Nguyễn
Thị Khánh Minh
Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường
của nhà thơ Cao Vị Khanh.
Tranh Duy Thanh
viết
bao nhiêu chữ cho vừa lệ
một
cuộc tang thương, mấy đoạn trường (CVK)
Một
buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió
thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế
tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn,
tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao
phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu
biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết
thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt
Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của
nhà thơ Cao Vị Khanh.
CAO
VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC
Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người
oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời
gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa
chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy
bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không
gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại
xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để
nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch
thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.
Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một
mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng,
tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi
ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió
biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc
lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả
kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...
…
người tù trẻ
trả
súng rồi.
đêm
khóc một mình.
(Tàn
Cuộc- Ký Ức Tháng 4)
Ta
đánh mất trái tim ngoài bãi trận
Lấy
gì vui đắp đổi buổi tàn thu
(Lệ
Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)
Sợi
giây oan khuất treo đầu vực
Manh
áo bào phai dấu trận mờ
(Góc
Biển- Ký Ức Tháng Tư)
Lũ
lượt người đi lên ải bắc
Tấc
lòng mông muội nhớ mang mang
Máu
xương đòi đoạn còn ngây dại
Bẻ
kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng
(Điếu
Khúc – Ký Ức Tháng Tư)
Còn
những người đi chẳng thấy về
Những
bồ mỹ tửu lạnh môi tê
Qua
sông Dịch trắng thù chưa trả
Kiếm
gãy cờ tan lạnh bốn bề
(Buồn
Xưa)
Và
đây là 4 câu thơ đánh bật ta ra khỏi biên giới của đau nhói, sững sờ, một nỗi
gì như tâm tan hoang:
Ta
đi rong khắp Nam cùng Bắc
Gom
hế́t muôn ngàn vải tám thô
May
đủ hai hàng cờ lá phướn
Treo
lên trắng toát một cơ đồ
(Hành
Tháng Tư- Ký Ức Tháng Tư)
Người
đi lánh nạn cuối ghềnh xa
Không
gió Nhạn môn vẫn sướt da
Lạc
bóng Trường An từ lửa dậy
Tủi
người mài kiếm dưới trăng tà
(Điếu
Khúc- Ký Ức Tháng Tư)
Chợt
nghe gió hú dặm trường,
hồn
Đặng Dung khóc tiếc đường kiếm hư.
Người
về, thắp nến án thư,
họa
bài Chính Khí, lệ từ nét ngang.
(Hận
Xưa- Ký Ức Tháng 4)
Kẻ
ngóng đầu non, đợi cuối gành
Đếm
từng tiếng vạc suốt thâu canh
Đã
lâu vắng bóng người qua ải
Ngâm
tiếp cùng ta vạn lý hành
…
Kẻ
sống như người chết loạn đao
Róc
từng sớ thịt xẻ niềm đau
Trái
tim từ buổi đời xuôi ngược
Đập
chỉ trường thiên nhịp biển dâu.
(Góc
Biển- Ký Ức Tháng 4)
Người
thua trận chót đền trăm tuổi -tử sĩ đã đành-, mà kẻ sống cũng máu xương đòi đoạn:
Vậy
đó, tưởng quên mà vẫn nhớ
Mười
năm đánh đổi chuyện keo sơn
Người
thân biệt xứ lên rừng núi
Kẻ
ngóng đầu non đến mỏi mòn
(Hành
Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)
Ký
ức nào bứt ra từ nấm mồ chung đáy biển xanh, để nay về trên chữ của người kể
chuyện mắt nhắm không đành của tử thi, của hoang đảo nhuốm tiết trinh một thời
huyết biển? Biển nào để tang, biển nào chứng nhân muôn đời của Dặm ngàn
sinh mạng nhẹ như tơ…?
Mẹ
gởi con đi ngoài biển lạnh
Bằng
như cọng cỏ ném sau gành
Thuyền
con mỏng mảnh trời đen kịt
Mẹ
thức từng đêm mắt lạnh tanh
Con
đi một sống trăm lần chết
Mẹ
đứt từng khoanh ruột đoạn đành
(Hành
Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)
Còn
nấm mồ chung đáy biển xanh
Mắt
khô trống hoác nhắm không đành
Những
trinh tiết gái ngoài hoang đảo
Phơi
trắng đầu doi cuối bãi gành
(Điếu
Khúc- Ký Ức Tháng 4)
Ai,
ai là người cùng nhà thơ ngồi bên kho ký ức ấy, làm một lễ chiêu hồn:
Ta
nằm úp mặt trên bờ cát
Nghe
sóng tiền thân vỗ bập bùng
Bỗng
thấy quê hương như có thật
Bên
trời bạc trắng tóc rưng rưng
(Lệ
Không Cùng- Ký Ức Tháng 4)
Ôi
những mồ hoang người tử trận
Ai
thắp giùm ta một nén hương
Ai
khắc trên đầu bia đá tảng
Sống
trung can chết vượt đời thường
(Điếu
Khúc- Ký Ức Tháng Tư)
Những
tưởng mười năm đời sáng lại
Ta
về bươi kiếm miểng xương khô
Vét
hết oan khiên người lỡ vận
Vùi
sâu xóa dấu một hoang mồ
(Hành
Tháng Tư)
Quê
hương hư thực như môt niềm hy vọng lẫn ảo vọng… và những nấm mồ hoang là phế
tích, là chứng nhân, chiến sĩ vô danh đã là hồn thiêng của núi sông. Tôi ngậm
ngùi nhớ Khánh Lý đã hát …hòa bình hay chiến tranh cũng chỉ là rêu xanh bám
trên nấm mộ hoang… (Những nấm mộ hoang- Lê Minh Bằng-1972)
CAO
VỊ KHANH- VÀNG CÁNH RONG PHIÊU BẠT
Ta
bỏ người.
