Phan Tấn Hải
Tranh
của Etel Adnan, chi tiết từ 'Explosion Florale'.
Họa sĩ Nabil Kanso trước
tấm tranh của ông
để kêu gọi hòa bình.
(Photo: Wikipedia)
Họa sĩ Ayman Baalbaki ngồi
trước tranh của ông
(Photo: Tạp chí Lebanon
Traveler)
Lebanon sẽ trở thành một kiểu tro bụi như Gaza sau khi
không quân Israel tung ra nhiều đợt dội bom ngay giữa thủ đô Beirut nhiều tuần
lễ qua, bất kể Hoa Kỳ và Iran đang ngưng bắn và đàm phán? Có nên hy vọng vào cuộc
đàm phán ngập ngừng đương hữu giữa Israel và Lebanon hay không, sau nhiều thập
niên họ vẫn nhìn nhau qua họng súng? Chúng ta không thể biết đất nước xinh đẹp
này tương lai có thể bị xóa sổ hay không, trong khi Lebanon trải qua gần một thế
kỷ trở thành một chiến trường khi nhiều nền văn minh hội ngộ, và cũng là nơi đã
khai sinh ra nhiều nhà thơ và họa sĩ tuyệt vời.
Một nhà thơ lớn của Lebanon là Kahlil Gibran (1883—1931),
người để lại tập thơ bất tử The Prophet trong đó có bài thơ Love (Tình yêu) với
những dòng bất tử, như dường đang nói với người tình, và cũng có thể hiểu là Đấng
Tối Cao, trích:
... Thà là, hãy để cho tôi đói,
Và hãy để tim tôi khô héo vì khát,
Và hãy để cho tôi chết và tan rã
Còn hơn phải đưa tay
Chạm vào cái tách mà người chẳng rót đầy,
Hay cái chén mà người chẳng ban phước. (ngưng trích)
Lebanon, nơi dân số
ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó
95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng
chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo
Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ
Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo
khác.
Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình
từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự
kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm
1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được
độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước
Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một
thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính.
Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của
cuộc Nội chiến kéo dài suốt 15 năm, được châm ngòi bởi những căng thẳng giáo
phái nội bộ và sự hiện diện của các phe phái vũ trang Palestine. Cuộc chiến kết
thúc vào năm 1990 bằng Hiệp ước Taif, nhưng lại để lại đất nước dưới sự chiếm
đóng kéo dài của Syria cho đến tận cuộc Cách mạng Cây tuyết tùng năm 2005.
Thế kỷ 21 đã chứng kiến những biến động cực độ: một cuộc
chiến tranh tàn khốc với Israel vào năm 2006, những hệ lụy lan sang từ cuộc Nội
chiến Syria, và một cuộc sụp đổ kinh tế thảm khốc vào năm 2019. Vụ nổ tại Cảng
Beirut năm 2020 đã trở thành một biểu tượng bi thương cho sự tắc trách của bộ
máy nhà nước. Ngày nay, Lebanon đang phải đối mặt với thách thức sống còn lớn
nhất từ trước đến nay—bị kẹp giữa một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện và
nguy cơ chiến tranh vào năm 2026—trong khi vẫn phải chật vật bảo vệ chủ quyền của
mình giữa bối cảnh những xung đột ủy nhiệm khu vực đã ăn sâu bám rễ.
June Jordan (1936—2002), một nhà thơ Hoa Kỳ gốc Jamaica,
đã viết bài thơ tựa đề "Apologies to All the People in Lebanon" (Lời
xin lỗi gửi tới tất cả người dân Lebanon) với lời ghi là "Dành tặng cho
600.000 người nam, nữ và trẻ em Palestine đã sinh sống tại Lebanon từ năm 1948
đến 1983" trong đó có những dòng thơ, trích:
...Họ nói rằng quý vị đã bắn vị Đại sứ
London
và khi điều đó không đúng sự thật
thì họ vẫn cứ nói thế
thì sao nào?
