Thursday, April 16, 2026

NỐT CUỐI MỘT HỢP ÂM

Đặng Mai Lan
 
Đặng Mai Lan. Tác phẩm
 
    Biên bước chậm lại khi thoáng nghe tiếng khóc tỉ tê phát ra từ một ngôi nhà có người phụ nữ đang ngồi trước một quan tài, cạnh đó là vài đứa trẻ đang cười nói vô tư với những trò chơi nào đó. Khuôn mặt người góa phụ xanh xao, mệt mỏi. Chiếc áo sô lùng thùng trên một thân thể rũ rượi như một cánh buồm gãy gập, tan tác trước bão giông.
    Biên bước nhanh hơn. Tất cả quanh anh có phải là ảo giác? Không chỉ là một ngôi nhà mà dường như còn vài căn nhà khác trong khu xóm trại nghèo nàn. Những giọng khóc nỉ non, đầy cam chịu sau khi đã kêu gào thống thiết. Hình ảnh bi thảm này nào có xa lạ với Biên. Anh đã chứng kiến từ nhiều năm trước, trong những trại gia binh nơi biên trấn, mà ngay cả Sài Gòn. Nó đầy dẫy khắp cùng và bây giờ thì còn nhiều hơn nữa. Nhiều hơn gấp bội lần. Khăn tang phất phơ khắp mọi miền đất nước. Bao giờ rồi sẽ tới phiên anh? Hòa bình được nói đến từ năm 1973. Nhưng hòa bình chỉ là những bông hoa trên bàn cờ chính trị.
            Tất cả mới chỉ là một cuộc pháo kích vào căn cứ. Tiếp nối sẽ là những gì? Anh vừa được cấp đầy đủ quân trang, chờ lệnh lên đường vào cuộc tử sinh.

           Từ khi đồng minh quay mặt, cắt đứt mọi viện trợ. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không còn đủ bom đạn để chống lại kẻ thù được tiếp ứng những thứ vũ khí tối tân hiện đại của Nga-Tàu. Những người lính ngày hôm nay đã chiến đấu trong thiếu thốn ngặt nghèo. Lệnh ân xá cho lao công đào binh được thi hành nhiều hơn, dễ dàng hơn. Sau khi được giấy ân xá, được đưa ra hậu cứ trình diện, làm thủ tục khám sức khỏe sơ sài, họ có thể trở lại chiến trường. Vậy mà vẫn không đủ lấp đầy số quân tổn thất. Cuộc chiến này còn kéo dài bao lâu nữa. Liệu anh có may mắn thoát khỏi lằn tên mũi đạn và nếu như anh nằm xuống, anh có được về Sài Gòn, trong ngôi nhà ấm cúng của gia đình anh như những thân xác nằm dưới những mái nhà anh vừa nhìn thấy?
            Biên nhét gói thuốc vào trong túi áo, bước nhanh. Lúc này anh hút thuốc khá nhiều. Thuốc giúp anh xua đuổi những âm u bi lụy trong hồn. Vậy mà lúc này, anh cảm thấy lồng ngực mình nặng nề, môi miệng khô đắng. Biên không còn một hứng thú, thèm muốn nào nữa.
            Những bước chân Biên như chạy, như tìm cách rời khỏi một bãi tha ma hoang lạnh.
            Đào ngũ? Hèn! …
            Anh tưởng mình đã quên ba chữ ngắn gọn ấy. Nhưng nó đang quay về gằn từng tiếng một, thách thức anh. Nó đang gõ trong đầu anh những nhịp gõ nhức nhối, là những tiếng cười khinh khỉnh nhạo báng.
            Thuở mới vào lính, Biên đã từng nghĩ dù anh ở đâu, sống hay chết cũng thế. Không có gì cho anh nuối tiếc, ràng buộc với cuộc đời này. Nhưng bây giờ cái chết, sự sợ hãi, cô đơn vây chiếm anh như một tấm lưới đan khít không một khe hở. Tấm lưới trùm kín chặt chẽ, xoay trở cách nào anh cũng không thể thoát ra.
            Những cuộc tháo chạy, lui binh được loan tin từng ngày trên những trang báo, đài phát thanh. Miền Nam rồi cũng sẽ sớm sụp đổ. Tiếp tục cầm súng để làm gì? Làm anh hùng vào giờ thứ hai mươi lăm chăng? Mọi niềm tin đã bị hủy hoại. Hai thằng bạn nhạc sĩ được thuyên chuyển cùng anh đã biến mất ngay ngày đầu sau khi nhận quân trang. Chúng nó không bỏ rơi anh, đã rủ anh cùng đi, nhưng ngần ngừ mãi, cuối cùng anh từ chối. Sự từ khước không đến từ lòng dũng cảm, lý tưởng đời trai mà là những lo sợ. Chắc gì anh đã thoát và còn nỗi nhục nhã nào hơn nếu bị bắt giữ. Hai thằng đó có lẽ đã về đến Sài Gòn, đã trốn chui trốn nhủi đâu đó. Có đáng sống không, một đời sống như thế?
Nhục nhã lắm, hèn lắm!
            Những tiếng nói khác lại cất lên trong đầu anh vừa răn đe, vừa bỡn cợt cùng với khuôn mặt của Diễm. Cái khuôn mặt tươi sáng, thông minh ấy hồ như đang nhìn anh trách móc.
            Diễm đến phòng trà tìm anh như ngọn gió cuối ngày. Ngọn gió thất thường, ào ạt đến và vội vàng bay đi. Họ đứng với nhau dưới mái hiên của một cửa tiệm cạnh phòng trà. Những câu chuyện ngắn ngủi, thiếu tiếng cười hồn nhiên nghịch ngợp của cô lại làm anh vui, vui hơn bao giờ hết.
            Diễm nói:
            – Tìm anh rất khó, mà đến đây nhờ ông gác cửa hoài em cũng ngại. Thôi khi nào rảnh và buồn… cần cà phê, cà pháo, tán dóc thì đến nhà tìm em. Trông anh hiền lành nhút nhát thí mồ, nhưng đừng ngại. Bố mẹ em cũng dễ thôi. Nhà đàn ông, lính tráng tới rần rần nên mẹ em quen rồi.
            Hai chữ "thí mồ" của Diễm làm anh bật cười.
            Diễm cho anh biết Tuấn và Tâm hai cậu học trò anh đã đàn cho hát hôm nào đã phải bỏ học đăng lính. Nghĩ mà thương! Công chưa thành, danh chưa toại, em không biết cả hai đang ở đâu để đi thăm? Làm con trai ở đất nước này thiệt thòi quá.
            Cô than vãn:
            – Bộ Tổng Tham Mưu nhà em giờ cũng vắng như chùa bà đanh. Ông anh em không cầm súng, nhưng là phóng viên, cũng đang lăn lộn ở những chiến trường, không biết số phận ra sao.
            Diễm cho anh số nhà, điều mà từ lâu anh mong mỏi muốn biết. Căn nhà ở khu Đa-Kao, trong một con hẻm rộng. Diễm có tả sơ sơ về khoảng đường, lối bước vào con ngõ nhà cô. Diễm có chờ anh không? Cô nào biết sau lần gặp đó, anh đã nhận lệnh cấp tốc phải xa Sài Gòn. Giữa hai người chỉ đơn thuần một thứ tình bạn, còn quá mông lung trên bến bờ tình cảm lứa đôi. Nhưng anh đang thiết tha nghĩ tới Diễm, nồng ấm, buồn rầu. Như thể anh vừa đánh rơi một điều gì đó, quý báu mà anh vừa có được trong tay. Không đúng sao? Tình thế hiện nay biết khi nào gặp lại?
 
