Sunday, June 21, 2026

NHỮNG KHÚC BIẾNTẤU

nguyễnxuânthiệp
 
Sông Giăng. Nghệ Tĩnh
 
TING CHIM & ĐÔI MT
 
    *gởi người ngày xưa
 
tiếng chim. tiếng chim
trên cành bàng
một sáng mùa thu
ngồi bên khung cửa lớp học
cô bé chợt nhìn lên
bầu trời cổ tích
 
đôi mắt. và tiếng chim
từ đó. nằm trong bóng lá
tôi làm tên hề của tranh chagall
leo lên cây
hái được
mang theo
trong hành trang. rách rưới. đời mình
làm người nghệ sĩ troubadour
chiều. trên quảng trường thời đại
ngồi ôm đàn
hát
bên chiếc nón
có những đồng quarter
và tờ bạc lẻ
cùng với tiếng chim
và đôi mắt
ngày nào
Đầu thu 2017
 
 
PH ÔN NHƯ HU
 
hồn trà mi
phố khuya
tôi đi từ cổ độ
về qua lối phù dung
thấy ngọn lửa vô thường. cháy
gầy. yểu
mảnh trăng treo nóc nhà
lặng nghe
mùa trong cây
ngọn gió thu thổi rộn, rạp mái đường thi
gạch trong gạch. đá rổ. tường so le
khúc khủy. lối xe bon
cành khô gãy
dội âm u. phố người
mấy thuở chưa phai vệt máu ngày đi
thời gian
thời gian
mở mắt
những ngọn đèn. cửa ô xưa
xanh cây. xanh khuya
phần thư xanh
về phố ôn như
 
hỡi ôi
một lần qua cầu thệ thủy
thấy người
và mây
trôi
trôi hết những tà huy
1990
 
 
CHIU BÊN SONG GIĂNG
 
Bên bờ sông Babylon       
     Ta ngồi ta khóc
                          (Psalm 137)
1.
buổi chiều bên sông giăng
ta ngồi ta hát
khúc hát buồn chia đôi
một nửa. theo dòng sông
một nửa. vương bãi bờ
dòng sông thì mãi trôi đi
riêng mình ta dừng lại
 
buổi chiều chở cát bên bờ sông giăng
ta ngồi ta khóc
trông về phương nam
ngọn gió hoan châu. rào rào cát chạy
nghìn dặm. bóng chim bay. nước sóng sánh bờ
những tấm lưới giăng qua ngày rộng
chiều lên
chiếc thuyền ai đỏ lửa
và vệt khói mờ trong mắt ta
dưới trời xưa. cuộc động quan. có phai
                                                  vàng. nát đá
giọt lệ nào rơi. chiều nay
ta xót ta. thân dã tràng. xe cát
biển đông. sóng dội. xô bờ
nỗi oan khiên một thời không bóng vang
 
buổi chiều. vớt sỏi. dưới lòng sông giăng
ta cười trong tiếng sóng
ai kia. đưa ta lên rừng
ai kia. đưa ta ra đầu ngọn suối
tượng đài ngươi đọ được với thời gian
tiếng cười ta
đánh thức. lớp cuội mòn. chiều nay
bia đá nghìn năm. bồi hồi. xao động
nói gì với mai sau
nói gì với các thị trấn bên bờ nước biếc
một tiếng cười dài. vang vọng. hư không
 
buổi chiều. kéo gỗ. bên bờ sông giăng
ta đọc bài cổ thi
câu nhớ. câu quên. lời tan trong gió
lòng ta ơi. mãi không yên
nghìn năm. cơn đau. sóng vỗ
 
chiều bên sông giăng. và ta
chiều động giấc mơ ngàn
hồn ta theo trăm cây gỗ lớn
gập ghềnh lối voi đi. trâu kéo. mưa nguồn
giăng giăng bến cát
những ngày qua. nằm dưới cơn mưa cố lũy
trắng trời lau thưa
mắt gỗ vàng. và mắt ta. qua thế kỷ
đã thấy vết chàm in sậm mặt người
 
buổi chiều bên sông giăng
chờ một vầng trăng mọc
chưa kịp nhìn trăng. trở gót ta về
hẹn với khoang thuyền khuya nay
hẹn cùng dòng sông. và bè gỗ
đón cho ta vầng trăng
một thời ngủ mê trong cơn sốt đỏ
giấc mơ ta ơi còn lại chiều nay
 
