Sunday, May 24, 2026

THOÁNG CHIM BAY

 Trần Thị Nguyệt Mai
 
* Tưởng nhớ hai năm ngày mất
của anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến.
 
Nhà văn Trần Hoài Thư ngồi khâu 
di sản văn chương Miền Nam

Anh chị Trần Hoài Thư – Nguyễn Ngọc Yến
 
       Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
       Anh yêu chị nhiều lắm. Những ngày chị nằm bệnh, anh chăm sóc, lắng lo. Không phải đôi ba ngày hay đôi ba tháng mà gần 12 năm. Từ một người chưa bao giờ phải nấu ăn, anh đã tìm tòi, học hỏi nấu thức ăn Việt dặm thêm gia vị tình yêu để mỗi ngày hai bận mang vào nursing home cho chị. Cứ như vậy trong suốt thời gian chị nằm bệnh cho đến thời đại dịch Covid-19 phải chịu cách ly... Chị không ăn được đồ Mỹ, cộng thêm có quá nhiều cư dân ở đó, y tá đâu thể đảm đương việc ăn uống cho từng bệnh nhân đầy đủ như anh lo cho chị trước đây. Dần dà chị mất khả năng nhai, nuốt. Nên từ đó chị phải sống nhờ G-tube đưa thức ăn vào thẳng bao tử và anh cũng “mất job” nấu ăn... Sau tang lễ vào đầu tháng 6/2024, chúng tôi cùng ghé đến thăm căn nhà của anh chị lần cuối. Có quý anh Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Nguyễn Đình Hiếu, quý anh chị Phạm Cao Hoàng – Cúc Hoa, Nguyễn Minh Nữu – Kim Mai, các con của nhà văn Doãn Dân và những thân hữu quý mến anh cùng gia đình các cháu Thoại, Hưng. Tôi thật cảm động khi bắt gặp cuốn sách dạy nấu ăn nằm chơ vơ trên chiếc bàn phụ nhỏ dưới tầng hầm, nơi chốn thân thương từng gắn bó mỗi ngày với anh. Từ đây, anh đã cho ra đời tạp chí văn học nghệ thuật Thư Quán Bản Thảo (TQBT) vào tháng 9/2001, hồi phục những tạp chí văn học Miền Nam qua dạng flipbooks phổ biến trên trang blog Trần Hoài Thư cũng như in ấn Di sản Văn chương Miền Nam với biết bao công lao khó nhọc của anh chị đi sưu tầm tài liệu từ thư viện các Đại học Cornell (Ithaca, New York) và Yale (New Haven, Connecticut) của Hoa Kỳ.
        “... 4 giờ sáng mồng 7 Tết Tân Mão, bắt đầu rời nhà. Rời nhà khi trời còn đen tối, khi tuyết bão, khi trời sương mù dày dặc. Khi chúng tôi đến Scranton, cách thư viện Cornell khoảng 50 dặm, vào lúc 8 giờ sáng thì đường đông đá. Chiếc xe đầu chạy chậm lại khiến tôi, quen như một phản xạ, cũng đạp thắng và đạp rất nhẹ. Vậy mà xe đã mất điều khiển trợt tự do. Hết trái, rồi qua phải, không thể kiềm chế nó nổi. Trong khi đó phía đường ngược chiều nằm phía bên trái, một chiếc xe truck chạy ngược lại. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt...”
[Rong bút – Trần Hoài Thư – tr. 5 (TQBT số 46 tháng 4/2011)].
      
       Kỷ niệm của những ngày phụ anh thực hiện những số TQBT lại hiện ra trong trí. Với sự tiến bộ của khoa học, email và máy tính đã giúp chúng tôi thực hiện những cuốn báo rất dễ dàng mà không cần phải cùng ngồi làm việc trong một tòa soạn nơi có những máy in to lớn cùng những người thợ sắp chữ. Tôi đọc bản thảo, đôi khi anh nhờ đánh máy bài vở trong những tài liệu văn chương mà lúc chưa bị bệnh, chị Yến đã cùng anh lái xe đến các thư viện để sưu tầm những di sản văn chương miền Nam. Nhắc lại thời kỳ này, anh luôn nói đến chị bằng giọng rất thương yêu, trìu mến: “Tội chị lắm em, chị giành lái xe vì mắt anh cận thị nặng không thấy rõ. Và chị hát suốt trên đường ru anh ngủ”. 
Nhớ em, bài hát đường về
Em ơi, tiếng hát bây giờ tìm đâu?
(Trần Hoài Thư – Tiếng Hát)
 
        Mỗi lần thực hiện xong một số báo, anh rất vui. Như niềm vui của người vừa gặt hái xong cánh đồng chữ nghĩa, bội thu những hạt vàng mẩy, chắc, lóng lánh. Hãy nghe tiếng reo vui của anh:
Con tôi đã thức dậy rồi
Đang thi nhau nhả những tờ giấy in
Đứa dưới hầm, đứa ở trên
Đứa chạy chậm, đứa “run” nhanh cấp kỳ
Đứa chớp đèn báo bị jammed
Đứa cho biết giấy đã vơi cạn rồi
Vậy mà vui quá là vui
Hình như xuân cũng về rồi, bạn ơi
Con tôi đã thức dậy rồi
Thư Quán Bản Thảo sắp ra đời, bà con!
(Trần Hoài Thư – Con tôi đã thức dậy rồi)
 
       Trong một trả lời phỏng vấn của nhà văn Trần Doãn Nho, anh THT giãi bày:
      “... nếu người đọc muốn biết về văn chương và tác giả trước 1975, thì sách báo đâu mà đọc? ... sau 1975, văn chương về người lính miền Nam đã bị tận diệt. Sách vở tạp chí bị đốt hủy thì lấy chứng cớ đâu để nói lên tính cách nhân bản của nền văn học thời chiến... Bộ máy nhà nước cũng như mấy ông nhà văn nhà thơ trong hàng ngũ thắng trận luôn luôn trắng trợn vu cáo văn chương chúng tôi là văn chương thực dân kiểu mới, là văn chương đồi trụy, nọc độc văn hóa, vân vân để những khối óc ngây thơ luôn luôn bị tiêm nhiễm. Tôi biết có người sẽ bảo chuyện cũ mấy mươi năm rồi vẫn còn nhắc lại, mất thì giờ. Nhưng sự thật ai trả lại cho chúng tôi đây, hở? Ai biện hộ giùm cho những lời vu cáo người lính thám báo được viết trong ‘Nỗi buồn chiến tranh’ của Bảo Ninh hay trong ‘Cõi người rung chuông tận thế’ của Hồ Anh Thái? Ai?
       Chẳng hạn đoạn sau đây của Hồ Anh Thái trong truyện ngắn vừa nói:
“Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”
       Vai trò thám báo là tuyệt đối giữ bí mật để làm nhiệm vụ săn tin hay chỉ điểm máy bay oanh tạc đơn vị địch. Họ bị đẩy vào những chỗ mà có lẽ mỗi lần ra đi là ít khi có ngày về. Bởi không ai có thể bảo vệ họ được trừ họ. Vậy mà ở đây, cảnh năm tên thám báo bắt một tù binh loại chính quy, nhởn nhơ với một bữa yến tiệc ăn tim gan và tinh hoàn người, giữa thanh thiên bạch nhật, đầy ổ kiến lửa (chúng tôi hay dùng cụm từ này để chỉ một mục tiêu khó nuốt, thường ám chỉ nơi có sự xuất hiện đơn vị chính quy Bắc Việt). Lại tỉnh bơ nổi lửa đốt cho khói bốc lên để ‘lạy ông tôi ở bụi này’! Biết viết văn là bịa, nhưng bịa vừa vừa thôi chứ, ông Hồ Anh Thái ơi. Và thiên chức nhà văn ở đâu? Bịa trắng trợn như thế ai mà tin được!”
       Tôi bỗng liên tưởng đến những giọt nước mắt chảy trên má của người tù binh nào đó của chiến trường Bình Định vào những năm cuối của thập niên 60, như qua bài thơ của Trang Châu sau đây:
 