            Khi Biên về đến nhà thì trời đã chập choạng tối. Con đường anh vừa đi qua dài hơn bao giờ hết. Bình thường dù có trục trặc gì đó trên đường, xe đò dù chạy chậm cũng không quá nửa ngày. Con đường suôn sẻ, nhưng anh đã mất trọn một ngày vì thay đổi phương tiện di chuyển. Xe đò, xe lam, xe ôm, cùng nỗi lo sợ theo anh từ nơi này qua nơi khác anh mới về được nhà.
            Những đôi mắt nhìn anh kinh ngạc, nhưng anh không còn sức lực để giải thích. Mà giải thích thế nào? Bây giờ, anh mới thực sự chạm trán nỗi hổ ngươi, nhục nhã.
            Biên ngả người nằm xuống nệm. Cơ thể nặng nhọc, mệt mỏi. Dù có mệt cỡ nào Biên biết mình sẽ không cách chi ngủ được. Anh muốn ngủ một giấc dài, muốn quên những thực tại vừa diễn ra. Nhà không có thuốc ngủ, ừ thì cứ nốc đại nửa chai thuốc ho cũng ngủ được thôi. Biên ngẫm nghĩ… và anh lại buồn rầu khi cầm chai thuốc ho trên tay. Quá khứ xa lắc xa lơ bỗng hiện về rõ nét. Trong căn phòng này, ngày xưa anh cũng từng cầm chai thuốc ho uống cạn trong lần nhập ngũ bị tóm cổ bắt về nhà. Nếu ngày đó, nhà có thuốc ngủ có lẽ anh đã tự tử, đã chết vì nhục và buồn. Chai thuốc ho này có khác gì chai thuốc của ngày xưa.
            
