Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp sinh tại Huế, học tại Huế và Sài Gòn. Ông từng làm thơ, viết văn, đăng báo từ trước năm 1954 và từng dạy học tại Mỹ Tho. Sau khi nhập ngũ năm 1963, ông làm cho đài phát thanh quân đội, lần lượt từ Pleiku, Đà Lạt rồi Sài Gòn.
Sang Mỹ, ông xuất bản hai tập thơ: Tôi Cùng Gió Mùa và Thơ Nguyễn Xuân Thiệp (1998). Ông cũng viết Tản Mạn và ra sách về thể loại này, từng là chủ biên của tạp chí Phố Văn và cộng tác với nhiều tờ báo cũng như tạp chí uy tín khác ở hải ngoại, tiếp tục đóng góp vào dòng chảy văn học Việt Nam tại Mỹ.
Tôi biết đến Nguyễn Xuân Thiệp là nhờ nhà văn T.N. Anh là người đã giúp tôi khá nhiều trong việc “nhận diện” những nhà thơ, nhà văn, mà do hoàn cảnh địa lý, do sinh sau đẻ muộn, nên không thể biết hết.
Biết cũng như quyết định viết về Nguyễn Xuân Thiệp và một vài bài thơ cụ thể của ông, còn là nhờ, tôi tình cờ đọc được bài phỏng vấn ông, do nhà thơ Triều Hoa Đại thực hiện, tôi đã cảm thấy xúc động trước những bộc bạch vừa đơn giản lại vừa rất bao dung, vừa trân trọng thực tại cuộc sống vừa cố gắng đẩy lùi bóng ma của sự thù hận.
Khi Triều Hoa Đại hỏi: Những gì anh viết, đã vượt lên trên những đau thương và thù hận, có phải vậy không?
Nguyễn Xuân Thiệp trả lời: Thù hận? Hồi mới ra khỏi trại, khốn khổ và ô nhục đến cùng cực, tôi định viết một lúc bốn bài oán gọi là Tứ Ðại Oán. Nhưng mới được hai bài, Trà Oán và Bài Oán Thi Ðêm Phương Nam, thì ngưng. Ngưng không phải vì cạn ý, hết hứng, mà vì tôi nghĩ, viết như vậy để làm gì?
Oán oán chập chùng. Chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho đời ta mà thôi, chẳng khác nào gánh đá đi trong bùn vậy.
Nguyễn Xuân Thiệp kết luận: Tôi không phải là nhà tranh đấu, mà chỉ là nhà thơ!
******
II. CHÁY TRONG VƯỜN LÃNG QUÊN / CHIỀU NGHIÊNG. ĐỐM LỬA
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, trước hết là những lời tự sự và hoài niệm chân thành, tình tứ, trăn trở, của những năm tháng đời vui, trường lớp, tình yêu trong sáng và những mộng mơ thời mới lớn đầy cảm xúc, đan xen với văn hóa phương Tây và không khí của cuộc chiến tranh đang diễn ra, tạo nên một phong cách thơ vừa lãng mạn vừa hiện đại: tôi lớn lên và đi vào đời những năm sáu mươi. khi chiến tranh Việt Nam rực cháy những cánh rừng xa. nghe âm nhạc của các anh. please, please me. i want to hold your hand. ôi những hoàng hôn sẫm tối. bình minh trong mưa. cơn sốt của tâm hồn. thành phố cười. phượng đỏ. mái ngói buổi yêu đầu. ơi em (Âm Nhạc The Beatles Và Những Cánh Dã Quỳ).
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, sau nữa, là lời tự sự của những tháng năm tiếp theo, khi mà cuộc chiến tương tàn kết thúc, với những bên thắng bên thua, thắng làm vua mà thua thì làm giặc, buồn đau, thấm thía nỗi đời, thấm thía cả tình đời, tưởng chỉ dừng ở éo le, ngang trái, dè đâu, nó khốc liệt, thê thảm, đổ vỡ, hoang tàn, lạc lõng hơn sự tưởng tượng của người ta nhiều lắm:
cháy. trong vườn lãng quên
chiều nghiêng. đốm lửa
người tù xa lâu năm. trở về
bên mái nhà. và bờ ao
mùa thu. tàn ố
khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên
nấm mộ đá ong
dế khóc
(Saigon mùa thu, 1982)
******
III. VẦNG TRĂNG TREO TRÊN NGỌN SẦU ĐÔNG
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ. Tôi thích những cái hay và lạ đó ở các tác giả, bởi vì, đó chính là cái mới, hay nói khác đi, đó chính là sự sáng tạo. Tất nhiên, trừ những trường hợp bắt chước người khác. Điều ấy, người đọc nhiều, và tinh ý một chút, là họ sẽ phát hiện ra ngay.
Cái lạ thứ nhứt, đó là Nguyễn Xuân Thiệp không viết hoa bất kỳ một từ nào ở trong bài, kể cả tên riêng, kể cả sau những dấu chấm. Trường hợp này, ở Sài Gòn, tôi biết có ở một người, đó là nhà thơ Đỗ Trung Quân.
Tôi nói tôi thích là bởi vì, tôi cũng y như vậy. Tôi rất sợ phải đọc những bài thơ mà đầy những chữ viết hoa lổm ngổm trong bài. Lắm trường hợp, chữ viết hoa còn nhiều hơn chữ viết thường, nhìn hoa cả mắt, và cứ có cái gì đó, rất khựng lại, rất khó trôi, không liền mạch, không tập trung vào cảm xúc được, và cả rất mệt nữa, khi phải đọc chúng.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ. Hôm ấy, tôi viết một bài thơ, có một người không có trong danh sách bạn bè, họ còm vào bài tôi, thắc mắc: sao xuống hàng, sao đầu câu không viết hoa, sao chữ đó là địa danh, không viết hoa, sao chữ đó là thế này, thế kia, không viết hoa, bla, bla, đủ kiểu.
Trả lời các hạch hỏi như tra vấn, như khảo thí, như bắt lỗi đó, thì xin thưa, không phải là nghĩa vụ của tác giả. Mà không trả lời, thì nhìn cái câu hỏi trên trang, thiệt là khó chịu. Mà block người ta, thì càng cảm thấy khó chịu hơn. Nên từ đó, tôi chỉ để chế độ bạn bè còm. Vì, đã là bạn bè, thì tất nhiên, và trước hết, phải hiểu được nhau.
Ngay cả khi, không hiểu nhau, thì đối với tất cả những người làm nghệ thuật, hoặc viết văn, làm thơ, soạn nhạc, nhiều ít gì, họ cũng luôn có những thói quen riêng, những quy định riêng cho mình. Họ cũng chẳng ép buộc ai phải gượng gạo đọc, thế nên, bạn đọc cũng hãy tế nhị mà tôn trọng các tác giả, họ có quyền tự do tuyệt đối trong sáng tác của mình.
Trở lại Nguyễn Xuân Thiệp, ông có những thói quen rất hợp với tôi trong sáng tác. Bài thơ sau đây, ông viết cho người bạn đã mất, là Phạm Ngọc Lư, một nhà thơ tài hoa, đặc biệt với bài Biên Cương Hành mà tôi từng đã viết bài cảm nhận. Lư cũng là một trong người bạn vong niên rất thân thiết của tôi:
chiều nay
ngồi đọc lại thơ lư
nghe sông hàn. bạt gió
hải vân quan. đá dựng
biên cương
cố lý
gió lào vẫn thổi
sao cay mắt
thơ ai
như chông xuyên thấu trời
người về lều cỏ
nghe tiếng sáo u u
vầng trăng treo trên ngọn sầu đông
cơm. với rau rừng. nước mắt
cô lái đò trên bến xưa. còn đợi
lư đã về lại phá tam giang
gởi lại vợ con, bạn bè, tấm áo, và những bài thơ
lư ơi
nằm trong cỏ rối
có nghe. thu vàng hát.
Đoạn thơ trên được trích từ trong bài Lư Đã Về Lại Phá Tam Giang. Tôi thích cái từ “về lại” của ông Thiệp đã dùng. Về lại, có nghĩa là, Phá Tam Giang, vùng sông nước ấy, chính là nơi mà Lư đã khởi đầu cuộc viễn du trong đời vừa qua của mình. Ở đoạn này, tác giả nhắc lại những từ ngữ đặc sắc, đã làm nên hai bài thơ tiếng tăm vang lừng của Phạm Ngọc Lư, đó là, Biên Cương Hành và Trở Về Phá Tam Giang.
Viết ít mà tình nhiều, đó là nét riêng của thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Viết dài, kiểu như viết trường thi, có cái khó của viết dài. Nhưng viết ngắn cũng vậy, phải dụng công lắm mới được. Ít chữ, mà chữ nào cũng cần thiết, chữ nào cũng tinh túy, chắt lọc, ấy mới là hay, và khó nữa, chớ không dễ dàng đâu.
******
IV. MÙA THU VÀ BẾP LỬA
Thơ thì thường buồn, đương nhiên rồi. Nhưng buồn cũng có nhiều cấp độ lắm, như bão ấy mà. Buồn ít. Buồn nhiều. Buồn lắm. Buồn dữ dội. Buồn chỉ muốn chết. Đại loại vậy.
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn, nhưng là cái buồn dễ chịu. Buồn mà dễ chịu là sao? Tức là buồn chỉ như một lớp sương mỏng, như một khoảng lặng dịu dàng, hay như một nốt trầm trong một bản nhạc. Buồn mà không đến độ cồn cào, không cấu xé, cũng không đau đớn tột cùng, khóc than hay gào thét. Buồn này nhẹ nhàng, lắng đọng vì đã thấu hiểu lẽ nhân sinh
Như bài thơ này chẳng hạn:
MÙA THU VÀ BẾP LỬA
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
******
IV.1. CHIỀU MÙA THU / VÀ MỘT BẾP LỬA / ĐỂ VỀ
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
Bếp lửa, biểu tượng của mái ấm bình dị nhưng tràn đầy tình thương và sự chở che. Biểu tượng này, đối lập với trạng thái se lạnh, heo may, buồn man mác của một buổi chiều thu. Mùa thu còn là mùa để về. Về đâu ư. Thì về nhà chớ về đâu. Về nơi ta từng ở. Về nơi có người thương. Về nơi mà từ đó ta đã ra đi. Về nơi mà ta thấy nhớ, nhớ đến đau lòng, đến quặn thắt cả ruột gan, ngày đêm, không dứt.
Bếp lửa ấm cúng và bình yên này, vốn đã được lưu giữ từ lâu trong tâm thức của kẻ ly hương, là tác giả.
******
IV.2. TÔI CHỢT NGỘ RA / KHÔNG.
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
Từ nhưng được đặt ở đầu câu, tạo thành bước ngoặt của cảm xúc, đối lập với sự ấm áp của bếp lửa, là chiều nay, một buổi chiều thu buồn bã và hiu quạnh.
Tác giả thấy lạnh. Cái lạnh không chỉ ở da thịt, mà lạnh còn xâm nhập vào cả tâm hồn.
Tác giả chợt ngộ ra Không. Không, hư vô. Không, trống rỗng. Không, không có gì cả.
Tác giả không có một bếp lửa nào để sưởi ấm tâm hồn, không có một gia đình nào để trở về, không có một quê hương nào để được chở che. Ông đã dùng câu phủ định đến hai lần trong khổ thơ, để nhấn mạnh sự mất mát trọn vẹn, cuộc đời đã không còn nơi nương tựa.
Như bao người khác, ông khao khát một chốn dừng chân, một nơi để quay về, quay về cội nguồn, quay về giá trị tinh thần xưa, quay về mái nhà, sau những bão tố, cuồng giông.
Bằng những dấu câu rất riêng của mình, Nguyễn Xuân Thiệp đã làm ngôn ngữ của ông trở nên tự do. Với những ngắt quãng ấy, khổ thơ đã thể hiện được sự nghẹn ngào, trăn trở, và cả thảng thốt nữa, khi nhận ra một sự thực rất đỗi phũ phàng, ông không có một bếp lửa nào, một mái ấm nào, để trở về.
******
IV.3. MÀ CHỈ LÀ NGƯỜI HÀNH GIẢ
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
Thi nhân giờ đây, chỉ là một hành giả đang đi trên một hành trình vô định. Từ “chỉ” được dùng ở đây rất hay, đó là sự buông bỏ, là sự chấp nhận, ta chỉ là một thân phận nhỏ bé, đơn độc, đang đi trên đường chiều mà thôi.
Quán trọ, cõi tạm, cõi tạm bợ, cõi nhân gian. Ngôi chùa, nơi bình yên, thanh tịnh, chốn tựa nương. Bốn phương nào thấy, sự vô vọng, tuyệt vọng trong kiếm tìm chốn bình an, chốn dừng chân yên ổn.
Bằng giọng thơ trầm tư, Nguyễn Xuân Thiệp đã vẽ lên được một chân dung trí thức của miền Nam sau cuộc chiến hai mươi năm, cũng như nỗi trăn trở về kiếp người dâu bể và ít nhiều, phảng phất triết lý vô thường của nhà Phật.
******
IV.4. CHIỀU RƠI / CHIỀU KHÔNG LỬA ẤM
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
Tác giả, hơn bao giờ hết, khao khát một sự cảm thông, chia sẻ, an ủi, vỗ về. Ông thèm được vị thiền sư, bậc trí tuệ, đấng siêu nhiên, đầy lòng bác ái và từ bi, tặng cho mình một chiếc áo và vầng trăng. Chiếc áo, khoác cho xác thân đỡ lạnh. Vầng trăng, ánh sáng soi lối cho tâm hồn tìm về nơi thanh thản.
Không thấy thiền sư trả lời.
Trong cô đơn và quạnh quẽ muôn bề, ông cất tiếng tha thiết gọi lần thứ hai, thiền sư ơi. Ơi, thường được dùng cho những thân thiết, cho những trìu mến, thương yêu. Và thảng thốt kêu lên cùng người: chiều rơi / chiều không lửa ấm.
******
V. CHIỀU BÊN SÔNG GIĂNG
Nắng Đã Phai Vàng Trên Mái Rạ, câu tựa đề này, tôi lấy ra từ một bài thơ khá dài của Nguyễn Xuân Thiệp mang tên Chiều Bên Sông Giăng.
Bên bờ sông Babylon
Ta ngồi ta khóc
(Psalm 137)
Bài thơ đã được Từ Công Phụng phổ thành ca khúc mang tựa đề cùng tên và do chính nhạc sĩ thể hiện với chất giọng ấm, trầm, đầy vẻ hoài niệm xưa.
Ở trên, tôi có nhận xét, thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ, rồi thì thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn mà buồn rất dễ chịu.
Khi đọc đến bài Chiều Bên Sông Giăng này, thì tôi thấy thêm, thơ Nguyễn Xuân Thiệp, ngoài những ưu điểm nêu trên, thơ ông còn đầy tính nhạc, đầy vần điệu, đầy hình ảnh, đầy nỗi niềm, nên thơ ông rất thơ và rất đẹp.
Ví dụ, như đoạn này trong khổ thơ thứ hai:
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
******
V.1. LÒNG TA. TRÁI KHÔ RƠI. MẤY MÙA
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
Chiều ngồi bên sông mênh mông, luôn là những buổi nghe lòng buồn man mác.
Tiếng sấm xuất hiện trong khổ thơ, là tiếng sấm của mùa, hay tiếng sấm vọng từ trong ký ức của tác giả? Sấm là âm thanh phẫn nộ của thiên nhiên hay đó là tiếng dội vang làm chấn động tâm hồn, gợi lên sự bất an, như tháng 03, tháng 04 của năm 1975?
Trái khô rơi, gợi cho người đọc hình ảnh của sự kết thúc. Trái khô hay lòng ta đã úa sầu, héo hon suốt mấy mùa qua?
Thời gian trôi qua bào mòn tất cả, từ cảnh vật đến tâm hồn. Trong lòng người lưu đày giờ đây, chỉ duy nhứt nỗi thương nhớ gia đình, thương nhớ xứ sở, và không biết có còn kịp không, ngày gặp lại, ngày đoàn viên, ngày hồi hương, được trở về trong sự nguyên vẹn, bởi vì, nhìn kìa, nắng đã phai vàng trên mái rạ.
Phai phôi rồi. Nhợt nhạt rồi. Héo úa rồi. Tàn tạ rồi. Sắp rụng rồi, như trái khô rơi.
******
V.2. GIÓ LÊN RỒI. GIÓ LÊN
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
Tiếng ơi, tiếng gọi của tha thiết, tiếng gọi tha thiết của lòng mong chờ, tiếng gọi tha thiết vì rất đỗi bâng khuâng.
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu tiếng gà đầu thôn, không gian thanh bình mà khi xưa, ta từng hạnh phúc?
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu cỏ đưa hơi ấm nồng, hơi thở gần gũi, ấm áp của đất trời quê hương ta?
Gió lên rồi, gió lên. Gió với tiết điệu nhanh, dồn dập, gió như sự sống đang bừng tỉnh, gió như báo hiệu một đổi thay. Gió mang nỗi thương nhớ của ta, băng qua trời rộng, gởi về người thương, gởi về gia đình, gởi về quê hương xứ sở.
******
V.3. CHIỀU. THEO CÁNH CHIM QUEN. BAY VÒNG QUA BIỂN BẮC
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
Mùa này khua rộn sắc âm. Khua rộn, ồn ào, rộn ràng, xôn xao, náo nức. Giục giã, thúc bách, gấp gáp.
Mùa này là mùa gì, mà khua rộn, mà ồn ào, mà rộn ràng, xôn xao, náo nức? Mùa này là mùa gì, mà giục giã, thúc bách, gấp gáp, không yên? Mùa tìm đường ra biển chăng?
Chắc chắn là vậy rồi. Là vì, ngay phía dưới, tác giả nhắc đến cánh chim, và mưa, và biển.
Cánh chim phiêu bạt như đời người phiêu bạt. Cánh chim với những hành trình dặm dài, vất vả, tìm một cành biếc trong mưa, tìm những hy vọng dẫu mong manh, dẫu khó khăn, cho sự sống còn của con người.
Biển giờ đây không chỉ là đại dương bao la, mênh mông vô cảm, mà biển cũng thương hiểu cho kiếp người, nên biển cũng bồn chồn, cũng lo lắng, cũng hồi hộp, cũng nóng ruột như lòng người mở ra khi chiều tối.
Khi chiều tối, lòng ta hướng biển. Khi chiều tối, ta nương biển mà ra đi.
******
V.4. NGƯỜI ĐI. DẤU CỎ. MỊT MỜ CẦU SƯƠNG
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
Chiều sông giăng, ai trên đường về nón lá tả tơi, đại từ phiếm chỉ “ai”, vô danh, dùng ở đây, đã gợi nỗi xa xăm, gợi nỗi cô đơn của tác giả trước dòng sông mờ mịt của buổi chiều.
Nón lá tả tơi, nón lá của người nghèo khó, lam lũ, sống trong cảnh bấp bênh và chịu nhiều dập vùi của mưa gió cuộc đời.
Mang trong nếp áo dư vang sấm động, dư chấn của cơn bão tố, của cuộc chiến tranh mới vừa hôm qua.
Mưa đầu mùa không bình yên nên làm nón lá đã tả tơi, lại càng tả tơi hơn. Đến nếp áo mong manh, cũng trở thành nơi ẩn giấu những biến động, những nơm nớp lo âu trong lòng người lưu lạc.
Thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya, câu thơ như tiếng thở dài nặng nề, như lời tự nhủ, tự mình nói với mình của tác giả. Khêu cao ngọn đèn, là lời nhắn nhủ, cố gắng mà giữ lại chút ấm áp, chút sự sống giữa không gian hoang lạnh. Che gió, che chở cho con người trước những giông gió, bão mưa.
Bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa, chẳng còn chút lửa, nên không còn hơi ấm, nên tàn tạ, nên kết thúc rồi, cuộc đời.
Người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương, tất cả rồi sẽ chia lìa, chia lìa vĩnh viễn. Mọi sự đã trở nên hư ảo, vô định, chỉ duy nhất còn lại một nỗi buồn sâu thẳm.
‘Chiều Bên Sông Giăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp là một tấu khúc buồn trước phận người trong cảnh bão giông, tang thương, nhà tan, nước mất. Bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh và nhịp điệu đứt quãng, chậm buồn, Nguyễn Xuân Thiệp đã khắc họa được một buổi chiều bên dòng sông Giăng của tác giả, nơi ông lặng lẽ vớt những nỗi niềm còn sót lại dưới lòng sông trôi, vớt lên những nỗi niềm khi thời thế đổi thay, và kiếp người trong dòng đẩy đưa thân phận.
******
VI. NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ
Tôi cảm ra, tôi giống nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp ở khá nhiều nét. Không chỉ là chuyện rất hạn chế các dấu câu và không thích viết hoa trong thơ thì tôi còn thấy, tôi giống ông ở chỗ, ít tự giới thiệu về mình.
Trên mạng, dù ông là một người làm thơ từ trước năm 1975, nhưng rất ít các thông tin về ông. Tôi cũng vậy, phỏng vấn nào về nhân thân, tôi cũng cười trừ và xin được cho qua, hoặc nếu có, tôi cũng chỉ cung cấp gọi là đôi ba dòng cho có lệ.
Tại sao ư? Dạ, vì thấy đó không phải là điều cần thiết cho cuộc đời và cho người khác. Người ta, còn biết bao việc phải lo, phải quan tâm. Ai hơi đâu đi nhớ nơi sanh chốn đẻ của mình; hơi đâu nhớ thấp cao, mập ốm của mình; hơi đâu nhớ những vui buồn, được mất của mình, mà phải dài dòng kể lể.
Tiểu luận gia Đặng Tiến từng viết rất rõ trong bài nhận định và đánh giá nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, có tựa đề Đọc Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, như sau: Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một tâm linh trong sáng gởi đến trần giới trầm luân những dòng thơ thanh thoát [...]. Tôi bị mê hoặc ngay bởi dòng thác hình ảnh, âm vang hư hư thực thực, cuồn cuộn băng băng vì thơ Thiệp như nước Hoàng Hà [...]. Nay được biết Thiệp là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam, tôi phục quá, bởi những lời lẽ cao khoát, tình nghĩa thâm sâu, tự tại, độ lượng.
Sau cùng, học giả Đặng Tiến kết luận: uyên bác, đủ sức mạnh tinh thần, kiến thức rộng rãi, xúc cảm sâu xa, Nguyễn Xuân Thiệp là một bậc tài hoa nhưng lại không sử dụng thơ để biểu diễn tài hoa. Ngược lại, Nguyễn Xuân Thiệp lại có ý thức dùng tài hoa như một phương tiện để phục vụ lý tưởng nghệ thuật và nhân đạo.
Với cá nhân tôi, tôi thấy tiếng thơ của Nguyễn Xuân Thiệp, tựa tiếng của một loài chim quý: bay suốt nghìn năm hót một lần (Ánh Trăng - 1980).
Tôi sẽ còn quay trở lại với Nguyễn Xuân Thiệp và thơ của ông, kẻo không thì:
NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ!
Sài Gòn 07.05.2026
PHẠM HIỀN MÂY
******
https://www.youtube.com/watch?v=GqnTosB5EFk





.jpg)

