiện các chính sách hợp lý, và quản trị cho tốt.” Nguyễn Đức Cường, Tổng trưởng Bộ Thương mại và Kỹ nghệ.
 
“Từ năm 1966, khu đất trống sau trường Văn khoa, giữa bốn mặt đường lớn ngay trung tâm Sài Gòn, trở thành nơi sinh hoạt chung của các chương trình hoạt động thanh niên. Đây là nơi có những đêm đọc thơ ngoài trời. Khán giả là hàng trăm sinh viên học sinh, ngồi trên mặt đất, nghe đọc thơ kiểu mới. Từ sân trường Văn khoa Sài Gòn, các buổi đọc thơ được đưa vào các giảng đường đại học xa gần, rồi thành các chương trình văn học nghệ thuật được phát thanh và truyền hình. Từ đây, việc làm thơ, đọc thơ, nghe thơ bước sang khúc quanh mới.”
[…]
“Đó là một buổi trưa mùa xuân, ở một ngã ba trong khu cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, có cảnh công an khu vực huy động thanh thiếu niên đốt sách. Nơi đốt sách là con đường ngay xế cửa nhà anh Nguyễn Mạnh Côn. Đứng cùng chúng tôi trên bao lơn lầu một, nhìn xuống cảnh đốt sách, anh Côn cười cười bảo, “Rồi các cậu coi. Chữ nghĩa bọn nhà văn miền Nam, tiếng hát của nghệ sĩ miền Nam, các anh có đốt tới Tết Công Gô cũng chẳng ăn thua gì.”
[…]
“Nhìn kỹ hơn, đọc kỹ hơn, sẽ thấy chính những người cầm bút ở miền Nam năm 1975 còn ở tuổi mười tám đôi mươi, hiện đang trở thành những tác giả được yêu mến nhất, đọc nhiều nhất. Văn học nghệ thuật thời Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975 không chỉ là của riêng miền Nam. Đó là một hành trình chung, thành tựu chung của cả một dân tộc. Chính người dân Việt từ Nam ra Bắc cùng xác nhận điều này.”
Nhã Ca, nhà văn, tác giả “Giải khăn sô cho Huế.”
 
“Tôi hy vọng một khi tự do dân chủ được khôi phục ở Việt Nam, báo chí cũng như bất cứ ai sẽ có trách nhiệm quản lý và xây dựng lại quê mẹ của tôi sẽ học hỏi từ kinh nghiệm của Việt Nam Cộng Hòa và đặc biệt là mẫu mực của Mỹ, để xây dựng nên một nước Việt Nam xứng đáng góp mặt với thế giới văn minh của nhân loại.” Trùng Dương, nhà văn, chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần.
 
“Có thể nói là sau cuộc đảo chánh 1963 biểu tình xuống đường thường xuyên xẩy ra tại một số khá nhiều thị xã và thành phố lớn, nhất là tại thủ đô Sài Gòn. Những đòi hỏi nhiều khi chính đáng, nhiều khi rất mơ hồ. Cảnh sát lại phải tốn công sức đối đầu với những xáo trộn này. Đàn áp một cuộc biểu tình không phải là một công tác khó khăn. Khó khăn chính là làm sao để duy trì được trật tự mà nhân viên cảnh sát vẫn không vi phạm vào những nguyên tắc luật định để người dân không bị tước đi quyền tự do phát biểu của mình.”
[…]
“Việt Nam Cộng Hòa … vừa phải tìm sự ổn định lâu dài để xây dựng xã hội và phát triển kinh tế lại vừa phải đối đầu với những thách thức mà một cuộc chiến tranh nổi dậy mang đến. Trong cuộc chiến ấy, kẻ thù Việt Cộng lợi dụng mọi cơ hội để phá hoại và gây cản trở cho công cuộc ổn đinh và phát triển miền Nam. Việc duy trì an ninh và tôn trọng dân chủ trong một chế độ pháp trị quả không dễ thực hành. Nhưng đó lại là trách nhiệm hàng đầu đè nặng trên vai người cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa trong suốt 20 năm chiến tranh”. Đại tá Trần Minh Công, Chỉ huy trưởng Học viện Cảnh sát Quốc gia.
 