2.
chiều tháng ba. sấm động
ta kẻ cuối cùng rời bãi sông giăng
bước mỏi. trèo lên quán dốc
nhìn nước. nhìn trời. trời nước mang mang
hồn xưa chợt hiện
voi thiêng nghìn cỗ. bằng ngàn
rú gầm
ngả rạp. rừng trâm hương
quan san
quan san
rùng rùng vó ngựa
chớp ánh lửa nguồn
ta gọi ai
ai gọi ta
những cõi người thất lạc
này tiền kiếp của ta ơi
thức dậy
thức dậy. cuộc diễu hành qua cõi đá vàng
ta thấy ta đi trên dặm trường sa mạc
ta thấy ta đi tận cuối rừng lau
theo ta đám dân du mục đói nghèo
đã khuất dưới trời đại nạn
ta thấy ta đi giữa rừng tuyết ủng
áo rũ bạc màu trăm mảnh xác xơ
mặt mũi gầy nhom
đâu cô bé chăn dê cho ta bầu sữa
hồi sinh. giữa giấc. càng đau
lá bối chép kinh đã tàn ánh lửa
riêng một góc đời chưa rạng chiêm bao
 
chiều sông giăng
tháng ba ù ù sấm động
những tấm lưới phơi giờ xếp lại
thuyền về bến xa
ai thổi lên cho ta chiếc còi vỏ ốc
âm thanh khuất cuối bãi ngàn
năm năm đời ta ngọt bùi chẳng biết
đường đi. mỗi bước. một dài
lán cỏ. giường tre. cơn mơ đã mỏi
đợi một tiếng gà mòn giấc canh khuya
năm năm. những chíếc roi. quất ngược
cửa hiện thời búa bổ. ngày rơi
chiều bên sông giăng
tháng ba bồi hồi sấm động
màu ráng trời rớt xuống hồn ta
cháy đỏ
những vệt sầu cổ thi
này hiền sĩ xưa ơi. cuộc lãng du ai
        quên nỗi đói nghèo. ngày lại ngày
        dắt lũ chó vàng đi săn chồn cáo. bước
        chân qua chín mươi chín ngọn non
        hồng
chiều đang gọi qua truông
về chưa. về chưa
tháng ba. quanh trời. sấm động
chiều nghi xuân. u uất. màu mây
ai xưa. múa con dao dài. chặt giang đốn
           củi. ngày ngày theo ông vượn vào
           hang sâu. nhặt trái gấm ăn xót dạ.
           hồn xanh đắm giạt mây ngàn
ngày về chết bãi sông tương
tràng an ơi. san sát bờ lau sậy xa
thơ ai. chảy máu bầu trời
 
ôi nguyễn du. đỗ phủ
tôi nay cùng đường
dừng lại bên sông
hái ngọn rau lang. chiều reo. mệt lả
gọi cùng mây nước trôi đi
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây. giăng qua trời rộng
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng. qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở
                          ra khi chiều tối
 
chiều sông giăng
ai trên đường về. nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa. rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió.
                                     qua khuya
bởi trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương
tháng ba ơi
bông nhãn đã tàn
bông muối rụng dày trên mặt đất
lòng ta. chùm bông giẻ. chiều nay
phai rũ
quê nhà có còn áo phơi
hay đã bay lên trời.tắt nắng
thoảng mùi nhựa thông trong ký ức
mùi hương ấu thời
hương những đồng cỏ cháy ban trưa
tuổi nhỏ ta về dưới mái tranh gió thổi
nụ cười trong mơ
thôi đã tắt hết. sắc màu. mùi hương. ánh sáng
đêm nay áo mỏng thân gầy
nằm nghe. chớp bể mưa nguồn. về tự
                              sông giăng
dưa muối quê người lòng ta càng xót
em dưới trời cố quận
có cùng nghe. sấm dội. chiều đi qua
 
