Monday, September 7, 2026

TÔ ĐĂNG KHOA- HÀNH TRÌNH TÂM THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN ‘TRÔI GIẠT’

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Nhà thơ NT Khánh Minh
 
Nếu muốn tóm tắt Trôi Giạt, tôi sẽ nói
“Trôi Giạt” là hành trình một người trở về, sống lại ký ức để tìm nguyên nhân của một cuộc chia lìa, nhưng càng đi sâu vào quá khứ, anh càng nhận ra mình không tìm thấy sự thật mà chỉ nhìn thấy những phiên bản của sự thật do chính ký ức và nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa của mình tạo ra. “Chuyến tàu” không đưa nhân vật đi qua không gian địa lý mà đi xuyên qua những tầng của tâm thức, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai không còn trôi theo một tuyến tính thuận lý. Sau cùng, điều nhân vật nhận ra là sự vô ích và sai lầm về những hình ảnh mà mình vẽ ra về nhân vật Liễu lẫn chính mình. Điều tháo gỡ cho anh là gì?
 
Nhân vật Tôi trong truyện ngắn này không được định vị theo thời gian và không gian rõ ràng, người đọc xác nhận được anh ta đang làm gì, ở đâu, lúc nào bằng những mảnh ghép ký ức trong hành trình lội ngược dòng của tâm thức.
Ngay từ đầu, truyện đã phá vỡ trật tự thời gian hiện thực:
“Ba tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.”
 
Lá thư đến từ tương lai, tấm vé được mua bằng chính thẻ của nhân vật ở vào thời điểm mà nhân vật chưa sống, và điểm đến là một nhà ga tên Trôi Giạt không tồn tại trên bản đồ địa lý.
“Đấy là lúc ba tháng sau khi Liễu bỏ đi.”  Tôi cho là sự thôi thúc một cách quả quyết muốn tìm được một giải thích cho nguyên nhân của chia lìa mà nhân vật bị chìm đắm vào những suy tưởng, những giả thuyết đủ sức lôi anh ra khỏi không gian và thời gian đang sống. Anh không hồi tưởng, anh nhớ một cách sống động, và anh hoàn toàn tin là nó đã xảy ra, anh đã bước lên tàu, đã đi -bằng một tấm vé ảo- chuyến tàu không phải là phương tiện di chuyển đi từ A đến B, nó là phương tiện tâm linh đưa anh vào không gian của ký ức. Nó lần lượt hiện lên, tự diễn tả, tự bôi xóa, và anh hiện ra bên cạnh những tâm thái mà anh cho là phản xạ, người phụ nữ buộc tóc đẩy đến nhớ Liễu, một bài hát dẫn đến hình ảnh một chuyến xe, mùi áo mưa lại toát ra từ Seattle, đôi tình nhân cãi nhau, khả dĩ một chút hiện tại để nối kết anh với chuyện tình của mình. Hình ảnh, ký ức, đan xen chồng lớp như anh tin rằng sẽ có được tia sáng soi rọi những nhận xét giải thích mới mẻ cho những tình huống cũ, Người ta nghĩ rằng anh đang cố khôi phục sự thật mà ký ức có thể quên. Dường như anh đau khổ không chỉ vì Liễu bỏ đi, anh đau khổ vì không chịu được một sự kiện không có lời giải thích hoàn toàn. Mỗi lần nghĩ đến những điều Liễu nói trước khi chia tay, anh đã nghĩ nó theo nhiều kiểu khác nhau của chính anh chứ không phải bản chất thật của lời Liễu nói, điều đó làm anh càng loay hoay trong mớ ký ức mà anh muốn sắp xếp lại, được lựa chọn, cắt nối và diễn giải, tái tạo, thẩm định lại theo chiều hướng mà suy nghĩ anh cho là hợp lý, như thể trong vô thức anh viết lại quá khứ:
 