Họ nói rằng quý vị đã pháo kích các
ngôi làng phía bắc của họ
và khi lực lượng Liên Hợp Quốc báo cáo
rằng điều đó không đúng
bởi vì phía của quý vị vẫn đang tuân
thủ lệnh ngừng bắn
đã hơn một năm trước đó rồi
thì họ vẫn cứ nói thế
thì sao nào?
Họ nói rằng họ chỉ đơn thuần muốn thiết
lập
một vùng đệm rộng 25 dặm, và rồi
họ tàn phá nguồn
nước, nguồn điện của quý
các bệnh viện, trường học, mọi xa lộ
và lối mòn của quý vị
dọc suốt lên tận phía bắc tới Beirut;
bởi họ nói rằng đây
chính là cuộc tìm kiếm hòa bình của họ
Họ cho nổ tung nhà cửa của quý vị, san
phẳng các cửa hàng thực phẩm
chặn đường Hội Hồng Thập Tự, bắt giam
các bác sĩ
và họ ném bom chùm xuống những bé
trai, bé gái
mà thân thể các em
sưng tấy bầm tím, đen sạm, phình to gấp
đôi kích thước ban đầu
và xé toạc phần mông của một em bé mới
bốn tháng tuổi...
(ngưng trich)
Mới tuần trước là là một đợt không kích quy mô lớn của
Israel đã giết hơn 350 người chỉ trong vài phút, nhằm thẳng vào khu vực trung
tâm Beirut và các vùng phía nam mà không hề có lời cảnh báo trước. Hiện tại, bộ
binh của Israel đã tiến sâu vào miền nam Lebanon, cho phá hủy các cây cầu dọc
theo sông Litani và kêu gọi di tản toàn bộ người dân khỏi phía nam Lebanon. Hơn
1,5 triệu người (chiếm 20% tổng dân số Lebanon) đã phải rời bỏ nhà cửa đi lánh
nạn, và hệ thống y tế đang đứng bên bờ vực sụp đổ do các cuộc tấn công có chủ
đích nhằm vào các cơ sở y tế.
Trong hoàn cảnh gần một thế kỷ khói lửa mưa đạn kiểu như
thế, lịch sử nghệ thuật Lebanon là một chuỗi dài kham nhẫn, kiên cường. Những
người sống sót cùng cộng đồng Lebanon hải ngoại đã ghi lại nỗi đau thương vào một
nền nghệ thuật đầy những nạng chống và băng bột. Và trong những năm như thế,
nhiều nghệ sĩ bỗng nhiên biến mất trên cõi đời này. Nhiều nghệ sĩ không chết
trong những vụ ám sát chấn động dư luận, mà chỉ đơn thuần "biến mất"
tại các trạm lính chận kiểm soát hoặc trong những đợt pháo kích vào các khu dân
cư. Nghệ thuật cũng phải gánh chịu những "cái chết mang tính biểu tượng"—sự
tàn phá Nhà hát Piccadilly Theatre cùng nạn cướp bóc vô số xưởng vẽ và phòng
tranh tư nhân, những sự kiện đã xóa sổ hàng thập niên lịch sử nghệ thuật thị
giác.
Đối với nhiều nghệ sĩ Lebanon, nghệ thuật không đơn thuần
là một sự theo đuổi về mặt thẩm mỹ, mà còn là một phương tiện thiết yếu để kiến
tạo hòa bình, phản biện xã hội, cũng như gìn giữ ký ức tập thể—thứ mà chiến
tranh thường tìm cách xóa nhòa.
Một nhân chứng chiến tranh nổi bật là họa sĩ Nabil Kanso
(1940–2019). Có lẽ rất ít nghệ sĩ nào lột tả sự tàn bạo trần trụi của xung đột
một cách đầy ám ảnh và đau đớn như Kanso. Loạt tác phẩm đồ sộ của ông,
"The Split of Life" (Sự chia cắt của Cuộc sống), bao gồm hơn 80 bức
tranh sơn dầu khổ lớn (tương đương tranh tường), được sáng tác trong khoảng thời
gian từ năm 1974 đến 1994. Kanso đã sử dụng phong cách "tân biểu hiện"
(neo-expressionist) — với những gam màu cam rực rỡ, đỏ thẫm và đen hỗn loạn — để
khắc họa nỗi thống khổ của cuộc Nội chiến Lebanon. Tranh của ông không phải để
tôn vinh chiến trận, mà là khơi dậy một "lời hiệu triệu mới cho sự thức tỉnh",
biến tranh thành một lời tự vấn đạo đức nhằm đòi hỏi hòa bình.