               Khi Biên đến cũng là lúc chuyến xe đò liên tỉnh vừa lăn rời khỏi bến. Nắng tháng Ba rát, bỏng. Mồ hôi đổ từng giọt, thấm ẩm lưng áo anh. Biên thoáng thấy người đàn ông chạy xe ôm đang đậu xe dưới một tàn cây chờ khách.
            Biên nhào tới đưa cánh tay chỉ về hướng chiếc xe đò đang chạy, anh nói giọng hổn hển:
            – Chú ơi, chú chở tôi chạy theo cái xe đò kia được không? Chạy theo cho tới khi nào nó dừng lại, thế nào xe cũng ngừng đón khách dọc đường.
            – Cậu điên hả? Làm sao tui đuổi theo kịp. Biết nó dừng lại ở đâu? Mà cậu định đi đâu?
            – Tôi phải về đơn vị gấp.
            Xe chạy liền liền. Trễ chuyến này thì cũng còn chuyến khác. Lính thiệt hay Việt cộng, hay tội phạm đây?
            Gã lái xe tròn mắt nhìn Biên đầy nghi hoặc:
            – Về đơn vị sao không mặc quân phục, quá giang mấy chiếc GMC. Đường này lúc nào chẳng có xe nhà binh chạy.
            Biên nài nỉ:
            – Đợi lâu lắm, chú làm ơn chở tôi đi. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả.
            – Mà đơn vị cậu ở đâu? Chính xác là cậu muốn đi đâu?
            Biên nhìn gã lái xe, xem ra gã có vẻ xiêu lòng.
            – Chú chở tôi về Trảng Bàng đi!
            – Xa lắm, không được đâu. Tôi chỉ có thể chở cậu tới Củ Chi thôi.
            Củ Chi, phải rồi, gần nhất là Củ Chi… Đi đâu cũng được, mình không thể đứng xớ rớ ở đây.
            Biên đưa gã tài xế những tờ giấy bạc rồi nhảy thót ngồi sau lưng gã. Xe chạy, mặt trời lên cao, không một gợn gió. Nắng chói lòa đổ lửa, tưởng chừng như thiêu đốt phần lưng áo, thịt da. Biên không biết mình đang ở đoạn đường nào? Bụi như khói mù che ngang tầm mắt, nhưng anh vẫn nhìn thấy bóng những người lính Quân Cảnh đứng phía xa.
            Gã tài xế lách xe hẳn vào phía trong con lộ để tránh một chiếc GMC đang chạy tới.
            Tạch tạch, đoàng đoàng, những tiếng nổ khô khan phát ra từ một lùm cây rậm rạp.
            Gã tài xế bất thần quay xe, xô anh ngã xuống lòng đường.
            – Tui không muốn chết. Cậu tự lo liệu đi!
            Biên lồm cồm ngồi dậy, lủi nhanh vào một con đường mòn. Hình như đang có giao tranh của hai bên. Chắc là Việt cộng phục kích. Mình sẽ bị bên nào bắt giữ? Chống cự hay tự bắn vào đầu?
            Biên sờ soạng túi quần tìm cây Colt 45. Anh đã mang nó theo, nhưng sao giờ không thấy nó? Mình đã đánh rơi nó ở đâu? Mất súng là một tội nặng. Biên hốt hoảng, mồi hôi tuôn ra đầm đìa.
            
            Biên bật dậy, chỉ là một cơn ác mộng. Còn trong trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ nhưng có một thúc đẩy mơ hồ dẫn anh bước tới chiếc tủ ở một góc phòng. Anh mở tủ mò mẫm tìm chiếc hộp sắt giữa bao nhiêu đồ vật, nơi anh đã cất cây súng đem về ngày hôm qua. Cây súng nằm gọn giữa những trái lựu đạn. Những trái lựu đạn mini đã được anh mang về từ lâu, từ ngày anh giã từ biên trấn. Anh buồn rầu chạm tay, mân mê những miếng sắt lạnh lẽo. Rồi mình sẽ làm gì với nó. Đời lính chiến của anh đã kết thúc nơi chiếc hộp này chăng. Hay ngày mai mình sẽ quay về chốn cũ?
 
     Cuộc sống quân trường gian khổ. Biết bao nhiêu đứa trốn lính, chạy chọt đủ cách để khỏi đi lính. Mày đã làm được cái gì nặng nhọc chưa mà đòi đi lính?
            Người cha ngồi trầm ngâm. Ông nhớ lại những câu nói ngày xưa ông đã từng nói với thằng con trai sau khi tìm cách lên phòng tuyển mộ tân binh bắt nó về nhà. Điều ông có thể làm được, vì ngày ấy nó chỉ tròn mười bảy tuổi. Cuối cùng thì nó cũng được toại nguyện với ước mơ. Cả nhà không ai ngờ nó lại chọn một binh chủng dữ dằn, trú đóng một nơi mà cộng sản thường xuyên tấn công, xâm nhập. Thôi thì lý tưởng của nó. Nhưng bây giờ thì sao? Thời gian nó về Sài Gòn làm lính tâm lý chiến chưa đầy ba năm, sao có thể làm nó nhụt chí, thay đổi đến tận cùng. Rồi điều gì sẽ đến? Ông sẽ không còn cách nào cứu được nó. Mà ai cứu được ai trong tình hình rối ren hiện tại. Hai thằng anh lớn trong quân ngũ, nhờ tài năng nên may mắn không phải ra chiến trường. Những đứa em của nó đang tuổi học hành, tương lai rộng mở. Trong gia đình, chỉ có nó lạc loài, tính ý khác thường. Và đời sống nó bây giờ còn khác xa hơn nữa.
            Từ lúc bước vào phòng, ông muốn nói với Biên nhiều lắm. Nhưng ông chỉ hỏi thăm vài câu lấy lệ về đoạn đường suôn sẻ đã đưa Biên về nhà. Và ông rời khỏi phòng sau khi buông ra một câu ngắn ngủi: Thôi thì cứ đợi coi tình hình ra sao!
 
