Sunday, October 11, 2026

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 
VĂN HỌC PRESS
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA *Vmail: +1-949-981-3978
*email: vanhocpress@gmail.com * Facebook: Van Hoc Press
 
Trân trọng giới thiệu
JAMES JOYCE
Dubliners
Những kiếp sống mòn
Tập truyện
 

 
TRỊNH Y THƯ dịch & giới thiệu
Tranh & thiết kế bìa ĐINH TRƯỜNG CHINH
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026
 
LỜI NGƯỜI DỊCH
 
Trước khi vào sách
 
Tập truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện, những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức tạp, ghi lại nỗi tuyệt vọng câm lặng và nỗi thất vọng âm ỉ của cuộc sống bị mắc kẹt trong một vòng xoay trì trệ dường như không lối thoát.
 
Sự quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.
 
Những nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực, dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về sự vỡ mộng của thành phố Dublin.
 
Những câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những trận mưa, thay vào đó là sự chấp nhận cái tầm thường một cách đầy cam chịu. Tiếng cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ bên dưới bề mặt.
 
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
 
Dubliners không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.
 
Người đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc của kiếp người.
 
Tập truyện này của Joyce được giới phê bình văn học đánh giá như là sự đổi mới trong văn học, với việc Joyce sử dụng các kỹ thuật hiện đại và phong cách tự sự đặc biệt mà sau này trở thành dấu ấn trong các tác phẩm văn học khác của ông. Xuyên qua việc khám phá những điều tầm thường lẫn phi thường trong cuộc sống của người dân Dublin, Joyce đưa ra một bình luận sâu sắc về thân phận con người. Với một văn phong gợi cảm và cái nhìn xuyên thấu tâm lý con người đã biến Dubliners trở thành một tác phẩm văn học kinh điển được ca ngợi và có sức sống trường tồn trong nền văn học Tây phương.
 
*
 
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ JAMES JOYCE
 
 

 
James Joyce là một nhà văn được xem là tiên phong của chủ nghĩa Hiện đại. Những cách tân của ông trong phong cách tự sự, đặc biệt là kỹ thuật “dòng ý thức”, đã đưa ông trở thành một trong những tác giả tầm vóc đặc biệt, có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.
 
Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882 tại Rathgar, Dublin, là người con cả trong một gia đình Công giáo đông con và gặp nhiều khó khăn về tài chính. Ông theo học tại trường Clongowes Wood, trường Belvedere, và sau đó là Đại học Dublin (University College Dublin), nơi ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại.
 
Năm 1904, Joyce rời Ireland cùng vợ là Nora Barnacle, bắt đầu một cuộc sống lưu vong tự nguyện tại lục địa châu Âu. Ông đã sống tại Pola, Trieste, Zurich và Paris, chủ yếu tự nuôi sống bản thân bằng nghề dạy tiếng Anh. Trong những năm tháng này, ông đã sáng tác và xuất bản những tác phẩm định hình cho nền Văn học Hiện đại Tây phương.
 
Văn phong của Joyce định hình hình thức tự sự xuyên qua kỹ thuật độc thoại nội tâm, các cấu trúc biểu tượng và những thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ. Các tác phẩm chính của ông bao gồm:
 
• Dubliners (1914): Tập truyện ngắn khắc họa sự trì trệ, bế tắc trong đời sống tại Dublin.
• Portrait of the Artist as a Young Man (1916): Tiểu thuyết mang tính bán tự truyện, theo dấu quá trình trưởng thành và phát triển của nhân vật Stephen Dedalus.
• Ulysses (1922): Thiên sử thi Hiện đại mang tính đột phá của ông, tái hiện hành trình tương tự như trường thi Odyssey của Homer nhưng diễn ra chỉ trong vỏn vẹn một ngày tại Dublin.
• Finnegans Wake (1939): Tác phẩm mang tính thử nghiệm cao, là một câu chuyện kể về giấc mơ được thể hiện qua sự pha trộn của nhiều ngôn ngữ khác nhau.
 
Trong Thế Chiến thứ nhất, Joyce dành phần lớn thời gian sinh sống tại Zurich, sau đó chuyển đến Paris và sống tại đó cho đến năm 1940.  Ông qua đời tại Zurich vào ngày 13 tháng 1 năm 1941 sau một ca phẫu thuật điều trị chứng loét dạ dày.
 
Joyce được tôn vinh là một trong  những nhà văn quan trọng nhất của trường phái Hiện đại trong văn học, được ngưỡng mộ nhờ những kỹ thuật tự sự mang tính cách tân đột phá, cùng chiều sâu tâm lý và sự sáng tạo vô biên trong ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục định hình nền văn học, lý luận phê bình và thực hành nghệ thuật trên phạm vi toàn cầu.
 
*
 
Dịch Dubliners
Tại sao dịch Dubliners? Câu trả lời là tại sao không? Một tác phẩm kinh điển được cả thế giới ngưỡng mộ và dịch, rất xứng đáng được đọc và dịch (thực ra, dịch là đọc một cách kỹ lưỡng hơn).
 
Tập truyện Dubliners có đặc tính là đằng sau những hành động, những tự sự miêu thuật bình thường, thậm chí tẻ nhạt, là tiềm năng diễn giải phong phú của câu chuyện, một câu chuyện luôn liên quan đến cuộc sống. Đối tượng của văn học ở đây luôn là con người. Một trong những dấu ấn của Joyce trong văn chương là không bao giờ để lộ một chủ ý rõ rệt nào mà luôn “mở” cho người đọc tùy nghi và tùy tiện diễn dịch hoặc phỏng đoán. (Một giai thoại không rõ có đúng không là: Có người hỏi tại sao ông viết cuốn tiểu thuyết Ulysses khó hiểu như vậy, để làm gì, thì ông trả lời, “Để các nhà phê bình biên khảo bận rộn đọc trong suốt 300 năm tới.”)
 
