Friday, August 12, 2022

THƠ LÊ CHIỀU GIANG. GÕ MỘT NHỊP ĐỜI

Ý Nhi
 
Nhà thơ Lê Chiều Giang
 
Văn xuôi Lê Chiều Giang là một dòng chảy, ngay cả những đợt sóng nhỏ bất chợt, cũng không làm mất đi vẻ mềm mại, duyên dáng.
Thơ Lê Chiều Giang lại là những nhịp gõ ngắn, gấp, dồn dập, tức thì.
Gần như không cần trau chuốt, không cần tìm chữ, không quan tâm lắm đến vần điệu, thơ Lê Chiều Giang là tiếng nói chợt bật lên từ một cảnh huống, một khoảnh khắc.
Hay, như theo cách nói của chị trong một lần trả lời phỏng vấn, thơ chị là những: “chữ nghĩa chợt đến”.*
 
...Thì đã có bao lần
vấp váp
Đã thảm thương, chới với
Nhiều phen
Cũng
...không sợ!
Yêu.
thêm lần nữa
Có hề chi?
Ngã mãi… sẽ quen.
Đêm nay ta hát cùng trăng sáng
Gõ một nhịp đời. Mong
Lãng quên
 
Ta, chứ không phải Tôi hay Em như chúng ta thường thấy. Lê Chiều Giang, trong thơ chị, cũng không thường:

Cánh cửa/ Xầm. Đóng lại/ Chìa khóa? Quăng lên trời/Ta bước chân phiêu
bạt/Tay không/Bày cuộc chơi…Ta thả đời ta/Giữa gió bay…Ta ngồi một
mình/Trên nóc nhà/Ta hét ta la/Khô quắt phổi…Cắm cổ/Ta chạy bừa về phía
trước…Thôi chắc không tìm đường trở lại…Xóa bàn đi/ Làm lại hết/ Ta thả đời
ta/Giữa gió bay…
 
Nhưng
Xem ra, cuộc chơi được Ta bày ra cho mình, quả thật đã không dễ chơi chút nào.
 
Ta đã hơn một lần: Bước lại trong tranh và/ diễn tiếp.
Ta đã hơn một lần ra tuyên bố: Hỡi thế gian/ Ta bỏ cuộc chơi.
 
Chìa khóa căn nhà đã quăng đi thật xa nhưng lòng lại:
Thèm trở lại chốn xưa
Ngồi bên phố cũ
tỉ tê.
Khóc. Nhớ nhà…
 
Tưởng đã “đốt lửa căn nhà trống/ vung vãi tàn tro/ khắp đất trời” mà vẫn không
thôi lên tiếng gọi:
 
Nhà ơi
Giữ lại giùm ta những gió mưa
Giữ lại giùm ta ngàn tiếng nói
 
…Những cười khan
Những khóc dấu
Những đêm dài
 
…Ôi
Ngày xưa
Nhà xưa
Người xưa…
 
Ta đã ngồi với Rượu và cả với khói thuốc bay. Điều mà rất ít nhà thơ nữ nào
dám thổ lộ ra cùng Thơ, với Thơ:
 
Lưu Linh? Ờ, lưu linh
Tản Đà? Ta…chấp hết.
Hoặc một sáng tinh sương mà:
Ta ngồi một mình trên nóc nhà
Buổi sáng.
Trước ngày bỏ đi
Khói thuốc tan trong mây
Rượu.
Đổ đầy máng xối
 
Nhưng Ta đã có lúc phải cay đắng nhận ra rằng:
 
…Đứng giữa đời. Ta
Thật mong manh
Ta giòn tan. Ta
Sắp vỡ.
Nhìn thiên hạ lứa đôi
Ta mệt nhoài
Ta tắt thở
Đêm. Nằm với tóc
Hương của khói rơm
Lửa than ai nhóm. mà
Ta cháy tan.
 
Nhưng
Rồi sau tất cả,
Lê Chiều Giang đã tìm được một cuộc chơi khác cho mình. Một cuộc chơi đầy thi vị.
Những tản văn của chị, những bài thơ của chị đã đem lại cho chúng ta- cho độc
giả một vẻ đẹp rất riêng, và đậm đà qua nhiều cảm xúc rất mới.
Mừng Lê Chiều Giang.
 
*Phỏng vấn nhà thơ Lê Chiều Giang do triều Hoa Đại thực hiện.
SG 7/2022.
Ý NHI.
 
