Sunday, July 12, 2026

GIỚI THIỆU BÀI THƠ CỦA NỮ SĨ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Ngu Yên
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Đinh Cường vẽ
 
            (Trích trong tập thơ “duyên. lê chiều giang. nguyễn thị khánh minh. 2025. Văn học Press.)
 
“NÓI NHỎ” là một bài thơ tình, nhưng nó không được xây dựng như một lời tỏ tình hay một lời ca ngợi người yêu. Nó được dựng như một lời khẩn cầu lặp đi lặp lại, gần với một lời kinh hơn là một bài tình ca. Mỗi khổ thơ gồm ba câu theo cùng một khuôn: có lời xin, rồi ba chữ “vì em sợ,” rồi sợ điều gì?. Suốt chín khổ, cái khuôn ấy không đổi, chỉ có nỗi sợ, mỗi lần sợ khác nhau.
Bài thơ này có sức thu hút như  một lời cầu nguyện chống lại bóng tối, trong đó người yêu được mời tới để giữ lấy ánh sáng; điều sâu nhất của bài thơ là ở dòng cuối, khi nó phát hiện ra rằng cái đêm cầu nguyện để chống lại, hóa ra, nằm ngay trong chính người cầu nguyện.
Bạn đọc thử bài thơ này, ít nhất ba lần, trước khi đọc tiếp lời giới thiệu của tôi.
 
Nói Nhỏ
 
Hãy ngồi gần cho em nói nhỏ
Vì em sợ
Tiếng ồn ào sẽ làm nên khoảng cách
 
Hãy ngồi sát hơn cho em nghe nhịp sống
Vì em sợ
Khoảnh cách xa dần của hơi thở
 
Hãy giữ em đừng để em trôi đi
Vì em sợ
Mùa chạm vào khắc nghiệt của thời gian
 
Hãy đọc cho em lời thơ cuộn chảy dòng sông
Vì em sợ
Cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc
 
Hãy nhìn em cho em thấy ánh nắng
Vì em sợ
Bóng tối sẽ nuốt chửng những giấc mơ
 
Hãy mở cho em giấc mơ bình an
Vì em sợ
Cơn bão của mộng dữ sẽ làm đau lời tình tự
 
Hãy bay cùng em vào mầu xanh bầu trời
Vì em sợ
Bóng cột em vào u hoài nỗi đợi
 
Hãy nắm bàn tay cho em nghe hơi ấm
Vì em sợ
Nỗi hoang vắng của tấm lòng không ánh lửa
 
Hãy giữ ánh sáng
Soi gần lại bóng chúng ta
Vì em sợ
Đêm trong em
 
     Bạn gọi đây là thể thơ ba hàng, và đúng là mỗi khổ xoay quanh một bộ ba: lời xin, câu vì em sợ, và nỗi sợ. Nhưng cần nói cho chính xác về cái thể này. Đây không phải một thể ba dòng có niêm luật như haiku hay như tercet có vần; nó là một bộ ba tu từ, một khuôn cú pháp và cảm xúc lặp lại. Cái giữ nó lại với nhau không phải vần hay nhịp, mà là cái hình dáng được lặp. Sợ là dòng chảy chở ngôn ngữ, tứ và hình. Nhưng xem chừng ý nghĩa mặt bên dưới.
Cái hình thức ba câu làm một việc tinh xảo: nó hàn dính tình yêu vào nỗi sợ, như một tam đoạn luận, mỗi tiền đề đều có kết đề: vì em sợ, để mở ra những nỗi sợ có khả năng đồng cảm một cách thẩm mỹ.
 
Tâm lý: tình yêu mọc lên từ nỗi sợ
Đây là chỗ đáng chú ý nhất về mặt tâm lý. Cả bài thơ chạy bằng nỗi sợ. Chín lần vì em sợ là chín lần một ham muốn được định nghĩa bằng cái nỗi sợ mà nó đáp lại. Người nói không xin một điều gì như một mong muốn; nàng xin nó như một sự phòng vệ trước một nỗi kinh dị của tình và đời.
Đây là một tâm lý của sự bất an trong gắn bó. Cái nhu cầu được gần, được giữ, được nắm tay, được nhìn, tất cả đều mọc lên từ nỗi khiếp cái xa, cái mất, cái lạnh. Tình yêu, ở đây, không phải một niềm vui mà là một mái che dựng lên chống lại cái sợ. Người nói tự phơi cái yếu đuối của mình ra không che giấu, đó vừa là sức mạnh vừa là chỗ yếu của bài thơ, như ta sẽ bàn tới.
 
Hành trình của nỗi sợ: từ ngoài vào trong
Nếu chỉ có chín nỗi sợ rời rạc thì bài thơ đã thành một bản kê khai. Cái cứu nó là cái thứ tự của những nỗi sợ, một hành trình đi từ ngoài vào trong.
Những khổ đầu, nỗi sợ còn ở ngoài và ở giữa hai người: tiếng ồn làm nên khoảng cách, hơi thở xa dần. Rồi nỗi sợ chuyển sang thời gian và sự tàn phai: mùa chạm vào sự khắc nghiệt của thời gian, và một hình ảnh đẹp, cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc. Rồi nó chuyển vào giấc mơ và cõi tâm: bóng tối nuốt chửng những giấc mơ, cơn bão của mộng dữ. Rồi vào sâu hơn nữa, vào cái cô quạnh bên trong: tấm lòng không ánh lửa. Và cuối cùng, dồn lại thành hai chữ, đêm trong em.
Cái chuyển động ấy là hướng tâm, từ ngoài vào trong, từ nỗi sợ mất người khác tới nỗi sợ cái bóng tối trong chính mình. Và dòng cuối hé lộ rằng tất cả những nỗi sợ bên ngoài kia, rốt cuộc, chỉ là những hình chiếu của một cái đêm nội tâm. Đây là cấu trúc sâu nhất của bài thơ. Cấu trúc là điểm mạnh của Nói Nhỏ, là một trong ưu điểm mà Cấu trúc luận hướng tới.
 
Vị trí người nữ: yếu trong lòng, chủ trong lời
Nhìn bề mặt, người nữ ở đây đứng đúng cái vị trí truyền thống của phái nữ trong tình yêu: nàng xin, nàng sợ, nàng cần, nàng nhờ người kia ngồi gần, giữ lấy, đọc thơ cho nghe, nắm tay, giữ ánh sáng. Nàng là kẻ cần được che chở, được sưởi, được cứu khỏi bóng tối. Đọc thế thì đây là người nữ thụ động, lệ thuộc, chờ người đàn ông mang lại an toàn và ánh sáng. Một người thuần túy Việt nữ.
Nhưng có một dòng ngầm chảy ngược lại, và nó làm cái đọc trên phức tạp hơn. Hãy để ý cái kinh tế của bài thơ. Người nữ là kẻ duy nhất cất tiếng. Toàn bộ bài thơ là những mệnh lệnh thức của nàng, hãy thế này, hãy thế kia. Người đàn ông không hề nói một lời, không hề hiện ra, chỉ tồn tại như cái đích nhận lấy những lời xin của nàng. Nghĩa là trong cái thế giới của bài thơ, người nữ nắm trọn cái quyền của tiếng nói; nàng là chủ ngữ, là kẻ điều khiển, là kẻ định ra tình yêu phải làm những gì. Người đàn ông là một chức năng của nhu cầu nàng, một kẻ được gọi tới để giữ ánh sáng. Nàng lệ thuộc trong nội dung, nhưng làm chủ trong hình thức; nàng yếu trong lòng, nhưng chủ trong lời.
Cái tựa nói nhỏ càng làm rõ điều ấy. Tiếng nàng là tiếng thì thầm, nhỏ, gần như bí mật. Nhưng nó vẫn là tiếng nói, và nàng đòi được nghe, đòi người kia ngồi gần lại đủ để nghe được cái tiếng nhỏ nhất của mình. Cái nhỏ ở đây không phải sự im lặng; nó là một đòi hỏi, đòi cả thế giới lặng xuống và xích lại để cái giọng khẽ của nàng được ghi nhận. Có một quyền lực trong cái sự nhất quyết được nghe ở mức một lời thì thầm. Đây là cách người nữ Việt sử dụng để “điều khiển” đàn ông. Nhỏ nhẹ, thì thầm xin, cầu mà U Vương phải trả ngàn vàng cho nụ cười của Bao Tự.
Và dòng cuối đẩy điều này tới tạn cùng. “Đêm trong em.” Cái gì? Người đàn ông, với tất cả những lời xin gửi tới anh ta, rốt cuộc lại đứng ngoài cái cảnh thật, vì cái cảnh thật là cái đêm nội tâm của nàng. Bài thơ, nói cho cùng, không phải về anh ta; nó về cái đêm của nàng, với anh ta chỉ là cái ánh sáng mà nàng triệu tới. Nội tâm của người nữ mới là cái xứ sở thật của bài thơ. Đêm là gì trong nàng?
 
Bài thơ như một lời kinh
Chỗ bài thơ làm nên điều hay nhất: Một lời kinh cầu xin được chở che khỏi cái đêm; nhưng tới dòng cuối, lời kinh ấy phát hiện ra rằng cái đêm nằm bên trong chính kẻ đang cầu. Đêm trong em là chỗ mà không một đấng nào, không một người yêu nào, chạm tới trọn vẹn được. Một lời nguyện chống lại bóng tối, hóa ra, kết thúc bằng việc thú nhận bóng tối ở ngay trong người nguyện. Đó là một đảo nghịch nhạy sâu, và nó nâng bài thơ lên khỏi một bài thơ bình thường, thường xuyên kể lể trên mạng.
 
Điểm cần quan tâm
   Thứ nhất là cái kiến trúc có chủ đích: những nỗi sợ không bày bừa mà đi theo một hành trình từ ngoài vào trong, dồn về đêm trong em, khiến cái điệp khúc có một đích đến và một vòng cung tâm lý, chứ không chỉ là sự lặp. Vì em sợ trở thành bảng dẫn đường đi vào một nơi, bất ngờ, tối.
    Thứ hai là cái nước đi hình thức ở cuối. Khổ chót bẻ gãy cái khuôn ba phần, tách lời xin làm hai dòng rồi đáp xuống hai chữ đêm trong em. Cái khuôn được dựng đều suốt tám khổ chính là để cho sự bẻ gãy ở khổ cuối rơi xuống cho trúng. Cho bất ngờ. Hình thức nứt ra đúng chỗ tâm tình nứt ra. Đây là chỗ có sức sáng tạo.
     Thứ ba là sự thành thật của cảm xúc. Bài thơ phơi cái yếu đuối không che, hàn tình vào sợ, và có gan kết thúc bằng cái đêm nội tâm thay vì bằng một lời trấn an dễ dãi.
    Thứ tư là vài hình ảnh tươi thật sự: cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc là một hình ảnh thực vật lạ và đẹp về sự già đi; tấm lòng không ánh lửa biến trái tim thành một lò sưởi đã nguội; và đêm trong em, giản dị nhất mà mạnh nhất, thu cả cái tối bên ngoài vào trong.
 
Và sự quan tâm cũng nên nhìn mặt bên kia của ưu điểm.
    Thứ nhất, bài thơ dựa nhiều vào cặp đối lập sáng tối, ấm lạnh, gần xa, vốn là những cặp cổ mẫu, và đôi chỗ trượt vào cái quen tay. Bóng tối nuốt chửng những giấc mơ, cơn bão của mộng dữ, là những hình ảnh đã khá mòn. Bảng màu biểu tượng có chỗ đoán trước được. Nhìn theo hình tượng của Eliot, không có nhiều hình mới, hình sắc và hình động não.
     Thứ hai, cái thể ba câu ở đây là thể tu từ chứ không phải thể có nhạc tính. Nó dựa hết vào điệp ngữ và hình ảnh, gần như không có vần, không có một nhịp đều, nên nó nghèo về phần âm thanh; nó sống hay chết là nhờ hình ảnh và nhờ cái vòng cung cảm xúc, chứ không nhờ tai. Với một bài thơ thì đó là một sự đánh đổi, được cái thân mật mà mất cái du dương. Âm thanh của ngôn ngữ, không nhất thiết là vần điệu, khi đọc lớn tiếng, sẽ gặp những chỗ vấp. Theo cái nhìn chủa chủ nghĩa Ấn tượng, âmn thanh là ý nghĩa hoặc làm cho ý nghĩ đi vào lòng người, trơn.
 
Kết
Gói lại, Nói Nhỏ là một bài thơ có sự toàn vẹn về cảm xúc, mà nước đi hay nhất là cái lật vào trong ở câu cuối. Sức mạnh  là sự thành thật của cái yếu đuối và cái cấu trúc lời kinh đáp xuống đúng ba chữ “đêm trong em.”
Một bài thơ mở ra bằng lời xin được ngồi gần để nói nhỏ, và khép lại bằng việc hé cho thấy cái mà nàng sợ nhất không phải tiếng ồn, không phải thời gian, không phải cái bóng bên ngoài, mà là cái đêm nàng mang trong mình. Đó là một chỗ kết thành thật, cho cả bài thơ một sức nặng mà bình an không có ở đó.
NGU YÊN

  

Saturday, July 11, 2026

16 BÀI THƠ HAIKU GỞI MƯA GIÓ MANG ĐI

Nguyễn Đức Nhân

Tranh thơ Haiku
 
                         * Thân tặng Nguyễn Minh Nữu,"nhớ nhau nha"
 
1.
Con bướm nào nhịp cánh trong sương
trước sân chậu hoa nhỏ
vội vã đưa hương
 
2.
Chim đã bay rồi
vẫn còn nghe tiếng hót
trong sâu thẳm hồn tôi
 
3.
Kìa con sâu, con sâu, mọi người chỉ chỏ
dưới ánh nắng ban mai, rập rờn con bướm nhỏ
trăm mắt nhìn theo
 
4.
Con nào khỏe đẹp đã cho qua nhà người
chỉ còn con mèo xấu xí buồn giỡn với cái đuôi
nơi xó nhà im vắng
 
5.
Vườn cây mưa che phủ
gió dìu cây khiêu vũ
mỗi lần sấm chớp đẹp không ngờ
 
6.
Dừng lại bên đường
nhìn cánh hoa trắng nhỏ
lóng lánh mặt trời, đại dương
 
7.
Ai thở than trên gió
vườn tôi dưới gió
những đóa hoa nhỏ buồn lây
 
8.
Bạn đi rồi
trên chiếc ghế ấy
ánh trăng khuya đến ngồi
 
9.
Nửa đêm đổ mưa
vội vàng khép cửa
thương ai dặm trường
 
10.
Chịu đựng quen rồi
em có còn buồn tủi
hãy nghiêng rót vào tôi
 
11.
Nhìn trăng ngủ trên cành tre
hương dạ lan thơm ngát
bệnh cảm sốt giảm dần
 
12.
Nắng dựng đứng hàng cau
Vườn trưa chim cu gáy
vang vọng vào mai sau
 
13.
Trưa im vắng
tàu cau rơi
con chó nhỏ giật mình ngơ ngác sủa
 
14.
Xỏ chỉ, mắt lim dim
cả tâm hồn bà cụ
chui vào trôn kim
 
15.
giếng gạch bỏ hoang
đêm khuya, sâu thẳm bóng trăng vàng
ấy, tâm hồn tôi
 
16.
Khuya tĩnh lặng
trên chiếu thiền
ánh trăng đang nhập định
 
NĐN 2026

 

  

THƠ PHAN TẤN HẢI

Tuổi nhỏ và trái bóng
 
Đá banh với bức tường
 
Đá banh từ ngày tuổi nhỏ
chơi với mấy bạn sân ga
mỗi lần xe lửa còi hụ
là tan trận để về nhà
 
cùng bạn dợt banh góc phố
tiếng la, tiếng hú, tiếng cười
vang dậy tháng năm rất nhớ
kỷ niệm theo khắp chân trời
 
rồi tới một thời lặng lẽ
ôm banh về góc phô xưa
còn mấy bức tường là bạn
dội banh qua lại ban trưa
 
bức tường không cần ghi điểm
thắng, thua là chuyện nắng mưa
bức tường không gôn, không lưới
chỉ là banh tới thì đưa
 
bức tường từ bi loang lổ
dội banh đưa lại chân người
âm vang không còn để nhớ
mặc cho theo gió mà trôi
 
thấy mình và banh là một
thấy tường banh dội không hai
không còi để ra khai cuộc
năm uẩn đã chạy sân ngoài
 
đêm về thắp đèn đọc sách
bốn mùa trên giấy trôi qua
banh theo chữ gầy như hạc
chép xuống lời ánh trăng tà
 
tôi ngồi, tôi nghe, tôi thấy
banh vẫn hiện ra khắp trời
bức tường là tâm bất động
là tâm vô tướng không lời
 
mắt tai mũi lưỡi thân ý
hện ra như huyễn như sương
banh tới bức tường như thị
không người, không banh, không tường
 
 
Banh lăn qua tuổi học trò
 
Banh lăn qua cỏ sân trường
làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo
đá cho chiều vướng trăng treo
đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem
Pele tới ngó ngoài hiên
hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.
   
Banh vây bốn phía vô chừng
ôm banh đi khắp phố phường so chân
chỗ nào hễ trống là sân
đá cho nắng hạ, mưa xuân lụi tàn
Messi cũng thấy kinh hoàng
nửa khuya co cẳng đá vàng tuổi thơ
 
Banh đi qua tuổi học trò
lăn theo đồi núi sông hồ biển xa
sút một cú, trời mưa hoa
cúng dường vô lượng ta bà sắc không.
nửa khuya thức ngó mười phương
thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng
 
PTH

 

 

 

  


Thursday, July 9, 2026

TRANH TRƯƠNG VŨ


 


BÓNG MA TRONG VƯỜN CŨ
Chất liệu hỗn hợp trên bố
tranh Trương Vũ
(phác họa 2014 tại VN, hoàn tất 2026 tại HK)

 












BÒNG MA TRONG VƯỜN CŨ

Chất liệu hỗn hợp trên bố
tranh Trương Vũ
(phác họa 2014 tại VN, hoàn tất 2026 tại HK)

 

Friday, July 3, 2026

BÓNG TRÒN: KHI CHẠY THEO BANH LÀ HẠNH PHÚC

Phan Tấn Hải

Messi. trận Argentina vs Austria World Cup 2026
(Hình YouTube)
 
   Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.
Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Tôi học chơi bóng tròn từ thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp. Tôi nghĩ rằng đó là cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như tôi từ trường Trần Lục ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào cuối tuần, theo vị thầy thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những buổi tập đó, thường là từ 7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm, cha tôi đánh thức tôi lúc 4 giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi tên gì) ngồi một chặp, để ba uống ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi ăn xong một cái bánh bao, rồi mới chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là cách Sở  Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay 7 đoạn đường. Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự tới trường. Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.
Có khi bọn học trò rủ nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng, tôi làm thơ lục bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ). Trong đó, có mấy dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh lại, như sau.
Banh lăn qua cỏ sân trường
Làm cho thằng nhóc mê hồn chạy theo
Đá cho chiều vướng trăng treo
Đá cho nắng sớm cũng trèo vô xem
Pele tới ngó ngoài hiên
Hú trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.
Tôi nhớ những buổi sáng ở sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp khác nhau chia ra các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi mát ngấm vào người, chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ, nhiều tháng sau, tôi nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết có tập cỡ nào cũng luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng rồi. Kỹ thuật đưa chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng là hỏng. Tuy nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và nhìn thấy banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh là đủ để hạnh phúc.
    Tuy nhiên, thời gian chơi bóng tròn nơi sân cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú trọng điểm học nhiều hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh bàn. Thường là nơi một tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn bóng đá. Kiểu chơi cũng đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng sân bóng tròn thu nhỏ, có thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng 8 thanh sắt xuyên qua hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này có gắn cố định các quân người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở hai đầu bàn có hai lỗ khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả bóng nhỏ, cứng, có kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong) một chút, thường làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn học thường lui tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là tới chơi chừng nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học thêm, biết chơi môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3 banh, về sau thấy có loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển trường sang Chu Văn An thì tự nhiên tôi mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.
Có nhiều lý do. Trong đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra sân cỏ hơn. Tôi mê truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có một máy phát thanh (chữ Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng tôi không dám đụng tới, vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các đài BBC, VOA. Và hình như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ Miền Bắc tới. Tôi đoán là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế, ba tôi áp tai sát vào chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm và buồn. Tôi nghĩ rằng cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng bao giờ tôi dám hỏi cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với bọn học trò như tôi thời đó.
    Có những buổi trưa, buổi chiều vui tưng bừng, là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc và nghe trực tiếp truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn biến, chỉ nhớ trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn vô, vô, vô... cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra tiệm hớt tóc, vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội. Nghĩa là, càng lớn, tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của bác Huyền Vũ. Bây giờ, tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ như một giấc mơ.
Cầu thủ Pele lúc đó là một huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền hình. Bây giờ, có lúc vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ ảo ảo. Tội nghiệp Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên YouTube rực rỡ màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục chuyển trường sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể thao ở sân Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi tiếng hơn, thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải lo thi cử. Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.
Có mấy dòng thơ còn nhớ mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm Kinh, lúc đó mừng vô cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy, lúc đó tôi vẫn nói chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.
Banh đi qua tuổi học trò
Lăn theo đồi núi sông hồ biển xa
Sút một cú, trời mưa hoa
Cúng dường vô lượng ta bà sắc không.
Nửa khuya thức ngó mười phương
Thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng.
    Rất nhiều năm về sau, khi vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa liên hệ tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam 1954-1975, có lẽ đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) khoảng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng 1/1973 trở đi. Thời gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ nhau cắm cờ, lấn đất, giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại, vì khi hai bên cùng lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.
Tôi nghĩ ra một truyện ngắn, nội dung sơ lược là: trong những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris, quân hai miền Nam, Bắc còn choáng váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn, thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung trường tiểu học, rồi học lên trung học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh. Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên 1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ cho VNCH.
Đúng vậy, thời gian một tuần lễ sau khi ký Hiệp định Paris là lúc ngưng bắn thực sự ở rất nhiều ngôi làng. Thế rồi tại ngôi làng đó, một trận đá banh được các bạn học cũ – bấy giờ nửa kia là du kích và nửa kia là địa phương quân -- sắp xếp. Các bạn này ở cấp bậc quá thấp, nên không hề nghĩ rằng ngưng bắn chỉ là tạm. Nhưng các chàng hẹn nhau sẽ gặp nhau để đá một trận banh cho tưng bừng ngày bạn cũ gặp lại, tuy rằng đứng ở hai màu cờ nhưng tình bạn vẫn không quên nhau. Cuối cùng, tôi không viết được truyện ngắn đó, vì trong lòng tự nhiên thấy bất an. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sân banh là nơi tuyệt vời nhất để bạn cũ gặp nhau so giày, bất kể các lá cờ cắm hai phía khác màu.
   
    Tôi không nghĩ nhà văn chọn đề tài bóng tròn là hỏng. Bởi vì, chuyện gì rất là con người cũng đều tốt đẹp và có thể lay động lòng người. Thí dụ, một nhà văn điển hình đã sống trọn lòng, trọn dạ cho bóng tròn là Eduardo Galeano (1940-2015). Theo Wikipedia, ông tên đầy đủ là Eduardo German María Hughes Galeano, là một nhà báo, nhà văn và tiểu thuyết gia người Uruguay; ông được ca ngợi là "nhà văn khổng lồ của phe cánh tả Mỹ Latinh" và là "nhà văn lỗi lạc nhất thế giới về đề tài bóng đá."
Khi Galeano từ trần, bình luận gia văn học Hoa Kỳ Bill Littlefield, đã viết một bài tưởng niệm và đọc trên làn sóng truyền hình WBUR. Bài viết của Littlefield có tựa đề "Remembering Eduardo Galeano, Writer And Soccer Lover" (Tưởng nhớ Eduardo Galeano -- Nhà văn và Người đam mê bóng đá) đăng ngày 15/4/2015, trích như sau:
“Có rất nhiều cuốn sách dở viết về đề tài thể thao.
Có lẽ tệ nhất là những cuốn sách được cho là do các huấn luyện viên viết. Những cuốn sách này dựa trên một tiền đề thiếu vững chắc: rằng việc dẫn dắt một nhóm vận động viên giành chức vô địch đồng nghĩa với việc đủ tư cách để dạy các nhà môi giới chứng khoán hay quản lý tại các tiệm ăn McDonald's về cách biến nhân viên của họ thành những người chiến thắng.
Nhưng ông [Galeano] cũng viết về bóng đá, và ông kiên quyết không để sự thương mại hóa hay các màn tiếp thị làm vẩn đục niềm vui mà ông tìm thấy trong những khoảnh khắc huy hoàng nhất của môn thể thao này.
Trong cuốn sách tuyệt vời mang tên "Children of the Days" (Những đứa con của tháng ngày), Galeano kể câu chuyện về Manuel Alba Olivares. Cậu bé mới 11 tuổi khi chứng kiến bàn thắng mà cầu thủ Diego Maradona ghi được sau pha đi bóng vượt qua sáu cầu thủ Anh tại World Cup 1986. Ngay khoảnh khắc lưới rung lên báo hiệu bàn thắng, cậu Olivares nhỏ bé liền bị mù. Đó là hình ảnh cuối cùng cậu nhìn thấy. Tuy nhiên, theo lời nhà văn Galeano, cậu Olivares vẫn có thể mô tả chi tiết và chính xác từng cử động của cầu thủ Maradona.
Đó là tài năng mà Eduardo Galeano trân trọng. Trong cuốn "Soccer in Sun and Shadow" (Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm), nhà văn Galeano viết: ‘Tôi đi khắp thế giới với bàn tay ngửa ra, và tại các sân vận động, tôi khẩn cầu: 'Hãy cho tôi thấy một pha bóng đẹp, Trời ạ.' Và khi bóng đá đẹp xuất hiện, tôi tạ ơn phép màu đó mà chẳng hề bận tâm đội bóng hay quốc gia nào đã tạo ra nó.’
Nhà văn Eduardo Galeano được ca ngợi rộng rãi như một đối trọng với những người viết lịch sử từ góc nhìn của kẻ chiến thắng. Ông dành sự ưu tiên cho những câu chuyện về những con người với những cuộc đấu tranh dũng cảm nhưng đã bị lãng quên.
Song, khiếu hài hước luôn hiện hữu trong giọng văn của ông cũng là một phần không thể tách rời trong những thành tựu mà ông đạt được. Trong bài viết có tựa đề "Author’s Confession" (Lời thú tội của tác giả), chủ đề chính là bóng tròn và bản thân ông, nhưng đó cũng là câu chuyện về mọi người hâm mộ ở bất cứ đâu từng ấp ủ một giấc mơ.
‘Giống như mọi đứa trẻ Uruguay khác, tôi từng muốn trở thành cầu thủ bóng tròn,’ nhà văn Galeano viết. ‘Tôi chơi khá hay. Thực ra, tôi chơi cực kỳ xuất sắc, nhưng chỉ là trong những giấc mơ khi tôi đang ngủ mà thôi.’” (Hết trích)
Thực ra, nhà văn Eduardo Galeano còn rất nhiều phương diện khác cũng độc đáo. Ông là một nhà văn cánh tả, từng bị cánh hữu bắt giam, đẩy ra nước ngoài lưu vong, rồi lại có lệnh truy nã và nhiều sóng gió nữa. Nhưng đó là chuyện khác.
Nơi đây chúng ta chỉ nói chuyện bóng tròn. Và tôi nghĩ rằng, người dân già trẻ lớn bé trong ngôi làng giả tưởng ở Miền Trung sẽ rất là hạnh phúc nếu được chứng kiến một trận bóng tròn giữa các chàng trai từng sinh và lớn lên trong làng và lúc đó là đã chia thành hai phe – phe du kích VC và phe địa phương quân VNCH – đá một trận banh cho đã đời, trong những ngày tạm ngưng bắn để cắm cờ giành dân hồi năm 1973. Tất cả những cậu bé sau khi chứng kiến trận banh đó sẽ không bao giờ quên được trận banh đó. Vì đó là trận banh cuối cùng giữa các chàng trai, trước khi họ sẽ tìm nhau để giết nhau.
Vậy mà tôi không viết được. Cũng không nghĩ ra cốt truyện để cho một cậu bé sẽ mù sau đó nhưng rất là hạnh phúc từ khi xem trận banh đó. Đúng như thế: khi chạy theo banh là hạnh phúc. Kể cả trong giấc mơ.
PTH
 

Wednesday, July 1, 2026

QUA VƯỜN PHỦ ĐỆ

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Thiếu nữ và nón bài thơ
 
qua vườn phủ đệ hỏi thăm
bóng người tôn nữ phù trầm giữa đêm
trăm năm vua chúa ngã thềm
chỉ còn một giải lụa mềm lạnh căm
 
qua vườn phủ đệ trăng rằm
thấy hoa trên nhánh tơ tằm gọi mơ
đem che nửa mảnh trăng mờ
làm cây sứ trăng rụng hờ hương bay
 
rụng thêm vài giọt sương gầy
mà thao thức cả trời mây thuở nào
qua vườn phủ đệ nhìn sao
cho đêm ướt lá xanh xao giữa trời
 
bởi vua giờ bỏ đi rồi
tường rêu còn dấu tay ngời đề thơ
đó là lúc tôi ngẩn ngơ
viết lên cao những mộng mơ kiếp đời
 
bao nhiêu năm tháng xa vời
tôi mải miết quên nụ cười đã xưa
nên đành như nắng với mưa
như đọt sắn nhớ đọt nưa trưa nồm
 
mẹ tôi xong việc ao chuôm
thổi nồi cơm với rạ rơm mót về
khói vòng lan tới chân đê
tôi quên mẹ tôi quên quê vì tình
 
qua vườn phủ đệ u minh
một vầng trăng rớt sinh linh trên đầu
tôi đi lượm lại mối sầu
bởi người phủ đệ bỏ cầu qua sông
 
bởi tôi cũng đã non bồng
lên trên núi để hóa rồng mà say
tiếc chi rày đó mai đây
mà thành thi sĩ đọa đày đến nay
 
qua vườn phủ đệ lắt lay
bên khung cửa bụi vẫn bay vào tròng
huế buồn nhất vào mùa đông
mà tôi cứ đợi mưa giông mới về
 
qua vườn phủ đệ nhiêu khê
mẹ tôi chửi bởi tôi mê muội rồi
tôi giận mẹ tôi giận đời
giận luôn chiếc nón che người tôi thương.
 
16.6.2026
 
HUỲNH LIỄU NGẠN

  

Monday, June 29, 2026

WORLDCUP. FIFA

Tố Nghi

 World Cup 2026

Giải túc cầu thế giới FIFA tổ chức mỗi 4 năm, tại một xứ thành viên FIFA

Xưa worldcup mang lời hậu hĩnh về cho nước chủ nhà (tổ chức giải). Nhưng rồi... tình hình kinh tế chánh trị quân sự an ninh di chuyển ngày càng rối rắm, tổ chức giải trở thành khó khăn, lời hổng còn, lắm khi lỗ chỏng gọng, buộc các nước trong vùng phải chung lưng đấu cật cùng nhau. Worldcup 2026 hiện đang diễn ra tại bắc mỹ, do USA, Canada và Mexico đồng tổ chức
 
Hồi nẳm bộ môn thể thao chưa nhiều. Bình dân lao động cật lực kiếm sống, thiếu cả giờ lẫn địa, chỉ lòng vòng quanh mấy trái bóng giải khuây (bóng tròn, bóng chuyền bóng rổ), và túc cầu đứng đầu bảng.
Túc cầu là chữ đúng nghĩa nhứt, vì banh đá bằng chân, ném bằng tay - từ ngoài lằn biên hay từ vùng cấm địa - đẩy bằng ngực, đội bằng đầu.
Trong nam biểu "coi đá banh" vì đá là chánh, ngoài ngoải nói "coi bóng đá" để phân biệt với các loại bóng không đá khác. Tui đồ chừng vậy thôi chớ hổng chắc lắm - thêm cái đồ nữa cho xôm, đồ ni học được từ Hồ tiên sanh lối xóm, nói trại từ chữ độ, độ chừng, trong nghĩa đoán mò -
 
Fans bóng đá hổng ngồi nhà nghe mình ên, mà rủ nhau tụ năm tụ ba ngoài quán cóc, uống bia lạnh hay cà phê sữa đá, và cá độ chút đỉnh, cho vui thôi. Thiệt sự ăn thua là mãi sau này, khi mỹ đổ quân vào, và xã hội đổi thay tới chóng mặt.
Khi ấy TV chưa có, đá banh nghe trực tiếp trong la dô, do ký giả Huyền Vũ tường thuật.
Nguyên đám xúm xít quanh chiếc la dô điện vừa nặng vừa to - chỉ dân nhỉnh túi mới sắm nổi - vểnh tai chăm chú nghe rồi la theo cầu trường mần màn tăng "hiệu ứng". Và cầu trường lớn nhứt hẳn là sân vận động Cộng Hoà.
Rồi la dô transitor chào đời và từ từ phổ cập, giúp chiệng nghe đá banh dễ dàng hơn.
 
Không như la dô điện, transitor xài pin, gọn nhẹ, dễ di chuyển, hạp túi tiền.
Chỉ phiền cái tiếng nó dễ rè khi có "nhiễu xạ", do sóng phát quá xa tầm với của antenna, đẩy la dô lọt khỏi vùng phủ sóng.
Chủ nhơn chiếc la dô nắm cần ăng ten, kéo lên xuống qua lợi, mần màn "tranh thủ mặt bằng" để nó nhích lợi gần hơn.
Nhưng hổng phải lúc mô cũng đặng. Nên rồi... rè quá khó nghe, lắm khi tuột luôn sóng.
Chiệng nghe kết thúc cái rột ngay lúc trái banh đang lăn lộn tiến vô vùng cấm địa.
Fans đá banh đứng phắt lên, ép inh ỏi một chập cho họng bớt ngứa, rồi tiu nghỉu tan hàng, ai về nhà nấy (... và ép tiếp cho hạ hỏa)
 
Chừ tui vẫn nhớ như in lối tường thuật của Huyền Vũ.
Cũng đã có những phóng viên thể thao khác, nhưng thiệt là không ai, chưa ai đủ khả năng thay thế.
Âm sắc giọng vừa đủ, không cao chói ráy cũng không thấp mờ mịt thanh âm, lên bổng xuống trầm y chang ca sĩ opera thứ thiệt.
Đặc biệt là kho từ vựng quá sức dồi dào, cả phẩm lẫn lượng. Chữ dùng chánh xác, fantasy tới "gợi cảm, gợi hình" sanh phấn kích vàn trời mây, thính giả tưởng như sân cỏ cầu trường đang ngay trước mặt.
Ông biến lưới của cái gôn thành màng, màng lưới. Sút vô gôn kêu bằng phá lưới, tung lưới, lọt lưới. Cú sút làm bàn đầu tiên dĩ nhiên sẽ "phá thủng màng lưới trinh bạch". "chúng ta đang ở phút thứ 50, và màng luới đôi bên vẫn còn trinh bạch" mang nghĩa tỉ số đang không đều, 0-0.
Nghe Huyền Vũ miết sanh nhập tâm các thuật ngữ tiếng việt của túc cầu, rồi chỉ biết chúng bằng tiếng việt thôi. Hồi ra ngoại quốc, nghe tiếng anh tiếng pháp sanh ấm ớ. Tuần trước tò mò, coi TV một trận banh với "thuyết minh" tiếng việt... cộng. Thuật ngữ túc cầu có khác chút (trọng tài trưởng thay vì chánh, trọng tài biên thay vì giám biên...), xui cái giọng hải phỏng khúc khuỷu gập ghềnh. Lỗ tai ấm ớ với ngôn ngữ đỉnh cao, sanh chia trí chóng mặt nhức đầu, khổ cực biết nhiêu nói!!!
 
Thỉnh thoảng có các đội banh khách quốc tế, thường là từ á châu - gần gần có thái lan miên lèo, xa xa có đài loan nam hàn miến điện - tới VN tranh giải vùng hay đấu giao hữu. Theo chiếc la dô, thành phố Sài gòn nóng rực cùng trái banh lăn.
Những trận đấu trong nước luôn luôn có Huyền Vũ sốt dẻo tường thuật.
Ngoài xứ còn tùy, ông chỉ theo những trận đặc biệt, như là giải túc cầu đông nam á Seagames hay vài worldcup finals -
Giờ phát sóng của đài phát thanh sài gòn khi ấy còn giới hạn, sáng trưa chỉ vài ba tiếng, chiều tối phát dài hơn chút nẹo. Dịp đá banh, đài phát chương trình đặc biệt, loan báo cả tuần trước đó để thính giả đón nghe.
Sau này, SG có thêm đài phát thanh quân đội, với thời lượng còn giới hạn hơn nữa!
 
Hồi chưa đi học, tui đeo theo tía nghe đá banh. Tía mở la dô rà đài, sửa soạn hành nghiệp.
Vừa ngồi xuống ghế y phép má từ bếp bưng liền ra ly trà nóng và dĩa đồ ngọt giải lao (mè xửng, kẹo đậu phọng, bánh in bánh đậu xanh). Tía uống trà, nhâm nhi bánh kẹo chờ trọng tài ra sân phất cờ khai mạc, có quý nữ ngồi sát bên để được xoa đầu gãi lưng và ăn ké.
Lắm khi trận banh chỉ mới khởi sự mà mắt nó đã nhíp xuống vì chán (nghe mà hổng hiểu gì).
Giây phút hiểm nguy, Huyền Vũ cùng toàn cầu trường la làng (banh lọt lưới, đụng xà ngang, bị phá ra ngoài...) thì nó choàng tỉnh. Rồi lại nghe tiếp đớp tiếp, ngủ tiếp cho tới hết trận.
Hồi lớn dọng dọng, chơi với đám anh em họ, phải nghe đá banh nữa và chán tiếp - do "thiếu ý chí" thành cứ vẫn hiểu hổng ra.
Xui cái... sau còn lập gia đình với một fan soccer thứ thiệt. Hên cái... hổng nghe nữa nhưng coi, coi trên màn ảnh nhỏ.
Coi đỡ chán hơn nghe, coi miết rồi cũng dần dà ngộ ra chút đỉnh, cả trò chơi lẫn luật chơi của bóng đá.
 
*
 
Thời lượng trận banh 90 phút, chia đều thành hai hiệp, chen giữa khoảng 2-3 chục phút nghỉ giải lao
Sân đấu chia vùng cho hai đội banh, cuối mỗi vùng có khung thành với chình ình cái màng lưới nọ.
Giải lao xong, sang hiệp hai sẽ đổi vùng.
Đội banh nhiều cầu thủ, nhưng xỏ giày ra sân chỉ 11 trự. Đám còn lại ngồi chờ thế chỗ ngay dưới khán đài chánh.
Cầu thủ dĩ nhiên cần đôi chơn vàng, nhưng thủ môn cần hết tứ chi, chơn vàng và tay kim cương.
Thủ môn đứng trước khung thành, đeo găng bắt banh, giữ lưới.
Trong đội banh, nhiệm vụ công thủ phân chia đồng đều.
Công thuộc hàng tiền đạo, lấn đất giành sân để làm bàn, biến màng lưới trinh bạch đối phương thành "xì cúc" - nhiều nhiêu tốt nhiêu - xì cúc là tiếng lóng giang hồ, mang nghĩa... hết gin !
Thủ thuộc hàng phòng ngự (với tiền, trung và hậu vệ) bảo vệ lưới nhà sao cho nguyên vẹn đừng thủng rách tới phút cuối.
 
Luật túc cầu cấm chạm tay vào banh trong sân, trừ lúc ném banh, cấm thế việt vị, cấm xô đẩy chen lấn uýnh lộn, triệt để tôn trọng tinh thần thượng võ.
Cú làm bàn xảy ra trong các tình huống cấm này, đương nhiên sẽ bị hủy, công lao đổ vào sẽ biến thành công cốc - hổng biết lao nhưng biết cốc. Cốc là em họ của cò, đỏm dáng đeo kiềng sát cổ giựt le, chừng nuốt thức ăn sanh... chết nghẹn - Tùy lỗi phạm nặng nhẹ, cầu thủ sẽ được trọng tài tặng thẻ, thẻ vàng cảnh cáo, thẻ đỏ đuổi khỏi sân (không có thay thế).
 
Huấn luyện viên là vua không ngai của đội banh, toàn quyền sanh sát, ông (bà chưa nghe trong túc cầu, lý do hổng rõ) tuyển chọn, hướng dẫn, dạy dỗ thanh sát đội nhà. Trước khi tranh tài, còn phải trông trước trông sau, "điều nghiên" kỹ càng ngón nghề riêng của đối phương, mà chọn bày thế trận thích ứng tình hình. Mục đích sau cùng là bảo toàn màng lưới và màu cờ sắc áo đội nhà nguyên vẹn.
Trọng tài là vua sân cỏ (thiếu ngai), điều khiển trận banh, áo khác màu để dễ phân biệt. Trọng tài thổi còi phất cờ ra dấu hiệu khởi đầu và kết thúc trận banh, tá thở chạy theo banh suốt trận đấu. Chỉ một trọng tài chánh với 2 giám biên (trọng tài phụ) trông chừng lằn ranh sân cỏ.
Suốt trận đấu, tuyển thủ có thể được huấn luyện viên đưa đồng đội vào thay thế, nhưng tổng cộng số lần thay có giới hạn - bao nhiêu lần tui chưa học tới -
 
Thời cộng hoà trong xứ, 2 đội banh nổi tiếng nhứt là AJS (cảnh sát quốc gia) và Tổng tham mưu (quân đội). Sau có thêm Quan thuế, Điện lực, và các đội khác nữa (tui quên ráo rồi) -
Tía chấm được vài cầu thủ đá banh, khen lấy khen để một trự, rằng thẳng "xuống sâu xuống lẹ nên làm bàn dễ và ngọt " - sâu lẹ vậy ắt phải là trung phong hở ? Nhưng tên chi, đội chi tui hết nhớ ra - Riêng thủ môn Rạng, nghe bình luận vầy : tay nó bôi keo nên bắt banh dính cứng. Thủ môn nào bắt hụt banh bị chê "tay bôi mỡ nên tuột banh". Qúi nữ suy nghĩ rồi ý kiến ý cò : Keo mỡ mà sức thẳng vô tay, chừng xỏ găng coi như ăn trét. Rồi nghe thở dài, rằng hổng biết chừng mô nó mới vỡ trí khôn !
 
Lúc cải lương chi bảo Bạch Tuyết gánh Dạ lý hương cáp duồn, xí lộn, cáp độ Tam Lang (trung vệ vs hậu vệ), phóng viên báo chí, cả thể thao lẫn kịch trường, mỗi bữa mỗi đưa tin rồi luận bàn mệt xỉu.
Em H bạn học ngồi chung bàn, noi gương theo, cách nào hổng rõ, cáp liền kép cầu thủ trẻ của một đội banh tiếng tăm.
Mỗi bận muốn đi coi kép tập dượt, em được cái xe van (đã đầy tuyển thủ) tới nhà đón, rồi thẳng đường ra sân vận động
Đám trai gái lối xóm lậm soccer ngó theo lé xẹ mắt luôn. Chúng căn me rình mò, cửa xe vừa mở cho em leo vô, chúng xấn liền tới, dáo dác ngó vào, tìm kiếm "ý trung nhơn xyz" xin chữ ký.
Em H biểu : Sau mỗi trận banh, cầu thủ xuống ký rưỡi - 2 ký trọng lượng là thường, do mất nước là chánh, đừng tưởng bở đá banh dễ chơi dễ sống heng.
Mà... mỗi bận chun vô chiếc van, em H. được mấy anh tuyển thủ lớn đón tiếp vui vẻ, và y phép kèm lời nhờ vả kiếm đào dùm. Thì cũng chỉ nghe kể vậy thôi chớ tui có chơi với em đâu mà biết !
 
Kép cầu thủ trẻ nọ được bọn con gái âu yếm tặng liền danh hiệu "hậu vệ cẳng giữa", giải thích giải trình rằng... do thẳng có đôi chơn vàng (18 hay 24 chi đó).
Chuyện nghĩ ra danh hiệu tinh quái của đám con gái nọ đã chỉ ra một sự thiệt xã hội kinh hoàng và kinh dị: Nhứt quỉ nhì ma, thứ ba tới... nữ !
Thành ngữ nọ ít nghe, bởi nó đã bị một tục ngữ khác quất sụm : Kính nữ đắc đạo.
Đạo đây là đạo thờ bà, đạo của nhửng qúi ông muốn sống vui sống thọ!
TN