Dù dễ đọc hơn các tác phẩm sau này của Joyce, dịch Dubliners sang tiếng Việt, đối với tôi, vẫn là một thách thức lớn.
Thách thức lớn nhất trong việc dịch Dubliners sang một ngôn ngữ khác đến từ sự chính xác tuyệt đối của Joyce. Thêm nữa, các thành ngữ, phương ngữ, cú điệu, tham chiếu văn hóa, và nhất là cái “ý tại ngôn ngoại” của Joyce khó có thể chuyển tải một cách suôn sẻ sang bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào khác.
 
Tác phẩm chứa đựng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, tiếng lóng của văn hóa và đời sống đặc thù dân tộc Ireland. Đối thoại của cư dân Dublin là tiếng Anh-Dublin đầu thế kỷ XX, đầy tiếng lóng, mang tính giai cấp. Các từ vựng Công giáo và Dân tộc chủ nghĩa cũng không thiếu. Sự cố ý cho nhân vật phát âm sai và dùng từ sai (thuật ngữ tiếng Anh là malapropisms, một thủ pháp văn học thường thấy trong văn học Tây phương cốt ám chỉ trình độ xã hội và văn hóa của nhân vật, chính Miguel de Cervantes, trong tác phẩm tiểu thuyết Don Quixote, cũng thường hay sử dụng thủ pháp này.)
 
Các dịch giả thường “sửa chữa” hoặc làm mượt mà những đặc điểm này, nhưng làm như vậy lại xóa bỏ kết cấu ngôn ngữ có chủ ý của Joyce. Vấn đề này được ghi nhận trong các nghiên cứu về các bản dịch tiếng Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, nơi các dịch giả thường xuyên thay đổi hoặc “chuẩn hóa” ngôn ngữ của Joyce.
 
Đối với tiếng Việt, thách thức thậm chí còn gay gắt hơn, bởi thường ta không có cụm từ tương đương trực tiếp cho nhiều thành ngữ tiếng Anh-Ireland. Người dịch phải lựa chọn giữa sự khó hiểu theo nghĩa đen hoặc cách diễn đạt phù hợp với văn hóa.
 
Rồi đến các tham chiếu văn hóa và lịch sử trong tác phẩm. Dubliners chứa đầy các tham chiếu đến chủ nghĩa Dân tộc Ireland; các nghi lễ Công giáo; chính quyền thuộc địa Anh; địa lý Dublin; các nhân vật lịch sử-chính trị (Parnell, Sir John Gray, v.v.); các thể chế xã hội (trường học một-xu-mỗi-tuần)… Những tham chiếu này thường xa lạ với độc giả không phải người Ireland, và đôi khi người dịch phải thêm chú thích hoặc giải thích. Các học giả lưu ý rằng người dịch thường cung cấp thêm chú thích vì họ không thể kỳ vọng độc giả trong ngôn ngữ mình nắm vững tường tận các chi tiết này.
 
Đối với độc giả Việt Nam, khoảng cách văn hóa thậm chí còn lớn hơn.
 
Văn phong của Joyce qua sự lặp lại có chủ ý và cú pháp cũng là một thách thức lớn khác cho người dịch. Joyce sử dụng sự lặp lại như một thủ pháp văn học, phản ánh sự đơn điệu và tê liệt của cuộc sống ở Dublin. Tuy nhiên, các dịch giả thường loại bỏ hoặc giảm thiểu sự lặp lại, cho rằng nó vụng về hoặc thiếu tính văn chương. Đây là một mô hình được ghi nhận trong nhiều bản dịch tiếng Âu.
 
Văn xuôi tiếng Việt có xu hướng coi trọng sự ngắn gọn và trôi chảy, vì vậy việc giữ nguyên cú điệu lặp lại của Joyce có thể cảm thấy không tự nhiên. Tuy nhiên, việc loại bỏ lại làm suy yếu hiệu quả nghệ thuật của nội dung.
 
Joyce cũng ưa chuộng lối viết mà ta hay gọi là  “ý tại ngôn ngoại”, một hình thức hiện thực chủ nghĩa được tinh giản hóa, mang tính khách quan gần như tuyệt đối. Giọng điệu này rất khó tái hiện bởi phong cách văn xuôi tiếng Việt thường thiên về việc thể hiện các tín hiệu cảm xúc một cách rõ ràng, trực diện hơn. Sự tiết chế của Joyce có thể khiến văn chương trở nên nhạt nhẽo hoặc mơ hồ nếu không được xử lý một cách khéo léo. Người dịch buộc phải kềm nén thôi thúc muốn “giải thích” những điều mà Joyce để ngỏ, bỏ lửng lơ.
 
Những khoảnh khắc giác ngộ (epiphanies) trong tác phẩm của Joyce thường rất thầm lặng, chúng là những nhận thức nội tâm nho nhỏ, không phải sự bừng ngộ mang kịch tính chấn động. (Điển hình là truyện The Dead/ Kẻ đã khuất). Do đó, người dịch cần phải duy trì tính mơ hồ cùng sự kiệm lời, và sự tĩnh lặng về mặt cảm xúc của những khoảnh khắc ấy. Việc dịch quá tải (over-translation) có nguy cơ khiến khoảnh khắc giác ngộ trở nên quá lộ liễu; ngược lại, việc dịch giản lược (under-translation) lại có nguy cơ khiến nó trở nên vô hình, tan biến.
 
Các học giả chỉ ra rằng đôi khi người dịch thường “sửa lại” những gì họ cho là lỗi lầm của Joyce – chẳng hạn như thủ pháp dùng sai từ (malapropisms), cấu trúc cú pháp lạ lùng, hay ngữ pháp mang tính khẩu ngữ – qua đó vô tình làm sai lệch chủ ý nghệ thuật trong nguyên tác. Sự cám dỗ này đặc biệt mạnh mẽ khi chuyển ngữ sang một ngôn ngữ như tiếng Việt, nơi mà các cấu trúc ngữ pháp có sự khác biệt căn bản, lối nói khẩu ngữ được mã hóa theo những cách hoàn toàn khác, và người dịch có thể cảm thấy áp lực phải tạo ra một văn phong “suôn sẻ”, thậm chí mềm mại, óng mượt.
 
Thế nhưng, những nét thô ráp, gai góc, khúc khuỷu trong văn phong của Joyce lại hoàn toàn là chủ ý của ông.
 
Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng chỉ nắm vững tiếng Anh thôi là chưa đủ để dịch các tác phẩm của Joyce; người dịch còn phải là những học giả am hiểu sâu sắc về chính tác phẩm của ông cũng như bối cảnh sáng tác của chúng. Điều này đặc biệt đúng đối với tác phẩm Dubliners, nơi mà những chi tiết tầm thường vặt vãnh lại mang sức nặng biểu tượng to lớn, các tham chiếu lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng, và kết cấu mặt bằng xã hội thành phố Dublin là yếu tố then chốt để giải mã ý nghĩa tác phẩm.
 
Đối với người dịch tiếng Việt, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện những nghiên cứu sâu rộng về lịch sử Ireland, Công giáo, và đời sống tại Dublin vào đầu thế kỷ XX.
 
Các học giả nghiên cứu về những bản dịch sang các ngôn ngữ khác đều khẳng định rằng văn phong của Joyce có tính “kháng cự” rất mạnh đối với việc chuyển ngữ một cách suôn sẻ, và rằng người dịch buộc phải tìm được sự cân bằng hài hòa giữa tính trung thực với nguyên tác với khả năng tiếp cận về mặt văn hóa của ngôn ngữ dịch.
 
Để đương đầu và phần nào khắc phục những thách thức khó khăn nêu trên trong việc dịch tác phẩm Dubliners, tôi có một trợ tá đắc lực: Internet.
 
Internet là kho tài liệu phong phú gần như vô tận giúp tôi tra cứu những điều khúc mắc khó hiểu, hoặc không thể hiểu nổi trong văn bản nguyên tác. Thêm nữa, Dubliners đã có mặt trên trăm năm nay, được giới phê bình văn học đánh giá là tác phẩm kinh điển, nhờ thế, đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về nó. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian, thời gian đọc và nghiền ngẫm. Quá trình “dịch” tác phẩm, đối với tôi, trở thành quá trình “học”, và quả thực, tôi đã học hỏi được rất nhiều trong lúc dịch.
 
Những điều “học” được, tôi cho vào các chú thích và phần “Phân tích và cảm nhận của người dịch” nằm sau mỗi truyện. Mặc dù đã cố hết sức mình, tôi biết chắc vẫn có những khiếm khuyết, sai sót đâu đó, chờ đợi bạn đọc bốn phương chỉ giáo cho bản dịch được hoàn chỉnh hơn.
 
*
 
Dịch Dubliners như là một hành động tôn vinh nhà văn Nam Cao của văn học Việt Nam
 
Trong lúc lần giở từng trang sách tác phẩm Dubliners của James Joyce, đến truyện ngắn A Little Cloud/ Một cụm mây nhỏ, tôi bỗng nhận thấy sự tương tự giữa nhân vật Little Chandler trong truyện với nhân vật Điền trong truyện ngắn Trăng sáng của nhà văn Nam Cao. Cũng như Little Chandler, Điền là một nhà văn có ước vọng và tham vọng nhiều trong văn chương. Anh muốn sống hết mình cho nghệ thuật, nhưng hoàn cảnh túng bấn, nghèo khó, thôi thúc của đời sống không cho phép giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Từ đó, nhìn sâu rộng hơn, và một điều khá hiển nhiên là giữa Dubliners của Joyce và văn chương Nam Cao có những điểm tương đồng lạ lùng về đối tượng văn học.
 
Cũng như Joyce, sáng tác của Nam Cao đặt ra trước người đọc hàng loạt những vấn đề nhân sinh: những cảnh đời tù đọng, bế tắc, những bi kịch đau đớn, chua cay. Nam Cao phản ánh được cái thực tại bối cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam thời tiền chiến. Từ truyện ngắn nổi tiếng đầu tay Chí Phèo cho đến tiểu thuyết Sống mòn, văn chương Nam Cao luôn lấy những chủ đề về cuộc sống cùng khổ của cả một tầng lớp con người, từ nông thôn ra thành thị, từ anh nông dân chất phác chân lấm tay bùn cho đến người thầy giáo trí thức tiểu tư sản nghèo ngoài thành phố. Trên nhiều bình diện, nó thể hiện một cách rõ nét thân phận con người trong xã hội mà thời nào cũng có thể xảy ra.
Giống như Joyce, Nam Cao cũng cho các nhân vật của mình chìm nổi, vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh. Họ không dửng dưng lạnh nhạt với sự đời, nhưng họ cũng là những con người thiếu hành động. Nhìn chung họ bị dồn vào thế bế tắc, không có hướng giải thoát. Họ vật vã, đau đớn trong những kiếp sống luôn bị dằn vặt, xói mòn. Suy nghĩ và hối hận nhưng họ không tìm ra cho chính mình phương hướng để hành động, và nếu có thì lại dễ hối hận với việc làm của mình.
Các nhân vật của Nam Cao cũng rất vất vả để chống lại tình trạng tha hóa với bản chất mình. Họ cũng bị lôi cuốn vào nhiều ham muốn tầm thường, nhiều tính toán nhỏ nhen.  Chính trong bản thân họ cũng chất chứa biết bao mâu thuẫn.
Qua tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao phản ánh sâu sắc không khí ngột ngạt, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tưởng như vô hình nhưng tác động lại rất cụ thể, sự hủy hoại thầm lặng làm cho con người mỏi mòn dần cho đến kiệt sức. Tất cả mỏi mòn, chết dần chết mòn.
 