BỎ NHÀ
 
Cánh cửa
Xầm. Đóng lại
Chìa khóa? Quăng lên trời.
Ta. Bước chân phiêu bạt
Tay không,
bầy cuộc chơi.
Lưu linh?
Ờ, lưu linh
Tản Đà?... Ta chấp hết !
Cafe?
Dạ, Khổng Tử
 
Ngàn ly, chưa thấm tháp
Mắt sắc như kiếm dao
Chém chơi, vài
Phạm Thái...
Đàn đứt dây lỗi nhịp
Hết hơi, đêm chưa tàn
Ta hát lời ly biệt
Tử Kỳ chết
dưới trăng
Đứng giữa trăm ngả đường
Không lui và
chẳng tới
Ta như đêm
mịt mù.
Giữa trùng trùng duyên khởi.
Quanh một vòng trái đất
Thèm trở lại chốn xưa
Ngồi bên hè phố cũ
Tỉ tê.
Khóc. Nhớ nhà.
 
(Trích thơ Lê Chiều Giang)
 

Thursday, August 11, 2022

VẦNG TRĂNG BỎ LẠI

Trần Hoài Thư
 
Tranh Đinh Trường Chinh
 
Trăng là của chung. Nhưng đối với người thi sĩ, trăng không còn là của chung nữa mà là của riêng. Xin hãy cho tôi giữ làm của riêng:
 
Nửa đêm, như thể ngày xưa ấy
Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Trăng sáng phơi trên hàng kẽm lạnh
Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng
{Thơ THT)
 
Đêm vườn sau, còn tôi với trăng
Trăng vì lạnh, nên mờ không đủ sáng
Tôi cũng lạnh, nhưng lòng tôi rất ấm
Lâu lắm rồi, tôi không có bạn, trăng ơi
Đêm vườn sau, con dế gáy mỏi mê
Tiếng rụng nhẹ, một lá khô từ giã
Tôi đứng yên, và ngẩn ngơ, nín thở
Nghe vô cùng, gần gũi của vô biên
Và hình như tinh huyết của càn khôn
Đã lai láng cả một vườn không ngủ
Dịu dàng nhé, âm dương đang kết tụ
Và muôn loài đang âu yếm, sinh sôi…
 
Đêm vườn sau, còn tôi, với trăng
Trăng đang thức, lõa lồ không manh vải
Trên tàn lá sồi, trăng lai láng chảy
Trên người tôi, cũng vậy, chảy giòng trăng…
(thơ THT trích từ thi tập Ô Cửa)
 
Trăng đến với tôi khi người khác ngủ. Trăng soi dẫn đường tôi đi. Trăng làm đám người rọi trên đường đất màu trắng như bánh tráng, để người thi sĩ nín thở thấy mình hòa nhập vào cõi trăng mà quên đi  cõi dữ:
 
Nửa đêm có lệnh di quân
Vầng trăng trên ấy vội vàng đuổi theo
Cánh đồng vàng cũng vươn vai
Con đường đất cũng chở trăng đi cùng
Đất trắng phủ thảm màu trăng
Thấy những bóng hình người lính nhấp nhô
 
Vậy mà tôi lại đành đoạn bỏ trăng mà đi. Đêm ấy trăng không lớn lắm, nhưng trắng vừa đủ sáng để soi chỗ sông giao tiếp với biển. Hai bên là hàng dừa nước. Thuyền không dám chạy bằng máy tàu mà là chống, chèo vì tại đây có một đồn công an. Tôi đã dùng can nước để múc một can dự trử. Tôi thấy tôi múc cả trăng. Xin đừng nghiêm khác biện giải comment còm. Hãy cho thơ mọc. Hãy cho thơ hiển linh. Hãy cho thơ ca ngợi màu trăng vì đời thì quá ảm đạm.
 
Khi ra đầu vàm trăng mới mọc
Khi ra cửa biển trăng theo sau
Múc vội can nước trăng theo vào
Uống vội hớp nước nghe mằn mặn
Không biết vì nước hay vì trăng?
Ở cửa biển vị nước có vị mằn mặn là dĩ nhiên. Nhưng mà tại sao vị như là vị mặn của nước mắt. Hay là trăng khóc?  Vì sắp mất đi một đứa con của quê hương!
THT
 

B U Ồ N L E N

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh Ái Lan Công Tôn

Tôi quán niệm vàng thổ tôi
nghe nâu già trổ đồi mồi nhân thân
vệt chiều đẹp bóng phù vân
tôi trùm tôi xuống ân cần tóc tơ
nước lên men tình hực bờ
chưa qua chưa phải hẹn hò chưa xanh
,
 
Chuỗi lưu ly ở bến thành
rồi hoàng hoa cũng rót nhanh rượu nồng
một phiến cầm đẹp âm trong
thì đôi mắt sẽ cầm lòng tịnh sen
mai qua đầm trạch không đèn
hạt sương nhớ lấy cùng len buồn về
 
)(
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
8.8.22
 

Sunday, August 7, 2022

ĐỌC SÁCH LÊ GIANG TRẦN. ‘CON ĐƯỜNG TAY TRÁI ĐI VỀ MẶT TRỜI’

Phan Tấn Hải
 

Nhà thơ Lê Giang Trần & Tác phẩm
 
Tác phẩm mới phát hành của Lê Giang Trần là một tuyển tập nhiều bài viết, trong đó gồm 4 thể loại: Tản mạn, Bút ký, Truyện ngắn, Thơ. Trong thể loại nào, anh cũng thành công theo một cách cảm xúc rất riêng, với kiểu rất mực giang hồ chữ nghĩa, nơi nhà thơ Du Tử Lê đã gọi Lê Giang Trần là một “công tử Bạc Liêu bập bùng những hơi thở buồn” – một hình ảnh cho chúng ta hình dung rất mực bập bùng về Lê Giang Trần, thoang thoảng những nỗi buồn của cõi người.
 
Bất kỳ ai cũng có thể nhận thấy: Lê Giang Trần là môt nhà thơ hy hữu nơi cõi này, những cảm xúc trân trọng của Lê Giang Trần với bằng hữu, và với những chúng sanh cõi đời chung quanh anh rất mực là nồng ấm, thương yêu. Khi Lê Giang Trần viết về các bạn văn nghệ, chúng ta nhận ra những kỷ niệm buồn man mác nơi cõi người, khi phải gặp nhau rồi xa nhau. Khi Lê Giang Trần ghi lại một ký ức về một cụ bà ở  Bạc Liêu, chúng ta đọc qua một lần là hình dung được có một cụ bà như dường có một không hai, những phận người tài năng đa dạng đang sống kham nhẫn trong cõi này.
 
Lê Giang Trần nổi bật về thơ, ngay cả khi viết truyện hay viết tản mạn, bút ký, cũng tràn ngập hình ảnh thơ. Nhà thơ Du Tử Lê nhìn suốt một chặng đường trong đời Lê Giang Trần, và gọi nhũng ngày đến với thi ca của anh là bầp bùng những hơi thở buồn. Nơi bài dùng như Lời Tựa cho tuyển tập “Con đường tay trái đi về mặt trời” (CĐTTĐVMT) của Lê Giang Trần, nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu qua bài nhan đề “Từ Vương Kim Vân tới Lê Giang Trần: Bập bùng những hơi thở buồn!”, trích:
 
“Với tôi, Lê Giang Trần như một “Công Tử Bạc Liêu” lỡ thời, thất thổ. Giữa khi Trần chưa kịp biểu diễn những đường gươm hoa mỹ của một tay chơi tỉnh lẻ về thủ đô, dưới những ngọn đèn màu Saigon thì, lịch sử sang trang. Đổi đời. Sóng biển Đông quăng, ném Trần ra trại đảo. Từ những chao chát nắng, mưa rát mặt ở hoang đảo, bản năng sinh tồn thiết lập cho Trần bảng chỉ dẫn mới. Bảng chỉ dẫn như một cuộc lột xác cay nghiệt, để sống còn. Những kinh nghiệm quá khứ thủ đắc được từ những năm tháng “tay chơi” bất kể ngày đêm, đã bị thực tế lóc sạch, thả đáy biển sâu. Những mưu sinh thoát hiểm mới, làm thành một thân thế khác cho Trần. Trước khi trại đảo tiễn Trần vào đất liền. Vùng đất mới.
Từ những năm tháng Houston, thủ vai người bảo trì, sửa chữa, quản lý mấy chục căn hộ của một chung cư, cũ kỹ…tới những năm tháng di chuyển về Los Angeles theo tiếng gọi khẩn thiết của người cha, trong vai trò của quản lý một tiệm buôn bán thực phẩm Á đông nhỏ của gia đình… “Công tử Bạc Liêu” nửa đời, nửa đoạn kia, như một chiếc lá nổi, chìm theo dòng sống, trăm dòng, nghìn bến.” (CĐTTĐVMT, trang 11-12)
 
Tuyển tập này của Lê Giang Trần có thể tìm trên Amazon.com, khi bạn gõ chữ không cần dấu: “con duong tay trai di ve mat troi” – nơi đây, sách được giới thiệu, trích:
 
“Trong cái thế giới nhỏ bé, có những trái avocado rụng khô trong đêm. Lê Giang Trần ca cải lương, ca tân nhạc và viết văn nữa. Đời sống như thơ của anh, đơn giản, hiền lành.
“Tự nào giờ, tôi vẫn cho thi ca là tiếng nói đầu tiên và cuối cùng, tinh khôi nhất của một trái tim, tinh ròng không có chỗ những làm dáng màu mè, trí thức. Tinh ròng hay, sần sùi, thô, nháp, là đặc tính đáng ghi nhận nhất của cõi thơ Lê Giang Trần.
“Tự nào giờ, tôi vẫn nghĩ, sân chơi tinh ròng thi ca, chỉ dành riêng cho những tấm lòng chung thủy mở ra với trời đất, với thiên nhiên, với bằng hữu. Kẻ làm thơ không có một tấm lòng thủy chung, thì, căn bản, y chỉ là một tay xài bạc giả. Cái bóng bẩy, hào nhoáng của nghệ thuật chỉ là một lớp sơn che giấu cốt lõi mục, rã.
"Tự nào giờ, tôi vẫn cho những kẻ thiết tha, gắn bó với nơi chốn, với cảnh đời y đã đi qua, chính là kẻ thủy chung ở với ta vậy.
"Lê Giang Trần chính là người ở với kỷ niệm, ở với nơi chốn. Cõi thơ của anh, đầy những cánh chim về núi. Cõi thơ của anh, bay trên những dậm trường khuất lấp, chân mây...
"Và, bạn còn muốn đòi hỏi gì khác hơn, những dậm trường tan nát trong thơ người mang tên Lê Giang Trần này?
"Du Tử Lê
“Tháng 2-1991.”
 
Tuyển tập dày 516 trang. NXB Sống. Tranh bìa: Đinh Trường Chinh. Vẽ minh họa: Phạm Công Thiện. Trong tuyển tập cũng có trích tác phẩm, thơ, họa, ảnh, lời nhạc từ rất nhiều nghệ sĩ, trong đó có: Đnh Trường Chinh, Phan Diên, Mộ Dung, Việt Dzũng, Etcetera, Nguyễn Đại Giang, Gúc, Phan Tấn Hải, Nguyễn Thanh Hiền, Phùng Quang Hòa, Cao Đông Khánh, Ngọc Lan, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Thanh Phương, Trương Thanh Phương, Lê Uyên Phương, Lữ Mộc Sinh, Việt Báo KT, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Diệu Thắng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Thanh Thu, Nguyễn Văn Toại, Uyên Nguyên Trần Triết, Khánh Trường, Hồng Vân, Nhật Báo Người Việt, Phạm Vũ, và những hình sưu tầm mà không biết tác giả.
 
Đúng là, có một điểm nổi bật. Thơ của Lê Giang Trần đầy những dặm trường tan nát. Mời bạn cảm nhận những dặm trường tan nát đó qua vài câu sau của anh:
 
Một đời tôi mưa trôi
một đời hoa lạc lối
bước về con phố tối
trăng lạnh ngập hồn tôi. (Trang 19)
 
Thơ Lê Giang Trần cũng gắn bó với kỷ niệm, với nơi chốn. Có những địa danh nhắc trong thơ anh, chỉ nghe âm vang đã thấy buồn như muốn khóc. Như các dòng thơ sau:
 
…Nhớ mưa nhớ gái nhớ sông
Nhớ Gò Vấp nhớ vũ trường quán ăn
Nhớ tình xưa những cô nương
Những thằng bạn lính, một nàng vợ ngoan
Nhớ Bạc Liêu chợ nhà lồng
Nhớ tô bún mắm, bánh tằm, mì khô
Cầu quây áo dài gió to
Hàng me đại lộ vât vờ lá bay. (Trang 28)
 
