Wednesday, September 23, 2026

10 BÀI HAIKU. GỞI VÀO MÂY TRẮNG BAO LA

Nguyễn Đức Nhân
 
Tranh Đinh Trường Chinh
1.
Trải  chiếc chiếu rách đầu sân
chú bé nằm ngửa
ngắm dòng sông ngân
 
2.
Ngân hà. ngân hà, dải lụa trắng
vắt ngang bầu trời mùa hạ
đừng đắp kín giấc mơ tôi    
 
3.
Nơi bến sông ngân
nhìn những chòm sao be bé
tâm tôi trắng ngần
 
3.
Khuya khoắt rừng thiêng
am tranh còn lóe sáng 
nơi tâm ông lão hành thiền
 
4.
Trời đất lặng thinh
trong làn hương gió mới
mùa hạ ra đi
 
5
Nắng đã cạn
chiếc lá vàng rơi
chạm chiều thu cô tịch
 
6.
Chiều tạnh cơn mưa
tiếng chim rừng hót nắng
rơi từng giọt vào suối xưa
 
7.
Trong tiếng mưa
trong tiếng gà eo óc
hiển lộ sinh thể ngàn xưa
 
8.
Trăng đi trong mây mù
tôi vẫn còn thức nghe chuyển động thầm
đêm thu
 
9.
Trong bóng tối
con ốc sên lọ mọ giữa cõi sinh tồn
cây cải xác xơ
 
10.
Chưa đến Fuji
trong giấc mơ tôi cóng lạnh
nơi sườn núi Fuji
 
B'lao, 20/9/2026
NĐN
 
 
 
 
 
 

Tuesday, September 22, 2026

TƯỞNG NIỆM 50 NĂM NGÀY GIỖ VŨ HOÀNG CHƯƠNG. NGỌN LỬA THIÊNG

Phát biểu của Trịnh Y Thư

Kính thưa quý vị và các bạn,

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương. 

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say và lửa cháy, của đam mê và cô độc, của cõi thế và tâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh. 

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1915–1976). Tranh Phan Nguyên

Năm mươi năm sau ngày ông rời cõi thế, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một thi sĩ. Chúng ta tưởng nhớ một nhân cách nghệ sĩ, một người đã sống trọn vẹn với thơ, với nghệ thuật, với nỗi đau và niềm kiêu hãnh của dân tộc. Di sản của ông không nằm trong những trang sách cũ, mà trong cách chúng ta tiếp tục đọc, tiếp tục lắng nghe, tiếp tục để thơ ông soi sáng những vùng sâu thẳm của tâm hồn.

Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Vũ Hoàng Chương không phải là một dấu chấm hết. Nó là dịp để chúng ta cùng nhìn lại trang sử bi thương của dân tộc, và qua đó, biết đâu chúng ta học được bài học lịch sử một cách thấu đáo, trọn vẹn hơn.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đại diện cho một dòng chảy văn hóa độc lập, ông thuộc thế hệ thi sĩ tiền chiến – thế hệ đã đưa thơ Việt bước vào thời hiện đại bằng tinh thần tự do khai phóng đầy cá tính, và sự kết hợp hài hòa tuyệt hảo giữa truyền thống thâm thúy Đông phương và cảm thức lãng mạn Tây phương. Trong văn hóa Việt Nam, thế hệ này được xem như những người gìn giữ phẩm giá tinh thần, đặt nghệ thuật lên trên mọi mục tiêu chính trị.

Sau 1975, chính quyền mới muốn thiết lập một hệ chuẩn văn hóa duy nhất: văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ tuyên truyền chính trị. Trong bối cảnh ấy, một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương – người chủ trương “thơ là tiếng nói của tự do nội tâm” – trở thành biểu tượng của một truyền thống văn hóa không nằm trong hệ thống cai trị độc tài toàn trị.

 Những nhà văn, nhà thơ như Vũ Hoàng Chương thường bị nhà nước nhìn bằng con mắt nghi kỵ. Ông không hoạt động chính trị, nhưng trong lịch sử Cộng sản Việt Nam, trí thức độc lập thường bị xem là nguy hiểm hơn những người chống đối công khai, vì họ có ảnh hưởng tinh thần sâu rộng.

 Lịch sử Việt Nam cho thấy: mỗi khi xã hội biến động, văn chương trở thành nơi lưu giữ ký ức và lương tri. Thời Lê-Nguyễn, nhiều nhà Nho bị lưu đày vì dám viết những điều trái ý triều đình phong kiến. Thời Pháp thuộc, văn chương trở thành nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Sau 1975, văn chương lại đứng trước yêu cầu phải phục vụ một hệ tư tưởng mới. Trong dòng cuồng lưu ấy, Vũ Hoàng Chương là kẻ đứng ngoài nắng, không phải trong bóng mát: một thi sĩ trung thành với tự do tinh thần, và vì thế ông bị cuốn vào vòng xoáy của lịch sử, bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Trong văn hóa Việt Nam, nhà văn-nhà thơ không chỉ là người sáng tác, mà còn là người giữ gìn lịch sử tinh thần và ký ức dân tộc, luôn coi trọng “tự do trong tâm tưởng”. Một chế độ muốn kiểm soát xã hội phải kiểm soát ký ức, và vì thế phải kiểm soát nội tâm người viết. Đối với họ, tự do nội tâm dẫn đến tự do tư tưởng, mà họ quy chụp là phản động.

Đó là lý do vì sao, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà nước Cộng sản đã bắt bớ, giam cầm, tù đày, hành hạ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo thuộc chế độ cũ. Nhiều người chết trong tù. Có người chỉ được thả về trong cơn hấp hối, về đến nhà thì tắt thở.

 Nhà văn Nhã Ca, trong một chương trình phỏng vấn, đã cho chúng ta biết như sau về số phận của cả một tập thể trí thức văn nghệ sĩ Miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó như sau. Bà nói:

 “Trong chiến dịch tiêu diệt văn hóa, văn nghệ sĩ miền Nam tháng Tư năm 1976, Vũ Hoàng Chương, vị thi hào Việt Nam thế kỷ thứ 20, là người đầu tiên bị giết. Chiến dịch tàn khốc này đã kéo dài cả chục năm.  Hàng trăm văn nghệ sĩ bị bắt đi tù đầy, nhiều người không bao giờ trở về […] như học giả Hồ Hữu Tường, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường…”

Xem thế, số phận của Vũ Hoàng Chương không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ, mà là bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang. Ông bị bắt vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam lâu đời: tôn trọng tự do tinh thần, giữ gìn đạo lý, và dùng ngôn ngữ để soi sáng nhân tâm.

Trong lịch sử Việt Nam, những giá trị ấy luôn tồn tại – dù có lúc bị chèn ép, có lúc bị lãng quên. Nhắc đến Vũ Hoàng Chương hôm nay là nhắc lại một phần của bản sắc văn hóa dân tộc: văn chương Việt Nam không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước bạo lực.

 Tại sao chúng ta không nên lãng quên cái chết của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và những người cầm bút Việt Nam khác, những người có cái chết tương tự như ông?

 Nhớ đến cái chết của ông, trước hết, là nhớ đến một thời kỳ mà văn chương bị buộc phải im tiếng, và những giá trị tinh thần bị đẩy vào bóng tối.

