Saturday, August 1, 2026

ĐỌC TẢN VĂN. ‘BÓNG BAY GIÓ ƠI’ CỦA NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tô Đăng Khoa

Bìa sách Bóng Bay Gió Ơi
của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh.
 
PHẦN 1. VỀ TÍNH HỘI TỤ CỦA “MỘT TẢN VĂN DỊ THƯỜNG”
     “Bóng Bay Gió Ơi” là tác phẩm thứ chín của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) phát hành đầu năm 2015. Đó là tập tản văn mà Phan Tấn Hải gọi là “một tản văn dị thường” trong lời bạt cuối sách. Theo chỗ tôi hiểu, sự “dị thường” đó chính là tác dụng của ngôn ngữ NTKM lên tâm thức của người đọc.
Thành công NTKM trước hết về mặt mỹ học là cách chọn chữ rất chuẩn xác để lột tả những nét riêng và chung của những cảm xúc phổ quát, thuần khiết, tiềm ẩn trong các mối liên hệ linh thiêng huyền nhiệm giữa người-với-người và người-với-thiên-nhiên. Các tản văn được viết ra đều đẹp như thơ, thâm trầm, nhẹ nhàng, và bay bổng như là “bóng bay gió ơi.” Nhưng ở tầng sâu hơn, sự phối hợp tài tình của những con chữ trong tản văn NTKM đã thành tựu một sự kiện “dị thường”: nó truyền tải những ký ức (rất riêng tư) của NTKM thẳng đến tầng sâu vô thức của người đọc. Tại đó, chúng đánh thức những ký ức rất xưa cũ trong lòng ta, những ký ức mà tưởng chừng đã vĩnh viễn bị chôn vùi trong những bôi xóa của thời gian trong suốt một đời lang bạt.
Phút này đây, trong tâm thức của người đọc, một tác dụng “dị thường” xảy ra: biên giới của thời gian, không gian bị xóa nhòa. Ký ức ngủ quên bấy lâu được đánh thức bởi ngôn ngữ NTKM sẽ tái hiện thành cái-đang-là của thực tại ngay trong tâm thức người đọc.
Phút này đây, thực và mộng đan lẫn vào nhau, ký ức riêng lẻ của tác giả và độc giả sẽ hòa tan trong phối cảnh ngôn ngữ NTKM để trở thành một “ký-ức-chung.” Nói cách khác, ngôn ngữ NTKM sẽ đánh thức các ký ức trầm ẩn rất sâu tiềm thức của chúng ta và đưa nó về, tái hiện ngay trên hiện tại để cùng với tác giả chiêm nghiệm lại tất cả “cảm xúc phổ quát” của những mối liên kết huyền nhiệm giữa một “thực-tại-người” với “những-cái-còn-lại” của vũ trụ bao la.
Thành quả đáng kể nhất của các “tản văn dị thường” chính là sự hình thành, và sự gìn giữ lại một “ký-ức-chung” giữa tác giả và những độc giả có thái độ trân trọng thích đáng đối với giá trị của ngôn ngữ. Chính cái “ký-ức-chung” này sẽ trở thành mối liên kết huyền nhiệm khác mang ý nghĩa hội tụ. Nó thiết lập ra “ngôi-nhà-chung” và cho phép chúng ta an trú trước cơn “bão cát sa mạc” của thời gian. Nó cho phép chúng ta chỉ trong một-niệm, nhắm mắt lại, khép lại hai hàng mi là có thể kinh nghiệm trở lại “niềm hạnh phúc có một “nhà quê” để gậm nhấm lúc chia xa...”.
Sự “dị thường” của việc nhận ra “ngôi nhà chung” này là: Ngay cả ý nghĩa của cái chết, mà bản chất chỉ là một sự chia xa, cũng không làm chúng ta nao lòng được nữa. Vì lẽ? Vì chính ta đã biết được “lối về” của ngôi nhà chung đó, và ta cũng “biết như thật” thế nào là “niềm hạnh phúc có một nhà quê.”
Vì thế, tuy hình thức của bút pháp là tản văn, hiểu theo ý nghĩa phân kỳ, lang bạt; nhưng nội dung của các “tản văn dị thường” này của NTKM lại mang ý nghĩa của hội tụ. Đó là “sự hội tụ” của một “nhà quê chung” không có phân biệt sắc tộc, biên giới, giới tính, hay tôn giáo.
“Sự hội tụ” này được thành tựu không phải qua các khẩu hiệu ồn ào kêu gào đoàn kết, không qua các cuộc cách mạng đẫm máu, không qua lý luận suy diễn của chủ nghĩa duy lý, duy vật; mà qua của những “cảm xúc chân thật vàng ròng” của các mối liên hệ linh thiêng, huyền nhiệm giữa người-với-người và người-với-thiên-nhiên.
Một tản văn nhưng lại có tác dụng hội tụ rất thần diệu như thế thì thật đáng để được gọi là “một tản văn dị thường!” Một cách nào đó, với ngôn ngữ tuyệt mỹ và chuẩn xác của mình, NTKM đã làm cho tái hiện lại trọn vẹn ký ức riêng/chung cho cả chính mình và độc giả với tất cả chi tiết và sự tinh tế đến độ kinh ngạc.
Giờ đây xin bạn hãy thử thả lỏng chính mình và làm y theo lời hướng dẫn cụ thể của tác giả để thử kinh nghiệm ký ức chung đó, tức là bạn hãy khoan thai làm theo đúng trình tự các bước chuẩn bị như sau:
(1) Theo cảm xúc mà đi.
(2) Nhắm mắt lại.
(3) Phút này đây.
Và sau đó hãy buông, phó thác cho ngôn ngữ NTKM làm công việc “dị thường” của nó:
“Theo Cảm Xúc Mà Đi”:
“... Nhắm mắt lại. Phút này đây.
... như nghe được hương trâm trâm bên vệ đường rầy xe lửa về quê nội, ai biết được mầu lấm tấm ngũ sắc kia đã cấy trong tôi mùi quyến luyến quê nhà đến vậy. Hễ chìm vào là nghe tiếng xe lửa xập xình, ánh nhìn cô gái nhỏ chạy lùi theo những hình ảnh vụt qua, bụi cây, ngọn núi, chiếc cầu nhỏ, những ô lúa xanh và con mương ốm chạy ngoằn ngoèo theo bờ ruộng. Lại như nghe được cả mùi thơm của đất bùn, đất ải quyện lẫn mùi phân trâu bò, mùi rơm rạ trong nắng trưa. Nếu không có một tuổi thơ gắn bó với mùi hương ấy thì chắc tôi không thể nào cảm được trọn vẹn cái êm ả, bình yên, mộc mạc của một làng quê, không chia được với ai kia nỗi nhớ nhà, không xẻ được với ai kia niềm hạnh phúc có một “nhà quê” để gậm nhấm lúc chia xa...
... và mênh mang hồ sen của một ngôi chùa sư nữ ở cạnh nhà thời thơ ấu, chắp cho tâm linh ta đôi cánh... có phải không trong tiếng tập vần hai chữ nhân ái thấm đẫm hương tinh khiết của cánh sen hồng, và tiếng chuông chùa đi chậm?
... và phổ độ hơn hết trên đời, “ba ơi mẹ ơi!” tiếng gọi đánh thức từng tế bào nhỏ trong thân thể ta, xao xuyến những dòng li ti màu đỏ đang chở nhịp sống. Mỗi bước ta đi là say mê theo mùi hương núm ruột đã một lần cắt lìa khỏi ta trong giây phút nhiệm mầu của khai sinh, “con ơi!” tiếng oa oa cột ta một kiếp người, lặn lội trôi theo...
... có phải hương một lời gọi ủ từ đóa hoa tiền kiếp, tới giờ long lanh nở đá vàng, cùng nhau nắng sớm mưa khuya, “mình ơi!” ...
... tiếng hòa âm trong phút giây gọi “bạn ơi!” này bàn tay nắm lại cùng nhau. Ngọn lửa nhóm sáng một vòng quây quần, mỗi lúc chúng ta lại chụm thêm mỗi nụ cười, hương bầu bạn cho ngắn lại đêm thâu đường dài bạn hỡi...”
Sau mỗi tiếng gọi nhau: “ba ơi!, mẹ ơi!, con ơi!, mình ơi!, bạn ơi! bạn hỡi!”, chúng ta như được kinh nghiệm trở lại, ngay trong phút này đây, những “cảm xúc vàng ròng” phổ quát nhất của những sợi dây huyền nhiệm và thiêng liêng kết nối chúng ta với toàn thể sự sống.
Đó là những tản văn tuyệt mỹ, nó lãng đãng như những “ký ức của bóng.” Nó bay bay trong gió (ôi “bóng bay gió ơi!”) trong tiềm thức của ký ức chung/riêng không có thời gian. Tác dụng dị thường của nó là: “chắp cho tâm linh ta đôi cánh... trong tiếng tập vần hai chữ nhân ái thấm đẫm hương tinh khiết của cánh sen hồng.” Chúng ta có nghe được gì không, trong âm vang của “tiếng chuông chùa đi chậm?”
Đọc những tản văn trên tôi chợt có một ý nghĩ: Ước gì tản văn NTKM được đưa vào các bài tập đọc vỡ lòng của các em học sinh. Cũng như tôi đã từng học thuộc lòng bài tập đọc “Tôi đi học” của Thanh Tịnh. Tôi ước ao các em học sinh của các thế hệ mai sau sẽ biết cách gìn giữ các “ký-ức-chung” hay là “ngôi-nhà-chung” của những cảm xúc phổ quát về các mối liên kết rất huyền nhiệm của nhà quê, của ngôi chùa làng, của cha mẹ, của gia đình, của bạn bè đã được NTKM tái hiện trong những “tản văn dị thường” này.
Tôi cam đoan chắc chắn rằng những tản văn của NTKM nếu được dịch sang các thứ tiếng khác, thì “cảm xúc vàng ròng” đó vẫn không hề thuyên giảm hay mai một. Vì nó là cảm xúc chung mà con người ai ai cũng có. Ai sống trên đời này mà không có một quê hương? Không có một người cha, người mẹ, bạn bè, người thân?
Giờ đây giữa những xiêu đổ hoang vu của nền văn minh hậu hiện đại, chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ, và giúp cho các hế hệ mai sau của con cháu chúng ta gìn giữ “ngôi nhà chung” cùng với “ký ức chung” đó:
“Căn nhà chung” đó phải chăng là “cái-quý-giá-nhất” trên thế gian này? Nó quý giá đến nỗi Bùi Giáng phải lặn lội trong sanh tử luân hồi từ ngàn xưa trở lại chỉ để trao tận tay cho chúng ta, phó thác cho chúng ta cùng nhau gìn giữ nó? Như là gìn giữ một “bảo bối” giữa sức tàn phá khôn kham của hư vô:
“Đời xiêu đổ từ ngàn xưa anh trở lại
Giữa hư vô, em giữ nhé chừng này” (Bùi Giáng)
Ôi! Nhà Quê chung! Xin em hãy giữ nhé: chừng này!
 