Theo Wikipedia, họa sĩ Nabil Kanso sinh tại Beirut,
Lebanon vào ngày 26/9/1940; ông là người con thứ sáu trong gia đình có tám người
con của ông bà Melhem Kanso và Munira Saab. Cha ông là một thương nhân buôn bán
vải lanh thành đạt đến từ vùng Mukhtara. Năm 1958, khủng hoảng chính trị tại
Lebanon đã buộc trường học của ông đóng cửa, và Kanso rời khỏi đất nước này.
Ông theo học tại Trường Bách khoa Regent Street, và sau khi tốt nghiệp, ông
chuyển đến Thành phố New York. Năm 1966, ông nhập học tại Đại học New York
(NYU), nơi ông học lịch sử nghệ thuật, triết học và khoa học chính trị; ông nhận
bằng Thạc sĩ (M.A.) năm 1971. Ông bắt đầu cầm cọ vẽ từ năm 1967. Các nhà phê
bình nghệ thuật thường liên hệ những chủ đề mang tính tận thế xuất hiện trong
các tác phẩm của Kanso với cuộc Nội chiến Lebanon.
Các tranh về đề tài Kuwait của ông vẽ hình ảnh các phụ nữ
đau khổ khi mất con, trở thành những nạn nhân của chiến tranh. Một số nhà phê
bình nhận định rằng chủ đề tình mẫu tử đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
các tác phẩm về phụ nữ của Kanso; người xem có thể bắt gặp hình ảnh những người
mẹ trong khoảnh khắc sinh nở, cũng như trong khoảnh khắc cái chết ập đến khi họ
vẫn đang ôm chặt những đứa con trong vòng tay. Những song sắt — chi tiết thường
xuyên lặp lại từ tác phẩm này sang tác phẩm khác — đôi khi được đặt ngay tại cửa
mình của người phụ nữ. Màu xanh lá cây gần như vắng bóng trong các tác phẩm của
Kanso được xem là một dấu ấn cho thấy sự phê phán của ông đối với vấn nạn hủy
hoại môi trường. Chẳng gì có thể sinh sôi nảy nở giữa thời chiến. Thịt xương dường
như hiện diện khắp chốn. Nước sinh ra chỉ để nhấn chìm, hoặc để đóng băng. Những
cột băng trông tựa như những chiếc chân côn trùng đầy lông lá, hay những cuộn
dây thép gai. Bầu trời—vốn hiếm khi được nhìn thấy—thỉnh thoảng lại hé lộ
thoáng qua hình bóng của những bậc tiền nhân, tựa như những bóng ma xanh nhạt
đang dõi mắt nhìn xuống hậu thế.
Họa sĩ Ayman Baalbaki (sinh năm 1975) cũng có nét vẽ nhân
chứng chiến tranh. Baalbaki tập trung vẽ những tàn tích sau trận bom từ các cuộc
giao chiến. Ông nổi danh với các tranh vẽ các tòa nhà đổ nát cùng những nhân vật
đội khăn kaffiyeh. Thông qua việc tái hiện những "đài tưởng niệm của sự mất
mát" này, Baalbaki buộc người xem phải đối diện với tình trạng ly tán xã hội
do chiến tranh gây ra, nét vẽ là một lời kêu gọi hòa bình và công bằng xã hội
cho người chết và những người lưu vonTrong cuộc phỏng vấn của tạp chí Lebanon
Traveler ngày 4/4/2022, họa sĩ Ayman Baalbaki được hỏi "Lớn lên trong cuộc
nội chiến tại Lebanon đã ảnh hưởng như thế nào đến các tranh vẽ của ông?"