3.
hẹn mùa sau hái bông giẻ vàng
thả trôi theo dòng nước sông giăng
mùi hương ngái tự trong lòng đất
bao năm rồi không tan
của ta. một chút tình hoang dại
của thể kỷ này. một nỗi sầu vang
gửi tặng em. tặng đời u uất
một chiều nào chết bến sông giăng
NXT
Nghệ Tĩnh, 1980
 
Mời nghe Chiều Bên Sông Giăng. Từ Công Phụng phổ nhạc và hát
 

Saturday, June 20, 2026

ĐOẢN THI THEO NHỊP MÙA

nguyễnxuânthiệp
 
Cây bông sứ
 
BÂY GI CÒN KHÔNG
 
Này em
bây giờ còn không
cây hoa sứ
dưới bóng chùa xưa
để anh về đứng
nghe quỳnh giao hát
bài thơ vương phủ
chợt thấy
vạt nắng vàng
thời nhỏ
phơi trên hàng dậu
cánh bướm nào. bay qua
 
 
LI T LI
 
một ngày của tháng ba
nắng đỏ, đầy sân. hoa gạo
ngồi đọc lại. những trang giai phẩm
có bluebonnets, nắng thơ tôi
và ảnh bóng. đinh cường. mai thảo
nhưng không thấy
cành mai sân trước
và bóng dòng sông xưa
bức xúc. bức xúc
xin gởi lời tạ lỗi
với tô thẩm huy
hồ đình nghiêm
ôi. những bạn hiền. lòng này hằng yêu quý
 
 
TÔI NGHE. TING CÒI TÀU
 
J’entends siffler le train
tôi nghe tiếng còi tàu
ôi. cô bé với chùm hoa dại. trên sân ga
chờ tiễn ai
 
như em. ngày nào
ở sân ga phố biển. hồn vương. chiếc khăn tay
                                    màu đỏ
đưa tôi đi
một thời để yêu. một thời để chết
cô bé ngày xưa. không lớn nữa
em vẫn ở trong thơ tôi
sương trúc
với tiếng còi tàu
mãi âm vang
j’entends siffler le train
 
 
HOA QU. T K ĐÁ
 
buổi chiều
đứng ngắm
bông dã quỳ
mọc từ kẽ đá
hồn tịch lặng
ôi. đá xưa. đâu. người
NXT

NHÀNH OẢI HƯƠNG

nguyễnxuânthiệp
 
Hoa Oải hương. Lavander
 
Trong một bài Tản Mạn, Nguyễn tôi có nhắc tới nhành oải hương khi viết về mùi hương cỏ.
J’ai cueilli ce brin de bruyère (Apollinaire) Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Mới đêm qua, trong ánh trăng thượng tuần, cô gái ấy đến bên bụi hoa oải hương (lavender) trước nhà ngắt một nhánh nhỏ nói với người yêu ở xa: mùi oải hương thơm ngát dưới ánh trăng, em tặng anh chùm hoa này nhé…
Phải rồi
đêm. trong khu vườn của hoa oải hương
những ngọn đèn. thắp sáng lối đi
có ai vừa nhóm lên bếp lửa. hồng. cổ tích
 
    Và trong không khí cổ tích ấy, Nguyễn thấy mình cầm nhành hoa oải hương đi vào giấc mơ
anh sẽ cầm
nhành oải hương
đi vào giấc chiêm bao
em có nhớ
nhành oải hương
em đã hái cho anh
một đêm. trăng thượng huyền
bên hiên nhà
   Thật ra đây không phải là lần đầu mình nói tới hoa oải hương. Còn nhớ một bài thơ của Nguyễn có tựa đề Biển Laguna. nhánh hoa Lavender vẫn trôi trên bờ sóng. Và trong một bài khác,
hình như giờ này những bụi hoa lavender. trước ngôi nhà thờ cổ. vẫn còn thức
cây bàng vương phủ còn thức
anh ngồi đây tự hỏi
cây đàn cello trong tay người nghệ sĩ của tranh modigliani còn thức không
những dòng chữ trong thơ anh còn thức không
mà anh nghe vọng tiếng khóc than
    Hoa oải hương - lavender là loại cây bụi có mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. Như một loài dược thảo, hoa oải hương được dùng từ 2,500 năm nay. Ở những thời xa xưa ấy, người Ai Cập, người Phoenicians, người Ả Rập dùng oải hương để ướp xác và làm nước hoa cho đàn bà. Tương truyền nàng Cleopatra đã dùng loại nước hoa này để quyến dụ Julius Caesar và Mark Antony. Người La Mã thì dùng dầu oải hương để tắm, nấu ăn và ướp thơm nhà cửa, quần áo. Suốt thời Trung Cổ, nó được xem như là thứ thảo dược của tình yêu (herb of love). Do mùi hương thơm sạch và tính chất đuổi côn trùng, nó là loại thảo mộc được ứng dụng rộng rãi. Nó từng được dùng để sát trùng vết thương trong thời chiến. Oải hương cũng là một loại cây phổ biến trong vườn cảnh. Oải hương còn được gói trong những túi thơm để chống những con nhậy (cắn quần áo) và tạo nên mùi thơm cho căn phòng, quần áo. Hàng thế kỷ nay, oải hương đã được dùng như một loại thảo mộc kẹp trong nhà bếp. Trà làm từ những bông hoa có tác dụng làm dịu cơn nhức đầu. Nước rửa mặt từ hoa oải hương kích thích tế bào phát triển và giúp chống mụn.
    Những bó hoa oải hương cũng được trao cho các cặp vợ chồng mới cưới để mang lại may mắn. Và rắc tung những bông oải hương khô trong nhà được cho là mang lại sự hoà thuận, bình yên.
     Đến mùa hoa, ong bướm lại bay đến rập rờn. Hoa oải hương thơm nức, là một trong những loài hoa nổi tiếng dùng để chiết xuất tinh dầu làm nước hoa.
   Oải hương là một trong những loài thảo mộc thiêng liêng giữa mùa hè. Người ta nói rằng Đức Mẹ Đồng Trinh đã trải những chiếc tã quấn khăn cho em bé mới sinh của mình trên những cây oải hương nên tã và khăn có mùi thơm ngát. Cũng từ đó người ta tin rằng cây oải hương có tính linh thiêng. Nó được dùng để trừ điều dữ điều xấu. Trong nhiều gia đình Công giáo, người ta treo một cái thánh giá bằng cây oải hương để được an lành. Oải hương cũng thường được nhắc đến trong Thánh Kinh. Với cái tên spikenard sách Luke kể rằng: "Rồi bà Mary dùng dầu oải hương (spikenard), rất quý và mắc tiền, để rửa chân cho Chúa và lấy tóc mình lau, không gian tràn ngập mùi hương hoa dại. Người ta cũng nói cây oải hương được Adam và Eva lấy từ vườn địa đàng.
     Có lẽ cây oải hương thoạt đầu do những thương nhân Ả Rập đưa từ Hy Lạp qua Âu Châu. Khoảng năm 600 trước Công Nguyên nó tới Pháp và được yêu mê do đó ngày nay có rất nhiều oải hương tràn ngập đất Pháp nhất là miền Provence ở về phía Nam có rất nhiều ruộng oải hương. KMinh ơi, có phải trong một lần sang Pháp thăm anh và em trai, em đã từng đứng ngẩn ngơ như bị hút hồn trước những cánh đồng oải hương ở Toulouse và miền Provence. Và khi về lại em đã ôm theo cả một bó lavender lên máy bay khiến những người đồng hành cũng ngẩn ngơ theo em. Ôi phải chi anh là họa sĩ anh sẽ vẽ lại bức tranh ấy, chắc chắn nó sẽ tuyệt vời biết bao. Trở lại với “chính truyện”, tại các nước Tây Ban Nha, Ý và Anh cũng trồng rất nhiều oải hương. Hoa oải hương được đưa vào Mỹ cùng thời với những Pilgrims đến từ Anh. Riêng ở Âu châu, suốt thế kỷ 13 và 14, oải hương được trồng trong vườn của các tu viện để dùng chữa bệnh.
   Tới đây, Nguyễn xin kể một chuyện tình trong phim của Trung Hoa có tựa đề Hoa Oải Hương (Huân Y Thảo), một chuyện tình buồn cũng như tình mình vậy: Từ khi được sinh ra, Dĩ Huân và chị gái của cô, Dĩ Thần, đã bị mắc bệnh tim, căn bệnh khiến họ không thể chạy hoặc tham gia các hoạt động giống những đứa trẻ bình thường khác. Bởi vì căn bệnh này, Dĩ Huân đã bị các bạn cùng lớp xa lánh. Dĩ Huân chỉ có một người bạn duy nhất, đó là Quỷ Tinh Xuyên. Khi Tinh Xuyên và gia đình chuyển đến sống ở Mỹ, Tinh Xuyên đã tặng cô bé một chiếc lọ nhỏ đựng hoa oải hương, coi nó như một vật kỷ niệm rằng cậu sẽ không bao giờ quên cô bé. Tinh Xuyên hứa với Dĩ Huân rằng cậu sẽ quay trở lại gặp Dĩ Huân vào ngày sinh nhật tuổi 20 của cô.
   Nhiều năm sau, Tinh Xuyên trở về Đài Loan, nhưng lần này trong danh phận là một ca sĩ nổi tiếng, Leo. Leo cũng không quên lời ước hẹn của mình với Dĩ Huân. Sau một số hiểu lầm, cả hai đã gặp lại nhau. Nhưng với sự hiện diện của Tiểu Đồng, cậu chủ nơi Dĩ Huân làm việc, người vẫn yêu thầm cô bấy lâu, và bạn gái của Leo, Maggie, rồi lại thêm căn bệnh hiểm nghèo của Dĩ Huân, liệu họ có thể tìm lại được tình yêu và sống bên nhau mãi mãi được không... Câu trả lời cũng mong manh như nhành oải hương của mình vậy.
   Vâng, xin trở lại với nhành oải hương em đã hái tặng anh:
anh và nhành oải hương
sẽ đi vào giấc mơ
gặp những chú vịt nhỏ lông vàng
cô bé đi dạo chơi trên bờ biển. có bóng những cây dù. và đàn hải âu bay lượn
thêm những cánh diều
anh cũng gặp. chú bé. con ong nhỏ. và những chiếc lá vàng
như trong thơ emily dickinson
trong giấc mơ. màu tím hoa oải hương ấy
sẽ không có chia ly
và cái chết
không có lệ hoen. trong chiều
em ơi
 
June 2013
NXT

T Ô I S Ố N G . N H Ư T H Ơ

nguyễnxuânthiệp
 
Poetry painting
 
tôi sống như thơ
những hồi ức về em được làm bằng sợi nắng.
             căn phòng mặt trăng. màu của tranh chagall
xa. trong mắt em ngày nào. rực cháy những cánh hải âu. chiều tà
vàng cây. bản serenade. tiễn đưa
vâng. em là mùa thu của trí nhớ
tôi
với chiếc mũ xám. và áo khoác sờn vai. tiếng ho khan
đi trong chiều nhạt nắng
nhớ và quên
 
tàn thu
đông tới
không còn những chiếc lá trên cây
chỉ còn ký ức
của một thời vắng bóng
không còn thấy cổng trường. xưa
không nghe tiếng ve
những bông phượng đã ố. tàn
bức tường rêu. xám
tôi đi tìm tờ báo ướt. có in bài thơ. viết năm mười lăm tuổi
của tôi
không ai còn nhớ
âm. tiếng đàn vĩ cầm của người nhạc sĩ. bệnh ung thư
âm. mùi trà. những cánh tường vi. màu vàng
âm. căn gác của sách báo. cây đàn gỗ chùng dây
và mùi tóc. mùi da. của những sớm mai
tôi muốn khóc
những con chim sẻ. mùa hè. đã chết
về đâu
về đâu
NXT
Mùa đông 2015
 
 

ĐỌC THƠ NGUYỄN XUÂN THIỆP

Việt Phương
 
NXT & Việt Phương
 
Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp
Quê quán ở Huế
Làm thơ đăng báo từ trước năm 1954
Học ở Huế và Sài Gòn
Dạy học ở Mỹ Tho, nhập ngũ 1963, làm phát thanh
Quân đội ở Pleiku, Đà Lạt, Sài Gòn.
Tháng 5, 1975 đi tù chế độ cộng sản tới 1982
1995 sang Mỹ - in thơ ở văn học, Thế kỷ 21, Hợp Lưu, Văn…
Chủ biên tạp chí Phố Văn từ 2000-2008
Hiện định cư cùng gia đình ở Dallas, Texas, làm việc với báo Trẻ.
 
Đó là tiểu sử ông cho in rất ngắn gọn sau bìa sách. Tác phẩm của ông gồm:
Tôi cùng gió mùa, (nhà Văn Học, Cali, 1998))
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp,  (phố Văn, 2012)
Tản mạn bên tách cà phê, (tạp bút, Trẻ , 2012)
 
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp như những bức tranh siêu thực với màu sắc táo bạo. Trong những bức tranh (thơ) đó, đa số, ông dùng màu nóng (đỏ, vàng, vàng nâu).
Mỗi lời thơ là một nhát cọ mạnh, gọn và dứt khoát trên canvas, để lại ấn tượng sâu sắc:
“bạn vẽ
mảnh trăng
như chim
chết treo đầu ngọn khô
những bóng người. những vệt màu vàng
cầm đèn. đi trong mưa”
(Trong Garage Đinh Cường, tr. 103)
 
Hoặc
“rạng đông. mặt trời bị treo cổ. trên bức tường nhà
hát lớn”
(Chiều Qua Ngõ Blues, tr.152)
 
Những câu thơ gẫy gọn, mang đầy hình ảnh, làm ta liên tưởng đến những bài thơ Haiku của Masaoka Shiki (1867-1902).
“Hanging a lantern
On a blossoming bough, -
What pains I took!”
(Treo lồng đèn
Trên cành cây trổ hoa,-
Nỗi đau này tôi hái!)
Việt Phương dịch từ bản tiếng Anh trong cuốn “Silent Flowers” (Dorothy Price, Hallmark Card. Inc. xuất bản tại Hoa Kỳ 1967).
 
Thơ ông, với lối ngắt câu và không khí trong thơ có lúc mang hơi hướm của nhà thơ người Chile, Pablo Neruda (1904-1973), Nobel văn chương năm 1971:
“Pure wisdom
of someone who knows nothing,
and suddenly I saw
the heavens
unfastened
anh open”
(Memorial de Isla Negra, 1964)
Trans. Alastair Reid
(Trong trí tinh khôi
của một người không biết gì hết,
và Tôi bất ngờ thấy
thiên đàng
buông xả
và rộng mở)
Việt Phương dịch
Thơ ông còn nhuốm màu triết lý hiện sinh mà theo Jean-Paul Sartre trong bài viết “L’existentialisme est un humanisme”
(Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản)
Thuyết hiện sinh đã tràn vào miền Nam Việt Nam trước 1975, với những cuốn sách của Albert Camus (1913-1960, Nobel văn chương 1957), được dịch ra tiếng Việt, thấm vào tư tưởng của những người trí thức miền Nam mà trong đó có ông. (Thi sĩ Bùi Giáng là người đã dịch nhiều nhất tác phẩm của Albert Camus thời gian đó, 7 cuốn):
“cơn bão một thời. thổi qua đất nước. thổi qua
thanh xuân. cũng đã ngừng im
mừng chúng ta còn sống sót “
(Bài Ngợi Ca
Trước Bình Minh, tr. 53)
Không một lời than van. Nhưng đọc những câu thơ trên, chúng ta bỗng thấy buồn. Nó như một tiếng thở dài. Rất khẽ.
“ôi. măng đầu mùa. như trăng. sao chẳng ngọt
mà đường về. hoa ác. đong đưa
thế kỷ. người cày những cánh đồng chết
người đuổi người. đi về biển xa”
(Tâm Khúc Cho Một Nhà Văn, tr. 58-59)
Ông viết về những người Việt, bạn bè lưu vong như những người Pilgrims từ England trên chiếc tàu Mayflower đi tìm Tân Thế Giới, tấp vào Cape Cod, Massachusetts năm 1620, nhân một chuyến viếng thăm bạn bè ở thành phố Boston, thuộc tiểu bang này:
“này anh em. bạn bè
chúng ta đã đi hết biển
qua các đại dương. và châu lục
không về lại mái đình xưa
bá ngọ
thời của quỷ
ngói lở. cột xiêu. sen tàn. mùa hạ chết
để gặp nhau đây. điểm hẹn boston
con tàu may flower . bắc qua thế kỷ. ký ức của
tiếng sóng bờ xa”
(Chào Boston. Chào Bạn Bè. Tr. 61)
Thơ ông chuyên chở một màu vàng rực rỡ dưới ánh hoàng hôn. Hoa dã quỳ vàng được ông dùng rất nhiều lần trong thơ. Ông vẽ lại bức tranh của danh họa Van Gogh với những nét chấm phá siêu thực:
 “bỗng gặp. bức tranh. van gogh
crows over the wheatfield
những cánh quạ trên đồng lúa
vàng dã quỳ
màu nắng. điên
em. làm sao tìm lại được giấc mơ. trong mắt loài
chim dữ”
(Crows Over The Wheatfield, tr. 187)
 
Thỉnh thoảng, ông có xen vào vài bài thơ ngũ ngôn phá cách đầy tính sáng tạo:
“anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua
anh chết. hồn dã quỳ
chắc bây giờ thấy nhớ”
(Nhặt Trái Thông Khô, tr. 33)
Thơ ông, với những dấu chấm. Thảng thốt. Đôi khi như ánh mặt trời chìm trong mặt hồ tĩnh lặng. Tạo ra tiếng vô âm. Tiếng lòng. Nhưng khẽ khàng. Khoáy động trong tim.
“em đứng. giữa rừng hoa dã quỳ. đỏ
tưởng niệm tôi
xin đừng khóc
ngày đã tàn. và ngày sắp rơi
cô bé đi vớt mặt trời
không về nữa…”
(Dã Quỳ Đỏ, tr.69)
Thơ ông như một cuốn phim noir với quá khứ và hiện tại lẫn lộn. Nhiều flashback tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ:
“gọi em dậy
từ chiêm bao
rạng rỡ
con bướm. đậu trên đầu cán cuốc
của người tù
đã bay đi về cõi không màu
và. vầng trăng đã đi qua bãi mía “
(Gọi Em Dậy. Tr. 72-73)
Hoặc:
“chiều nay
tôi đi
những cây myrtle vật vã trong mưa
bên kia con lạch. dòng xe cộ vẫn nối đuôi nhau
một chiếc xe buýt vừa dừng lại
dường như chiếc buýt đã chạy không ngừng. từ thanh xuân tôi ở ngã tư phú nhuận”
(Ngày Cây Xuống Tóc. Tà Huy, tr.164)
Thấp thoáng trong thơ ông những địa danh tôi từng đi qua. Những nhân danh tôi từng biết đến. Nó đưa tôi về những lối xưa, với những bước chân quen, tạo một sự cộng hưởng. Một sự rung động. Của một bản giao hưởng mà cường độ âm thanh đã hòa vào nhau, với cùng một thẩm âm.
Thơ ông cũng dắt tôi về lại những cánh đồng dã quỳ vàng và bầu trời rạng vỡ, với những cánh chim đã bay đi. Bằn bặt.
VIỆT PHƯƠNG
Nửa đêm thức giấc
8/21/2025