“Không chỉ là cuộc chiến tranh ủy nhiệm thời Chiến tranh Lạnh, xung đột giữa cộng sản và cộng hoà ở Việt Nam đã không thể hòa giải được từ lâu trước khi sự can thiệp của Mỹ bắt đầu, và nó còn tồn tại dai dẳng giữa người Việt trên quy mô toàn cầu cho đến tận ngày nay. Những người theo đuổi mục tiêu xây dựng quốc gia cộng hòa học hỏi từ truyền thống tư tưởng Việt nam và kịch liệt chống lại sự can thiệp của nước ngoài, nhất là từ Washington. Họ cần Mỹ giúp đỡ nhưng nỗ lực để bớt phụ thuộc vào Mỹ. Nguồn gốc ý thức hệ của cuộc nội chiến ở Việt Nam và vai trò quan trọng của người quốc gia miền Nam trong lịch sử không cho phép chúng ta coi nhẹ kinh nghiệm xây dựng quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.” Vũ Tường và Sean Fear, chủ biên
 
Tóm tắt tiểu sử Chủ biên
 
Vũ Tường là Giáo sư và Trưởng khoa Chính trị học tại Đại học Oregon và đã từng công tác tại Đại học Princeton và Đại học Quốc gia Singapore. Ông nhận bằng tiến sĩ Chính trị học tại Đại học California, Berkeley vào năm 2004. Tác phẩm nghiên cứu chính của ông bao gồm: Vietnam’s Communist Revolution: The Power and Limits of Ideology (2017) và Paths to Development in Asia: South Korea, Vietnam, China, and Indonesia (2010). Vũ Tường cũng là người biên tập nhiều công trình đã được xuất bản thành sách và nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành về chính trị ở Á châu và Việt Nam.
 
Sean Fear là giảng viên môn Lịch sử quốc tế tại Đại học Leeds, Anh quốc. Ông nhận bằng Tiến sĩ lịch sử tại Đại học Cornell vào năm 2016 và từng là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Đại học Dartmouth và Đại học McGill. Tác phẩm của Sean Fear đã được đăng trên Diplomatic History và the Journal of Vietnamese Studies. Ông hiện đang hoàn tất bản thảo một công trình nghiên cứu về các mối quan hệ chính trị trong nước và đối ngoại của miền Nam Việt Nam từ năm 1967 đến năm 1975.
 
@@@
 
Sách dày 334 trang, đã có bán trên BARNES & NOBLE
Ấn phí: US$20.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
Viet Nam Cong Hoa Kinh Nghiem Kien Quoc by Tuong Vu, Sean Fear, Paperback | Barnes & Noble® (barnesandnoble.com)
Search Keyword: Viet Nam Cong Hoa kinh nghiem kien quoc, vu tuong, sean fear

ĐIỆU BLUES JAZZ CUỐI NĂM

 Đinh Cường
 
Blues Jazz. Tranh Đinh Cường
 
Vẫn tiếng đại hồ cầm rất gần
đêm cuối năm, đường 18
thêm ly rượu nhỏ, quán Toulouse-Lautrec
nhớ bạn. Sáu năm, mất đi
những người bạn, có thêm những người bạn
và dòng sông Potomac vẫn êm trôi
có mùa nước lớn, có mùa hoa nở rực
tôi đang đi ven rừng cây khô tháng chạp
con đường vòng vắng người buổi trưa
như đã quen ghé qua tiệm sách cũ
vẫn những câu thơ của Prévert thời xa xưa
một thời mộng mị
"ngoài phố mùa đông
đôi môi em là đốm lửa hồng"*
Sơn, đêm ngoài biển khuya
đâu còn thấy con dã tràng nào
qui nhơn, qui nhơn và tôn nữ...
giọng nói rất chậm, còn âm vang biển nhớ
bây giờ chỉ còn là bọt nước sủi tăm
 
Chỉ còn một mình ta lang thang cuối năm
với điệu blues jazz rất trầm, rất buồn, rất nhớ.
 
