Monday, October 19, 2026

MÙA THU. NHỮNG CHIẾC Ô VÀ GIẢI NƠ VÀNG

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
 
Trong bài viết của nhà văn Tino Cao, mở đầu với câu hỏi ;- Bạn còn nhớ Joshua Wong không? - Thưa, tôi còn nhớ.
Joshua Wong, một chàng trai trẻ trong phong trào Dù Vàng đòi quyền bầu cử dân chủ tại Hong Kong năm 2014.
Tôi gửi lại đây bài viết của tôi vào năm 2014, năm phát khởi phong trào, chia sẻ với bạn đọc và nhà văn Tino Cao.
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
 
Những chiếc ô và giải nơ vàng
 
Ngày 9.10.2014,
 
Calif. đang ở vào những tuần đầu của mùa thu, cảnh vật đang bị quắt queo vì cơn nóng đổi mùa, tuần này hầm hập 85 đến 100 độ F, người như bị vặt đến héo hắt không chỉ vì thời tiết đất trời mà còn như vỡ dưới tiếng đập của thời sự. Dư vang chết chóc của xuân hè từ những thảm họa chìm phà, máy bay, dịch ebola, chiến tranh, khủng bố vẫn đang còn làm thế giới rung rinh, như cái thòng lọng thắt lại dần, thì thử hỏi chúng ta làm thế nào để có thể sống an lạc, như vẫn thường chúc nhau cuối mỗi e-mail?
Chưa bao giờ, sống là một thử thách như thời này. Mỗi hơi thở là mỗi mạo hiểm, không biết lúc nào sẽ sập xuống cái bẫy của những tin tức mà cứ mỗi lúc lại đem đến một khủng khiếp khác nhau. Khi sự chịu đựng của người ta tăng lên, có nghĩa là cái ác đã trở nên bình thường, cứ thế, chai dần cảm xúc. Quen dần với những điều mà mới hôm qua tưởng sẽ không thể xảy ra được trên đời này. Cái ác đang tôi luyện chúng ta thành vô tính chăng.
Chợt, một ngày, trong cái cối xay tai trời ách người như thế, vòng quay được lơi ra bởi hình ảnh những chiếc ô, những dải nơ vàng. Nó như tiếng phong linh trong trẻo vang lên, đánh thức người ngủ gật bên hiên. Nó như vạt óng ả phết lên mùa thu hiu hắt của mọi tâm trạng này. Nó mang chất lãng mạn. Nó là cái gì như sinh khí.
Toát ra từ dáng vẻ thư sinh với cặp kính trắng, lấp lánh tuyên bố, “Tôi không muốn đùn đẩy cuộc đấu tranh dân chủ cho thế hệ sau. Đó là trách nhiệm của chúng ta.” Sẽ có một mùa hoa mọc lên bởi hạt giống nhiệt huyết trong sáng ấy, đó là Joshua Wong, 17 tuổi, một gương mặt nổi bật trong phong trào đòi dân chủ tại Hồng Kông, phát động vào những ngày cuối tháng 9, tới nay vẫn còn tiếp tục, thu hút quan tâm của thế giới.
Toát ra từ không khí sôi sục mà ôn hòa, đáng khâm phục, một cuộc biểu tình mang tinh thần bất bạo động, không hỗn loạn, không xả rác, không hôi của, không gây hấn, những cái không chỉ có được của một nền giáo dục chú trọng đến Đức, Trí con người, mà họ đã được thấm nhuần ngót một thế kỷ qua tại Hồng Kông. Báo Slate Magazine gọi họ là “những người biểu tình lịch sự nhất thế giới.”
Toát ra từ không khí trẻ trung, sáng tạo, của hình ảnh những chiếc ô, và được gọi là cuộc Cách Mạng Dù.
Tham gia biểu tình, đa số là thanh niên, cả lớp tuổi teen, ai cũng cầm theo dù, để che mưa nắng, nhưng khi bị vòi rồng xịt nước và hơi cay thì nó trở thành một thứ bảo vệ, họ nằm xuống để tránh vỡ hàng ngũ và phủ lên nhau những chiếc dù. Như hàng ngàn cây nấm nhỏ đủ mầu mọc lên sau trận mưa của nghìn tấm lòng trẻ trung đang sống cho lý tưởng của mình. Chiếc dù, nó có rộng một không gian để che thêm cho người bên cạnh, có chút chi vì người...
Không biết là tình cờ tự phát của đám đông hay là ý tưởng của những đầu óc lãnh đạo rất sáng tạo, mà chiếc dù đã là một đại diện hết sức thơ mộng cho một phong trào chính trị. Phải chăng nét ấy là một trong những điều đã gây sức cuốn hút?
Và, đánh động nhịp tim lãng mạn của tôi. Chiếc ô. Chả phải hai người yêu đi bên nhau nắng hay mưa thường cũng là chiếc ô xinh trên đầu, và còn dùng che cho một nụ hôn vội vàng nữa, ôi là, chiếc dù, giờ nó che cho nghìn nghìn tấm lòng bất khuất kia dưới sức mạnh tấn công của vòi rồng và hơi cay. Họ ngủ dưới những cây dù ngoài đường để duy trì tinh thần tranh đấu, họ viết những biểu ngữ trên dù cho lộng lẫy nắng tự do, chưa bao giờ thấy cây dù lại nhiều công dụng và đáng yêu đến thế. Có thanh niên còn cầm dù che cho cảnh sát lúc trời mưa, và hình ảnh làm xúc động được truyền đi trên facebook, một sinh viên áo đen cầm dù đứng bất động trong mù mịt khói cay, một cảnh sát sau khi bắn hơi cay đã vội lấy chai nước rửa mắt cho một sinh viên qua hàng rào, thật tình chưa có một cuộc biểu tình nào có những hình ảnh đẹp, nhân bản đến thế...
Lại nói đến một biểu tượng thơ mộng nữa, là dải nơ vàng, phong trào đã dùng nó làm biểu tượng cho khát vọng dân chủ.
Hình ảnh những chiếc dù và những dải nơ vàng, cùng những tấm giấy đủ mầu ghi lời cầu chúc, khẩu hiệu đấu tranh, dán kín những bức tường làm không khí biểu tình đầy sắc mầu như lễ hội, họ cài trên ngực áo, họ đeo vào cổ tay, treo trên hàng rào, cửa nhà, cột điện, khắp các nẻo đường vàng rực một loại hoa dân chủ ấy. Tôi càng thích hơn khi biết nguồn gốc của dải nơ vàng.
Theo nghiencuuquocte.net, 400 năm trước, ở Anh người ta rất yêu thích bài thơ “Dải ruy băng vàng trên vai cô ấy” (She wore a yellow ribbon) nói về người vợ đeo dải nơ vàng để tưởng nhớ và hy vọng chồng phương xa sẽ trở về. Trong cuộc nội chiến Anh vào thế kỷ 17, những người lính ra trận đeo ruy băng vàng trên cổ như thể đeo sự nhớ thương của người vợ bên mình.
Kỵ binh Hoa Kỳ ở thế kỷ 19 cũng đeo trên cổ ruy băng vàng với ý nghĩa như thế, như truyện tranh anh chàng Lucky Luke với dải băng vàng ở cổ áo, xem lúc nhỏ mà giờ nhờ cuộc biểu tình Hồng Kông, tôi mới được biết rõ nguồn gốc. Đến khi Irwin Levine viết bài hát “Cột một dải ruy băng vàng lên cây sồi già” (Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree) thì nó được phổ biến trên toàn thế giới thập niên 1970. Bài hát nói về một anh chàng bị kết án 3 năm tù về tội buôn lậu (!) Trước khi được về nhà, anh viết cho vợ, If you still want me, Oh, tie a yellow ribbon ’round the ole oak tree... (Nếu em còn yêu anh thì hãy cột một dải ruy băng vàng lên cây sồi trước nhà...) Và khi chàng về đến nhà thì thấy cây sồi như mái tóc vàng óng ánh bởi ngàn sợi ruy băng! Sao tôi thấy mê những ý tưởng thiên thần này quá. Từ đó yellow ribbon mang ý nghĩa của Hy Vọng, Chiến Thắng và Tình Yêu.
Phong trào biểu tình đã chọn nơ vàng để gửi đi thông điệp họ tin vào một chiến thắng bằng vũ khí Bất Bạo Động và Tình Yêu. Cũng có nghĩa, chấp nhận hy sinh để hái được đóa hoa Dân Chủ.
Một nét thơ mộng, mà khẳng khái, nữa là họ chọn bài “Do you hear the people sing” (Bạn có nghe mọi người hát) trong vở nhạc kịch “Những người khốn khổ” (Les Miserables) để cùng nhau ca vang trong cuộc biểu tình, đây là bài mà các nhà cách mạng Paris hát trong cuộc nổi dậy chống chính phủ. Cũng rất dễ thương và thông minh, khi họ chọn cách hát vang bài Happy Birthday để thông báo cho nhau có kẻ lạ trà trộn vào hàng ngũ để gây rối, và sẽ bị tống khứ dưới sức mạnh của hợp ca.
Điểm qua những biểu tượng, thì đã có hai trong số đó lấy từ kho văn học, tôi thấy thích thú bởi ý tưởng của một phong trào chính trị mang đầy tính nghệ sĩ này.
Chỉ có một biểu tượng buồn là chiếc áo thun đen mà họ mặc khi đi biểu tình, mầu sắc đen trong vô vàn sắc rực rỡ của dù, của nơ vàng, của những tấm giấy nguyện cầu, là để tưởng nhớ sự kiện Thiên An Môn, cũng hàm ý lên án sự đàn áp bằng bạo lực. Mầu đen ấy là nét quyết liệt bên cạnh những hình ảnh thơ mộng kia.
Với những biểu tượng vừa dịu dàng vừa kiên cường được chuyên chở bởi một lớp thanh niên có ý thức chính trị và có trình độ văn hóa cao, có phải vì vậy mà cuộc biểu tình này gây được sự chú ý và tình cảm thế giới?
Trong những giờ khắc căng thẳng ấy, có những phút thở ra nhẹ nhàng từ những người trẻ tuổi, trẻ trung thì cái gì cũng có thể xảy ra, và đã xảy ra một cách ngộ nghĩnh, đẹp đẽ, như vầy, một cặp đôi đã đính ước nhau trong lúc cô Crystal Chan còn mặc chiếc áo mưa trong suốt để phòng hơi cay, trên cánh tay cậu Yau Chi-hang thì đầy khẩu hiệu đấu tranh, sau đó cả hai cùng hô, “phổ thông đầu phiếu thực sự.” Lại có cặp chụp hình cưới trong hàng ngũ biểu tình (tienphong.vn.) Cái lãng mạn của thời phải sống chung với quá nhiều khắc nghiệt, cũng có khác, và có lẽ nó quý hơn xưa, vì nó quá khó khăn, trắc trở.
Tôi muốn nói đến một ánh sáng xanh vào đêm 29 tháng 9. Thay vì là đêm thắp nến như thường tình, thì họ, những người trẻ của thế hệ hôm nay đã thắp bằng ánh sáng điện thọai di động, hàng chục ngàn iPhone tỏa ra mầu xanh huyền diệu trong đêm. Lồng trong không khí sôi sục của một cuộc biểu tình chính trị là ánh sáng của bài thơ. Bài thơ xanh hy vọng. Hy vọng họ sẽ chiến thắng, và sẽ gây được hiệu ứng tới những nơi trên thế giới còn vắng bóng tự do dân chủ, dân quyền.
Đó là những chi tiết làm tôi cảm động và rung động.
Trong một lan can ở khu Admiralty (khu Kim Chung) người ta thấy một biểu ngữ mầu vàng, chữ đen, câu “You may say I’m a dreamer. But I’m not the only one” - Bạn có thể cho rằng tôi là một kẻ mộng mơ, nhưng không chỉ riêng tôi - (thanhnien.com.vn.) Ai đó đã nói, hầu như những thành tựu trên cõi trần gian này đều khởi đầu từ một giấc mơ.
Những người trẻ ở Hồng Kông hôm nay đang thức dậy để hiện thực giấc mơ của mình, để nhân dân họ được sống trong cảnh mà họ ước mơ. Cho tới hôm nay, những đòi hỏi của sinh viên học sinh và dân chúng chưa được chính quyền Hồng Kông đáp ứng, và chúng ta chờ đợi những ngày sắp tới trong cầu nguyện và tin tưởng.
Tôi xin buộc trên cổ tay mình một dải nơ vàng.
 
Hôm nay, 14 tháng 10, kể từ lúc bùng ra ngày 26.9, cuộc biểu tình đã bước sang ngày thứ 19, chính quyền Hồng Kông đã động đậy, không phải để đối thọai với sinh viên học sinh và nhân dân, mà lịnh cho cảnh sát dỡ bỏ rào chắn của họ ở khu Admiralty, sau khi những hàng rào bằng kim loại bị cắt thì sinh viên dựng lại bằng hàng rào tre, họ nói, “Chúng tôi có thể rời đi vì chúng tôi không thể chống lại các anh, nhưng chúng tôi sẽ không bỏ cuộc.” “Chúng tôi sẽ không đối phó với họ bằng vũ lực.” (vnexpress.net)
Ngày 15 tháng 10, theo tin tức RFA, “Cuộc biểu tình bất bạo động của sinh viên học sinh Hồng Kông đã bước sang một bước ngoặc mới khi cảnh sát tiến hành các cuộc đàn áp bằng sức mạnh bất kể người biểu tình vẫn kiên cường không tỏ thái độ chống lại hay bỏ cuộc. Liệu sức chịu đựng của họ kéo dài được bao lâu và thử thách này phải nên chấp nhận trong thái độ nào?... 46 người bị bắt, hàng trăm căn lều bị xé rách, mọi chướng ngại đều bị giải tỏa và nhất là đã có máu đổ. Xét về bề ngoài thì sự đàn áp chưa đến nỗi thô bạo nếu so với các cuộc cách mạng khác... tuy nhiên đối với Hong Kong, xứ sở có truyền thống dân chủ từ hơn trăm năm qua thì việc cảnh sát đánh đập sinh viên, học sinh là hành động khó tha thứ.”
Tôi thấy buồn và lo lắng.
Cầu nguyện cho họ giữ được lửa đấu tranh, xin Thánh Gandhi ban cho họ sức mạnh bất bạo động. Cơ hồ như một đường chỉ mong manh, khi những tấm thân, đầu óc thư sinh ấy bị khích động bằng bạo lực, liệu họ có đủ bình tĩnh bất bạo động không, có đủ đoàn kết và lì đòn để phong trào không bị dập tắt không.
Tôi sợ thấy hình ảnh những chiếc dù bị rách, nằm thúc thủ trên những con đường, tôi sợ những đóa hoa vàng dân chủ bị héo dưới nắng bạo lực. Thời gian ơi, xin ở cùng họ, những tấm lòng yêu nước trẻ trung, nghệ sĩ và trong sáng, để cho họ thành tựu được giấc mơ dân chủ.
Santa Ana, 16 tháng 10.2014
Ntkm
 
***
 
Và bây giờ, Joshua Wong vừa đón sinh nhật 30 tuổi trong nhà tù.

TRÊN CON ĐƯỜNG VẠN LÝ

 

Abstrait painting. Source Internet
 
Cũng đã khá lâu, không nhớ đích xác thời gian nào, mình đọc được một bài viết đặc sắc --có thể là của Việt Phương và ai nữa -trong đó thấp thoáng bóng hình của kẻ này. Vậy xin đăng lại ở đây kèm theo ít bài ĐỎAN THI của MÙA HƯ ẢO, xem như một cuộc hội ngộ văn chương. Mời các thân hữu cùng chia sẻ. NGUYỄN
 
Trên con đường vạn lý
    Xem phim La Strada (The Road) của Fedrico Fellini ngày nào, lòng ta xiết bao bồi hồi xúc động. Chợt nhìn lại con đường vạn lý mình đã đi qua cũng vậy. Có những phút giây thật đẹp như khi dừng lại bên đường hái một bông hoa tặng người, hay như người nghệ sĩ kia dừng chân bên tảng đá thiên thu, đọc lên một bài đoản thi gởi cho cây lá và mây trời. Hỡi hành nhân, làm sao không kể đến bao nỗi nhọc nhằn oan khiên, những mất mát chia lìa -như hoàng hôn lịm tắt ở chân trời. Nhưng người ơi, xin cứ tiếp tục dấn bước vì đó là điều tất yếu của phận người. Đây, xin mời nghe Trên Con Đường Vạn Lý để chia sẻ cùng nhà thơ Cung Vũ và nhạc sĩ Việt Phương.
 
Lạc
   Trên con đường chông chênh của kiếp người, có khi nào ta bước lạc. Bạn của tôi ơi, thử nhìn lại xem. Có phải ‘tôi là tôi từ chân bước ra đời / tôi là tôi từ khi biết yêu người’? Đẹp. Quả là đẹp. Nhưng rồi do đâu mà tôi lạc bước giữa cuộc đời biến động, khi trùng dương song gào? Như dòng sông đã xa nguồn, giờ đây tôi lạc bước vào cõi Ngâu Vầy, của những mảnh thủy tinh vỡ và những giọt lệ xanh như trong thơ Maya Angelou. Nhưng tôi vẫn đi, vẫn đi… Để một ngày kia tới bến bờ quê mẹ là cõi trời Mạn Đà La.
 
Về
    Thưa các anh chị và các bạn,
Như vừa thấy đấy, tôi đã đi trên con đường vạn lý và có đôi khi tôi đi lạc. Để rồi về đâu, về đâu khi chiều hôm rũ bóng, tháng ngày qua và tình yêu bỗng như cánh buồm Lermontov đi vào bão tố.
Đi và tiếp tục đi. Có khi chợt dừng lại kiếm tìm những ngày xưa thân ái. Nhưng còn đâu vườn xưa của hoa và chim chóc, với vầng trăng thơ ấu. Ôi, dừng đây để nghe đổ vỡ và oan trái dội về.
Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn / về đây hoang vắng lạnh mấy cung đàn (NVĐ)
Tôi tìm chi, kia dòng sông đã tiễn người đi, mái nhà xưa giờ đây là nấm mộ buồn. Với bức tranh màu phù dung hoang tím. Ôi, chỉ là giấc mơ thôi.
 
TÔI ĐI. TÓC TRÊN CÂY
 
mùa này
cây sầu đông. đầu ngõ. còn ra hoa. tím
tôi đi. một mình
tóc trên cây
trăng mùa xưa. đôi mắt
chợt thấy lại
một mái trường
ngói đỏ
buổi thiếu thời. ở huế
chiếc xe đạp. kính koong
em
em có cùng tôi. về lại
 
 
TÌM NHAU
 
từ lạc nhau
ở khu vườn gitanjali
khi bông sứ nở
anh đi tìm
em
qua nắng hạn
qua nhật thực
mưa ngâu
chỉ thấy
đồi xa. mây phủ
người con gái ấy. không còn đứng hát.
bên dòng sông xưa
d. ơi
d. ơi
em về đâu
chim đã bay đi
dưới trời bát nhã. thơ rơi
 
HOA QUỲ. TỪ KẼ ĐÁ
 
buổi chiều
đứng ngắm
bông dã quỳ
mọc từ kẽ đá
hồn tịch lặng
ôi. đá xưa. đâu. người
 
 
… Và lỜi Đá kỂ
 
tảng đá. hình cổ quái
nằm bên sườn đồi
với lũ quạ. và những trái thông. khô
kể chuyện
gã nhà thơ
tóc râu. hoang dã
qua đây
nguyện cầu gặp lại. người xưa
rồi ngồi. thiền định. cho tới khi hóa đá
giờ nằm. cô đơn. bên khóm quỳ. vàng
nghe gió. từ thiên thu. thổi
 
 
NGƯỜI HÁT. TẶNG TÔI
 
xưa
người hát
tặng tôi
một đóa. quỳnh. thơ
hoàng hôn
màu mắt lá. trên cây
ôi. mái tóc
phố khuya
những ngọn đèn. mờ
sao tôi đi mãi
một mình
đã bao năm
không bàn tay ấm trong tay
chỉ nghe trong hồn
chiều
một đóa quỳnh. rã cánh
NXT
 
 
 

Sunday, October 18, 2026

C Ò N S Á U T Á M

Hoàng Xuân Sơn
 

Chảy vào máu thịt hồng tươi
Câu 6 câu 8 nhịp đời mênh mang
Ở đâu ta cũng chào hàng
Từ cơn muộn ngủ
Nối lang thang ngày
Từ ủ lên mắt hơi tay
Ấp chút nhiệt lượng
Vơi
Đầy
     Tháng năm
Sáu.tám nơi chốn ăn nằm
Viết hoa trong lá
Viết rằm lên trăng
Viết
       Buồn
                                 Vui
Đẹp thường hằng
Viết không thành có nhiên đăng tuổi chiều
Khi níu
Kéo
       Từng liêu xiêu
Và khi vịn dậy từng yêu ái
Còn
 
•
H O À N G X U Â N S Ơ N
12 tháng 10, 2026
 

Friday, October 16, 2026

NEPAL: HAI THẢM HỌA CHỈ TRONG VÒNG 46 NGÀY

NGÔ THẾ VINH
 
Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.
 
Thảm họa thứ nhất, ngày 26/8, bắt nguồn từ sự sụp đổ của một khối băng và đá núi cao trong vùng Langtang, gần biên giới Nepal–Tây Tạng.
 
Thảm họa thứ hai, ngày 11/10, theo nhận định ban đầu, xuất phát từ một vụ sạt lở đất đá chắn ngang dòng sông Budhi Gandaki, tạo thành một con đập chắn tự nhiên rồi bị phá vỡ.
 
Hai biến cố liên tiếp đặt ra một câu hỏi vượt khỏi phạm vi quốc gia Nepal: phải chăng các lưu vực núi cao Himalaya đang bước vào một thời kỳ bất ổn mới, khi biến đổi khí hậu, địa chất và những can thiệp của con người cùng làm gia tăng nguy cơ thiên tai dây chuyền?
 
 
 
Hình NEPAL – Bản đồ địa hình và diễn tiến hai thảm họa lũ quét Nepal
ngày 26/08/2026 tại vùng Langtang – Bhote Koshi (màu đỏ) và ngày 11/10/2026
tại lưu vực sông Budhi Gandaki (màu vàng cam). Các mũi tên xanh chỉ hướng dòng chảy
từ vùng núi cao Himalaya xuống các thung lũng, theo hệ thống sông Trishuli và Gandaki,
trước khi đổ về đồng bằng Terai. Hai thảm họa cách nhau chỉ 46 ngày, cho thấy tính dễ
tổn thương của vùng núi Himalaya trước những biến động địa chất và thủy văn cực đoan.
Viet Ecology Press, 10/2026
 
I. Thảm họa Nepal lần thứ hai: Điều gì đã xảy ra ngày 11/10/2026?
Theo Trung tâm Quốc tế Phát triển Tổng hợp Miền Núi (ICIMOD / International Centre for Integrated Mountain Development), trận lũ bắt đầu vào khoảng 4 giờ sáng, giờ Nepal, ngày 11/10/2026. Địa điểm nghi xảy ra biến cố khởi phát nằm gần Chumchet, thuộc khu vực Chumnubri của huyện Gorkha, cách Kathmandu khoảng 100 km về phía tây.
 
Những tin tức ban đầu cho thấy một khối đất đá lớn từ sườn núi sạt lở xuống, chắn ngang dòng sông Budhi Gandaki. Nước từ thượng nguồn tiếp tục đổ về, dâng cao phía sau đập chắn tự nhiên. Khi khối đất đá không còn chịu nổi sức ép của nước, đập chắn bị phá vỡ. Một khối nước lớn bất ngờ tràn xuống hạ lưu, cuốn theo bùn, cát, đá và cây cối, tạo thành trận lũ quét có sức tàn phá dữ dội.
 
ICIMOD gọi đây là một trường hợp thuộc loại landslide-dam breach flood, tức lũ do vỡ đập hình thành bởi sạt lở. Đây là nhận định khoa học ban đầu, chưa phải kết luận điều tra cuối cùng.
 
Những hình ảnh ghi nhận tại Salleri và Jagat cho thấy nước lũ chảy xiết giữa các sườn núi, cuốn theo các công trình xây dựng, nhà cửa và cầu đường. Nhiều khu dân cư dọc thung lũng bị cô lập. Theo các báo cáo ban đầu của Reuters và Associated Press, ít nhất năm người mất tích, 49 người được cứu thoát. Số nhà bị cuốn trôi được các nguồn ghi nhận khác nhau, từ khoảng một chục đến ba chục căn; nhiều cây cầu và một công trường thủy điện bị hư hại. Những con số này còn có thể thay đổi khi công tác cấp cứu tiếp tục.
 
Một dấu hiệu thủy văn đáng chú ý là tại trạm Arughat, mực nước lên đến 8,43 mét vào khoảng 9 giờ 45 sáng, vượt ngưỡng nguy hiểm 5 mét.
 
Chính quyền Nepal đã phát cảnh báo cho các cộng đồng dọc các con sông Budhi Gandaki, Trishuli và Narayani, đồng thời huy động quân đội, cảnh sát và trực thăng cấp cứu.
 
II. Vì sao một vụ sạt lở có thể gây ra trận lũ lớn?
Để hiểu cơ chế thảm họa 11/10, cần nhìn vào địa hình đặc biệt của rặng núi Himalaya. Đây là một trong những hệ thống núi trẻ và cao nhất thế giới, được hình thành bởi sự va chạm giữa hai khối lục địa Ấn Độ và Á–Âu, bắt đầu khoảng 50-60 triệu năm trước. Các sườn núi rất dốc, đá bị nứt vỡ bởi hoạt động kiến tạo, trong khi những con sông lớn liên tục đào sâu các lòng thung lũng.
 
Trong điều kiện ấy, một vụ sạt lở không chỉ phá hủy nơi nó xảy ra mà còn có thể làm thay đổi tức thời toàn bộ chế độ dòng chảy phía hạ lưu.
 
    Thứ nhất, sườn núi mất ổn định. Một khối đất đá tách khỏi sườn dốc và đổ xuống lòng sông. Nguyên nhân có thể bao gồm đứt gãy địa chất, xói mòn chân dốc, nước thấm trong các khe nứt làm sự suy yếu của vật liệu kết dính. Đối với biến cố ngày 11/10, chưa xác định được chính xác yếu tố nào đã kích hoạt vụ sạt lở.
     Thứ hai, hình thành đập chắn tự nhiên. Đất đá tích tụ trong lòng thung lũng, tạo thành vật cản. Dòng nước từ thượng nguồn tiếp tục chảy tới, làm mực nước dâng lên phía sau đập.
     Thứ ba, đập bị phá vỡ, khi nước tràn qua đỉnh đập, xói mòn bề mặt hoặc thấm qua những khe hở, vật liệu đất đá có thể bị cuốn đi. Một khe xói nhỏ có thể phát triển thành đường thoát nước lớn, khiến đập sụp đổ từng phần hoặc đột ngột.
     Thứ tư, hình thành dòng lũ bùn đá. Khối nước được bung ra cuốn theo đất đá từ chính thân đập và tiếp tục xói mòn lòng sông phía hạ lưu. Dòng lũ có thể gia tăng khối lượng, thay đổi tốc độ và tăng thêm sức phá hủy trên đường di chuyển.
 
Đó là một thảm họa dây chuyền (cascading hazard): biến cố địa chất khởi đầu dẫn đến lũ dữ, rồi gây thiệt hại cho con người, nhà cửa và cầu đường.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng chưa có bằng chứng đầy đủ để kết luận vụ sạt lở ngày 11/10 trực tiếp do băng tan, động đất hay mưa lớn gây ra. Việc xác định nguyên nhân cần phải dựa thêm vào các ảnh vệ tinh, dữ liệu khí tượng, địa chấn và khảo sát thực địa.
 
III. Thảm họa Nepal lần thứ nhất, ngày 26/8/2026: Một cơ chế khác
Nếu thảm họa 11/10 bắt nguồn từ một vụ sạt lở chắn dòng chảy, thì biến cố 26/8 phức tạp hơn, với điểm khởi phát ở vùng núi cao gần Langtang Lirung, sát biên giới Nepal–Tây Tạng.
Các ảnh vệ tinh được giới khoa học phân tích cho thấy một phần sườn núi, bao gồm băng và nền đá bên dưới, đã sụp đổ. Khối vật liệu khổng lồ lao xuống thung lũng, cuốn theo trầm tích và nước, chuyển hóa thành dòng lũ bùn đá có năng lượng rất lớn.
Theo nghiên cứu của Hội Công nghệ Động đất Quốc gia Nepal (NSET / National Society for Earthquake Technology–Nepal), khối băng đá bị tách rời có liên quan đến một vùng sườn núi rộng khoảng 1 km². Các tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghi ngờ có động đất, nhưng phân tích tiếp theo cho thấy chính sự sụp đổ của khối vật liệu đã tạo ra tín hiệu địa chấn ấy.
 
Dòng lũ di chuyển qua Bhote Koshi, rồi Trishuli và Narayani, tàn phá những cộng đồng nằm dọc hành lang sông, trong đó có các khu vực Rasuwagadhi và Syabrubesi.
Khác với lũ do mưa thông thường, biến cố này bắt đầu bằng sự sụp đổ đột ngột của một khối băng đá ở độ cao lớn. Trong quá trình di chuyển, nó liên tục thu nhận thêm đất đá, nước và vật liệu từ lòng các thung lũng.
Một số nghiên cứu bước đầu còn cho thấy đất đá có thể đã tạo ra các đập chắn dòng tạm thời, làm quá trình lũ trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, trình tự chính xác giữa dòng bùn đá ban đầu, sự hình thành đập chắn và các đợt nước thoát ra vẫn còn những điểm cần được làm rõ thêm.
Về thương vong trong thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, theo số liệu được dẫn từ Reuters ngày 5/10, ít nhất 1.455 người thiệt mạng, 5.285 người mất tích và 13.795 người được cứu. Thiệt hại kinh tế và nhu cầu tái thiết được ước tính gần 5 tỷ USD.
 
IV. Những tương đồng và khác biệt giữa hai thảm họa
Điểm giống nhau quan trọng nhất là sức tàn phá của thiên tai có thể gia tăng rất nhanh khi nhiều biến cố nối tiếp nhau. Vì vậy, chỉ theo dõi lượng mưa là chưa đủ để cảnh báo lũ quét ở Himalaya.
Tuy có những điểm giống nhau, không nên xem hai thảm họa là cùng một hiện tượng. Trong biến cố ngày 26/8, sự sụp đổ của một khối băng đá trên núi cao đóng vai trò khởi đầu. Trong trận lũ ngày 11/10, những bằng chứng ban đầu lại hướng đến một vụ sạt lở đất đá chắn ngang dòng sông, tạo thành đập chắn tự nhiên rồi bị phá vỡ. Cho đến nay, chưa có đủ bằng chứng xác nhận băng hà trực tiếp gây ra trận lũ thứ hai.
 
V. Biến đổi khí hậu: Nguyên nhân hay yếu tố làm gia tăng nguy cơ?
Ở rặng núi cao Himalaya, nhiệt độ tăng có thể thúc đẩy sự tan chảy của băng hà và tầng đất đóng băng vĩnh cửu (permafrost), làm suy yếu khả năng liên kết giữa băng, đất và đá. Khi băng trong các khe nứt tan ra, cấu trúc sườn núi có thể thay đổi, làm gia tăng nguy cơ sụp đổ.
Đối với thảm họa 26/8, giả thuyết về sự mất ổn định của khối băng đá trong điều kiện khí hậu ấm lên có cơ sở khoa học đáng quan tâm. Tuy nhiên, việc quy kết một biến cố riêng lẻ cho biến đổi khí hậu vẫn cần những nghiên cứu chuyên biệt.
Đối với thảm họa 11/10, mối liên hệ ấy còn gián tiếp hơn. Một vụ sạt lở có thể xuất phát từ nhiều yếu tố địa chất, thủy văn hoặc kiến tạo, ngay cả khi không có tác động khí hậu rõ rệt.
 
Các chuyên gia môi sinh cho rằng: Không nên xem biến đổi khí hậu là lời giải thích duy nhất cho mọi thảm họa Himalaya. Nhưng cũng không thể bỏ qua vai trò của nó trong sự biến đổi nhanh chóng của môi trường núi cao.
 
VI. Bài học từ hai thảm họa: Không thể chỉ xây đập và chờ cảnh báo mưa
Hai biến cố Nepal cho thấy một hạn chế nghiêm trọng trong cách phòng chống rủi ro thiên tai truyền thống.
Thông thường, hệ thống cảnh báo lũ dựa vào lượng mưa, mực nước sông và dự báo khí tượng. Nhưng đối với lũ phát sinh từ sụp đổ băng đá hoặc vỡ đập tự nhiên, thời gian từ khi khởi phát đến lúc dòng lũ tới khu dân cư có thể rất ngắn.
Cần có một hệ thống giám sát tổng hợp, kết nối ảnh vệ tinh, radar xuyên mây, cảm biến địa chấn, trạm đo mực nước và những thiết bị phát hiện thay đổi bất thường của dòng chảy.
 
Một dấu hiệu đặc biệt nguy hiểm là mực nước phía hạ lưu bỗng hạ thấp bất thường, mặc dù nước từ thượng nguồn vẫn tiếp tục đổ về. Đó có thể là dấu hiệu dòng sông đã bị một khối đất đá chắn ngang. Khi đập chắn tự nhiên ấy bị phá vỡ, nước tích tụ phía sau có thể bất ngờ tràn xuống, gây nên một trận lũ quét dữ dội mà người dân phía hạ lưu không kịp tránh.
 
Các công trình thủy điện cũng cần được đánh giá lại trong bối cảnh một chuỗi thiên tai. Một con đập có thể được thiết kế để chịu một trận lũ lớn theo thống kê khí tượng, nhưng chưa chắc đã chịu được dòng lũ mang theo những tảng đá khổng lồ, bùn đặc và thân cây.
Công tác quy hoạch phải tính đến toàn bộ lưu vực, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi công trình.
Đặc biệt, đối với các hệ thống sông xuyên biên giới, việc chia sẻ dữ liệu địa chất và thủy văn giữa những quốc gia thượng nguồn và hạ nguồn có ý nghĩa sống còn.
 
VII. Kết luận: Hai thảm họa, một lời cảnh báo
Hai thảm họa ngày 26/8 và 11/10/2026 không phải là hai bản sao của cùng một hiện tượng.
Nhưng cả hai đều cho thấy sự mong manh của những thung lũng núi cao, nơi một vụ sạt lở có thể dẫn đến những trận lũ tàn phá các cộng đồng cách xa hàng chục kilômét.
Đối với Nepal, thách thức trước mắt là cấp cứu, tái thiết và bảo vệ những cộng đồng còn sống trong vùng nguy hiểm. Nhưng về lâu dài, nhiệm vụ lớn hơn là xây dựng một hệ thống cảnh báo có khả năng nhận diện những chuỗi tai biến trước khi chúng trở thành thảm họa.
Hai thảm họa xảy ra cách nhau chỉ 46 ngày chưa đủ để kết luận thiên tai Himalaya đang xảy ra thường xuyên hơn. Nhưng cả hai đều là những lời cảnh báo nghiêm trọng, đòi hỏi giới khoa học và những người có trách nhiệm phải xem xét lại sự an toàn của các thung lũng miền núi.
 
Bài học cuối cùng không chỉ dành cho Nepal: một dòng sông có thể trở thành hiểm họa ngay cả khi trời không mưa. Và đôi khi, nguyên nhân của trận lũ không nằm trong lòng sông, mà ở một sườn núi cách xa hàng chục kilômét.
NGÔ THẾ VINH
 
Viet Ecology Press, 14/10/2026
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. ICIMOD (11/10/2026). Landslide-dam breach may have triggered Budhi Gandaki flash flood.
Phân tích khả năng một vụ sạt lở đất tạo đập chắn tạm thời trên sông Budhi Gandaki. Khi đập tự nhiên vỡ, lượng nước tích tụ đột ngột tràn xuống hạ lưu, gây lũ quét.
 
2. Reuters (11/10/2026). Nepal urges villagers to evacuate after flood triggered by landslide.
Tường thuật tình trạng khẩn cấp sau lũ quét tại miền Bắc Nepal. Chính quyền yêu cầu dân cư vùng nguy hiểm di tản, đề phòng lũ tiếp diễn và sạt lở thứ cấp. Nhấn mạnh sự mong manh của các cộng đồng miền núi Himalaya.
 
3. Associated Press (11/10/2026). Villages evacuated as flash flood from Budhi Gandaki river hits northern Nepal.
Ghi nhận hoạt động di tản các làng ven ong Budhi Gandaki trước nguy cơ lũ quét. Cho thấy tác động trực tiếp của thiên tai đối với đời sống dân cư, giao thông và cơ sở hạ tầng miền núi.
 
4. NSET (2026). Rasuwa Debris Flash Flood 2026. PreventionWeb (2026). Scientific anatomy of the 26 August 2026 Bhotekoshi flash flood.
 
Hai tài liệu liên quan đến lũ quét và dòng bùn đá tại vùng Himalaya. Cung cấp cơ sở xem xét chuỗi tương tác giữa sạt lở, băng đá, dòng nước và địa hình dốc, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu giám sát nguy cơ thiên tai xuyên biên giới.
 
5. Reuters (5/10/2026). Nepal ends search and rescue after flood, focuses on rehabilitation.
Đề cập việc chuyển trọng tâm từ tìm kiếm cứu nạn sang phục hồi sau thiên tai, bao gồm tái thiết hạ tầng, hỗ trợ người dân mất nhà cửa và khôi phục sinh kế. Cho thấy hậu quả kéo dài của lũ quét vượt xa thời điểm thảm họa.
 
6. Ngô Thế Vinh (9/2026). Viễn Kiến Môi Sinh của Đức Dalai Lama. Viet Ecology Press.
Trình bày tư tưởng bảo vệ môi sinh của Đức Dalai Lama, đặc biệt đối với cao nguyên Tây Tạng, nguồn nước và hệ sinh thái Himalaya. Nhấn mạnh mối liên hệ giữa đạo đức, trách nhiệm con người và sự tồn vong của môi trường thiên nhiên.
 
7. Ngô Thế Vinh (9/2026). Ba Tuần Sau Thảm Họa Nepal–Tibet. Viet Ecology Press.
Phân tích thảm họa lũ quét ngày 26/8/2026 trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bất ổn địa chất Himalaya. Đặt vấn đề về nguy cơ thiên tai dây chuyền, sự thiếu hụt hệ thống cảnh báo sớm và nhu cầu hợp tác khoa học xuyên biên giới. 

Sunday, October 11, 2026

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 
VĂN HỌC PRESS
22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA *Vmail: +1-949-981-3978
*email: vanhocpress@gmail.com * Facebook: Van Hoc Press
 
Trân trọng giới thiệu
JAMES JOYCE
Dubliners
Những kiếp sống mòn
Tập truyện
 

 
TRỊNH Y THƯ dịch & giới thiệu
Tranh & thiết kế bìa ĐINH TRƯỜNG CHINH
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026
 
LỜI NGƯỜI DỊCH
 
Trước khi vào sách
 
Tập truyện Dubliners là tập hợp mười lăm truyện ngắn của James Joyce, xuất bản lần đầu năm 1914. Hãy tưởng tượng một thành phố che phủ trong màn mưa và sự hối tiếc, nơi những giấc mơ đông lại thành nỗi thất vọng và cuộc sống vang vọng tiếng leng keng rỗng tuếch của biết bao tiềm năng chưa hoặc không được khai mở. Đó là thành phố Dublin, Ireland vào đầu thế kỷ XX, làm bối cảnh cho toàn bộ tập truyện, những câu chuyện miêu thuật cuộc sống thường ngày của cư dân thành phố và cho người đọc một bức chân dung sâu sắc và thường mang tính mỉa mai phê phán về xã hội, văn hóa và chính trị của thời đại đó. Mỗi câu chuyện là một cái nhìn thoáng qua về cuộc sống của những người dân Dublin bình thường, khắc họa những cuộc đấu tranh, mong muốn và khát vọng của họ, một bức tranh thu nhỏ nhưng phức tạp, ghi lại nỗi tuyệt vọng câm lặng và nỗi thất vọng âm ỉ của cuộc sống bị mắc kẹt trong một vòng xoay trì trệ dường như không lối thoát.
 
Sự quan sát tinh tế và phong cách kể chuyện sống động của Joyce đã nắm bắt được những sắc thái của trải nghiệm con người, phản ánh các chủ đề như sự tê liệt, sự thức tỉnh và tính phức tạp trong các mối quan hệ của con người.
 
Những nhân vật trong các truyện đều có chung một định mệnh nghiệt ngã. Ông Kernan, một người đàn ông từng là người kiêu hãnh, bị dìm xuống bởi chứng nghiện rượu và sự khinh miệt của xã hội. Cô Eveline, một cô gái trẻ đứng chênh vênh trên bờ vực, dù trong lòng rất muốn trốn thoát khỏi cuộc sống giam hãm tù túng bởi bổn phận và truyền thống, nhưng không thoát ra được vì xích xiềng của các điều đó trì kéo cô lại. Little Chandler, một người đàn ông khao khát đam mê nghệ thuật, chỉ tìm thấy đống tro tàn nguội lạnh của một cuộc hôn nhân không tình yêu. Và rất nhiều các nhân vật khác điển hình như vậy trong tập sách. Mỗi nhân vật, được Joyce tinh tế tạo dựng, trở thành một hợp âm buồn thảm trong bản giao hưởng về sự vỡ mộng của thành phố Dublin.
 
Những câu chuyện dẫn dắt người đọc đi quanh co qua những con phố lát đá cuội và những quán rượu mịt mù khói thuốc, cho thấy sự kềm kẹp ngột ngạt của những ràng buộc xã hội, giáo điều tôn giáo và khó khăn kinh tế. Tham vọng cùng hoài bão của biết bao con người cứ thế héo mòn dần trong không khí ẩm ướt của sương mù và những trận mưa, thay vào đó là sự chấp nhận cái tầm thường một cách đầy cam chịu. Tiếng cười, khi xuất hiện, nhuốm màu sắc mỉa mai, che giấu sự bất mãn gặm nhấm âm ỉ bên dưới bề mặt.
 
Joyce không phủ lấp người đọc chúng ta bằng những màn bi kịch. Phong cách văn học đặc trưng và độc sáng của ông nằm ở những tình tiết tinh tế, những khát khao không nói ra nhưng lóe lên trong đôi mắt của nhân vật, sự im lặng đa nghĩa đầy ẩn ý nói lên nhiều điều. Ông phân tích những tương tác xã hội với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật, phơi bày tính đạo đức giả và nông cạn nằm ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc của những ứng xử giao tiếp lịch sự.
 
Dubliners không phải là một cuốn sách mang đến sự thoải mái êm ái hay những giải pháp ấm lòng cho người đọc. Nó là tấm gương phản chiếu một xã hội đang trong tình trạng trì trệ, buộc ta phải đối mặt với những hạn chế của cuộc sống và những lựa chọn mà ta đưa ra. Nó là bức chân dung hôn ám về khát vọng, sự thất vọng và nỗi đau cay đắng ngọt bùi của những kiếp sống vô vị, không trọn vẹn.
 
Người đọc có thể không tìm thấy câu trả lời dễ dàng cho những vấn nạn nhân sinh mà Joyce đưa ra trong tập truyện, nhưng trong bản giao hưởng đan kết những nỗi buồn của kiếp sống, người đọc vẫn có thể nghe thấy văng vẳng vài nốt nhạc xanh yếu ớt của hy vọng, một giai điệu thì thầm vươn lên len lỏi trong nỗi tuyệt vọng dày đặc của kiếp người.
 
Tập truyện này của Joyce được giới phê bình văn học đánh giá như là sự đổi mới trong văn học, với việc Joyce sử dụng các kỹ thuật hiện đại và phong cách tự sự đặc biệt mà sau này trở thành dấu ấn trong các tác phẩm văn học khác của ông. Xuyên qua việc khám phá những điều tầm thường lẫn phi thường trong cuộc sống của người dân Dublin, Joyce đưa ra một bình luận sâu sắc về thân phận con người. Với một văn phong gợi cảm và cái nhìn xuyên thấu tâm lý con người đã biến Dubliners trở thành một tác phẩm văn học kinh điển được ca ngợi và có sức sống trường tồn trong nền văn học Tây phương.
 
*
 
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ JAMES JOYCE
 
 

 
James Joyce là một nhà văn được xem là tiên phong của chủ nghĩa Hiện đại. Những cách tân của ông trong phong cách tự sự, đặc biệt là kỹ thuật “dòng ý thức”, đã đưa ông trở thành một trong những tác giả tầm vóc đặc biệt, có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.
 
Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882 tại Rathgar, Dublin, là người con cả trong một gia đình Công giáo đông con và gặp nhiều khó khăn về tài chính. Ông theo học tại trường Clongowes Wood, trường Belvedere, và sau đó là Đại học Dublin (University College Dublin), nơi ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại.
 
Năm 1904, Joyce rời Ireland cùng vợ là Nora Barnacle, bắt đầu một cuộc sống lưu vong tự nguyện tại lục địa châu Âu. Ông đã sống tại Pola, Trieste, Zurich và Paris, chủ yếu tự nuôi sống bản thân bằng nghề dạy tiếng Anh. Trong những năm tháng này, ông đã sáng tác và xuất bản những tác phẩm định hình cho nền Văn học Hiện đại Tây phương.
 
Văn phong của Joyce định hình hình thức tự sự xuyên qua kỹ thuật độc thoại nội tâm, các cấu trúc biểu tượng và những thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ. Các tác phẩm chính của ông bao gồm:
 
• Dubliners (1914): Tập truyện ngắn khắc họa sự trì trệ, bế tắc trong đời sống tại Dublin.
• Portrait of the Artist as a Young Man (1916): Tiểu thuyết mang tính bán tự truyện, theo dấu quá trình trưởng thành và phát triển của nhân vật Stephen Dedalus.
• Ulysses (1922): Thiên sử thi Hiện đại mang tính đột phá của ông, tái hiện hành trình tương tự như trường thi Odyssey của Homer nhưng diễn ra chỉ trong vỏn vẹn một ngày tại Dublin.
• Finnegans Wake (1939): Tác phẩm mang tính thử nghiệm cao, là một câu chuyện kể về giấc mơ được thể hiện qua sự pha trộn của nhiều ngôn ngữ khác nhau.
 
Trong Thế Chiến thứ nhất, Joyce dành phần lớn thời gian sinh sống tại Zurich, sau đó chuyển đến Paris và sống tại đó cho đến năm 1940.  Ông qua đời tại Zurich vào ngày 13 tháng 1 năm 1941 sau một ca phẫu thuật điều trị chứng loét dạ dày.
 
Joyce được tôn vinh là một trong  những nhà văn quan trọng nhất của trường phái Hiện đại trong văn học, được ngưỡng mộ nhờ những kỹ thuật tự sự mang tính cách tân đột phá, cùng chiều sâu tâm lý và sự sáng tạo vô biên trong ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục định hình nền văn học, lý luận phê bình và thực hành nghệ thuật trên phạm vi toàn cầu.
 
*
 
Dịch Dubliners
Tại sao dịch Dubliners? Câu trả lời là tại sao không? Một tác phẩm kinh điển được cả thế giới ngưỡng mộ và dịch, rất xứng đáng được đọc và dịch (thực ra, dịch là đọc một cách kỹ lưỡng hơn).
 
Tập truyện Dubliners có đặc tính là đằng sau những hành động, những tự sự miêu thuật bình thường, thậm chí tẻ nhạt, là tiềm năng diễn giải phong phú của câu chuyện, một câu chuyện luôn liên quan đến cuộc sống. Đối tượng của văn học ở đây luôn là con người. Một trong những dấu ấn của Joyce trong văn chương là không bao giờ để lộ một chủ ý rõ rệt nào mà luôn “mở” cho người đọc tùy nghi và tùy tiện diễn dịch hoặc phỏng đoán. (Một giai thoại không rõ có đúng không là: Có người hỏi tại sao ông viết cuốn tiểu thuyết Ulysses khó hiểu như vậy, để làm gì, thì ông trả lời, “Để các nhà phê bình biên khảo bận rộn đọc trong suốt 300 năm tới.”)
 
Dù dễ đọc hơn các tác phẩm sau này của Joyce, dịch Dubliners sang tiếng Việt, đối với tôi, vẫn là một thách thức lớn.
Thách thức lớn nhất trong việc dịch Dubliners sang một ngôn ngữ khác đến từ sự chính xác tuyệt đối của Joyce. Thêm nữa, các thành ngữ, phương ngữ, cú điệu, tham chiếu văn hóa, và nhất là cái “ý tại ngôn ngoại” của Joyce khó có thể chuyển tải một cách suôn sẻ sang bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào khác.
 
Tác phẩm chứa đựng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ, tiếng lóng của văn hóa và đời sống đặc thù dân tộc Ireland. Đối thoại của cư dân Dublin là tiếng Anh-Dublin đầu thế kỷ XX, đầy tiếng lóng, mang tính giai cấp. Các từ vựng Công giáo và Dân tộc chủ nghĩa cũng không thiếu. Sự cố ý cho nhân vật phát âm sai và dùng từ sai (thuật ngữ tiếng Anh là malapropisms, một thủ pháp văn học thường thấy trong văn học Tây phương cốt ám chỉ trình độ xã hội và văn hóa của nhân vật, chính Miguel de Cervantes, trong tác phẩm tiểu thuyết Don Quixote, cũng thường hay sử dụng thủ pháp này.)
 
Các dịch giả thường “sửa chữa” hoặc làm mượt mà những đặc điểm này, nhưng làm như vậy lại xóa bỏ kết cấu ngôn ngữ có chủ ý của Joyce. Vấn đề này được ghi nhận trong các nghiên cứu về các bản dịch tiếng Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, nơi các dịch giả thường xuyên thay đổi hoặc “chuẩn hóa” ngôn ngữ của Joyce.
 
Đối với tiếng Việt, thách thức thậm chí còn gay gắt hơn, bởi thường ta không có cụm từ tương đương trực tiếp cho nhiều thành ngữ tiếng Anh-Ireland. Người dịch phải lựa chọn giữa sự khó hiểu theo nghĩa đen hoặc cách diễn đạt phù hợp với văn hóa.
 
Rồi đến các tham chiếu văn hóa và lịch sử trong tác phẩm. Dubliners chứa đầy các tham chiếu đến chủ nghĩa Dân tộc Ireland; các nghi lễ Công giáo; chính quyền thuộc địa Anh; địa lý Dublin; các nhân vật lịch sử-chính trị (Parnell, Sir John Gray, v.v.); các thể chế xã hội (trường học một-xu-mỗi-tuần)… Những tham chiếu này thường xa lạ với độc giả không phải người Ireland, và đôi khi người dịch phải thêm chú thích hoặc giải thích. Các học giả lưu ý rằng người dịch thường cung cấp thêm chú thích vì họ không thể kỳ vọng độc giả trong ngôn ngữ mình nắm vững tường tận các chi tiết này.
 
Đối với độc giả Việt Nam, khoảng cách văn hóa thậm chí còn lớn hơn.
 
Văn phong của Joyce qua sự lặp lại có chủ ý và cú pháp cũng là một thách thức lớn khác cho người dịch. Joyce sử dụng sự lặp lại như một thủ pháp văn học, phản ánh sự đơn điệu và tê liệt của cuộc sống ở Dublin. Tuy nhiên, các dịch giả thường loại bỏ hoặc giảm thiểu sự lặp lại, cho rằng nó vụng về hoặc thiếu tính văn chương. Đây là một mô hình được ghi nhận trong nhiều bản dịch tiếng Âu.
 
Văn xuôi tiếng Việt có xu hướng coi trọng sự ngắn gọn và trôi chảy, vì vậy việc giữ nguyên cú điệu lặp lại của Joyce có thể cảm thấy không tự nhiên. Tuy nhiên, việc loại bỏ lại làm suy yếu hiệu quả nghệ thuật của nội dung.
 
Joyce cũng ưa chuộng lối viết mà ta hay gọi là  “ý tại ngôn ngoại”, một hình thức hiện thực chủ nghĩa được tinh giản hóa, mang tính khách quan gần như tuyệt đối. Giọng điệu này rất khó tái hiện bởi phong cách văn xuôi tiếng Việt thường thiên về việc thể hiện các tín hiệu cảm xúc một cách rõ ràng, trực diện hơn. Sự tiết chế của Joyce có thể khiến văn chương trở nên nhạt nhẽo hoặc mơ hồ nếu không được xử lý một cách khéo léo. Người dịch buộc phải kềm nén thôi thúc muốn “giải thích” những điều mà Joyce để ngỏ, bỏ lửng lơ.
 
Những khoảnh khắc giác ngộ (epiphanies) trong tác phẩm của Joyce thường rất thầm lặng, chúng là những nhận thức nội tâm nho nhỏ, không phải sự bừng ngộ mang kịch tính chấn động. (Điển hình là truyện The Dead/ Kẻ đã khuất). Do đó, người dịch cần phải duy trì tính mơ hồ cùng sự kiệm lời, và sự tĩnh lặng về mặt cảm xúc của những khoảnh khắc ấy. Việc dịch quá tải (over-translation) có nguy cơ khiến khoảnh khắc giác ngộ trở nên quá lộ liễu; ngược lại, việc dịch giản lược (under-translation) lại có nguy cơ khiến nó trở nên vô hình, tan biến.
 
Các học giả chỉ ra rằng đôi khi người dịch thường “sửa lại” những gì họ cho là lỗi lầm của Joyce – chẳng hạn như thủ pháp dùng sai từ (malapropisms), cấu trúc cú pháp lạ lùng, hay ngữ pháp mang tính khẩu ngữ – qua đó vô tình làm sai lệch chủ ý nghệ thuật trong nguyên tác. Sự cám dỗ này đặc biệt mạnh mẽ khi chuyển ngữ sang một ngôn ngữ như tiếng Việt, nơi mà các cấu trúc ngữ pháp có sự khác biệt căn bản, lối nói khẩu ngữ được mã hóa theo những cách hoàn toàn khác, và người dịch có thể cảm thấy áp lực phải tạo ra một văn phong “suôn sẻ”, thậm chí mềm mại, óng mượt.
 
Thế nhưng, những nét thô ráp, gai góc, khúc khuỷu trong văn phong của Joyce lại hoàn toàn là chủ ý của ông.
 
Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng chỉ nắm vững tiếng Anh thôi là chưa đủ để dịch các tác phẩm của Joyce; người dịch còn phải là những học giả am hiểu sâu sắc về chính tác phẩm của ông cũng như bối cảnh sáng tác của chúng. Điều này đặc biệt đúng đối với tác phẩm Dubliners, nơi mà những chi tiết tầm thường vặt vãnh lại mang sức nặng biểu tượng to lớn, các tham chiếu lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng, và kết cấu mặt bằng xã hội thành phố Dublin là yếu tố then chốt để giải mã ý nghĩa tác phẩm.
 
Đối với người dịch tiếng Việt, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện những nghiên cứu sâu rộng về lịch sử Ireland, Công giáo, và đời sống tại Dublin vào đầu thế kỷ XX.
 
Các học giả nghiên cứu về những bản dịch sang các ngôn ngữ khác đều khẳng định rằng văn phong của Joyce có tính “kháng cự” rất mạnh đối với việc chuyển ngữ một cách suôn sẻ, và rằng người dịch buộc phải tìm được sự cân bằng hài hòa giữa tính trung thực với nguyên tác với khả năng tiếp cận về mặt văn hóa của ngôn ngữ dịch.
 
Để đương đầu và phần nào khắc phục những thách thức khó khăn nêu trên trong việc dịch tác phẩm Dubliners, tôi có một trợ tá đắc lực: Internet.
 
Internet là kho tài liệu phong phú gần như vô tận giúp tôi tra cứu những điều khúc mắc khó hiểu, hoặc không thể hiểu nổi trong văn bản nguyên tác. Thêm nữa, Dubliners đã có mặt trên trăm năm nay, được giới phê bình văn học đánh giá là tác phẩm kinh điển, nhờ thế, đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về nó. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian, thời gian đọc và nghiền ngẫm. Quá trình “dịch” tác phẩm, đối với tôi, trở thành quá trình “học”, và quả thực, tôi đã học hỏi được rất nhiều trong lúc dịch.
 
Những điều “học” được, tôi cho vào các chú thích và phần “Phân tích và cảm nhận của người dịch” nằm sau mỗi truyện. Mặc dù đã cố hết sức mình, tôi biết chắc vẫn có những khiếm khuyết, sai sót đâu đó, chờ đợi bạn đọc bốn phương chỉ giáo cho bản dịch được hoàn chỉnh hơn.
 
*
 
Dịch Dubliners như là một hành động tôn vinh nhà văn Nam Cao của văn học Việt Nam
 
Trong lúc lần giở từng trang sách tác phẩm Dubliners của James Joyce, đến truyện ngắn A Little Cloud/ Một cụm mây nhỏ, tôi bỗng nhận thấy sự tương tự giữa nhân vật Little Chandler trong truyện với nhân vật Điền trong truyện ngắn Trăng sáng của nhà văn Nam Cao. Cũng như Little Chandler, Điền là một nhà văn có ước vọng và tham vọng nhiều trong văn chương. Anh muốn sống hết mình cho nghệ thuật, nhưng hoàn cảnh túng bấn, nghèo khó, thôi thúc của đời sống không cho phép giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Từ đó, nhìn sâu rộng hơn, và một điều khá hiển nhiên là giữa Dubliners của Joyce và văn chương Nam Cao có những điểm tương đồng lạ lùng về đối tượng văn học.
 
Cũng như Joyce, sáng tác của Nam Cao đặt ra trước người đọc hàng loạt những vấn đề nhân sinh: những cảnh đời tù đọng, bế tắc, những bi kịch đau đớn, chua cay. Nam Cao phản ánh được cái thực tại bối cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam thời tiền chiến. Từ truyện ngắn nổi tiếng đầu tay Chí Phèo cho đến tiểu thuyết Sống mòn, văn chương Nam Cao luôn lấy những chủ đề về cuộc sống cùng khổ của cả một tầng lớp con người, từ nông thôn ra thành thị, từ anh nông dân chất phác chân lấm tay bùn cho đến người thầy giáo trí thức tiểu tư sản nghèo ngoài thành phố. Trên nhiều bình diện, nó thể hiện một cách rõ nét thân phận con người trong xã hội mà thời nào cũng có thể xảy ra.
Giống như Joyce, Nam Cao cũng cho các nhân vật của mình chìm nổi, vật vã trong cuộc đấu tranh với hoàn cảnh. Họ không dửng dưng lạnh nhạt với sự đời, nhưng họ cũng là những con người thiếu hành động. Nhìn chung họ bị dồn vào thế bế tắc, không có hướng giải thoát. Họ vật vã, đau đớn trong những kiếp sống luôn bị dằn vặt, xói mòn. Suy nghĩ và hối hận nhưng họ không tìm ra cho chính mình phương hướng để hành động, và nếu có thì lại dễ hối hận với việc làm của mình.
Các nhân vật của Nam Cao cũng rất vất vả để chống lại tình trạng tha hóa với bản chất mình. Họ cũng bị lôi cuốn vào nhiều ham muốn tầm thường, nhiều tính toán nhỏ nhen.  Chính trong bản thân họ cũng chất chứa biết bao mâu thuẫn.
Qua tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao phản ánh sâu sắc không khí ngột ngạt, tù túng, quẩn quanh do một sức mạnh tưởng như vô hình nhưng tác động lại rất cụ thể, sự hủy hoại thầm lặng làm cho con người mỏi mòn dần cho đến kiệt sức. Tất cả mỏi mòn, chết dần chết mòn.
 
Đó là lý do vì sao tôi chọn nhan đề tiếng Việt cho tập truyện Dubliners của Joyce là Những kiếp sống mòn.
Nó không phải sự nhái lại, mà là một hành động trân trọng tôn vinh nhà văn Nam Cao, một nhà văn có vị trí rất lớn, rất riêng trong văn học Việt Nam.
– TRỊNH Y THƯ
(Cuối Hè, 2026)