 Thứ hai, số phận của ông phản ánh bi kịch của trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX.Thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và những biến động chính trị tác động mạnh lên dòng sinh mệnh dân tộc. Trong những biến động ấy, giới trí thức – đặc biệt là những người giữ tinh thần độc lập – thường trở thành nạn nhân của lịch sử. Cái chết của Vũ Hoàng Chương nhắc nhở chúng ta rằng trí thức Việt Nam đã phải trả giá rất đắt cho việc giữ gìn phẩm giá tinh thần, và rằng tự do tư tưởng chưa bao giờ là điều hiển nhiên có sẵn cho chúng ta hưởng thụ.

 Thứ ba, ông đại diện cho truyền thống “văn dĩ tải đạo” – tiếng nói lương tri của người Việt.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, văn chương Việt Nam luôn gắn với đạo lý, với tiếng nói của lương tri. Vũ Hoàng Chương tiếp nối truyền thống ấy: thơ ông không chỉ đẹp mà còn chất chứa nỗi đau, sự khắc khoải và những suy tư về thân phận con người. Cái chết của ông là lời nhắc nhở rằng khi tiếng nói đạo lý bị bóp nghẹt, văn hóa dân tộc cũng bị tổn thương.

 Thứ tư, cái chết của ông là minh chứng cho việc văn chương có thể bị bức hại, nhưng không thể bị tiêu diệt.Dù nhà thơ bị giam giữ, dù bị xem là “phản động”, thơ Vũ Hoàng Chương vẫn sống. Nó sống trong trí nhớ của người đọc, trong những câu thơ truyền miệng, trong sự kính trọng của giới văn nghệ sĩ và mọi người dân khác. Nhắc đến cái chết của ông là khẳng định rằng bạo quyền có thể cầm tù, bức tử một thi sĩ, nhưng không thể xóa bỏ linh hồn của thơ. Câu thơ “Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu” có thể xem là lời tiên tri của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

 Nhắc đến Vũ Hoàng Chương là nhắc nhở rằng văn chương, khi chân thật và đẹp đẽ, có thể vượt qua thời gian. Và hôm nay, khi chúng ta nhắc lại tên ông, đọc lại những câu thơ ông để lại, chúng ta đang tiếp tục hành trình mà ông đã khởi đầu, hành trình đi tìm cái đẹp trong một thế giới tàn bạo vô nhân tính.

 Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Xin tri ân những gì ông đã để lại cho văn học Việt Nam. Và xin giữ cho ngọn lửa thơ ông tiếp tục cháy trong lòng mỗi chúng ta. Xin trân trọng cảm ơn quý vị.

TRỊNH Y THƯ

phát biểu tại Quận Cam ngày 20 tháng 9 năm 2026 nhân lễ tưởng niệm 50 năm thi sĩ Vũ Hoàng Chơng ra đi

 


Monday, September 21, 2026

VIẾT CHO DẠ THẢO

Đinh Yên Thảo

Dạ Thảo. Hình chụp trên đỉnh Yosemite

Khoảng đâu năm 2004, tôi có về Việt Nam vài tuần. Lúc đó Dạ Thảo đã qua lại Việt Nam, có thể đang ấp ủ dự án xây Làng Nghệ Sĩ Đào Nguyên tại Đà lạt. Thời gian đó Thận Nhiên cũng đã về Việt Nam, có dẫn tôi đến quán cà phê Huy Tưởng và tiệm ăn của Nguyễn Nhật Ánh, gặp vài anh em văn nghệ quen tên của Sài Gòn.
Tôi không nhớ Thận Nhiên hay tôi báo tin và Dạ Thảo gọi điện thoại báo sẽ về Sài Gòn gặp chúng tôi. Đụng lúc có cả Ian Bùi từ Mỹ và Thảo Hương, tức nhạc sĩ Jazzy Dạ Lam là ái nữ của nhạc sĩ Trương Tuyết Mai từ Đức về nước, Dạ Thảo mời cả nhóm bạn đến quán Cục Gạch ăn tối. Đó là một quán ăn trang nhã, có lối kiến trúc cổ điển khác lạ lúc bấy giờ. Nghe bảo chủ nhân là một kiến trúc sư bạn của Dạ Thảo, về sau Cục Gạch được nhắc đến đó đây khi vợ chồng Angelina Jolie và Brad Pitt có đến ăn tối khi sang Việt Nam.
Tôi vẫn còn nhớ hôm đó, Dạ Thảo lái xe jeep từ Đà Lạt về, mang áo thun quần lính rằn ri trông rất bụi. Trang phục cũng ít nhiều thể hiện một phần tính cách con người và nó đúng với tính cách phiêu bạt của Dạ Thảo: họa sĩ Đào Nguyên Dạ Thảo, bạn chúng tôi trong nhóm Ô Thước của tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên-Mạng thời Phạm Chi Lan.

Dạ Thảo là kỹ sư điện toán, làm việc cho một hãng viễn thông lớn ngay Dallas. Lúc đó Dạ Thảo đã có nhiều tranh, có lẽ được vẽ trong thời gian theo học tại đại học Texas A&M. Bức tranh truyền thần quen thuộc với bạn bè là tranh vẽ vợ chồng Tổng thống George Bush, nghe bảo còn đang được trưng bày tại bảo tàng viện George Bush tại Texas.
Dù cùng thành phố, chúng tôi không gặp nhau thường xuyên trong những cuộc tụ họp tại nhà Phạm Chi Lan, ngoài những dịp họp mặt đông đúc bạn bè Ô Thước từ xa về họp mặt. Đơn giản là Dạ Thảo bận rộn với những công việc hay dự án đầy tính nghệ sĩ, có phần lãng mạn hơn là kinh doanh. Hay cũng vì thời gian đó Dạ Thảo sang Anh làm việc, mang theo cả một dự án nghệ thuật sang Cookham tại ngoại ô London. Không nhớ Dạ Thảo hay ai trong nhóm đặt nó là làng Cúc Khâm, nghe như tên một phố cổ Hà Nội. Dự án Cúc Khâm không thành, Dạ Thảo về lại Mỹ.

Trước khi về Việt Nam, Dạ Thảo cũng đã mở một quán cà phê rất nghệ sĩ tại Dallas. Chúng tôi có tổ chức họp mặt nhóm Ô Thước tại đây và nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng giới thiệu thi tập Tôi Cùng Gió Mùa của ông nơi này. Quán cà phê cũng không thành công, Dạ Thảo về Việt Nam, lại mở quán cà phê ngay Sài Gòn đón tiếp nhiều văn nghệ sĩ và thực hiện dự án xây làng nghệ sĩ nói trên, báo chí bên Việt Nam có viết bài về dự án này.

Chúng tôi gặp lại nhau khi Dạ Thảo về lại Mỹ sau một thời gian dài, dắt theo một "tác phẩm" là cô con gái xinh đẹp và lanh lợi, nói tiếng Việt rất sỏi, mang tên họa sĩ nổi tiếng Dali. Tôi chẳng biết dự án của Dạ Thảo tại Việt Nam ra sao, chỉ biết Dạ Thảo muốn mang Dali về hẳn lại Mỹ với một môi trường giáo dục phù hợp hơn cho trẻ nhỏ. Rồi từ Texas, Dạ Thảo lại dẫn con sang California. Thế giới này dường như nhỏ bé và mọi nơi chốn đều như trong bàn tay của Dạ Thảo, thay đổi chỗ ở dễ dàng và liên tục như vậy.
Chúng tôi không gặp nhau nhiều. Thỉnh thoảng Dạ Thảo về lại Dallas, chúng tôi hẹn ăn trưa hay Dạ Thảo bay về họp mặt khi có các cuộc tụ họp bạn bè tại Dallas. Hai năm trước, khi sang Little Sài Gòn họp lớp cùng bạn học cũ, tôi có nhắn tin Dạ Thảo, định rằng nhà báo Đinh Quang Anh Thái sẽ chở tôi lên nhà Dạ Thảo ăn trưa nhưng rốt cuộc lại không thành vì tôi không đủ thời gian. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện qua điện thoại với Dạ Thảo. Lần Dạ Thảo dắt Dali sang Virginia, anh em bên đó cũng nhắn tôi sang chơi, tôi không sang được dù trước đó vẫn thường xuyên bay qua gặp bạn bè. Gặp nhau là cái duyên, chia phôi là cái số. Người ta thường tiếc những điều không làm, không sống vì những lý do chính đáng nhưng lắm lúc có thể thu xếp.

Chúng tôi vẫn giữ liên lạc qua mạng. Năm trước, Dạ Thảo gởi tặng tôi ba cuốn sách mà Dạ Thảo vẽ minh họa và trình bày. Cuốn hồi ký Hoàng Đức Nhã do nhà báo Đinh Quang Anh Thái chấp bút, tập thơ Nguyễn Tư Phương và một tuyển tập trường ca của Nguyễn Đức Tùng. Sau này, Dạ Thảo và Đinh Trường Chinh là hai họa sĩ trong nhóm chúng tôi đã vẽ tranh minh họa cho khá nhiều sách báo phát hành tại hải ngoại. Tôi có viết vài dòng giới thiệu ba cuốn sách, nhận xét là minh họa của Dạ Thảo hầu như lấy gam đen làm nền. Có lẽ gam màu vô thức. Dạ Thảo cười, nụ cười trong trẻo luôn thành tiếng như ngoài đời và đăng thêm lên cả chục bìa sách hầu hết vẽ gam đen, bảo rằng không để ý cho đến khi tôi hỏi.

Tôi chẳng là người quá tâm linh nhưng đôi lúc tự hỏi, phải chăng vũ trụ có lắm điều chẳng lý giải bằng lý trí hay khoa học? Có thể chỉ là sự ngẫu nhiên mà cũng có thể là những dự cảm đời sống. Người bạn chủ biên Phạm Chi Lan thân thiết của chúng tôi thường viết về cái chết rồi qua đời rất sớm. Dạ Thảo là người lạc quan, tươi vui tại sao lại thích gam màu đen? Và rồi tôi tự lý giải, dẫu có thích những gam màu sặc sỡ, con người rồi cũng sẽ trở về nơi khởi đầu. Điều gì đã đi, đã sống, đã đối xử nhau trong chặng đường đã qua mới quan trọng.

Di nguyện của Dạ Thảo là rải tro xuống biển San Diego, nơi Dali sẽ theo học đại học trong vài năm tới. Tôi ngậm ngùi hiểu tấm lòng của một người mẹ muốn gần gũi, bảo bọc con gái. Nghĩ về Dali khi bước vào đời không còn mẹ. Tôi nghĩ rồi đây Dali sẽ thường ra biển, ngồi nhìn những cánh hải âu tung cánh hay những con thuyền ngoài khơi mà nhớ mẹ. Nhớ một người bạn họa sĩ quý mến trong mắt bạn bè của mẹ, nhớ một cánh chim phiêu hốt đi qua cuộc đời này mà vẫn còn mang nỗi khắc khoải khi rời xa con.
Seattle, 09/2026
ĐYT


THÔI, DẠ THẢO VỀ NHÉ

Đinh Trường Chinh

Đinh Trường Chinh & Dạ Thảo và con gái
Hình chụp ở Washington DC
 
Đào Nguyên Dạ Thảo / Ly Ly Đào, sinh năm 1965 tại Đà Lạt. Lớn lên cùng gia đình ở Đà Lạt. Cô đến Mỹ sau nhiều lần tìm cách vượt biển và vượt biên bằng đường bộ.
 
Năm 16 tuổi, cô thực hiện chuyến vượt biển đầu tiên nhưng không thành và bị bắt giam một năm. Sau khi được thả, cô theo học Trường Mỹ thuật Sài Gòn từ năm 1984 đến 1987. Nhưng ý nghĩ tìm cách rời khỏi một đất nước nhân quyền bị chà đạp và đói khổ vẫn chưa bao giờ rời khỏi cô.
 
Trong thời gian học Mỹ thuật, cùng một nhóm bạn, cô di chuyển đến Châu Đốc, nằm ém gần biên giới rồi vượt biên bằng đường bộ sang Campuchia vào ban đêm. Từ đó, cả nhóm tiếp tục hành trình đến Thái Lan bằng một chiếc thuyền nhỏ.
 
Dạ Thảo đến được Thái Lan và ở trại tị nạn sáu tháng, sau đó được chuyển sang một trại tị nạn khác ở Philippines và lưu lại đó tám tháng. Nhờ cha từng phục vụ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, cùng với việc một người dì và người chú đang sống tại Texas đứng ra bảo lãnh, Dạ Thảo được vào Mỹ với tư cách tỵ nạn. Năm 1994, cô được cấp quốc tịch Mỹ, chính thức trở thành công dân Hoa Kỳ. Như nhiều người Việt tị nạn thời ấy, Dạ Thảo tạm gác ước mơ nghệ thuật và quyết định học ngành Khoa học Máy tính (Computer Science). Cô tốt nghiệp Texas A&M University năm 1995, và học thêm ngành về Fine Arts.
 
Chỉ vài dòng tiểu sử như thế cũng đủ cho thấy Dạ Thảo là một người có nghị lực đặc biệt: chịu khó tạo dựng sự nghiệp giữa mọi nghịch cảnh, biết cách tồn tại và vươn lên từ hai bàn tay trắng.
Nhưng gọi Dạ Thảo bằng danh xưng nào thì vẫn là một điều phải suy nghĩ :  Cô là kỹ sư điện toán. Cô là một họa sĩ được đào tạo bài bản. Cô từng làm chủ nhà hàng ở Texas, rồi lập quán cà phê Paris gần Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Cô là người khởi xướng ý tưởng về một làng nghệ sĩ mang tên Đào Nguyên ở Đà Lạt. Cô thiết kế và layout cho nhiều sách văn học nghệ thuật của người Việt ở hải ngoại. Cô vẽ tranh, làm thơ, và cộng tác với nhiều nhạc sĩ để đưa thơ của mình vào âm nhạc.
 
Dạ Thảo đã làm tất cả những việc ấy bằng một niềm đam mê rất lớn. Trong cô lúc nào cũng có một năng lượng đặc biệt dành cho nghệ thuật. Dù có bằng kỹ sư và từng làm việc trong ngành công nghệ, có lẽ bản chất đúng nhất của Dạ Thảo vẫn là nghệ sĩ. Cô là một nghệ sĩ đích thực. Có lẽ, đó là “danh xưng” đúng nhất cho Dạ Thảo.
 
Năm 1995, Dạ Thảo được chọn vẽ chân dung cựu Tổng thống George Bush và phu nhân. Những bức chân dung ấy về sau được lưu giữ tại Trung tâm Thư viện Tổng thống ở Texas. Với lối vẽ truyền thần tỉ mỉ, cô chú ý đến từng đường nét trên khuôn mặt, từng nếp nhăn, từng sợi tóc bạc, cố gắng bắt lấy thần thái của nhân vật chứ không chỉ đơn thuần sao chép hình dáng.  Dạ Thảo từng có những cuộc triển lãm cá nhân, từng trở về Việt Nam để dạy vẽ cho trẻ em tại một trại trẻ mồ côi. Năm 1998, cô được trao học bổng Jordan Fellows để đến Hồng Kông và Trung Quốc nghiên cứu về tranh lụa.
 
Năm 2000, Dạ Thảo quyết định rời hẳn công việc software engineering tại Nortel để trở về với niềm đam mê hội họa. Cô dọn đến Cookham, một ngôi làng ở ngoại ô London, Anh Quốc. Cô từng chia sẻ ý định của mình: sau khi nghỉ việc, cô muốn có một không gian để trưng bày các tác phẩm của mình, đồng thời tạo cơ hội cho các nghệ sĩ địa phương giới thiệu và bán tác phẩm nghệ thuật.  Từ khi dọn đến Cookham ở Anh, nghệ thuật ngày càng trở thành đời sống của cô. Ngoài sáng tác, cô còn thích tổ chức triển lãm tranh và các sinh hoạt văn hóa cho các nghệ sĩ trong vùng.
 
Làm bất cứ việc gì, Dạ Thảo cũng xông xáo và hết mình.
 
Dạ Thảo còn có một mối duyên rất gần với văn chương hải ngoại. Từ khoảng năm 1997, cô bắt đầu kết thân với nhóm Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, một trong những nhóm sinh hoạt văn học trên Internet đầu tiên của người Việt, vào thời kỳ Internet còn mới mẻ và chưa phổ biến. Trang Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, có những bài viết của các nhà phê bình Trần Doãn Nho và Nguyễn Vy Khanh.
 
Trần Doãn Nho từng nhắc lại rằng “phần lớn tác giả cộng tác và độc giả của  Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng là những chuyên viên và sinh viên gốc Việt, làm việc với máy điện toán vào thời kỳ Internet bắt đầu phát triển. Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng được phát hành qua email, ban đầu ba ngày một tuần, sau đó mỗi ngày.”
 
Những người trụ cột của nhóm lúc ấy có Phạm Chi Lan, rồi dần dần có thêm nhiều người về sau trở thành những gương mặt quen thuộc của sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 như các nhà văn Phùng Nguyễn, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Thận Nhiên, Đinh Yên Thảo, Đinh Trường Chinh, Trịnh Thanh Thủy, Ian Bùi, Đoàn Nhã Văn, Nguyên Nhi, Nguyễn Tư Phương, Thu Thuyền, và các nhạc sĩ Thảo Hương, nhạc sĩ Hoàng Đình Bình… cùng nhiều người khác.  Dạ Thảo là một thành viên tích cực của nhóm.
 
Ngoài những sinh hoạt văn học trên mạng, các thành viên Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng thường gặp nhau mỗi năm một lần, phần lớn tại Texas, nơi cô chủ biên Phạm Chi Lan sinh sống. Mỗi lần gặp gỡ là một dịp rất thân tình: sinh hoạt, đàn hát, ra mắt sách, bày tranh…
 
Dạ Thảo luôn có mặt trong những cuộc gặp như thế.
 
Về sau, cả văn chương giấy lẫn văn chương mạng dần mất đi môi trường sinh hoạt như trước. Phạm Chi Lan qua đời vì bạo bệnh, và Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng cũng từ đó tan dần. Một số người trong chúng tôi, trong đó có Dạ Thảo, từng tham dự lễ cưới Phạm Chi Lan và Nguyên Nhi; về sau lại có mặt trong những ngày tang lễ của họ. Những mối quan hệ ấy, qua bao nhiêu năm tháng, vẫn là một phần ký ức không dễ phai của một thế hệ những người làm văn nghệ trẻ và mới tại hải ngoại.
 
Sau một thời gian sống ở Mỹ rồi ở Anh, Dạ Thảo quyết định trở về Việt Nam.  Ban đầu, cô sống tại Sài Gòn và lập một quán cà phê ngay trung tâm Quận 1: cà phê Paris. Nhưng là một người con của Đà Lạt, cuối cùng Dạ Thảo lại trở về với thành phố sương mù. Cô lên Đà Lạt, mua đất và khởi xướng dự án mang tên “làng nghệ sĩ Đào Nguyên”. Làng nghệ sĩ Đào Nguyên tại Đà Lạt là một dự án khu sinh thái – nghệ thuật do Dạ Thảo làm chủ đầu tư tại khu vực rừng hồ Tuyền Lâm, được cấp phép từ năm 2007.
 
Ý tưởng của cô là xây dựng một hệ thống khoảng 50 căn nhà với kiến trúc hòa nhập với cảnh quan rừng thông, dành cho nghệ sĩ thuộc nhiều lĩnh vực đến nghỉ ngơi, thư giãn và sáng tạo. Các nghệ sĩ có thể đến đó để vẽ, sáng tác giữa phong cảnh Lâm Đồng, rồi giới thiệu tác phẩm ngay tại nơi mình sáng tác. Làng nghệ sĩ Đào Nguyên còn hướng đến việc mở lớp, truyền bá nghệ thuật và tạo một không gian giao lưu giữa nghệ sĩ với công chúng. Đó là một giấc mơ rất đẹp và thơ mộng của cô họa sĩ Đào Nguyên Dạ Thảo.
 
Như đã nói, Dạ Thảo là một người đa năng và cũng rất đa đoan. Cô có quá nhiều năng lượng và quá nhiều điều muốn làm: vẽ tranh, tổ chức triển lãm cho họa sĩ, trình bày và layout sách, làm thơ, viết nhạc, tổ chức những sinh hoạt văn hóa… Có lẽ vì vậy mà thời gian dành riêng cho hội họa không nhiều. Dạ Thảo chỉ để lại một lượng ít bức tranh đặc trưng cho phong cách của mình và một tác phẩm “Đại Úy Pháo Binh Dù Đào Văn Thương: Chuyện Người Tù Binh Hạ Lào”.
 
Dạ Thảo cũng là người đặt biệt,  có mối duyên rất lớn với những người rất lớn của Phật giáo và văn học miền Nam Việt Nam: Thầy Tuệ Sỹ,  nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà văn Nam Dao; Cựu Tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng của VNCH, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng…
 
Sau một thời gian ở Việt Nam với nhiều dự án khác nhau — có thành quả, có niềm vui, nhưng dĩ nhiên cũng có không ít khó khăn — Dạ Thảo đưa cô con gái rất ngoan của mình, Dali (như tên người họa sĩ nổi tiếng Salvador Dali), trở về Mỹ.
 
Cô dọn đến California và lại bắt đầu những công việc mới, như làm nhà nghỉ ở Big Bear chẳng hạn. Cô còn tổ chức những book fair, giới thiệu các sách Việt mà cô thực hiện, trong đó có sách của Thầy Tuệ Sỹ, nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, cùng nhiều tác giả khác như Đinh Quang Anh Thái, Trịnh Y Thư…
 
Dạ Thảo vẫn thế, vẫn đa năng như ngày còn trẻ. Về sau, cô dọn về San Bernardino, California.
 
Dạ Thảo rất có lòng với bạn bè, với chữ nghĩa và với nghệ thuật. Cô hết lòng và luôn ân cần. Cô giữ tình thân thiết với những người bạn như Đinh Quang Anh Thái, Hồ Đăng Long, Nguyễn Tư Phương, Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh… và còn rất nhiều người khác. Cho đến khi thời gian bào mòn dần sức khỏe của cô với cơn bạo bệnh.
 
Dạ Thảo ra đi đêm ngày 9 Tháng Chín 2026, làm tôi nhớ đến khổ cuối bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên:
 
“Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta”
 
Đời người hữu hạn, mà cô thì có quá nhiều điều muốn làm, quá nhiều người để thương, quá nhiều tình bạn để giữ, nhiều giấc mơ nghệ thuật để theo đuổi.
 
Thôi, Dạ Thảo về nhé! Thương nhất là Dali, cô con gái xinh ngoan, đàn hay, học giỏi đang bước vào ngưỡng cửa đại học.
 
ĐINH TRƯỜNG CHINH
Virginia 13 Tháng Chín 2026

Friday, September 18, 2026

VŨ HOÀNG THƯ. CƠN TRƯỜNG MỘNG. CUỘC VÔ THƯỜNG LÀ TÊN

Nguyễn Thị Khánh Minh
                  
                          Cảm xúc từ thi phẩm Một Thoáng của nhà thơ Vũ Hoàng Thư

Nhà thơ Vũ Hoàng Thư-chụp bởi Phượng

“… Một chút gì thật vội không chờ đợi ai, mãi mãi là một gạch nối vô hình giữa những gì đã qua và sẽ tới, cái đương là bát ngát mênh mông người có thấy? Những câu thơ ghi vội vàng như hành động mở cửa sổ một buổi sáng ngó ra khu vườn, từ đó ta thấy đôi khi trời xanh, có chim hót, vài khi bắt gặp những đám mây trắng không hẹn cúi nhìn xuống đời dưới kia, nhưng cũng có khi bàn tay đâm bất động giữ chặt lấy song cửa, mắt ngó mông lung về một cái gì thoáng trôi...
Bóng nhạn đã bay mất hút trời xa, gió mơn man gợn nhẹ mặt hồ, đâu là ảnh, đâu là hình? “
(Vũ Hoàng Thư)
 
Nghe tiếng chim hót sớm mai mấy câu Thiền Thi của Thiền Sư Hương Hải, Nhạn quá trường không… Nhạn không có ý để dấu/ Nước không có tâm lưu bóng (Thích Thanh Từ dịch). Ảnh hình chớp mắt trong biến dịch của phút đang là, người thơ, ngay nơi đã và sẽ ấy, bật ra Một Thoáng, tràn đầy, an nhiên, khinh khoái. Không tràn đầy sao được khi sống bát ngát nơi cái đương là mênh mông. Chẳng an nhiên sao khi biết rõ rằng một chút gì thật vội không chờ đợi ai. Và trong phút giây có mặt ấy, người thơ đã khinh khoái điểm danh, một khuya sớm/ bóng sương buông/ cơn trường mộng/ cuộc vô thường là tên (Chiều Tím). Ngay tựa đề Một Thoáng đã gợi lên một sự liên tục (tôi muốn nhấn mạnh, liên tục) trực nghiệm về những khoảnh khắc lúc tâm yên ả cùng thân trong hiện hữu ấy. Đó thiết nghĩ chẳng phải là một pháp tu hay sao?
 
Và như thế một thoáng ngoài kia...
Thi phẩm Một Thoáng của Vũ Hoàng Thư tôi đang cầm trên tay đây. Vâng, - Đây- Lúc tuyệt vời trong gặp gỡ, như vạt nắng đang ửng vàng trên hiên nhà buổi chiều chớm thu. Như hạt bụi đậu tình cờ trên trang thơ vừa mở -Vừa- đấy ư? Một Thoáng rung động từng vụt sáng của tâm thức, của cảm xúc tức thời. Khiến tôi như đang nghe lời mời, hãy trở về đây, hãy lắng nghe, trái tim ta đang đập vì một đóa hoa đang nở, hạt nước mắt đang rơi, tiếng gió đang thổi và chim đang hót, tiếng của bước chân đang rời xa… Và phải chăng không ngừng nhận biết nỗi mong manh ấy mà ánh sáng của phút đang là chan hòa say đắm trong mỗi lời thơ? Nói theo nhà Thiền thì đó là sống tỉnh thức. Mở bất cứ trang thơ nào trong Một Thoáng cũng thấy bàng bạc tình của ý ấy, tuệ của tâm ấy, và trang nghiêm sao khi người cung kính phút giây ngẫu nhĩ Thơ! Xin được là bạn đồng hành trong-thoáng khơi vơi cùng- này.
 
thơ,
ngẫu nhĩ
vương sợi tơ,
trầm trọng chi?
một thoáng
            khơi
            vơi
cùng.

 (Thơ, tr.7)
 
Tôi cảm được phút yên lặng ở khoảng trống trước ba chữ trầm trọng chi, và tại sao lại khơi/ vơi/ cùng? Bạn có cảm thấy như đang ngồi bên nhau trong giờ uống trà? Có tiếng chạm rất trong của men lam khi người thơ đặt chén trà xuống cười mỉm, một hồi, rồi, trầm trọng chi, lời bình thản ẩn chứa nội lực của kinh qua và nhận ra lẽ thực, cho nên Một Thoáng mới có phong thái ung dung thơ, / vô tư/ với ngàn trùng, sảng khoái tung mọi mắc xích buộc ràng của tham luyến hẹn hò riêng chung, của đó đây ngàn trùng gang tấc. Khiến tôi nghĩ đến lời dạy, “Chỉ có sát na bây giờ và ở đây là cái biết của Tánh Giác" (Thích Nữ Hằng Như)
 
thơ,
vô tư
với ngàn trùng,
không hò hẹn,
gọi riêng, chung,
ân cần.
thơ,
xa ngái
trong khoảng gần,
dang tay với,
sương khói hân nhiên mời.

 (Thơ, Một Thoáng tr.7)
 
Với kia mời nọ thể nhập vào Một Thoáng -hân nhiên- ấy, chẳng còn ta người đây kia, trong tiếng đập của phút giây… cứ thế mà quán tưởng lồng lộng những mộng, huyễn, bọt nước, bóng, sương, ánh chớp… Lại liên tưởng đến một câu chuyện, -Một hôm, Đức Phật hỏi đệ tử: "Cuộc sống đời người kéo dài bao lâu?" Có người đáp: "Một năm". Có người đáp: "Một tháng". Có người đáp: "Một tuần" Nghe thế Đức Phật quở: "Các ông chưa hiểu được Vô Thường". Sau cùng có một vị thưa: "Cuộc sống của đời người chỉ trong hơi thở", thì Đức Phật gật đầu khen: “Đúng”- (Thích Nữ Hằng Như, bài giảng tại đạo tràng Thiền Tánh Không Houston, Texas, 7.2017)
Biết chỉ trong một hơi thở để sống sâu sắc tuyệt vời từng hơi thở…  nên mới nói lời thơ mộng rằng, có một hôm/ ta gặp nhau… thành thế giới/ vũ trụ hoa đẹp ngời… hạt sương rụng/ rạng đông ca… hạt sương em chuyện khứ hồi…, để khúc tuần hoàn ấy âm vang những rộn ràng hóa sinh.
 
1.
có một hôm
ta gặp nhau
em là hoa hay sương màu tuyết pha
trinh bạch trắng
trang thái hòa
thành thế giới
vũ trụ hoa đẹp ngời
 
2.
đến đùa chơi
ở một nơi
cùng với gió
em mở hơi hướm ngày
tôi theo mây
cõi trời bay
về nơi ở
chỗ không
thay mái nhà
 
3.
hạt sương rụng
rạng đông ca
lên và xuống
lời nhịp ca tuần hoàn
ngày sẽ qua tựa an nhàn
hoại như thể
khúc rộn ràng hóa sinh
 
4.
tôi sẽ hát cùng bình minh
với tia nắng
em về thinh không ngồi
hạt sương em chuyện khứ hồi
đi, đứng,
khắc
phù sinh trôi giữa trời 
 (Chu Kỳ, tr.9)
 
võng đong đưa ở hai bờ,
đùa chơi hai cõi ôm vờ khổ, vui.
sinh trong nỗi chết bùi ngùi,
và qua lại, người tới lui. chốn này.

 (Võng, tr.95)
 
Chu kỳ ấy là tất nhiên. Có chết bùi ngùi mới có oa oa tiếng khóc tinh khôi. Có hoa tàn trái đậu…Cứ như vậy mà sinh diệt không dừng, thì có gì là thật là thường. Cảm xúc về mong manh Một Thoáng - nói khác đi cũng là ca tụng Vô Thường - Thấy, biết, và sống vui với duyên khởi của mọi vật trong từng khoảnh khắc “qua. lại. tới. lui” ấy là chủ đề thơ xuyên suốt Một Thoáng của Vũ Hoàng Thư. Thật tình chỉ một cảm nhận ấy thôi là đã bắt được trọng tâm của Một Thoáng, nói thêm nhiều cũng là vì mình bị mê hoặc bởi ý thơ sâu lắng, lời thơ đầy ẩn ngữ diễm lệ, và những hình ảnh tan hợp thì như một nhắc nhở, một mời gọi chúng ta hãy sống, sống hết lòng không dính mắc chi ngay trong tích tắc này Ôi thật là diệu dụng cho cái tuệ giác Một Thoáng! Và như thế khiến ta càng muốn nghe thêm nữa để biết thiền giả kia đã kinh nghiệm cái ta - dung nhan mờ - trong cuộc chơi trầm luân ảo hóa thế nào?

hồng em
nằm rã cánh chờ
ở môi đỏ
 nụ buồn xo kiếp người

hồng em
nét trễ biếm khơi
và đơn chiếc ngụ
lậm đời khi khu
hồng em
gọi bạn sương mù
về ngang dấu vết
khật khừ phế hoang
thôi sắc hương
miệng khép hàng
hồng em nhỏ xuống
 lệ bàng hoàng rưng
(Đóa Hồng Sau Ngày Valentine, tr.162)
 
có phải ta
mộng tháp tùng?
chào nguyên sơ
nghi hoặc
dung nhan mờ
một cuộc chơi
cốt cách hờ
có thật chăng những bến bờ trầm luân?
 (Bến Bờ, tr. 32)
 
em một sớm rạng đông hường
chưa khẽ nhón
ngày vô thường vụt ngang
(Phôi Pha, tr.30)
 
hoa rụng trên triền sóng
muôn trùng lời vô âm
sao rơi về giếng lóng
dư ảnh một lòng không
(Hoa Rụng, tr.131)
 
Tiếng rụng của hoa trên sóng, đâu là tiếng vỗ của sóng đâu là tiếng chạm xuống bờ anicca của cánh hoa vô thường? Và mặt giếng lóng ánh sao rơi, Muôn trùng vô âm…  hoa kia lời nọ chẳng qua rồi, một lòng không… Tâm người như giếng lặng, chẳng lưu chẳng giữ cứ theo đi theo đi và như thế, và như thế, …
 
em có biết hạt sương đầu cỏ
lóng bình minh sợi nắng tà huy
(Tháng Giêng, tr.16)
 
và sương trong lóng
bình minh
ở tôi
ngấn tích
một hình bóng
không…
 (Bước Chân, tr.214)
 
Nhỏ đến thế một hạt sương đong đưa trên đầu cỏ mà lắng vô lượng trong suốt của bình minh (dẫu có le lói tà huy), còn ta, ngấn tích gì? Chỉ là bóng. Không. Ôi hình đây bóng đấy, sum vầy đâu, chia tan đâu, âu cũng chỉ là chút ráng hồng, tóc sương phai, giữa hai triền mộng, hạnh ngộ chút phù du, vậy mà vẫn nghe ra mảnh trăng vỡ kia loang tiếng hoa cười, mới biết rằng trong hoại diệt lúc nào cũng hờm sẵn một mới lạ sinh sôi. Để an nhiên nói cùng nhau, về bước lại nhịp mai sau không cùng... trăm lối rẽ, lai khứ chùng… nghe chân còng tạc hư loang cát bồi… đừng kéo lệ/ sẽ bình yên/ khơi bếp lửa…
 
Tích trữ tôi nỗi trước sau,
về bước lại nhịp mai sau không cùng.

hồ mị ngày, bóng mây ngang,
nghe chân còng tạc hư loang cát bồi.
(Lặng Lẽ, tr.102)
 
người xa xăm
cuộc sum vầy
bay cùng ráng đỏ một ngày xưa lâu
(Nhật Mộ, tr.154)
 
Tôi kể em những điều của gió
Đi tìm mây quên hết tháng ngày
Heo may lạnh chiều nhân gian tím
Bỗng nhớ về một sợi tóc bay

Em có biết giữa hai triền mộng
Sương bay ngang trắng ngát mái đầu
(Tôi Kể Em Những Điều Tháng 9, tr.203-204)
 
Dặm khuya lời tình tự
phơi phới nõn tâm từ
hoa cười loang trăng vỡ
hạnh ngộ chút phù du
(Khương Hoa, tr.117)
 
chiều biếc về sương ghé mênh mông,
niềm riêng ta gửi nhớ thương nồng
điểm nước chuồn bay chiền chiện gọi,
người đâu? Sau trước một ráng hồng
(Chiều Biếc, tr. 161)
 
Gió, mây, và thời gian, từ những điều bay, tan, trôi ấy, một nỗi tím nhân gian chất ngất trong hồn chiều heo may đẩy đưa bến bờ buồn vui, tan hợp. Ơ, Sau trước một ráng hồng... Một thoáng -nhớ- này lại vin vào một thoáng -sợi tóc bay- nọ! Trọn vẹn điều gì, không thành tựu điều chi trong chỉ một điểm nhỏ chân chuồn động vô thanh mặt nước hay hư ảo sợi tóc mảnh bay, tiếng hát vừa nghe đó bỗng thành sương không lưu dấu lối về? Nếu không thấm thía tuệ giác vô thường thì sao mà tận mặt được những một thoáng ấy?
 
Tôi kể em những điều sương lạc
Bay ngang ngang phủ trắng đường quanh
Cả lối về dướng như mất dấu
Ai hát mơ hồ sương mong manh
(Tôi Kể Em Những Điều Tháng 9, tr.203)
 
Cũng bởi ta là bạn đồng hành, nên chia sẻ được bước vấp vì một mộng đầu hoài nghi, có khi ngẩn ngơ giữa đến đi - mất còn, cuộc mơ sai khiến con rối bắt quàng. Nhưng bạn ơi, sẽ mau quay về thôi vì chưng Hàng xanh ngõ giậu tự đâu kéo về…
 
mất nhau từ dạo bước đi
lạc nhau vừa mới từ khi ghé về

Mất nhau là dạo bước đi
Phôi pha dấu tích hoài nghi mộng đầu
Đôi khi bất chợt hương màu
Hàng xanh ngõ giậu tự đâu kéo về
(Lưu Vong, tr.217)
 
Hưng phấn khơi
đoạn rã hàng
trò vui con rối bắt quàng cuộc mơ
(Bóng Mờ, tr.55)
 
Em trở về đây mộng giữa đêm
Cho ta vùi ngủ cõi êm đềm
Mộng trung hữu mộng đời ngon giấc
Mở mắt còn ai? Ta hay em?
(Mộng, tr.21)
 
Kiếp nhân sinh này giấc mộng lớn, Em, người mộng trong giấc mộng… Thức giấc, chẳng còn ta hay em, tỉnh mộng lưu vong là đã tâm gọi cùng về, một trở về sâu lắng, đến và đi/ mây bay xa/ giọt nước rơi/ giữa phôi pha về nguồn.
Nhưng sao nghe như có chút chùng chình, dùng dằng trên muôn trùng xê dịch đến đi… Nó đến đấy ư? Không chỉ dường như Một Thoáng. Nó đang ở hay vừa đi? Ôi hay Một Thoáng dừng nơi vô tận Giấc Mơ? Cho ta êm ấm chút trong ý niệm Mãi Mãi. Bị kẹt rồi thì phải. Bạn ơi, nếu trong ta còn vướng víu nghiệp thơ thơ mộng thì âu cảm xúc ấy là chút ảo diệu nhân từ của vô thường! Nên chi trên hành trình chập chững ta có khựng lại vì một cánh hoa vàng đang nở và muốn Một Thoáng ấy rưng rức mãi phút chạm mặt cùng nhau thì, trầm trọng chi… nên tôi rất cảm thán cái nỗi hiền triết ngẩn ngơ này trước dòng thời gian mộng ảo,
 
có phải lâu là không mau?
lâu hơn bữa trước mộng đầu còn xanh?
có phải mau hơn nắng hanh?
một chớp mắt nhân ảnh hành trang không?
có phải trôi đám mây bồng?
về vô xứ bóng nhạn hồng cuối hôm?
(Hỏi, tr.34)
 
Vô Thường ơi, hết kẹt rồi nhé. Nếu không có cái biết một chớp mắt nhân ảnh hành trang không thì làm sao coi nhẹ được cõi ta đang ở đây để dứt áo hệ lụy mong cầu được mất, cho ta rất nhiều kinh nghiệm về thực tại của thiền giả trên con đường gặt hái thực chứng riêng mình.
 
ở đây
đi đến
thường thôi
cõi này
 (Lá Thu, tr.179)
 
tưởng là đắm?
thoáng qua thôi
gọi là mơ?
đùa chốc rồi sẽ quên

em sẽ đi?
tôi nào chờ
đi là đến chốn ơ hờ của nhau
 (Đến Và Đi, tr.38)
 
sương trong lóng, một nghi từ,
giọt trong trẻo, gieo lời hư buổi đầu.
tinh mơ nào những mong cầu,
ngày vô hạn ngắn, trước sau mộng trường
(Gió Thu, tr.45)
 
ở buổi mai, hoa ngóng sương/ sớm tinh mơ giọt vô thường ghé qua (Hoa), là phút phút thấu sâu thẳm sinh diệt: tinh mơ sớm -phiền lụy xa. bình minh- lạc dương tà. Thanh tân kia hiển lộ mớ xương hoa, ta bất quá đất nước gió lửa tụ tan, vậy còn gì mà sinh lòng ta, của ta nữa?
 
Nhặt tinh mơ sớm
gợi phiền lụy xa
gọi bình minh
lạc dương tà
lượm thanh tân giữa xương hoa nhọc nhằn
(Buổi sáng đọc e-mail, tr.122)
 
Ta là ai?
nắng mây môi gió…
tuế nguyệt phôi pha
gọi tháng ngày

Ta là ai?
đất, nước, gió, lửa…
một ngày
về cát bụi xa xưa
(Ta Là Ai? tr.119)
 
Và để được -hành trang không- có phải nhờ cái quẫy Ôi… lần này buồn sâu? Từ đó mới có hùng tâm hùng lực tôi nào đợi, chờ, hay, trông/ lòng vô tích, nhịp mênh mông hải triều (Hoa, tr.59), người bạn thiện tri thức ơi, đó phải là buông bỏ, là lạnh buốt cái tâm trạng lưu luyến nắm giữ, mê mờ? Hãy đi theo từng bước, từng lúc, chiêm nghiệm cái buồn sâu cõi này.
 
ôi… lần này buồn sâu
đâm rễ hút vạn sầu
mạch buồn thâm căn bám
nở rộ loài hoa đau
 
thật chăng buồn mới vào
hay đã tự kiếp nao
ghé chơi thường xuyên ở
thành bạn thiết cùng ta
 
hôm kia buồn đổi áo
nhảy múa với trăng sao
ta tưởng niềm vui gọi
nhập hội vẫy tay chào
 
hoài nghi ôm kẻ lạ
bỗng sực một điều ra
buồn vui rồi có lẽ
trong gió vô thường qua
(Hoài Nghi, tr.127)
 
Buồn khổ đã ghé chơi thường xuyên, thành bạn thiết đến nỗi gọi niềm vui là khách lạ, thì nghe ra rất sáng tỏ một điều, chẳng phải mạch buồn như ngọn rễ âm u mọc từ bao thân kiếp người đó ư, để từ đó mà vui sướng sực -ngộ- ra tất cả, trong gió vô thường qua… Đây là then chốt để một ngồi xuống/ bật tiếng cười hư không (Nửa Nào, tr. 200). Và thành tựu nào không có giá của nó, người đã biết mấy trần thân - phủi bàn tay/ có ngọn gai dăm trồi- trong chữ o tròn tuần hoàn chuyển hóa, trong nỗi không của muôn duyên tụ tán.
 
ra quét lá 
thử tung chiêu
quơ một vòng 
vẽ khung chiều mông lung
lá hát lên 
lời muôn trùng
vàng lổ đổ thắp chập chùng lửa mơ
thôi
vẫy tay 
chào ơ hờ
cõi nhân gian 
những đợi chờ phôi pha
và thoáng gặp 
cơn gió xa
chở mùa đi 
mây gọi nhà ở không
hẹn cùng nhau 
cời cợt bồng
nơi vô trú 
nhập sương hồng buổi mai
bến nhân duyên 
còn một vài
phủi bàn tay 
có ngọn gai dăm trồi 
bèn đưa gậy 
vẽ vòng chơi
một chữ o một nhịp cời vào không
(Quét Lá, tr.35)
 
Không không có có đùa chơi… hẹn cùng nhau/ cời cợt bồng/ nơi vô trú/ nhập sương hồng buổi mai… thì, một vài nơi bến nhân duyên kia cũng thôi nhé vẫy tay chào pha phôi... Và như thế… tôi theo mây cõi trời bay/ về nơi ở chỗ không…
 
một con tim
còn chút này
ôm thế giới
cho vơi đầy đã nư
Có lúc thật lại khi hư
Nở vì ai
hoa nắng
như rộn ràng
(Chút Này, tr.15)
 
Cho dù muôn sự ảo, người thơ đã rất tận tình vơi đầy đã nư từng nỗi buồn vui kiếp người để lúc mai Thức Giấc nhìn hoa nắng thấy biết cái nở rộn ràng. Vì ai. Phải chăng là nỗi hoan hỷ thấy được ánh sáng cùa con đường đang đi mà mỗi qua mỗi nhẹ nhàng quyến luyến?
 
này sông trôi
sóng vô thường
lời kinh đêm
bước vô thường tôi qua
(Nghe Kinh, tr.62)
 
ở vườn xưa
có tiếng chim
ngọt lên khuyên hót
xô chìm sóng khơi
ở vườn xưa
dậy mốc ngời
để tôi ấn tích
rối bời dấu chân

ở quê xa
những cơn mưa
bay nghiêng cuối ngõ
dầm đưa kéo về
 
ở nửa khuya
tôi chợt nghe
giữa mùa thu
có gió hè
qua hiên
ở nửa khuya
nỗi ưu phiền
chợt vô thường
tiếng suối huyền reo vui
 (Ở Đây, tr.182)
 
Là trong thời thiền nửa khuya? -Ở Đây- thật không, mà cảnh - vườn xưa- có mốc ngồi lựng tiếng khuyên, mà -quê xa- ẩn hiện đường mưa cuối ngõ? Thời gian nào mà hư thực hè thu. Người đang ở trong tâm nào? Và nỗi buồn sâu kia, ưu phiền nọ bỗng là đòn bẩy để nghe ra tiếng suối huyền reo vui gọi người đi về phía ấy. Phía xa xăm niềm lặng thinh của tỉnh thức.
 
lời không nói
hẹn cõi miền riêng tư
yên ắng tôi
bặt ngôn từ
ngày thanh lặng
những thốt thưa khép lời
 (Sương Tím, tr.89)
 
Như một ý trên đã nói, Một Thoáng là cảm xúc thực tại phút giây người thơ hiện hữu, không phải là vu vơ đối cảnh sinh tình, mà là có cái biết sâu sắc về cảm xúc ấy, nên nói phút giây Thơ là hành Thiền, tự tại điều đang ở đang đi. Từ đó người thơ nhìn sâu vào lung linh Tâm.
 
bây giờ một chữ cũng thừa
vô ngôn trào lộng lọt vừa khoảng không
(Vô Ngôn, tr.26)
 
ngưng
thôi lời chẳng nói ra
đọng
vào ý niệm sum la vạn hình
ngưng
luôn ngôn ý câu tình
đọng
nơi chẳng trú bóng hình thất tung
ngưng
trong kỳ diệu tương phùng
đọng
về sương lạc phút lung linh này
(Ngưng Đọng, tr.192)
 
mở cánh sen
nhớ thường hằng
nghe sương rụng nỗi khăng khăng vô thường
tự nhiên thôi
ở cuối đường
hoa cười mở nụ
mười phương nguyệt rằm
 (Buổi Sáng Đọc E-mail, tr.122)
 
A. tự nhiên thôi! Ánh sáng của nguyệt rằm. Lúc hoa cười mở nụ là nếm được vị mát lạnh của ngọn lửa đỏ đã phụt tắt, vị của Niết Bàn?
 
này em
thương thế sương bào
một viên sỏi lạnh
chạm vào thiên thu
(Hòn Sỏi Rơi, tr.225)
 
Trong kỳ diệu tương phùng, viên sỏi lạnh ta quay về chạm thiên thu chân tâm?
Lặng lẽ êm, niềm thinh không, thuyền buông mái… (Lặng Lẽ, tr.102)
 
Tôi mơ màng như mình đang ở dưới bóng mát tàng cây sala nơi Phật tịch diệt, từng chiếc lá âm vang di huấn cuối cùng của Người “Sabbe sankhara anicca.” (Tất cả pháp hữu vi là vô thường) …
Tôi mơ màng thấy trước mặt mình là một hồ nước trong xanh không xao động, dấu vết nào của chim bay trong bầu trời bao la, hốt nhiên bắt được cung bậc tĩnh lặng kỳ diệu của mặt hồ kia…
Và phút giây này đọng vào tôi tràn trề một niềm an lạc trước những hình ảnh ấy tan biến… bây giờ mây bổng ráng hồng/ nói năng niềm lặng thinh bồng gió theo (Vô Ngôn, tr.26)
Thêm bao nhiêu hạt bụi rơi vào trang thơ, đâu dấu vết của huyễn mơ? Những chữ thơ như làn khói mỏng tang, tất cả là Một Thoáng bay đi, và cái tôi vừa ngồi đó giở những trang thơ đã sương trắng mái đầu bên bờ mộng… Ôi, có thì có tự mảy may… Người thơ cũng quay lưng tủm tỉm gió vọng lời, rằng thưa có lúc đôi câu/ lắm khi không nói từ đầu đã không (VHT)…
Gió lật những trang thơ, trắng bong không một chữ nào…
NTKM
Santa Ana
Tháng 9, 23, 2019
 
Sơ lược tiểu sử nhà văn nhà thơ Vũ Hoàng Thư
VŨ HOÀNG THƯ: Tên thật: Võ Anh Tuấn, sinh năm 1949 tại Huế. Lớn lên ở Nha Trang,
học tại trường trung học Võ Tánh. Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.
Định cư cùng gia đình tại miền Nam California. Hiện là kỹ sư điện tử 
tại Jet Propulsion Laboratory, Pasedena, California.
Tác phẩm: Bắt Nắng, tản mạn. Quê Mẹ Paris xuất bản năm 2009-
                               Thi phẩm Một Thoáng. Quê Mẹ xuất bản lần thứ nhất, Paris tháng 07, 2019