ĐC
Virginia ,ngày tuyết đầu mùa 16.12.10
 
*Ru đời đi nhé, ca khúc Trịnh công Sơn 1973
 

Thursday, January 13, 2022

MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ ‘TỪ HUYỀN THOẠI TỚI TÂM KINH’ CỦA NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI

Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Giác. Sách Tâm Kinh

Nguyên Giác Phan Tấn Hải sinh năm 1952 tại Saigon, là một nhà báo, nhà văn quen biết trên văn đàn từ hơn 30 năm nay đang sống và làm việc tại Mỹ, nhưng đặc biệt Nguyên Giác viết nhiều về Phật học, bởi đã theo học tại chùa Tây Tạng Bình Dương trong suốt 3 năm với bổn sư là Hòa thượng Thích Tịch Chiếu (1912-2016). Nguyên Giác đã xuất bản trên 10 cuốn sách về Phật học như Chú giải về Thiền Đốn Ngộ (2001); Thiền tập (2005); Thiền tông qua bờ kia (2017) Kinh Nhật Tụng sơ thời, Kinh Pháp cú Tây Tạng… và mới nhất là cuốn Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh (Nxb Ananda Viet Foundatio, 2021).
Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh tổng hợp các bài viết về Thiền tập tâm đắc của Nguyên Giác, từ chương Bồ Đề Đạt Ma đến… Lắng nghe bờ bên kia, Hai phong cách Thiền Chánh Niệm, Chìa khóa vào Thiền… “có tính thực tiễn, thực dụng, giúp độc giả không chỉ nắm bắt căn bản về Phật pháp mà còn có thể thực hành ngay trong đời sống hằng ngày” (Tâm Diệu) với con đường hoàn toàn tự do, tự tại, không theo lối mòn  mà không sợ sai lệch yếu chỉ của Phật. Chùa Tây Tạng Bình dương do Hòa thượng Nhẫn Tế sáng lập vào năm 1928 với tên gọi ban đầu là Bửu Hương Tự, đến năm 1935, khi thiền sư vân du tu học ở Tây Tạng trở về thì được đổi tên thành Tây Tạng Tự tại tỉnh Bình Dương đến nay vẫn là một ngôi chùa danh tiếng về Thiền học ở nước ta.
Với tôi, một người học Phật “lõm bõm”, “thấp thoáng” thì những cuốn sách viết về Phật học của Nguyên Giác Phan Tấn Hải giúp tôi rất nhiều bởi cách nghiên cứu của ông là dựa trên kinh sách, trích dẫn từ Trường bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi bộ kinh v.v…, với những chọn lọc so sánh đối chiếu các nghiên cứu của các vị Thầy đáng tin cậy ở trong cũng như ngoài nước.
Không chỉ thế, đọc Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh ta biết thêm Nguyễn Du vốn là nhà sư Chí Hiên (Từ Nhà sư Chí Hiên tới Nhà thơ Nguyễn Du), rồi về Tuệ Trung Thượng Sỹ mà với “tâm không”, mỗi ngày đọc lại mỗi thấy cái mới (tr 119); rồi ta có thể mở rộng tầm nhìn với những bài dịch từ “Chìa khóa vào thiền” của Horada Roshi, “Hai phong cách Thiền Chánh niệm” của Bodhi, “Đại thủ ấn của Tipola”…  Cũng vậy, giữa mùa Covid không thể không học “Hộ trì sáu phương”, “Đối trị dịch bệnh”…
Bất ngờ là những bài thơ ở cuối sách “Thêm một ngày, học vô cùng” “Lắng Nghe Hơi Thở” “Hoa Bay khắp trời”…
Thật là một cuốn sách về Phật học thú vị, vừa khoa học, vừa văn chương với lối viết trong sáng, chú giải cẩn thận, tham khảo đầy đủ của một Cư sĩ vừa là nhà báo, nhà văn và một thiền giả…
Có những trường hợp cùng một câu kinh Pali mà các vị đại sư sử dụng những từ ngữ khác nhau thì Nguyên Giác đã trích dẫn, so sánh, đối chiếu và chú giải rất kỹ, đưa ra ý kiến riêng của mình để giúp làm sáng tỏ, như bản dịch một bài kệ của Bhante Vadaro, Thanissaro Bhikkhu, Khantipalo… Điều này rất quý cho người đọc, giúp mở rộng cách thấy và cách biết, khi ứng dụng vào thực hành, tự thể nghiệm theo nguyên tắc “… không nắm giữ một giáo thuyết nào…”. (tr 31) của tinh thần Thiền tông. Krishnamurti cũng từng nói: "Chân lý là mảnh đất không có đường vào"!
Ta hiểu được vì sao các Thiền sư trong khi dạy đạo, có lúc chẻ tượng Phật làm củi để sưởi ấm (tr 31) hay như Sư phụ Tịch Chiếu dạy đệ tử: “Không có pháp nào để tu hết” (Tu hành cái mốc gì!), nghĩa là phải buông bỏ tất cả, không bám chấp một pháp nào!