“Tôi từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn phòng được sửa mỗi đêm...”
Chính vì thế mà anh sống trong ba tháng - “Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích”.
Việc “dựng một Liễu hoàn chỉnh” khiến tôi nghĩ rằng, một điều xảy ra có thể chỉ được hiểu sau đó. Nhưng sau khi đã hiểu, con người lại quay về sửa lại ý nghĩa của cái đã xảy ra trước. Phải nói là anh xâm nhập vào quá khứ bằng nhiều cái tôi, cho nên, Trôi Giạt không chỉ là nỗi bất định của sự kiện chia tay, mà nhân vật trôi giạt trong những phiên bản của mình, giữa các điểm luôn dịch chuyển: hiện tại - ký ức - diễn giải - ký ức được sửa lại- và rồi hiện tại.
Bà cụ xuất hiện là một nhân vật siêu thực, như cái bóng trong hành trình của anh, nhắc nhở, “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.” Nếu muốn tìm một điểm định vị trong câu truyện này là chuyện bất khả, bởi đây không phải là một lộ trình được hoạch định có chủ đích mà là một hành trình tâm thức, dẫn dắt bởi sự kiện chưa tới, đã qua, hoặc đang đã, mong tìm được được một ổn thỏa cho những điều còn mơ hồ, nhất là nhân vật lại là mẫu người “Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân và ý nghĩa.” Và cái bóng kia thương hại: “Khổ. Cái gì cũng phải có nghĩa.”, bà cụ này đồng quan điểm với Camus, cuộc sống vốn dĩ đâu có ý nghĩa nào định sẵn.
Cuối cùng, anh cũng xuống cái ga không có tên trong bản đồ; Trôi Giạt. Đây là bến dừng và cũng là điểm mở đầu của Trôi Giạt-, căn bếp nơi xảy ra cuộc nói chuyện của anh và Liễu. Từ cái nút thắt ở căn bếp đó anh đi tìm cái gút để tháo. Và có được sự bắt đầu cuộc trở về nội tâm. Tôi có nhận xét với kinh nghiệm rằng hầu như người ta ai cũng có một cơ hội để bắt đầu một cuộc nhìn lại mình.
Đoạn tôi thích nhất là nơi phòng chờ của ga. Những nút thắt từ từ buông lỏng theo những bảng chữ “ngày cô ấy bắt đầu rời đi”, “lần cuối cô ấy còn yêu”, “người ở lại”, “người bị bỏ”, “người yêu nhiều hơn”, nó khiến ta được hiểu là những khoảng thời gian mấu chốt của từng giai đoạn, nhưng thật ra, đó là những nhãn tên mà nhân vật đã gắn lên ký ức của mình. “Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu muộn, người mang vết thương.”,
Và câu trả lời trong sự xuất hiện tấm vé của Liễu, cô cũng xuống sân ga ấy, để rồi anh thấm thía một điều mà ngay lúc đầu anh không hoàn toàn tin: “Vậy mà có một chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và tôi hoàn toàn không biết.” Cả Liễu và anh, đều từng khắc khoải và cùng bắt đầu cuộc tìm kiếm mình là ai. Chí ít đây là sợi chỉ mỏng nhất để hai nhân vật gặp gỡ, nhận thức về tâm trạng cô đơn hiện sinh của phận người. Trên cùng một đường ray ấy, anh vỡ ra: “Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần — không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.”
Từ đây, ký ức không còn là những chất vấn, không còn đối tượng người bỏ đi, người mang vết thương. Có những mất mát ta không thể chữa lành bằng cách hiểu cho hết. Đôi khi điều cần buông không phải là người đã rời đi, mà là câu chuyện ta đã dựng lên về họ — và về chính mình.
 
 “Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ chính những mảnh chuyện kia hay không. Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
Cái lạnh người ấy là một thức tỉnh sau cơn hôn trầm của lý lẽ, của giải thích. Phải nói là sống thêm lần nữa quá khứ, xem như là một thử thách, một chiêm nghiệm về chân sự thật, và về cái Tôi đích thực hơn. "Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa." Xuyên qua lăng kính của nhau, chúng biết rõ hơn bóng và hình, và có lẽ ngưởi đang chạm được đến tự do khi hỏi,“nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
 
“Điều kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.”
 
Đoạn văn đầy tính văn chương trong một hành trình gập ghềnh, nó mang nghĩa tích cực của một người tưởng như sự lưu vong trong suy tưởng đã bào mòn mình.
 
Điểm tôi thích nhất là tác giả không cho nhân vật “ngộ” bằng một lời giải thích; anh chỉ ngừng đưa tay giữ hai tấm vé.
 
“Hai tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi đưa tay định giữ.
Rồi thôi.”
 
Ba câu rời. Thời gian và nhân vật lúc này điềm tĩnh. Không hối hả, không bồn chồn, thong thả theo từng dấu chấm xuống hàng. Ngữ điệu, ngữ cảnh “rồi thôi” ở đây cũng đầy Thiền vị.
Chính cái “rồi thôi” ấy có sức nặng hơn rất nhiều chữ tha thứ, hiểu ra hay buông bỏ.
 
Và tôi hiểu, một điều quan trọng nữa: Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần này tôi không mời chúng vào. Và, “có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.”
Phải chăng tác giả muốn nói đến, sự biến chuyển trong sát na khi ý tưởng nói nên Lời? và cả sự giới hạn của Lời? Theo tôi, đây cũng là quan niệm của nhà văn nhà thơ Tô Đăng Khoa khi khởi xướng dòng thơ DạKhai.
 
NTKM
Upland, tháng 8.2029

  

Sunday, September 6, 2026

TÔI LÀM THƠ

nguyễnxuânthiệp
 
Cardinal. Duyên vẽ
 
tôi. áo rực tà dương
đi. trong rừng parkwoods
như đi qua đời. sấm dội
như con chim màu đỏ. vẫn hót
tôi làm thơ
cho bạn bè. cho những người cùng khổ
cho sấm dội. cho đổ vỡ. cho mây xa
tôi làm thơ
và con chim màu đỏ
hót. một mình. dưới trời mưa thưa
NXT 

TRÔI GIẠT

Tô Đăng Khoa
 
Salvador Dali ship with butterflies
 
Ba tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.
 