            Biên nhìn qua khung cửa, những ngọn cây đương xuân thắm màu lá biếc khoe sắc dưới nắng trưa. Không gian êm ả, nắng thả xuống ngày những phiến thủy tinh lấp lánh. Mây trắng lờ lững với trời xanh. Thỉnh thoảng có vài tiếng chim kêu chiêm chiếp ở một lùm cây nào đó. Thứ không gian trong vắt, vời vợi yên bình trước mắt lại dấy lên trong hồn Biên một nỗi âm u buồn chán. Có bao giờ anh lắng lòng ngồi nghe một tiếng chim kêu.
            Chiến tranh chưa thực sự về thành phố. Dưới đường, bóng dáng một vài tà áo học trò thẩn thơ bước chậm. Những cửa tiệm buôn bán vẫn mở, người ra người vào. Dòng xe cộ vẫn huyên náo vùn vụt đi qua. Nơi chốn này, anh rời xa nó chỉ hơn một tuần mà sao cảm tưởng như đã "vật đổi sao dời". Sao trong lòng anh là một miền tịch liêu, vắng lặng. Giá như mình cũng được hồn nhiên bước ra đường, đi đâu đó như những con người tất bật ngoài kia.
            Biên cầm cây đàn rồi bỏ xuống. Những sợi dây đàn không rung nổi một âm điệu, nếu có chỉ là những tiếng khô khốc.
            Tấm áp phích treo trên tường có hình của một cô gái trẻ trung với mái tóc ngắn gọn kiểu con trai. Cô ca sĩ trẻ nhất ban nhạc, thích chơi trống và khá thân với Biên. Là một người trầm lặng, kín đáo nhưng hình như anh chỉ cảm thấy thoải mái khi trò chuyện với những cô gái tính tình bộc trực, đơn giản. Anh sợ sự điệu đàng, đỏng đảnh. Ai nhìn tấm hình to ngạo nghễ trong không gian riêng tư này hẳn sẽ nghĩ Biên yêu người thiếu nữ ấy. Ngay chính người trong ảnh cũng không biết Biên đã xin anh ký giả tấm quảng cáo cô ta ngay khi nhìn thấy. Cô không hề biết anh đã nâng niu dán nó trên tường, trong phòng ngủ của anh. Chỉ vì bức ảnh đẹp, nghệ thuật. Chỉ là một người bạn nhỏ dạn dĩ đáng yêu. Lạ lùng, bây giờ anh mới nhìn kỹ tấm hình và nhận ra mái tóc ngắn, nụ cười linh hoạt kia hanh hao những đường nét trên khuôn mặt của Diễm.
            Biên nghĩ, mình đâu phải là một tên tội phạm nguy hiểm vừa vượt ngục và kẻ đào tẩu đang bị cảnh sát lùng sục trên các ngả đường. Anh chỉ là một thằng lính vừa trốn trại và biết đâu sáng mai anh sẽ vượt đường trở về đơn vị. Sẽ bị những "củ" phạt như những thằng lính ba gai đào ngũ một hai ngày chỉ vì ham chơi, hay những lý do riêng tư nào đó. Ý tưởng "quay về" như những hơi thở nặng nề mệt nhọc trong một thân xác yếu đuối.
            Hay tối nay mình đến nhà gặp Diễm. Chỉ đi một đoạn đường ngắn, vòng qua bùng binh, rẽ vào con đường nhỏ, ra đường lớn, qua hai ba ngã tư là sẽ đến khu phố nơi Diễm ở. Anh chưa biết con hẻm nhà cô ở khoảng nào nơi dãy phố sầm uất, đầy những quán hàng và cả rạp xi nê. Anh đang mường tượng từng khoảng đường, từng góc phố. Nơi chốn ấy nào có xa lạ với anh. Nó không gần ngôi trường anh học, nhưng là nơi anh từng lang thang rong chơi với vài thằng bạn cùng lớp thời cắp sách đến trường.
            Anh sẽ cho Diễm biết mai anh về đơn vị mới, anh đến từ giã cô để Diễm đừng nhọc công đến phòng trà tìm anh nữa. Lý do hợp lý. Nhưng nếu ngày mai, ngày mốt anh vẫn còn đây sau những chấn song cửa này như một gã tù thì sao? Anh không thể nói dối.
            Biên thèm được gặp một ai đó trò chuyện trong lúc này. Ngoài Thuần và Phú anh chẳng còn một tâm giao tương đắc nào khác. Thuần thì không thể được. Biên vẫn còn nhớ kỷ niệm chuyến đi chơi nhạc ngoài Vũng Tàu, đêm lánh nạn ở Bà Rịa. Nhớ người thương binh hừng hực khí thế, giận dữ, chỉ muốn quay lại chiến trường khi nghe tiếng súng giao tranh. Thuần sẽ khinh bỉ anh đến ngần nào.
            Nhưng anh chẳng còn có thể đi bất cứ nơi nào. Căn cứ anh trú đóng đã không còn nguyên vẹn, chỉ sau ba ngày bị tấn công ào ạt. Một căn cứ phòng thủ mà cách đây hai năm đã xảy ra một trận đánh vang dội trong chiến sử. Một chiến thắng lẫy lừng nhờ chiến lược và sự liều lĩnh của vị chỉ huy, đã được các hãng truyền thông quốc tế ào ạt đưa tin ca ngợi.
            Cũng nơi ấy, hôm nay, người Tiểu đoàn trưởng đơn vị anh đã tử trận cùng hàng trăm binh lính. Số còn lại hoặc bị thương, hoặc đã bị bắt làm tù binh. Tin tức làm Biên rúng động. Anh thoát chết, nhưng bơ vơ trong cõi sống. Không còn đường nào để trở về. Không còn gì để chờ đợi. Nếu có, lẽ nào như thế! Anh không mong những suy nghĩ u tối trong đầu mình sẽ trở thành sự thật, nhưng ngoài nó, chẳng còn một ý nghĩ nào khác.
 
            Từ cao nguyên rồi đến những tỉnh lỵ đồng bằng, những địa danh lần lượt bị bôi đỏ trên bản đồ chiến sự. Sài Gòn rộn ràng vui đã mang một khuôn mặt nhốn nháo âu lo. Như một người bệnh, tưởng chỉ là những cảm cúm sơ sài, bỗng khám phá ra khối u nhọt ung thư đang loang dần từng phần trong cơ thể. Đã đến giai đoạn cuối rồi sao. Sài Gòn có cầm cự nổi?
            Tất cả những tụ điểm văn nghệ đều được dẹp bỏ. Không còn gì để làm, Phú rảnh rỗi hơn và cũng là người đã thường xuyên đến thăm Biên. Ủi an, bàn bạc, rủ rê, hối thúc.
            – Cậu đừng suy nghĩ, mặc cảm ăn năn. Việc làm của cậu không sai đâu. Cậu thấy đó, từ nơi này đến nơi kia, chúng ta đang dần mất hết. Cậu nên đi theo tôi!
            Theo Phú là con đường duy nhất để Biên quên hết hiện tại u ám. Theo Phú là đi đến một chân trời xa lạ. Là bước vào một đời sống khác. Là quên đi những lỡ lầm. Theo Phú cũng là chối bỏ quá khứ, quê hương, dứt bỏ tình thân ruột thịt.
            Ngày trước, Biên đã từng ước ao một cuộc sống tự lập, tìm mọi cách rời khỏi gia đình, trốn nhà đi lính khi chưa đủ trưởng thành. Nhưng bây giờ, ý nghĩ theo Phú di tản lại làm Biên băn khoăn, nghĩ ngợi. Rồi mình sẽ sống ra sao, làm gì nơi vùng đất không phải là quê hương, không cùng màu da tiếng nói.
            Biên thối thác bằng nỗi ngờ vực:
            – Hiện tại em không có một giấy tờ nào hợp lệ, làm sao em có thể an toàn vào Tân Sơn Nhất?
            – Cậu nhớ thằng Dick mà tôi thường kể cậu nghe chứ!
            Dick, đã từng làm việc cho tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, là bạn rất thân của Phú. Dick mới từ Thái Lan qua thăm Phú. Là cựu nhân viên của Lãnh sự quán Hoa Kỳ, Dick có đủ khả năng cấp cho Biên một giấy bảo lãnh, đưa anh vào tòa Đại sứ tại Sài Gòn và chờ được bốc đi di tản. Con đường nhà anh đến đường Thống Nhất nào có bao xa. Nhưng sự đắn đo của Biên thì giăng mắc trăm điều, kéo dài ngày này qua ngày khác. Cho đến ngày 24/4 khi  nghe tin Tổng Thống phải từ chức ra đi thì Phú cũng đã nghìn trùng. Tất cả đã trễ tràng, sai lỡ.
            Biên mang cây súng ra ngắm nghía. Khẩu súng ngắn chỉ dùng khi bước vào đường cùng trong cuộc tử sinh. Hình như anh chưa bắn một viên đạn tự vệ nào từ nòng súng này. Nếu có, chỉ là những thử thách ngoại lệ.
            Gần một tháng nay, đài phát thanh Sài Gòn chỉ phát ra những bản tin mà những xướng ngôn viên đã đọc lên một cách buồn bã. Là những tiếng nói dồn dập, nghẹn, nấc. Và bây giờ là một giọng nói khác, tiếng nói cuối cùng dõng dạc, lạ lùng trong chuỗi âm thanh rè rè chưa được sàng lọc.
            Yêu cầu Tất cả quân nhân các cấp phải buông súng…
            Đầu hàng thật sao? Biên không còn vai đeo súng để buông như mệnh lệnh. Anh chỉ có nó, cây súng ngắn đã cùng anh trốn chạy. Đã cùng anh phản bội quay mặt với chính nghĩa, lòng trung thành dũng cảm của một thằng lính. Có cần đầu hàng thêm lần nữa không?
            Đoàng! Tiếng động khô khốc như một nốt nhạc sai anh vừa bấm, hòa cùng một đoạn nhạc bập bùng đầy mai mỉa vang vang trên làn sóng điện.
            Rừng núi dang tay nối lại biển xa… (1)
            Những tiếng kêu hốt hoảng, những khuôn mặt vây quanh và bao nhiêu cặp mắt nhìn lên cái lỗ sâu hoắm trên trần nhà, thoảng mùi khói khét. Khuôn mặt ngưởi ca sĩ trong tấm poster vẫn vô tư, nhìn Biên cười mỉm.
            – Mày khùng hả Biên? Tại sao làm như vậy? Mày đâu phải là tướng lãnh, là những sĩ quan cao cấp. Thời nào cũng sống được!
            Bao nhiêu câu nói bật lên. Những câu nói của chính mình hay của mọi người đang vây quanh mình? Tai Biên lùng bùng. Biên không muốn nghe gì nữa.
            Anh nhìn cây súng lạnh lùng.
            – Mọi người yên tâm đi. Ngày mai, ngày mốt, nó sẽ biến mất khỏi nơi này.
            Biên cất cây súng vào vị trí cũ. Sẽ không ai có quyền giữ lấy khẩu súng này. Nó sẽ được nằm thanh thản dưới một đáy sông nào đó. Nó sẽ được chôn theo một quê hương đã bị bức tử. Nhưng mình thì sao? Anh cũng chỉ muốn bắn một phát súng vào đầu.
 