PHẦN 2. NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - BÓNG CON MÃNH ĐIÊU TRÊN DÒNG CẢM XÚC-
     Trong Phần 1, “Về tính hội tụ của một tản văn dị thường” chúng ta đã ghi nhận giá trị “hội tụ” của một “Nhà Quê chung” qua ngôn ngữ có tính chất tái tạo cảm xúc rất sinh động của NTKM. Trong phần 2 này chúng ta đặt câu hỏi là: “Do nguyên nhân nào mà NTKM lại viết được như thế? “Bí quyết” của sự thành công của NTKM nằm ở đâu?”
Thật ra “bí quyết” đó tạm gọi là “bí quyết” mà thực không phải là “bí quyết”. Với tâm hồn nhân ái và rộng mở như NTKM, nữ sĩ sẽ không bao giờ giữ riêng cho mình “bí quyết” nào. Không những thế, NTKM còn có chủ ý phơi bày nó một cách rất trang trọng ngay trong tựa đề của bài thứ nhất của tập tản văn. Bí quyết đó nằm gọn trong năm chữ như là một tấm bảng chỉ đường: “Theo Cảm Xúc Mà Đi”. Nói cách khác: “sự quan sát tinh tế, như thật các cảm xúc của chính mình” là “bí quyết” thành công của NTMK. Chúng ta hãy nghe chính NTKM nói rõ hơn về điều này trong bài “Thơ ơi”- Ký Ức của Bóng (2013):
“...Lời tôi viết
Là tấm gương soi cảm xúc tôi từng lúc,
Tôi viết nên bài thơ
Chẳng phải bằng con ruồi giả - như người ta câu cá”
(Trích “Thơ ơi!”- Ký Ức của Bóng)
Ở đây điều ghi nhận trước hết là NTKM không hề có ý khai thác cảm xúc của giác quan thi sĩ trời cho của mình để “câu” độc giả như người ta câu cá. Thi sĩ chỉ viết về cảm-xúc-thật của mình, trầm tĩnh quan sát nó, không hề bị dòng cảm xúc dâng trào đó nhận chìm hay cuốn trôi. Không những thế NTKM còn kiên nhẫn lắng nghe ý nghĩa của từng con chữ để chọn từ cho thật thích hợp và chuẩn xác, từ đó khai mở vùng trời hoàn toàn mới lạ cho ngôn ngữ Thi Ca. Bất cứ ai khi viết với thái độ trân trọng thích đáng như vậy đối với ngôn ngữ, và biết lắng nghe tiếng của từng con chữ, thì thành quả đương nhiên phải tới. Qua các tác phẩm của mình, NTKM đã phơi bày được cốt lõi tinh túy nhất của hoạt động tư duy của con người, tức là thông qua tư duy “mối-liên-hệ-sâu kín-giữa-cảm-xúc-và-ngôn-ngữ” được thiết lập. Sự thiết lập đó cũng chính là mục đích chính của tư duy: phản chiếu “cái-đang-là” của thiên nhiên, lên cấu trúc quy ước của ngôn ngữ thông qua “sự hội tụ” của các cảm xúc đang được kinh nghiệm trực tiếp trên tự thân. Vai trò của cái gọi là “thực-tại tự thân” (Heidderger gọi là Dasein) cũng được “tiết lộ” trong tiến trình tư duy này, nó như là một tấm gương soi giữa hai thế giới của cảm xúc và tư tưởng, mà trong đó Dasein là nhân chứng. Và từ đó, trong các tác phẩm của NTKM, chúng ta nhận thấy mối liên hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc được thiết lập như là “bóng” với “hình” trên “tấm gương nhân chứng” trong veo và rất mực nhân ái của NTKM.
Chính qua “sự phản chiếu” này mà những cảm xúc rất riêng tư, mong manh, nhẹ như cơn gió thoảng của thi sĩ sẽ hóa thân thành chiếc “bóng” đầy màu sắc bay rợp cõi thi ca NTKM. Chính qua “sự phản chiếu” này mà ranh giới giữa mong manh và vĩnh cửu cũng sẽ bị xoá nhòa.
“Bóng bay gió ơi” nhận thức trên bình diện đó, chính là hình ảnh ẩn dụ cho sự giải thoát của các cảm xúc hữu hạn được cảm nhận trong thân phận nhỏ nhoi của con người vào để hòa nhập vào cái vô hạn và không có thời gian của ngôn ngữ Thi Ca.
Tư duy, hiểu theo ý nghĩa của “sự phản chiếu” cảm xúc một cách như thật trên ngôn ngữ là điều cực kỳ khó. Nó đòi hỏi rất nhiều điều ở một thi sĩ. Trước hết, đó là thái độ điềm tĩnh chấp nhận vô điều kiện, toàn diện “cái đang là” của dòng cảm xúc. Tức là không có ý định, dù chỉ là mảy may, làm thay đổi, bám víu, hay là xua đuổi các cảm xúc, êm đềm hay khó chịu được cảm nhận trên tự thân. Thứ hai, nó đòi hỏi một thái độ kiên nhẫn, không vội vàng, để sống trọn vẹn trong “phút mong manh giữa những từ” để chọn ra “đôi ba hạt lúa chín” như là những từ ngữ “hột chắc” thật chuẩn xác và có độ phổ quát cao để mô tả các cảm xúc đó.
...Sau vụ mùa
Tôi chỉ đem về nhà được đôi ba hạt lúa chín
Chút màu vàng của nó lấp lánh trên tay
Làm tôi đã vô cùng sung sướng...
Bài thơ hoàn tất, dù là một điểm hẹn quyến rũ,
Nhưng phút mong manh giữa những từ
Lại là lúc đoá hoa đang nở. Đang tỏa hương.
Tôi có gì đâu phải vội.
(Trích “Phút Mong Manh Giữa Những Từ”- Ký Ức Của Bóng)
Chính vì không vội vàng, không bị quyến rũ bởi sự hoàn tất một bài thơ, mà thơ của NTKM lúc nào cũng như một “đoá hoa đang nở. Đang tỏa hương.” Hương vị Thi Ca và các cảm xúc được chuyên chở bằng ngôn ngữ NTKM trở thành các “cảm xúc đang là” trong lòng người đọc ngay trong phút này đây.
Nói tóm lại, cái nhìn thấu suốt các cảm xúc vi tế của tự thân và thái độ bình thản, kiên nhẫn, khiêm cung đối với cách chọn ngôn ngữ diễn đạt trọn vẹn nội dung các cảm xúc đó chính là yếu tố thành công của NTKM. Điều này được độc giả tự cảm nhận trực tiếp trên các tác phẩm của NTKM. Qua các tác phẩm đó, chúng ta nhận ra hình bóng của một “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc”. Đó là hình ảnh của một con “ó biển” (seahawk) mà không biết có phải là tình cờ hay có chủ ý, hình ảnh con mãnh điêu đó cũng xuất hiện trong chữ “ó” màu đỏ duy nhất trong tựa đề tập tản văn: “Bóng bay gió ơi*” toàn màu đen. (*Hình bìa của Bóng Bay Gió Ơi xuất bản năm 2015)
Con ó biển là một loại mãnh điêu có tốc độ bay rất nhanh và đặc biệt là đôi mắt rất tinh anh, có khả năng nhìn thấu suốt các loài cá đang bơi dưới dòng nước, ngay cả ở một độ cao trên 1600 mét.
Cũng giống như thế, NTKM chính là “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc” của nhân gian. Thi sĩ có một cái nhìn thấu thị các “cảm xúc đang là” của tự thân. Thi sĩ cảm nhận được tính cách mong manh dễ tan vỡ của các cảm xúc cho nên đã dùng ngôn ngữ thi ca để “phổ độ” cho chúng thành những “bóng” và thả cho các cảm xúc đó bay rợp cõi Thi Ca của mình. “Bóng Bay Gió Ơi” là tiếng reo mừng, mang ý nghĩa của một sự ký gởi “cái mong manh” vào “cái vĩnh cữu”. Sự gửi gấm đó là giấc mơ rất thơ và đầy tính nhân ái của một “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc.”
Đối với NTKM thì: “... Lời tôi viết, Là tấm gương soi cảm xúc tôi từng lúc”. Đó là lý do vì sao tôi mượn hình ảnh ẩn dụ của “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc” để nói về thi sĩ NTKM với tất cả lòng biết ơn trân trọng. Thi sĩ nhìn rất rõ các cảm xúc như con ó biển nhìn thấy cá bơi lội dưới dòng nước. Với tốc độ và sự chuẩn xác khó tin, con ó biển lao mình vào dòng nước và quắp con cá bay lên không trung. Cũng thế với sự nhạy bén và chuẩn xác trong ngôn ngữ, NTKM đã quắp chính xác các cảm xúc riêng của mình biến chúng thành phổ quát và thả nó lên vòm trời Thi Ca cho tất cả chúng ta cùng thưởng lãm. Hãy nhìn kìa: “Bóng Bay Gió Ơi”
Trong sự “phơi bày” về cái-đang-là của cảm xúc này, chúng ta nhận thấy rằng “cái-đang-là” được đưa vào trong ngôn ngữ diễn đạt của Thi Ca. Ngôn ngữ Thi Ca trở thành “nhà quê chung” cho “cái-đang-là” an trú. Căn nhà chung của ngôn ngữ Thi Ca này là nơi cư ngụ và “hội tụ” của các hoạt động tư duy con người. Những ai tư duy, và sáng tạo với ngôn ngữ chính là người quản gia của căn nhà chung này.
“Căn nhà chung” đó, còn được NTKM khai triển một cách cụ thể hơn qua hình ảnh “Mái Ấm”. Hãy nghe lại ngôn ngữ mà NTKM sử dụng để mô tả một “Mái Ấm” đó:
“Ngôi nhà, nơi không chỉ là những người trong một gia đình sống với nhau, mà còn là chia sẻ một cách rất người với không gian đó nữa, làm cho ngôi nhà ngoài hình thức cụ thể, còn có một nội dung “phi vật thể” rất đỗi sống động. Nó có chung với mình những trôi chảy thời gian, hòa cùng nhịp đập mỗi ngày sống, nên nói thật đúng, nó là một người thân, hơn nữa, một người anh cả chở che, và chiếm một chỗ rất đường bệ trong kho ký ức của mỗi người trong gia đình, tôi tin thế... Theo tôi, một ngôi nhà đẹp là ngôi nhà mà khi bước vào, người ta cảm được ngay cái đang là của nó, là khí ấm.”
Xin cám ơn Khánh Minh đã cho tôi một cảm nhận rất cụ thể rõ rệt về “cái-đang-là” của một “Mái Ấm”. Cám ơn ngôn ngữ trong veo của Khánh Minh đã giúp tôi tái hiện lại một vùng “Ký Ức của Bóng”. Và sau cùng cảm ơn Khánh Minh vì tôi đã nhìn thấy “sự giải thoát của Bóng” đi từ cái mong manh hữu hạn đến cái miên viễn không có thời gian trong “Bóng Bay Gió Ơi.”
TÔ ÐĂNG KHOA
Califorina 03.11.2015
 