Tên tôi, địa chỉ nhà tôi, nét chữ cũng là của tôi -cái kiểu chữ nghiêng sang phải, chữ g luôn hở bụng mà Liễu từng bảo trông như một người chạy ra khỏi nhà chưa kịp mang giày. Dấu bưu điện đóng từ một thị trấn ven biển phía Bắc, nơi tôi chưa từng đến. Tôi đã định quẳng nó vào đống thư quảng cáo nếu không nhìn thấy ngày gửi: mười bảy tháng Mười Một, ba tuần nữa mới đến.
 
Tôi mở phong bì bằng con dao Liễu vẫn dùng cắt trái cây. Bên trong không có thư, chỉ một tấm vé tàu một chiều: ghế 17A, khởi hành lúc 4 giờ 20 chiều ngày mười bảy tháng Mười Một. Điểm đến là một ga nhỏ mang cái tên tôi chưa từng nghe: TRÔI GIẠT.
 
Tôi tra bản đồ. Không có thị trấn nào như vậy. Tôi tra hãng tàu. Chuyến tàu có thật, nhưng lịch trình kết thúc ở San Luis Obispo. Khi tôi đọc mã vé cho tổng đài, người phụ nữ ở đầu dây gõ bàn phím một lúc rồi xác nhận vé hợp lệ, đã thanh toán bằng thẻ tín dụng mang tên tôi.
 
“Tôi đã mua vé ngày nào?” tôi hỏi.
“Ngày mười bảy tháng Mười Một.”
“Ý cô là năm ngoái?”
 
Một khoảng im lặng rất nhỏ, rồi cô đáp: “Năm nay.”
Tôi cúp máy. Nếu chuyện này xảy ra trước khi Liễu đi, có lẽ tôi đã chụp tấm vé gửi cho cô. Liễu thích những chuyện hơi lệch khỏi trật tự bình thường: một căn nhà chỉ có cửa mà không có cửa sổ, một người đàn ông nuôi chim nhưng sợ bầu trời, một câu trong sách tình cờ lặp lại đúng câu người ta vừa nghĩ. Cô không tin vào điềm báo. Cô chỉ thích khoảnh khắc sự vật chưa kịp giải thích được chính nó.
 
Tôi thì ngược lại. Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân và ý nghĩa. Có lẽ vì thế, sau khi Liễu đi, tôi đã mất gần hai tháng để tìm ra nguyên nhân cho sự ra đi của cô.
 
Ngày cuối cùng của chúng tôi không có gì đáng để trở thành ngày cuối cùng.
 
Liễu về nhà lúc sáu giờ hơn, đặt túi xuống chiếc ghế cạnh cửa rồi hỏi còn cơm không. Tôi hâm cá kho. Cô cắt một quả dưa leo. Chúng tôi ăn trong bếp vì bàn ăn đầy giấy tờ của tôi. Giữa bữa, cô nói:
 
“Em thuê được chỗ rồi.”
Tôi đang gỡ xương cá nên phải mất vài giây mới hiểu.
“Chỗ gì?”
“Chỗ ở.”
 
Tôi đặt đũa xuống. Liễu không khóc. Tôi nhớ rất rõ điều đó, bởi nhiều tuần sau tôi đã dùng nó làm bằng chứng rằng cô chuẩn bị chuyện này từ lâu.
“Có ai khác không?”
“Không.”
“Anh đã làm gì sai?”
“Không phải vậy.”
“Vậy là gì?”
 
Liễu nhìn xuống đĩa cơm. Cô lấy đầu đũa đẩy một hạt cơm dính trên vành chén rồi nói một câu mà về sau tôi đã nhớ theo ít nhất năm cách khác nhau. Phiên bản tôi nhớ nhiều nhất là: “Em không còn biết em là ai khi ở cạnh anh.”
Nhưng có đêm tôi nhớ cô nói: “Em không còn biết mình đang ở đâu.” Có lần khác: “Em không biết làm sao ở lại mà không thành một người khác.” Và một buổi sáng, ngay sau khi thức dậy, tôi hoàn toàn chắc chắn câu cô nói chỉ là: “Em mệt rồi.”
Tôi từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn phòng được sửa mỗi đêm, rồi sáng ra người chủ nhà cứ tưởng những bức tường đã đứng ở đó từ đầu. Suốt nhiều tuần tôi quay lại căn bếp ấy trong đầu, xem lại từng ánh mắt, từng câu nói, từng lần Liễu im lâu hơn bình thường. Một sự im lặng trở thành dấu hiệu. Một chuyến công tác trở thành khoảng cách. Một câu “em mệt” trở thành thời điểm cô bắt đầu rời khỏi tôi.
Dần dần, tôi biết chính xác chuyện gì đã xảy ra. Ít nhất tôi tưởng vậy, cho đến một hôm cố nhớ giọng Liễu khi nói câu cuối cùng ấy và phát hiện mình không còn chắc giọng nào là của cô nữa.
Tôi không định đi chuyến tàu, nhưng sáng ngày mười bảy tháng Mười Một, tôi thức dậy lúc năm giờ và việc đầu tiên là nhìn tấm vé trên bàn.
 