            Biên rời khỏi nhà, ra khỏi nơi đã tự giam giữ mình hơn một tháng dài dằng dặc. Là nơi dù bi lụy, anh còn thấy chính mình, còn những ước ao. Bây giờ thì đã hết. Cuộc đời cũ đã chết đã yên nghỉ dưới những lá cờ màu đỏ rực, phất phơ bay theo từng ngọn gió thở dài. Sài Gòn đầy những tiếng than van trầm uất sau một cơn mưa không đợi đúng mùa, rơi trong tức tưởi.
            Biên đi lang thang và hình như anh đang đứng trước khu nhà của Diễm. Nhà số mấy? Biên chỉ còn nhớ lờ mờ. Những giấy tờ, sổ tay ghi chép lưu giữ một thời làm lính trú nơi biên phòng Biên đã đốt. Giữa tâm thức hỗn mang, Biên không ngờ trong những thứ giấy tưởng bất ly thân ấy có cả địa chỉ nhà Diễm. Một cơn mộng du nằm trong thứ định mệnh, sai, lỡ. Nhà đã cháy, tất cả mọi thứ quý giá đều đã tro than.
            Biên đi qua những khu phố, nhìn những ngôi nhà cửa khóa. Những cánh cửa rồi sẽ mở ra. Nhưng Diễm mất hút từ ngày hôm ấy.
 
1/ Nối Vòng Tay Lớn (Trịnh Công Sơn)
 
ĐẶNG MAI LAN
 
* Trích (chương 18-19) truyện dài Nốt Cuối Một Hợp Âm
 Sách đã được phát hành trên librairie Lulu.com
 
 

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO

Huỳnh Liễu Ngạn

Tranh Đặng Can 1957
 
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố
mùa đi qua cho lá rụng xuống đường
tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ
khi mưa về làm ướt cả muôn phương
 
lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết
màu trời kia đã sáng xuống bên đồi
muốn che hết chút phận người quá mỏng
để thấy đời như hạt bụi rong chơi
 
sẽ là gì khi thời gian không đợi
cứ lãng du theo gió bão trên trời
biết là vậy mà quên đi một bữa
nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi
 
rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm
tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao
đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ
giữa đêm dài hư ảo với trăng sao
 
đừng chờ nữa một mùi hương đã chín
đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm
dù mơ ước khỏng thành mây trên núi
sao đợi hoài giọt máu chảy về tim
 
rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc
đem chải đầy từng sợi khói qua tay
lần này nữa quyết đưa hương lên áo
để níu về giấc mộng sót trên cây.
 
10.3.2026
HUỲNH LIỄU NGẠN

 

 

Monday, April 13, 2026

VIẾT LÚC HÔN HOÀNG

Hoàng Xuân Sơn
 
Hoàng hôn. Tranh Đinh Trường Chinh
 
Viết gì
rồi sẽ làm gì
Hay khoanh tay ngó ngày đi
lững lờ
Điểm xuất phát vẫn đứng chờ
Mây bay trên trán
Đạn thồ dưới chân
Tình thơ bạc tóc
xa
gần
Viết. như quyn một hồng ân của đời
Khi chờ ban phát tình tôi
Con sâu
Cái kiến
Biết mời gọi nhau
Viết. có khi nông
khi sâu
Viết từ tốn chút sắc mầu lãng du
Thưa em
mầu nắng chợt gù
Xin chạng vạng gối đêm thu
nguyệt trào
 
)(
H O À N G X U Â N S Ơ N
27 mars

  

Sunday, April 12, 2026

CAO VỊ KHANH. MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
 
Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường của nhà thơ Cao Vị Khanh.
 
 
Tranh Duy Thanh
 
viết bao nhiêu chữ cho vừa lệ
một cuộc tang thương, mấy đoạn trường (CVK)
 
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
 
CAO VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC
    Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.
 
    Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng, tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...
 
… người tù trẻ
trả súng rồi.
đêm khóc một mình.
(Tàn Cuộc- Ký Ức Tháng 4)
 
Ta đánh mất trái tim ngoài bãi trận
Lấy gì vui đắp đổi buổi tàn thu
(Lệ Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)
 
Sợi giây oan khuất treo đầu vực
Manh áo bào phai dấu trận mờ
(Góc Biển- Ký Ức Tháng Tư)
 
Lũ lượt người đi lên ải bắc
Tấc lòng mông muội nhớ mang mang
Máu xương đòi đoạn còn ngây dại
Bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng
(Điếu Khúc – Ký Ức Tháng Tư)
 
Còn những người đi chẳng thấy về
Những bồ mỹ tửu lạnh môi tê
Qua sông Dịch trắng thù chưa trả
Kiếm gãy cờ tan lạnh bốn bề
(Buồn Xưa)
 
Và đây là 4 câu thơ đánh bật ta ra khỏi biên giới của đau nhói, sững sờ, một nỗi gì như tâm tan hoang:
 
Ta đi rong khắp Nam cùng Bắc
Gom hế́t muôn ngàn vải tám thô
May đủ hai hàng cờ lá phướn
Treo lên trắng toát một cơ đồ
(Hành Tháng Tư- Ký Ức Tháng Tư)
 
Người đi lánh nạn cuối ghềnh xa
Không gió Nhạn môn vẫn sướt da
Lạc bóng Trường An từ lửa dậy
Tủi người mài kiếm dưới trăng tà
(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)
 
Chợt nghe gió hú dặm trường,
hồn Đặng Dung khóc tiếc đường kiếm hư.
Người về, thắp nến án thư,
họa bài Chính Khí, lệ từ nét ngang.
(Hận Xưa- Ký Ức Tháng 4)
 
Kẻ ngóng đầu non, đợi cuối gành
Đếm từng tiếng vạc suốt thâu canh
Đã lâu vắng bóng người qua ải
Ngâm tiếp cùng ta vạn lý hành
Kẻ sống như người chết loạn đao
Róc từng sớ thịt xẻ niềm đau
Trái tim từ buổi đời xuôi ngược
Đập chỉ trường thiên nhịp biển dâu.
(Góc Biển- Ký Ức Tháng 4)
 
Người thua trận chót đền trăm tuổi -tử sĩ đã đành-, mà kẻ sống cũng máu xương đòi đoạn:
 
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ
Mười năm đánh đổi chuyện keo sơn
Người thân biệt xứ lên rừng núi
Kẻ ngóng đầu non đến mỏi mòn
(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)
 
Ký ức nào bứt ra từ nấm mồ chung đáy biển xanh, để nay về trên chữ của người kể chuyện mắt nhắm không đành của tử thi, của hoang đảo nhuốm tiết trinh một thời huyết biển? Biển nào để tang, biển nào chứng nhân muôn đời của Dặm ngàn sinh mạng nhẹ như tơ…?
 