Tác giả luôn giữ một thái độ trung lập và khiêm tốn, bởi vì Phật pháp mênh mông, học lấy một nhúm lá trong tay Phật ở rừng Samsapa đã là không thể, còn nói gì đến cả một khu rừng mênh mông phía sau kia.
Nguyên Giác thường mở đầu các bài viết với sự cẩn trọng: “ Bài viết này sẽ khảo sát Vô Tướng Tam Muội, một pháp môn ít được chú ý hiện nay... Bài viết phần lớn sẽ dựa vào kinh luận vì bản thân người viết không có thẩm quyền nào”(tr 51).
“Bài này phân tích một số khái niệm nhà Phật về Niết Bàn, nhưng không đi sâu vào tranh luận bộ phái¸ chỉ để tìm các phương tiện khả dụng thích nghi cho Thiền tập. Người viết không có thẩm quyền nào; sai sót nếu có xin được sám hối cùng Tam Bảo” (tr 75).
Không đi sâu vào lý thuyết, không tranh luận bộ phái, tác giả chỉ muốn giúp người đọc những gì thực tiễn, thực hành trong Thiền tập, “con đường không có con đường” tự tu, tự chứng, giữa một thời đại tràn ngập thông tin trên không gian mạng.
Kinh Lăng Nghiêm viết: Thanh tịnh bổn nhiên/ Tùy chúng sanh tâm/ Chu biến pháp giới/ Tòng nghiệp phát hiện! Chiếc lá mùa thu rơi trên mặt hồ là nỗi ai hoài của chàng thi sĩ, nhưng là nỗi mừng vui của con kiến đang trôi lạc giữa dòng... Tôi có lần trích mấy câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ: Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh/ Ngoài hư không có dấu chim bay…? Ta có thể trả lời nhà thơ: Có chứ, chắc chắn ngoài hư không có dấu chim bay. Với kỹ thuật multimedia bây giờ, người ta có thể thu hình không khó. Có điều… dấu chim bay đó không để lại một vết gì trên mặt hồ tĩnh lặng. Cũng như bóng người đẹp đi qua gương, gương không buồn giữ một dấu vết! Còn hỏỉ kiến nơi nào cõi tịnh ư? Phải là kiến mới biết. Như con cá của Trang Tử: anh không phải là cá sao biết cá không vui?
Với tôi, chương Vô tướng tam muội (tr 51) có lẽ là một pháp… đáng nghiền ngẫm để thực hành nhất. Lục tổ Huệ Năng bảo pháp “đốn ngộ” của Ngài lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể và Vô trụ làm gốc. “Đốn” để ngộ thì có thể rất nhanh thôi nhưng Lục tổ cũng đã phải mất 15 năm để “Tiệm” tu mới thành tựu! 
Đúc Phật dạy giải thoát có nhiều cửa, không phải chỉ có một. Nhưng có một cửa… phổ biến phải nhớ trong Thiền tông là “không hề có một pháp nào để làm” bởi vì “không có một chỗ nào trong tâm để bấu víu” (tr 51).
Kinh Trường A Hàm nói có nhiều pháp… dẫn tới Niết Bàn (bản dịch của Tuệ Sỹ)
Thế nào là một pháp dẫn tới Niết bàn? Thường tinh cần tu niệm xứ về thân.
Thế nào là hai pháp dẫn tới Niết Bàn? Chỉ và Quán.
Thế nào là ba pháp dẫn tới Niết Bàn? Là Không, Vô tướng, Vô nguyện (Vô tác).
v.v…
Cứ tùy căn cơ mà chọn! Với tôi, một thầy thuốc, thì Thường tinh cần tu niệm xứ về thân là… tốt nhất. Không có thân (sắc) thì thọ, tưởng, hành, thức biết dính vào đâu để mà sinh sự cho sự sinh? “Vô thân hữu hà hoạn?” Lão Tử cũng nói vậy. Trong đồ hình Mạn Đà La thì… thân (sắc) nằm ở trung tâm, Đại Nhựt Như Lai (Vajrocana).
Con đường Thiền có lẽ là con đường… ngắn nhất, chỉ thẳng vào… “thân” đó thôi (Thường tinh cần tu niệm xứ về thân), từ đó mà thấy “Tâm bất sinh”.
Viết về Phật pháp, về Thiền tông, nhưng Nguyên Giác không viết một chiều, luôn đặt ra những câu hỏi của một… nhà báo. Thí dụ bài về Bồ Đề Đạt Ma, ông gọi là “một khuôn mặt ẩn nhiều huyền thoại”, và mời gọi độc giả đặt nghi vấn. Đó là một thái độ khoa học cần thiết, nhờ đó, tránh đi những màu sắc mê tín. Tổ thứ 27 có phải là một Ni sư? Lúc viên tịch Ni sư bay lên trời, hóa thành lửa thiêu rụi, mưa xá lợi rơi xuống cho đệ tử. Tổ 28 Bồ Đề Đạt Ma 9 năm diện bích là sao? Sống đến 150 tuổi. Lúc viên tịch thì trở về Ấn Độ, chỉ mang theo một chiếc dép…
Những huyền thoại đó thú vị quá chớ. Nhưng cốt lõi của câu chuyện này lại nằm ở chỗ cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa Lương Vũ Đế và Bồ Đề Đạt Ma:
Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?
Rỗng rang không thánh.
Đối diện với Trẫm là ai?
Không biết.
 