đã trả lời:
“Việc tôi chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến là điều tất yếu,
bởi lẽ gia đình tôi sinh sống ngay trên "ranh giới xanh" (Green
Line). Thư viện của cha tôi chứa đầy những cuốn sách về chính trị và nghệ thuật;
và mọi cuộc trò chuyện của ông với bạn hữu cũng đều xoay quanh hai chủ đề này.
Điều đó đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và bền vững. Cuộc chiến khép lại
vào năm 1989 với Hiệp ước Ta’if, và đến năm 1991, một đạo luật ân xá đã được
ban hành để miễn trừ mọi tội danh chính trị xảy ra trước thời điểm đó. Người ta
ra sức xóa bỏ mọi dấu vết chiến tranh:
những tòa nhà chằng chịt vết đạn ở khu trung tâm Beirut bị xe ủi san phẳng hoàn
toàn, còn thân nhân của người mất tích thì buộc phải chính thức từ bỏ quyền đòi
hỏi thông tin về người thân của mình. Cho đến tận ngày nay, vẫn chưa hề có một
bản tường thuật chính thức nào về những gì đã thực sự diễn ra trong suốt thời kỳ
chiến tranh. Tất cả những điều này, đối với tôi—cũng như đối với những người từng
trực tiếp nếm trải nỗi đau thương và chứng kiến những cuộc thảm sát ấy—chẳng
khác nào một sự khiêu khích. Chính điều đó đã thôi thúc tôi—cùng với biết bao
nghệ sĩ và văn sĩ khác thuộc thế hệ mình—thực hiện một "bổn phận ghi nhớ",
nhằm kiến tạo sự hòa giải với lịch sử thông qua một sứ mệnh lưu trữ đầy trách
nhiệm.”
Dùng nghệ thuật để hàn gắn, chữa lành nổi bật có nhà thơ
và là họa sĩ Etel Adnan (1925–2021). Là một người đa tài, luôn chuyển mình giữa
hội họa và thi ca, bà Adnan tin rằng: “Nếu tôi khẳng định sự sống và vẻ đẹp
của thế giới, thì tôi càng trở nên gần gũi hơn với những người chủ trương hòa
bình.” Những bức tranh phong cảnh trừu tượng nhỏ nhắn, rực rỡ sắc màu của
bà—thường lấy núi Tamalpais làm chủ đề—chính là những lời phản kháng thầm lặng
chống lại sự hỗn loạn của chính trị. Đối với Adnan, màu sắc là một ngôn ngữ của
hòa bình, có khả năng vượt qua mọi biên giới và sự chia rẽ phe phái.
Theo Wikipedia, bà Etel Adnan sinh năm 1925 tại Beirut,
Lebanon. Mẹ của Adnan, bà Rose "Lily" Lacorte, là người Hy Lạp Chính
thống giáo đến từ Smyrna; còn cha bà, ông Assaf Kadri, là một người Thổ Nhĩ Kỳ
theo Hồi giáo Sunni và là một sĩ quan cấp cao của Đế chế Ottoman, sinh ra tại
Damascus thuộc vùng Syria dưới quyền cai trị của Ottoman.
Những tác phẩm trừu tượng đầu tay của bà Adnan được sáng
tác bằng cách dùng dao để phết sơn dầu lên canvas. Trọng tâm bố cục thường là một
hình vuông màu đỏ; bà đặc biệt quan tâm đến "vẻ đẹp tức thời của màu sắc".
Adnan từng nhắc đến họa sĩ Paul Klee (1879-1940) như một người có ảnh hưởng
quan trọng đối với nét vẽ thời kỳ đầu của bà. Khi nói về Klee, bà nhận định:
"Klee thuộc về dòng dõi những thiên tài mà đối với họ, bất kỳ một danh
xưng đơn lẻ nào – dù là 'họa sĩ', 'nhạc sĩ' hay 'kiến trúc sư' – đều trở nên
quá chật hẹp. Mỗi bức tranh của Klee tựa như một hành trình khám phá, được hiện
thực hóa thông qua một quá trình tìm tòi, tựa như một con thuyền đang lênh đênh
giữa đại dương bao la."