Mẹ gởi con đi ngoài biển lạnh
Bằng như cọng cỏ ném sau gành
Thuyền con mỏng mảnh trời đen kịt
Mẹ thức từng đêm mắt lạnh tanh
Con đi một sống trăm lần chết
Mẹ đứt từng khoanh ruột đoạn đành
(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)
 
Còn nấm mồ chung đáy biển xanh
Mắt khô trống hoác nhắm không đành
Những trinh tiết gái ngoài hoang đảo
Phơi trắng đầu doi cuối bãi gành
(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng 4)
 
Ai, ai là người cùng nhà thơ ngồi bên kho ký ức ấy, làm một lễ chiêu hồn:
 
Ta nằm úp mặt trên bờ cát
Nghe sóng tiền thân vỗ bập bùng
Bỗng thấy quê hương như có thật
Bên trời bạc trắng tóc rưng rưng
(Lệ Không Cùng- Ký Ức Tháng 4)
 
Ôi những mồ hoang người tử trận
Ai thắp giùm ta một nén hương
Ai khắc trên đầu bia đá tảng
Sống trung can chết vượt đời thường
(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)
 
Những tưởng mười năm đời sáng lại
Ta về bươi kiếm miểng xương khô
Vét hết oan khiên người lỡ vận
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
(Hành Tháng Tư)
 
Quê hương hư thực như môt niềm hy vọng lẫn ảo vọng… và những nấm mồ hoang là phế tích, là chứng nhân, chiến sĩ vô danh đã là hồn thiêng của núi sông. Tôi ngậm ngùi nhớ Khánh Lý đã hát …hòa bình hay chiến tranh cũng chỉ là rêu xanh bám trên nấm mộ hoang… (Những nấm mộ hoang- Lê Minh Bằng-1972)
 
CAO VỊ KHANH- VÀNG CÁNH RONG PHIÊU BẠT
 
Ta bỏ người. Không phải Ta xa người, “Bỏ” này đoạn trường biết mấy cái Xa kia. Thân phận cánh rong phiêu bạt, theo đưa đẩy vào cõi trời quen đất lạ, và cõi vô biên của thời gian. Ta mang mặc cảm rời bỏ, bên kia chân trời là Người-quê hương- đau đáu lệ kêu thương, cả hai dằn vặt tâm phủ nhau. Tội lỗi với Người chăng dù đó là cái Bỏ bị động, của bức bách?
 
Ta bỏ người đi biệt mấy thu
Người chờ mắt lệ mấy dòng sâu
Còn ta vàng cánh rong phiêu bạt
Đổ tắp ghềnh cao, nắng dãi dầu
(Lệ Biển Xanh- Ký Ức Tháng 4)
 
Như ngựa Hồ hí khi gió bấc về, người thơ mỗi khi rượu cay lại nghe mùi quan ải ngày binh đao, nhân lên ngàn lần nỗi dặm dài
 
Rượu nốc từng đêm sầu cặn lại
quê nhà xa huốt một đường bay
men cay có ướp mùi quan ải
mà nối xa thêm những dặm dài
(Túy Bút)
 
Để mũi tên đau: Lịch Sử- Ký Ức- Di chứng- cứ ghim hoài trong tâm thức. Mười năm được nhắc đi nhắc lại như tiếng đều đều của chiếc cối xay thời gian, tỏ bật nỗi phận gởi thân lê. Như vừa sống vừa chịu gia hình, …biết đâu bờ bến mà về/ linh đinh phận gởi thân lê xứ đày. Có thật không một nơi nào trên mặt đất hoang vu này, gọi là quê hương, mà để…ta sống như loài thú thất tung…? 
 
Ta sống mười năm kề cực bắc
Mười năm xuyên suốt mũi tên đau
Mười năm thương phế từ tâm phủ
Còn lại gì không ước nguyện đầu
(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)
 
Còn tấm thân cằn tẩm gió mây
mươi năm thắc thẻo chuyện sum vầy
mươi năm đuối mộng. Hèn vong quốc
rượu nhắp bên trời, cay. Rất cay.
(Túy Bút)
 
Chờ ai mà nghe mòn mỏi. Như thể đi xuyên qua ta, thời gian đã để lại lời nguyền lỗi hẹn, Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi… 
 
Có bữa chợt thấy lòng đau dội
Đau suốt con tim đến lạ thường
Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi
Bên trời đau đáu lệ kêu thương.
(Quê Hương- Ký Ức Tháng 4)
 
Vì đó không phải là cái xa của cách trở dặm dài, nó là cái xa của máu lệ những người khuất mặt. Hai câu thơ dưới dây nghe đẫm phận hoài, tình nào có thể nối lại nghìn trùng máu lệ kia, lịch sử ơi!
 