Nước mắt kẻ thù
 
nó bị thương
bị bắt sống
mọi người đòi giết nó:
nó núp trong hầm
với một khẩu tiểu liên
cầm chân cả trung đội:
nó bắn ngã chúng tôi một người
bắn bị thương hai người khác
tôi đọc nét căm hờn
trên những khuôn mặt đồng đội
mọi người đòi giết nó
tên du kích vùng khốn nạn
gài lựu đạn lùm cây bờ ruộng
giết những người bắt cá mò tôm
 
nó nằm đó
mình bết bùn
máu cánh tay nhầy nhụa
tránh những tia nhìn nổ lửa
những báng súng gờm gờm
nó nằm chờ
một phát súng vào đầu
một lưỡi dao rạch bụng
một cái đạp xuống hố sâu
nó nằm chờ nằm chờ
tử thần
 
nhưng
chỉ có bàn tay vuốt dịu căm hờn
bàn tay băng bó vết thương
bàn tay vỗ về an ủi
nó nằm chờ tử thần
sững sờ bắt gặp tình thương
đồng loại
đôi mắt sát nhân vụt bỗng hiền từ
nhen hai dòng lệ nhỏ
 
trong cuộc chiến hôm nay
cho tôi xin chiến đấu không hận thù
xin những vết thương bình đẳng
cho tôi đổi một trăm chiến thắng
lấy một giọt nước mắt kẻ thù
 
Trang Châu (Bên bờ Kinh Sáng 17-2-67)
(trích trong Dấu vết chiến tranh)
 
       “Ôi cho tôi đổi một trăm chiến thắng lấy một giọt nước mắt kẻ thù! Còn gì là nhân bản hơn, còn gì tình người hơn. Không phải lời ước ao trên phát xuất từ một y sĩ tiền tuyến là Trang Châu, nhưng nó phát xuất từ trái tim của Miền Nam. Đó là bản chất của con người. Đó là cõi lòng thấm đầy Chúa và Phật. Không phải như từ trái tim đen từ những kẻ sống chỉ biết căm thù! Và căm thù mãi mãi!”
 
       Anh yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, yêu cái đẹp trong từng con chữ, từng lời văn, từng câu thơ. Và muốn chia sẻ những nét đẹp đó cho tất cả mọi người.
       Dưới đây là những dòng trích từ Thư Tòa Soạn của Giai Phẩm TQBT số 98, tháng 5/2022:
        “Truyện của Sơn Nam rất nhiều, đăng rải rác trên các nhật báo hay tuần báo thủ đô.
       Mặc dù có sự nỗ lực tìm tòi để cho ra đời ba tuyển tập truyện ngắn Sơn Nam, nhưng vẫn có một số nhiều truyện không tìm thấy trong các tuyển tập này.
       Nhận thấy nếu không sưu tập là cả một thiệt thòi rất lớn cho nền văn học nước nhà, nên chúng tôi cố gắng cho ra đời giai phẩm 98 Thư Quán Bản Thảo để đăng lại một số truyện quý hiếm của nhà văn Sơn Nam mà chúng tôi tìm thấy trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm...”
 
         Hay khi thực hiện xong Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023, chủ đề Mai Thảo – Hạt Vàng Đã Mất, sưu tập những bài tùy bút, tạp ghi, nhận định văn học của Nhà văn Mai Thảo xuất hiện trên tuần báo Khởi Hành, Nghệ Thuật, Vấn Đề, anh tâm sự:
Tôi đâu còn hơi còn sức như ngày nào
Khuân một ít đồ phải thở hào thở hển
Chân đi nay không còn vững
Ngón tay rã rời như không còn thuộc về ta!
Vậy mà điên rồ in sách báo tặng free
Muốn chia sẻ những niềm vui chữ nghĩa
Mới tháng trước vừa ra lò 32 bài văn Mai Thảo*
Thì giờ đây sắp Mai Thảo Hạt Vàng **
Tuổi già ai ai cũng muốn tẩy trần
Tôi lại đem nia đi đãi sàng tìm ra ngọc quý
Mang chiếc giỏ nặng ra ngoài bưu chính
Thấy ánh mắt cô quầy
lòng cũng đủ vui…
(Trần Hoài Thư – Khiêng Giỏ Sách Ra Bưu Điện)
      
       Tạp chí TQBT cũng là nơi anh Trần Hoài Thư lên tiếng bênh vực cho người đã khuất nhưng cô thế, để phục hồi danh dự cho tác giả. Như trường hợp dịch giả Phùng Thăng. Bà tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Là em ruột của cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh) - một danh ni uyên bác của Phật giáo Việt Nam. Phùng Thăng là giáo sư triết học, cùng với chị gái Phùng Khánh, là dịch giả của một số tác phẩm triết học, văn học và tâm linh nổi tiếng đương thời. Giáo sư Thái Kim Lan nhận định: “Quả thật tư tưởng và tác phẩm cũng như hành trạng của họ không những mang lại vẻ cẩm tú trên văn đàn miền Nam thời đó mà còn soi sáng trí tuệ và tâm thức của thế hệ đồng thời.” (Thái Kim Lan – Phùng Khánh và Phùng Thăng: Lộ trình suy tư triết học – phác họa hiện tượng luận tình yêu – TQBT số 71)
 
       “Chỉ khoảng một tháng sau khi Những Ruồi được phát hành thì bị Trần Thiện Đạo (TTĐ) dùng nguyệt san Văn để “phang” nặng nề qua bài viết “Tìm hiểu vở kịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre (nhân đọc bản dịch của Phùng Thăng)”. Bài đăng hai kỳ trên nguyệt san Văn tháng 11, tháng 12, dày tất cả khoảng 50 trang, khổ chữ nhỏ. Bài được người viết ghi là hoàn tất vào cuối tháng 9/1967.
       Đặc biệt, kỳ 2 ông dành trọn bài để phang Những Ruồi: Nào là “một cái kho chất chứa chật ních và đầy đủ hết mọi lỗi lầm trong phép dịch văn”, “bản dịch vừa phản vừa diệt”, “khinh thường độc giả và miệt thị giới phê bình tới độ ấy”, “dịch chữ không dịch tinh thần câu văn”, “cắt bỏ không dịch”, “cái giọng đặc Tây”, ngớ ngẩn”, chối tai”, “một thứ giấy khống chỉ…”, “cẩu thả”, “sai bét”, “ngờ vực cái vốn liếng Pháp ngữ”, “không giữ tánh cách Việt Nam”, “vô nghĩa”, “thiếu nghĩa”, “tối nghĩa”, “lòng thòng”, “dịch ẩu”, “dịch càn”, “sai cả mẹo luật tiếng Việt Nam”, “lối dịch đầu-gà-đít-vịt”, “Chưa lãnh hội thấu đáo mẹo luật Pháp”, v.v…. Ông xả tiểu liên, trung liên, AK, M16, B40. Ông tấn công đủ mặt, từ trang đầu đến trang cuối… Vây chặt, càng vây càng pháo…
       Có điều ngạc nhiên là chẳng thấy một nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ hay phê bình nào thời ấy động lòng trắc ẩn lên tiếng bênh vực Phùng Thăng!
(THT – Khi nghĩa tử không là nghĩa tận – TQBT số 71, tháng 8/2016)
 
       Thời trước không ai lên tiếng bênh vực dịch giả Phùng Thăng. Sau này mới có Nhị Linh dành những lời khen ngợi cho bà. Riêng anh THT đã trân trọng và hết lòng “theo dấu chân Phùng Thăng qua kinh nghiệm của một cựu trung đội trưởng thám kích: bằng sự thu nhặt tin tức, đúc kết, đánh giá” để “vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật”, để rồi ba số báo TQBT với chủ đề Phùng Thăng lần lượt ra đời:
       - TQBT số 59, tháng 3/2014 – Theo dấu Phùng Thăng
       - TQBT số 71, tháng 8/2016 – Chiều đầy bông Phùng Thăng
       - TQBT số 105, tháng 4/2023 – Phản phê bình Trần Thiện Đạo và Thụy Khuê về dịch phẩm Những Ruồi của Phùng Thăng của tác giả Chơn Hạnh Trần Xuân Kiêm
       Bên cạnh việc phát hành TQBT, Thư Ấn Quán cũng tái bản hai dịch phẩm của bà trong tủ sách Di sản Văn chương Miền Nam:
       - Những Ruồi (nguyên tác Les Mouches của Jean-Paul Sartre)
       - Kẻ Lạ ở Thiên Đường (nguyên tác Attente de Dieu của Simone Weil)
để độc giả thấy được một dịch giả Phùng Thăng rất tài hoa, không như lời mạt sát nặng nề của TTĐ.
 