Không phải Ta xa người, “Bỏ” này đoạn trường biết mấy cái Xa kia. Thân phận
cánh rong phiêu bạt, theo đưa đẩy vào cõi trời quen đất lạ, và cõi vô biên của
thời gian. Ta mang mặc cảm rời bỏ, bên kia chân trời là Người-quê hương- đau
đáu lệ kêu thương, cả hai dằn vặt tâm phủ nhau. Tội lỗi với Người
chăng dù đó là cái Bỏ bị động, của bức bách?
Ta
bỏ người đi biệt mấy thu
Người
chờ mắt lệ mấy dòng sâu
Còn
ta vàng cánh rong phiêu bạt
Đổ
tắp ghềnh cao, nắng dãi dầu
(Lệ
Biển Xanh- Ký Ức Tháng 4)
Như
ngựa Hồ hí khi gió bấc về, người thơ mỗi khi rượu cay lại nghe mùi quan ải ngày
binh đao, nhân lên ngàn lần nỗi dặm dài…
Rượu
nốc từng đêm sầu cặn lại
quê
nhà xa huốt một đường bay
men
cay có ướp mùi quan ải
mà
nối xa thêm những dặm dài
(Túy
Bút)
Để
mũi tên đau: Lịch Sử- Ký Ức- Di chứng- cứ ghim hoài trong tâm thức. Mười năm được
nhắc đi nhắc lại như tiếng đều đều của chiếc cối xay thời gian, tỏ bật nỗi
phận gởi thân lê. Như vừa sống vừa chịu gia hình, …biết đâu bờ bến mà
về/ linh đinh phận gởi thân lê xứ đày. Có thật không một nơi nào trên
mặt đất hoang vu này, gọi là quê hương, mà để…ta sống như loài thú thất tung…?
Ta
sống mười năm kề cực bắc
Mười
năm xuyên suốt mũi tên đau
Mười
năm thương phế từ tâm phủ
Còn
lại gì không ước nguyện đầu
(Biển
Bắc- Ký Ức Tháng 4)
Còn
tấm thân cằn tẩm gió mây
mươi
năm thắc thẻo chuyện sum vầy
mươi
năm đuối mộng. Hèn vong quốc
rượu
nhắp bên trời, cay. Rất cay.
(Túy
Bút)
Chờ
ai mà nghe mòn mỏi. Như thể đi xuyên qua ta, thời gian đã để lại lời nguyền lỗi
hẹn, Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi…
Có
bữa chợt thấy lòng đau dội
Đau
suốt con tim đến lạ thường
Chắc
tại quê hương ngoài cõi đợi
Bên
trời đau đáu lệ kêu thương.
(Quê
Hương- Ký Ức Tháng 4)
Vì
đó không phải là cái xa của cách trở dặm dài, nó là cái xa của máu lệ những người
khuất mặt. Hai câu thơ dưới dây nghe đẫm phận hoài, tình nào có thể nối lại
nghìn trùng máu lệ kia, lịch sử ơi!
Quê
xa đâu phải ngàn dặm mỏi.
Xa
tự muôn trùng máu lệ xưa…
(Ký
ức 1)
Cõi
đợi đã không, cõi mộng cũng gần như trắng tay, nó chỉ là những dặm đường đầy
chua chát của bước đi không trọn:
Đã
đuối phong trần, đẫm gió mưa
Đêm
còn đuổi mộng? -những dặm thừa
(Ký
Ức 1- Ký Ức Tháng 4)
Và
đúng là nỗi đau dội, khi nhìn lên trời, một ngày đầy mây, có lời thơ vỡ ra:
Sao
vẫn ngùi thương chuyện bể dâu
Bao
nhiêu xương cốt vùi chung chỗ
Đã
bốc thành mây. Mây trắng phau
(Mây
Trắng)
Mây
trắng, một biểu tượng đầy thiền vị cho sự phù du, vô thường, giờ là hồn cốt của
bao oan khiên, đã đi qua lịch sử và giờ ở đó, -mây trắng phau- là sự thong dong
của giải thoát chăng, mà sao khi nhìn nó cùng với câu thơ này tôi không tránh
khỏi rợn buồn, ngùi ngùi cho một níu kéo.
Và
có phải đây là bờ vực khi con người bị dồn vào biên giới của chịu đựng, phủ nhận
tất cả, kể cả ẩn dấu một cảm thức hiện sinh, tại sao ta bị ném vào sự tồn tại
này. Cánh rong phiêu bạt, một trạng thái không định hướng, đẩy tồn tại ấy đồng
nghĩa với hư vô, và cơn đau dội kia như một cú choáng khiến người đâm ra ngờ vực,
cả đến chất vấn con chữ. Chẳng lẽ không còn gì ngoài sự chịu đựng? Tôi không
tin như vậy, bởi còn một dấu hỏi sau chữ Phù Vân kia.
Còn
tôi với bóng. Một tôi
Với
trăm xác chữ lạc loài kêu than
Năm
mươi năm lệ đã tràn
Nghĩa
nhân đã nát, đá vàng đã phai
Chữ-nghĩa
hẳn cũng phận bày
Đọa
đày cố quận… rạc rày ý thân
Ới
ơi chữ-nghĩa! Phù vân?
(Xác
Chữ)
ngồi
chia với tượng nỗi lòng
mặt
tôi với mặt tượng đồng, y chang.
(Túy
Bút)
Người
chờ cho hết đời cô quạnh
Ta
đứng bên trời, lệ chảy nhanh
(Hành
Tháng Tư)
Chờ
bao giờ hết? Đời là trăm năm và cuộc chờ kia vô tận. Và đã bao tượng chờ ở thế
gian này?
Và
Biển. Ở đây, biển thời gian: Cuộn- Xóa- Lấp. Thời gian đang làm công việc của
nó. Ký ức là sự tỉnh thức của ta, ta hiện hữu vói nó, không chỉ hẳn là gìn giữ
quá khứ mà là một mốc cho ta biết cội rễ của lưu vong. Và để, nhân ái, Xóa
vết thù xưa…
Biển
Bắc chon von tận đỉnh trời
Âm
hàn nhọn sắc xé da tươi
Tai
nghe tiếng sóng thời gian cuộn
Xóa
vết thù xưa, lấp dấu người.
(Biển
Bắc- Ký Ức Tháng 4)
Xóa
vết thù xưa… xóa vết thù xưa… Nhẹ nhàng như đang lật qua một trang sách. Chỉ
còn Tình Người.
KẾT
TỪ
Trong
khép lại tập thơ Ký Ức Tháng Tư này, tôi đọc những câu mở ra của Khúc Đoạn Trường
(trường thi,155 đoạn) của Cao Vị Khanh, đã đẩy tôi đến nhiều suy tư.
Không
biết đây có phải là khoảnh khắc người thơ đối diện với hư vô chăng:
Rồi
tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra.
Mọi
trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ.
Không
có chi. Không còn chi.
Cả
ba câu thơ trùm một không khí cô đơn của thất lạc, của nỗ lực đang tìm lại
mình, như một nghi vấn hiện sinh tôi là ai nếu không còn lại gì? Và về sự phi lý của cuộc tồn tại như nhà văn
Albert Camus đã nói, có phải đó là ý thức trần trụi về sự hiện hữu?
Rồi
tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra. Không ghi nhớ, không phán xét,
không ký ức, chấp nhận thực tại cuộc sống với những phi lý hiển nhiên.
Mọi
trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ, -thống khổ không được trân
trọng sao-? Rỗng đây là một vết thương, thế giới này không phải là nơi cân đo
cho nỗi đau, và thân phận con người là điều mà thế giới này không quan tâm.
Không
có chi. Không còn chi. Chỉ thấy sự im lặng, vắng bặt, trống không. Không còn
hình ảnh, ký ức, ẩn dụ, biểu tượng… nghĩa là tất cả những gì thuộc về “trước
đó” bỗng biến mất. Như thể hư vô. Ngôn ngữ co lại thành một điểm: Không. Một phủ
định, câm nín, thúc thủ.
Và.
Qua những chặng đó, tôi dừng chân ở một liên tưởng khác thuộc Phật học:
Nhận
thức vô thường trong tất cả sẽ qua đi. Không còn Ta nào để thống khổ. Và một rốt
ráo Không của Buông Bỏ, để rỗng rang trong sáng. Lúc đó không phải đối diện với
hư vô, mà là Tự Do.
NGUYỄN
THỊ KHÁNH MINH
Upland,
tháng 11-2025
Giới thiệu link để đọc bài thơ Hành Tháng Tư của
Cao Vị Khanh:




