Thursday, September 17, 2026

BÁI BIỆT NHÀ VĂN CUNG TÍCH BIỀN

Lý Đợi
 
Nhà văn Cung Tích Biền
 
Nhà văn Cung Tích Biền đã ra đi
Cung Tích Biền, tên thật là Trần Ngọc Thao, từ trần hôm 9/9/2026, theo tin từ gia đình. Cung Tích Biền là một nhà văn, nhà báo nổi bật của văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954–1975. Ông sinh ngày 8 tháng 2 năm 1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Cung Tích Biền nổi tiếng với văn phong đầy ẩn dụ, hình ảnh dữ dội, mang tính hiện sinh, và ẩn chứa ước mơ hòa bình khi ghi nhận về thân phận con người và sự tàn khốc trong thời kỳ nội chiến.
Trước khi vào quân đội VNCH, ông từng có thời gian đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng Nam. Năm 1963, ông bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan trường Bộ binh Thủ Đức. Ông từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa.
Năm 1973, ông giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).
Cung Tích Biền bắt đầu viết văn từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966, bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh Hồn tôi. Tác phẩm của ông lập tức gây tiếng vang lớn và được xem như một hiện tượng văn học lúc bấy giờ.
Ông nhanh chóng trở thành một trong những cây bút viết truyện ngắn và truyện dài hàng kỳ (feuilleton) ăn khách bậc nhất trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn cũ với mức nhuận bút rất cao. Sau năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu).
Sau năm 1975, ông tiếp tục ở lại Việt Nam một thời gian dài trước khi sang Mỹ định cư tại Quận Cam, California. Tại nơi định cư với gia đình, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm.
 
Xin chia tay Cung Tích Biền.  
Xin bái biệt nhà văn bằng bài viết ngắn của Lý Đợi.
 
Anh là một phần kiến văn, một phần cảm hứng sáng tác và nhiều phần khác trong đời riêng của tôi.
Cuối năm 2006, trong một cuộc phỏng vấn, hỏi anh có còn giữ châm ngôn sống không?
Cung Tích Biền trả lời: “Châm ngôn sống? Có đấy. Nhưng quá đát, cũ xì rồi. Nói ra các bạn cười. Chỉ còn là Chôn-Ngâm. Chôn trong dặm dài bóng tối và Ngâm trong kinh nước đen quê nhà.
Tôi tặng ông một câu thơ cà chớn:
 Châm ngôn Chồn ngấm Chấm ngôồm,
“Good bye” chẳng đặng, “Go home” trễ tràng”.
Cũng trong bài phỏng vấn này, anh tự thuật:
“Tôi có một kho tàng sống qua mấy thời kỳ. Chỗ giáp ranh của thực hư, chính tà. Nửa tỉnh nửa điên. Thuộc Pháp, chống Pháp, nội chiến, hòa bình; định hướng để rồi tuyệt đối mất phương hướng. Nửa đời tôi tự do quá mạng kể cả tự do chửi bới. Một thời mất cả tự do cúng lạy.
 
Tôi là trập trùng kỷ niệm. Vô cùng linh tinh, vô cùng đáng khóc chuyện cỏ hoa vật dụng. Trong xa vắng, tôi thương xót con trâu Đụng kéo cày cho gia đình tôi hồi kháng chiến. Hơn năm mươi năm sau, bây giờ, không dám ăn thịt trâu. Chẳng lẽ xực thịt mình.
 
Tôi nhớ con chó Bô, nó đau ốm năm sáu ngày, vợ chồng tôi ôm nó đi chạy chữa hai ba nơi, hôm nó chết tôi ngồi khóc ròng ở nhà họa sĩ Trịnh Thanh Tùng. Một thằng Người chết, có khi mình không độc địa cũng rủa thầm chết mẹ mày cho xong nợ; sao con Bô thôi thở, lại xót thương sao mày đi sớm quá vầy Bô. Không viết thì tôi điên.
 
Tôi viết nhiều, viết mịt mùng. Tôi phải có chỗ mà trải ra chớ”.
 
Anh ra đi phiêu bồng nhé. Tạm biệt anh.
LÝ ĐỢI
11.09.2026 

DẠ THẢO ƠI...

nguyễnxuânthiệp
 
Dạ Thảo
 
Dạ Thảo ơi
sao không ở
sao đã vội đi
không chờ nhau
mặt trời còn thắp sáng vòm cây
tiếng ong trong nắng.
nhớ hôm nào Dạ Thảo bày tranh và họp mặt ở Dallas
có Hoàng Đình Bình và Khánh Vy
hát Bài Tình Tháng Giêng viết từ thơ tôi
tiếng hát vẫn còn trên bờ thời gian
mà sao Dạ Thảo bỏ đi
tôi còn nhìn thấy bóng Thảo vẽ tranh bên hồ Tuyền Lâm
như mộng như ảo
và Thảo gởi tôi
ca từ những bài hát của Nguyễn Đình Toàn
để in thành sách
Còn đây
bóng Thảo dưới hàng cây phượng tím
nhớ hôm nào Thảo qua Dallas
bên ly rượu đỏ
ký sách tặng tôi
rồi chia tay
cùng thầy Tuệ Sỹ. thiên lý độc hành
và với Nguyễn Đức Sơn. bên thơ và đá
ôi. thời gian
thảo ơi. về đâu
thuyền rời bến đợi
NXT
  
Dạ Thảo bên hồ Tuyền Lâm

  

Friday, September 11, 2026

VIỄN KIẾN MÔI SINH CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA. TỪ “NÓC NHÀ THẾ GIỚI” TỚI THẢM HỌA NEPAL–TÂY TẠNG 2026

NGÔ THẾ VINH 
 
Đức Dalai Lama, hình chụp năm 2012.
Author: Christopher Michel, wiki commons
 
MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG
 
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” 
 
*
Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?
Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.
 
Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái
   
     Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.
Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.
Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreat, sự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ bang / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.
Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.
Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.
Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 
 
Tây Tạng: “Tháp Nước Châu Á”
Cao nguyên Tây Tạng cùng hệ thống Hindu Kush–Himalaya thường được nhìn như một “Tháp Nước Châu Á / Water Tower of Asia.” Đây là vùng băng tuyết lớn nhất bên ngoài hai địa cực, nên cũng thường được gọi là “Cực Thứ Ba / Third Pole.”
 
Từ vùng núi cao này phát nguyên hoặc được nuôi dưỡng bởi băng tuyết nhiều hệ thống sông ngòi.
 
Hình 2: Những con sông lớn Châu Á bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng
 
Bởi vậy, một biến đổi xảy ra ở độ cao 5.000 hay 6.000 mét không nhất thiết kết thúc ở đó. Một phân tử nước tan ra từ băng tuyết Himalaya có thể bắt đầu một hành trình rất dài, qua núi cao, thung lũng, biên giới quốc gia, những hồ chứa và đập thủy điện, rồi cuối cùng trở thành một phần của dòng sông nuôi sống những đồng bằng đông dân cách nơi nó khởi nguồn hàng ngàn cây số.
Đó chính là ý nghĩa sinh thái sâu xa của khái niệm phụ thuộc lẫn nhau / interdependence.
 
Ngày 26 tháng 8 năm 2026: khi cả một sườn núi chuyển động

Thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026 đem lại một minh họa kinh hoàng cho tính mong manh của hệ sinh thái ấy.
Những phân tích ban đầu từ ảnh vệ tinh cho thấy một khối khổng lồ gồm đá, băng và trầm tích từ vùng núi cao đã sụp xuống thung lũng. Theo các nhà khoa học được Reuters tham khảo, phần dưới của một glacier ở độ cao khoảng 5.200 mét đã rơi xuống đáy thung lũng thấp hơn khoảng 1.200 mét, kéo theo một khối lượng rất lớn đá, băng, bùn và nước.
Điều đặc biệt đáng chú ý là tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghĩ tới một trận động đất.
Nhưng Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho rằng tín hiệu ấy có thể chính là năng lượng do khối đá và băng khổng lồ sụp xuống tạo ra, chứ không phải một trận động đất thông thường gây nên vụ sạt lở. Một khi khối vật chất ấy lao xuống, thảm họa không còn giới hạn tại nơi sông băng / glacier bị phá vỡ.
 
Nước, đá, bùn và băng tràn vào hệ thống Bhote Koshi–Trishuli. Có nơi mực nước phía hạ lưu được báo cáo tăng tới khoảng 9 mét chỉ trong vòng 30 phútĐó là tốc độ của một tai biến gần như không cho cộng đồng phía dưới thời gian phản ứng.
Đến ngày 7/9/2026, Reuters ghi nhận ít nhất 1.380 người thiệt mạng và hơn 5.500 người còn mất tích tại Nepal và Tây Tạng; hàng trăm công nhân tại các dự án thủy điện nằm trong số những người chưa tìm thấy.
Nhưng phía sau những con số tử vong ấy còn có một câu hỏi lớn hơn: Điều gì đang xảy ra với Himalaya?
 
Không thể quy mọi thảm họa đơn giản cho biến đổi khí hậu
Ở đây cần một thái độ khoa học thận trọng.
Không thể chỉ vì một thảm họa xảy ra giữa thời đại hâm nóng toàn cầu / global warming mà lập tức kết luận rằng climate change là nguyên nhân duy nhất.
Các nhà địa chất đang tiếp tục nghiên cứu chuỗi diễn biến của tai biến ngày 26/8. Một phân tích cho rằng một vụ sạt lở đá khổng lồ có thể đã cuốn theo sông băng / glacier; nguồn gốc của lượng nước cực lớn trong dòng bùn đá / debris flow vẫn còn những điểm chưa được giải thích hoàn toàn. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng ở độ cao này, sự tan vỡ của tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / permafrost, có thể làm giảm độ ổn định của sườn núi, nhưng việc quy kết một biến cố cụ thể cho khí hậu cần thêm nghiên cứu.
Sự thận trọng ấy rất cần thiết.  Nhưng cũng không thể bỏ qua một bức tranh lớn hơn đã ngày càng rõ.
Các sông băng / glacier Himalaya đang mất băng nhanh chóng. Reuters dẫn dữ liệu Liên Hiệp Quốc cho biết các núi phủ tuyết Nepal đã mất gần một phần ba lượng băng trong hơn ba thập niên, và tốc độ tan sông băng / glacier trong thập niên gần đây nhanh hơn đáng kể so với thập niên trước đó.
Khi nhiệt độ tăng, không chỉ sông băng / glacier thu nhỏ. Tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / Permafrost tan vỡ. Sườn núi mất ổn định. Hồ băng hình thành và lớn dần. Những con đập thiên nhiên bằng băng và trầm tích băng hà / moraine trở nên mong manh. Các trận Mưa lớn có thể tác động lên một địa hình vốn đã bất ổn.
Những nguy cơ trước kia nằm riêng rẽ bắt đầu chồng lên nhau. Và khi chúng hội tụ, một tai biến địa phương có thể trở thành một thảm họa dây chuyền / cascade disaster.
 
Một nghịch lý của phát triển: thủy điện cũng chắn trên đường đi của lũ
 
Thảm họa Nepal còn phơi bày một nghịch lý khác. Các con sông Himalaya có tiềm năng thủy điện khổng lồ. Những quốc gia nghèo miền núi cần điện năng, đường sá và phát triển kinh tế. Nhưng chính các công trình ấy lại thường được xây trong những thung lũng hẹp, nơi dòng nước bị tập trung và cũng chính là hành lang của lũ quét, dòng bùn đá / debris flow và lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood.
Trong thảm họa 2026 vừa qua, nhiều dự án thủy điện bị ảnh hưởng nặng; hàng trăm công nhân mất tích hoặc bị kẹt trong các đường hầm.
Bởi vậy, câu hỏi không thể giản lược thành “phát triển hay không phát triển.” Câu hỏi đúng hơn phải là: Phát triển ở đâu, phát triển tới mức nào, và cái giá sinh thái mà các thế hệ sau phải trả là bao nhiêu?
Đó cũng chính là điều Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra từ cuối thập niên 1980 khi ông không phủ nhận nhu cầu phát triển kinh tế, nhưng nhấn mạnh rằng việc khai thác tài nguyên phải được điều tiết để không phá hủy hệ sinh thái, và phát triển phải mang tính khai thác bền vững.
 
Hình 3: Bahrabise Bazar, Nepal trước và sau trận lũ ngày 26 tháng 8, 2026
do sông băng lở giếtchết hàng ngàn người, với hàng ngàn người khác còn mất tích.
(Ảnh Wikimedia Commons)
 
Những dòng sông không mang sổ thông hành
Đây có lẽ là phần hiện đại nhất trong viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Biên giới quốc gia được con người vẽ trên bản đồ. Đường phân thủy thì do địa hình vẽ.
Một sông băng / glacier không biết mình thuộc Trung Quốc hay Nepal. Một hồ băng không biết phía dưới nó là Tibet, Nepal, India hay Bhutan. Và khi một con đập thiên nhiên vỡ, dòng lũ không dừng lại ở trạm biên phòng để xuất trình sổ thông hành.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng năm 2026 vì vậy không chỉ là một thảm họa của Nepal hay Tây Tạng. Nó một cảnh báo / wake-up call cho toàn vùng Hindu Kush–Himalaya và những quốc gia hạ nguồn.
Ngày nay hàng tỷ con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hệ thống sông bắt nguồn hay được nuôi dưỡng từ vùng cao nguyên này. Trong một thế giới khí hậu đang thay đổi, an ninh nguồn nước cũng trở thành an ninh xuyên biên giới.
 
Và từ Himalaya nhìn xuống Mekong và ĐBSCL 
Đối với Việt Nam, bài học ấy không hề xa vời. Mekong cũng bắt nguồn từ vùng cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc rồi Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam Bốt trước khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long và chảy ra Biển Đông.
Dĩ nhiên, không thể vạch một đường nhân quả trực tiếp từ thảm họa Nepal tới Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai hệ thống địa lý khác nhau, với cơ chế thủy văn khác nhau. Nhưng chúng thuộc cùng một bức tranh sinh thái lớn của châu Á.
Ở thượng nguồn là băng tuyết, khí hậu và những biến động của “Cực Thứ Ba / Third Pole”. Ở trung lưu là những hồ chứa khổng lồ của chuỗi đập thủy điện dòng chính ở Vân Nam Trung Quốc và Lào và sự điều tiết nguồn nước ngày càng lớn do tham vọng của con người. Xa hơn về phía nam là Biển Hồ Tonlé Sap với nhịp đập lũ / flood pulse theo mùa vốn quyết định sức sống của Biển Hồ. Và cuối dòng là Đồng bằng Sông Cửu Long, một đồng bằng thấp đang đồng thời chịu áp lực của thiếu phù sa, sụt lún, xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Tất cả không phải một chuỗi nhân quả đơn giản. Nhưng. tất cả nhắc chúng ta về cùng một nguyên tắc: Không một đoạn sông nào thực sự đứng riêng lẻ một mình.
 
Một lời cảnh báo từ gần bốn thập niên trước
Trong Diễn từ Nobel Hòa Bình năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ  một hành tinh nhỏ bé, nhân loại phải học cách sống hòa bình với nhau và với thiên nhiên. Theo ông, đó “không chỉ là một giấc mơ mà là một điều cần thiết.”
Ngày ấy, lời nói ấy có thể được nghe như tiếng nói của một nhà lãnh đạo tinh thần. Sau những gì đang xảy ra với các sông băng / glacier Himalaya, người ta có thể đọc lại nó như một lời cảnh báo sinh thái.
Và sau ngày 26 tháng 8 năm 2026, câu nói ấy có thêm một hình ảnh cụ thể: một khối núi và sông băng / glacier từ độ cao hơn 5.000 mét sụp xuống, biến thành một dòng thác băng, đá, bùn và nước lao xuyên qua những thung lũng, xóa đi những công trình con người tưởng là kiên cố, để lại phía sau hàng ngàn sinh mạng mất tích.
 
Đó chính là ý nghĩa sâu xa của cụm từ tương thuộc / interdependence, có nghĩa là phụ thuộc lẫn nhau. Con người và thiên nhiên; Thượng nguồn và hạ nguồn; Một quốc gia và những quốc gia láng giềng; và thế hệ hôm nay và những thế hệ chưa ra đời: tất cả đều tương thuộc.
 
Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì thế không phải là lời tiên tri rằng một ngày nào đó Nepal sẽ có một trận đại hồng thủy. Giá trị của nó sâu xa hơn thế: ông đã sớm nhìn thấy rằng sự an toàn của con người trên “Nóc Nhà Thế Giới” và sự toàn vẹn của môi trường thiên nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề sống còn.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026 mới đây đã biến nguyên lý ấy từ một suy tưởng đạo lý thành một thực tại địa-vật lý đầy tang tóc.
Và đối với Việt Nam, chúng ta ở cuối nguồn sông Mekong, khoảng cách hơn 4500 km theo dòng chảy, Cao nguyên Tây Tạng tưởng như một thế giới xa xôi; nhưng băng tuyết tan trên “Nóc Nhà Thế Giới” ấy và số phận của ĐBSCL lại nằm trong cùng một hệ thống thủy văn Mekong. Những gì xảy ra trên “Nóc Nhà Châu Á” không bao giờ chỉ ở lại trên "ngọn đỉnh trời Himalaya” ấy. 
NGÔ THẾ VINH 
California 09.2026

  

Wednesday, September 9, 2026

ĐOẢN THI

V ũ Ho àng Th ư
 
Dragon and Moon Enso. Source: Ebsy.com
 
A ÀO?
 
một nửa đùa
một nửa chơi
một vờn nắng gió
một chờ đợi mưa
một xuân xanh
biết đã vừa
một riêng ngồi lại
ngập thừa ly tan
một sương sa
lệ luống hàng
một nghe thân ngã
những thăng trầm mù
một toan tính
giữa thật hư
một ngồi xuống
bật tiếng cười hư không
02/2013
 
 
B T  V
 
chia hai
bên nớ
bên ni
chia màu cố quận
một ly biệt mù
chia đôi năm tháng
phạm trù
nửa câu
dị ngữ
sóng xua
bạc nhàu
nửa thân thể mỏi
thiết thao
nửa nghe
triều lộng
tiếng chao bọt về
sept. 8, 2026
 
VŨ HOÀNG THƯ 

BỐ CỤC VÀ TĨNH VẬT

Chân Phương
 

Tranh và hoa. Nguồn Internet
 
xuôi ngược kim đồng hồ
tròng mắt đu đưa giữa không gian
 
đóa hoa vô tâm
ấm trà vô cảm
 
tĩnh vật là chiều thu
ánh sáng chuyển sang sắc nhạt
 
tôi nâng bát rượu cạn
 
bố cục này
còn thiếu cặp môi
CP 

Monday, September 7, 2026

TÔ ĐĂNG KHOA- HÀNH TRÌNH TÂM THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN ‘TRÔI GIẠT’

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Nhà thơ NT Khánh Minh
 
Nếu muốn tóm tắt Trôi Giạt, tôi sẽ nói
“Trôi Giạt” là hành trình một người trở về, sống lại ký ức để tìm nguyên nhân của một cuộc chia lìa, nhưng càng đi sâu vào quá khứ, anh càng nhận ra mình không tìm thấy sự thật mà chỉ nhìn thấy những phiên bản của sự thật do chính ký ức và nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa của mình tạo ra. “Chuyến tàu” không đưa nhân vật đi qua không gian địa lý mà đi xuyên qua những tầng của tâm thức, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai không còn trôi theo một tuyến tính thuận lý. Sau cùng, điều nhân vật nhận ra là sự vô ích và sai lầm về những hình ảnh mà mình vẽ ra về nhân vật Liễu lẫn chính mình. Điều tháo gỡ cho anh là gì?
 
Nhân vật Tôi trong truyện ngắn này không được định vị theo thời gian và không gian rõ ràng, người đọc xác nhận được anh ta đang làm gì, ở đâu, lúc nào bằng những mảnh ghép ký ức trong hành trình lội ngược dòng của tâm thức.
Ngay từ đầu, truyện đã phá vỡ trật tự thời gian hiện thực:
“Ba tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.”
 
Lá thư đến từ tương lai, tấm vé được mua bằng chính thẻ của nhân vật ở vào thời điểm mà nhân vật chưa sống, và điểm đến là một nhà ga tên Trôi Giạt không tồn tại trên bản đồ địa lý.
“Đấy là lúc ba tháng sau khi Liễu bỏ đi.”  Tôi cho là sự thôi thúc một cách quả quyết muốn tìm được một giải thích cho nguyên nhân của chia lìa mà nhân vật bị chìm đắm vào những suy tưởng, những giả thuyết đủ sức lôi anh ra khỏi không gian và thời gian đang sống. Anh không hồi tưởng, anh nhớ một cách sống động, và anh hoàn toàn tin là nó đã xảy ra, anh đã bước lên tàu, đã đi -bằng một tấm vé ảo- chuyến tàu không phải là phương tiện di chuyển đi từ A đến B, nó là phương tiện tâm linh đưa anh vào không gian của ký ức. Nó lần lượt hiện lên, tự diễn tả, tự bôi xóa, và anh hiện ra bên cạnh những tâm thái mà anh cho là phản xạ, người phụ nữ buộc tóc đẩy đến nhớ Liễu, một bài hát dẫn đến hình ảnh một chuyến xe, mùi áo mưa lại toát ra từ Seattle, đôi tình nhân cãi nhau, khả dĩ một chút hiện tại để nối kết anh với chuyện tình của mình. Hình ảnh, ký ức, đan xen chồng lớp như anh tin rằng sẽ có được tia sáng soi rọi những nhận xét giải thích mới mẻ cho những tình huống cũ, Người ta nghĩ rằng anh đang cố khôi phục sự thật mà ký ức có thể quên. Dường như anh đau khổ không chỉ vì Liễu bỏ đi, anh đau khổ vì không chịu được một sự kiện không có lời giải thích hoàn toàn. Mỗi lần nghĩ đến những điều Liễu nói trước khi chia tay, anh đã nghĩ nó theo nhiều kiểu khác nhau của chính anh chứ không phải bản chất thật của lời Liễu nói, điều đó làm anh càng loay hoay trong mớ ký ức mà anh muốn sắp xếp lại, được lựa chọn, cắt nối và diễn giải, tái tạo, thẩm định lại theo chiều hướng mà suy nghĩ anh cho là hợp lý, như thể trong vô thức anh viết lại quá khứ:
 
“Tôi từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn phòng được sửa mỗi đêm...”
Chính vì thế mà anh sống trong ba tháng - “Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích”.
Việc “dựng một Liễu hoàn chỉnh” khiến tôi nghĩ rằng, một điều xảy ra có thể chỉ được hiểu sau đó. Nhưng sau khi đã hiểu, con người lại quay về sửa lại ý nghĩa của cái đã xảy ra trước. Phải nói là anh xâm nhập vào quá khứ bằng nhiều cái tôi, cho nên, Trôi Giạt không chỉ là nỗi bất định của sự kiện chia tay, mà nhân vật trôi giạt trong những phiên bản của mình, giữa các điểm luôn dịch chuyển: hiện tại - ký ức - diễn giải - ký ức được sửa lại- và rồi hiện tại.
Bà cụ xuất hiện là một nhân vật siêu thực, như cái bóng trong hành trình của anh, nhắc nhở, “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.” Nếu muốn tìm một điểm định vị trong câu truyện này là chuyện bất khả, bởi đây không phải là một lộ trình được hoạch định có chủ đích mà là một hành trình tâm thức, dẫn dắt bởi sự kiện chưa tới, đã qua, hoặc đang đã, mong tìm được được một ổn thỏa cho những điều còn mơ hồ, nhất là nhân vật lại là mẫu người “Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân và ý nghĩa.” Và cái bóng kia thương hại: “Khổ. Cái gì cũng phải có nghĩa.”, bà cụ này đồng quan điểm với Camus, cuộc sống vốn dĩ đâu có ý nghĩa nào định sẵn.
Cuối cùng, anh cũng xuống cái ga không có tên trong bản đồ; Trôi Giạt. Đây là bến dừng và cũng là điểm mở đầu của Trôi Giạt-, căn bếp nơi xảy ra cuộc nói chuyện của anh và Liễu. Từ cái nút thắt ở căn bếp đó anh đi tìm cái gút để tháo. Và có được sự bắt đầu cuộc trở về nội tâm. Tôi có nhận xét với kinh nghiệm rằng hầu như người ta ai cũng có một cơ hội để bắt đầu một cuộc nhìn lại mình.
Đoạn tôi thích nhất là nơi phòng chờ của ga. Những nút thắt từ từ buông lỏng theo những bảng chữ “ngày cô ấy bắt đầu rời đi”, “lần cuối cô ấy còn yêu”, “người ở lại”, “người bị bỏ”, “người yêu nhiều hơn”, nó khiến ta được hiểu là những khoảng thời gian mấu chốt của từng giai đoạn, nhưng thật ra, đó là những nhãn tên mà nhân vật đã gắn lên ký ức của mình. “Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu muộn, người mang vết thương.”,
Và câu trả lời trong sự xuất hiện tấm vé của Liễu, cô cũng xuống sân ga ấy, để rồi anh thấm thía một điều mà ngay lúc đầu anh không hoàn toàn tin: “Vậy mà có một chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và tôi hoàn toàn không biết.” Cả Liễu và anh, đều từng khắc khoải và cùng bắt đầu cuộc tìm kiếm mình là ai. Chí ít đây là sợi chỉ mỏng nhất để hai nhân vật gặp gỡ, nhận thức về tâm trạng cô đơn hiện sinh của phận người. Trên cùng một đường ray ấy, anh vỡ ra: “Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần — không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.”
Từ đây, ký ức không còn là những chất vấn, không còn đối tượng người bỏ đi, người mang vết thương. Có những mất mát ta không thể chữa lành bằng cách hiểu cho hết. Đôi khi điều cần buông không phải là người đã rời đi, mà là câu chuyện ta đã dựng lên về họ — và về chính mình.
 
 “Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ chính những mảnh chuyện kia hay không. Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
Cái lạnh người ấy là một thức tỉnh sau cơn hôn trầm của lý lẽ, của giải thích. Phải nói là sống thêm lần nữa quá khứ, xem như là một thử thách, một chiêm nghiệm về chân sự thật, và về cái Tôi đích thực hơn. "Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa." Xuyên qua lăng kính của nhau, chúng biết rõ hơn bóng và hình, và có lẽ ngưởi đang chạm được đến tự do khi hỏi,“nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
 
“Điều kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.”
 
Đoạn văn đầy tính văn chương trong một hành trình gập ghềnh, nó mang nghĩa tích cực của một người tưởng như sự lưu vong trong suy tưởng đã bào mòn mình.
 
Điểm tôi thích nhất là tác giả không cho nhân vật “ngộ” bằng một lời giải thích; anh chỉ ngừng đưa tay giữ hai tấm vé.
 
“Hai tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi đưa tay định giữ.
Rồi thôi.”
 
Ba câu rời. Thời gian và nhân vật lúc này điềm tĩnh. Không hối hả, không bồn chồn, thong thả theo từng dấu chấm xuống hàng. Ngữ điệu, ngữ cảnh “rồi thôi” ở đây cũng đầy Thiền vị.
Chính cái “rồi thôi” ấy có sức nặng hơn rất nhiều chữ tha thứ, hiểu ra hay buông bỏ.
 
Và tôi hiểu, một điều quan trọng nữa: Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần này tôi không mời chúng vào. Và, “có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.”
Phải chăng tác giả muốn nói đến, sự biến chuyển trong sát na khi ý tưởng nói nên Lời? và cả sự giới hạn của Lời? Theo tôi, đây cũng là quan niệm của nhà văn nhà thơ Tô Đăng Khoa khi khởi xướng dòng thơ DạKhai.
 
NTKM
Upland, tháng 8.2029