16 BÀI HAIKU GỞI CÁNH ĐỒNG XA

Nguyễn Đức Nhân
 
Thơ Haiku. Tranh cổ
 
1.
Lẫn trong ánh trăng mờ
khàn khàn tiếng chim vạc
Xơ xác nón bù nhìn
 
2.
Sau cơn mưa đầu mùa
đàn mối cánh tung tăng
dự lễ hội áo dài
 
3.
Những con bướm đêm
hành hương về nơi phát sáng          
đã chết dưới chân đèn cầy
 
4.
Lững lờ qua xóm núi
phiến mây chiều dừng lại lắng nghe
tiếng đàn cò da diết
 
5.
Cành hoa hoang dại trên ao
cá lên đớp nắng
rập rờn bóng chao
 
6.
Trưa nắng dội trên đường
ve sầu ơi, dừng ca hát
dưới cội cây, có kẻ vừa ly hương
 
7.
Cây tùng chưa hề thay lá
đàm chim chưa bay khỏi đám mây
Ồ, bức tranh thêu ngày ấy
 
8.
Khệ nệ khiêng về hang
qua vài đêm thóc mọc
đàn kiến ngỡ ngàng
 
9.
Đèn chong hắt bóng lên tường
thiếu phụ ngồi như tượng
gà eo óc trong sương
 
10.
Trên đường xuôi ngược mưu sinh
đàn kiến lăng xăng, tất tả
vẫn ân cần chạm râu
 
11.
Đêm đông
bé con ôm lấy mẹ
chim cú kêu sau nhà
 
12
Nước hồ thu trong xanh
chiếc lá lìa cành, bóng và hình không hẹn
gặp gỡ giữa mặt hồ thu xanh
 
13
Con gà mái tơ nhảy ổ
đẻ xong, cục tác
báo tin vang nắng chiều
 
14
Rạng sáng ra thăm vườn
nghe tiếng chuông xa vắng
ngân thơm hương dạ lan
 
15
Cánh đồng sau mùa gặt
đôi chim sáo đứng hót
trên cánh tay người bù nhìn
 
16
Trong quán vắng,
từng giọt cà phê rơi
đêm mùa thu
 
(Tiếp xúc thực tai, ý nào đến, ghi lại, không sắp xếp theo mùa)
NĐN - 2026
 
 

Tuesday, July 28, 2026

GIỮA SÁNG TẠO VÀ TRỘM BẢN QUYỀN

Phan Tấn Hải
 
Ca/nhạc sĩ Taylor Swift

Hoa bốn cánh trên logo tiệm trà Molly Tea

Làm thơ, viết truyện, soạn kịch, soạn nhạc, hay vẽ... chúng ta sáng tác, có thể hoàn toàn không mượn từ người xưa? Hiển nhiên là chúng ta đã học từ rất nhiều vị thầy, từ ca dao, từ truyện cổ tích, từ các vị thầy nơi trường lớp, từ vô lượng các sách chúng ta đã đọc. Tuy nhiên, tới mức nào thì một bài thơ, hay lời một ca khúc có thể  bị xem là vi phạm tác quyền dể bị thưa kiện, đường biên hẳn rất là mong manh. Đặc biệt là khi sáng tạo từ những ký ức chúng ta không thể nhớ tới cội nguồn.
 