       Đối với anh THT, tạp chí TQBT như một mái nhà để anh em bằng hữu họp mặt, đóng góp, chia sẻ văn chương. Anh không quản công in ấn, đóng gói gửi tặng bạn bè thân hữu. Ai muốn đóng góp tem thư hay tiền bạc phụ giấy mực in với anh cũng tốt, không có cũng chẳng sao. Tuy thế, lúc sinh thời, anh rất buồn mỗi khi tạp chí TQBT bị trả về vì không có người nhận mà anh hoàn toàn không biết lý do. Có thể vì họ đã đáp chuyến tàu hoàng hôn ở cuối cuộc đời, hoặc đã dọn nhà đi xa không lời thông báo... Một nỗi buồn khác là khi độc giả đã nhận được sách báo hay tài liệu anh gửi tặng nhưng rồi ít lâu sau lại phủ nhận và yêu cầu anh gửi lần nữa, khiến anh thật không hiểu... Anh cũng tâm sự, có khi bài viết gửi cho tạp chí TQBT, thay vì ca ngợi người Thầy đáng kính, tác giả lại có ý nâng mình lên, nên anh đã rất tiếc không thể đăng những bài như thế...
 
       Lễ Đại tường năm nay cũng là ngày cháu Thoại xả tang ba mẹ. Ngoài cha, vợ con là những người anh yêu thương, trân quý nhất. Có lần anh chia sẻ, “Chị Yến và Thoại là quà tặng văn chương cao quý mà cuộc đời mang đến cho anh, hơn cả giải thưởng Nobel về văn học”. Ở đầu tập thơ cuối cùng phát hành tháng 4/2024, anh ghi lời đề tặng: “Cho em và con – hai nguồn thơ vô tận, đồng thời cũng là chiếc phao giúp ta mưu sinh và thoát hiểm. Qua em, anh tập therapy về tình yêu. Qua con, với những viên thuốc mầu nhiệm.”   
       Tôi chợt nhớ những câu thơ của Hương Hải Thiền Sư:
“Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm”
        Anh chị đã đến với cuộc đời này và khi ra đi cũng không có ý để lại dấu như chim nhạn kia. Nhưng những công trình phục hồi văn chương Miền Nam của anh chị sẽ mãi còn đó, trên những kệ sách thật và ảo cũng như trong tâm biết bao người Việt yêu mến văn chương.
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
22-05-2026
 
* Ấn bản đặc biệt Tạp chí TQBT, tháng 5/2021:  Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối
** Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023:  Mai Thảo – Hạt vàng đã mất

Friday, May 22, 2026

BUỔI CHIỀU THƠ, NHẠC

mừng Bùi Vĩnh Phúc ra mắt sách
 
Phan Tấn Hải
 
Bùi Vĩnh Phúc ký tên sách

Từ trái: Trịnh Y Thư, Quyên Di, Đặng Thơ Thơ, Bùi Vĩnh Phúc
và phu nhân, MC Y Sa, GS Trần Chấn Trí.
 
   
1.     Đó là một buổi chiều thơ mộng, khi nhiều bạn văn tụ hội lại để mừng một tác phẩm mới ấn hành. Họ đã nghe nhạc, nghe phê bình về phê bình, và nói chuyện về các bài viết trong sách mới của Bùi Vĩnh Phúc. Họ đã thay nhau nhận định về thơ, về tùy bút, về triết học, về mọi lĩnh vực văn chương để mừng một tác phẩm tập họp các bài được viết từ nhiều thập niên mới ấn hành. Hôm Thứ Bảy 16 tháng 5/2026 là một ngày của hàn lâm và thơ mộng, khi nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc ra mắt tác phẩm mới của anh -- "Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" -- tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St., Westminster, California.
 
    Buổi ra mắt sách thực hiện bởi Tạp chí Ngôn Ngữ, Diễn đàn Da Màu & Việt Báo Foundation. Các diễn giả là Nhà văn Trịnh Y Thư, GS. Trần Chấn Trí, nhà văn Đặng Thơ Thơ, GS. Quyên Di. Người điều khiến hương trình là MC Lê Đình Y-Sa. Và người ngắt quãng tuyệt vời là ca sĩ Thương Linh. Tham dự buổi ra mắt sách có các ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia, văn nghệ sĩ: Nguyễn Đình Thuần, Phan Chánh Khánh, Pauline Đàm, Ái Lan, Ann Phong, Nguyễn Bá Khanh, Thương Linh, Thành Tôn, Ngự Thuyết, Phạm Quốc Bảo, Cung Tích Biền (và phu nhân), Lê Lạc Giao, Trần Chấn Trí, Y Sa, Hòa Bình, Quyên Di, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Trịnh Y Thư, Lê Sông Văn, Vũ Thúy Hằng, Chu Tất Tiến, Hà Nguyên Du và một số người khác. Tất nhiên, có cả Bùi Vĩnh Phúc và phu nhân.
     Nhìn chung, buổi ra mắt sách đã thành công, đã cho thấy sơ lược về một ngòi bút Bùi Vĩnh Phúc đa tài, xuất sắc trong nhiều lĩnh vực văn học. Được phóng viên VB phỏng vấn, họa sĩ Ann Phong nói: "Ngồi nghe các nhà văn như Trịnh Y Thư, Đặng Thơ Thơ... giới thiệu quyển sách này bao gồm về nhiều mặt, với phê bình, tùy bút, thơ, văn... làm tôi muốn tìm hiểu sự đa dạng đó. Thường thì các nhà văn chú tâm vào một lãnh vực trong văn chương. Quyển sách dày này của Bùi Vĩnh Phúc sẽ làm cho người đọc hiểu và cảm nhận về văn chương một cách sâu rộng hơn."
    Trước tiên, MC Y Sa nói ngắn gọn về buổi ra mắt sách "Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" và tiểu sử tác giả. Bùi Vĩnh Phúc sinh năm 1953, tại Hà Nội, lớn lên ở Saigon. Rời VN năm 1977, vào định cư ở Mỹ từ tháng 4, 1978. Học và và lấy các bằng chuyên môn tại hệ thống Đại học Tiểu bang California (CSU) và Đại học California (UC).
     Từ năm 1989, ông giảng dạy tiếng Anh, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam tại Golden West College và tại California State University, Fullerton, khoa Ngôn ngữ và Văn học Hiện đại. Lĩnh vực chuyên ngành của ông là Ngôn Ngữ Học và Văn Học Pháp. Viết văn và làm thơ từ 1968. Từ 1985 đến nay, chuyên viết phê bình và lý luận văn học. Trong ban chủ biên cũng như đã cộng tác với một số tạp chí văn học tại Mỹ và trên thế giới, trong đó có Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Da Màu...
 
     Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc sau lời cảm ơn Ban tổ chức và quan khách, đã giải thích về tác phẩm mới của anh. Dưới đây là vài trích đoạn lời của Bùi Vĩnh Phúc, rất mực thơ mộng và uyên bác:
    "Tôi vẫn nghĩ, một con người sống thực ở đời là một người để cho mọi thứ chung quanh hắn va đập, đụng chạm vào mình. Và, đến lượt hắn, hắn cũng tự do và hạnh phúc để cho mình đụng chạm vào mọi thứ, mọi sự chung quanh. Chính sự va đập, trao đổi qua lại ấy—có thể gọi thế này được không—là một sự trao đổi về chất. Chất của cuộc đời—đắng cay mặn chát, hay ngọt bùi thơm thảo, khổ đau hạnh phúc—và cái chất, cái tình, cái tạng, cái tính cách của người cầm bút. Chính sự trao đổi, va đập, đụng chạm ấy đã tạo nên hành động, suy nghĩ và chữ viết. Chữ viết đi vào trang văn và làm nên cái mà chúng ta gọi là những văn bản. Trong thế giới văn chương, đó là những văn bản văn học. Những văn bản văn học ấy, của bất kỳ một cây viết nào, cũng có thể may mắn được trở nên một tác phẩm. Khi nó gặp được ánh mắt, tâm hồn, sự chia sẻ, rung động, thẩm thức của người đọc.  […]
     “Cuốn sách này, từ một góc độ nào đó, là kết tinh của nhiều năm sống, đọc và viết của tôi. Nó cho thấy những sắc diện cuộc đời, những mặt cắt trong cái sống tôi. Nó được nuôi dưỡng, bắt đầu như một phôi bào, rồi cuối cùng thành hình và có mặt, một phần lớn, là do người đọc. Dĩ nhiên, mỗi người viết có những nhu cầu, thôi thúc, có những lực đẩy riêng trong sự viết của họ. Nhưng, chắc chắn, cái viết nào cũng được sự tiếp trợ năng lượng từ những người đọc. Kẻ cầm bút viết, chủ yếu, là viết cho mình, viết để giải toả một nỗi niềm, một suy tư, một khát vọng nào đó của riêng mình. Tuy nhiên, tôi tin rằng, khi viết, bất cứ một người cầm bút nào cũng có trong lòng và trước mắt mình, những người đọc mà họ nhắm đến. […] Đó là những người đọc tiềm ẩn. Rất nhiều khi, những người đọc tiềm ẩn, những người đọc không thật sự có mặt trong cuộc viết lẻ loi của người cầm bút, lại là những người đồng hành với nhà văn trên con đường sáng tạo của hắn.
    “Vì thế, điều cuối cùng mà tôi muốn thưa ở đây, là tôi muốn được, một lần nữa, cám ơn tất cả những người đọc. […]  Chính họ đã là những người làm cho văn chương, văn học, chữ nghĩa được tiếp tục cuộc sống của nó. Được trình hiện trong cuộc đời. Nhiều người đọc như thế đang có mặt ở đây, hôm nay…" (ngưng trích)
 
