Tuesday, August 4, 2026

LÊ LẠC GIAO. VÀ TÁC PHẨM TỔ QUỐC TRĂM NĂM

Nguyễn Thị Khánh Minh
    
        
Nhà văn Lê Lạc Giao & Tác phẩm
 
    Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
 
    Cảm nhận của tôi sau đây là từ các chương: chương 1, chương 7, 8, 14,15,16 ,17 và Lời mở đầu, của hồi ký tiểu thuyết Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao, là những chương để lại cho tôi cảm xúc sâu đậm.
     Thoạt đầu cứ tưởng Tổ Quốc Trăm Năm là một cuốn sách viết về những năm tháng tù và chốn lưu đày của bên thua cuộc sau biến cố tháng Tư 1975, nhưng càng đọc, tôi càng thấy tác giả không chỉ kể hành trình tù đày, ông đang kể một câu chuyện lớn hơn, sâu sắc hơn: thân phận con người trước vật đổi sao dời của lịch sử, cùng những hệ lụy của vấn đề ý thức hệ chính trị.
 
     Ngay trong lời mở đầu, nhà văn Lê Lạc Giao đã xác định vị trí tư cách của người viết, “Tôi kể hoặc trình bày lại cuộc chiến tranh trong vai trò nạn nhân và nhân chứng của mình."
Và sau đó ông mở rộng: "Tôi thiết nghĩ những ai liên hệ đến cuộc chiến đều không ở bên ngoài hai phạm trù này."
 
     Thay vì nhìn cuộc chiến qua tâm cảnh thắng-thua, ông nhìn nó bằng lăng kính nhân chứng và nạn nhân- nghĩa là Con Người. Đây là sắc thái nhân bản và nhân văn trong nhân sinh quan của tiểu thuyết gia Lê Lạc Giao.
      Cũng ở lời mở đầu, ông nói "Tôi mong quyển sách là một chia sẻ hay hơn nữa một đóng góp cho dù nhỏ nhoi thông tin lịch sử của đất nước mình."
    Ông không viết chỉ để kể nỗi khổ của riêng mình. Ông muốn lưu giữ một ký ức tập thể, chống lại sự lãng quên, để gửi lại cho những thế hệ sau thông tin lịch sử của đất nước, Một thái độ khách quan, công bằng và trung thực.
     Những cảm nhận mà tôi có được là do cảm xúc từ tâm trạng và cách chịu đựng của tù nhân hơn là từ những sự kiện. Và, không chỉ là nỗi buồn về một giai đoạn lịch sử, mà còn có niềm tin như tác giả, rằng, phẩm giá con người có thể bị tổn thương, nhưng không dễ bị hủy diệt.
 
*
     Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh những chuyến xe đêm âm thầm rời thành phố trong chương mở đầu. Những con người ấy ra đi mà không biết nơi đến, cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Trong họ hai trạng thái tình cảm có sức công phá tâm tư ngang nhau: đó là sợ hãi và lặng im. Một sợ hãi của tay trắng, một im lặng của thúc thủ, của nghi vấn, về số phận, về cuộc sống, trước tấm lưới của tù ngục đang bổ xuống.
Qua các chương 1, chương 7, chương 8, chương 17 của Tổ Quốc Trăm Năm, tôi đã có được những yếu tố để trả lời cho câu hỏi ban đầu, làm sao tù nhân sống sót qua cuộc sinh tử ấy:
 
1-Họ sống sót nhờ giữ được đời sống tinh thần và sở thích riêng tư:
     Để chịu đựng những khắc nghiệt của đói khát, lao động cật lực và sợ hãi, các nhân vật như Tuệ, viết nhạc ghi vào trí nhớ để mong lúc nào đó nó được hát lên, Cương dạy tiếng Pháp cho bạn tù, một nhóm đánh cờ tướng (không biết có nhắc nhở, chạnh lòng đến vai trò chốt thí trong bàn cờ quê hương?), người khác hát tình ca, một nhóm chơi đá dế. Tôi thực sự chấn động bởi hình ảnh một người trưởng thành, như Thạc, trong cảnh tù, vẫn hồn nhiên khoe bắt được con dế, dấu nó trong lon sữa bò, chờ mở cuộc đá dế, thoạt nghe tưởng là những chi tiết rất nhỏ, nhưng thực ra chúng cực kỳ quan trọng. Đó là những khoảnh khắc họ đang cố giữ lại phần người của mình. Nói cách khác, họ không để nhà tù đóng ấn, định nghĩa, con người của họ, họ khẳng định mình qua những hoạt động tinh thần ấy. Với những người có trình độ văn hóa giáo dục từ trước, họ có thêm vũ khí là ký ức văn hóa khiến họ sống sót và soay sở với tuyệt vọng, họ nói về truyện Kiều, họ đọc thơ Chiều của Hồ Dzếnh, Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương… Thử hỏi không có ký ức văn hóa ấy, thì cơm tù, luật tù đã vùi nát nhân phẩm của họ xuống bùn đen rồi, bởi những thứ đó không là một thú thưởng ngoạn, nó là nơi trú ẩn tinh thần cho những thân xác bị giam hãm.
Tôi nhớ ý câu của nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn khi viết về Gulag: có những lúc một bài thơ thuộc lòng quý hơn một ổ bánh mì, bởi bánh mì nuôi thân xác một ngày, còn thơ giữ cho tâm hồn khỏi sụp đổ. Ở nhân vật Hảo, Tuệ… tôi thấy điều tương tự.
 
2. Họ sống sót nhờ tình bạn:
 
Chính nhờ những hoạt động âm thầm trên đã nuôi nấng nên tình bạn. Họ sống sót nhờ dưỡng khí tình bạn. Quanh Hảo thường xuyên có những: Kỳ, Tuệ, Thạc, Nhượng, Tánh, Chánh, Cương... họ tồn tại một nhóm nhỏ khép kín, nhưng là một ván thuyền đỡ họ trong sóng của nghi kỵ, dòm ngó, hình phạt. Trong tình bạn ấy họ chia sẻ được cho nhau tuyệt vọng, để nhen nhúm hy vọng.
 
3. Họ sống sót nhờ vào khả năng suy tư:
     Từ nhận xét 1, tôi đi đến yếu tố này, và điển hình là nhân vật Hảo. Anh liên tục đặt câu hỏi: Thân phận mình là gì? Lịch sử là gì? Quê hương là gì? Tổ quốc là gì? Và anh đi qua được năm tháng đằng đẵng của tù ngục. Nhà văn Lê Lạc Giao đã bộc lộ sự tin tưởng, con người có thể bị cầm tù thân xác nhưng vẫn giữ được tự do nội tâm nếu còn khả năng tư duy, và vì thế, ông đã đưa vào rất nhiều đoạn triết luận về lịch sử và định mệnh. Như nhân vật Hảo, anh phân biệt "quê hương" với "chế độ". Anh có thể bị chia ly với gia đình xã hội, mất quyền lực, địa vị, công việc, tương lai, bời sự đổi thay chế độ, nhưng anh vẫn giữ được tình yêu đối với quê hương. Điều đó giúp anh không bị hủy diệt bởi hận thù. Và, Hảo đau vì đất nước hơn là đau vì số phận cá nhân, đây là nội lực mạnh nhất giúp anh trong cuộc sống còn.
 
4. Họ sống sót vì còn giữ được ý nghĩa cho sự tồn tại của mình:
    Ngay từ đầu nhà văn viết: "thời gian tù tội trong cuộc đời một người, tự nó có ý nghĩa hay giá trị nhất định".
    Ông không xem quãng đời tù như một hình phạt đơn thuần, ông chia sẻ nó với tư cách nạn nhân-chứng nhân.
     Với tư cách nạn nhân ông hiểu nó hơn ai hết, tư cách bị động của số phận bên thất thế, và nhẫn nại chịu đựng đau đớn thể xác lẫn tinh thần để -bảo vệ phẩm giá – để chờ ngày trở về với gia đình- để không bỏ cuộc – một khi sự đau khổ được gắn với ý nghĩa nó cho người ta thêm sức mạnh,
Nhà tâm lý học và cựu tù nhân trại tập trung Đức Quốc Xã là Viktor Frankl cho rằng con người có thể chịu đựng những hoàn cảnh tưởng như không thể chịu đựng được nếu họ còn nhìn thấy một ý nghĩa nào đó cho sự tồn tại của mình.
 
