Nguyễn
Thị Khánh Minh
Nhà thơ NT Khánh Minh
Nếu
muốn tóm tắt Trôi Giạt, tôi sẽ nói
“Trôi
Giạt” là hành trình một người trở về, sống lại ký ức để tìm nguyên nhân của một
cuộc chia lìa, nhưng càng đi sâu vào quá khứ, anh càng nhận ra mình không tìm
thấy sự thật mà chỉ nhìn thấy những phiên bản của sự thật do chính ký ức và nhu
cầu tìm kiếm ý nghĩa của mình tạo ra. “Chuyến tàu” không đưa nhân vật đi qua
không gian địa lý mà đi xuyên qua những tầng của tâm thức, nơi quá khứ, hiện tại
và tương lai không còn trôi theo một tuyến tính thuận lý. Sau cùng, điều nhân vật
nhận ra là sự vô ích và sai lầm về những hình ảnh mà mình vẽ ra về nhân vật Liễu
lẫn chính mình. Điều tháo gỡ cho anh là gì?
Nhân
vật Tôi trong truyện ngắn này không được định vị theo thời gian và không gian
rõ ràng, người đọc xác nhận được anh ta đang làm gì, ở đâu, lúc nào bằng những
mảnh ghép ký ức trong hành trình lội ngược dòng của tâm thức.
Ngay
từ đầu, truyện đã phá vỡ trật tự thời gian hiện thực:
“Ba
tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.”
Lá
thư đến từ tương lai, tấm vé được mua bằng chính thẻ của nhân vật ở vào thời điểm
mà nhân vật chưa sống, và điểm đến là một nhà ga tên Trôi Giạt không tồn tại
trên bản đồ địa lý.
“Đấy
là lúc ba tháng sau khi Liễu bỏ đi.” Tôi
cho là sự thôi thúc một cách quả quyết muốn tìm được một giải thích cho nguyên
nhân của chia lìa mà nhân vật bị chìm đắm vào những suy tưởng, những giả thuyết
đủ sức lôi anh ra khỏi không gian và thời gian đang sống. Anh không hồi tưởng,
anh nhớ một cách sống động, và anh hoàn toàn tin là nó đã xảy ra, anh đã bước
lên tàu, đã đi -bằng một tấm vé ảo- chuyến tàu không phải là phương tiện di
chuyển đi từ A đến B, nó là phương tiện tâm linh đưa anh vào không gian của ký ức.
Nó lần lượt hiện lên, tự diễn tả, tự bôi xóa, và anh hiện ra bên cạnh những tâm
thái mà anh cho là phản xạ, người phụ nữ buộc tóc đẩy đến nhớ Liễu, một bài hát
dẫn đến hình ảnh một chuyến xe, mùi áo mưa lại toát ra từ Seattle, đôi tình
nhân cãi nhau, khả dĩ một chút hiện tại để nối kết anh với chuyện tình của
mình. Hình ảnh, ký ức, đan xen chồng lớp như anh tin rằng sẽ có được tia sáng
soi rọi những nhận xét giải thích mới mẻ cho những tình huống cũ, Người ta nghĩ
rằng anh đang cố khôi phục sự thật mà ký ức có thể quên. Dường như anh đau khổ
không chỉ vì Liễu bỏ đi, anh đau khổ vì không chịu được một sự kiện không có lời
giải thích hoàn toàn. Mỗi lần nghĩ đến những điều Liễu nói trước khi chia tay,
anh đã nghĩ nó theo nhiều kiểu khác nhau của chính anh chứ không phải bản chất
thật của lời Liễu nói, điều đó làm anh càng loay hoay trong mớ ký ức mà anh muốn
sắp xếp lại, được lựa chọn, cắt nối và diễn giải, tái tạo, thẩm định lại theo
chiều hướng mà suy nghĩ anh cho là hợp lý, như thể trong vô thức anh viết lại
quá khứ:
“Tôi
từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn
phòng được sửa mỗi đêm...”
Chính
vì thế mà anh sống trong ba tháng - “Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức
không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích”.
Việc
“dựng một Liễu hoàn chỉnh” khiến tôi nghĩ rằng, một điều xảy ra có thể chỉ được
hiểu sau đó. Nhưng sau khi đã hiểu, con người lại quay về sửa lại ý nghĩa của
cái đã xảy ra trước. Phải nói là anh xâm nhập vào quá khứ bằng nhiều cái tôi,
cho nên, Trôi Giạt không chỉ là nỗi bất định của sự kiện chia tay, mà nhân vật
trôi giạt trong những phiên bản của mình, giữa các điểm luôn dịch chuyển: hiện
tại - ký ức - diễn giải - ký ức được sửa lại- và rồi hiện tại.
Bà
cụ xuất hiện là một nhân vật siêu thực, như cái bóng trong hành trình của anh,
nhắc nhở, “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.” Nếu muốn tìm một điểm định vị
trong câu truyện này là chuyện bất khả, bởi đây không phải là một lộ trình được
hoạch định có chủ đích mà là một hành trình tâm thức, dẫn dắt bởi sự kiện chưa
tới, đã qua, hoặc đang đã, mong tìm được được một ổn thỏa cho những điều còn mơ
hồ, nhất là nhân vật lại là mẫu người “Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân
và ý nghĩa.” Và cái bóng kia thương hại: “Khổ. Cái gì cũng phải có nghĩa.”, bà
cụ này đồng quan điểm với Camus, cuộc sống vốn dĩ đâu có ý nghĩa nào định sẵn.
Cuối
cùng, anh cũng xuống cái ga không có tên trong bản đồ; Trôi Giạt. Đây là bến dừng
và cũng là điểm mở đầu của Trôi Giạt-, căn bếp nơi xảy ra cuộc nói chuyện của
anh và Liễu. Từ cái nút thắt ở căn bếp đó anh đi tìm cái gút để tháo. Và có được
sự bắt đầu cuộc trở về nội tâm. Tôi có nhận xét với kinh nghiệm rằng hầu như
người ta ai cũng có một cơ hội để bắt đầu một cuộc nhìn lại mình.
Đoạn
tôi thích nhất là nơi phòng chờ của ga. Những nút thắt từ từ buông lỏng theo những
bảng chữ “ngày cô ấy bắt đầu rời đi”, “lần cuối cô ấy còn yêu”, “người ở lại”,
“người bị bỏ”, “người yêu nhiều hơn”, nó khiến ta được hiểu là những khoảng thời
gian mấu chốt của từng giai đoạn, nhưng thật ra, đó là những nhãn tên mà nhân vật
đã gắn lên ký ức của mình. “Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác
được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu
muộn, người mang vết thương.”,
Và
câu trả lời trong sự xuất hiện tấm vé của Liễu, cô cũng xuống sân ga ấy, để rồi
anh thấm thía một điều mà ngay lúc đầu anh không hoàn toàn tin: “Vậy mà có một
chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và
tôi hoàn toàn không biết.” Cả Liễu và anh, đều từng khắc khoải và cùng bắt đầu
cuộc tìm kiếm mình là ai. Chí ít đây là sợi chỉ mỏng nhất để hai nhân vật gặp gỡ,
nhận thức về tâm trạng cô đơn hiện sinh của phận người. Trên cùng một đường ray
ấy, anh vỡ ra: “Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần —
không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.”
Từ
đây, ký ức không còn là những chất vấn, không còn đối tượng người bỏ đi, người
mang vết thương. Có những mất mát ta không thể chữa lành bằng cách hiểu cho hết.
Đôi khi điều cần buông không phải là người đã rời đi, mà là câu chuyện ta đã dựng
lên về họ — và về chính mình.
“Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để
chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi
liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ
chính những mảnh chuyện kia hay không. Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng
xuống, còn gì?”
Cái
lạnh người ấy là một thức tỉnh sau cơn hôn trầm của lý lẽ, của giải thích. Phải
nói là sống thêm lần nữa quá khứ, xem như là một thử thách, một chiêm nghiệm về
chân sự thật, và về cái Tôi đích thực hơn. "Mây trên trời trôi một lần. Xuống
nước trôi thêm lần nữa." Xuyên qua lăng kính của nhau, chúng biết rõ hơn
bóng và hình, và có lẽ ngưởi đang chạm được đến tự do khi hỏi,“nếu bỏ chúng xuống,
còn gì?”
“Điều
kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng
sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng
đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.”
Đoạn
văn đầy tính văn chương trong một hành trình gập ghềnh, nó mang nghĩa tích cực
của một người tưởng như sự lưu vong trong suy tưởng đã bào mòn mình.
Điểm
tôi thích nhất là tác giả không cho nhân vật “ngộ” bằng một lời giải thích; anh
chỉ ngừng đưa tay giữ hai tấm vé.
“Hai
tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi
đưa tay định giữ.
Rồi
thôi.”
Ba
câu rời. Thời gian và nhân vật lúc này điềm tĩnh. Không hối hả, không bồn chồn,
thong thả theo từng dấu chấm xuống hàng. Ngữ điệu, ngữ cảnh “rồi thôi” ở đây
cũng đầy Thiền vị.
Chính
cái “rồi thôi” ấy có sức nặng hơn rất nhiều chữ tha thứ, hiểu ra hay buông bỏ.
Và
tôi hiểu, một điều quan trọng nữa: Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần
này tôi không mời chúng vào. Và, “có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi
không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.”
Phải
chăng tác giả muốn nói đến, sự biến chuyển trong sát na khi ý tưởng nói nên Lời?
và cả sự giới hạn của Lời? Theo tôi, đây cũng là quan niệm của nhà văn nhà thơ
Tô Đăng Khoa khi khởi xướng dòng thơ DạKhai.
NTKM
Upland,
tháng 8.2029




.webp)


