Friday, October 9, 2026
TƯỞNG NHỚ CHA TÔI, THANH VÂN NGUYỄN DUY NHƯỜNG - NHÀ THƠ, DẠY HỌC, NGHIÊN CỨU HÁN NÔM- ÔNG RA ĐI VÀO THÁNG 10.2010
Wednesday, October 7, 2026
NGUYỄN XUÂN THIỆP. NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ!
Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp sinh tại Huế, học tại Huế và Sài Gòn. Ông từng làm thơ, viết văn, đăng báo từ trước năm 1954 và từng dạy học tại Mỹ Tho. Sau khi nhập ngũ năm 1963, ông làm cho đài phát thanh quân đội, lần lượt từ Pleiku, Đà Lạt rồi Sài Gòn.
Sang Mỹ, ông xuất bản hai tập thơ: Tôi Cùng Gió Mùa và Thơ Nguyễn Xuân Thiệp (1998). Ông cũng viết Tản Mạn và ra sách về thể loại này, từng là chủ biên của tạp chí Phố Văn và cộng tác với nhiều tờ báo cũng như tạp chí uy tín khác ở hải ngoại, tiếp tục đóng góp vào dòng chảy văn học Việt Nam tại Mỹ.
Tôi biết đến Nguyễn Xuân Thiệp là nhờ nhà văn T.N. Anh là người đã giúp tôi khá nhiều trong việc “nhận diện” những nhà thơ, nhà văn, mà do hoàn cảnh địa lý, do sinh sau đẻ muộn, nên không thể biết hết.
Biết cũng như quyết định viết về Nguyễn Xuân Thiệp và một vài bài thơ cụ thể của ông, còn là nhờ, tôi tình cờ đọc được bài phỏng vấn ông, do nhà thơ Triều Hoa Đại thực hiện, tôi đã cảm thấy xúc động trước những bộc bạch vừa đơn giản lại vừa rất bao dung, vừa trân trọng thực tại cuộc sống vừa cố gắng đẩy lùi bóng ma của sự thù hận.
Khi Triều Hoa Đại hỏi: Những gì anh viết, đã vượt lên trên những đau thương và thù hận, có phải vậy không?
Nguyễn Xuân Thiệp trả lời: Thù hận? Hồi mới ra khỏi trại, khốn khổ và ô nhục đến cùng cực, tôi định viết một lúc bốn bài oán gọi là Tứ Ðại Oán. Nhưng mới được hai bài, Trà Oán và Bài Oán Thi Ðêm Phương Nam, thì ngưng. Ngưng không phải vì cạn ý, hết hứng, mà vì tôi nghĩ, viết như vậy để làm gì?
Oán oán chập chùng. Chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho đời ta mà thôi, chẳng khác nào gánh đá đi trong bùn vậy.
Nguyễn Xuân Thiệp kết luận: Tôi không phải là nhà tranh đấu, mà chỉ là nhà thơ!
******
II. CHÁY TRONG VƯỜN LÃNG QUÊN / CHIỀU NGHIÊNG. ĐỐM LỬA
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, trước hết là những lời tự sự và hoài niệm chân thành, tình tứ, trăn trở, của những năm tháng đời vui, trường lớp, tình yêu trong sáng và những mộng mơ thời mới lớn đầy cảm xúc, đan xen với văn hóa phương Tây và không khí của cuộc chiến tranh đang diễn ra, tạo nên một phong cách thơ vừa lãng mạn vừa hiện đại: tôi lớn lên và đi vào đời những năm sáu mươi. khi chiến tranh Việt Nam rực cháy những cánh rừng xa. nghe âm nhạc của các anh. please, please me. i want to hold your hand. ôi những hoàng hôn sẫm tối. bình minh trong mưa. cơn sốt của tâm hồn. thành phố cười. phượng đỏ. mái ngói buổi yêu đầu. ơi em (Âm Nhạc The Beatles Và Những Cánh Dã Quỳ).
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, sau nữa, là lời tự sự của những tháng năm tiếp theo, khi mà cuộc chiến tương tàn kết thúc, với những bên thắng bên thua, thắng làm vua mà thua thì làm giặc, buồn đau, thấm thía nỗi đời, thấm thía cả tình đời, tưởng chỉ dừng ở éo le, ngang trái, dè đâu, nó khốc liệt, thê thảm, đổ vỡ, hoang tàn, lạc lõng hơn sự tưởng tượng của người ta nhiều lắm:
cháy. trong vườn lãng quên
chiều nghiêng. đốm lửa
người tù xa lâu năm. trở về
bên mái nhà. và bờ ao
mùa thu. tàn ố
khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên
nấm mộ đá ong
dế khóc
(Saigon mùa thu, 1982)
******
III. VẦNG TRĂNG TREO TRÊN NGỌN SẦU ĐÔNG
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ. Tôi thích những cái hay và lạ đó ở các tác giả, bởi vì, đó chính là cái mới, hay nói khác đi, đó chính là sự sáng tạo. Tất nhiên, trừ những trường hợp bắt chước người khác. Điều ấy, người đọc nhiều, và tinh ý một chút, là họ sẽ phát hiện ra ngay.
Cái lạ thứ nhứt, đó là Nguyễn Xuân Thiệp không viết hoa bất kỳ một từ nào ở trong bài, kể cả tên riêng, kể cả sau những dấu chấm. Trường hợp này, ở Sài Gòn, tôi biết có ở một người, đó là nhà thơ Đỗ Trung Quân.
Tôi nói tôi thích là bởi vì, tôi cũng y như vậy. Tôi rất sợ phải đọc những bài thơ mà đầy những chữ viết hoa lổm ngổm trong bài. Lắm trường hợp, chữ viết hoa còn nhiều hơn chữ viết thường, nhìn hoa cả mắt, và cứ có cái gì đó, rất khựng lại, rất khó trôi, không liền mạch, không tập trung vào cảm xúc được, và cả rất mệt nữa, khi phải đọc chúng.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ. Hôm ấy, tôi viết một bài thơ, có một người không có trong danh sách bạn bè, họ còm vào bài tôi, thắc mắc: sao xuống hàng, sao đầu câu không viết hoa, sao chữ đó là địa danh, không viết hoa, sao chữ đó là thế này, thế kia, không viết hoa, bla, bla, đủ kiểu.
Trả lời các hạch hỏi như tra vấn, như khảo thí, như bắt lỗi đó, thì xin thưa, không phải là nghĩa vụ của tác giả. Mà không trả lời, thì nhìn cái câu hỏi trên trang, thiệt là khó chịu. Mà block người ta, thì càng cảm thấy khó chịu hơn. Nên từ đó, tôi chỉ để chế độ bạn bè còm. Vì, đã là bạn bè, thì tất nhiên, và trước hết, phải hiểu được nhau.
Ngay cả khi, không hiểu nhau, thì đối với tất cả những người làm nghệ thuật, hoặc viết văn, làm thơ, soạn nhạc, nhiều ít gì, họ cũng luôn có những thói quen riêng, những quy định riêng cho mình. Họ cũng chẳng ép buộc ai phải gượng gạo đọc, thế nên, bạn đọc cũng hãy tế nhị mà tôn trọng các tác giả, họ có quyền tự do tuyệt đối trong sáng tác của mình.
Trở lại Nguyễn Xuân Thiệp, ông có những thói quen rất hợp với tôi trong sáng tác. Bài thơ sau đây, ông viết cho người bạn đã mất, là Phạm Ngọc Lư, một nhà thơ tài hoa, đặc biệt với bài Biên Cương Hành mà tôi từng đã viết bài cảm nhận. Lư cũng là một trong người bạn vong niên rất thân thiết của tôi:
chiều nay
ngồi đọc lại thơ lư
nghe sông hàn. bạt gió
hải vân quan. đá dựng
biên cương
cố lý
gió lào vẫn thổi
sao cay mắt
thơ ai
như chông xuyên thấu trời
người về lều cỏ
nghe tiếng sáo u u
vầng trăng treo trên ngọn sầu đông
cơm. với rau rừng. nước mắt
cô lái đò trên bến xưa. còn đợi
lư đã về lại phá tam giang
gởi lại vợ con, bạn bè, tấm áo, và những bài thơ
lư ơi
nằm trong cỏ rối
có nghe. thu vàng hát.
Đoạn thơ trên được trích từ trong bài Lư Đã Về Lại Phá Tam Giang. Tôi thích cái từ “về lại” của ông Thiệp đã dùng. Về lại, có nghĩa là, Phá Tam Giang, vùng sông nước ấy, chính là nơi mà Lư đã khởi đầu cuộc viễn du trong đời vừa qua của mình. Ở đoạn này, tác giả nhắc lại những từ ngữ đặc sắc, đã làm nên hai bài thơ tiếng tăm vang lừng của Phạm Ngọc Lư, đó là, Biên Cương Hành và Trở Về Phá Tam Giang.
Viết ít mà tình nhiều, đó là nét riêng của thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Viết dài, kiểu như viết trường thi, có cái khó của viết dài. Nhưng viết ngắn cũng vậy, phải dụng công lắm mới được. Ít chữ, mà chữ nào cũng cần thiết, chữ nào cũng tinh túy, chắt lọc, ấy mới là hay, và khó nữa, chớ không dễ dàng đâu.
******
IV. MÙA THU VÀ BẾP LỬA
Thơ thì thường buồn, đương nhiên rồi. Nhưng buồn cũng có nhiều cấp độ lắm, như bão ấy mà. Buồn ít. Buồn nhiều. Buồn lắm. Buồn dữ dội. Buồn chỉ muốn chết. Đại loại vậy.
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn, nhưng là cái buồn dễ chịu. Buồn mà dễ chịu là sao? Tức là buồn chỉ như một lớp sương mỏng, như một khoảng lặng dịu dàng, hay như một nốt trầm trong một bản nhạc. Buồn mà không đến độ cồn cào, không cấu xé, cũng không đau đớn tột cùng, khóc than hay gào thét. Buồn này nhẹ nhàng, lắng đọng vì đã thấu hiểu lẽ nhân sinh
Như bài thơ này chẳng hạn:
MÙA THU VÀ BẾP LỬA
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
******
IV.1. CHIỀU MÙA THU / VÀ MỘT BẾP LỬA / ĐỂ VỀ
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
Bếp lửa, biểu tượng của mái ấm bình dị nhưng tràn đầy tình thương và sự chở che. Biểu tượng này, đối lập với trạng thái se lạnh, heo may, buồn man mác của một buổi chiều thu. Mùa thu còn là mùa để về. Về đâu ư. Thì về nhà chớ về đâu. Về nơi ta từng ở. Về nơi có người thương. Về nơi mà từ đó ta đã ra đi. Về nơi mà ta thấy nhớ, nhớ đến đau lòng, đến quặn thắt cả ruột gan, ngày đêm, không dứt.
Bếp lửa ấm cúng và bình yên này, vốn đã được lưu giữ từ lâu trong tâm thức của kẻ ly hương, là tác giả.
******
IV.2. TÔI CHỢT NGỘ RA / KHÔNG.
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
Từ nhưng được đặt ở đầu câu, tạo thành bước ngoặt của cảm xúc, đối lập với sự ấm áp của bếp lửa, là chiều nay, một buổi chiều thu buồn bã và hiu quạnh.
Tác giả thấy lạnh. Cái lạnh không chỉ ở da thịt, mà lạnh còn xâm nhập vào cả tâm hồn.
Tác giả chợt ngộ ra Không. Không, hư vô. Không, trống rỗng. Không, không có gì cả.
Tác giả không có một bếp lửa nào để sưởi ấm tâm hồn, không có một gia đình nào để trở về, không có một quê hương nào để được chở che. Ông đã dùng câu phủ định đến hai lần trong khổ thơ, để nhấn mạnh sự mất mát trọn vẹn, cuộc đời đã không còn nơi nương tựa.
Như bao người khác, ông khao khát một chốn dừng chân, một nơi để quay về, quay về cội nguồn, quay về giá trị tinh thần xưa, quay về mái nhà, sau những bão tố, cuồng giông.
Bằng những dấu câu rất riêng của mình, Nguyễn Xuân Thiệp đã làm ngôn ngữ của ông trở nên tự do. Với những ngắt quãng ấy, khổ thơ đã thể hiện được sự nghẹn ngào, trăn trở, và cả thảng thốt nữa, khi nhận ra một sự thực rất đỗi phũ phàng, ông không có một bếp lửa nào, một mái ấm nào, để trở về.
******
IV.3. MÀ CHỈ LÀ NGƯỜI HÀNH GIẢ
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
Thi nhân giờ đây, chỉ là một hành giả đang đi trên một hành trình vô định. Từ “chỉ” được dùng ở đây rất hay, đó là sự buông bỏ, là sự chấp nhận, ta chỉ là một thân phận nhỏ bé, đơn độc, đang đi trên đường chiều mà thôi.
Quán trọ, cõi tạm, cõi tạm bợ, cõi nhân gian. Ngôi chùa, nơi bình yên, thanh tịnh, chốn tựa nương. Bốn phương nào thấy, sự vô vọng, tuyệt vọng trong kiếm tìm chốn bình an, chốn dừng chân yên ổn.
Bằng giọng thơ trầm tư, Nguyễn Xuân Thiệp đã vẽ lên được một chân dung trí thức của miền Nam sau cuộc chiến hai mươi năm, cũng như nỗi trăn trở về kiếp người dâu bể và ít nhiều, phảng phất triết lý vô thường của nhà Phật.
******
IV.4. CHIỀU RƠI / CHIỀU KHÔNG LỬA ẤM
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
Tác giả, hơn bao giờ hết, khao khát một sự cảm thông, chia sẻ, an ủi, vỗ về. Ông thèm được vị thiền sư, bậc trí tuệ, đấng siêu nhiên, đầy lòng bác ái và từ bi, tặng cho mình một chiếc áo và vầng trăng. Chiếc áo, khoác cho xác thân đỡ lạnh. Vầng trăng, ánh sáng soi lối cho tâm hồn tìm về nơi thanh thản.
Không thấy thiền sư trả lời.
Trong cô đơn và quạnh quẽ muôn bề, ông cất tiếng tha thiết gọi lần thứ hai, thiền sư ơi. Ơi, thường được dùng cho những thân thiết, cho những trìu mến, thương yêu. Và thảng thốt kêu lên cùng người: chiều rơi / chiều không lửa ấm.
******
V. CHIỀU BÊN SÔNG GIĂNG
Nắng Đã Phai Vàng Trên Mái Rạ, câu tựa đề này, tôi lấy ra từ một bài thơ khá dài của Nguyễn Xuân Thiệp mang tên Chiều Bên Sông Giăng.
Bên bờ sông Babylon
Ta ngồi ta khóc
(Psalm 137)
Bài thơ đã được Từ Công Phụng phổ thành ca khúc mang tựa đề cùng tên và do chính nhạc sĩ thể hiện với chất giọng ấm, trầm, đầy vẻ hoài niệm xưa.
Ở trên, tôi có nhận xét, thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ, rồi thì thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn mà buồn rất dễ chịu.
Khi đọc đến bài Chiều Bên Sông Giăng này, thì tôi thấy thêm, thơ Nguyễn Xuân Thiệp, ngoài những ưu điểm nêu trên, thơ ông còn đầy tính nhạc, đầy vần điệu, đầy hình ảnh, đầy nỗi niềm, nên thơ ông rất thơ và rất đẹp.
Ví dụ, như đoạn này trong khổ thơ thứ hai:
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
******
V.1. LÒNG TA. TRÁI KHÔ RƠI. MẤY MÙA
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
Chiều ngồi bên sông mênh mông, luôn là những buổi nghe lòng buồn man mác.
Tiếng sấm xuất hiện trong khổ thơ, là tiếng sấm của mùa, hay tiếng sấm vọng từ trong ký ức của tác giả? Sấm là âm thanh phẫn nộ của thiên nhiên hay đó là tiếng dội vang làm chấn động tâm hồn, gợi lên sự bất an, như tháng 03, tháng 04 của năm 1975?
Trái khô rơi, gợi cho người đọc hình ảnh của sự kết thúc. Trái khô hay lòng ta đã úa sầu, héo hon suốt mấy mùa qua?
Thời gian trôi qua bào mòn tất cả, từ cảnh vật đến tâm hồn. Trong lòng người lưu đày giờ đây, chỉ duy nhứt nỗi thương nhớ gia đình, thương nhớ xứ sở, và không biết có còn kịp không, ngày gặp lại, ngày đoàn viên, ngày hồi hương, được trở về trong sự nguyên vẹn, bởi vì, nhìn kìa, nắng đã phai vàng trên mái rạ.
Phai phôi rồi. Nhợt nhạt rồi. Héo úa rồi. Tàn tạ rồi. Sắp rụng rồi, như trái khô rơi.
******
V.2. GIÓ LÊN RỒI. GIÓ LÊN
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
Tiếng ơi, tiếng gọi của tha thiết, tiếng gọi tha thiết của lòng mong chờ, tiếng gọi tha thiết vì rất đỗi bâng khuâng.
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu tiếng gà đầu thôn, không gian thanh bình mà khi xưa, ta từng hạnh phúc?
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu cỏ đưa hơi ấm nồng, hơi thở gần gũi, ấm áp của đất trời quê hương ta?
Gió lên rồi, gió lên. Gió với tiết điệu nhanh, dồn dập, gió như sự sống đang bừng tỉnh, gió như báo hiệu một đổi thay. Gió mang nỗi thương nhớ của ta, băng qua trời rộng, gởi về người thương, gởi về gia đình, gởi về quê hương xứ sở.
******
V.3. CHIỀU. THEO CÁNH CHIM QUEN. BAY VÒNG QUA BIỂN BẮC
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
Mùa này khua rộn sắc âm. Khua rộn, ồn ào, rộn ràng, xôn xao, náo nức. Giục giã, thúc bách, gấp gáp.
Mùa này là mùa gì, mà khua rộn, mà ồn ào, mà rộn ràng, xôn xao, náo nức? Mùa này là mùa gì, mà giục giã, thúc bách, gấp gáp, không yên? Mùa tìm đường ra biển chăng?
Chắc chắn là vậy rồi. Là vì, ngay phía dưới, tác giả nhắc đến cánh chim, và mưa, và biển.
Cánh chim phiêu bạt như đời người phiêu bạt. Cánh chim với những hành trình dặm dài, vất vả, tìm một cành biếc trong mưa, tìm những hy vọng dẫu mong manh, dẫu khó khăn, cho sự sống còn của con người.
Biển giờ đây không chỉ là đại dương bao la, mênh mông vô cảm, mà biển cũng thương hiểu cho kiếp người, nên biển cũng bồn chồn, cũng lo lắng, cũng hồi hộp, cũng nóng ruột như lòng người mở ra khi chiều tối.
Khi chiều tối, lòng ta hướng biển. Khi chiều tối, ta nương biển mà ra đi.
******
V.4. NGƯỜI ĐI. DẤU CỎ. MỊT MỜ CẦU SƯƠNG
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
Chiều sông giăng, ai trên đường về nón lá tả tơi, đại từ phiếm chỉ “ai”, vô danh, dùng ở đây, đã gợi nỗi xa xăm, gợi nỗi cô đơn của tác giả trước dòng sông mờ mịt của buổi chiều.
Nón lá tả tơi, nón lá của người nghèo khó, lam lũ, sống trong cảnh bấp bênh và chịu nhiều dập vùi của mưa gió cuộc đời.
Mang trong nếp áo dư vang sấm động, dư chấn của cơn bão tố, của cuộc chiến tranh mới vừa hôm qua.
Mưa đầu mùa không bình yên nên làm nón lá đã tả tơi, lại càng tả tơi hơn. Đến nếp áo mong manh, cũng trở thành nơi ẩn giấu những biến động, những nơm nớp lo âu trong lòng người lưu lạc.
Thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya, câu thơ như tiếng thở dài nặng nề, như lời tự nhủ, tự mình nói với mình của tác giả. Khêu cao ngọn đèn, là lời nhắn nhủ, cố gắng mà giữ lại chút ấm áp, chút sự sống giữa không gian hoang lạnh. Che gió, che chở cho con người trước những giông gió, bão mưa.
Bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa, chẳng còn chút lửa, nên không còn hơi ấm, nên tàn tạ, nên kết thúc rồi, cuộc đời.
Người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương, tất cả rồi sẽ chia lìa, chia lìa vĩnh viễn. Mọi sự đã trở nên hư ảo, vô định, chỉ duy nhất còn lại một nỗi buồn sâu thẳm.
‘Chiều Bên Sông Giăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp là một tấu khúc buồn trước phận người trong cảnh bão giông, tang thương, nhà tan, nước mất. Bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh và nhịp điệu đứt quãng, chậm buồn, Nguyễn Xuân Thiệp đã khắc họa được một buổi chiều bên dòng sông Giăng của tác giả, nơi ông lặng lẽ vớt những nỗi niềm còn sót lại dưới lòng sông trôi, vớt lên những nỗi niềm khi thời thế đổi thay, và kiếp người trong dòng đẩy đưa thân phận.
******
VI. NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ
Tôi cảm ra, tôi giống nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp ở khá nhiều nét. Không chỉ là chuyện rất hạn chế các dấu câu và không thích viết hoa trong thơ thì tôi còn thấy, tôi giống ông ở chỗ, ít tự giới thiệu về mình.
Trên mạng, dù ông là một người làm thơ từ trước năm 1975, nhưng rất ít các thông tin về ông. Tôi cũng vậy, phỏng vấn nào về nhân thân, tôi cũng cười trừ và xin được cho qua, hoặc nếu có, tôi cũng chỉ cung cấp gọi là đôi ba dòng cho có lệ.
Tại sao ư? Dạ, vì thấy đó không phải là điều cần thiết cho cuộc đời và cho người khác. Người ta, còn biết bao việc phải lo, phải quan tâm. Ai hơi đâu đi nhớ nơi sanh chốn đẻ của mình; hơi đâu nhớ thấp cao, mập ốm của mình; hơi đâu nhớ những vui buồn, được mất của mình, mà phải dài dòng kể lể.
Tiểu luận gia Đặng Tiến từng viết rất rõ trong bài nhận định và đánh giá nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, có tựa đề Đọc Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, như sau: Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một tâm linh trong sáng gởi đến trần giới trầm luân những dòng thơ thanh thoát [...]. Tôi bị mê hoặc ngay bởi dòng thác hình ảnh, âm vang hư hư thực thực, cuồn cuộn băng băng vì thơ Thiệp như nước Hoàng Hà [...]. Nay được biết Thiệp là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam, tôi phục quá, bởi những lời lẽ cao khoát, tình nghĩa thâm sâu, tự tại, độ lượng.
Sau cùng, học giả Đặng Tiến kết luận: uyên bác, đủ sức mạnh tinh thần, kiến thức rộng rãi, xúc cảm sâu xa, Nguyễn Xuân Thiệp là một bậc tài hoa nhưng lại không sử dụng thơ để biểu diễn tài hoa. Ngược lại, Nguyễn Xuân Thiệp lại có ý thức dùng tài hoa như một phương tiện để phục vụ lý tưởng nghệ thuật và nhân đạo.
Với cá nhân tôi, tôi thấy tiếng thơ của Nguyễn Xuân Thiệp, tựa tiếng của một loài chim quý: bay suốt nghìn năm hót một lần (Ánh Trăng - 1980).
Tôi sẽ còn quay trở lại với Nguyễn Xuân Thiệp và thơ của ông, kẻo không thì:
NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ!
Sài Gòn 07.05.2026
PHẠM HIỀN MÂY
******
https://www.youtube.com/watch?v=GqnTosB5EFk
Sunday, October 4, 2026
THƠ
Cuối mùa dã quỳ rơi
Rơi vị lai óng ánh
Vỗ vai gió bụi cuộc đời.
Chìm bay rừng xế bóng
Sắc vàng phai cao nguyên
Dẫu mai trời xanh lộng
Dã quỳ đã ra đi rồi
Dựa lưng ngực đá gầy
Mơ xanh hồn cỏ dại
Chiều rưng rưng mùa dã quỳ
APSARA
Ngàn sao xa chiêm ngưỡng
Em vào mùa sáng trăng
Sương chưa mờ ý cũ
Tiếng chuông ngân biêng biếc
Vọng vào cõi thực hư
Dáng em nghiêng ngực đá
Ta ngồi lau thần thoại
Tìm nhặt nét thơ gầy
Đền thiêng .em trăng sáng
Trăng kịp về phơi tơ
Đà lạt, 2026
NĐN
Saturday, October 3, 2026
CUNG TÍCH BIỀN: TỪ SÂN CHÙA TỚI VĂN HỌC CHỦ HÒA
Phan Tấn Hải
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Trí nhớ của Cung Tích Biền có vẻ như tuyệt vời, theo cách
ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ vực có thể có một số chi tiết
ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà cũng đã thấy trí nhớ lãng
đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê, tôi hỏi ông về một số người
cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, một người tôi rất mực
thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền, ông kể về những chuyện tôi
chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm, lân tài. Bây giờ thì nhà văn
Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.
Có thể tóm tắt vài câu về cuộc đời của nhà văn Cung Tích
Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của mình rằng, nhà văn họ Cung là
người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong vùng kháng chiến với nhiều
năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ sóng gió giũa một thời nội
chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các đam mê rất người, nhưng tận
cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn ngữ trong khi đưa ra những
dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền làm người. Cần ghi nhận:
nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để tránh chữ "phản chiến" --
một cách nói tương đương, nhưng có lẽ đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là
lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại, cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng
chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ ai, bất kỳ sinh vật nào.
Cung Tích Biền đã kể rằng ông trong thời thiếu niên đã đã
từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời đó ông cũng đi đánh đàn,
chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một
bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh
Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh phúc.
Tháng 7 năm 2024, ông viết bài "Vương Trùng Dương: Một
Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước,
theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật
Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em.
Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một
thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi.
Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy
bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn
đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của
chúng tôi”.
Đó là lời ông nói, rằng đó là những ngày vui, hạnh
phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động ở sân chùa thời niên
thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ hòa theo lời dạy của
giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại ai. Thêm nữa, chắc
chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử kia về lời dạy Lục
Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau. Người nào sống được
như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước, không có gì để phải sân
si giận dỗi trong cõi này.
Ông kể lại với nhà văn Vương Trùng Dương rằng, sau năm
1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà
Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng
kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên
sau đó được thả ra."
Hiển
nhiên rằng ông cân nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung
Tích Biền. Ban đầu, ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút
hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3
năm 1966 (tức là ba năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất
hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với
hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu
Cung Tích Biền? Nhà thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây
là tên ghép từ tên của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền"
là tên một người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút
hiệu của mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.
Nhà
văn Vương Trùng Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến
phân đôi này. Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội,
tập kết ra Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần
Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau
tháng 4 năm 1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình
chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.
Cung
Tích Biền sinh ngày 8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng
theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật
khoa Sài Gòn. Trước khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung
học ở quê nhà Quảng Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học
khóa Sĩ quan (trường Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh,
thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973,
Cung Tích Biền giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở
thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).
Sau
năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt
đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông
Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da
Màu). Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo
lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung
là hơn 150 truyện ngắn và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được
dịch sang Pháp và Anh ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...
Khi
nhìn lại, Cung Tích Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ
cũng có thời trẻ ở vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi
Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo
ngày 03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:
"Chúng
tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ.
Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng
thể ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn
bút. Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong
Cõi nhớ ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi
trôi tút mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt
tủ, dưới gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt.
Không có thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung,
chúng tôi, chừng là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra
tương lai. Chỉ dặm dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản
của Ngày qua." (ngưng trích)
Cuộc
đời ông là như thế, một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng
chiến chống Pháp, rồi tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi
không mấy vui, phải sống với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi
nhớ. Nhưng nỗi nhớ nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm
đàn đi tới các sân chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là
những ngày vui, những giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ
ai cũng là nạn nhân.
Tư
tưởng chống chiến tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư”
một cách điển hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ
hậu 1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia
đình đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như
không thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới
vợ, vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư
thì phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và
phải cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của
Thừa, mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về
làng, nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích
Biền ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than
phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền."
(Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)
Cả
hai anh em đều đã mất một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong
đêm văn nghệ mừng khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết
mục “Anh em một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ
dìu nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân
người, hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư
và Thừa ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân
họ chạm vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động
của lịch sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.
Đoạn
kết Cung Tích Biền viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp
cho Dư và đắp quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong
bao năm dài chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ
lâu nhường bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."
Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác:
truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch
Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung
tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn
bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống,
lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe,
nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất
là con bò con.
Chiến
tranh đã biến làng quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ
lâu rời làng trở về, đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là
Hương Đằng, nhân danh cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan
hoang, người dân bỏ đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời
sống hàng ngày.
Trong
căn hầm tránh pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng
còn trẻ, nhưng chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu
thương con gái, thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại
tình trạng sống như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào
sau đầu Miệng và cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con
bò cái bị bom giết chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con,
bò, chó và quê nhà. Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con
chó.
Bốn
tháng sau, chú Sáu phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở
thành phố, chú không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà
cửa, thực phẩm và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng
đồng, cánh đồng và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc
con bò. Cuối cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan
thành thịt, máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú
quyết định trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”,
nơi người ta có thể tùy ý bắn phá.
Trên
đường về, chú Sáu gặp Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián
điệp và đọc một “bản cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy
chỉ là một mảnh giấy thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú
Sáu chết mà không kịp biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ
tuyên án tử hình.
Phần
cuối truyện chuyển sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc
gia. Đích cùng đơn vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những
cánh đồng, gia đình và những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ
còn cây cháy, nhà đổ, hố bom và những dấu vết chết chóc.
Đích
gặp một đứa trẻ sống sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không
còn gì để sống. Thế rồi một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã
sình thối dưới mương. Người lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không
biết đó là xác cha mình. Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi:
“Ơ, hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó,
để lại một cảm giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê
nhà, và có thể đã đi ngang qua xác chính cha mình.
Để
kết bài này, chúng ta có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền
cũng chính là những gì đã được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền
biểu tình để đòi quyền sống, đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản
khác. Trong bài đưa tiễn Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông
Dương, Ông Đã Đi Rồi" vào tháng 9/2019, trích:
"Sáng
hôm nay, ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung
tâm thành phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố,
có thể có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền
ngôn luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ
sáng sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được
bố thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."
Thế
đó, cái mà chúng ta nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích
Biền vẫn có mục tiêu cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật
của Cung Tích Biền khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một
ngày người dân Việt Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền
làm người, để được nói và viết tự do.
Khi
Cung Tích Biền từ trần, sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam;
nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền
căn bản ghi trong Hiến chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi
vì, sâu thẳm của ý nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát
từ lời dạy Lục Hòa trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt,
nơi đó hoàn toàn vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn
nhau. Thực sự, chủ hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ
nào và với bất kỳ dân tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một
ngày cứu được dân tộc Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.
Xin từ biệt nhà văn Cung Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời kêu gọi chủ hòa.
PTH
(Một
số trích đoạn trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ nhà văn Cung Tích
Biền hôm Thứ Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California.)
SỐNG ĐỘNG
Hoàng
Xuân Sơn
Tranh Etsy
Giả như trong thơ có hạt sạn
Thiệt là niềm vui của nhân văn
Nhân dạng trời cho không gọt tỉa
Nhân cách vun xới luống thường hằng
Bạn hỏi sao thơ viết trúc trắc
Tự không đưa vô máy chỉnh hình
Sắc huyền cũng có khi trầm bổng
Hỏi ngã nặng lời, ý khinh binh
Hãy viết hãy hát như hít thở
Tự do là phẩm hạnh của đời
Hãy nương vào sáo huýt tiếng gió
Guồng máy ngừng quay lúc mưa rơi
Hãy là chân dung thuần túy mộc
Đâu cứ mặt mũi vẽ vời thêm
Ồ hiện thực mười khuôn như một
Đóng cứng khung tranh nét mại mềm
Ta muốn đi thì đi. đứng thở
Cây lá ngoài kia vẫy tay chào
Khúc đánh đàng xa gần trú sở
Đời lành như một giấc chiêm bao
•
H O À N G X U Â N S Ơ N
3 tháng 10, 2026
Friday, October 2, 2026
VIETFILMFEST 2026: ĐẠO DIỄN NGUYỄN KHẢI THƯ VỚI THE DAO OF THAO
Đạo diễn Nguyễn Khải
Thư
Đạo diễn Nguyễn Khải Thư sẽ góp mặt tại VietFilmFest 2026 với phim tài liệu
The Dao of Thao, trình
chiếu ngày 10 tháng 10 tại Frida Cinema, Santa Ana, California.
Khải Thư là con gái út
của cố họa sĩ Nghiêu Đề và Lê Chiều Giang. Cô sang Hoa Kỳ
khi vừa sáu tuổi, tốt
nghiệp Stanford University, sau đó tiếp tục học tại University of California,
Berkeley và hoàn tất bằng
Tiến sĩ năm 2010.
Trước The Dao of Thao, Khải Thư từng thực hiện phim tài liệu Table Stakes,
đã được trình chiếu tại Viet Film Fest năm 2019.
The Dao of Thao. Nhân vật chính là Thao P. Nguyen, một nghệ sĩ hài người Mỹ gốc Việt đồng tính tại vùng Vịnh San Francisco. Film này được thực hiện trong lúc cô đang chuẩn bị cho một show diễn hài mới. Tác phẩm sân khấu trước đó của Thao từng được KQED chọn vào danh sách 10 vở diễn nổi bật nhất vùng Vịnh.
Đan
xen với câu chuyện đời sống hiện tại của Thao là những cuộc trò chuyện với cha
mẹ cô, kể lại hành trình của một gia đình tị nạn từ Thái Lan đến Hoa Kỳ. Từ đó,
bộ phim mở ra nhiều lớp trong đời sống của nhân vật: áp lực thành công, tình
yêu, tính dục, hôn nhân, thiên chức làm mẹ, cùng những khác biệt giữa các thế hệ
trong một gia đình Việt Nam trên đất Mỹ.
Vừa
mang chất hài vừa có những khoảng lặng của chính kịch, The Dao of Thao kể về một
người phụ nữ phải tìm cách dung hòa nhiều phần tưởng như khó đứng cạnh nhau
trong chính mình: một người Mỹ gốc Việt, một người đồng tính, một nghệ sĩ, một
người vợ và một người mẹ.
Nghệ
thuật đã trở thành con đường để Thao nhìn lại quá khứ của gia đình, đối diện với
hiện tại và tự xác định bản thân mình giữa những kỳ vọng của cha mẹ, cộng đồng
và xã hội.
Qua câu chuyện riêng của Thao, bộ phim cũng đặt
ra một câu hỏi rộng hơn: Liệu con người sẽ giữ lại, sẽ thay đổi hay tự viết
thêm vào căn cước của mình như thế nào, để có thể thích ứng được với một cộng đồng
mà trong đó có cha mẹ, anh chị, gia đình cô, những người gốc Á đôi khi vẫn còn
sống khép kín với rất nhiều thành kiến…
Film
sẽ được chiếu tại:
Frida
Cinema – Theater 1
305
E. 4th St., #100
Santa
Ana, CA 92701






.jpg)