Vào thập niên 1960s, bà bắt đầu ghép nghệ thuật thư pháp Ả
Rập vào các tác phẩm nghệ thuật cũng như các cuốn sách của mình – điển hình là
bộ sách "Livres d'Artistes" [Sách Nghệ sĩ]. Bà kể lại rằng mình từng
ngồi hàng giờ liền để chép lại các từ ngữ từ một cuốn ngữ pháp tiếng Ả Rập, mà
không hề cố gắng tìm hiểu ý nghĩa thực sự của những từ đó.
Etel Adnan cũng là nhà thơ nổi tiếng, với nhiều bài về
chiến tranh ở Lebanon. Trong bài thơ tựa đề "XXXIX from The Arab
Apocalypse" của Etel Adnan, chúng ta trích một đoạn như sau:
“Khi kẻ sống thối rữa trên thân xác kẻ chết
Khi răng của các chiến binh hóa thành
dao bén
Khi chữ mất đi ý nghĩa và biến thành độc
dược thạch tín
Khi móng tay kẻ xâm lược hóa thành vuốt
nhọn
Khi những bạn cũ vội vã lao vào cuộc
tàn sát
Khi ánh mắt kẻ chiến thắng hóa thành
các quả đạn pháo đang nổ
Khi hàng giáo sĩ cầm búa lên và đóng
đinh kẻ khác
Khi các quan chức mở toang cửa đón kẻ
thù
Khi bước chân của dân miền núi nặng
trĩu tựa voi rừng
Khi hoa hồng chỉ còn mọc nơi nghĩa địa
Khi chúng ăn gan người Palestine ngay
cả khi các anh chưa trút hơi thở cuối cùng
Khi chính mặt trời cũng chẳng còn mục
đích nào khác ngoài việc trở thành một tấm vải liệm
thì dòng thác nhân loại vẫn cứ tiếp bước...
(ngưng trích)
Để có thể hình dung nỗi đau đớn trong các cuộc nội chiến ở
ebanon, chúng ta có thể nói về nhà thơ Khalil Hawi (1919-1982): ba ngày sau khi
chứng kiến quân Israel xâm lược Lebanon và sự bất lực của thế giới Ả Rập, nhà
thơ đã tự sát ngay trên ban công nhà mình tại Beirut như một lời phản kháng cuối
cùng đầy bi tráng.
Wikipedia ghi rằng Khalil Hawi lớn lên tại Shwayr,
Lebanon. Ông học triết học và văn học Ả Rập tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut (AUB),
nơi ông nhận bằng Nghệ thuật vào năm 1955. Sau vài năm giảng dạy, ông nhận được
học bổng để theo học tại Đại học Cambridge (Anh), và tại đây ông được trao bằng
Tiến sĩ vào năm 1959. Sau đó, ông trở thành giáo sư văn học Ả Rập tại Đại học
Hoa Kỳ ở Beirut. Thơ của ông sử dụng đậm đặc các biểu tượng, ẩn dụ và hình ảnh,
đồng thời thường mang những âm hưởng chính trị và xã hội sâu sắc. Là một người
theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập từ tận đáy lòng, ông nhiều lần bày tỏ nỗi hổ thẹn
và sự phẫn nộ trước việc đánh mất Palestine vào năm 1948, cũng như trước những
thất bại liên tiếp của khối Ả Rập dưới tay Israel sau đó. Ông vô cùng phẫn nộ
khi Lebanon bất lực trong việc chống trả quân đội Israel tới xâm lược vào ngày
3 tháng 6/1982. Ông đã tự kết liễu đời mình vào ngày 6 tháng 6 năm 1982.
Một bài thơ Khalil Hawi để lại có tựa đề
"Lebanon" và chỉ vài dòng:
Chúng ta như các bức tường đối diện
nhau
Thật đau đớn khi cất lời
Thật đau đớn khi cảm nhận cách xa
Nghẹt thở giữa bi kịch
Thật đau đớn khi cất lời.
PTH