     Sau đó, MC Y Sa mời nhà văn Trịnh Y Thư nói chuyện. Trịnh Y Thư sinh năm 1952, tại Hà Nội. Trưởng thành ở Miền Nam, rồi du học Hoa Kỳ 1970. Viết văn, làm thơ, dịch thuật. Từng viết cho nhiều tạp chí văn học. Giữ chức chủ biên tạp chí Văn Học thời kỳ sau Nguyễn Mộng Giác. Hiện nay là Chủ biên tạp chí Văn Việt, và chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press. Đang là biên tập viên nhiều báo văn học, trong đó có Da Màu, Việt Báo... Đã xuất bản nhiều tác phẩm dịch thuật, truyện ngắn, tùy bút.
      Trịnh Y Thư trước tiên nhắc rằng anh và Bùi Vĩnh Phúc nhiều thập niên trước từng viết chung trên tờ Văn Học thời thập niên 1980s, nên quan sát được nhiều khía cạnh của Bùi Vĩnh Phúc, qua giao tình văn chương lâu năm, thấy rõ hành trình từ thơ, tùy bút đến phê bình sắc bén trên tạp chí Văn Học. Trịnh Y Thư nhấn mạnh nói Bùi Vĩnh Phúc đưa ra quan niệm tác phẩm là thế giới “mở”, đa tầng nghĩa, tùy góc nhìn người đọc; và do vậy đã nổi bật phong cách độc đáo: thơ mộng nhưng vẫn uyên áo, hàn lâm, hòa quyện tự nhiên; nơi đó, phê bình văn học là hành động của tình yêu, soi sáng văn bản như sinh thể sống. Trích nhận định của Trịnh Y Thư như sau:
     “Làm thế nào để viết về một nhà phê bình văn học? Đó là câu hỏi lớn vớn, thậm chí quay quất, trong trí óc tôi từ lúc được tin tạp chỉ Ngôn Ngữ, một tạp chí chuyên đề văn học có uy tín lớn xuất bản và lưu hành ở hải ngoại, dự định thực hiện một ấn bản đặc biệt về nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, và tôi có ý định tham gia, đóng góp cái gì đó cho số báo ấy.
      Tham gia vì giữa tôi và Bùi Vĩnh Phúc chẳng xa lạ gì nhau. Sự thật là chúng tôi đã có mối giao tình văn chương từ rất lâu khi cùng sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật từ những năm đầu thập kỷ ‘80 thế kỷ trước. Lúc đó anh là cây bút chủ lực của tờ tạp chí Văn Học do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biên tập và điều hành. Thoạt đầu anh được biết đến với những bải tùy bút và thơ, nhưng dần dà, không rõ do một cơ duyên nào, anh bước sang lãnh vực Phê bình Văn học, và từ đỏ cho đến nay, không thể hoài nghi hay chối cãi được, anh nghiễm nhiên được xem là một trong số rắt it, rất hiểm hoi các cây bút phê bình đúng nghĩa và sắc bền nhất của văn học Việt Nam hải ngoại....[...]
     Đối với Bùi Vĩnh Phúc, một tác phẩm văn học là một thế giới "mở", nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa, ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thế thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy. Tôi không thể không đồng ý với anh về luận điểm này...[...]
     Bùi Vĩnh Phúc có một phong cách rất riêng khi viết tiểu luận, Phê bình Văn học, và đó là phong cách thơ. Rất thơ. Phải chăng ngoài tài viết phê bình, anh còn là một nhà thơ và người viết tùy bút, tản văn xuất sắc? Nhưng không phải vì thế mà văn phê bình của anh thiếu tính hàn lâm. Kỳ thực, nó rất uyên áo và luôn để lại trong tâm trí người đọc những suy nghiệm thâm trầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Kết hợp hai thuộc tính gần như bất khả hòa nhập ấy - hàn lâm và thơ mộng - lại là cái gì rất đỗi tự nhiên, rất đổi đẹp đẽ, rất đỗi hài hòa, rất đỗi sáng tạo trong văn phê bình Bùi Vĩnh Phúc.
     Ở bình diện cao đẹp, nhân bản nhất, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Nó xem câu chữ, văn bản như những sinh vật "sống", được định hình bởi lịch sử, văn hóa và khát vọng của con người, khát vọng được sống như một con người. Nhà phê bình không tuyên bố chân lý cuối cùng mà đưa ra một cách nhìn, một ngọn đèn được chiếu rọi ở một góc độ nhất định để ánh sáng và bóng tối mới xuất hiện.
      Con đường Bùi Vĩnh Phúc chọn đi không dễ dàng chút nào, nó đầy chông gai trắc trở là đằng khác. Nhưng tôi biết chắc anh rất tự tin vào con đường anh chọn lựa cho chính mình. Đối với anh, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Bên trong nhân dáng con người thư sinh, mặt mũi hiền lành, nhân hậu, miệng luôn sẵn một nụ cười ấy là một tâm hồn sôi động yêu chữ nghĩa, quý văn chương. Anh xuýt xoát tuổi tôi, tức là đã "thất thập cổ lai hy", nhưng tôi đồ rằng tình yêu ấy vẫn nóng bỏng chảy rát trong huyết quản anh...." (ngưng trích)
     Tới đây, MC Ysa đọc một trích đoạn từ bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy nơi phần đầu của ấn phẩm "Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương", trong đó Bùi Vĩnh Phúc được vị nữ giáo sư giới thiệu nồng nhiệt, rằng trong khi kệ sách của bà có khoảng 20 sách viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng bà nhận thấy cuốn của  Bùi Vĩnh Phúc viết về họ Trịnh là hay nhất, xuất sắc nhất.
Người nói chuyện kế tiếp là GS Trần Chấn Trí, người tốt nghiệp Tiến sĩ Ngôn Ngữ Học ở UCLA và đang dạy tại một số đại học vùng Nam California về ngữ học.  GS Trần Chấn Trí nói rằng ông chúc mừng Bùi Vĩnh Phúc với tuyến tập Ngôn Ngữ đặc biệt chủ đề Bùi Vĩnh Phúc, mà giáo sư gọi là một đóng góp giá trị vào Văn Học Hải Ngoại nói riêng và Văn Học Việt Nam nói chung, và gọi sách mới ấn hành này là: "Tài liệu quý giá để thưởng thức, tìm hiểu và nghiên cứu văn chương và văn học. Bài nói chuyện này chú trọng về Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ, ngoài những Bùi-Vĩnh-Phúc-Người, Bùi-Vĩnh-Phúc-Thầy, Bùi-Vĩnh-Phúc-Bạn, Bùi-Vĩnh-Phúc-Ngôn-Ngữ, Bùi-Vĩnh-Phúc-Phê-Bình, Bùi-Vĩnh-Phúc-Dịch-Thuật và (còn nhiều Bùi Vĩnh Phúc nữa, xin quý vị điền vào chỗ trống!). Nghĩa là, có rất nhiều Bùi Vĩnh Phúc.
      GS Trần Chấn Trí nhận định về tính thơ mộng trong chữ của Bùi Vĩnh Phúc, trích, như trong: "Bài Trăng Vỡ Anh Ra”, ngay trong nhan đề đã có một sự phá cách về cú pháp hết sức táo bạo, tạo ra một hiệu ứng rất "đắc". "Vỡ" là một tự động từ/intransitive verb, thế mà BVP đã dùng nó với một túc từ trực tiếp, và như vậy, anh đã biến nó thành một tha động từ/transitive verb. Nếu động từ trong câu này được dùng một cách bình thường, theo đúng khuôn sáo cú pháp, nó sẽ là "Trăng Làm Vỡ Anh Ra" hay "Trăng Làm Anh Vỡ Ra", và tất nhiên, tứ thơ sẽ không được bạo liệt, tạo cảm giác mạnh đến độ nghe đau đớn như Trăng Vỡ Anh Ra. Nếu đọc được bài thơ này của BVP, chắc nhà văn/triết gia người Ý Umberto Eco (1932-2016) sẽ rất lấy làm tâm đắc, vì chính ông đã nói (xin tạm dịch): "Thi ca không phải là cảm xúc mà là ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ mới tạo ra cảm xúc."...”(ngưng trích)
Người nói chuyện kế tiếp là nhà văn nữ Đặng Thơ Thơ, được MC Y Sa giới thiệu là sinh năm 1962, sang Hoa Kỳ năm 1992, đồng chủ trương tạp chí Da Màu (damau.org) từ tháng 8/2006, từng cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Gió Văn, Chủ Đề. Đã xuất bản một số tác phẩm, trong đó có truyện dài và tuyển tập truyện ngắn.
     Kế tiếp, với một giọng nói cực kỳ thơ mộng và bí hiểm, nhà văn Đặng Thơ Thơ nói rằng tùy bút Bùi Vĩnh Phúc đã đồng nhất sống và viết, xem văn chương là cách định hình bản thể, nơi ông dùng liên văn bản, trường nghĩa tương phản-bổ sung và chất thơ để biến ký ức lưu vong thành cấu trúc tinh thần, triết học. Trích nhận định của nhà văn Đặng Thơ Thơ vài đoạn như sau:
    "Trong văn học, tùy bút là thể loại bộc lộ rõ nhất cá tính, tư duy và trải nghiệm cá nhân của người viết. Với Bùi Vĩnh Phúc, mối quan hệ giữa trải nghiệm sống và hành vi sáng tác được cô đọng qua nhận định: "Với tôi, sống hay viết thì cũng vậy. Viết là một dạng sống. Và sống, nhìn một cách nào đó, cũng là một dạng viết. Tôi viết nên tôi trong sự sống mình."
     Một nhận định mang tính hiện sinh! Quan niệm này cho thấy tác giả coi văn chương là một phương thức trong việc định hình và xác lập bản thể. Để ghi lại những ký ức thời niên thiếu, những những biến động lớn trong cuộc đời từ trải nghiệm vượt biện đến cuộc sống lưu vong tại hải ngoại, Bùi Vĩnh Phúc sử dụng ba phương thức biểu đạt chính: tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa /semantic fields (vận hành qua cá hai nguyên lý tương phản và bổ sung) cùng việc duy trì chất thơ trong văn xuôi. Cách tiếp cận này giúp ông hệ thống hóa ký ức, lý giải các chấn động tâm lý và xây dựng một cấu trúc tinh thần độc lập để đối diện với thực tại...[...]
    Tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc là một văn bản có cấu trúc phức tạp, nơi hành vi viết đồng nhất với quá trình nhận thức hiện sinh. Bằng việc kết hợp tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa giữa hai trục tương phản - bổ sung, và cách tư duy phi tuyến tính về thời gian, tác giả đã chuyển hóa những kinh nghiệm cá nhân thành đối tượng nghiên cứu mang tính thẩm mỹ và triết học. Văn chương của ông là một nỗ lực sử dụng cấu trúc ngôn từ để định vị những vùng ký ức đang tồn tại ở một chiều không gian khác.
Để tạm kết luận cho phần trình này, tôi muốn nói rằng những trường nghĩa dày đặc và hình thức liên văn bản với "những hình ảnh kết nối bất khả suy niệm" đã tạo ra chất thơ đặc thù trong tùy bút Bùi Vĩnh Phúc, mà theo tôi, còn giàu chất thơ hơn cả thi ca của anh. Với chất thơ và các ẩn dụ văn chương, văn hoá, khoa học, triết học, phương thức liên văn bản này giúp tác giả tạm thời mở ra một lối đi tắt vào "biên giới thời gian", nơi các mảnh vỡ ký ức tồn tại song song và tự do, thoát khỏi quy luật của thực tại, để hiện hữu dưới dạng những hạnh phúc trong đời:
     "Sáng nay, với cơn mưa, tôi đã bất chợt ngửi thấy trở lại những mùi hạnh phúc ẩm mốc cũ. Một chút hạnh phúc ẩm mốc dịu dàng. Hạnh phúc không phải chỉ là những niềm vui. Nó còn là những nỗi buồn. Hạnh phúc không chỉ là những nụ cười. Nó còn là những giọt nước mắt. Nó là niềm sung sướng nhưng đồng thời cũng là nỗi đớn đau. Hạnh phúc là tất cả những điều ấy khi chúng đan dệt với nhau để làm thành tấm áo của kỷ niệm ta."
     Đấy là tùy bút, thơ, cái viết, và cách sống của Bùi Vĩnh Phúc..." (ngưng trích)
 
     Người nói chuyện kế tiếp là Quyên Di, một nhà văn và là nhà giáo nổi tiếng vùng Nam California, từng dạy ngữ học và Việt văn tại các đại học CSU Fullerton, UCLA, và sắp nhận một vị trí giảng viên ở Goldenwest College. Nhà văn Quyên Di nhận định rằng sách "Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" của Bùi Vĩnh Phúc dày 725 trang, chứa bài thơ nhỏ “Cháu Yêu Bà” dung dị mà gói cả đại dương triết lý, văn hóa Việt. Kỳ diệu như ốc nhỏ chứa đại dương. Quyên Di nhận định, trích:
    "Trần Cao Vân viết "Trời che đất chở ta thong thả." Bùi Vĩnh Phúc xiển dương câu thơ này để nó trở nên rực rỡ, bùng cháy hơn:
"Cháu xin trời đất cao dày
Chở che bà sống vạn ngày bình an."
    Cũng là "trời che đất chở" nhưng vì trời cao nên che được, vì đất dày nên chở được. Và "thong thả" vượt lên độ cao hơn nữa mà trở thành "bình an."
    Đọc xong bài thơ nhỏ, tôi có một cảm xúc rất lạ: thở phào nhẹ nhõm vì cảm thấy cuộc sống đẹp quá, lâng lâng như vầng mây nõn, chao lượn như cánh hạc vàng, mênh mông như sông, ướt át như mưa, lạnh như đêm mà lại ấm như bếp lửa, sáng như bình mình, đông vui thân mật như đình làng, được yêu thương như trong một gia đình tam đại đồng đường, bình an như được trời che đất chở. Thở phào nhẹ nhõm như thế nhưng đồng thời lại thấy như nghẹt thở vì đã đụng chạm tới những triết lý tối thượng của tộc Việt là âm dương và tam tài, cũng như những nét văn hóá ngàn đời là mái đình, dòng sông, cơn mưa, cánh hạc, bếp lửa.
    Tôi vừa tĩnh trí vừa hoang mang, không ngờ một bài thơ nhỏ và vô cùng đơn sơ, giản dị lại chứa đựng một khối tri thức và hồi ức lớn lao, vĩ đại đến vậy.
    Chợt tôi nhớ tới truyện ngắn "Đại Dương trong Lòng Con Ốc Nhỏ" của Duyên Anh và có ý nghĩ rằng bài thơ nhỏ "Cháu Yêu Bà" là con ốc nhỏ mà quyển sách "to con" "Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" dày 725 trang của Bùi Vĩnh Phúc là một đại dương chữ nghĩa.
     Thế mà trong con ốc nhỏ đó lại chứa đựng một đại dương triết lý và văn hoá dòng Việt. Thật là kỳ diệu.
     Tôi ngừng bài nói chuyện ở đây bằng hai chữ "kỳ diệu." Hai chữ "kỳ diệu" này nói về nhiều sự "kỳ diệu" liên quan đến nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc và tác phẩm "Chữ Nghĩa & Không Gián Văn Chương" của ông."(ngưng trích)
 
    Một điểm tuyệt vời của buổi ra mắt sách là những khoảnh khắc của âm nhạc khi ca sĩ Thương Linh cất tiếng hát: chị hát 3 ca khúc, và đó là những giây phút tuyệt vời đưa người tham dự rời các trang sách. Tạm ngưng đọc bằng mắt, để lắng nghe bằng tai. Trọn buổi ra mắt sách đều là những cõi thơ mộng.
Có một câu hỏi từ Bác sĩ Vĩnh Chánh, rằng ngôn ngữ Việt giữ được trong sáng khi ra hải ngoại, trong khi ngôn ngữ trong nước lại có một số chữ lạ và tối nghĩa. Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc nói rằng y hệt như tiếng Pháp theo di dân Pháp sang Canada, trải nhiều thập niên đã khác với tiếng Pháp tại Paris đã biến đổi như một sinh thể, và tiếng Việt cũng thế, chữ nào đúng và chính xác thì nên dùng, không nên phân biệt trong hay ngoài Việt Nam.
    Độc giả có thể tìm mua trên Amazon, hiện có 2 ấn bản (in màu, in đen trắng) của sách "Tạp Chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt: Bùi Vĩnh Phúc - Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" -- trực tiếp vào link:
- Ấn bản màu, 60 USD: https://www.amazon.com/dp/B0GFSZ3666/  
- Ấn bản đen trắng, 50 USD: https://www.amazon.com/dp/B0GFSJN1LP/
Hoặc vào Amazon.com và gõ nhóm chữ "bui vinh phuc" để sách hiển thị.
PHAN TẤN HẢI

 

  

Monday, May 18, 2026

CHUYỆN QUẾ-LIN

Tố Nghi
 
Cái bóng của đồng hồ sinh học.
Hình internet
 
Phiên âm vậy chớ tên thiệt của nó là Huelin, một giòng họ gốc gác cội nguồn anglosaxon từ thời thượng cổ lận.
Và chiệng QL là chiệng đồng hồ sanh học (ĐHSH) cá nhơn, tức nội địa.
 
ĐHSH thiên nhiên là chiệng riêng của trái đất, dính dáng tới trời trăng.
Chúng lòng vòng lăng xăng quanh nhau trong những quỹ đạo riêng, với khoảng cách tuy thay đổi nhưng luôn luôn trở về khởi điểm, để tạo ra thời gian (ngày tháng năm) và sắc màu của thời gian (4 mùa, ban ngày ban đêm).
Động vật (con người muông thú cỏ cây) sanh hoạt uyển chuyển theo thời tiết khí hậu của mùa, theo ánh quang và bóng đêm.
Bàn ngày ta hoạt động sanh sống (làm việc, ăn uống, vui chơi...) đã đời nhọc mệt, bàn tối ta trùm mền đi ngủ lấy sức.
Lâu dài một chập, các hoạt động nọ vô khuôn phép thứ tự lớp lang, trở thành kim chỉ nam cho cơ thể, ta biến thành chiếc ĐHSH "nội địa" có nhịp riêng. Nhịp nớ được đám nghiên cứu chuyên ngành đặt cho mỹ danh "rythme circadien - circadian rythm".
 
Khả năng của rythme circadien là dẻo dai và thích ứng theo thay đổi môi trường bên ngoài, nhằm mục đích hoà điệu tức rung theo, nghĩa là "cộng hưởng" với ĐHSH thiên nhiên.
Cộng hưởng cần năng lượng. Năng lượng được upload trong giấc ngủ.
Ngủ là nghỉ ngơi để phục hồi đám năng lượng đã tiêu dùng trước đó.
Thiếu ngủ hay ngủ hổng đủ, bình điện xìu rìu. Xìu ngắn hạn còn cầm cự nổi, xìu dài lâu bình điện đi luôn, có đề cách mấy máy cũng hổng nổ... nữa! Đầu mình và chơn tay, lục phủ và ngũ tạng suy sụp lần hồi để rồi sẽ cùng dắt nhau ra... nghĩa địa.
Rythme circadien của QL loạn quẻ, ĐHSH nội địa sanh lỗi nhịp với ĐHSH thiên nhiên. Nó thức ngủ theo nhịp riêng, và ngay cả chính nhịp nọ cũng mỗi bữa mỗi khác. Bình điện của nó hư luôn, điện có xạc vô, bình cứ ngay đơ cán cuốc!
 
Nghe đám chiên-da sanh học ăn nói lòng vòng ruồi bu mất thì giờ, ấm ớ hiểu hổng ra.
Vấn đề giản dị là chiệng mất ngủ. QL ngủ hổng nổi, hổng đủ bàn đêm. Chừng tới sáng đi mần, đầu óc tơ lơ mơ, quên trước quên sau, nói năng trật duộc, thành quả lao động tuột dốc hổng phanh, thế là mất việc. Việc xin được nhiêu mất nhiêu. Rồi nó được sleep clinic của viện tâm trí theo dõi với chẩn đoán "rối loạn nhịp đồng hồ sanh học nội địa".
 
Mất ngủ dài lâu, tinh thần ển ển, kéo theo thể chất xìu xìu, rồi QL dính hemorragic stroke. Nó hổng liệt chi ráo, chỉ rối loạn ngôn ngữ aphasia, nghe chi hiểu ron rót nhưng nói năng đầu cua tai nheo trật chìa hổng ai hiểu nổi.
Và nó được bưng vô đây cho tui hầu hạ!
 
*
Rồi ĐHSH thiệt sự là cái chi?
Dà, nó chính là sự hoà hợp của vạn vật vào vũ trụ trong mục đích tiến hoá sanh tồn, là dương và âm, sanh và diệt, phước và họa…vv, là kim chỉ nam, dẫn dắt và quyết định thể chất bên ngoài của con người.
Chừng kim đồng hồ hổng "chỉ nam" nữa nhưng chỉ bắc - thậm chí còn quẹo cua chỉ đông chỉ tây - ngắn hạn tạm thời cơ thể còn chống đỡ nổi, dài lâu vĩnh viễn là coi như... xong. Cũng bởi thể chất và tinh thần vốn là bạn đồng hành, hoạt động biệt lập riêng rẽ, nhưng lâu dài về sau sẽ ảnh hưởng lẫn lên nhau.
 
Vũ trụ bao la nên chắc hẳn phải có rất nhiều loại ĐHSH tùm lum trong trỏng mà ta chưa hiểu ra, biết tới.
Còn cái ĐHSH của thái dương hệ chúng ta thì hẳn là, chắc ăn như bắp là... chạy bằng năng lượng mặt trời.
Ánh sáng mặt trời là kim chỉ nam, mặt trời chiếu xuống, mang năng lượng giúp vạn vật sanh tồn. Hồi mô mặt trời lãn công, trái đất xìu xìu ển ển.
Khi mô mặt trời đình công, trái đất giã từ võ khí, bước thẳng vô “cùng đồ dead end”, làm màn tận thế!
Rồi vì loài người là động vật thông minh nhứt nên loài người mới từ từ phân chia sắp xếp, lớp lang đâu ra đó cái thời khóa biểu hoạt động của nhơn loài, cốt sao cho fit với chu kỳ đồng hồ sanh học tự nhiên của trái đất.
 
Có vẻ như là... đồng hồ sanh học tự nhiên là chiệng các bực hiền triết thức giả cổ đại đã bàn tới, dưới các banners "philo-solex".
Vì solex mang đầu máy lẫn bình xăng to đùng ngay phía trước, chạy solex vất vả lắm cà, nên đám hậu sanh khả ố chúng ta đã trần thân, hổng thể, hổng ngờ được, rằng đám hiền giả nọ vốn là những chiên-da đồng hồ thứ thiệt và thứ dữ.
 
Theo các bực hiền-giả hy la nặng tánh solex hiểu hổng ra, ta mới day sang các bực hiền-thiệt con trời.
Đám thiệt nọ lòng vòng quanh âm dương ngũ hành, không phi lô nữa nhưng rất phi lạc, hoang mang y chang.
Âm dương dễ hiều thôi, là trừ cộng, đêm ngày, đờn bà đờn ông, người già con trẻ… v.v. Cái list dài thòng chỉ sự đối nghịch.
Âm dương sát bên nên dễ thấy, nhưng ngũ hành thì hổng biết có phải kim mộc thuỷ hỏa thổ của thái dương hệ không nữa.
Nếu phải thì... chúng xa tít tắp, dính dáng ảnh hưởng chi tới cái ĐHSH thiên nhiên của trái đất đặng kìa!
 
Đám chiêng gia phi lô phi lạc, nói đất nói trời vụ đồng hồ sanh học thiên nhiên và đồng hồ sanh học nội địa.
Trời thần ơi, chánh yếu là sự hoà điiệu nhịp nhàng để con người sanh hoạt trong thiên nhiên sao cho hiệu quả, nhiều nhiêu tốt nhiêu.
Vậy mà rồi tùm lum chữ nghĩa lòi ra - trong đó có rythme circadien (circadian rythm) làm người nghe thêm rối trí.
Đám bình dân học vụ giản dị dễ hiểu hơn, rằng thằng nọ do mất ngủ và mất dài lâu nên bịnh tật sanh ra.
 
Chẩn đoán hiện giờ là nó bị kinh giật, crise d'absence mà hổng ai hay biết.
Nay thì tình trạng đã khá chút xíu rồi, nhưng impaired cognition vẫn còn,
Đây là complication of "động kinh cục bộ chronic" or/and of stroke", nghĩa là có thể từ cả hai.
Nói giản dị dậy ai cũng hiểu hết, nhưng nói vậy hổng sang, hổng đúng khoa học chữ nghĩa bài bản. Nên rồi thinh không 2 cái đồng hồ sanh học chạy ra ấm ớ trình diện giúp vui màn rối rắm ngôn từ.
 
Thiệt cái tình... chữ nghĩa của đám trí thức thường dễ sanh ngủ gục.
Nản quá xá nản!
TN 

Saturday, May 16, 2026

BA LAN: GIẢI VĂN HỌC CHO ANA BLANDIANA, VIẾT VÌ SỰ THẬT VÀ CÔNG LÝ

Phan Tấn Hải


Ana Blandiana và tác phẩm
 
   Giải thưởng Văn học Herbert 2026 của Ba Lan đã trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Giải này có tên chính thức là "2026 Zbigniew Herbert International Literary Prize."
   
    Thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan loan tin hôm Thứ hai ngày 4 tháng 5/2026: Giải thưởng Văn học Herbert của Ba Lan trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania.
     Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến ​​chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20.
      Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
      Trang Poets.org tại Hoa Kỳ ghi sơ lược tiểu sử nhà thơ như sau: Ana Blandiana—bút danh của Otilia Valeria Coman Rusan—sinh ngày 25 tháng 3/1942 tại Timişoara, Romania. Ngay từ khi còn ở tuổi vị thành niên, bà đã đặt cho mình bút danh này, lấy cảm hứng từ tên ngôi làng quê hương của mẹ bà tại vùng Transylvania. Cha bà là một linh mục Chính thống giáo, người từng bị cầm tù vì là một nhân vật bất đồng chính kiến. Blandiana đã đăng tải những bài thơ đầu tay của mình trên tạp chí Tribuna [Tòa án] có trụ sở tại Cluj, trong khoảng thời gian bà đang theo học trung học tại Oradea. Năm 1967, Blandiana đã tốt nghiệp chuyên ngành Ngữ văn tại Đại học Cluj-Napoca (nay là Đại học Kỹ thuật Cluj-Napoca). Nhà thơ cũng là một biểu tượng bất đồng chính kiến từ Eastern Block (Khối Đông Âu, các nước cựu cộng sản trong cựu Liên Xô).
      
      Trong một thông cáo báo chí, Quỹ Zbigniew Herbert viết rằng: "Tác phẩm của Blandiana – vốn gắn bó sâu sắc với lịch sử bi tráng của Khối phía Đông – là một tiếng nói kháng cự đầy dũng cảm và kiên định chống lại chủ nghĩa toàn trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng của thế giới các giá trị nhân văn."
       Quỹ này cũng nói thêm rằng: "Những bài thơ của Blandiana không chỉ là minh chứng cho cuộc đấu tranh vì sự thật, phẩm giá và công lý, mà còn là lời nhắc nhở về bổn phận đạo đức của người thi sĩ – đặc biệt là trong những thời khắc gian khó. Thơ ca của bà phản chiếu một cách sâu sắc quan niệm của Herbert về nghệ thuật: coi nghệ thuật là một lãnh địa của những đức hạnh phổ quát và thái độ đạo đức, những giá trị cần được bảo vệ đến cùng bất chấp mọi nghịch cảnh."
       Trong bài phát biểu của mình, nhà thơ nữ Blandiana chia sẻ rằng mặc dù có sự cách biệt về thế hệ, cố thi sĩ Herbert vẫn luôn rất gần gũi với bà nhờ vào sự tương đồng về số phận. "Ông đã bước lên đồi Golgotha ​​của cuộc chiến chống lại sự kiểm duyệt trước cả tôi – có lẽ trên một con dốc còn cheo leo hơn nhiều – nhưng những cơ chế thẩm mỹ của sự kháng cự thì vẫn y nguyên, cũng giống như những hình thức đàn áp vốn đã không thể khuất phục được chúng tôi," theo lời bà phát biểu.
        Lễ trao giải dự kiến ​​sẽ được tổ chức tại Warsaw vào ngày 27 tháng 5/2026. Là một người công khai phản đối chế độ cộng sản, Blandiana từng được mệnh danh là "Joan d’Arc của Romania". Trong các giai đoạn 1959–1964, năm 1985, và 1988–1989, các tác phẩm của bà đã phải chịu lệnh cấm xuất bản. Sau Cách mạng Romania năm 1989 và sự lật đổ của chế độ Ceaușescu, Bandiana đã thành lập Quỹ Liên minh Công dân (Civic Alliance Foundation) – một phong trào phi đảng phái nhằm xoa dịu những hậu quả để lại sau hơn năm thập niên dưới chế độ cộng sản tại Romania.
         Các danh hiệu mà bà được trao tặng bao gồm Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, Giải thưởng Herder của Áo, Giải thưởng Thơ ca Griffin của Canada, và Giải thưởng Văn học Công chúa xứ Asturias.
        Ngoài thơ ca, các tác phẩm của Bandiana còn bao gồm những tập tiểu luận và văn xuôi. Các tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 15 ngôn ngữ.
        Được trao tặng từ năm 2013, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert nhằm tôn vinh những thành tựu nghệ thuật và trí tuệ xuất sắc, được khơi nguồn cảm hứng từ những giá trị và lý tưởng mà chính Herbert đã luôn đề cao.
       Sinh năm 1924, Herbert là một trong những nhà thơ, nhà tiểu luận và nhà đạo đức học có tầm ảnh hưởng lớn nhất tại Ba Lan. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm "Pan Cogito" (Ông Cogito), "Struna światła" (Dây đàn Ánh sáng), "Hermes, pies i gwiazda" (Hermes, Chú chó và Ngôi sao), và "Barbarzyńca w ogrodzie" (Kẻ man rợ trong khu vườn). Là một người kiên quyết chống cộng, Herbert đã dành sự ủng hộ hết mình cho phong trào Đoàn kết (Solidarity). Sau khi thiết quân luật ban hành vào tháng 12 năm 1981, những bài thơ của ông thường được ngâm đọc trong các cuộc họp bí mật của phong trào Đoàn kết. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang 40 ngôn ngữ. Ông qua đời vào năm 1998.
        Một bài thơ nổi tiếng của bà cho thấy hình ảnh cô đơn của người bất đồng chính kiến dưới chế độ toàn trị, nơi mọi người y hệt như giả chết và chỉ có nhà thơ là tỉnh thức, quan sát. Bài thơ "Loneliness" của Ana Blandiana do Seamus Heaney dịch từ tiếng Romania sang tiếng Anh, và dưới đây là bản dịch tiếng Việt:
  
NỖI CÔ ĐƠN
 
Cô đơn là một thị trấn
Nơi mọi người khác đều đã chết.
Những con phố thật sạch,
Những khu chợ vắng tanh,
Bỗng chốc mọi thứ hiện lên trong ánh sáng chân thực
Nhờ vào sự hoang vắng ấy – chính xác
Như lẽ vốn dĩ của chúng.
Cô đơn là một thành phố
Nơi tuyết luôn rơi
Một cách ngập tràn, và chẳng có bước chân nào
Từng vấy bẩn lên những lớp
Ánh sáng đang chất chồng.
Và chỉ riêng bạn, con mắt không ngủ
Đang dõi trông những kẻ đang say ngủ; bạn
Nhìn thấu, thấu hiểu, và chẳng bao giờ thấy đủ
Một sự tĩnh lặng quá đỗi tinh khôi.
Chẳng ai tranh đấu ở đó,
Chẳng ai bị lừa dối,
Và ngay cả giọt lệ trong mắt
Của một con vật bị bỏ rơi
Cũng quá đỗi trong sáng để có thể gây đau thương.
Trên ranh giới
Giữa khổ đau và cái chết,
Cô đơn là một thị trấn hạnh phúc.
.
Sau đây là bài thơ "Oh Your Body" sẽ được dịch ra tiếng Việt theo bản tiếng Anh của Paul Scott Derrick và Viorica Patea; vì tác giả là phụ nữ, nên chúng ta tạm dịch là "Ôi cơ thể của anh." Nơi đây, nàng nhìn thấy cơ thể chàng qua những dòng chữ (có lẽ là thơ, hay truyện?). Hòan toàn tách rời nền văn học hiện thực xã hội xưa cũ, và rất là "hiện sinh Phương Tây" nói theo thời kỳ khi thế giới còn Chiến Tranh Lạnh.
 
Ô CƠ THỂ CỦA ANH
 
Ô, em vẫn thấy cơ thể anh xuyên qua lớp mực,
Lớp mực nhuốm bẩn cả chúng ta ngay trong những giấc mơ,
Tựa như thứ mồ hôi đắng chát của loài thú hoang.
Em muốn vươn tay chạm tới anh,
Nhưng các ngón tay em lại trượt dài;
Em hầu như chẳng thể nhìn thấy anh,
Em hầu như chẳng thể nghe thấy anh.
Hãy nói đi, hãy nói với em thêm một lần nữa rằng:
Cơn xoáy nước mà em đang lao mình vào
Đã nhấn chìm cả hai ta trong bóng tối như nhau.
Em cất tiếng gọi anh,
Nhưng dòng mực lại tuôn trào dữ dội
Giữa hai ta—tựa như máu đang rỉ ra từ một vết thương.
Anh còn nhận ra em chăng? Còn chờ đợi em chăng?
Liệu anh có còn để em quay trở về,
Liệu anh có còn đón nhận em
Từ chốn bùn lầy tím thẫm kia?
Liệu anh có còn trở lại
Với những cánh đồng xanh này,
Với những đại dương hoang mạc kia—
Trong câm nín và lệ nhòa—
Để em có thể dâng hiến khuôn miệng run rẩy,
Cùng đôi môi bầm tím vì những lời nói,
Cho nụ hôn của anh?
.
Sau đây là bài thơ "In a Wound" (Trong Một Vết Thương), theo bản Anh dịch của Paul Scott Derrick và Viorica Patea. Chữ "we" (chúng ta) trong bài thơ cho thấy vết thương là của đông người, ít nhất là vết thương của một cặp tình nhân, hay nhiều hơn thì sẽ là vết thương của một dân tộc.
 
TRONG MỘT VẾT THƯƠNG
 
Chúng ta sống trong một vết thương
Và chẳng hề hay biết
Vết thương ấy thuộc về thân xác của ai,
Cũng chẳng hiểu vì sao.
Điều duy nhất chắc chắn, chính là nỗi đau
Đang bao vây quanh  ta—
Nỗi đau
Mà chính sự hiện diện của chúng ta
Đã làm nhiễm trùng thêm,
Mỗi khi vết thương kia cố lành lại.
.
Nói ngắn gọn thế nào về nhà thơ Ana Blandiana? Ngay cả khi bày tỏ bất đồng chính kiến, dòng thơ của bà cũng rất lãng mạn, tế nhị, như dường chữ nghĩa của bà không thể dùng để làm tổn thương bất kỳ ai. Thơ của Ana Blandiana thực sự là những dòng chữ nói lên sự thật và công lý, để ngợi ca đời sống và con người.
PTH