Chỉ chừng ấy là đủ! Không thánh không đế gì cả! Chỉ Rỗng Rang. Rỗng Rang là Không (sunyata, emptiness).
Còn trả lời “Không biết” là vì đã Vô ngã, Vô tướng còn biết sao được?
 
Hễ nhìn thấy nội xứ và ngoại xứ rỗng rang không tánh thì là giải thoát. Đức Phật dạy: “Hỡi Mogharaja, hãy luôn tỉnh thức và nhìn thế giới này như rỗng rang, với cái nhìn về tự ngã đã bứng gốc, người đó sẽ vượt qua sự chết. Thần Chết không thể thấy người đã nhìn thấy thế giới này như thế” (tr 19).
“Không biết” theo tôi là cái biết trước khi có “sự can thiệp” (chen vào) của ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, nghĩa là cái biết khi chưa bị méo mó. Tôi vẫn nghĩ Bát Nhã Prajna gồm Pra + Jna: Pra là trước. Jna là biết. Prajna (Bát Nhã) là một cái biết hồn nhiên, trong sáng, trước khi bị lệch lạc. Vì… “tri kiến lập tri tức vô minh bổn!”, khi đã có ‘Thành kiến” chen vào rồi thì không có cách chi thay đổi được nữa!  Vì thế mà pháp giới ta đang sống cứ luôn quần quật, loanh quanh, đấu đá, chém giết, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… không ngớt, tưởng là Trời “hành” mà thiệt ra do tư tưởng, do hành vi lối sống của con người.
Có cách nào để nhận ra tánh Không trong các pháp? Đức Phật dạy rằng, nhận ra Pháp Duyên Khởi chính là tương ưng với Không. Và hãy tùy thuận duyên khởi: Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi (tr 55).
Thiền là con đường tiếp cận gần gũi và trực tiếp nhất. Giác ngộ chỉ là một phát kiến đột khởi trong cõi tâm vô niệm, vô tâm, một thứ “đốn”. Nhưng ngộ rồi thì phải Tu, phải Chứng. Bởi có Chánh trí (Thánh trí) Bát Nhã rồi thì mới mong “thấy biết’ như thật, thấy cái đang là, biết cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe, nghĩa là đã “thấy Tánh”. Thành Phật hay chưa thì chưa biết nhưng đã thoát được cái “tự tánh” giả do biến kế sở chấpy tha khởi để đi đến viên thành thật, là cái thấy của Bát Nhã, từ đó mà có thể “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không”.
Thiền không phải là tréo chân, nín thở, bù đầu với công án mà thiền là toàn bộ Thân Khẩu Ý, là mọi hoạt động đi đứng nằm ngồi trong đời sống bình thường nhưng tâm  rỗng rang, vô niệm, như Phật hoàng Trần Nhân Tông bảo: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền…
Kinh EA (bản dịch Tuệ Sỹ, Đức Thắng):
Hết thảy các hành đều rỗng lặng, cái sanh và cái diệt đều như huyễn hóa, không chơn thật. Cho nên Tỳ kheo hãy ở trong hơi thở ra vào, tư duy về tưởng chết để thoát khỏi sanh già bệnh chết, buồn rầu, khổ não. (tr 57).
Lục tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh cũng dạy: Các cõi Phật đều đồng như hư không, diệu tánh con người vốn Không, chẳng có một pháp nào có thể đắc, tự tánh chơn không cũng như thế. Dứt niệm lự phân biệt. Tâm vắng lặng mà thường chiếu, chiếu mà thường lặng (tr 59).
***
Trí bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm.
(Kinh Lăng Già)
 