Quê xa đâu phải ngàn dặm mỏi.
Xa tự muôn trùng máu lệ xưa…
(Ký ức 1)
 
Cõi đợi đã không, cõi mộng cũng gần như trắng tay, nó chỉ là những dặm đường đầy chua chát của bước đi không trọn:
 
Đã đuối phong trần, đẫm gió mưa
Đêm còn đuổi mộng? -những dặm thừa
(Ký Ức 1- Ký Ức Tháng 4)
 
Và đúng là nỗi đau dội, khi nhìn lên trời, một ngày đầy mây, có lời thơ vỡ ra:
 
Sao vẫn ngùi thương chuyện bể dâu
Bao nhiêu xương cốt vùi chung chỗ
Đã bốc thành mây. Mây trắng phau
(Mây Trắng)
 
Mây trắng, một biểu tượng đầy thiền vị cho sự phù du, vô thường, giờ là hồn cốt của bao oan khiên, đã đi qua lịch sử và giờ ở đó, -mây trắng phau- là sự thong dong của giải thoát chăng, mà sao khi nhìn nó cùng với câu thơ này tôi không tránh khỏi rợn buồn, ngùi ngùi cho một níu kéo.
 
Và có phải đây là bờ vực khi con người bị dồn vào biên giới của chịu đựng, phủ nhận tất cả, kể cả ẩn dấu một cảm thức hiện sinh, tại sao ta bị ném vào sự tồn tại này. Cánh rong phiêu bạt, một trạng thái không định hướng, đẩy tồn tại ấy đồng nghĩa với hư vô, và cơn đau dội kia như một cú choáng khiến người đâm ra ngờ vực, cả đến chất vấn con chữ. Chẳng lẽ không còn gì ngoài sự chịu đựng? Tôi không tin như vậy, bởi còn một dấu hỏi sau chữ Phù Vân kia.
 
Còn tôi với bóng. Một tôi
Với trăm xác chữ lạc loài kêu than
Năm mươi năm lệ đã tràn
Nghĩa nhân đã nát, đá vàng đã phai
Chữ-nghĩa hẳn cũng phận bày
Đọa đày cố quận… rạc rày ý thân
 
Ới ơi chữ-nghĩa! Phù vân?
(Xác Chữ)
 
ngồi chia với tượng nỗi lòng
mặt tôi với mặt tượng đồng, y chang.
(Túy Bút)
 
Người chờ cho hết đời cô quạnh
Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh
(Hành Tháng Tư)
 
Chờ bao giờ hết? Đời là trăm năm và cuộc chờ kia vô tận. Và đã bao tượng chờ ở thế gian này?
 
Và Biển. Ở đây, biển thời gian: Cuộn- Xóa- Lấp. Thời gian đang làm công việc của nó. Ký ức là sự tỉnh thức của ta, ta hiện hữu vói nó, không chỉ hẳn là gìn giữ quá khứ mà là một mốc cho ta biết cội rễ của lưu vong. Và để, nhân ái, Xóa vết thù xưa
 
Biển Bắc chon von tận đỉnh trời
Âm hàn nhọn sắc xé da tươi
Tai nghe tiếng sóng thời gian cuộn
Xóa vết thù xưa, lấp dấu người.
(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)
 
Xóa vết thù xưa… xóa vết thù xưa… Nhẹ nhàng như đang lật qua một trang sách. Chỉ còn Tình Người.
 
 
KẾT TỪ
 
Trong khép lại tập thơ Ký Ức Tháng Tư này, tôi đọc những câu mở ra của Khúc Đoạn Trường (trường thi,155 đoạn) của Cao Vị Khanh, đã đẩy tôi đến nhiều suy tư.
 
Không biết đây có phải là khoảnh khắc người thơ đối diện với hư vô chăng:
 
Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra.
Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ.
Không có chi. Không còn chi.
 
Cả ba câu thơ trùm một không khí cô đơn của thất lạc, của nỗ lực đang tìm lại mình, như một nghi vấn hiện sinh tôi là ai nếu không còn lại gì?  Và về sự phi lý của cuộc tồn tại như nhà văn Albert Camus đã nói, có phải đó là ý thức trần trụi về sự hiện hữu? 
 
Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra. Không ghi nhớ, không phán xét, không ký ức, chấp nhận thực tại cuộc sống với những phi lý hiển nhiên.
 
Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ, -thống khổ không được trân trọng sao-? Rỗng đây là một vết thương, thế giới này không phải là nơi cân đo cho nỗi đau, và thân phận con người là điều mà thế giới này không quan tâm.
 
Không có chi. Không còn chi. Chỉ thấy sự im lặng, vắng bặt, trống không. Không còn hình ảnh, ký ức, ẩn dụ, biểu tượng… nghĩa là tất cả những gì thuộc về “trước đó” bỗng biến mất. Như thể hư vô. Ngôn ngữ co lại thành một điểm: Không. Một phủ định, câm nín, thúc thủ.
 
Và. Qua những chặng đó, tôi dừng chân ở một liên tưởng khác thuộc Phật học:
Nhận thức vô thường trong tất cả sẽ qua đi. Không còn Ta nào để thống khổ. Và một rốt ráo Không của Buông Bỏ, để rỗng rang trong sáng. Lúc đó không phải đối diện với hư vô, mà là Tự Do.
 
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Upland, tháng 11-2025
 
Giới thiệu link để đọc bài thơ Hành Tháng Tư của Cao Vị Khanh: