Phan
Tấn Hải
Messi. trận Argentina
vs Austria World Cup 2026
(Hình YouTube)
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi
nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có
nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải
qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo
thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.
Tôi
tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều
có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu,
bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh
nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ
để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay
đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu
thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh
rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Tôi
học chơi bóng tròn từ thời trung học cơ sở, chữ xưa gọi là trung học đệ nhất cấp.
Tôi nghĩ rằng đó là cơ may rất đẹp và nhiều kỷ niệm, khi một đứa học trò như
tôi từ trường Trần Lục ở Sài Gòn được tập ở sân Hoa Lư vào một giờ nào đó vào
cuối tuần, theo vị thầy thể dục thể thao ấn định khung giờ trước. Trong những
buổi tập đó, thường là từ 7 giờ sáng tới 9 giờ sáng, nếu tôi nhớ không nhầm,
cha tôi đánh thức tôi lúc 4 giờ sáng, lấy xe Mobylette, một loại xe hai bánh
xưa cổ chạy xăng, chở tôi ra một quán cà phê của người Hoa ở góc đường Lê Văn
Duyệt (bây giờ đổi tên thành Cách Mạng Tháng 8) và Tô Hiến Thành (không rõ đổi
tên gì) ngồi một chặp, để ba uống ly cà phê và hút xong điếu thuốc, và để tôi
ăn xong một cái bánh bao, rồi mới chở tôi tới sân Hoa Lư, nơi theo tôi nhớ là
cách Sở Thú (Thảo Cầm Viên) khoảng 5 hay
7 đoạn đường. Một thời gian sau, ba mua cho tôi cái xe đạp. Từ đó, tôi phải tự
tới trường. Nhưng mê bóng tròn vẫn là mê không rời.
Có
khi bọn học trò rủ nhau đá banh, mê quá, quên cả trời đất. Lúc đó, thỉnh thoảng,
tôi làm thơ lục bát (hồi đó, đệ lục, tức là lớp 7 bây giờ, là phải học làm thơ).
Trong đó, có mấy dòng, nhớ mang máng, có chữ vương vướng âm vận, bây giờ chỉnh
lại, như sau.
Banh
lăn qua cỏ sân trường
Làm
cho thằng nhóc mê hồn chạy theo
Đá
cho chiều vướng trăng treo
Đá
cho nắng sớm cũng trèo vô xem
Pele
tới ngó ngoài hiên
Hú
trong giấc ngủ nửa đêm tưng bừng.
Tôi
nhớ những buổi sáng ở sân Hoa Lư, nhiều nhóm học trò từ nhiều trường và nhiều lớp
khác nhau chia ra các nơi trên sân cỏ để tập. Hơi sương buổi sáng sớm mang hơi
mát ngấm vào người, chạy một chặp thì hơi nóng khắp người. Nhưng cũng nơi sân cỏ,
nhiều tháng sau, tôi nhận ra mình không có năng khiếu về bóng tròn, và tự biết
có tập cỡ nào cũng luôn luôn thua nhiều bạn. Chạy không nhanh bằng người là hỏng
rồi. Kỹ thuật đưa chân lạng qua, lạng lại để lừa banh, dẫn banh không khéo cũng
là hỏng. Tuy nhiên, bóng tròn hay tuyệt vời là chỗ, bạn chỉ cần ngồi bên lề và
nhìn thấy banh lăn trên sân cỏ là đủ thấy hạnh phúc rồi. Nghĩa là, chỉ ngó banh
là đủ để hạnh phúc.
Tuy nhiên, thời gian chơi bóng tròn nơi sân
cỏ không nhiều trong niên học. Thời đó, xã hội mình chú trọng điểm học nhiều
hơn. Tôi và đám bạn lại tìm ra môn chơi bóng mới: đá banh bàn. Thường là nơi một
tiệm tạp hóa, hay một tiệm bi-da vẫn có một hay hai bàn bóng đá. Kiểu chơi cũng
đơn giản. Đó là một chiếc bàn hình chữ nhật mô phỏng sân bóng tròn thu nhỏ, có
thành băng cao để bóng không bay ra ngoài. Có tổng cộng 8 thanh sắt xuyên qua
hai bên thành bàn (mỗi bên 4 thanh). Trên các thanh này có gắn cố định các quân
người máy nhỏ bằng nhựa hoặc gỗ đại diện cho cầu thủ. Ở hai đầu bàn có hai lỗ
khoét sâu xuống, đóng vai trò là cầu môn của mỗi bên. Quả bóng nhỏ, cứng, có
kích thước tương đương hoặc nhỏ hơn quả bóng bàn (ping-pong) một chút, thường
làm bằng nhựa cứng hoặc gỗ nhẹ để lăn và nảy tốt. Tôi và đám bạn học thường lui
tới các nơi có bàn đá banh bàn ở khu Tân Định. Hễ tan trường là tới chơi chừng
nửa giờ rồi mới về nhà. Tuy nhiên, la cà như thế, tôi lại học thêm, biết chơi
môn bi-da (Billiards), nhưng chỉ biết môn bi-da loại bàn 3 banh, về sau thấy có
loại cả chục quả banh (gọi là bi) thì lạ rồi. Khi chuyển trường sang Chu Văn An
thì tự nhiên tôi mất thói quen chơi banh bàn và bi-da.
Có
nhiều lý do. Trong đó, tôi nghĩ là mê đọc nhiều hơn. Sách đã làm tôi lười ra
sân cỏ hơn. Tôi mê truyện. Nhưng thỉnh thoảng, khi có các trận banh trực tiếp
truyền thanh, tôi lại ra quán hớt tóc đầu xóm Chuồng Bò trong đường Nguyễn
Thông để ngồi chung với vài người hàng xóm, lắng nghe qua sóng phát thanh giọng
cụ xướng ngôn viên Huyền Vũ trực tiếp kể về các trận banh. Thực sự, cha tôi có
một máy phát thanh (chữ Miền Bắc gọi là đài, chữ Miền Nam gọi là radio), nhưng
tôi không dám đụng tới, vì chủ yếu là cha tôi dùng để nghe tin quốc sự trên các
đài BBC, VOA. Và hình như, theo tôi nhớ, có thể là cha nghe cả truyền thanh từ
Miền Bắc tới. Tôi đoán là Miền Nam cấm nghe đài Miền Bắc, vì những lúc như thế,
ba tôi áp tai sát vào chiếc máy radio hiệu Panasonic của Nhật, mặt rất nghiêm
và buồn. Tôi nghĩ rằng cha muốn nghe tin về Hà Tĩnh, nơi cha ra đời, nhưng chẳng
bao giờ tôi dám hỏi cha nghe những gì. Thêm nữa, quốc sự là cái gì rất xa lạ với
bọn học trò như tôi thời đó.
Có những buổi trưa, buổi chiều vui tưng bừng,
là khi các bác, các anh trong xóm rủ nhau tới tiệm hớt tóc và nghe trực tiếp
truyền thanh các trận banh. Tôi không nhớ chính xác các diễn biến, chỉ nhớ
trong ký ức những đứa học trò như tôi cũng vô nghe ké, rồi hô lớn vô, vô, vô...
cùng với các bác người lớn. Có khi tôi cầm theo một cuốn sách ra tiệm hớt tóc,
vừa ngồi nghe, vừa đọc khi không có những âm thanh vang dội. Nghĩa là, càng lớn,
tôi càng nghe một cách lơ là, không kiểu nghe từng lời của bác Huyền Vũ. Bây giờ,
tất cả những hình ảnh và âm thanh hiện lên trong trí nhớ như một giấc mơ.
Cầu
thủ Pele lúc đó là một huyền thoại, một thiên tài. Hồi xa xưa đó chưa có truyền
hình. Bây giờ, có lúc vô YouTube tìm xem Pele, thì phim đen trắng cũ mèm, mờ mờ
ảo ảo. Tội nghiệp Pele. Không thể nào như Messi hiện nay, hình màu TV, xem trên
YouTube rực rỡ màu sắc âm thanh là dư sức phê rồi. Sau khi nhóm học sinh Trần Lục
chuyển trường sang Trung học Chu Văn An, thế là được nâng cấp: tập thể dục thể
thao ở sân Phan Đình Phùng (sân này không rõ đổi tên mới là gì). Nhiều thầy nổi
tiếng hơn, thế là học trò đứa nào cũng tự thấy trang nghiêm hơn. Thêm nữa, phải
lo thi cử. Rồi bẵng đi nhiều năm nữa.
Có
mấy dòng thơ còn nhớ mang máng, từ khi tôi nghĩ rằng mình hiểu được lờ mờ Tâm
Kinh, lúc đó mừng vô cùng tận, bây giờ chỉnh lại cho ý nghĩa ngay ngắn. Dù vậy,
lúc đó tôi vẫn nói chuyện đá banh cho giảm bớt chất thơ mộng.
Banh đi qua tuổi học trò
Lăn theo đồi núi sông hồ biển xa
Sút một cú, trời mưa hoa
Cúng dường vô lượng ta bà sắc không.
Nửa khuya thức ngó mười phương
Thấy ngàn mây dạt vầng dương ửng hồng.
Rất nhiều năm về
sau, khi vào nghề báo, có lúc tôi nghĩ mình nên viết một truyện ngắn có ý nghĩa
liên hệ tới bóng tròn. Tôi nhớ rằng trong thời gian Cuộc Chiến Việt Nam
1954-1975, có lẽ đợt ngừng bắn chính thức lâu nhất (ít nhất là trên danh nghĩa)
khoảng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định Paris. Nghĩa là, từ ngày 28 tháng
1/1973 trở đi. Thời gian ngưng bắn cũng là hai phía Nam quân và Bắc quân rủ
nhau cắm cờ, lấn đất, giành dân... trước khi tiếng súng bùng phát dữ dội trở lại,
vì khi hai bên cùng lấn đất thì sẽ đụng nhau để bùng nổ các đợt tấn công mới.
Tôi nghĩ ra một truyện ngắn, nội dung sơ lược là: trong
những ngày mới ngưng bắn sau Hiệp định Paris, quân hai miền Nam, Bắc còn choáng
váng, còn ngây ngất vì niềm vui ngưng bắn, thì tại một ngôi làng nào đó ở Miền
Trung, nơi bọn thanh niên hồi nhỏ học chung trường tiểu học, rồi học lên trung
học, có nhiều kỷ niệm khi chia phe đá banh. Tới khi chiến tranh bùng nổ khắp
nơi, có lẽ nên ghi là khoảng giữa thập niên 1960s, sau khi quân Mỹ bắt đầu vào
Đà Nẵng, thì các thanh niên mới lớn trong làng liền chia đôi, y hệt như thời Rồng
Tiên ly dị, một nửa lên núi tòng quân cho VC, và một nửa xuống biển nhập ngũ
cho VNCH.
Đúng vậy, thời gian một tuần lễ sau khi ký Hiệp định
Paris là lúc ngưng bắn thực sự ở rất nhiều ngôi làng. Thế rồi tại ngôi làng đó,
một trận đá banh được các bạn học cũ – bấy giờ nửa kia là du kích và nửa kia là
địa phương quân -- sắp xếp. Các bạn này ở cấp bậc quá thấp, nên không hề nghĩ rằng
ngưng bắn chỉ là tạm. Nhưng các chàng hẹn nhau sẽ gặp nhau để đá một trận banh
cho tưng bừng ngày bạn cũ gặp lại, tuy rằng đứng ở hai màu cờ nhưng tình bạn vẫn
không quên nhau. Cuối cùng, tôi không viết được truyện ngắn đó, vì trong lòng tự
nhiên thấy bất an. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sân banh là nơi tuyệt vời nhất để bạn
cũ gặp nhau so giày, bất kể các lá cờ cắm hai phía khác màu.
Tôi không nghĩ
nhà văn chọn đề tài bóng tròn là hỏng. Bởi vì, chuyện gì rất là con người cũng
đều tốt đẹp và có thể lay động lòng người. Thí dụ, một nhà văn điển hình đã sống
trọn lòng, trọn dạ cho bóng tròn là Eduardo Galeano (1940-2015). Theo
Wikipedia, ông tên đầy đủ là Eduardo German María Hughes Galeano, là một nhà
báo, nhà văn và tiểu thuyết gia người Uruguay; ông được ca ngợi là "nhà
văn khổng lồ của phe cánh tả Mỹ Latinh" và là "nhà văn lỗi lạc nhất
thế giới về đề tài bóng đá."
Khi Galeano từ trần, bình luận gia văn học Hoa Kỳ Bill
Littlefield, đã viết một bài tưởng niệm và đọc trên làn sóng truyền hình WBUR.
Bài viết của Littlefield có tựa đề "Remembering Eduardo Galeano, Writer
And Soccer Lover" (Tưởng nhớ Eduardo Galeano -- Nhà văn và Người đam mê
bóng đá) đăng ngày 15/4/2015, trích như sau:
“Có rất nhiều cuốn sách dở viết về đề tài thể thao.
Có lẽ tệ nhất là những cuốn sách được cho là do các huấn
luyện viên viết. Những cuốn sách này dựa trên một tiền đề thiếu vững chắc: rằng
việc dẫn dắt một nhóm vận động viên giành chức vô địch đồng nghĩa với việc đủ
tư cách để dạy các nhà môi giới chứng khoán hay quản lý tại các tiệm ăn
McDonald's về cách biến nhân viên của họ thành những người chiến thắng.
Nhưng ông [Galeano] cũng viết về bóng đá, và ông kiên quyết
không để sự thương mại hóa hay các màn tiếp thị làm vẩn đục niềm vui mà ông tìm
thấy trong những khoảnh khắc huy hoàng nhất của môn thể thao này.
Trong cuốn sách tuyệt vời mang tên "Children of the
Days" (Những đứa con của tháng ngày), Galeano kể câu chuyện về Manuel Alba
Olivares. Cậu bé mới 11 tuổi khi chứng kiến bàn thắng mà cầu thủ Diego Maradona
ghi được sau pha đi bóng vượt qua sáu cầu thủ Anh tại World Cup 1986. Ngay khoảnh
khắc lưới rung lên báo hiệu bàn thắng, cậu Olivares nhỏ bé liền bị mù. Đó là
hình ảnh cuối cùng cậu nhìn thấy. Tuy nhiên, theo lời nhà văn Galeano, cậu
Olivares vẫn có thể mô tả chi tiết và chính xác từng cử động của cầu thủ
Maradona.
Đó là tài năng mà Eduardo Galeano trân trọng. Trong cuốn
"Soccer in Sun and Shadow" (Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm),
nhà văn Galeano viết: ‘Tôi đi khắp thế giới với bàn tay ngửa ra, và tại các sân
vận động, tôi khẩn cầu: 'Hãy cho tôi thấy một pha bóng đẹp, Trời ạ.' Và khi
bóng đá đẹp xuất hiện, tôi tạ ơn phép màu đó mà chẳng hề bận tâm đội bóng hay
quốc gia nào đã tạo ra nó.’
Nhà văn Eduardo Galeano được ca ngợi rộng rãi như một đối
trọng với những người viết lịch sử từ góc nhìn của kẻ chiến thắng. Ông dành sự
ưu tiên cho những câu chuyện về những con người với những cuộc đấu tranh dũng cảm
nhưng đã bị lãng quên.
Song, khiếu hài hước luôn hiện hữu trong giọng văn của
ông cũng là một phần không thể tách rời trong những thành tựu mà ông đạt được.
Trong bài viết có tựa đề "Author’s Confession" (Lời thú tội của tác
giả), chủ đề chính là bóng tròn và bản thân ông, nhưng đó cũng là câu chuyện về
mọi người hâm mộ ở bất cứ đâu từng ấp ủ một giấc mơ.
‘Giống như mọi đứa trẻ Uruguay khác, tôi từng muốn trở
thành cầu thủ bóng tròn,’ nhà văn Galeano viết. ‘Tôi chơi khá hay. Thực ra, tôi
chơi cực kỳ xuất sắc, nhưng chỉ là trong những giấc mơ khi tôi đang ngủ mà
thôi.’” (Hết trích)
Thực ra, nhà văn Eduardo Galeano còn rất nhiều phương diện
khác cũng độc đáo. Ông là một nhà văn cánh tả, từng bị cánh hữu bắt giam, đẩy
ra nước ngoài lưu vong, rồi lại có lệnh truy nã và nhiều sóng gió nữa. Nhưng đó
là chuyện khác.
Nơi đây chúng ta chỉ nói chuyện bóng tròn. Và tôi nghĩ rằng,
người dân già trẻ lớn bé trong ngôi làng giả tưởng ở Miền Trung sẽ rất là hạnh
phúc nếu được chứng kiến một trận bóng tròn giữa các chàng trai từng sinh và lớn
lên trong làng và lúc đó là đã chia thành hai phe – phe du kích VC và phe địa
phương quân VNCH – đá một trận banh cho đã đời, trong những ngày tạm ngưng bắn
để cắm cờ giành dân hồi năm 1973. Tất cả những cậu bé sau khi chứng kiến trận
banh đó sẽ không bao giờ quên được trận banh đó. Vì đó là trận banh cuối cùng
giữa các chàng trai, trước khi họ sẽ tìm nhau để giết nhau.
Vậy mà tôi không viết được. Cũng không nghĩ ra cốt truyện
để cho một cậu bé sẽ mù sau đó nhưng rất là hạnh phúc từ khi xem trận banh đó.
Đúng như thế: khi chạy theo banh là hạnh phúc. Kể cả trong giấc mơ.
PTH