ĐỖ HỒNG NGỌC
Saigon 10 Jan, 2022 

HƯƠNG XA

 Hoàng Xuân Sơn
 
Từ vườn khuya bước về. Đinh Cường
 
Và rồi chạm tới hoang khơi
hoàng hôn vữa tím lạc trời xanh mê
ôi đôi mắt. ban mai, kề
những món tóc rủ hồn khuê lạnh vàng
tuổi đời lánh một cung ngang
mùa nao đàn giọt tình tang với lời
còn nghe âm thư gọi mời
nụ môi chiết một cành lơi lả thầm
phải hôm xưa trăng hồ cầm
nguyệt ghi một nét từ ân cho đời
huyền sơ chớm dạng hoa cười
trăm năm gần chút hương vời vợi xa.
 
H O À N G X U Â N S Ơ N
10. Janvier, 2022

 

Sunday, January 9, 2022

GIỚI THIỆU TỦ SÁCH TRẺ. NƠI MỘT RỪNG NHAN NHƯ NGỌC

Phan Tấn Hải

Tôi mê đọc sách từ thơ ấu. Cũng như rất nhiều người sinh trưởng trong thời kỳ chưa có các phương tiện truyền thông như máy truyền hình và Internet của một nước Việt thời trước 1975, đọc sách là niềm vui, là một cách để học người xưa, là để tắm gội trong trí tuệ của nhiều ngàn năm văn hóa nhân loại.
Thời đó, có những lời thầy dạy như, “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc, Thư trung tự hữu hoàng kim ốc.” Trong sách có thiếu nữ khuôn mặt đẹp như ngọc, tự trong sách cũng có ngôi nhà bằng vàng. Đó chỉ là một kiểu nói tượng trưng thôi. Bời vì thời đó, mở sách ra đọc là để theo dõi Trương Vô Kỵ với Kiều Phong, chẳng hơi đâu mà bận tâm với các cô Chu Chỉ Nhược và A Châu. Thế thì, nói gì tới nhà vàng. Mà, hình như, các ông chủ nhà khổng lồ chẳng mấy người quan tâm về sách vở. Ra hải ngoại, dĩ nhiên là có bận tâm khác. Thêm nữa, thời gian, mỗi tuổi, là mỗi làn sóng đời cuốn đi theo bận tâm mới. Chữ nghĩa nếu còn được quý trọng, hẳn là trong nước; còn ngoài này thì, có lẽ, thứ yếu thôi.
Tuy nhiên, nếu bây giờ, có ai hỏi về một trang web mà người mê đọc sách cần quan tâm, tôi sẽ giới thiệu trang Tủ Sách Trẻ --- https://tusachtre.com/  . Nơi đây, nơi trang web chỉ mới hình thành từ, có lẽ, mới vài tuần qua, tôi đã nhìn thấy nhiều tác phẩm tôi đã từng đọc và say mê học trong đó. Và cũng gặp nhiều tác phẩm tôi chưa có cơ duyên đọc, nhưng tôi tin là sẽ học được rất nhiều. Hoặc là học về tư tưởng Phật học, như các tác phẩm của Thầy Tuệ Sỹ. Hoặc là học về bút pháp chữ Việt, như khi tôi đọc truyện của Trần Vũ, Phạm Thị Hoài, Nhã Ca và nhiều người khác. Hoặc là tôi đọc để nhớ lại một số chi tiết lịch sử trong sách Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy. Và nhiều nữa. Có rất nhiều điều cho tôi để học, để nhớ, và để sống với niềm vui của đọc.