   Các báo Hoa Kỳ hôm 7/7/2026 ghi nhận về phán quyết của thẩm phán Aileen Cannon của tòa liên bang tại Florida đã bác bỏ vụ kiện do nhà thơ Kimberly Marasco, cáo buộc nhạc sĩ Taylor Swift sao chép các chủ đề và ý tưởng của chính bà Marasco để sáng tác những ca khúc như "The Man", "The Great War", "I Can Do It with a Broken Heart" và nhiều bài khác.
    Trong số các cáo buộc nhắm vào những ca khúc được cô Swift phát hành từ năm 2019 đến 2024, Marasco cho rằng Swift đã vi phạm bản quyền bài thơ "Ordinary Citizen" của bà — bài thơ có câu: "I'm running behind / You say it's His word against mine" (Tôi đang chạy phía sau / Anh nói đó là lời của Ngài nghịch với lời của tôi) (Ghi chú: chữ Ngài viết hoa ám chỉ Thượng đế) — thông qua ca khúc "The Man" của Swift, bài hát có đoạn: "I'm so sick of running as fast as I can / Wondering if I'd get there quicker if I was a man" (Tôi quá mệt mỏi với việc phải chạy nhanh hết sức có thể / Và tự hỏi liệu mình có đến đích nhanh hơn không nếu tôi là đàn ông).
    Nhà thơ Marasco nói rằng cả bài thơ lẫn ca khúc của Swift đều mô tả hình ảnh một người phụ nữ làm việc trong môi trường công sở do nam giới thống trị.
    Nhà thơ Marasco cũng cáo buộc ca khúc "The Great War" của Swift (với lời bài hát "Diesel is desire, you were playing with fire" - Dầu diesel là ham muốn, anh đang đùa với lửa) chôm lời bài thơ "The Fire" của bà (có câu "Anger fuels our desire... I'm fighting fire with fire" - Cơn giận tiếp thêm nhiên liệu cho ham muốn của chúng ta... Tôi đang dùng lửa để chống lại lửa) vì cả hai đều sử dụng phép ẩn dụ coi "ham muốn là nhiên liệu và ngọn lửa".
    Vụ kiện của Marasco cũng liệt kê nhà sản xuất âm nhạc Jack Antonoff, hãng đĩa Republic Records, Universal Music Group và nhạc sĩ Aaron Dessner vào danh sách các bị đơn.
    Trong phán quyết đưa ra vào thứ Ba 7/7/2026, Thẩm phán Aileen Cannon nhận định rằng đây là những "chủ đề, khái niệm và từ ngữ riêng lẻ mang tính điển hình" mà luật bản quyền không bảo hộ.
Thẩm phán Cannon đã chấp thuận yêu cầu bác bỏ vụ kiện của Swift, phán quyết rằng các bài thơ của Marasco "không chứa đựng nội dung thể hiện có thể được bảo hộ bản quyền, và dù thế nào đi nữa, Nguyên đơn cũng đã không đưa ra được lập luận thuyết phục về hành vi sao chép".
Thế rồi, trong một email gửi đi vào thứ Ba, nhà thơ Marasco cho biết bà đã nộp đơn kháng cáo. Kiện tiếp sao? Chúng ta cũng thấy rằng, cô Swift là tỷ phú, nên mới bị kiện. Nhưng hình ảnh của lửa so sánh với tham sân si là hiển nhiên, cả nhạc sĩ và nhà thơ đều trộm hình ảnh đó từ Kinh Phật. Có ai tách rời hoàn toàn khỏi ký ức sáng tạo của nhân loại? Không dễ tí nào.
Một nguyên tắc cơ bản đến mức các nghệ sĩ thường quên mất: luật bản quyền không bảo hộ ý tưởng. Nó bảo hộ cách cụ thể mà các ý tưởng đó được thể hiện. Nên nhớ, tất cả các nghệ sĩ đều khởi đầu như một kẻ trộm.
     Không phải kiểu người lẻn qua cửa sổ trong đêm tối mà không ai hay biết, mà là kiểu người nhẹ nhàng hơn: vay mượn nhịp điệu từ thuở ấu thơ, hình ảnh từ ký ức, giọng nói từ thầy cô, sắc màu từ hoàng hôn và những phép ẩn dụ từ những cuốn sách mà tác giả có thể đã qua đời từ hàng thế kỷ trước. Chúng ta thừa hưởng một thế giới đã cất tiếng nói trước khi ta thốt ra câu đầu tiên, đã nghe hát giai điệu trước khi ta sáng tác bản nhạc đầu đời, và đã thấy nét vẽ người xưa từ rất lâu trước khi ta đặt bút vẽ nét đầu tiên.
      Tính nguyên bản, nguyên chất, thuần túy độc đáo chưa bao giờ đồng nghĩa với việc bắt đầu từ con số không. Chúng ta không rời các chữ của ca dao, Nguyễn Du, Bùi Giáng... Chúng ta sáng tác từ khối ngữ vựng của dân tộc. Và chúng ta cũng như người xưa đã có cùng các nỗi buồn, khi ý thức về các mối tình tan vỡ, về các đau khổ của đời người. Cõi người chúng ta có cùng các nỗi đau, cùng ý thức về cô đơn, lòng đố kỵ, tâm độ lượng tha thứ hay niềm hy vọng.
     Lửa [dù là ẩn dụ khát vọng] không phải là riêng trong thơ hay nhạc của ai. Lửa đã tượng trưng cho niềm đam mê suốt hàng thiên niên kỷ. Dòng sông đã mang theo dòng chảy thời gian từ thuở xa xưa. Loài chim đại diện cho sự tự do trong mọi nền văn minh từng ngắm nhìn chúng bay vút vào bầu trời. Nếu những hình ảnh ấy có thể bị đánh bản quyền, thì văn học hẳn đã không thể tồn tại từ lâu rồi.
      Luật pháp không bảo hộ ngôn ngữ chung của nhân loại, mà bảo hộ giọng điệu độc đáo biết sắp xếp ngôn ngữ ấy thành một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân không thể nhầm lẫn. Đây cũng là những mơ hồ khó nhận biết. Thí dụ, chúng ta rất khó (hay gần như bất khả) làm thơ y hệt kiểu Nguyễn Du, Bùi Giáng.
      Tương tự như hội họa, tranh vẽ và âm nhạc. Picasso không phải là người phát minh ra khuôn mặt người. Tranh in mộc bản Nhật Bản đã ảnh hưởng đến trường phái Ấn tượng. Nghệ thuật điêu khắc châu Phi đã làm thay đổi chủ nghĩa hiện đại châu Âu. Nhạc Jazz ra đời từ cuộc đối thoại phi thường giữa các truyền thống âm nhạc châu Phi, hòa âm châu Âu, thánh ca nhà thờ, ban nhạc quân đội và nhạc blues.
Dù vậy, chúng ta có thể thấy một số họa sĩ Việt Nam vẽ trong phong cách lập thể như Picasso nhưng họ vẫn có nét riêng. Về âm nhạc, chúng ta có thể thấy nhiều ca khúc bolero nghe gần gần nhau, nhưng không ai làm nhạc giống như Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Cung Tiến.
     Thực tế, mỗi thế hệ đều chỉnh sửa bản thảo do thế hệ đi trước để lại. Bây giờ, chúng ta nhắc tới một hồ sơ vi phạm bản quyền vẽ thương hiệu.
       Theo bản tin AP từ Hồng Kông hôm 7/7/2026, một phán quyết của tòa án tại Tô Châu (Suzhou) đã buộc chuỗi tiệm trà địa phương Molly Tea phải bồi thường 1,5 triệu USD cho thương hiệu xa xỉ Pháp Louis Vuitton vì hành vi vi phạm nhãn hiệu, cụ thể là liên quan đến thiết kế hình bông hoa bốn cánh. Vụ kiện đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc và trong cộng đồng mạng; nhiều người đặt câu hỏi liệu logo của Louis Vuitton có phải được lấy cảm hứng từ các họa tiết truyền thống của Trung Quốc có từ thời cổ đại hay không. Những người chỉ trích cáo buộc thương hiệu Pháp đang cố gắng độc quyền các họa tiết mang đậm dấu ấn văn hóa này.
       Phán quyết trên – vốn đang thu hút nhiều sự chú ý trên các nền tảng mạng xã hội như Weibo – đã làm dấy lên những lo ngại về việc bảo tồn di sản cổ xưa của Trung Quốc. Tờ Beijing Daily bày tỏ sự tiếc nuối khi một công ty Trung Quốc phải chịu mức phạt nặng nề vì một thiết kế phản ánh truyền thống nghệ thuật hàng trăm năm của đất nước Trung Hoa. Tờ Global Times cũng chia sẻ quan điểm tương tự, phản ánh sự bất bình rộng rãi của người dân Trung Quốc trước việc các thương hiệu nước ngoài kiểm soát những thiết kế gắn liền với bản sắc văn hóa của họ.
      Vụ kiện này cũng nằm trong bối cảnh rộng hơn về các tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa các doanh nghiệp phương Tây và Trung Quốc, nơi các thương hiệu quốc tế thường xuyên khởi kiện tại thị trường Trung Quốc. Bất chấp phán quyết của tòa án, chuỗi tiệm trà Molly Tea vẫn tiếp tục sử dụng logo hình bông hoa bốn cánh trên trang web của mình và dự định sẽ kháng cáo.
      Trong khi kỷ niệm 130 năm ra đời họa tiết monogram (chữ lồng) đặc trưng, ​​Louis Vuitton khẳng định thiết kế này được lấy cảm hứng từ phong cách trang trí Tân Gothic và trào lưu Japonism (ảnh hưởng của nghệ thuật Nhật Bản), cho thấy sự giao thoa phức tạp giữa các luồng ảnh hưởng văn hóa. Đáng chú ý, cả LVMH và Molly Tea hiện vẫn chưa đưa ra bình luận công khai nào về vụ việc này.
 
       Câu hỏi nơi đây sẽ rất phức tạp cho chúng ta: khi các họa sĩ Việt Nam vẽ logo và dùng hình ảnh trống đồng hay chim lạc có từ nhiều ngàn năm trước, chúng ta có vi phạm bản quyền của nhau không?
Vụ tranh cãi này đã hé lộ một vấn đề lớn hơn cả luật nhãn hiệu. Văn hóa thuộc về lịch sử chung của một dân tộc. Thương hiệu thuộc về thương mại riêng của một công ty. Chim lạc, trống đồng là hình ảnh chung. Có phải khi biến thành thương hệu riêng để kinh doanh thì sẽ cần giữ bản quyền. Thiệt là mập mờ đường biên vậy. Hay là chúng ta lấy cớ thương hiệu là để bảo vệ người tiêu dùng?
     Vậy rồi còn AI (trí tuệ nhân tạo) thì sao? AI đã trộm chữ và hình từ cả triệu triệu trang web để làm ra sản phẩm riêng. Chúng ta nhìn hình AI thì thấy hao hao, nhưng không thể kiện AI về tội trộm hình ảnh khắp nơi để xào nấu. Chúng ta bực dọc vì AI làm thơ cũng đôi khi chữ nghĩa nghe được, nhưng hao hao như thơ của ai mà chúng ta không nhớ, nhưng cũng không níu áo AI mà kiện được.
      Các trang AI giờ đây có thể viết tiểu thuyết, sáng tác âm nhạc, mô phỏng phong cách họa sĩ, tạo ra hình ảnh những người chưa từng tồn tại và viết các bài luận chỉ trong vài giây – những công việc từng đòi hỏi hàng tuần lao động. Một số người ca ngợi những bước tiến này như một cuộc Phục hưng mới. Số khác lại lo ngại chúng là khởi đầu cho sự tự động hóa văn hóa.
      Cả hai phản ứng này có lẽ đều hơi thái quá. Nhưng AI hiển nhiên là cách mạng. Mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều từng khơi dậy những nỗi lo âu tương tự.
      Như trường hợp hội họa. Khi nhiếp ảnh ra đời, các họa sĩ từng lo sợ về sự chấm dứt của hội họa. Thay vào đó, khi được giải phóng khỏi nhiệm vụ sao chép thực tại đơn thuần, họ đã khám phá ra trường phái Ấn tượng, Lập thể và Trừu tượng.
      Khi điện ảnh xuất hiện, tiểu thuyết vẫn tồn tại. Khi truyền hình len lỏi vào mọi phòng khách, sân khấu kịch vẫn đứng vững. Khi internet ra đời, số lượng sách thậm chí còn gia tăng. Kỹ thuật hiếm khi triệt tiêu nghệ thuật. Nó chỉ thay đổi những câu hỏi mà người nghệ sĩ đặt ra. Và AI sẽ đẩy người sáng tác phải tìm một chân trời mới.
      Trí tuệ nhân tạo có lẽ đặt ra thách thức lớn nhất từ ​​trước đến nay, bởi khả năng vận hành trôi chảy đến kinh ngạc của nó dựa trên việc xào nấu khối lượng khổng lồ các tác phẩm do con người tạo ra. Các nhà văn tự hỏi liệu sách của họ có đang trở thành những người thầy không công cho máy móc hay không. Các họa sĩ minh họa nhận thấy những hình ảnh do máy tạo ra mang dáng dấp của bao năm lao động miệt mài. Các nhạc sĩ nghe thấy những phong cách quen thuộc được tái tạo lại với sự dễ dàng đến mức đáng ngại.
      Thực tế, chỉ riêng cơ chế bảo hộ bản quyền sẽ không thể duy trì nền văn hóa nghệ thuật. Đôi khi, chính luật bản quyền lại trở thành rào cản.
      Bài viết nhan đề "How copyright law is holding back Australian creators" (Luật bản quyền đang kìm hãm các nhà sáng tạo Úc như thế nào) trên trang Conversation năm 2018 cho biết  rằng luật bản quyền đặt ra những rào cản lớn cho các nhà sáng tạo Úc, có nguy cơ gây trì trệ thay vì khuyến khích sự sáng tạo. Các cuộc phỏng vấn với 29 nhà sáng tạo—bao gồm nhà làm phim tài liệu, nhà văn, nhạc sĩ và nghệ sĩ thị giác (họa sĩ và điêu khắc gia)—đã bộc lộ những bất mãn xoay quanh sự phức tạp và chi phí cao khi xin cấp phép sử dụng lại các nội dung có bản quyền. Nhiều người cảm thấy quá tải với quy trình cấp phép, thường xuyên phải đối mặt với thời gian chờ đợi kéo dài và mức phí cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án của họ.
      Ví dụ, một nhà soạn nhạc đã phải chờ đợi suốt một năm để được cấp phép sử dụng một bài thơ, dẫn đến việc cuối cùng phải viết lại lời bài hát một cách đầy khó khăn. Tương tự, một nhà làm phim đã phải từ bỏ dự án phim tài liệu do chi phí cấp phép quá đắt đỏ—lên tới hơn 10.000 đô la—chỉ cho chưa đầy hai phút âm nhạc. Trời ạ, chỉ có 2 phút nhạc thôi đấy.
      Các nhà sáng tạo tỏ ra bối rối về phạm vi của các trường hợp ngoại lệ trong luật bản quyền Úc, chẳng hạn như quy định "fair dealing" (giao dịch công bằng); các quy định này khá hạn chế so với khái niệm "fair use" (sử dụng hợp lý) rộng rãi hơn ở các quốc gia như Hoa Kỳ. Sáng tạo mà không dè dặt là vi phạm bản quyền. Mà làm sao bảo đảm là chữ nghĩa, tranh vẽ, phim ảnh của mình không giống với người xưa?
      Các nhà nghiên cứu về giới sáng tạo tại Úc nói rằng một nghịch lý rõ ràng đang hiện hữu: pháp luật được thiết kế để khuyến khích sáng tạo, nếu bị áp dụng một cách cứng nhắc, lại có thể kìm hãm sáng tạo.
     Có một hình ảnh cổ xưa, thường được cho là của nhà khoa học Isaac Newton, về việc nhìn xa hơn khi đứng trên vai những người khổng lồ. Hình ảnh ẩn dụ này vẫn là một trong những mô tả chính xác nhất về đời sống nghệ thuật.
     Một nhà thơ nghiêm túc hiển nhiên cần đọc và nghiên cứu về thơ Homer, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Dante, Shakespeare, Emily Dickinson, Rabindranath Tagore, Pablo Neruda, và vô số những ngôn ngữ thơ khác để chúng ta có thể, nói theo Newton, đứng trên vai của các vị thầy của chúng ta đề nhìn xa hơn, nhưng không tự đánh mất mình để trở thành kẻ trộm thơ, kẻ đạo văn...
     Họa sĩ, nhạc sĩ cũng rơi vào trường hợp tương tự như các nhà thơ... Học theo người xưa và sáng tác theo trái tim của mình. Biết ơn người xưa, nhưng không thể trộm của bất kỳ ai. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật không bao giờ là lời độc thoại riêng, mà là một cuộc đối thoại kéo dài qua nhiều thế kỷ, nơi đó mỗi thế hệ học theo và nói lên những tiếng nói mới cho những thế hệ chưa đến.
     Nơi đây, xin nói lời riêng: Tôi, một nhà báo đôi khi làm thơ, hoàn toàn đồng ý với tòa án liên bang Miami khi thẩm phán không tin rằng nhạc sĩ Taylor Swift đã "chôm" ẩn dụ hình ảnh "lửa" của nhà thơ Marasco, vì nếu nói là đạo văn, thì chúng ta có thể dò xa hơn nhiều ngàn năm để thấy hình ảnh "lửa của khát vọng" đã ghi rõ trong Kinh Phật.
PTH
 