Ba tháng qua, căn nhà đã dần mất dấu Liễu. Đầu tiên là bàn chải đánh răng, sau đó quần áo. Chai dầu gội trong phòng tắm hết mùi. Một buổi chiều tôi bước vào phòng khách và nhận ra chiếc ghế cô thường ngồi đã trở lại thành một chiếc ghế. Riêng tấm vé thì càng ngày càng có vẻ thuộc về căn nhà.
Ba giờ chiều, tôi mặc áo khoác. Tôi vẫn tự nói mình chỉ ra ga để hỏi cho rõ. Nhưng khi nhân viên quét mã và cánh cửa toa tàu mở ra, tôi đã bước lên trước khi kịp nghĩ “hỏi cho rõ” thực ra có nghĩa gì.
Ghế 17A cạnh cửa sổ. Ghế bên cạnh có một bà cụ khoảng bảy mươi tuổi, tóc bạc cắt ngắn, đang bóc một quả quýt. Bà nhích túi sang một bên cho tôi ngồi rồi đưa tôi một múi.
“Anh đi tới đâu?”
Tôi suýt nói San Luis Obispo.
“Tôi không chắc.”
Bà nhìn tôi. “Tới đâu mà không chắc?”
“Tấm vé ghi một nơi tôi không tìm thấy trên bản đồ.”
Bà gỡ một sợi trắng khỏi múi quýt. “Vậy thì bản đồ đỡ được một việc.”
Tôi chờ bà cười. Bà không cười.
 
Tàu chạy khỏi thành phố. Nhà kho thấp biến thành khu dân cư, khu dân cư thưa dần thành đồng ruộng. Những đường dây điện kéo dài bên đường ray như cố theo kịp chúng tôi. Tôi nhìn cảnh vật trượt lùi ngoài cửa kính và nghĩ tới Liễu.
Điều ấy đã thành một phản xạ. Một phụ nữ buộc tóc lên làm tôi nhớ buổi Liễu nấu ăn. Một bài hát trong siêu thị đưa tôi về chuyến xe lên Napa. Mùi áo mưa nhựa đưa tôi về một tối ở Seattle. Bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành một đường dẫn về cô. Tôi vẫn gọi đó là nhớ.
 
Bà cụ nhìn tôi một lúc rồi hỏi: “Vợ anh à?”
“Từng là người yêu.”
“Từng là người yêu hay từng là người anh đang nghĩ?”
Tôi quay sang. Bà đã nhìn ra cửa sổ.
 
Sự không tò mò của bà làm tôi khó chịu một cách vô lý. Tôi muốn bà hỏi thêm. Tôi muốn kể Liễu đã đi thế nào, tôi đã ở lại thế nào, có những thứ người ta không thể bỏ ngang như vậy thế nào. Tôi muốn trình bày câu chuyện đủ rõ để một người hoàn toàn xa lạ cũng phải thấy tôi có lý. Nhưng vì bà không hỏi, câu chuyện nằm nguyên trong miệng tôi, và lần đầu tiên tôi nhận ra nó có vị hơi lạ.
 
Khi tàu đến Santa Barbara, bà cụ xuống mua cà phê. Tôi ở lại. Một đôi trẻ phía trước đang cãi nhau rất khẽ. Người con gái quay mặt ra cửa kính. Người con trai cứ lặp lại: “Anh đâu có ý đó.” Tôi chỉ nghe được vài mảnh nhưng gần như lập tức biết câu chuyện: anh ta vô tâm, cô ấy chịu đựng đã lâu, rất có thể có người thứ ba.
 
Tôi đã gần hoàn tất toàn bộ quan hệ của hai người xa lạ thì chợt nhận ra tôi chẳng biết gì về họ. Ngay lúc ấy, một ký ức bật lên.
Một tối cách đây hơn nửa năm, Liễu và tôi ăn ở một quán Thái. Cô gần như không nói, liên tục nhìn điện thoại. Trên đường về, cô im lặng gần hết quãng đường. Sau khi cô bỏ đi, tôi đã quay lại tối ấy hàng chục lần: đó là lúc cô bắt đầu xa tôi; có lẽ đã có ai khác; có lẽ tin nhắn cô chờ hôm đó đã quyết định mọi chuyện.
Tôi nhớ rất rõ cảm giác ấy. Nhưng khi tàu bắt đầu rời Santa Barbara, một chi tiết khác hiện lên, nhỏ đến mức lúc đầu tôi tưởng mình vừa nghĩ ra.
Mẹ Liễu nhập viện hôm đó.
 
Tôi ngồi bật thẳng người. Không phải một phát hiện. Tôi từng biết chuyện ấy. Chính tôi lái xe đưa Liễu tới bệnh viện sáng hôm sau. Vậy mà trong câu chuyện tôi đã kể đi kể lại suốt ba tháng, chi tiết ấy biến mất hoàn toàn. Sự im lặng của Liễu còn lại, chiếc điện thoại còn lại; người mẹ ở đầu kia biến mất.
 
Tôi lấy điện thoại mở những tin nhắn cũ. Càng đọc, tôi càng có cảm giác mình đang xem lại một bộ phim đã bị ai đó cắt dựng. Có những câu không hề mang giọng tôi nhớ. Những ngày tôi cho là lạnh nhạt lại đầy những chuyện rất bình thường: mua sữa, lấy thuốc, nhớ đóng tiền điện.
 
Rồi tôi tìm thấy một tấm ảnh Liễu gửi từ lâu: một dòng sông trong buổi chiều, mây trắng trên trời, bóng mây trên nước. Tôi vẫn nhớ nó như một trong những thứ cuối cùng giữa chúng tôi, nhưng ngày gửi cho thấy nó đến gần một năm trước khi cô đi.
Bên dưới ảnh, Liễu viết: “Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa.”
Tôi đã trả lời bằng một trái tim. Chỉ vậy. Không mật mã, không lời tiên báo.
 
Tôi nhìn bức ảnh rất lâu và lần đầu tiên có cảm giác điều đáng sợ không phải trí nhớ của mình đã phai, mà là nó đã làm việc quá tốt.
 
Khoảng sáu giờ, trời tối hẳn. Tôi mở bản đồ theo dõi hành trình và thấy con tàu vừa đi qua ga cuối theo lịch trình, nhưng nó không dừng.
Tôi gọi một nhân viên.
“Chúng ta đi đâu vậy?”
Anh ta quét tấm vé trong tay tôi.
“Ga của anh còn một chặng.”
“Ga nào?”
“Trôi Giạt.”
 
Tôi nhìn quanh. Không ai có vẻ thấy điều gì bất thường. Một người đàn ông ngủ há miệng. Hai đứa trẻ chơi game. Người phụ nữ phía trước đang dùng khăn giấy lau son môi. Bà cụ đã trở lại từ lúc nào, ly cà phê nằm giữa hai bàn tay.
“Bà cũng xuống ga đó?”
“Không.”
 “Ga sau nó?”
Bà nhìn tôi một lúc. “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.”
 
Tôi bật cười, nhưng tiếng cười nghe không giống của mình. Tôi hỏi bà ga đó là gì, tại sao nó không có trên bản đồ, tại sao tôi nhận được một tấm vé do chính mình mua từ tương lai. Bà nghe hết rồi hỏi:
“Anh làm nghề gì?”
Tôi trả lời bà.
Bà gật đầu. “Khổ.”
“Khổ gì?”
“Cái gì cũng phải có nghĩa.”
Trước khi tôi kịp trả lời, tàu giảm tốc. Ngoài cửa kính không còn nhà cửa, chỉ có một sân ga nhỏ nằm giữa bóng tối.
Tôi là người duy nhất xuống. 
Ga chỉ có một căn phòng chờ, một máy bán nước đã tắt và dãy ghế gỗ quay mặt ra đường ray. Không bảng giờ. Không nhân viên. Tôi quay lại định hỏi khi nào có chuyến về, nhưng đoàn tàu đã bắt đầu chuyển bánh. Qua cửa kính, bà cụ giơ tay; tôi không biết bà chào hay chỉ đang chỉnh rèm. 
 
Trong phòng chờ treo hàng chục bức ảnh đen trắng. Tôi nhận ra căn bếp trước tiên -căn bếp của tôi và Liễu. Trong ảnh, Liễu đứng bên bồn rửa, quay lưng về phía máy ảnh. Tôi đứng ở cửa, khuôn mặt chìm trong bóng tối. Bên dưới là một tấm thẻ nhỏ: NGÀY CÔ ẤY BẮT ĐẦU RỜI ĐI.
Bức kế tiếp là quán Thái: LẦN CUỐI CÔ ẤY CÒN YÊU. 
 
Rồi bệnh viện, bờ biển, phòng ngủ, một chiếc ghế, một hành lang khách sạn. Tôi chưa từng chụp những bức ảnh ấy, nhưng từng cảnh đều thuộc về đời mình. Dưới mỗi bức là một cái tên: DẤU HIỆU ĐẦU TIÊN. NGƯỜI Ở LẠI. NGƯỜI BỊ BỎ. ĐIỀU KHÔNG THỂ THA THỨ. NGƯỜI YÊU NHIỀU HƠN. 
Tôi đứng giữa căn phòng và có cảm giác kỳ lạ rằng mình đang nhìn thấy nội thất bên trong đầu mình. Tôi tháo bức NGÀY CÔ ẤY BẮT ĐẦU RỜI ĐI xuống. Sau nó chỉ là tường trắng. Tôi tháo tiếp LẦN CUỐI CÔ ẤY CÒN YÊU. Vẫn tường trắng.
Đến bức NGƯỜI BỊ BỎ, một vật nhỏ rơi xuống sàn: một tấm vé tàu, cùng chuyến, cùng ghế 17A. Nhưng tên hành khách là LIỄU. Ngày đi: ba tháng trước.
Tôi đọc lại ba lần, rồi một lần nữa. 
 
Trong suốt ba tháng, tôi đã biết Liễu đi đâu, vì sao cô đi, cô nghĩ gì, điều gì trong cô đã thay đổi. Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích. Vậy mà có một chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và tôi hoàn toàn không biết.
 
Tấm vé run nhẹ trong tay tôi. Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần — không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.
Bên kia đường ray là một con sông rộng. Tôi ra ngoài ngồi xuống ghế. Trời gần sáng. Một cụm mây nhạt trôi trên mặt nước, chậm đến mức nếu không nhìn lâu, người ta sẽ tưởng nó đứng yên. Tôi nhớ tấm ảnh: “Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa.”
Tôi từng nghĩ câu ấy đẹp. Bây giờ tôi nhìn cụm mây trên trời và bóng của nó dưới sông, rồi bất giác tự hỏi cái nào mới là thật. Ngay khi câu hỏi xuất hiện, tôi thấy nó làm gì: nó muốn chọn một cái, giữ một cái, rồi gọi cái còn lại là bóng. 
Tôi không trả lời. Rất lâu sau đó, những ký ức về Liễu bắt đầu tự đến, không theo thứ tự, không xin phép.
Liễu im lặng trong xe, và ngay phía sau ký ức ấy câu quen thuộc xuất hiện: Cô ấy đã bắt đầu hết yêu.
Liễu nhìn điện thoại trong quán ăn: Cô ấy đang chờ một người.
Liễu nói: “Em mệt.” Cô ấy muốn rời khỏi tôi.
 
Lần đầu tiên tôi nghe rõ khoảng cách giữa hai thứ: một cái xảy ra, một cái đến sau. Tôi đã sống trong cái đến sau quá lâu đến mức tưởng nó có mặt ngay từ đầu.
Rồi tôi nhận ra một chuyện khác. Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu muộn, người mang vết thương.
 
Tôi. 
 
Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ chính những mảnh chuyện kia hay không. 
Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng xuống, còn gì?
Tôi nhìn hai bàn tay. Không có câu trả lời. Điều kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.
 
Mặt trời lên. Cụm mây đã đi khỏi mặt sông từ lúc nào, tôi không biết.
 
Chuyến tàu đầu tiên đến lúc 6 giờ 12. Tôi bước lên mà không hỏi nó đi đâu. Ghế 17A trống. Bà cụ không còn ở đó. Tôi đặt hai tấm vé lên chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ: một mang tên tôi, một mang tên Liễu. 
 
Khi tàu chạy, điện thoại bắt đầu có sóng. Một tin nhắn hiện lên từ Liễu.
Tôi nhìn tên cô rất lâu mới mở. Không lời, chỉ một tấm ảnh: một dòng sông trong buổi chiều, mây trên trời, bóng mây dưới nước.
Ngay lập tức, tất cả những gì quen thuộc trong tôi thức dậy: “Tại sao cô gửi lúc này? Cô có biết tôi đang ở đâu không? Cô nhớ tôi? Đây có phải một dấu hiệu? Có phải cô cũng—” 
 
Tôi gần như đi hết con đường cũ. 
 
Rồi tàu ôm một khúc quanh. Ánh mặt trời bất ngờ tràn qua cửa kính khiến tôi phải nheo mắt. Khi nhìn lại màn hình, bức ảnh vẫn chỉ là một bức ảnh: mây, nước, bóng mây.
 
Một điều gì đó trong tôi muốn gọi tên khoảnh khắc ấy. Buông bỏ. Hiểu ra. Tha thứ. Có lẽ còn một chữ đẹp hơn nữa nếu tôi chịu khó tìm.
Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần này tôi không mời chúng vào.
Không phải vì không còn gì để nói. Trái lại, có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.
Hai tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi đưa tay định giữ.
Rồi thôi.
TÔ ĐĂNG KHOA

  

Saturday, September 5, 2026

P H O N G L I N H

Hoàng Xuân Sơn
 


tôi lanh canh đời tôi
mà em nào nghe thấy
)(
HXS@271121

18 BÀI HAIKU. GỞI ÁNH TÀ DƯƠNG

Nguyễn Đức Nhân
 
Tranh thơ Kaiku
 
         * Thân tặng nhà văn Lê THỊ HUỆ, chủ biên GIÓ-O hải ngoại.
 