Một số tác phẩm trên Tủ Sách Trẻ

Từ thời còn là sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn các năm đầu thập niên 1970s, tôi đọc nghiền ngẫm một số tác phẩm và sách dịch của Thầy Tuệ Sỹ, rồi nhiều lúc tự thấy mình trở thành một đứa trẻ ngồi sân chùa, như dường đang nghe cả ngàn vị Thiền sư rủ nhau về kể chuyện. Làm sao thằng nhóc như tôi có thể nghe và thấu đáo vô lượng lời dạy khó hiểu như thế. Và có lúc tôi mơ, trong một giấc ngủ sâu lắng, bình lặng và hạnh phúc, một vị sư già hiện ra, tay cầm bông hoa đưa lên cao, y hệt như chuyện “niêm hoa vi tiếu” trong cổ thư. Những lúc đó, sách trở nên cái gì rất mực thiêng liêng.
Có những buồi chiều ngồi trên căn gác gỗ, mở ra nghe một làn sóng phát thanh, nghe lời nhà thơ Nguyễn Đình Toàn giới thiệu nhạc. Tôi say mê với văn phong đó, với giọng nói đó, và không bao giờ dám nghĩ rằng, nhiều thập niên sau, bản thân mình sẽ được trực tiếp gặp họ Nguyễn, dể rồi đọc thơ, nghe nhạc Nguyễn Đình Toàn. Sách… có uy lực như thế. Những buổi chiều nhìn nắng quê nhà đã trở lai trong ký ức của tôi, khi từ một nơi rất xa quê nhà và có cơ duyên mở ra đọc từng trang sách Nguyễn Đình Toàn.
Nơi trang Tủ Sách Trẻ cũng có những lời giới thiệu, những lời bình luận hay những bài phân tích về một số tác phẩm. Sự đa dạng đó có thể giúp cho nhiều bạn trẻ hiểu thêm về tác phẩm và tác giả. Tôi có cơ duyên vào nghề báo ở Quận Cam, nơi được gặp gỡ nhiều nhà văn lớn, với tôi, họ là những ngọn núi, không chỉ về cách viết mà cả về cách sống. Thí dụ, các bậc trưởng thượng như Nghiêm Xuân Hồng, Phạm Công Thiện, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Đỗ Quý Toàn… Mỗi người là một lâu đài văn học độc đáo, nơi tôi nhìn tới, đọc tới và nghiệm ra một số điều để học, để ghi nhớ và để trân trọng sâu thẳm hơn với cuộc đời này. Mỗi một tác giả là một thế giới rất riêng; khi mở ra một cuốn sách của một nhà văn tiền bối, tôi vẫn kinh ngạc về những thế giới họ ghi lại trong sách – rằng tâm như họa sư, sao lại có những thế giới tâm đẹp huyền ảo như thế.  

Mỗi một tác giả là một thế giới rất riêng. Từ trái, hàng đầu: Trương Vũ, 
Phan Nhiên Hạo, Nhã Ca, Cao Xuân Huy, Vũ Khắc Khoan. 
Từ trái, hàng 2: Cung Tích Biền, Đặng Mai Lan, Đặng Thơ Thơ, Đỗ Hoàng Diệu, Đinh Linh. 
Từ trái, hàng 3: Ngô Nguyên Dũng, Ngu Yên, Line Papin, Lê Chiều Giang, Thận Nhiên. 
Từ trái, hàng 4: François Joyaux, Hoàng Ngọc Biên, Phan Nhật Nam, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Mộng Giác.

Nơi trang Tủ Sách Trẻ, bạn cũng có thể giúp cho con em tìm hiểu về sử hay văn hóa Việt. Các em không đọc được tiếng Việt? Bạn hãy ngồi bên cạnh thế hệ trẻ đó, vào xem các tác phẩm viết bằng tiếng Anh hay Pháp. Sách tiếng Anh và Pháp hiển nhiên không nhiều như sách tiếng Việt trên trang web này, nhưng cũng có thể là một cánh cửa giúp thế hệ trẻ nhìn vào một góc văn học quê nhà. Thí dụ, các bản tiếng Anh sách của Nhã Ca, Cao Xuân Huy, Trần Vũ, Phan Nhiên Hạo, Đinh Linh, và nhiều nữa.
 