Nhà thơ Bùi Giáng

Monday, July 27, 2026

NGU YÊN RA MĂT SÁCH

Chúc mừng bạn ta 

ĐÊM ĐỌC THƠ & HÁT THƠ Ở DALLAS 10.7.2011

Đêm Bên Hồ Irving với Nguyễn Xuân Phước,

Hoàng Đình Bình, Nghĩa Bùi, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc,

Trương Vũ, Đinh Yên Thảo, Nguyễn Xuân Thiệp…

Xin bấm vào Link để xem

https://www.youtube.com/watch?v=881ZUQ1KLRQ

 

 

  

Monday, July 20, 2026

XÓM CHUỒNG BÒ NGÀY XƯA

TỐ NGHI
  
Xóm nhỏ ngày xưa. Tranh màu nước
 
Xóm chuồng bò có quán hớt tóc
 
Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh (Phan tấn Hải)
 
Nhưng chợ chuồng bò lại tuốt bùng binh Ngã bảy lận. Hổng hiểu rồi dân trong xóm chợ búa ở đâu?
Ngã bảy là nơi giao thoa của 4 con đường: 1 ngã của đường Bà hạt. Lý thái tổ, Minh mạng, Petrus ký mỗi đường 2 ngã do bị cái bùng binh cắt đôi. Tổng cộng 7 ngã cả thảy.
Gần ngã bảy, có một đường đất nhỏ trổ ra Lý thái tổ, nơi có chợ chuồng bò. Chợ nhóm mỗi bữa, ngay cả cuối tuần. Thời xa xăm ấy, cuối tuần chỉ mỗi ngày chúa nhựt thôi, thứ bảy vẫn đi làm. Sau này, luật lao động đã cho thêm thứ bảy để thợ thuyền đủ thời giờ nghỉ ngơi.
 
Chợ chuồng bò vốn "tự phát" và "dã chiến". Thoạt tiên chỉ là những gánh hàng rong bán sớm cho dân lao động lẫn đám bàn giấy tép riu, mang loong hộp hay gàu mên tới mua trước giờ tới sở. Chợ từ từ tấn lên, cả phẩm lẫn lượng, người mua lẫn người bán, thực phẩm nấu sẵn lẫn thực phẩm còn sống sít, rau trái thịt cá ê hề. 
Rồi upgrade thành chợ thiệt. nhưng chỉ họp từ sáng tới quá trưa là tan. Tờ mờ sáng, hàng họ được gánh hay bưng tới chợ, giữ nguyên trong rổ trong quang, hay bày trên một tấm bạt. Xong từ từ thích nghi, vài mảnh gỗ vuông và vài chiếc ghế gấp (thấp và nhỏ) mang theo ra chợ để dựng sạp dã chiến, tan chợ sẽ mang dìa.
Rồi bán buôn upgrade thêm nữa, hàng hóa vật liệu ra chợ bằng xe cút-kít. Cút kít là xe gỗ chữ nhựt, thấp nhỏ thiếu mui, có 4 bánh xe tí hon, ngay giữa sàn xe trước có một cái càng dài, nắm vào rồi kéo cho xe lăn đi - nó là tiền thân của xe cút đồ chơi trẻ con bây giờ có lẽ -
Hổng có màn thu thuế đóng thuế chi ráo, đất họp chợ vốn là đất công cộng nên thiếu chủ chợ, mạnh ai nấy "tự biên tự diễn" và tự thích nghi.
 
Rồi thì... dọc trên lề đường Lý thái tổ tại khúc chợ này, từ từ mọc thêm những sạp vải nhỏ. Thoạt tiên là sạp dã chiến, ráp vào tháo ra mỗi bữa. Rồi lâu lâu cứ để nguyên sạp lợi một bữa coi sao. Do đã hổng sao ráo, nên tỉnh bơ để luôn lại cho gọn.
Nền sạp cao cỡ nửa thước, có mái che lợp tôn và 4 cột chống. Hai mặt bên của sạp là các mảnh gỗ ngắn và nhỏ, xếp chồng cách khoảng đều đặn thành nhiều tầng (3 4), làm ngăn chứa vải. Vải hoặc cắt sẵn, hoặc còn cuộn trong cây vải, được xếp lên tầng chứa.
Mặt trước mặt sau sạp để trống, là chỗ khách mua đứng chọn hàng, chỗ người bán leo vô ngồi "tiếp thị" - lóng rày chữ nghĩa đỉnh cao nhuyễn nhừ heng - Sớm mơi, xe cút kít mang vải tới, chỉều tan chợ chở vải về.
Đang buôn bán mà trời đổ mưa, người bán phải mang bạt che hết 4 bên, móc bạt vô đám đinh sát nóc sạp để mưa đừng hắt ướt.
Ngồi trong sạp, nghe tiếng mưa tí tách trên nóc, nghe hạt mưa theo gió tạt vào bạt - và còn cả sấm chớp - tưởng như một khúc nhã nhạc thiên nhiên êm đềm.
 
*
 
Đối diện đám sạp vải bên kia đường Lý thái tổ, là Tổng liên đoàn lao động VN của ông Trần quốc Bửu, nơi hội họp toàn thể các nghiệp đoàn (syndicats) lao động toàn quốc. Khi này Mặt trận giải phóng miền nam chưa có, Bất đồng giữa chủ thợ, giữa "quần chúng nhơn dân" với chánh quyền, nếu có thường chỉ nhó, và luôn luôn giàn xếp ổn thoả... mãi cho tới đầu thập niên 60.
Qua khỏi chợ chuồng bò, qua luôn Lý thái tổ, đường Bà hạt đất bụi thay hình đổi dạng thành đường đá sỏi rộng sạch, dẫn thẳng tới rạp hát Thành chung rồi tới chợ Vườn lài.
Một bận tui theo tía má ra đây coi tuồng nhựt bổn "Hoa lạc giữa rừng gươm". Ngó lõ mắt hổng thấy vườn, cũng hổng thấy hoa. Dám chừng khu vườn trổng lài nay đã "thương hải biến vi tang điền", thay bằng những nhà những xóm lao động. Dân xóm rảnh rang ghé rạp Thành chung coi phim nhựt phim tàu và cả phim ca vũ nhạc ấn độ !
Rồi... khi đó gia đình tui ở đâu mà rành rẽ khúc này vậy hở ? Thưa ở trong một con hẻm lao động nhỏ ở đường Lý thái tổ cùng bên chợ chuống bò, giữa bùng binh ngã bảy và đường Sư Vạn hạnh - mải mê chọi long bắn bi đá dế với bạn tri kỷ Thông giới, một chú tiểu nhỏ tu hành ở chùa sát bên - Đầu hẻm có trường dạy lái xe Thăng long của một cặp bắc kỳ 54 gốc hà nội.
Đây là khoảng thời gian êm đềm nhứt của thời thơ ấu, được tía má giữ lợi học ở nhà - vì ngu si mê muội mà phá phách vàn trời mây, nên lâu lâu bị... đuổi học một bận!
 
*
 
Lý thái tổ là đại lộ lớn thời ấy, một trong vài huyết mạch giao thông quan trọng thành phố, có bịnh viện nhi đồng lớn với cửa hông trái trổ ra Sư Vạn Hạnh. Cả Sư vạn hạnh lẫn Bà Hạt xiên xiên cong cong, rồi chạm nhau tại khúc rạp Thành chung.
Nếu đi tiếp Lý thái tổ sẽ đụng trại lính hiến binh quốc gia (với đoàn quân khuyển G9), lề bên kia là nhà thờ Ngã bảy. Qua khỏi nhà thờ sẽ... teng teng teng tèng... đụng quán Tàu bay, chuyên trị phở bắc 54 còn gin - trong nghĩa chưa xì cúc theo vị giác nam kỳ sau này, phở có giá sống và cả rau dấp cá -
Đi chút xíu nữa sẽ đụng ngã ba Lý thái Tổ-Nguyễn tri phương - ngã ba biến thành ngã tư sau này, khi Nguyễn tri Phương có thêm khúc nối dài, dẫn luôn tới đường Tô hiến thành Hoà hưng -
Gần ngã ba ngã tư nọ, chiều chiều xe máy xe đạp đậu san sát, nhiều tới nỗi sau này đã có dịch vụ giữ xe cho khách. Đây là chỗ ăn hàng nhậu nhẹt "tự phát". Ghế bàn mi-ca nhỏ và thấp được xếp sẵn từ giấc xế trưa. Thức ăn ê hề đủ món tha hồ gọi, nhưng nổi tiếng nhứt là món nghêu luộc.
Nghêu bưng ra bàn cho khách hổng chứa bằng dĩa bằng tô, nhưng bằng rổ bằng thau. Khách cầm con dao nhỏ nạy nghêu (những con nghêu lì lợm nhứt định tử chiến với nưóc nóng trong nồi) rồi dùng nĩa khều thịt ra, chấm nước mắm gừng chua ngọt.
Và đã có những thực khách sừng sỏ, hổng theo cách này. Khách dùng tay bẻ đôi con nghêu, dục bớt nửa vỏ, rồi cầm phần vỏ có thịt nhúng thẳng vô tô nước chấm, xong đưa lên miệng, ngửa cổ gọn lẹ hút chụt một cái vô họng. Hỏi sao hổng ăn bằng dao bằng nĩa cho lịch sự thanh cảnh con nhà, rồi nghe trả lời rằng, ăn kiểu đó khi mô mới hết được thau nghêu - Cũng bởi nó phái ăn mình ên, vì bạn nó nhỏ lớn chưa từng ăn hàng đầu đường góc chợ bao giờ.
Đớp hít no nê rồi, mới tà tà tiến xa hơn, tới bùng binh gần đại học xá Minh mạng, kêu đậu đỏ bánh lọt, sâm bổ lượng, nước mía ép hay sinh tố xay uống cầm hơi. Chừng về nhà y phép bỏ cơm vì... "bữa nay học nhiều mệt quá nuốt hết vô, phải lên giường ngủ sớm dưỡng sức"!
 
Dà, chạy xe đạp lòng vòng từ chợ chuồng bò qua tới quán nghêu, cũng bởi khoảng cách không gian quá ngắn. Chớ còn "trường sơn đông-trường sơn tây" là khỏi. Xe gắn máy hổng xong, nói chi tới xe đạp!
TỐ NGHI

  

Sunday, July 12, 2026

GIỚI THIỆU BÀI THƠ CỦA NỮ SĨ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Ngu Yên
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Đinh Cường vẽ
 
            (Trích trong tập thơ “duyên. lê chiều giang. nguyễn thị khánh minh. 2025. Văn học Press.)
 
“NÓI NHỎ” là một bài thơ tình, nhưng nó không được xây dựng như một lời tỏ tình hay một lời ca ngợi người yêu. Nó được dựng như một lời khẩn cầu lặp đi lặp lại, gần với một lời kinh hơn là một bài tình ca. Mỗi khổ thơ gồm ba câu theo cùng một khuôn: có lời xin, rồi ba chữ “vì em sợ,” rồi sợ điều gì?. Suốt chín khổ, cái khuôn ấy không đổi, chỉ có nỗi sợ, mỗi lần sợ khác nhau.
Bài thơ này có sức thu hút như  một lời cầu nguyện chống lại bóng tối, trong đó người yêu được mời tới để giữ lấy ánh sáng; điều sâu nhất của bài thơ là ở dòng cuối, khi nó phát hiện ra rằng cái đêm cầu nguyện để chống lại, hóa ra, nằm ngay trong chính người cầu nguyện.
Bạn đọc thử bài thơ này, ít nhất ba lần, trước khi đọc tiếp lời giới thiệu của tôi.
 
Nói Nhỏ
 
Hãy ngồi gần cho em nói nhỏ
Vì em sợ
Tiếng ồn ào sẽ làm nên khoảng cách
 
Hãy ngồi sát hơn cho em nghe nhịp sống
Vì em sợ
Khoảnh cách xa dần của hơi thở
 
Hãy giữ em đừng để em trôi đi
Vì em sợ
Mùa chạm vào khắc nghiệt của thời gian
 
Hãy đọc cho em lời thơ cuộn chảy dòng sông
Vì em sợ
Cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc
 
Hãy nhìn em cho em thấy ánh nắng
Vì em sợ
Bóng tối sẽ nuốt chửng những giấc mơ
 
Hãy mở cho em giấc mơ bình an
Vì em sợ
Cơn bão của mộng dữ sẽ làm đau lời tình tự
 
Hãy bay cùng em vào mầu xanh bầu trời
Vì em sợ
Bóng cột em vào u hoài nỗi đợi
 
Hãy nắm bàn tay cho em nghe hơi ấm
Vì em sợ
Nỗi hoang vắng của tấm lòng không ánh lửa
 
Hãy giữ ánh sáng
Soi gần lại bóng chúng ta
Vì em sợ
Đêm trong em
 
     Bạn gọi đây là thể thơ ba hàng, và đúng là mỗi khổ xoay quanh một bộ ba: lời xin, câu vì em sợ, và nỗi sợ. Nhưng cần nói cho chính xác về cái thể này. Đây không phải một thể ba dòng có niêm luật như haiku hay như tercet có vần; nó là một bộ ba tu từ, một khuôn cú pháp và cảm xúc lặp lại. Cái giữ nó lại với nhau không phải vần hay nhịp, mà là cái hình dáng được lặp. Sợ là dòng chảy chở ngôn ngữ, tứ và hình. Nhưng xem chừng ý nghĩa mặt bên dưới.
Cái hình thức ba câu làm một việc tinh xảo: nó hàn dính tình yêu vào nỗi sợ, như một tam đoạn luận, mỗi tiền đề đều có kết đề: vì em sợ, để mở ra những nỗi sợ có khả năng đồng cảm một cách thẩm mỹ.
 
Tâm lý: tình yêu mọc lên từ nỗi sợ
Đây là chỗ đáng chú ý nhất về mặt tâm lý. Cả bài thơ chạy bằng nỗi sợ. Chín lần vì em sợ là chín lần một ham muốn được định nghĩa bằng cái nỗi sợ mà nó đáp lại. Người nói không xin một điều gì như một mong muốn; nàng xin nó như một sự phòng vệ trước một nỗi kinh dị của tình và đời.
Đây là một tâm lý của sự bất an trong gắn bó. Cái nhu cầu được gần, được giữ, được nắm tay, được nhìn, tất cả đều mọc lên từ nỗi khiếp cái xa, cái mất, cái lạnh. Tình yêu, ở đây, không phải một niềm vui mà là một mái che dựng lên chống lại cái sợ. Người nói tự phơi cái yếu đuối của mình ra không che giấu, đó vừa là sức mạnh vừa là chỗ yếu của bài thơ, như ta sẽ bàn tới.
 
Hành trình của nỗi sợ: từ ngoài vào trong
Nếu chỉ có chín nỗi sợ rời rạc thì bài thơ đã thành một bản kê khai. Cái cứu nó là cái thứ tự của những nỗi sợ, một hành trình đi từ ngoài vào trong.
Những khổ đầu, nỗi sợ còn ở ngoài và ở giữa hai người: tiếng ồn làm nên khoảng cách, hơi thở xa dần. Rồi nỗi sợ chuyển sang thời gian và sự tàn phai: mùa chạm vào sự khắc nghiệt của thời gian, và một hình ảnh đẹp, cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc. Rồi nó chuyển vào giấc mơ và cõi tâm: bóng tối nuốt chửng những giấc mơ, cơn bão của mộng dữ. Rồi vào sâu hơn nữa, vào cái cô quạnh bên trong: tấm lòng không ánh lửa. Và cuối cùng, dồn lại thành hai chữ, đêm trong em.
Cái chuyển động ấy là hướng tâm, từ ngoài vào trong, từ nỗi sợ mất người khác tới nỗi sợ cái bóng tối trong chính mình. Và dòng cuối hé lộ rằng tất cả những nỗi sợ bên ngoài kia, rốt cuộc, chỉ là những hình chiếu của một cái đêm nội tâm. Đây là cấu trúc sâu nhất của bài thơ. Cấu trúc là điểm mạnh của Nói Nhỏ, là một trong ưu điểm mà Cấu trúc luận hướng tới.
 
Vị trí người nữ: yếu trong lòng, chủ trong lời
Nhìn bề mặt, người nữ ở đây đứng đúng cái vị trí truyền thống của phái nữ trong tình yêu: nàng xin, nàng sợ, nàng cần, nàng nhờ người kia ngồi gần, giữ lấy, đọc thơ cho nghe, nắm tay, giữ ánh sáng. Nàng là kẻ cần được che chở, được sưởi, được cứu khỏi bóng tối. Đọc thế thì đây là người nữ thụ động, lệ thuộc, chờ người đàn ông mang lại an toàn và ánh sáng. Một người thuần túy Việt nữ.
Nhưng có một dòng ngầm chảy ngược lại, và nó làm cái đọc trên phức tạp hơn. Hãy để ý cái kinh tế của bài thơ. Người nữ là kẻ duy nhất cất tiếng. Toàn bộ bài thơ là những mệnh lệnh thức của nàng, hãy thế này, hãy thế kia. Người đàn ông không hề nói một lời, không hề hiện ra, chỉ tồn tại như cái đích nhận lấy những lời xin của nàng. Nghĩa là trong cái thế giới của bài thơ, người nữ nắm trọn cái quyền của tiếng nói; nàng là chủ ngữ, là kẻ điều khiển, là kẻ định ra tình yêu phải làm những gì. Người đàn ông là một chức năng của nhu cầu nàng, một kẻ được gọi tới để giữ ánh sáng. Nàng lệ thuộc trong nội dung, nhưng làm chủ trong hình thức; nàng yếu trong lòng, nhưng chủ trong lời.
Cái tựa nói nhỏ càng làm rõ điều ấy. Tiếng nàng là tiếng thì thầm, nhỏ, gần như bí mật. Nhưng nó vẫn là tiếng nói, và nàng đòi được nghe, đòi người kia ngồi gần lại đủ để nghe được cái tiếng nhỏ nhất của mình. Cái nhỏ ở đây không phải sự im lặng; nó là một đòi hỏi, đòi cả thế giới lặng xuống và xích lại để cái giọng khẽ của nàng được ghi nhận. Có một quyền lực trong cái sự nhất quyết được nghe ở mức một lời thì thầm. Đây là cách người nữ Việt sử dụng để “điều khiển” đàn ông. Nhỏ nhẹ, thì thầm xin, cầu mà U Vương phải trả ngàn vàng cho nụ cười của Bao Tự.
Và dòng cuối đẩy điều này tới tạn cùng. “Đêm trong em.” Cái gì? Người đàn ông, với tất cả những lời xin gửi tới anh ta, rốt cuộc lại đứng ngoài cái cảnh thật, vì cái cảnh thật là cái đêm nội tâm của nàng. Bài thơ, nói cho cùng, không phải về anh ta; nó về cái đêm của nàng, với anh ta chỉ là cái ánh sáng mà nàng triệu tới. Nội tâm của người nữ mới là cái xứ sở thật của bài thơ. Đêm là gì trong nàng?
 
Bài thơ như một lời kinh
Chỗ bài thơ làm nên điều hay nhất: Một lời kinh cầu xin được chở che khỏi cái đêm; nhưng tới dòng cuối, lời kinh ấy phát hiện ra rằng cái đêm nằm bên trong chính kẻ đang cầu. Đêm trong em là chỗ mà không một đấng nào, không một người yêu nào, chạm tới trọn vẹn được. Một lời nguyện chống lại bóng tối, hóa ra, kết thúc bằng việc thú nhận bóng tối ở ngay trong người nguyện. Đó là một đảo nghịch nhạy sâu, và nó nâng bài thơ lên khỏi một bài thơ bình thường, thường xuyên kể lể trên mạng.
 
Điểm cần quan tâm
   Thứ nhất là cái kiến trúc có chủ đích: những nỗi sợ không bày bừa mà đi theo một hành trình từ ngoài vào trong, dồn về đêm trong em, khiến cái điệp khúc có một đích đến và một vòng cung tâm lý, chứ không chỉ là sự lặp. Vì em sợ trở thành bảng dẫn đường đi vào một nơi, bất ngờ, tối.
    Thứ hai là cái nước đi hình thức ở cuối. Khổ chót bẻ gãy cái khuôn ba phần, tách lời xin làm hai dòng rồi đáp xuống hai chữ đêm trong em. Cái khuôn được dựng đều suốt tám khổ chính là để cho sự bẻ gãy ở khổ cuối rơi xuống cho trúng. Cho bất ngờ. Hình thức nứt ra đúng chỗ tâm tình nứt ra. Đây là chỗ có sức sáng tạo.
     Thứ ba là sự thành thật của cảm xúc. Bài thơ phơi cái yếu đuối không che, hàn tình vào sợ, và có gan kết thúc bằng cái đêm nội tâm thay vì bằng một lời trấn an dễ dãi.
    Thứ tư là vài hình ảnh tươi thật sự: cây tháng ngày mình không còn xanh thảo mộc là một hình ảnh thực vật lạ và đẹp về sự già đi; tấm lòng không ánh lửa biến trái tim thành một lò sưởi đã nguội; và đêm trong em, giản dị nhất mà mạnh nhất, thu cả cái tối bên ngoài vào trong.
 
Và sự quan tâm cũng nên nhìn mặt bên kia của ưu điểm.
    Thứ nhất, bài thơ dựa nhiều vào cặp đối lập sáng tối, ấm lạnh, gần xa, vốn là những cặp cổ mẫu, và đôi chỗ trượt vào cái quen tay. Bóng tối nuốt chửng những giấc mơ, cơn bão của mộng dữ, là những hình ảnh đã khá mòn. Bảng màu biểu tượng có chỗ đoán trước được. Nhìn theo hình tượng của Eliot, không có nhiều hình mới, hình sắc và hình động não.
     Thứ hai, cái thể ba câu ở đây là thể tu từ chứ không phải thể có nhạc tính. Nó dựa hết vào điệp ngữ và hình ảnh, gần như không có vần, không có một nhịp đều, nên nó nghèo về phần âm thanh; nó sống hay chết là nhờ hình ảnh và nhờ cái vòng cung cảm xúc, chứ không nhờ tai. Với một bài thơ thì đó là một sự đánh đổi, được cái thân mật mà mất cái du dương. Âm thanh của ngôn ngữ, không nhất thiết là vần điệu, khi đọc lớn tiếng, sẽ gặp những chỗ vấp. Theo cái nhìn chủa chủ nghĩa Ấn tượng, âmn thanh là ý nghĩa hoặc làm cho ý nghĩ đi vào lòng người, trơn.
 
Kết
Gói lại, Nói Nhỏ là một bài thơ có sự toàn vẹn về cảm xúc, mà nước đi hay nhất là cái lật vào trong ở câu cuối. Sức mạnh  là sự thành thật của cái yếu đuối và cái cấu trúc lời kinh đáp xuống đúng ba chữ “đêm trong em.”
Một bài thơ mở ra bằng lời xin được ngồi gần để nói nhỏ, và khép lại bằng việc hé cho thấy cái mà nàng sợ nhất không phải tiếng ồn, không phải thời gian, không phải cái bóng bên ngoài, mà là cái đêm nàng mang trong mình. Đó là một chỗ kết thành thật, cho cả bài thơ một sức nặng mà bình an không có ở đó.
NGU YÊN