1.
Chập choạng tà dương
dường như người tiều phu vung rìu
đốn  giấc mơ của đá
 
2.
Nắng chang chang trên đồng
chim chiền chiện lao vút tầng không                       
tiếng hót trong mây rơi lả tả
 
3.
Đậu trên đầu  trụ cọc giữa ao
chim bói cá đang rình
bắt bóng mây mùa hạ
 
4.
Dưới chân núi
tiếng chuông giáo đường thôi thúc
âm thanh tung rơi những búp hoa huệ trắng
 
5.
Nắng chiều đã cạn, chim không hót nữa
trên tán cây, bóng tối thì thầm
chiếc lá vàng rơi nghiêng
 
6.
Mùa hạ sắp qua
những chiếc lá già khẽ khàng
mang sắc thu tiềm ẩn
 
7.
Kìa, nhìn vầng trăng khuyết
bạn ơi đừng hỏi
một vầng trăng xưa
 
8.
Màu trắng là gì
lưỡi tôi băng giá
hởi người bạn mù lòa
 
9.
Chú chim đứng một chân
giấu trong đôi cánh
cơn gió mùa thu
 
10.
Trăng mờ sương
tiếng chuông khuya
vuốt cong mái ngói rêu phong              
 
11.
Thời tiết đang hanh khô
đàn kiến gồng gánh, bồng bế ra đi
gió đã chuyển mùa
 
12.
Đi qua đồi cỏ lau
tôi dừng chân
bên đóa hoa nhỏ nhiệm màu
 
13.
Hoan hỷ biết bao
sự thật ngàn xưa
còn lưu trong lá cỏ
 
14.
Kìa, hạt sương long lanh
ồ, cái đẹp mong manh 
rơi trong khoảnh khắc nầy
 
15.
Cao nguyên  vào thu
ngọn thông và chóp núi
nhấp nhô  giữa biển sương mù
 
16.
Gió chiều thoảng hương
tôi cùng ánh nắng
ngắm đoá hoa dại bên đường
 
17.
Mở cánh cửa chiều thu
mái tóc xanh bay trong  gió thu vàng
người ra đi
 
18.
Tia nắng ban mai
vừa xoi thủng màn sương
rừng thông tỏa hào quang ngũ sắc
 
Đà-lạt, 30.8.2026
NĐN
 
 

Friday, September 4, 2026

SÁCH MỚI


Trân trọng giới thiệu:
 

LANG THANG NGHÌN DẶM TẬP II
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
 
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026
 
 
@@@
 
 
 
LỜI GIỚI THIỆU
 
Lang Thang Nghìn Dặm Tập II: Một thời của
thơ mộng, ly tán
Phan Tấn Hải
 
Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm.
 
Nơi sách này, chúng ta sẽ đọc qua mắt nhìn của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) về các tác giả:
 
-- Đỗ Hồng Ngọc, một chàng Đỗ Nghê làm thơ rất "tinh nghịch, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, cảm động" -- và là một người viết về Thiền để mời độc giả "chậm lại, nghe tiếng trái tim, cho ta năng lực để thấm thía được hết những đau khổ và hạnh phúc, mới tu học được bốn tâm vô lượng";
-- Ngô Thế Vinh, qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, nơi NTKM viết là "Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh";
 
-- Đặng Mai Lan, người "đã dẫn tôi vào một cõi hư hư thực thực với bóng đêm, với tiếng thầm của nước mắt chảy trên gò má, với tiếng sương rơi, tiếng dế gõ khuya, tiếng cười rúc rích trong lá, với tiếng chuông tình yêu lao xao tàng cây";
 
-- Trịnh Y Thư, người viết "trữ tình mà không thiếu ánh sáng lóng lánh của trí tuệ. Có đủ cả hai như thế là do Trịnh Y Thư vừa có tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ vừa có nội lực dồi dào của tri thức";
 
-- Đặng Thơ Thơ, người ghi lại "một hiện tại chứa đựng vẻ đẹp của miên viễn, vẻ đẹp tâm linh của thiên nhiên, của đồ vật, nhìn thấy được qua hơi thở của sự sống, chẳng phải nhà văn đã lôi ra cho chúng ta thấy cái đẹp thường hằng trong mong manh? Đó là tuệ giác về vô thường";
 
-- Trần Mộng Tú, người có dòng thơ ghi lại "Sự cảm thụ thời gian được thể hiện hết sức hồn nhiên, tự nhiên, nên nó hết sức trẻ, cho dù sau nó là ẩn ý sự tàn phai";
 
-- Nguyên Yên, người viết "bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén, can đảm và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình";
 
-- Cao Vị Khanh, người "không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ";
 
-- Lê Giang Trần, qua thi tập Trạm Người Quá Bước, "là nỗi lưu đày của thân phận ly hương, và nỗi trôi giạt phận Người. Thế ra nhà thơ, cũng như triệu người Việt tha phương chịu tới hai lần lưu vong. Cái lưu vong nguyên thủy kiếp người. Cái lưu vong của nghiệp, phần Việt Nam";
 
-- Nguyễn Đức Cường, một nhà thơ "ngẩn ngơ bởi tiếng vọng của chợt thấy, và, lặng yên bình an trong tiếng thầm thì, Ta Xa Nhau Thành Thơ. Một hành trình khởi đi từ cảm thức hiện sinh, và nơi đến của cảm thức tâm linh. Một cuộc hóa thân nhiệm mầu ở cuối cuộc hành trình, để người thơ gặp lại tiếng khóc đầu tiên và nấm mồ nên thơ của khói sương mộng huyễn";
 
-- Phan Tấn Hải, người viết truyện "hư hư thực thực, thời gian thì phi tuyến tính, cái hấp dẫn là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man vào mơ, rồi tan như ảnh ảo, đó là không khí của hiện thực huyễn ảo... Như mùi hương ẩn mật, như vạt nắng sớm trong lời kinh Pháp Cú";
 
-- Khế Iêm, người làm thơ đã "thấu cảm được hiệu quả cùng sự bất lực của lời đối với ý tưởng và cảm xúc của mình, sự tích lũy kinh nghiệm ấy khiến dặm trường của ngôn ngữ thơ là cuộc thể nghiệm chữ không ngừng. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm là một hành trình theo đuổi, tìm tòi...";
 
@@@
 
Phần 2 của tuyển tập được Nguyễn Thị Khánh Minh đặt nhan đề là Tâm Hương, nơi chị ghi lại suy nghĩ và các bài thơ chị tặng các bạn văn đã rời cõi này, trong đó có Nguyễn Tôn Nhan (rời cõi này năm 2010), Trương Thìn (2012), Nguyễn Xuân Hoàng (2014), Phùng Nguyễn (2015), Đinh Cường (2016), Du Tử Lê (2019), Nguyễn Lương Vỵ (2021), Huỳnh Ngọc Chiến (2021), Cung Tiến (2022), Lê Thiết Cương (2015).
 
Và đặc biệt là lời Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại một kỷ niệm năm 2009 khi chị được hội kiến cố Hòa Thượng Tuệ Sỹ, người đã ra đi năm 2023. Nhà thơ nữ họ Nguyễn kể rằng cơ duyên này là sau buổi ra mắt tập thơ Bùa Hương của chị tại quán cà phê Du Miên, lúc đó in chỉ với 50 ấn bản do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009. Nhà thơ Lữ Kiều sau đó đưa nhà thơ đến chùa Già Lam để hội kiến Thầy Tuệ Sỹ.
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại, trích: "Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Thiền Sư gõ trên phím những nốt nhạc âm vang lời kinh hồi hướng, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc ôi, Như Lai đâu có đi có đến… Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu… Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… Thời gian tiếng dương cầm, như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người..."
 
Độc giả sẽ tìm thấy giá trị văn học trong tuyển tập Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 qua những dòng chữ thơ mộng của Nguyễn Thị Khánh Minh, sẽ cảm nhận những buồn vui của các tác giả trong một thời sáng tác đầy ly tán, và sẽ nghe được những âm vang lịch sử -- như khi tự thấy mình đang ngồi trong tiếng đàn của Thầy Tuệ Sỹ.
 
Từng dòng chữ của Nguyễn Thị Khánh Minh là cả một khung trời thơ mộng rất mực hy hữu, nơi chúng ta sẽ ngưng lại ở nhiều trang để suy nghĩ: vì sao các dòng văn xuôi của phê bình văn học trong ngòi bút của chị lại có sức mạnh của thi ca như thế. Hy hữu. Cực kỳ hy hữu. 
 
@@@
 
Sách có bán trên BARNES & NOBLE
358 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
 
Lang thang nghin dam 2 | Barnes & Noble®
 
Từ tìm kiếm: lang thang nghin dam 2, nguyen thi khanh minh
 
– Văn Học Press
vanhocpress@gmail.com

  

Thursday, September 3, 2026

TRÁI TIM MÙA HÈ

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Thiếu nữ. Tranh Nguyên Khai
 
    *Tặng Thanh Lương cùng mùa hè rất xa
 
Thời gian vừa rơi hạt lệ
Mang trái tim tôi treo trên cây
Những mắt lá rưng rưng chiều bóng xế
Hỏi thầm nhau. Mùa hè sao đầy mây
 
Hỏi thầm nhau. Lòng ai sao chưa nguôi
Đường nào xa. Gió nào xanh xao thổi
Trái tim tôi chong hoài con mắt đợi
phương trời lạc giọng tiếng mưa rơi
 
Khung cửa sổ. ngày đêm thao thức
Nắng âm hao. Giấc mộng vừa tan
Lời côi cút. Bóng co ro hỏi
Ai đèn khuya. Ai níu mộng trăng tàn*
 
Nói tiếng gì. Cho thời gian mở
Trái tim tôi trên cành xanh nở
Goi ngày về ríu rít ban mai
Ai bình minh. Ai nắng vàng tri ngộ
 
Nói tiếng gì. Cho đất trời gần lại
Nhịp trần gian cố cựu hạt mưa xưa
Bỏ nhỏ trên tay hỏi lòng năm cũ
Trái tim trong. Ở lại. Ấm giao mùa
NTKM
2025
 
*lấy ý thơ Tuệ Sỹ: Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn