Monday, August 31, 2026
Saturday, August 29, 2026
TÔI KHÓC. NHỮNG ĐÔI GIÀY BÊN BỜ SÔNG DANUBE
Nằm cách tòa nhà quốc hội Hungary khoảng 300m, công trình điêu khắc bằng sắt dài 40m này là một đài tưởng niệm những người Do Thái bị bắn chết trên bờ sông Danube vào mùa đông năm 1944 – 1945. Trước khi bị các thành viên thuộc đảng Arrow Cross -phe thân Hitler ở Budapest- sát hại, nhiều nạn nhân từ già trẻ, lớn bé không phân biệt trai, gái đều bị dồn đến trước dòng sông. Chúng bắt họ phải cởi giày để lại trên bờ và bắn họ rồi quăng xác xuống sông, cho nước cuốn trôi. Các nạn nhân phải cởi bỏ lại giày dép vì đây là những món đồ có giá trị trong thời chiến và quân phát xít đã thu gom chúng lại để giao dịch trên thị trường chợ đen.
Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi (từ tháng 10/1944 đến tháng 3/1945), đảng Arrow Cross đã giết hại khoảng 50,000 người bên bờ sông Danube và chở gần 80,000 người khác đến “lò sát sinh” Auschwitz ở Ba Lan. Quá khứ đen tối cùng tội ác đẫm máu của phe phát xít vẫn khiến người dân nơi đây không khỏi rùng mình và đau lòng nhớ lại. Ngày nay, hình ảnh về những đôi giày vô chủ nằm rải rác bên bờ sông với nhiều hình dáng, kích cỡ khác nhau trở thành một điểm đến nổi tiếng tại Budapest.
Một đài tưởng niệm được dựng lên trên bờ sông Danube.
Đài tưởng niệm được thực hiện bởi đạo diễn Can Togay và nhà điêu khắc Gyula Pauer vào năm 2005 -tái hiện 60 đôi giày bằng sắt, mô phỏng giày của đàn ông, phụ nữ, trẻ em Do Thái.
Đây là một trong những đài tưởng niệm Holocaust giản dị nhưng sâu sắc nhất châu Âu. Không chỉ để tưởng nhớ, mà còn là lời nhắc nhở ám ảnh về điều lòng thù hận có thể gây ra.
Tôi khóc
sao tôi khóc
cây bàng mùa đông
người thi sĩ ấy vừa ra đi
và mặt trăng mùa đông
bản concerto
trong ngôi nhà đổ. ở thành warszawa
không. chiều nay. tôi khóc
những đôi giày
bên bờ sông danube
chiều
trời mùa đông. xám lạnh
tôi ngồi
tưởng tượng
hàng ngàn. hàng ngàn người. già. trẻ. lớn. bé. phụ nữ và đàn ông. bé trai. bé gái
trong thế chiến hai
bị những họng súng của quân mọi rợ
dồn ra bờ sông danube
bắt cởi giày
rồi bắn chết
hàng loạt. hàng loạt
xô xuống dòng sông của thành budapest
nước mắt. ôi. nước mắt
đã tuôn rơi
trên kè đá
tôi biết
thanh tâm tuyền đã viết. cho anh khóc bằng mắt em. những cuộc tình duyên budapest
tôi khóc những đôi giày
để lại bên bờ sông
ôi. dòng sông danube
trong bản valse
le beau danube
bleu
của johann strauss
bản valse. anh và em đã nghe. một đêm nào. trong quán serenade. trước giờ chia tay
hỏa châu. những ngọn nến trên trời
mùi hoa dạ ly. đã chết. trên những trang thơ
bên bờ sông danube
những bóng người. cúi gục
ánh nến. qua hàng nước mắt. nhòa
khuya nay
tôi cũng muốn thắp lên một ngọn nến
bên cửa sổ
chong. hồn
khóc. cho những đôi giày. trên kè đá
khóc cho đồng bào tôi
ngày nào
chết
ở bãi dâu. bờ sông hương
chết
trên xa lộ. hoàng hôn
trong cuộc chiến tranh khốn kiếp
và xác ai. anh em tôi. tan chưa. trên rừng dưới biển
sóng danube ơi
xin hát
lời ru
cánh bướm. chiều nào. chết khô trên cửa kính. quán cà phê trieste
nhớ không. đinh cường
người không về nữa
NGUYỄN XUÂN THIỆP
Mùa đông 2014
ĐỂ XA MÀ NHỚ
Phan Dụy
.
Lời Từ Biệt do PTHải viết: Tác giả Phan Dụy (1952–2026) đã qua đời vào ngày 20/8/2026 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Cô từng là sinh viên ban Triết Học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cô là thành viên của Nhóm Nghiên cứu Triết học gồm các cựu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn trong và ngoài nước. Cô hoạt động tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật tại Houston với các vai trò như nhà văn, nhà thơ, xướng ngôn viên và MC. Sau đây là một bài viết của Phan Dụy về xứ Huế, nơi cô ra đời, lớn lên cho tới khi vào Sài Gòn để theo bậc đại học. Tang lễ của cô Phan Dụy sẽ cử hành vào Chủ Nhật 30/8/2026 tại Houston. Nhóm Nghiên Cứu Triết Đại Học Văn Khoa Sài Gòn xin mượn lời nhà thơ Bùi Giáng để từ biệt bạn Phan Dụy:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.
Lời riêng của Nguyễn tôi: Mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Cũng như với Hà Thanh và Quỳnh Giao. Trước hết là do cùng quê Huế.
Nếu Tô Thùy Yên có bài Huế Oán
HUẾ OÁN
Nửa khuya, vua trẻ lìa kinh khuyết.
Từ đó, thâm cung lạnh lửa đèn…
Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở.
Thương em còn thơm hồn nhãn sen.
Mấy bận, sóng thần lấp cửa phá.
Đêm giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn.
Bạn về quê bạn, đường xa ngái,
Trong nớ, ngoài ni, nhớ chẳng yên.
Tóc mai rụng đã bao nhiêu sợi,
Mãi chẳng nguôi thầm một lỡ duyên.
Sông chậm lặng trôi đời ẩn nhẹm,
E tản đi hương bóng chập chờn.
Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng,
Sao nắng mưa này da diết hơn?
Một buổi, mây qua tầng tháp cổ.
Trăm năm, em khóc lẽ vô thường.
Mùa nhãn, mùa sen chừng đã quá.
Lâu rồi, công chúa chưa về thăm.
Khói sương trúc đá nỗi vương vất,
Nhang thắp, nghe đời chạng vạng thêm.
Đèo cao, phá rộng, sông trăm nhánh…
Chuyển bước làm sao khỏi động tâm?
Chim kêu, ghềnh khóc, sóng tan dạ…
Người lỡ thời đi tới xứ mô?
Một mai, chắc mỗi điều duy nhất:
Rêu mốc mờ thêm những đã mờ.
10 – 1999
TTY
thì Nguyễn cũng có viết trong bài Thảo Nguyên ghi chút tình với người chị họ là người Huế:
mai mốt chị qua vùng thảo nguyên
như xưa một lần về quê ngoại
ngày reo vui. vườn chim bay chim
long reo vui. reo tà áo lụa
chị gội đầu bằng nước hoa chanh
hương tóc bay sang. chiều vời vợi
chị ơi. mai qua vùng thảo nguyên
mang cho em một chùm nhãn chín
ôi. tình xưa như nhãn và sen
dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn
thì khuya sau xin trăng hạ huyền
tiếp truyền đi những lời non biển
Đoạn tản mạn trên là nhân tưởng nhớ Phan Dụy của Huế tôi.
Ở trên có nói mình cũng có chút thân tình với Phan Dụy. Thời tóc còn xanh ấy mà, người ta gặp nhau ở đầu sông cuối phố không biết bao nhiêu lần nhưng Nguyễn chỉ nhớ rõ hai lần gặp Phan Dụy. Một lần khoảng năm 1982 khi Cao Đông Khánh thuê xe lái lên Minesota ra mắt sách. Về lại Dallas có thêm Phan Dụy, mình cầm tay lái, Dụy ngồi băng sau, nhìn qua kính chiếu hậu, ui, gặp đôi mắt to của Phan Dụy, cảm xúc bàng hoàng. Lần thứ hai ở Houston năm 2012 mình ra mắt ba tác phẩm. Hôm ấy Dụy lên ngâm bài Khúc H. trong tập Thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Sau hai lần vừa kể không còn gặp lại nhau nữa nhưng hình ảnh Phan Dụy và Huế vẫn còn, mãi mãi…
Hôm nay, ngồi viết mấy dòng nhớ Dụy bèn post lên bài văn Dụy viết ‘Để Xa Mà Nhớ’ (bản của Việt Báo) gọi là một chút hương bay. NGUYỄN
Từ dạo bỏ Huế ra đi, vào một buổi chớm thu, dưới bầu trời mây xám giăng phủ khắp sân bay Phú Bài, Huế trong tôi chỉ còn là hình ảnh của một người yêu với dáng phong trần ra đi trong một chiều lộng gió, khuất dần dưới làn mưa bụi chập chùng, để lại những hụt hẩng chơi vơi, những nhớ thương quay quắt.
Khi nhận diện được sự hiện hữu tràn trề, đầy ấp của Huế trong tôi, thì cũng chính là lúc tôi ý thức được Huế đang rời xa, đang dần dà mất mát. Sự mất mát của Huế trong tôi, không đến bất ngờ như tin người tình ngã gục ngoài chiến trường. Không hỏa tốc như cơn gió lốc bỗng từ đâu kéo đến cuốn xoáy hết bụi cát lên trời, cũng không ùa vỡ như con sóng ngoài khơi, giận dữ ập vào vách đá, để làm vỡ tung ngàn cánh hoa bọt biển. Mà sự mất mát của Huế âm thầm, rả rich như những cơn mưa triền miên của Huế, làm ướt đẫm cả những mẩu trời xanh hy vọng, làm ray rứt xót xa những tâm hồn vẫn vọng nhớ đến quê nhà.
Không ai thực sự có được niềm kính phục về sự huyền bí, cổ kính của những lăng tẩm đền đài và những phong tục nền nếp của Huế bằng chính những người đã từng là nạn nhân của sự bí hiểm, cổ kính, phong tục nền nếp đó. Không ai cảm nhận được ý nghĩa của cái đẹp một cách trọn vẹn khi nhìn ánh trăng vàng lấp lánh trên sông Hương, bằng những kẻ đã bao phen đói rách vì những trận lụt đã dâng lên cũng chính từ dòng sông đó. Không ai thấu hiểu và quý trọng cái nét đa tình mà trọn vẹn, cái lãng mạn mà thủy chung của người con gái Huế, bằng những kẻ đã yêu gái Huế mà chuyện tình đành dở dang…Khách lãng du chỉ chợt đến rồi đi, chỉ biết ngắm hoàng hôn dần khuất dưới rặng Trường Sơn hùng vĩ, chỉ biết đắm mình trong lạc thú, trong mạn thuyền dưới những đêm trăng, chỉ biết say sưa với muôn tà áo trắng trong những buổi tan trường. Có biết đâu bên rặng Trường Sơn kia có những ngọn gió Lào đổ lửa mùa hè, và cắt da xé thịt mùa đông. Có biết đâu trên những mạn thuyền là những thiếu phụ lái đò, chắt chiu bữa một bữa hai, và có biết đâu trong muôn tà áo trắng có những mảnh đời loang lỗ vết đau thương? Vâng, có sống trong khô cằn sỏi đá mới biết quý cái lãng mạn đa tình. Có sống trong nghiêm luật lễ nghi, trong hào quang hư ảo của nền phong kiến mới hiểu được tinh thần đấu tranh cách mạng cao độ của người dân miền Trung. Có sống những ngày ấu thơ niên thiếu ở Huế mới cảm thông được tình yêu Huế trong lòng người tha hương. Một tình yêu đôi khi thật êm đềm mà chua xót như một giấc mơ vàng chóng tan…
Tan đi rồi những ngày ấu thơ vô tư dưới mái trường tiểu học duy nhất của làng Xuân Hòa, nơi có đình thờ thần linh, mà mỗi năm người lớn tranh giành nhau chức chủ lễ, chiếu dưới chiếu trên. Nơi mà trẻ thơ say sưa theo tiếng nhạc đăng đàn, rộn ràng theo tiếng mỏ làng thúc dục, và nô nức vì được sống ra ngoài cái nhịp sống bình lặng êm đềm của mọi ngày thường. Một nhịp sống quá bình lặng, để cho người dân như cảm thấy có cái gì không ổn ở ngay chính trong ta. Quá bình lặng để người đầu làng cũng biết cả tông chi của kẻ cuối làng. Quá bình lặng để cho những gia đình đông con gái bỗng sợ sệt vì những dòm ngó, dè bỉu, mỉa mai…
Tan đi rồi hình ảnh những đêm tối trời, có muôn ngàn ánh nến lung linh phản chiếu trên mặt nước sông Hương như con trăn khổng lồ của những ngày lễ có phóng sinh phóng đăng. Những buổi sáng thức giấc trong không khí trong lành, trong tiếng lòng còng của đoàn thuyền đánh cá, trong tiếng chuông ngân nga lê thê của chùa Linh Mụ, trong tiếng gà gáy eo óc của làng Long Thọ bên kia sông. Những buổi sáng của tuổi dậy thì, để bắt đầu một ngày trong đời như bắt đầu một cuộc viễn du đầy những bất ngờ hứng thú cũng như những lo sợ đợi chờ. Con đường dài bốn cây số từ chùa Linh Mụ đến trường Đồng Khánh là một lộ trình quen thuộc và cố định, nhưng luôn luôn chào đón và quyến rũ những bước chân chim với nhiều hứa hẹn của những khám phá mới mỗi ngày.
Mỗi ngày được thức giấc bằng những tà áo trắng loáng thoáng, cố vượt ra ngoài những mái nhà tranh còn ngái ngủ, vượt ra ngoài những đường xóm còn rợp bóng cây còn chĩu nặng những giọt sương đêm, để chờ nhau mỗi đầu xóm, để được nhập vào đám áo trắng, như một bầy thiên nga đang cùng nhau vỗ cánh hường về phía trời đông đang hừng lên những áng mây tím, hồng rồi đỏ ửng. Tiếng guốc mộc gõ đều và rộn ràng lẫn trong tiếng nói cười ròn rã. Nhưng rồi, như đoàn người hành hương đã được chuẩn bị để đón chờ những bất trắc. Khi vừa qua khỏi chợ Kim Long, không ai bảo nhau, guốc mộc được cầm tay, áo dài giắt vào lưng quần để chuẩn bị vượt qua quảng đường của nhà thờ kín Kim Long càng nhanh càng tốt. Trong những giờ phút ấy, cái giá trị lịch sử của nhà thờ kín Kim Long, nơi đã che chở cho Tôn Thất Tường khỏi vòng truy lùng của Pháp đã không còn ai quan tâm đến, cái giá trị nghệ thuật về vẻ đẹp bí hiểm của những nóc nguyện đường cổ kính dưới bóng me cao rợp trời, và hàng cây củ đậu leo che kín cổng ra vào, cũng không được ai chiêm ngưỡng, mà cái âu lo duy nhất là phải làm sao tránh được những bãi nước trầu tai quái, những đuổi bắt phập phồng, một thú vui và trò chơi quỷ quái của mụ già điên gánh nước cho nhà thờ mỗi buổi sáng. Vượt qua khỏi nhà thờ kín Kim Long là địa phận của làng Vạn Xuân, guốc mộc được trở lại ôm ấp những bàn chân thon, áo dài được thả xuống, được vuốt ve lại những nếp nhăn, vì qua khỏi Vạn Xuân là giao lộ của những con đường lớn, của đại lộ Trần Hưng Đạo thênh thang, của quốc lộ Một từ phía Phong Điền vào và từ trên Linh Mụ xuống, là nơi tiếp giáp với cầu Bạch Hổ, lối qua sông gần nhất của phía Bắc thành phố Huế, là nơi bắt đầu xuất hiện những bóng dáng nam sinh của Quốc Học, của Bình Linh, của Kỹ Thuật… Hình ảnh đáng ghét của mụ già điên gánh nước với nỗi phập phồng lo sợ, tan biến nhanh chóng nhường chỗ cho vẻ thẹn thùng, e lệ, khi có bóng dáng của các học sinh khác phái.
Cầu Bạch Hổ không phải là chiếc cầu được xây cất cho sự lưu thông bình thường của xe cộ và khách bộ hành, mà là lối đi độc đạo của những toa xe lửa tốc hành trên quốc lộ Một. Với lối đi nhỏ hẹp cho người bộ hành, cầu Bạch Hổ là nơi nhân hòa và địa lợi cho những lời tỏ tình vụng dại, những chân chim cuống quit và ngượng ngùng, những vướng víu va chạm của những tâm hồn chưa thân quen. Cầu Bạch Hổ cũng là một chứng nhân, qua bao năm tháng, kết quả đau thương của những mối tình không trọn, những kết liễu lìa đời theo giòng nước cuốn trôi đi. Cuộc hành trình buổi sáng như tăng thêm phần sinh động, khi nhập cuộc với những rộn rịp bụi bặm của sinh hoạt ở cầu Kho Rèn, hay nên thơ và huyền bí như ngôi nhà của người ca sĩ làng Liễu Hạ tên Hà. Những hội ngộ, những chia ly, nơi sân ga xe lửa. Và đây, là con đường áo trắng thênh thang với hai hàng phượng rợp bóng như lối dẫn vào thiên thai. Tại sao là đại lộ Lê Lợi? Thật khó mà có được lời giải thích ổn thỏa cho cái nguyên tắc liên tưởng hợp lý giữa hình ảnh oai hùng lẫm liệt của người anh hùng áo vải đất Lam sơn và hình ảnh những nàng tiên nữ yêu kiều! Tại sao lại không là đại lộ Ngọc Lan, Thiên Nga, đại lộ của những nàng tiên áo trắng vì bị các chàng Lưu Nguyễn Quốc Học phá phách nên đành bị đày xuống trần gian?
Còn ai lễ nghi, nền nếp nghiêm ngặt hơn những người sống kề cận nơi kinh đô triều đình điện ngọc. Còn ai thấu hiểu ý nghĩa cuả câu "nam nữ thọ thọ bất thân” hơn những ông quan bộ Lễ đại diện cho triều đình, ấy thế mà chỉ cách môt giòng sông, bên kia điện ngọc cung vàng uy nghi nghiêm ngặt, bên này “Quốc Học, Đồng Khánh thọ tương thân”, cách nhau đúng một cái dậu bìm bìm! Có mâu thuẫn không? Có khó hiểu không? Chắc chắn là không! Huế là rứa đó. Cái gì cũng có vẻ dị biệt nhưng không tương phản mà lại rất tương đồng, như trên mặt nước sông Hương hiền hòa, lặng lờ, lăn tăn gợn sóng để che dấu bên dưới là những luồng nước cuốn xoáy, để sẵn sàng làm cơn lụt mỗi năm. Huế là rứa đó, có chi lạ mô, cái gì cũng có vẻ huyền bí, lạ kỳ, nhưng không khó hiểu, như vành nón bài thơ quay đi e ấp chối từ, nhưng mắt huyền len lén liếc nhẹ đưa tình. Như tình người Huế không ồn ào vồn vã, nhưng bền bỉ lâu dài, dù lãng mạn nhưng chung thủy trọn vẹn.
Một ngày trong đời của Huế, của tuổi học trò sẽ không trọn vẹn, nếu buổi trưa không được đèo nhau trên xe đạp lên Làng Quán, làng Nguyệt Biều hái trộm dưa hường rồi đập vỡ ra ăn ngay tại chỗ. Buổi chiều sau giờ học, năm bảy đứa kéo nhau bơi lội trên bến Kim Long, để cho những chàng phi công trực thăng tưởng mình đã bay ra ngoài tầng khí quyển và đang lạc lối thiên thai. Những ngày cuối tuần đạp xe qua cồn Hến ăn chè bắp, hay lên Thiên An để nhìn xuống thành phố Huế ẩn hiện trong làn khói sương mờ như một bức tranh Thủy Mạc của Tàu, hoặc trèo lên núi trọc Ngự Bình, khi chân mỏi thì ghé vào quán mụ Rớt để thưởng thức món bánh nậm nóng hổi vừa thổi vừa ăn, và còn nhiều nhiều nữa…
Chì có người Huế mới có cái kiên nhẫn để nghe một người Huế kể chuyện về Huế. Chỉ có người Huế mới hiểu được cái tâm tình khúc mắc trắc ẩn của con gái Huế. Và cũng chỉ có người Huế mới hiểu được cái phong phú trong ý nghĩa và cái êm ái trong âm thanh của ngôn ngữ Huế, như chữ “Ai” trong thơ của Hàn mặc Tử “Vườn Ai mướt quá xanh như ngọc… Ai biết tình Ai có đậm đà”, hay: “Mời Ai ra ăn cơm tề... Ai mời Ai rứa… thì mời Ai chứ còn Ai nữa…”
Ấy thế mà đã có mấy người Huế chịu nhận rằng một người Huế khác kể chuyện hay và đầy đủ hơn mình. Đã có mấy người Huế chịu quý trọng, thương mến nâng niu và xoa dịu những tâm tình khúc mắc, trắc ẩn đó? Đã có bao nhiêu người Huế mà không hơn một lần cảm thấy tiếng nói mình lạc lõng xa lạ trong âm thanh ngôn ngữ của ba miền?
Huế chỉ thật sự đẹp, thật sự quyến rũ, thật sự đáng yêu, với cái nghĩa trọn vẹn của nó, trong lòng của cả người Huế lẫn du khách khi người ta không còn ở trên phần đất, dưới cơn nắng nung người của ngọn gió Lào, hay cái lạnh cắt da dưới cơn mưa phùn âm ỉ suốt mùa đông. Huế chỉ được ngợi ca xưng tụng khi người ta không còn ở Huế. Huế chỉ được yêu thương như một hoài niệm về quá khứ mà không được sống với, không được nhận diện như một hiện hữu có thật bên mình. Tại sao? tại sao người chỉ NHỚ Huế mà không THƯƠNG Huế? Tại sao? Ai mà biết vì răng!
Vì răng mà mấy chục năm rồi, từ khi bỏ Huế ra đi, có những lúc tưởng mình như đã không còn cái chất Huế đặc sệt nữa, để trở thành một cái chất Việt Nam rắn chắc bền bỉ. Bền bỉ để không bị “cuốn theo chiều gió” ngoại lai, rắn chắc để còn được hiện hữu sống còn, dù sống còn hiện hữu bằng chất Huế, hay Sài Gòn. Rứa mà, trong một ngày Xuân đẹp trời của miền Cali nắng ấm, Đại Hội Huế Hải Ngoại 2012, đã mang lại luồng gió mới, thổi bay đi những lớp bụi thời gian, làm sống lại cái chất Huế muôn thuở trong lòng mình. Và rồi tình Huế, tiếng Huế, người Huế rộ nở như những nụ tầm xuân chỗi mình sau những tháng giá lạnh lẽo của mùa Đông, đề từ đây, còn có một nơi chốn, một cơ hội cho cánh chim bằng trở về với mùa Xuân, như trở về thăm lại Huế xưa!
PHAN DỤY
HỒN ĐÃ ĐI VỀ ĐÂU?
Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.
Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nảy:
“Ông
nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”
***
Vào
dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề.
Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của
ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều
ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền
Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa
như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở
tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen
thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo
thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc
Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường:
một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất
nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá
hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục.
Vậy thì… họ đi đâu?
Họ
đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.
Mi
lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn
cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao
giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp
học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.
Cô
bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều
ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống
khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem
bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu
cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được
đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh
ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời
khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích
là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay
“cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành,
không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy
phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ
nhớ những câu rời rạc như:
Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở
khắp mọi nơi,
Ghé đây
đàm đạo chuyện đời trần gian...
…Hoặc hồn
ở đầu sông đầu suối
Hoặc hồn
nơi bụi chuối, cành đa
Hoặc hồn
nơi bóng xế chiều tà
Hoặc hồn
lãng đãng là đà mây xanh
Rồi
có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp,
qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những
chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.
Những
buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”
**
Khi
Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan
tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn
khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?
Má
và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được
siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp
người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu
năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất
mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng
người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn
toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?
Nhưng
có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai
lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi
lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã
trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!
Nỗi
đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời
khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được
lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có
hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông
vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân
yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng”
để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của
mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm
được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.
Mỗi
dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội
vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy,
ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn
thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của
mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.
Các
nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng
đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết.
Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là
trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã
“đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa.
Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm
qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết
anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được,
phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm
nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn
mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh
trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám
ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ,
cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!
Họ
đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người
còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My
Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết
bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua
đời.
Do
not stand at my grave and weep
I
am not there; I do not sleep.
I
am a thousand winds that blow,
I
am the diamond glints on snow,
I
am the sun on ripened grain,
I
am the gentle autumn rain.
When
you awaken in the morning's hush,
I
am the swift uplifting rush
Of
quiet birds in circled flight.
I
am the soft stars that shine at night.
Do
not stand at my grave and cry,
I
am not there; I did not die.
Và
nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác
khá sát ý bài thơ:
Đừng
đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi
đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi
trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong
lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
Đừng
đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi
đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi
nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong
thu êm dịu lất phất mưa giăng.
Tinh
sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi
là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời
lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như
cánh thiên di xa bay xứ lạ.
Khi
đêm tối buông lối anh đi về
Tôi
ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn
nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi
ánh sao xa góc trời mơ ảo…
…
Nghe
giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở
lại.
Mùa
Vu Lan 2026
Cam
Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Phim
“Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker
Bài
thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934
SÁCH MỚI
Friday, August 28, 2026
KHI CÁC NHÀ THƠ RA GIỮA PHỐ ĐỌC THƠ