Đó là lý do vì sao tôi chọn nhan đề tiếng Việt cho tập truyện Dubliners của Joyce là Những kiếp sống mòn.
Nó không phải sự nhái lại, mà là một hành động trân trọng tôn vinh nhà văn Nam Cao, một nhà văn có vị trí rất lớn, rất riêng trong văn học Việt Nam.
– TRỊNH Y THƯ
(Cuối Hè, 2026)

 

  

Friday, October 9, 2026

TƯỞNG NHỚ CHA TÔI, THANH VÂN NGUYỄN DUY NHƯỜNG - NHÀ THƠ, DẠY HỌC, NGHIÊN CỨU HÁN NÔM- ÔNG RA ĐI VÀO THÁNG 10.2010

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Hoa lys tưởng niệm
 
Ngồi đây lắng hết đêm tàn
Con nghe cả nỗi dặm ngàn. Cha đi
 
Từ “Cha” chỉ là một tên gọi khác của lòng yêu thương
                                                       (Fanny Fern)
 
Cha đi vào giấc mộng
Trời mở cõi thong dong
Nhẹ rồi phương này bóng
Tàn tro một hư không
 
Vĩnh hằng hay dâu bể
Trong câu kinh hạt lệ
Cha nương. Một bóng gầy
Tàn tro chiều nắng xế
 
Thôi con về. Khép cửa
Chùa yên. Một tĩnh ở
Tro tàn rồi bụi lạnh
Rồi theo hoài. Khói nhớ…
 
*8 Tháng 10. 2010 (ngày hỏa táng cha)
 
 
CHA ƠI BUỔI MAI NGÀY ẤY TRÔI ĐI ĐÂU
 
Giữa hai bờ thời gian
Ngực cha và nải chuối xanh
Vạt nắng khô u hoài cột mốc
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu
 
Mầu áo mỡ gà chập chờn
Cầu thang gỗ im bặt
Chiếc gậy treo lửng lơ tiếng mõ
Ai đã mở cánh cửa khói sương
 
Mùa thu về trước ngõ
Con đường ấy về đâu
Đêm qua rụng cánh hoa sứ đầu cổng
Mầu hoa trắng về đâu
 
Mưa rung huyệt mộ
Gió âm âm tiếng cửa
Nắng buổi sáng tối dưới hàng mi
Tháng 10 trĩu nặng
 
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu
Cha im lặng. Hơn tất cả những im lặng
Nải chuối xanh trên ngực cha ngưng đọng thời gian không chín
Buổi mai ngày ấy. Tiếng xé buồn những dải khăn
Trắng xô áo mẹ
Trắng xô áo em. Áo anh. Áo chị
Trắng lạnh phương trời con xa
Lạnh nắp quan còn để mở…
Cha ơi
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu…
 
*10.2014
Ngày giỗ cha lần thứ 4, xem lại hình ngày cha mất
 
 
MỘT NHỊP DỪNG
 
Khoảnh khắc những vòng tay. Hụt hẫng
Một vuông trời đêm, thức giấc
Bóng tối so dài hạt lệ…
Khoảnh khắc những đêm thầm, nỗi sợ
 
Nín cơn mơ, canh chừng lời nói mớ
Bình minh bật trắng âm u
Khoảnh khắc những bước chân, bóng hút
Đôi mắt ngó con đường đi, bỗng cụt
 
Mầu san hô đỏ dưới chân ngày
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi
Rốt lại một chiều câm tiếng nói
Đợi chờ đuối một giấc mơ
 
Khoảnh khắc vói theo mùa xuân trôi
Mầu hoa tím ở trên đồi
Thường về lao xao trong giấc ngủ
Khoảnh khắc những vòng xe lăn mãi
Biết đâu một nhịp dừng thơ dại
Tôi lại về kịp giấc tôi mơ…
*2012
NTKM
Viết theo nỗi niềm của cha tôi, những năm tháng ở trại tù Gia Trung
 
Phụ chú: những tác phẩm của Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường đã xuất bản:
-Dòng Máu Việt, 1947
-Các sách giáo khoa Việt luận Tú Tài, 1960 Khai Trí xuất bản
- Mầu Sắc, Thơ, 1969, Khai Trí xb
 
-Tự Điển Danh Ngôn Đông Tây (Việt-Anh Việt-Pháp) 1970 NXB Khai Trí
-Hận Núi Sông, kịch thơ Trưng Vương, 1972, NXB Minh Châu
-Siêu Thoát, kịch thơ Phạm Thái-Trương Quỳnh Như, 1972, NXB Minh Châu
-Tự Điển Tầm Nguyên (Thuật ngữ, thành ngữa, điển cố) NXB Thanh Niên
-Tây Thi Sông Hồ (Kiều Phiên, sử thi 4.000 câu lục bát) 2003 NXB Thanh Niên
….
 
Xin mời nghe bài nhạc, Nhịp Dừng, DH Official Channel
 
 

Wednesday, October 7, 2026

NGUYỄN XUÂN THIỆP. NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ!

Phạm Hiền Mây
 
 


I. TÔI KHÔNG PHẢI LÀ NHÀ TRANH ĐẤU, MÀ CHỈ LÀ NHÀ THƠ
Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp sinh tại Huế, học tại Huế và Sài Gòn. Ông từng làm thơ, viết văn, đăng báo từ trước năm 1954 và từng dạy học tại Mỹ Tho. Sau khi nhập ngũ năm 1963, ông làm cho đài phát thanh quân đội, lần lượt từ Pleiku, Đà Lạt rồi Sài Gòn.
Sang Mỹ, ông xuất bản hai tập thơ: Tôi Cùng Gió Mùa và Thơ Nguyễn Xuân Thiệp (1998). Ông cũng viết Tản Mạn và ra sách về thể loại này, từng là chủ biên của tạp chí Phố Văn và cộng tác với nhiều tờ báo cũng như tạp chí uy tín khác ở hải ngoại, tiếp tục đóng góp vào dòng chảy văn học Việt Nam tại Mỹ.
Tôi biết đến Nguyễn Xuân Thiệp là nhờ nhà văn T.N. Anh là người đã giúp tôi khá nhiều trong việc “nhận diện” những nhà thơ, nhà văn, mà do hoàn cảnh địa lý, do sinh sau đẻ muộn, nên không thể biết hết.
Biết cũng như quyết định viết về Nguyễn Xuân Thiệp và một vài bài thơ cụ thể của ông, còn là nhờ, tôi tình cờ đọc được bài phỏng vấn ông, do nhà thơ Triều Hoa Đại thực hiện, tôi đã cảm thấy xúc động trước những bộc bạch vừa đơn giản lại vừa rất bao dung, vừa trân trọng thực tại cuộc sống vừa cố gắng đẩy lùi bóng ma của sự thù hận.
Khi Triều Hoa Đại hỏi: Những gì anh viết, đã vượt lên trên những đau thương và thù hận, có phải vậy không?
Nguyễn Xuân Thiệp trả lời: Thù hận? Hồi mới ra khỏi trại, khốn khổ và ô nhục đến cùng cực, tôi định viết một lúc bốn bài oán gọi là Tứ Ðại Oán. Nhưng mới được hai bài, Trà Oán và Bài Oán Thi Ðêm Phương Nam, thì ngưng. Ngưng không phải vì cạn ý, hết hứng, mà vì tôi nghĩ, viết như vậy để làm gì?
Oán oán chập chùng. Chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho đời ta mà thôi, chẳng khác nào gánh đá đi trong bùn vậy.
Nguyễn Xuân Thiệp kết luận: Tôi không phải là nhà tranh đấu, mà chỉ là nhà thơ!
******
II. CHÁY TRONG VƯỜN LÃNG QUÊN / CHIỀU NGHIÊNG. ĐỐM LỬA
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, trước hết là những lời tự sự và hoài niệm chân thành, tình tứ, trăn trở, của những năm tháng đời vui, trường lớp, tình yêu trong sáng và những mộng mơ thời mới lớn đầy cảm xúc, đan xen với văn hóa phương Tây và không khí của cuộc chiến tranh đang diễn ra, tạo nên một phong cách thơ vừa lãng mạn vừa hiện đại: tôi lớn lên và đi vào đời những năm sáu mươi. khi chiến tranh Việt Nam rực cháy những cánh rừng xa. nghe âm nhạc của các anh. please, please me. i want to hold your hand. ôi những hoàng hôn sẫm tối. bình minh trong mưa. cơn sốt của tâm hồn. thành phố cười. phượng đỏ. mái ngói buổi yêu đầu. ơi em (Âm Nhạc The Beatles Và Những Cánh Dã Quỳ).
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, sau nữa, là lời tự sự của những tháng năm tiếp theo, khi mà cuộc chiến tương tàn kết thúc, với những bên thắng bên thua, thắng làm vua mà thua thì làm giặc, buồn đau, thấm thía nỗi đời, thấm thía cả tình đời, tưởng chỉ dừng ở éo le, ngang trái, dè đâu, nó khốc liệt, thê thảm, đổ vỡ, hoang tàn, lạc lõng hơn sự tưởng tượng của người ta nhiều lắm:
cháy. trong vườn lãng quên
chiều nghiêng. đốm lửa
người tù xa lâu năm. trở về
bên mái nhà. và bờ ao
mùa thu. tàn ố
khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên
nấm mộ đá ong
dế khóc
(Saigon mùa thu, 1982)
******
III. VẦNG TRĂNG TREO TRÊN NGỌN SẦU ĐÔNG
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ. Tôi thích những cái hay và lạ đó ở các tác giả, bởi vì, đó chính là cái mới, hay nói khác đi, đó chính là sự sáng tạo. Tất nhiên, trừ những trường hợp bắt chước người khác. Điều ấy, người đọc nhiều, và tinh ý một chút, là họ sẽ phát hiện ra ngay.
Cái lạ thứ nhứt, đó là Nguyễn Xuân Thiệp không viết hoa bất kỳ một từ nào ở trong bài, kể cả tên riêng, kể cả sau những dấu chấm. Trường hợp này, ở Sài Gòn, tôi biết có ở một người, đó là nhà thơ Đỗ Trung Quân.
Tôi nói tôi thích là bởi vì, tôi cũng y như vậy. Tôi rất sợ phải đọc những bài thơ mà đầy những chữ viết hoa lổm ngổm trong bài. Lắm trường hợp, chữ viết hoa còn nhiều hơn chữ viết thường, nhìn hoa cả mắt, và cứ có cái gì đó, rất khựng lại, rất khó trôi, không liền mạch, không tập trung vào cảm xúc được, và cả rất mệt nữa, khi phải đọc chúng.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ. Hôm ấy, tôi viết một bài thơ, có một người không có trong danh sách bạn bè, họ còm vào bài tôi, thắc mắc: sao xuống hàng, sao đầu câu không viết hoa, sao chữ đó là địa danh, không viết hoa, sao chữ đó là thế này, thế kia, không viết hoa, bla, bla, đủ kiểu.
Trả lời các hạch hỏi như tra vấn, như khảo thí, như bắt lỗi đó, thì xin thưa, không phải là nghĩa vụ của tác giả. Mà không trả lời, thì nhìn cái câu hỏi trên trang, thiệt là khó chịu. Mà block người ta, thì càng cảm thấy khó chịu hơn. Nên từ đó, tôi chỉ để chế độ bạn bè còm. Vì, đã là bạn bè, thì tất nhiên, và trước hết, phải hiểu được nhau.
Ngay cả khi, không hiểu nhau, thì đối với tất cả những người làm nghệ thuật, hoặc viết văn, làm thơ, soạn nhạc, nhiều ít gì, họ cũng luôn có những thói quen riêng, những quy định riêng cho mình. Họ cũng chẳng ép buộc ai phải gượng gạo đọc, thế nên, bạn đọc cũng hãy tế nhị mà tôn trọng các tác giả, họ có quyền tự do tuyệt đối trong sáng tác của mình.
Trở lại Nguyễn Xuân Thiệp, ông có những thói quen rất hợp với tôi trong sáng tác. Bài thơ sau đây, ông viết cho người bạn đã mất, là Phạm Ngọc Lư, một nhà thơ tài hoa, đặc biệt với bài Biên Cương Hành mà tôi từng đã viết bài cảm nhận. Lư cũng là một trong người bạn vong niên rất thân thiết của tôi:
chiều nay
ngồi đọc lại thơ lư
nghe sông hàn. bạt gió
hải vân quan. đá dựng
biên cương
cố lý
gió lào vẫn thổi
sao cay mắt
thơ ai
như chông xuyên thấu trời
người về lều cỏ
nghe tiếng sáo u u
vầng trăng treo trên ngọn sầu đông
cơm. với rau rừng. nước mắt
cô lái đò trên bến xưa. còn đợi
lư đã về lại phá tam giang
gởi lại vợ con, bạn bè, tấm áo, và những bài thơ
lư ơi
nằm trong cỏ rối
có nghe. thu vàng hát.
Đoạn thơ trên được trích từ trong bài Lư Đã Về Lại Phá Tam Giang. Tôi thích cái từ “về lại” của ông Thiệp đã dùng. Về lại, có nghĩa là, Phá Tam Giang, vùng sông nước ấy, chính là nơi mà Lư đã khởi đầu cuộc viễn du trong đời vừa qua của mình. Ở đoạn này, tác giả nhắc lại những từ ngữ đặc sắc, đã làm nên hai bài thơ tiếng tăm vang lừng của Phạm Ngọc Lư, đó là, Biên Cương Hành và Trở Về Phá Tam Giang.
Viết ít mà tình nhiều, đó là nét riêng của thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Viết dài, kiểu như viết trường thi, có cái khó của viết dài. Nhưng viết ngắn cũng vậy, phải dụng công lắm mới được. Ít chữ, mà chữ nào cũng cần thiết, chữ nào cũng tinh túy, chắt lọc, ấy mới là hay, và khó nữa, chớ không dễ dàng đâu.
******
IV. MÙA THU VÀ BẾP LỬA
Thơ thì thường buồn, đương nhiên rồi. Nhưng buồn cũng có nhiều cấp độ lắm, như bão ấy mà. Buồn ít. Buồn nhiều. Buồn lắm. Buồn dữ dội. Buồn chỉ muốn chết. Đại loại vậy.
Thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn, nhưng là cái buồn dễ chịu. Buồn mà dễ chịu là sao? Tức là buồn chỉ như một lớp sương mỏng, như một khoảng lặng dịu dàng, hay như một nốt trầm trong một bản nhạc. Buồn mà không đến độ cồn cào, không cấu xé, cũng không đau đớn tột cùng, khóc than hay gào thét. Buồn này nhẹ nhàng, lắng đọng vì đã thấu hiểu lẽ nhân sinh
Như bài thơ này chẳng hạn:
 
MÙA THU VÀ BẾP LỬA
 
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
******
IV.1. CHIỀU MÙA THU / VÀ MỘT BẾP LỬA / ĐỂ VỀ
chiều mùa thu
và một bếp lửa
để về
tôi đọc thấy. trên trang văn, ngày nọ
Bếp lửa, biểu tượng của mái ấm bình dị nhưng tràn đầy tình thương và sự chở che. Biểu tượng này, đối lập với trạng thái se lạnh, heo may, buồn man mác của một buổi chiều thu. Mùa thu còn là mùa để về. Về đâu ư. Thì về nhà chớ về đâu. Về nơi ta từng ở. Về nơi có người thương. Về nơi mà từ đó ta đã ra đi. Về nơi mà ta thấy nhớ, nhớ đến đau lòng, đến quặn thắt cả ruột gan, ngày đêm, không dứt.
Bếp lửa ấm cúng và bình yên này, vốn đã được lưu giữ từ lâu trong tâm thức của kẻ ly hương, là tác giả.
******
IV.2. TÔI CHỢT NGỘ RA / KHÔNG.
nhưng chiều nay
thấy lạnh
hai tay. và mái tóc
tôi chợt ngộ ra
không. tôi không có một bếp lửa nào
một mái ấm nào, để trở về
Từ nhưng được đặt ở đầu câu, tạo thành bước ngoặt của cảm xúc, đối lập với sự ấm áp của bếp lửa, là chiều nay, một buổi chiều thu buồn bã và hiu quạnh.
Tác giả thấy lạnh. Cái lạnh không chỉ ở da thịt, mà lạnh còn xâm nhập vào cả tâm hồn.
Tác giả chợt ngộ ra Không. Không, hư vô. Không, trống rỗng. Không, không có gì cả.
Tác giả không có một bếp lửa nào để sưởi ấm tâm hồn, không có một gia đình nào để trở về, không có một quê hương nào để được chở che. Ông đã dùng câu phủ định đến hai lần trong khổ thơ, để nhấn mạnh sự mất mát trọn vẹn, cuộc đời đã không còn nơi nương tựa.
Như bao người khác, ông khao khát một chốn dừng chân, một nơi để quay về, quay về cội nguồn, quay về giá trị tinh thần xưa, quay về mái nhà, sau những bão tố, cuồng giông.
Bằng những dấu câu rất riêng của mình, Nguyễn Xuân Thiệp đã làm ngôn ngữ của ông trở nên tự do. Với những ngắt quãng ấy, khổ thơ đã thể hiện được sự nghẹn ngào, trăn trở, và cả thảng thốt nữa, khi nhận ra một sự thực rất đỗi phũ phàng, ông không có một bếp lửa nào, một mái ấm nào, để trở về.
******
IV.3. MÀ CHỈ LÀ NGƯỜI HÀNH GIẢ
mà chỉ là người hành giả
đi trên đường chiều
cô độc
một quán trọ
một ngôi chùa
bốn phương, nào thấy
Thi nhân giờ đây, chỉ là một hành giả đang đi trên một hành trình vô định. Từ “chỉ” được dùng ở đây rất hay, đó là sự buông bỏ, là sự chấp nhận, ta chỉ là một thân phận nhỏ bé, đơn độc, đang đi trên đường chiều mà thôi.
Quán trọ, cõi tạm, cõi tạm bợ, cõi nhân gian. Ngôi chùa, nơi bình yên, thanh tịnh, chốn tựa nương. Bốn phương nào thấy, sự vô vọng, tuyệt vọng trong kiếm tìm chốn bình an, chốn dừng chân yên ổn.
Bằng giọng thơ trầm tư, Nguyễn Xuân Thiệp đã vẽ lên được một chân dung trí thức của miền Nam sau cuộc chiến hai mươi năm, cũng như nỗi trăn trở về kiếp người dâu bể và ít nhiều, phảng phất triết lý vô thường của nhà Phật.
******
IV.4. CHIỀU RƠI / CHIỀU KHÔNG LỬA ẤM
thèm được vị thiền sư
tặng chiếc áo. và vầng trăng
thiền sư ơi
chiều rơi
chiều không lửa ấm.
Tác giả, hơn bao giờ hết, khao khát một sự cảm thông, chia sẻ, an ủi, vỗ về. Ông thèm được vị thiền sư, bậc trí tuệ, đấng siêu nhiên, đầy lòng bác ái và từ bi, tặng cho mình một chiếc áo và vầng trăng. Chiếc áo, khoác cho xác thân đỡ lạnh. Vầng trăng, ánh sáng soi lối cho tâm hồn tìm về nơi thanh thản.
Không thấy thiền sư trả lời.
Trong cô đơn và quạnh quẽ muôn bề, ông cất tiếng tha thiết gọi lần thứ hai, thiền sư ơi. Ơi, thường được dùng cho những thân thiết, cho những trìu mến, thương yêu. Và thảng thốt kêu lên cùng người: chiều rơi / chiều không lửa ấm.
******
V. CHIỀU BÊN SÔNG GIĂNG
Nắng Đã Phai Vàng Trên Mái Rạ, câu tựa đề này, tôi lấy ra từ một bài thơ khá dài của Nguyễn Xuân Thiệp mang tên Chiều Bên Sông Giăng.
Chiều Bên Sông Giăng được ông viết khi đang ở tù tại Nghệ An năm 1980. Bài thơ có ba khổ cả thảy, với câu tựa rất buồn:
Bên bờ sông Babylon
Ta ngồi ta khóc
(Psalm 137)
Bài thơ đã được Từ Công Phụng phổ thành ca khúc mang tựa đề cùng tên và do chính nhạc sĩ thể hiện với chất giọng ấm, trầm, đầy vẻ hoài niệm xưa.
Ở trên, tôi có nhận xét, thơ Nguyễn Xuân Thiệp hay và lạ, rồi thì thơ Nguyễn Xuân Thiệp buồn mà buồn rất dễ chịu.
Khi đọc đến bài Chiều Bên Sông Giăng này, thì tôi thấy thêm, thơ Nguyễn Xuân Thiệp, ngoài những ưu điểm nêu trên, thơ ông còn đầy tính nhạc, đầy vần điệu, đầy hình ảnh, đầy nỗi niềm, nên thơ ông rất thơ và rất đẹp.
Ví dụ, như đoạn này trong khổ thơ thứ hai:
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
******
V.1. LÒNG TA. TRÁI KHÔ RƠI. MẤY MÙA
chiều bên sông giăng
tháng ba đi trong tiếng sấm
lòng ta. trái khô rơi. mấy mùa
nắng đã phai vàng trên mái rạ
Chiều ngồi bên sông mênh mông, luôn là những buổi nghe lòng buồn man mác.
Tiếng sấm xuất hiện trong khổ thơ, là tiếng sấm của mùa, hay tiếng sấm vọng từ trong ký ức của tác giả? Sấm là âm thanh phẫn nộ của thiên nhiên hay đó là tiếng dội vang làm chấn động tâm hồn, gợi lên sự bất an, như tháng 03, tháng 04 của năm 1975?
Trái khô rơi, gợi cho người đọc hình ảnh của sự kết thúc. Trái khô hay lòng ta đã úa sầu, héo hon suốt mấy mùa qua?
Thời gian trôi qua bào mòn tất cả, từ cảnh vật đến tâm hồn. Trong lòng người lưu đày giờ đây, chỉ duy nhứt nỗi thương nhớ gia đình, thương nhớ xứ sở, và không biết có còn kịp không, ngày gặp lại, ngày đoàn viên, ngày hồi hương, được trở về trong sự nguyên vẹn, bởi vì, nhìn kìa, nắng đã phai vàng trên mái rạ.
Phai phôi rồi. Nhợt nhạt rồi. Héo úa rồi. Tàn tạ rồi. Sắp rụng rồi, như trái khô rơi.
******
V.2. GIÓ LÊN RỒI. GIÓ LÊN
tháng ba ơi
đâu tiếng gà đầu thôn cỏ đưa hơi ấm nồng
gió lên rồi. gió lên
gió trên những đường dây giăng qua trời rộng
Tiếng ơi, tiếng gọi của tha thiết, tiếng gọi tha thiết của lòng mong chờ, tiếng gọi tha thiết vì rất đỗi bâng khuâng.
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu tiếng gà đầu thôn, không gian thanh bình mà khi xưa, ta từng hạnh phúc?
Tháng ba ơi, ta nhớ lắm. Đâu cỏ đưa hơi ấm nồng, hơi thở gần gũi, ấm áp của đất trời quê hương ta?
Gió lên rồi, gió lên. Gió với tiết điệu nhanh, dồn dập, gió như sự sống đang bừng tỉnh, gió như báo hiệu một đổi thay. Gió mang nỗi thương nhớ của ta, băng qua trời rộng, gởi về người thương, gởi về gia đình, gởi về quê hương xứ sở.
******
V.3. CHIỀU. THEO CÁNH CHIM QUEN. BAY VÒNG QUA BIỂN BẮC
mùa này khua rộn sắc âm
giục giã
chiều. theo cánh chim quen. bay vòng qua biển bắc
tìm một cành biếc trong mưa
biển cũng bồn chồn như lòng ta mở ra khi chiều tối
Mùa này khua rộn sắc âm. Khua rộn, ồn ào, rộn ràng, xôn xao, náo nức. Giục giã, thúc bách, gấp gáp.
Mùa này là mùa gì, mà khua rộn, mà ồn ào, mà rộn ràng, xôn xao, náo nức? Mùa này là mùa gì, mà giục giã, thúc bách, gấp gáp, không yên? Mùa tìm đường ra biển chăng?
Chắc chắn là vậy rồi. Là vì, ngay phía dưới, tác giả nhắc đến cánh chim, và mưa, và biển.
Cánh chim phiêu bạt như đời người phiêu bạt. Cánh chim với những hành trình dặm dài, vất vả, tìm một cành biếc trong mưa, tìm những hy vọng dẫu mong manh, dẫu khó khăn, cho sự sống còn của con người.
Biển giờ đây không chỉ là đại dương bao la, mênh mông vô cảm, mà biển cũng thương hiểu cho kiếp người, nên biển cũng bồn chồn, cũng lo lắng, cũng hồi hộp, cũng nóng ruột như lòng người mở ra khi chiều tối.
Khi chiều tối, lòng ta hướng biển. Khi chiều tối, ta nương biển mà ra đi.
******
V.4. NGƯỜI ĐI. DẤU CỎ. MỊT MỜ CẦU SƯƠNG
chiều sông giăng
ai trên đường về nón lá tả tơi
hứng những giọt mưa đầu mùa rơi qua đồng nội
mang trong nếp áo
dư vang sấm động
thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya
bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa
người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương.
Chiều sông giăng, ai trên đường về nón lá tả tơi, đại từ phiếm chỉ “ai”, vô danh, dùng ở đây, đã gợi nỗi xa xăm, gợi nỗi cô đơn của tác giả trước dòng sông mờ mịt của buổi chiều.
Nón lá tả tơi, nón lá của người nghèo khó, lam lũ, sống trong cảnh bấp bênh và chịu nhiều dập vùi của mưa gió cuộc đời.
Mang trong nếp áo dư vang sấm động, dư chấn của cơn bão tố, của cuộc chiến tranh mới vừa hôm qua.
Mưa đầu mùa không bình yên nên làm nón lá đã tả tơi, lại càng tả tơi hơn. Đến nếp áo mong manh, cũng trở thành nơi ẩn giấu những biến động, những nơm nớp lo âu trong lòng người lưu lạc.
Thôi hãy về. khêu cao ngọn đèn che gió. qua khuya, câu thơ như tiếng thở dài nặng nề, như lời tự nhủ, tự mình nói với mình của tác giả. Khêu cao ngọn đèn, là lời nhắn nhủ, cố gắng mà giữ lại chút ấm áp, chút sự sống giữa không gian hoang lạnh. Che gió, che chở cho con người trước những giông gió, bão mưa.
Bầu trời tháng ba nơi đây chẳng còn chút lửa, chẳng còn chút lửa, nên không còn hơi ấm, nên tàn tạ, nên kết thúc rồi, cuộc đời.
Người đi. dấu cỏ. mịt mờ cầu sương, tất cả rồi sẽ chia lìa, chia lìa vĩnh viễn. Mọi sự đã trở nên hư ảo, vô định, chỉ duy nhất còn lại một nỗi buồn sâu thẳm.
‘Chiều Bên Sông Giăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp là một tấu khúc buồn trước phận người trong cảnh bão giông, tang thương, nhà tan, nước mất. Bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh và nhịp điệu đứt quãng, chậm buồn, Nguyễn Xuân Thiệp đã khắc họa được một buổi chiều bên dòng sông Giăng của tác giả, nơi ông lặng lẽ vớt những nỗi niềm còn sót lại dưới lòng sông trôi, vớt lên những nỗi niềm khi thời thế đổi thay, và kiếp người trong dòng đẩy đưa thân phận.
******
VI. NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ
Tôi cảm ra, tôi giống nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp ở khá nhiều nét. Không chỉ là chuyện rất hạn chế các dấu câu và không thích viết hoa trong thơ thì tôi còn thấy, tôi giống ông ở chỗ, ít tự giới thiệu về mình.
Trên mạng, dù ông là một người làm thơ từ trước năm 1975, nhưng rất ít các thông tin về ông. Tôi cũng vậy, phỏng vấn nào về nhân thân, tôi cũng cười trừ và xin được cho qua, hoặc nếu có, tôi cũng chỉ cung cấp gọi là đôi ba dòng cho có lệ.
Tại sao ư? Dạ, vì thấy đó không phải là điều cần thiết cho cuộc đời và cho người khác. Người ta, còn biết bao việc phải lo, phải quan tâm. Ai hơi đâu đi nhớ nơi sanh chốn đẻ của mình; hơi đâu nhớ thấp cao, mập ốm của mình; hơi đâu nhớ những vui buồn, được mất của mình, mà phải dài dòng kể lể.
Tiểu luận gia Đặng Tiến từng viết rất rõ trong bài nhận định và đánh giá nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, có tựa đề Đọc Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, như sau: Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một tâm linh trong sáng gởi đến trần giới trầm luân những dòng thơ thanh thoát [...]. Tôi bị mê hoặc ngay bởi dòng thác hình ảnh, âm vang hư hư thực thực, cuồn cuộn băng băng vì thơ Thiệp như nước Hoàng Hà [...]. Nay được biết Thiệp là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam, tôi phục quá, bởi những lời lẽ cao khoát, tình nghĩa thâm sâu, tự tại, độ lượng.
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến tiếp tục khẳng định: Thơ Nguyễn Xuân Thiệp có nhiều câu, thường song đôi, xuất sắc, kết hợp chất uyên bác (nghĩa là không mới) với sức sáng tạo tân kỳ; lưng vốn cá nhân dồi dào được đầu tư đắc thế vào nguồn sống dân tộc Đông phương và Tây học, tạo ra vòm ánh sáng vừa kỳ diệu vừa duy lý. Tri thức và trí thức không khuất lấp mầu nhiệm của ngôn ngữ; giác quan và ảo mộng nương nhau, nuôi nhau [...].
Sau cùng, học giả Đặng Tiến kết luận: uyên bác, đủ sức mạnh tinh thần, kiến thức rộng rãi, xúc cảm sâu xa, Nguyễn Xuân Thiệp là một bậc tài hoa nhưng lại không sử dụng thơ để biểu diễn tài hoa. Ngược lại, Nguyễn Xuân Thiệp lại có ý thức dùng tài hoa như một phương tiện để phục vụ lý tưởng nghệ thuật và nhân đạo.
Với cá nhân tôi, tôi thấy tiếng thơ của Nguyễn Xuân Thiệp, tựa tiếng của một loài chim quý: bay suốt nghìn năm hót một lần (Ánh Trăng - 1980).
Tôi sẽ còn quay trở lại với Nguyễn Xuân Thiệp và thơ của ông, kẻo không thì:
NẮNG ĐÃ PHAI VÀNG TRÊN MÁI RẠ!
Sài Gòn 07.05.2026
PHẠM HIỀN MÂY
******
https://www.youtube.com/watch?v=GqnTosB5EFk