Vài sách ngoại ngữ. Hàng đầu, từ trái: In March, My Gun Broke (Author: Cao Xuân Huy); 
Peace and Prisoners of War: A South Vietnamese Memoir of the Vietnam War (Author: Phan Nhật Nam); Mourning Headband for Hue (Author: Nhã Ca); The Ironies of Freedom: Sex, Culture, and Neoliberal 
Governance in Vietnam (Author: Nguyễn Hương); Love Like Hate: A Novel (Author: Linh Dinh). 
Hàng cuối, tứ trái: La Messagère De Cristal (Thiên Sứ) (Author: Phạm Thị Hoài); Sous une pluie d’épines (Author: Trần Vũ); General Lewis Walt: Operational Art in Vietnam, 1965-1967 (Author: General Lewis Walt); Night, Fish & Charlie Parker (Author: Phan Nhiên Hạo); Đại Úy (Author: James E. Behnke).

Tôi không nghĩ rằng bản thân mình có thể đọc nhiều nữa. Vì đọc chậm rồi, phần vì sức khỏe và mắt không còn nhanh nhẹn như nhiều năm trước, phần vì phải lo một số việc khác, kể cả viết và dịch. Tuy nhiên, cơ hội được giới thiệu trang Tủ Sách Trẻ cũng là một duyên lành, để từ một nơi rất xa quê nhà, giúp độc giả tìm một nơi có thể lắng nghe hồn chữ Việt, qua những tác phẩm được giới thiệu rất trân trọng..
Trang Tủ Sách Trẻ đã tự giới thiệu, “Là nơi sách tiếng Việt được tập hợp từ mọi nguồn để độc giả thuận tiện tìm thấy hoặc mua qua đường link, và có thể trao đổi với tác giả. Chúng tôi cũng sẽ giới thiệu sách ngoại quốc có liên quan đến Việt-Nam. Mục đích của chúng tôi là giúp độc giả tìm lại sách cũ còn đang bán và khám phá sách mới, với phần điểm sách hoặc phê bình tác phẩm. TỦ SÁCH TRẺ sẽ được cập nhật thường xuyên. Muốn giới thiệu tác phẩm của mình, xin vui lòng
liên lạc: tusachtre@trenews.net
CC: bientap@trenews.net .”
.
Hãy nhìn bốn bức vách kìa, nơi các tủ sách nhà bạn đang nghiêm trang vây quanh. Không gian với cả ngàn cuốn sách đó, từ các tác giả đã từng một đời miệt mài nơi thư viện như cụ Vũ Khắc Khoan, cho tới các nhà văn từng một thời lặn lội núi rừng như Phan Nhật Nam, cho tới các nhà thơ thế hệ trưởng thành ở hải ngoại như Linh Dinh, và nhiều nữa. Không ai mong đợi rằng chúng ta sẽ ngưng đọc. Cả ngàn tác giả đó đang chờ được hồi sinh khi chúng ta mở ra và đọc từng trang sách. Nhiều ngàn tác phẩm đó, chính là nhiều ngàn khuôn mặt văn học với nhan sắc đẹp như ngọc, đã muốn nói chuyện với chúng ta -- nơi hải ngoại, nơi quốc nội, trên kệ sách, nơi thư viện, và trên trang Tủ Sách Trẻ. Nơi đó, từng trang đều là lời vui mừng hồi sinh của văn học.
PTH 

Friday, January 7, 2022

CHẲNG BAO GIỜ QUÊN

Trần Thị Nguyệt Mai
 
Cổ lai chinh chiến… Nguồn:Internet
 
Kính tặng những người thương
của những cánh dù Tiểu Đoàn 7 đã không trở về điểm hẹn.
 
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!
(Lương Châu từ - Vương Hàn)
 
 
Người đi ngày ấy, người đi mãi
Còn để trong lòng những tiếc thương
Đã bao năm nhưng khi nhìn lại
Chỉ thấy lòng đau nỗi đoạn trường
 
Damber trận đánh vào quân sử
Mà cánh dù rơi chẳng trở về
Xót xa tấm lòng người cô phụ
Vấn vương hoài người chốn sơn khê
 
Có khi nghe tiếng chuông ngoài cửa
Cứ ngỡ là anh, anh đấy thôi...
Hay khi có dịp tù binh trả
Hy vọng rồi ta sẽ thấy người...
 
Có khi chợt gặp bên đường phố
Một bóng dáng nào đứng lẻ loi
Màu áo hoa dù sao quen quá
Khi đến gần... nước mắt lại rơi!
 
Ngày trôi tháng hết năm mới đến
Thoáng chốc thời gian qua vút nhanh
Càng nhớ, càng thương người lính chiến
Suốt cuộc đời em chẳng quên anh...
 
Trần Thị Nguyệt Mai
04.12.2021