     Với tư cách chứng nhân ông ghi lại nó, biến nó thành chứng từ của một biến cố lịch sử, nhưng đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không có cảm giác mình đang đọc một bản cáo trạng, mà thấy như mình đang lắng nghe lời kể của một nhân chứng cố gắng giữ lại những ký ức có thể bị thời gian cuốn mất. Và trong những ký ức ấy, điều còn lại sau cùng không phải là hận thù, mà là câu hỏi về ý nghĩa của đời người trước những thăng trầm của lịch sử. Với tư cách này nhà văn Lê Lạc Giao đã thể hiện được sự khách quan cần thiết.
 
*
    Qua 3 chương 14, 15, 16, điều làm tôi suy nghĩ không phải những tranh luận về thắng bại hay những lý giải chính trị của một cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ. Điều còn ở lại là những câu hỏi lớn hơn: con người là ai giữa những biến động lịch sử? Điều gì còn lại khi một ý thức hệ thất bại, một chế độ sụp đổ, một đời người bị cuốn vào vòng xoáy phi lý của chiến tranh? Và liệu lòng yêu nước có thể tồn tại bên ngoài mọi chủ nghĩa, mọi định kiến chính trị hay không?
     Tác giả xoáy theo câu hỏi, ý thức hệ đã dẫn dắt chủ trương, hành động con người như thế nào. Khi quyền lực nắm công cụ ý thức hệ chính trị, xem nó là phương hướng thì con người bị nhìn như một phương tiện thay vì mục đích. Lúc ấy người ta không còn thấy một cá nhân tên Hảo, hay Tuệ, hay Thạc…mà chỉ còn thấy: đồng chí, địch, phản động, cách mạng, thắng cuộc, thua cuộc.
Nhà văn Lê Lạc Giao đã hóa giải cái nhìn ấy theo nhận xét rất nhân bản. Người lính miền Nam, người lính miền Bắc, người cán bộ, người tù cải tạo, người dân, mỗi người đều hành động trong những khuôn khổ tư tưởng, niềm tin và hoàn cảnh mà họ được sinh ra. Nhận xét như vậy, không có nghĩa xóa bỏ những hệ lụy của ý thức hệ, mà khiến người ta nhìn mọi điều xảy ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt một cách cảm thông hơn. Tôi cho rằng đó là mấu chốt quan trọng để hai bên nhìn thấu nhau, đưa đến có thể, chuyện hội nhập.
     Đây cũng là những nét mở rộng trọng tâm của tác giả ở 3 chương 14,15,16
 
1-Cảnh tù không phải là chính yếu, mà ở sự nhận thức của tù nhân về thân phận mình.
     Nhân vật Hảo nhìn lại cuộc đời tù đày như một phần của một bi kịch lớn hơn, câu nói làm ta suy gẫm: "Quá trình chấp nhận đớn đau để rồi yêu thương này là bi kịch bản thân, hay bi kịch dân tộc?"
Phải chăng đây là một trong những câu hỏi cốt lõi của toàn bộ tác phẩm. Nếu chỉ là hồi ký tù cải tạo, câu hỏi sẽ là: "Tại sao tôi phải chịu cảnh này?"
Nhưng Hảo hỏi: "Đây là bi kịch của riêng tôi hay của cả dân tộc?"  Câu hỏi ấy đưa tác phẩm vượt khỏi phạm vi một hồi ký tù nhân.
 
2- Tác giả đang tìm kiếm "con người" phía sau ý thức hệ:
    Có chi tiết thú vị trong chương 14, 15. Trong cuộc đối thoại với Phạm Văn Nhân, Hảo không thỏa mãn với những giải thích thuần túy chính trị: tổ chức đảng, viện trợ Mỹ, chiến lược quân sự, và còn nhìn thấy sự giới hạn của chính phía mình. Hảo không chỉ trách người chiến thắng, anh cũng chất vấn phe mình, tại sao miền Nam thất bại, điều gì đã thiếu sót, điều gì đã không hiểu được đối phương. Một thái độ trung thực, không nhằm biện hộ, kết án, chỉ cốt để hiểu, đó không phải là biểu hiện sâu sắc của tinh thần nhân bản hay sao?
     Anh kéo cuộc trò chuyện với Phạm văn Nhân với câu hỏi:
     "Sao anh không chút suy nghĩ đến bản chất con người Việt Nam chúng ta?" - Một câu hỏi văn học hơn là chính trị-. Bởi vì cuối cùng, chế độ được tạo ra bởi con người; ý thức hệ được vận hành bởi con người; chiến tranh được tiến hành bởi con người. Nếu không hiểu con người, thì mọi giải thích lịch sử đều thiếu sót và không trung thực.
 
3. Khái niệm "Tổ Quốc Trăm Năm" bắt đầu hiện rõ:
     Nhất là ở chương 14, linh hồn của tư tưởng tác giả, khẳng định qua câu nói của nhân vật Hảo:  "Lòng yêu nước của một tổ quốc trăm năm hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc chủ nghĩa hay ý thức hệ."
Đây là tư tưởng mà tôi, và tôi tin cũng của nhiều người, trân trọng. Nhân vật Hảo luôn dằn vặt, tìm lại ý nghĩa của quê hương, của tự do, của nhân phẩm, và cuối cùng là của chính sự hiện hữu, và thái độ Hảo chọn -tách quê hương ra khỏi những biến động chính trị của một giai đoạn lịch sử-. Theo Hảo, tổ quốc lớn hơn chủ nghĩa, chế độ. Đó là lý do ông viết:
  -"Anh chỉ có một Tổ Quốc."
 
     Tiếng nói của một người đã đi qua tù ngục, qua sâu thẳm nhất của các trải nghiệm, để nhận ra tình yêu quê hương vượt lên mọi ý thức hệ, để từ đó đi tìm một căn cước con người hơn là căn cước chính trị.
     Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra rằng điều cứu rỗi con người không phải là thắng hay thua trong cuộc chiến, mà là khả năng giữ được lòng yêu thương, sự thấu hiểu và phẩm giá của mình giữa những biến động. Đó là chiến thắng thầm lặng nhất. Và cũng là phần nhân văn, nhân bản nhất của cuốn sách.
      Khi người tù không còn chỉ hỏi "ai đúng ai sai", mà hỏi "làm thế nào để vẫn yêu được đất nước này sau tất cả những gì đã xảy ra?".  Đây không chỉ là câu hỏi của Hảo. Không chỉ là câu hỏi của Lê Lạc Giao. Mà còn là câu hỏi của rất nhiều người Việt thuộc những thế hệ đã đi qua chiến tranh, chia cắt, lưu đày, cải tạo, vượt biển, tha hương. Một câu hỏi khiến Tổ Quốc Trăm Năm vượt khỏi phạm vi của một cuốn hồi ký tù nhân, để chạm đến những suy tư rộng lớn hơn về Tổ Quốc, Lịch Sử Và Con Người.
 
*
     Có khi nhiều năm sau, người ta quên những tên trại, quên những mốc thời gian, quên những chi tiết của câu chuyện. Nhưng người ta vẫn nhớ hình ảnh người tù đọc Truyện Kiều trong đêm, giây phút Hảo và ông Linh nói chuyện thơ Đường, Thạc và con dế than, Tuệ miệt mài viết nhạc trong thầm lặng, hai người tù ngồi nhìn nắng trên tàng cây bạch đàn trong ngày Tết thứ sáu ở tù, Hảo nghe tiếng mưa và nghĩ đến khả năng thanh lọc những nỗi đau. Mảng trời xanh nhỏ -mà bao la- từ khung cửa ngục, những câu thơ chống lưng, những tiếng nhạc thay cho hơi thở nặng, nắng vô tư trên tàng cây, tiếng mưa rơi vô nhiễm, những điều ấy chẳng phải là đáng giá hơn các học thuyết, khẩu hiệu chính trị sao?
      Chính những điều ấy mà tác phẩm này cũng để lại trong tôi lòng trắc ẩn buồn bã về những số phận đã đi qua chúng, là niềm tin vào nhân phẩm, là hình ảnh một Tổ Quốc Trăm Năm đau đáu trong tâm tư suy tưởng của nhà văn:
    -"Quê hương chưa bao giờ phản bội, khước từ anh."
     -"Anh biết mình có quyền lựa chọn nhiều quê hương trong cuộc đời, nhưng chắc chắn một điều anh chỉ có một Tổ Quốc."
Đây là hạt nhân tư tưởng của tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm, có sức mạnh của một thông điệp.
 
     Cũng là điều cuối, tôi muốn nói với người đọc: Khi bạn đọc Tổ Quốc Trăm Năm, bạn đang ở trong cuộc gặp gỡ, một bên là Tổ Quốc Trăm Năm, một bên là bạn.
- Cuốn sách giới thiệu tác giả với hai tư cách nạn nhân và chứng nhân, để kể lại, để giải thích một cách trung thực về biến cố lịch sử, về ngục tù, về thân phận con người trước thời cuộc, và cũng mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về ý thức hệ.
- Bạn mang đến sự quan tâm về mặt nhân văn, nhân bản trong văn chương, của sự được truyền tải về thân phận con người, của sự được chia sẻ tình cảm trong trẻo về quê hương, và cái nhìn cao đẹp về tổ quốc.
      Nơi hai dòng chảy ấy gặp nhau, là nơi tác phẩm này ở lại trong lòng bạn.
 
NTKM, Upland, tháng 6, 2024
*Tôi đọc Tổ Quốc Trăm Năm ở giai đoạn lúc chưa phát hành, nên những câu ghi chú không ghi rõ số trang, mà chỉ ghi chương sách.
 
 
SƠ LƯỚC TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÊ LẠC GIAO:
Bút hiệu: Lê Lạc Giao -Tên thật : Lê Tấn Hà. Sinh năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam
Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974
Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8 năm
Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993
Chuyên viên Dữ Liệu công ty Boeing 22 năm
Về hưu 2017
Cư trú tại Orange County California
Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy
 
Sách đã xuất bản:
• Một Thời Điêu Linh (tập truyện/2013)
• Nửa Vầng Trăng Ký Ức (tập truyện/2015)
• Có Một Thời Nhân Chứng (truyện dài/2018)
• Nụ Cười Buồn Mùa Hè (tập truyện/2020)
• Mùa Địa Ngục (tập truyện 2022)
• Dòng Đời (truyện dài 2023)
• Tổ Quốc Trăm Năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)
 

 

  

FRAGILE

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh Internet
 
Tôi mong manh dễ vỡ
Không phải là loại thủy tinh thể chân quỳ
Dễ vỡ nhưng không cầu lụy ai
Tất cả chiếc ly đã ném vào từng cuộc rượu không cùng
Có khi vô cảm
Có khi rưng rưng màu ly biệt
 
Vờ vịt điếc
Không nghe tiếng rạn nứt thời gian
Đâu có vật thể nào không rạn nứt
Tôi dễ vỡ xương quai xóc đòn gánh
Địu xuống những bồ chữ vô duyên rải đầy tro gió
 
Đi phất phơ ngoài lộ
Chăm chú vụng về như xe hủ lô ì ạch
Tôi mong manh nhựa đường
Lũ bong bóng đen rịt cứng mắt em
Chúng ta đều thuộc phạm trù thong manh cấp tiến
 
Cho đến lúc đạp đổ chồng bánh tráng phơi năm sương bảy nắng
Tôi biết tâm hồn tôi thuộc loại mong manh dễ vỡ
Như những hạt cườm xanh
 
H O À N G X U Â N S Ơ N
1 juillet 2026
 

Saturday, August 1, 2026

ĐỌC TẢN VĂN. ‘BÓNG BAY GIÓ ƠI’ CỦA NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tô Đăng Khoa

Bìa sách Bóng Bay Gió Ơi
của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh.
 
PHẦN 1. VỀ TÍNH HỘI TỤ CỦA “MỘT TẢN VĂN DỊ THƯỜNG”
     “Bóng Bay Gió Ơi” là tác phẩm thứ chín của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) phát hành đầu năm 2015. Đó là tập tản văn mà Phan Tấn Hải gọi là “một tản văn dị thường” trong lời bạt cuối sách. Theo chỗ tôi hiểu, sự “dị thường” đó chính là tác dụng của ngôn ngữ NTKM lên tâm thức của người đọc.
Thành công NTKM trước hết về mặt mỹ học là cách chọn chữ rất chuẩn xác để lột tả những nét riêng và chung của những cảm xúc phổ quát, thuần khiết, tiềm ẩn trong các mối liên hệ linh thiêng huyền nhiệm giữa người-với-người và người-với-thiên-nhiên. Các tản văn được viết ra đều đẹp như thơ, thâm trầm, nhẹ nhàng, và bay bổng như là “bóng bay gió ơi.” Nhưng ở tầng sâu hơn, sự phối hợp tài tình của những con chữ trong tản văn NTKM đã thành tựu một sự kiện “dị thường”: nó truyền tải những ký ức (rất riêng tư) của NTKM thẳng đến tầng sâu vô thức của người đọc. Tại đó, chúng đánh thức những ký ức rất xưa cũ trong lòng ta, những ký ức mà tưởng chừng đã vĩnh viễn bị chôn vùi trong những bôi xóa của thời gian trong suốt một đời lang bạt.
Phút này đây, trong tâm thức của người đọc, một tác dụng “dị thường” xảy ra: biên giới của thời gian, không gian bị xóa nhòa. Ký ức ngủ quên bấy lâu được đánh thức bởi ngôn ngữ NTKM sẽ tái hiện thành cái-đang-là của thực tại ngay trong tâm thức người đọc.
Phút này đây, thực và mộng đan lẫn vào nhau, ký ức riêng lẻ của tác giả và độc giả sẽ hòa tan trong phối cảnh ngôn ngữ NTKM để trở thành một “ký-ức-chung.” Nói cách khác, ngôn ngữ NTKM sẽ đánh thức các ký ức trầm ẩn rất sâu tiềm thức của chúng ta và đưa nó về, tái hiện ngay trên hiện tại để cùng với tác giả chiêm nghiệm lại tất cả “cảm xúc phổ quát” của những mối liên kết huyền nhiệm giữa một “thực-tại-người” với “những-cái-còn-lại” của vũ trụ bao la.
Thành quả đáng kể nhất của các “tản văn dị thường” chính là sự hình thành, và sự gìn giữ lại một “ký-ức-chung” giữa tác giả và những độc giả có thái độ trân trọng thích đáng đối với giá trị của ngôn ngữ. Chính cái “ký-ức-chung” này sẽ trở thành mối liên kết huyền nhiệm khác mang ý nghĩa hội tụ. Nó thiết lập ra “ngôi-nhà-chung” và cho phép chúng ta an trú trước cơn “bão cát sa mạc” của thời gian. Nó cho phép chúng ta chỉ trong một-niệm, nhắm mắt lại, khép lại hai hàng mi là có thể kinh nghiệm trở lại “niềm hạnh phúc có một “nhà quê” để gậm nhấm lúc chia xa...”.
Sự “dị thường” của việc nhận ra “ngôi nhà chung” này là: Ngay cả ý nghĩa của cái chết, mà bản chất chỉ là một sự chia xa, cũng không làm chúng ta nao lòng được nữa. Vì lẽ? Vì chính ta đã biết được “lối về” của ngôi nhà chung đó, và ta cũng “biết như thật” thế nào là “niềm hạnh phúc có một nhà quê.”
Vì thế, tuy hình thức của bút pháp là tản văn, hiểu theo ý nghĩa phân kỳ, lang bạt; nhưng nội dung của các “tản văn dị thường” này của NTKM lại mang ý nghĩa của hội tụ. Đó là “sự hội tụ” của một “nhà quê chung” không có phân biệt sắc tộc, biên giới, giới tính, hay tôn giáo.
“Sự hội tụ” này được thành tựu không phải qua các khẩu hiệu ồn ào kêu gào đoàn kết, không qua các cuộc cách mạng đẫm máu, không qua lý luận suy diễn của chủ nghĩa duy lý, duy vật; mà qua của những “cảm xúc chân thật vàng ròng” của các mối liên hệ linh thiêng, huyền nhiệm giữa người-với-người và người-với-thiên-nhiên.
Một tản văn nhưng lại có tác dụng hội tụ rất thần diệu như thế thì thật đáng để được gọi là “một tản văn dị thường!” Một cách nào đó, với ngôn ngữ tuyệt mỹ và chuẩn xác của mình, NTKM đã làm cho tái hiện lại trọn vẹn ký ức riêng/chung cho cả chính mình và độc giả với tất cả chi tiết và sự tinh tế đến độ kinh ngạc.
Giờ đây xin bạn hãy thử thả lỏng chính mình và làm y theo lời hướng dẫn cụ thể của tác giả để thử kinh nghiệm ký ức chung đó, tức là bạn hãy khoan thai làm theo đúng trình tự các bước chuẩn bị như sau:
(1) Theo cảm xúc mà đi.
(2) Nhắm mắt lại.
(3) Phút này đây.
Và sau đó hãy buông, phó thác cho ngôn ngữ NTKM làm công việc “dị thường” của nó:
“Theo Cảm Xúc Mà Đi”:
“... Nhắm mắt lại. Phút này đây.
... như nghe được hương trâm trâm bên vệ đường rầy xe lửa về quê nội, ai biết được mầu lấm tấm ngũ sắc kia đã cấy trong tôi mùi quyến luyến quê nhà đến vậy. Hễ chìm vào là nghe tiếng xe lửa xập xình, ánh nhìn cô gái nhỏ chạy lùi theo những hình ảnh vụt qua, bụi cây, ngọn núi, chiếc cầu nhỏ, những ô lúa xanh và con mương ốm chạy ngoằn ngoèo theo bờ ruộng. Lại như nghe được cả mùi thơm của đất bùn, đất ải quyện lẫn mùi phân trâu bò, mùi rơm rạ trong nắng trưa. Nếu không có một tuổi thơ gắn bó với mùi hương ấy thì chắc tôi không thể nào cảm được trọn vẹn cái êm ả, bình yên, mộc mạc của một làng quê, không chia được với ai kia nỗi nhớ nhà, không xẻ được với ai kia niềm hạnh phúc có một “nhà quê” để gậm nhấm lúc chia xa...
... và mênh mang hồ sen của một ngôi chùa sư nữ ở cạnh nhà thời thơ ấu, chắp cho tâm linh ta đôi cánh... có phải không trong tiếng tập vần hai chữ nhân ái thấm đẫm hương tinh khiết của cánh sen hồng, và tiếng chuông chùa đi chậm?
... và phổ độ hơn hết trên đời, “ba ơi mẹ ơi!” tiếng gọi đánh thức từng tế bào nhỏ trong thân thể ta, xao xuyến những dòng li ti màu đỏ đang chở nhịp sống. Mỗi bước ta đi là say mê theo mùi hương núm ruột đã một lần cắt lìa khỏi ta trong giây phút nhiệm mầu của khai sinh, “con ơi!” tiếng oa oa cột ta một kiếp người, lặn lội trôi theo...
... có phải hương một lời gọi ủ từ đóa hoa tiền kiếp, tới giờ long lanh nở đá vàng, cùng nhau nắng sớm mưa khuya, “mình ơi!” ...
... tiếng hòa âm trong phút giây gọi “bạn ơi!” này bàn tay nắm lại cùng nhau. Ngọn lửa nhóm sáng một vòng quây quần, mỗi lúc chúng ta lại chụm thêm mỗi nụ cười, hương bầu bạn cho ngắn lại đêm thâu đường dài bạn hỡi...”
Sau mỗi tiếng gọi nhau: “ba ơi!, mẹ ơi!, con ơi!, mình ơi!, bạn ơi! bạn hỡi!”, chúng ta như được kinh nghiệm trở lại, ngay trong phút này đây, những “cảm xúc vàng ròng” phổ quát nhất của những sợi dây huyền nhiệm và thiêng liêng kết nối chúng ta với toàn thể sự sống.
Đó là những tản văn tuyệt mỹ, nó lãng đãng như những “ký ức của bóng.” Nó bay bay trong gió (ôi “bóng bay gió ơi!”) trong tiềm thức của ký ức chung/riêng không có thời gian. Tác dụng dị thường của nó là: “chắp cho tâm linh ta đôi cánh... trong tiếng tập vần hai chữ nhân ái thấm đẫm hương tinh khiết của cánh sen hồng.” Chúng ta có nghe được gì không, trong âm vang của “tiếng chuông chùa đi chậm?”
Đọc những tản văn trên tôi chợt có một ý nghĩ: Ước gì tản văn NTKM được đưa vào các bài tập đọc vỡ lòng của các em học sinh. Cũng như tôi đã từng học thuộc lòng bài tập đọc “Tôi đi học” của Thanh Tịnh. Tôi ước ao các em học sinh của các thế hệ mai sau sẽ biết cách gìn giữ các “ký-ức-chung” hay là “ngôi-nhà-chung” của những cảm xúc phổ quát về các mối liên kết rất huyền nhiệm của nhà quê, của ngôi chùa làng, của cha mẹ, của gia đình, của bạn bè đã được NTKM tái hiện trong những “tản văn dị thường” này.
Tôi cam đoan chắc chắn rằng những tản văn của NTKM nếu được dịch sang các thứ tiếng khác, thì “cảm xúc vàng ròng” đó vẫn không hề thuyên giảm hay mai một. Vì nó là cảm xúc chung mà con người ai ai cũng có. Ai sống trên đời này mà không có một quê hương? Không có một người cha, người mẹ, bạn bè, người thân?
Giờ đây giữa những xiêu đổ hoang vu của nền văn minh hậu hiện đại, chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ, và giúp cho các hế hệ mai sau của con cháu chúng ta gìn giữ “ngôi nhà chung” cùng với “ký ức chung” đó:
“Căn nhà chung” đó phải chăng là “cái-quý-giá-nhất” trên thế gian này? Nó quý giá đến nỗi Bùi Giáng phải lặn lội trong sanh tử luân hồi từ ngàn xưa trở lại chỉ để trao tận tay cho chúng ta, phó thác cho chúng ta cùng nhau gìn giữ nó? Như là gìn giữ một “bảo bối” giữa sức tàn phá khôn kham của hư vô:
“Đời xiêu đổ từ ngàn xưa anh trở lại
Giữa hư vô, em giữ nhé chừng này” (Bùi Giáng)
Ôi! Nhà Quê chung! Xin em hãy giữ nhé: chừng này!
 
PHẦN 2. NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH - BÓNG CON MÃNH ĐIÊU TRÊN DÒNG CẢM XÚC-
     Trong Phần 1, “Về tính hội tụ của một tản văn dị thường” chúng ta đã ghi nhận giá trị “hội tụ” của một “Nhà Quê chung” qua ngôn ngữ có tính chất tái tạo cảm xúc rất sinh động của NTKM. Trong phần 2 này chúng ta đặt câu hỏi là: “Do nguyên nhân nào mà NTKM lại viết được như thế? “Bí quyết” của sự thành công của NTKM nằm ở đâu?”
Thật ra “bí quyết” đó tạm gọi là “bí quyết” mà thực không phải là “bí quyết”. Với tâm hồn nhân ái và rộng mở như NTKM, nữ sĩ sẽ không bao giờ giữ riêng cho mình “bí quyết” nào. Không những thế, NTKM còn có chủ ý phơi bày nó một cách rất trang trọng ngay trong tựa đề của bài thứ nhất của tập tản văn. Bí quyết đó nằm gọn trong năm chữ như là một tấm bảng chỉ đường: “Theo Cảm Xúc Mà Đi”. Nói cách khác: “sự quan sát tinh tế, như thật các cảm xúc của chính mình” là “bí quyết” thành công của NTMK. Chúng ta hãy nghe chính NTKM nói rõ hơn về điều này trong bài “Thơ ơi”- Ký Ức của Bóng (2013):
“...Lời tôi viết
Là tấm gương soi cảm xúc tôi từng lúc,
Tôi viết nên bài thơ
Chẳng phải bằng con ruồi giả - như người ta câu cá”
(Trích “Thơ ơi!”- Ký Ức của Bóng)
Ở đây điều ghi nhận trước hết là NTKM không hề có ý khai thác cảm xúc của giác quan thi sĩ trời cho của mình để “câu” độc giả như người ta câu cá. Thi sĩ chỉ viết về cảm-xúc-thật của mình, trầm tĩnh quan sát nó, không hề bị dòng cảm xúc dâng trào đó nhận chìm hay cuốn trôi. Không những thế NTKM còn kiên nhẫn lắng nghe ý nghĩa của từng con chữ để chọn từ cho thật thích hợp và chuẩn xác, từ đó khai mở vùng trời hoàn toàn mới lạ cho ngôn ngữ Thi Ca. Bất cứ ai khi viết với thái độ trân trọng thích đáng như vậy đối với ngôn ngữ, và biết lắng nghe tiếng của từng con chữ, thì thành quả đương nhiên phải tới. Qua các tác phẩm của mình, NTKM đã phơi bày được cốt lõi tinh túy nhất của hoạt động tư duy của con người, tức là thông qua tư duy “mối-liên-hệ-sâu kín-giữa-cảm-xúc-và-ngôn-ngữ” được thiết lập. Sự thiết lập đó cũng chính là mục đích chính của tư duy: phản chiếu “cái-đang-là” của thiên nhiên, lên cấu trúc quy ước của ngôn ngữ thông qua “sự hội tụ” của các cảm xúc đang được kinh nghiệm trực tiếp trên tự thân. Vai trò của cái gọi là “thực-tại tự thân” (Heidderger gọi là Dasein) cũng được “tiết lộ” trong tiến trình tư duy này, nó như là một tấm gương soi giữa hai thế giới của cảm xúc và tư tưởng, mà trong đó Dasein là nhân chứng. Và từ đó, trong các tác phẩm của NTKM, chúng ta nhận thấy mối liên hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc được thiết lập như là “bóng” với “hình” trên “tấm gương nhân chứng” trong veo và rất mực nhân ái của NTKM.
Chính qua “sự phản chiếu” này mà những cảm xúc rất riêng tư, mong manh, nhẹ như cơn gió thoảng của thi sĩ sẽ hóa thân thành chiếc “bóng” đầy màu sắc bay rợp cõi thi ca NTKM. Chính qua “sự phản chiếu” này mà ranh giới giữa mong manh và vĩnh cửu cũng sẽ bị xoá nhòa.
“Bóng bay gió ơi” nhận thức trên bình diện đó, chính là hình ảnh ẩn dụ cho sự giải thoát của các cảm xúc hữu hạn được cảm nhận trong thân phận nhỏ nhoi của con người vào để hòa nhập vào cái vô hạn và không có thời gian của ngôn ngữ Thi Ca.
Tư duy, hiểu theo ý nghĩa của “sự phản chiếu” cảm xúc một cách như thật trên ngôn ngữ là điều cực kỳ khó. Nó đòi hỏi rất nhiều điều ở một thi sĩ. Trước hết, đó là thái độ điềm tĩnh chấp nhận vô điều kiện, toàn diện “cái đang là” của dòng cảm xúc. Tức là không có ý định, dù chỉ là mảy may, làm thay đổi, bám víu, hay là xua đuổi các cảm xúc, êm đềm hay khó chịu được cảm nhận trên tự thân. Thứ hai, nó đòi hỏi một thái độ kiên nhẫn, không vội vàng, để sống trọn vẹn trong “phút mong manh giữa những từ” để chọn ra “đôi ba hạt lúa chín” như là những từ ngữ “hột chắc” thật chuẩn xác và có độ phổ quát cao để mô tả các cảm xúc đó.
...Sau vụ mùa
Tôi chỉ đem về nhà được đôi ba hạt lúa chín
Chút màu vàng của nó lấp lánh trên tay
Làm tôi đã vô cùng sung sướng...
Bài thơ hoàn tất, dù là một điểm hẹn quyến rũ,
Nhưng phút mong manh giữa những từ
Lại là lúc đoá hoa đang nở. Đang tỏa hương.
Tôi có gì đâu phải vội.
(Trích “Phút Mong Manh Giữa Những Từ”- Ký Ức Của Bóng)
Chính vì không vội vàng, không bị quyến rũ bởi sự hoàn tất một bài thơ, mà thơ của NTKM lúc nào cũng như một “đoá hoa đang nở. Đang tỏa hương.” Hương vị Thi Ca và các cảm xúc được chuyên chở bằng ngôn ngữ NTKM trở thành các “cảm xúc đang là” trong lòng người đọc ngay trong phút này đây.
Nói tóm lại, cái nhìn thấu suốt các cảm xúc vi tế của tự thân và thái độ bình thản, kiên nhẫn, khiêm cung đối với cách chọn ngôn ngữ diễn đạt trọn vẹn nội dung các cảm xúc đó chính là yếu tố thành công của NTKM. Điều này được độc giả tự cảm nhận trực tiếp trên các tác phẩm của NTKM. Qua các tác phẩm đó, chúng ta nhận ra hình bóng của một “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc”. Đó là hình ảnh của một con “ó biển” (seahawk) mà không biết có phải là tình cờ hay có chủ ý, hình ảnh con mãnh điêu đó cũng xuất hiện trong chữ “ó” màu đỏ duy nhất trong tựa đề tập tản văn: “Bóng bay gió ơi*” toàn màu đen. (*Hình bìa của Bóng Bay Gió Ơi xuất bản năm 2015)
Con ó biển là một loại mãnh điêu có tốc độ bay rất nhanh và đặc biệt là đôi mắt rất tinh anh, có khả năng nhìn thấu suốt các loài cá đang bơi dưới dòng nước, ngay cả ở một độ cao trên 1600 mét.
Cũng giống như thế, NTKM chính là “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc” của nhân gian. Thi sĩ có một cái nhìn thấu thị các “cảm xúc đang là” của tự thân. Thi sĩ cảm nhận được tính cách mong manh dễ tan vỡ của các cảm xúc cho nên đã dùng ngôn ngữ thi ca để “phổ độ” cho chúng thành những “bóng” và thả cho các cảm xúc đó bay rợp cõi Thi Ca của mình. “Bóng Bay Gió Ơi” là tiếng reo mừng, mang ý nghĩa của một sự ký gởi “cái mong manh” vào “cái vĩnh cữu”. Sự gửi gấm đó là giấc mơ rất thơ và đầy tính nhân ái của một “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc.”
Đối với NTKM thì: “... Lời tôi viết, Là tấm gương soi cảm xúc tôi từng lúc”. Đó là lý do vì sao tôi mượn hình ảnh ẩn dụ của “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc” để nói về thi sĩ NTKM với tất cả lòng biết ơn trân trọng. Thi sĩ nhìn rất rõ các cảm xúc như con ó biển nhìn thấy cá bơi lội dưới dòng nước. Với tốc độ và sự chuẩn xác khó tin, con ó biển lao mình vào dòng nước và quắp con cá bay lên không trung. Cũng thế với sự nhạy bén và chuẩn xác trong ngôn ngữ, NTKM đã quắp chính xác các cảm xúc riêng của mình biến chúng thành phổ quát và thả nó lên vòm trời Thi Ca cho tất cả chúng ta cùng thưởng lãm. Hãy nhìn kìa: “Bóng Bay Gió Ơi”
Trong sự “phơi bày” về cái-đang-là của cảm xúc này, chúng ta nhận thấy rằng “cái-đang-là” được đưa vào trong ngôn ngữ diễn đạt của Thi Ca. Ngôn ngữ Thi Ca trở thành “nhà quê chung” cho “cái-đang-là” an trú. Căn nhà chung của ngôn ngữ Thi Ca này là nơi cư ngụ và “hội tụ” của các hoạt động tư duy con người. Những ai tư duy, và sáng tạo với ngôn ngữ chính là người quản gia của căn nhà chung này.
“Căn nhà chung” đó, còn được NTKM khai triển một cách cụ thể hơn qua hình ảnh “Mái Ấm”. Hãy nghe lại ngôn ngữ mà NTKM sử dụng để mô tả một “Mái Ấm” đó:
“Ngôi nhà, nơi không chỉ là những người trong một gia đình sống với nhau, mà còn là chia sẻ một cách rất người với không gian đó nữa, làm cho ngôi nhà ngoài hình thức cụ thể, còn có một nội dung “phi vật thể” rất đỗi sống động. Nó có chung với mình những trôi chảy thời gian, hòa cùng nhịp đập mỗi ngày sống, nên nói thật đúng, nó là một người thân, hơn nữa, một người anh cả chở che, và chiếm một chỗ rất đường bệ trong kho ký ức của mỗi người trong gia đình, tôi tin thế... Theo tôi, một ngôi nhà đẹp là ngôi nhà mà khi bước vào, người ta cảm được ngay cái đang là của nó, là khí ấm.”
Xin cám ơn Khánh Minh đã cho tôi một cảm nhận rất cụ thể rõ rệt về “cái-đang-là” của một “Mái Ấm”. Cám ơn ngôn ngữ trong veo của Khánh Minh đã giúp tôi tái hiện lại một vùng “Ký Ức của Bóng”. Và sau cùng cảm ơn Khánh Minh vì tôi đã nhìn thấy “sự giải thoát của Bóng” đi từ cái mong manh hữu hạn đến cái miên viễn không có thời gian trong “Bóng Bay Gió Ơi.”
TÔ ÐĂNG KHOA
Califorina 03.11.2015
 

16 BÀI HAIKU GỞI CÁNH ĐỒNG XA

Nguyễn Đức Nhân
 
Thơ Haiku. Tranh cổ
 
1.
Lẫn trong ánh trăng mờ
khàn khàn tiếng chim vạc
Xơ xác nón bù nhìn
 
2.
Sau cơn mưa đầu mùa
đàn mối cánh tung tăng
dự lễ hội áo dài
 
3.
Những con bướm đêm
hành hương về nơi phát sáng          
đã chết dưới chân đèn cầy
 
4.
Lững lờ qua xóm núi
phiến mây chiều dừng lại lắng nghe
tiếng đàn cò da diết
 
5.
Cành hoa hoang dại trên ao
cá lên đớp nắng
rập rờn bóng chao
 
6.
Trưa nắng dội trên đường
ve sầu ơi, dừng ca hát
dưới cội cây, có kẻ vừa ly hương
 
7.
Cây tùng chưa hề thay lá
đàm chim chưa bay khỏi đám mây
Ồ, bức tranh thêu ngày ấy
 
8.
Khệ nệ khiêng về hang
qua vài đêm thóc mọc
đàn kiến ngỡ ngàng
 
9.
Đèn chong hắt bóng lên tường
thiếu phụ ngồi như tượng
gà eo óc trong sương
 
10.
Trên đường xuôi ngược mưu sinh
đàn kiến lăng xăng, tất tả
vẫn ân cần chạm râu
 
11.
Đêm đông
bé con ôm lấy mẹ
chim cú kêu sau nhà
 
12
Nước hồ thu trong xanh
chiếc lá lìa cành, bóng và hình không hẹn
gặp gỡ giữa mặt hồ thu xanh
 
13
Con gà mái tơ nhảy ổ
đẻ xong, cục tác
báo tin vang nắng chiều
 
14
Rạng sáng ra thăm vườn
nghe tiếng chuông xa vắng
ngân thơm hương dạ lan
 
15
Cánh đồng sau mùa gặt
đôi chim sáo đứng hót
trên cánh tay người bù nhìn
 
16
Trong quán vắng,
từng giọt cà phê rơi
đêm mùa thu
 
(Tiếp xúc thực tai, ý nào đến, ghi lại, không sắp xếp theo mùa)
NĐN - 2026
 
 

Tuesday, July 28, 2026

GIỮA SÁNG TẠO VÀ TRỘM BẢN QUYỀN

Phan Tấn Hải
 
Ca/nhạc sĩ Taylor Swift

Hoa bốn cánh trên logo tiệm trà Molly Tea

Làm thơ, viết truyện, soạn kịch, soạn nhạc, hay vẽ... chúng ta sáng tác, có thể hoàn toàn không mượn từ người xưa? Hiển nhiên là chúng ta đã học từ rất nhiều vị thầy, từ ca dao, từ truyện cổ tích, từ các vị thầy nơi trường lớp, từ vô lượng các sách chúng ta đã đọc. Tuy nhiên, tới mức nào thì một bài thơ, hay lời một ca khúc có thể  bị xem là vi phạm tác quyền dể bị thưa kiện, đường biên hẳn rất là mong manh. Đặc biệt là khi sáng tạo từ những ký ức chúng ta không thể nhớ tới cội nguồn.
 
   Các báo Hoa Kỳ hôm 7/7/2026 ghi nhận về phán quyết của thẩm phán Aileen Cannon của tòa liên bang tại Florida đã bác bỏ vụ kiện do nhà thơ Kimberly Marasco, cáo buộc nhạc sĩ Taylor Swift sao chép các chủ đề và ý tưởng của chính bà Marasco để sáng tác những ca khúc như "The Man", "The Great War", "I Can Do It with a Broken Heart" và nhiều bài khác.
    Trong số các cáo buộc nhắm vào những ca khúc được cô Swift phát hành từ năm 2019 đến 2024, Marasco cho rằng Swift đã vi phạm bản quyền bài thơ "Ordinary Citizen" của bà — bài thơ có câu: "I'm running behind / You say it's His word against mine" (Tôi đang chạy phía sau / Anh nói đó là lời của Ngài nghịch với lời của tôi) (Ghi chú: chữ Ngài viết hoa ám chỉ Thượng đế) — thông qua ca khúc "The Man" của Swift, bài hát có đoạn: "I'm so sick of running as fast as I can / Wondering if I'd get there quicker if I was a man" (Tôi quá mệt mỏi với việc phải chạy nhanh hết sức có thể / Và tự hỏi liệu mình có đến đích nhanh hơn không nếu tôi là đàn ông).
    Nhà thơ Marasco nói rằng cả bài thơ lẫn ca khúc của Swift đều mô tả hình ảnh một người phụ nữ làm việc trong môi trường công sở do nam giới thống trị.
    Nhà thơ Marasco cũng cáo buộc ca khúc "The Great War" của Swift (với lời bài hát "Diesel is desire, you were playing with fire" - Dầu diesel là ham muốn, anh đang đùa với lửa) chôm lời bài thơ "The Fire" của bà (có câu "Anger fuels our desire... I'm fighting fire with fire" - Cơn giận tiếp thêm nhiên liệu cho ham muốn của chúng ta... Tôi đang dùng lửa để chống lại lửa) vì cả hai đều sử dụng phép ẩn dụ coi "ham muốn là nhiên liệu và ngọn lửa".
    Vụ kiện của Marasco cũng liệt kê nhà sản xuất âm nhạc Jack Antonoff, hãng đĩa Republic Records, Universal Music Group và nhạc sĩ Aaron Dessner vào danh sách các bị đơn.
    Trong phán quyết đưa ra vào thứ Ba 7/7/2026, Thẩm phán Aileen Cannon nhận định rằng đây là những "chủ đề, khái niệm và từ ngữ riêng lẻ mang tính điển hình" mà luật bản quyền không bảo hộ.
Thẩm phán Cannon đã chấp thuận yêu cầu bác bỏ vụ kiện của Swift, phán quyết rằng các bài thơ của Marasco "không chứa đựng nội dung thể hiện có thể được bảo hộ bản quyền, và dù thế nào đi nữa, Nguyên đơn cũng đã không đưa ra được lập luận thuyết phục về hành vi sao chép".
Thế rồi, trong một email gửi đi vào thứ Ba, nhà thơ Marasco cho biết bà đã nộp đơn kháng cáo. Kiện tiếp sao? Chúng ta cũng thấy rằng, cô Swift là tỷ phú, nên mới bị kiện. Nhưng hình ảnh của lửa so sánh với tham sân si là hiển nhiên, cả nhạc sĩ và nhà thơ đều trộm hình ảnh đó từ Kinh Phật. Có ai tách rời hoàn toàn khỏi ký ức sáng tạo của nhân loại? Không dễ tí nào.
Một nguyên tắc cơ bản đến mức các nghệ sĩ thường quên mất: luật bản quyền không bảo hộ ý tưởng. Nó bảo hộ cách cụ thể mà các ý tưởng đó được thể hiện. Nên nhớ, tất cả các nghệ sĩ đều khởi đầu như một kẻ trộm.
     Không phải kiểu người lẻn qua cửa sổ trong đêm tối mà không ai hay biết, mà là kiểu người nhẹ nhàng hơn: vay mượn nhịp điệu từ thuở ấu thơ, hình ảnh từ ký ức, giọng nói từ thầy cô, sắc màu từ hoàng hôn và những phép ẩn dụ từ những cuốn sách mà tác giả có thể đã qua đời từ hàng thế kỷ trước. Chúng ta thừa hưởng một thế giới đã cất tiếng nói trước khi ta thốt ra câu đầu tiên, đã nghe hát giai điệu trước khi ta sáng tác bản nhạc đầu đời, và đã thấy nét vẽ người xưa từ rất lâu trước khi ta đặt bút vẽ nét đầu tiên.
      Tính nguyên bản, nguyên chất, thuần túy độc đáo chưa bao giờ đồng nghĩa với việc bắt đầu từ con số không. Chúng ta không rời các chữ của ca dao, Nguyễn Du, Bùi Giáng... Chúng ta sáng tác từ khối ngữ vựng của dân tộc. Và chúng ta cũng như người xưa đã có cùng các nỗi buồn, khi ý thức về các mối tình tan vỡ, về các đau khổ của đời người. Cõi người chúng ta có cùng các nỗi đau, cùng ý thức về cô đơn, lòng đố kỵ, tâm độ lượng tha thứ hay niềm hy vọng.
     Lửa [dù là ẩn dụ khát vọng] không phải là riêng trong thơ hay nhạc của ai. Lửa đã tượng trưng cho niềm đam mê suốt hàng thiên niên kỷ. Dòng sông đã mang theo dòng chảy thời gian từ thuở xa xưa. Loài chim đại diện cho sự tự do trong mọi nền văn minh từng ngắm nhìn chúng bay vút vào bầu trời. Nếu những hình ảnh ấy có thể bị đánh bản quyền, thì văn học hẳn đã không thể tồn tại từ lâu rồi.
      Luật pháp không bảo hộ ngôn ngữ chung của nhân loại, mà bảo hộ giọng điệu độc đáo biết sắp xếp ngôn ngữ ấy thành một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân không thể nhầm lẫn. Đây cũng là những mơ hồ khó nhận biết. Thí dụ, chúng ta rất khó (hay gần như bất khả) làm thơ y hệt kiểu Nguyễn Du, Bùi Giáng.
      Tương tự như hội họa, tranh vẽ và âm nhạc. Picasso không phải là người phát minh ra khuôn mặt người. Tranh in mộc bản Nhật Bản đã ảnh hưởng đến trường phái Ấn tượng. Nghệ thuật điêu khắc châu Phi đã làm thay đổi chủ nghĩa hiện đại châu Âu. Nhạc Jazz ra đời từ cuộc đối thoại phi thường giữa các truyền thống âm nhạc châu Phi, hòa âm châu Âu, thánh ca nhà thờ, ban nhạc quân đội và nhạc blues.
Dù vậy, chúng ta có thể thấy một số họa sĩ Việt Nam vẽ trong phong cách lập thể như Picasso nhưng họ vẫn có nét riêng. Về âm nhạc, chúng ta có thể thấy nhiều ca khúc bolero nghe gần gần nhau, nhưng không ai làm nhạc giống như Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Cung Tiến.
     Thực tế, mỗi thế hệ đều chỉnh sửa bản thảo do thế hệ đi trước để lại. Bây giờ, chúng ta nhắc tới một hồ sơ vi phạm bản quyền vẽ thương hiệu.
       Theo bản tin AP từ Hồng Kông hôm 7/7/2026, một phán quyết của tòa án tại Tô Châu (Suzhou) đã buộc chuỗi tiệm trà địa phương Molly Tea phải bồi thường 1,5 triệu USD cho thương hiệu xa xỉ Pháp Louis Vuitton vì hành vi vi phạm nhãn hiệu, cụ thể là liên quan đến thiết kế hình bông hoa bốn cánh. Vụ kiện đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc và trong cộng đồng mạng; nhiều người đặt câu hỏi liệu logo của Louis Vuitton có phải được lấy cảm hứng từ các họa tiết truyền thống của Trung Quốc có từ thời cổ đại hay không. Những người chỉ trích cáo buộc thương hiệu Pháp đang cố gắng độc quyền các họa tiết mang đậm dấu ấn văn hóa này.
       Phán quyết trên – vốn đang thu hút nhiều sự chú ý trên các nền tảng mạng xã hội như Weibo – đã làm dấy lên những lo ngại về việc bảo tồn di sản cổ xưa của Trung Quốc. Tờ Beijing Daily bày tỏ sự tiếc nuối khi một công ty Trung Quốc phải chịu mức phạt nặng nề vì một thiết kế phản ánh truyền thống nghệ thuật hàng trăm năm của đất nước Trung Hoa. Tờ Global Times cũng chia sẻ quan điểm tương tự, phản ánh sự bất bình rộng rãi của người dân Trung Quốc trước việc các thương hiệu nước ngoài kiểm soát những thiết kế gắn liền với bản sắc văn hóa của họ.
      Vụ kiện này cũng nằm trong bối cảnh rộng hơn về các tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa các doanh nghiệp phương Tây và Trung Quốc, nơi các thương hiệu quốc tế thường xuyên khởi kiện tại thị trường Trung Quốc. Bất chấp phán quyết của tòa án, chuỗi tiệm trà Molly Tea vẫn tiếp tục sử dụng logo hình bông hoa bốn cánh trên trang web của mình và dự định sẽ kháng cáo.
      Trong khi kỷ niệm 130 năm ra đời họa tiết monogram (chữ lồng) đặc trưng, ​​Louis Vuitton khẳng định thiết kế này được lấy cảm hứng từ phong cách trang trí Tân Gothic và trào lưu Japonism (ảnh hưởng của nghệ thuật Nhật Bản), cho thấy sự giao thoa phức tạp giữa các luồng ảnh hưởng văn hóa. Đáng chú ý, cả LVMH và Molly Tea hiện vẫn chưa đưa ra bình luận công khai nào về vụ việc này.
 
       Câu hỏi nơi đây sẽ rất phức tạp cho chúng ta: khi các họa sĩ Việt Nam vẽ logo và dùng hình ảnh trống đồng hay chim lạc có từ nhiều ngàn năm trước, chúng ta có vi phạm bản quyền của nhau không?
Vụ tranh cãi này đã hé lộ một vấn đề lớn hơn cả luật nhãn hiệu. Văn hóa thuộc về lịch sử chung của một dân tộc. Thương hiệu thuộc về thương mại riêng của một công ty. Chim lạc, trống đồng là hình ảnh chung. Có phải khi biến thành thương hệu riêng để kinh doanh thì sẽ cần giữ bản quyền. Thiệt là mập mờ đường biên vậy. Hay là chúng ta lấy cớ thương hiệu là để bảo vệ người tiêu dùng?
     Vậy rồi còn AI (trí tuệ nhân tạo) thì sao? AI đã trộm chữ và hình từ cả triệu triệu trang web để làm ra sản phẩm riêng. Chúng ta nhìn hình AI thì thấy hao hao, nhưng không thể kiện AI về tội trộm hình ảnh khắp nơi để xào nấu. Chúng ta bực dọc vì AI làm thơ cũng đôi khi chữ nghĩa nghe được, nhưng hao hao như thơ của ai mà chúng ta không nhớ, nhưng cũng không níu áo AI mà kiện được.
      Các trang AI giờ đây có thể viết tiểu thuyết, sáng tác âm nhạc, mô phỏng phong cách họa sĩ, tạo ra hình ảnh những người chưa từng tồn tại và viết các bài luận chỉ trong vài giây – những công việc từng đòi hỏi hàng tuần lao động. Một số người ca ngợi những bước tiến này như một cuộc Phục hưng mới. Số khác lại lo ngại chúng là khởi đầu cho sự tự động hóa văn hóa.
      Cả hai phản ứng này có lẽ đều hơi thái quá. Nhưng AI hiển nhiên là cách mạng. Mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều từng khơi dậy những nỗi lo âu tương tự.
      Như trường hợp hội họa. Khi nhiếp ảnh ra đời, các họa sĩ từng lo sợ về sự chấm dứt của hội họa. Thay vào đó, khi được giải phóng khỏi nhiệm vụ sao chép thực tại đơn thuần, họ đã khám phá ra trường phái Ấn tượng, Lập thể và Trừu tượng.
      Khi điện ảnh xuất hiện, tiểu thuyết vẫn tồn tại. Khi truyền hình len lỏi vào mọi phòng khách, sân khấu kịch vẫn đứng vững. Khi internet ra đời, số lượng sách thậm chí còn gia tăng. Kỹ thuật hiếm khi triệt tiêu nghệ thuật. Nó chỉ thay đổi những câu hỏi mà người nghệ sĩ đặt ra. Và AI sẽ đẩy người sáng tác phải tìm một chân trời mới.
      Trí tuệ nhân tạo có lẽ đặt ra thách thức lớn nhất từ ​​trước đến nay, bởi khả năng vận hành trôi chảy đến kinh ngạc của nó dựa trên việc xào nấu khối lượng khổng lồ các tác phẩm do con người tạo ra. Các nhà văn tự hỏi liệu sách của họ có đang trở thành những người thầy không công cho máy móc hay không. Các họa sĩ minh họa nhận thấy những hình ảnh do máy tạo ra mang dáng dấp của bao năm lao động miệt mài. Các nhạc sĩ nghe thấy những phong cách quen thuộc được tái tạo lại với sự dễ dàng đến mức đáng ngại.
      Thực tế, chỉ riêng cơ chế bảo hộ bản quyền sẽ không thể duy trì nền văn hóa nghệ thuật. Đôi khi, chính luật bản quyền lại trở thành rào cản.
      Bài viết nhan đề "How copyright law is holding back Australian creators" (Luật bản quyền đang kìm hãm các nhà sáng tạo Úc như thế nào) trên trang Conversation năm 2018 cho biết  rằng luật bản quyền đặt ra những rào cản lớn cho các nhà sáng tạo Úc, có nguy cơ gây trì trệ thay vì khuyến khích sự sáng tạo. Các cuộc phỏng vấn với 29 nhà sáng tạo—bao gồm nhà làm phim tài liệu, nhà văn, nhạc sĩ và nghệ sĩ thị giác (họa sĩ và điêu khắc gia)—đã bộc lộ những bất mãn xoay quanh sự phức tạp và chi phí cao khi xin cấp phép sử dụng lại các nội dung có bản quyền. Nhiều người cảm thấy quá tải với quy trình cấp phép, thường xuyên phải đối mặt với thời gian chờ đợi kéo dài và mức phí cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án của họ.
      Ví dụ, một nhà soạn nhạc đã phải chờ đợi suốt một năm để được cấp phép sử dụng một bài thơ, dẫn đến việc cuối cùng phải viết lại lời bài hát một cách đầy khó khăn. Tương tự, một nhà làm phim đã phải từ bỏ dự án phim tài liệu do chi phí cấp phép quá đắt đỏ—lên tới hơn 10.000 đô la—chỉ cho chưa đầy hai phút âm nhạc. Trời ạ, chỉ có 2 phút nhạc thôi đấy.
      Các nhà sáng tạo tỏ ra bối rối về phạm vi của các trường hợp ngoại lệ trong luật bản quyền Úc, chẳng hạn như quy định "fair dealing" (giao dịch công bằng); các quy định này khá hạn chế so với khái niệm "fair use" (sử dụng hợp lý) rộng rãi hơn ở các quốc gia như Hoa Kỳ. Sáng tạo mà không dè dặt là vi phạm bản quyền. Mà làm sao bảo đảm là chữ nghĩa, tranh vẽ, phim ảnh của mình không giống với người xưa?
      Các nhà nghiên cứu về giới sáng tạo tại Úc nói rằng một nghịch lý rõ ràng đang hiện hữu: pháp luật được thiết kế để khuyến khích sáng tạo, nếu bị áp dụng một cách cứng nhắc, lại có thể kìm hãm sáng tạo.
     Có một hình ảnh cổ xưa, thường được cho là của nhà khoa học Isaac Newton, về việc nhìn xa hơn khi đứng trên vai những người khổng lồ. Hình ảnh ẩn dụ này vẫn là một trong những mô tả chính xác nhất về đời sống nghệ thuật.
     Một nhà thơ nghiêm túc hiển nhiên cần đọc và nghiên cứu về thơ Homer, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Dante, Shakespeare, Emily Dickinson, Rabindranath Tagore, Pablo Neruda, và vô số những ngôn ngữ thơ khác để chúng ta có thể, nói theo Newton, đứng trên vai của các vị thầy của chúng ta đề nhìn xa hơn, nhưng không tự đánh mất mình để trở thành kẻ trộm thơ, kẻ đạo văn...
     Họa sĩ, nhạc sĩ cũng rơi vào trường hợp tương tự như các nhà thơ... Học theo người xưa và sáng tác theo trái tim của mình. Biết ơn người xưa, nhưng không thể trộm của bất kỳ ai. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật không bao giờ là lời độc thoại riêng, mà là một cuộc đối thoại kéo dài qua nhiều thế kỷ, nơi đó mỗi thế hệ học theo và nói lên những tiếng nói mới cho những thế hệ chưa đến.
     Nơi đây, xin nói lời riêng: Tôi, một nhà báo đôi khi làm thơ, hoàn toàn đồng ý với tòa án liên bang Miami khi thẩm phán không tin rằng nhạc sĩ Taylor Swift đã "chôm" ẩn dụ hình ảnh "lửa" của nhà thơ Marasco, vì nếu nói là đạo văn, thì chúng ta có thể dò xa hơn nhiều ngàn năm để thấy hình ảnh "lửa của khát vọng" đã ghi rõ trong Kinh Phật.
PTH
 
Nhà thơ Bùi Giáng

Monday, July 27, 2026

NGU YÊN RA MĂT SÁCH

Chúc mừng bạn ta 

ĐÊM ĐỌC THƠ & HÁT THƠ Ở DALLAS 10.7.2011

Đêm Bên Hồ Irving với Nguyễn Xuân Phước,

Hoàng Đình Bình, Nghĩa Bùi, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc,

Trương Vũ, Đinh Yên Thảo, Nguyễn Xuân Thiệp…

Xin bấm vào Link để xem

https://www.youtube.com/watch?v=881ZUQ1KLRQ