Trong bài viết “Nhớ Gánh Hàng Rong” ghi lại những kỷ niệm về Bạc Liêu, nơi nhà thơ Lê Giang Trần chào đời và sống một thời thơ ấu, anh kể về một nhân vật khó quên, trích như sau:
 
“…Dài dòng để nói tới một nhân vật đặc biệt bán ổi muối cam thảo đặt gánh trước cửa tiệm Vương Lợi Hưng ngang chân cầu quay. Tôi gọi bà là bà ý (bà dì). Bà lúc ấy gần sáu mươi, hai vợ chồng người Tàu và đều biết võ nghệ. Gánh xong gánh ổi đặt xuống chỗ bán thường lệ bên dốc Cầu Quay là ông giao vợ bán, chừng bán gần xong thì ông trở lại chờ gánh về. Ngày nào cũng vậy, khoảng mười giờ sáng là gánh ổi có mặt trước cửa tiệm nhà tôi.
Ngày nào bà cũng bán gần như sạch cả hai việm sành to tướng chứa đầy vun những trái ổi xá lị mập mạp, thấm màu nước muối và màu cam thảo nên ửng màu vàng ong óng bên ngoài cái màu xanh muối dưa. Bà tuyển từng trái ổi một nên ít khi khách hàng phải lựa, hoặc chọn trái to hoặc chọn trái nhỏ, ngoài ra không thể chê trái này xấu trái kia đẹp, trái này bị sâu ăn hay có tì có tật, trái nào cũng lành lặn tươi ngon đều như nhau. Thỉnh thoảng bà bán xong còn sót vài trái ổi nhỏ là vì hôm đó người ta ăn ổi lớn nhiều hơn mua ổi nhỏ, vậy thôi.
Tôi còn nhớ, có một tay đạp xích lô lỗ mãng, có vẻ không tin lời đồn đãi về bà nên thường đậu xe nghỉ trước mặt gánh ổi bà rồi nói gần nói xa khiêu khích. Bữa đó có lẽ bà chịu hết nổi cái thằng xích lô chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, tôi đang ngồi cạnh bên bà nhai ổi chấm muối ớt, bà kêu tôi đứng lên ra tay xúc phạm đến thân thể bà, hết kiểu này tới kiểu nọ, kiểu ra tay chân nào cũng bị bà lanh lẹ gọn gàng dùng thế võ ngoạn mục để phản đòn chớp nhoáng và dừng tay lại đúng ngay yếu điểm chết người. Vừa diễn bà vừa nói lớn cho lọt vô lỗ tai thằng xích lô những đòn thế độc địa của bà thì hậu quả ra sao. Mọi người qua lại thấy vậy bu quanh coi bà biểu diễn, mấy đứa nhỏ vỗ tay còn người lớn ánh mắt phục lăn. Từ đó về sau, anh xích lô ăn ổi mỗi ngày và một tiếng thưa má hai tiếng dạ má. Tay anh chị nào gân gân chưa biết tài nghệ bà, xấc xược mà anh xích lô nghe đặng, anh chửi thề nói “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ,” tôi nhớ hoài câu này là vậy.” (Trang 154-155)
 
Đôi khi, thơ Lê Giang Trần làm chúng ta hoảng sợ. Hãy hình dung thế này: một nhà thơ hải ngoại, nghĩ về những người bạn một thời ở Việt Nam, và khởi tâm muốn về thăm:
 
Ừ. Thì đi về Việt Nam
Lên Đơn Dương thăm người bạn rẫy
Xuống Cà Mau thi rượu bác chèo đò… (trang 333)
 
Thế rồi, giữa bài thơ “Trạm người quá bước” đó, nhà thơ Lê Giang Trần nhìn lại đất Cali, nơi anh đang ngồi viết những dòng thơ:
 
Ừ. Tôi đang bùng cháy
Chỉ có bóng đêm nhìn pháo bông rực rỡ
Ừ. Tôi đang hét gầm
Chỉ có núi cao đồng vọng tiếng vang xa
Ử. Tôi đang bật khóc
Nhưng Cali trời chẳng có mưa ngâu (trang 335 – đoạn 3)
 
Thơ Lê Giang Trần buồn như thế. Đúng là trời Cali chẳng có mưa ngâu, nhưng những dòng thơ của chàng chở theo đầy những mưa buồn kỷ niệm. Thế rồi, xuống gần cuối trang, trong cùng bài, chàng viết:
 
Huống hồ chi Việt Nam không về trở lại
Ôm em điếm nhỏ vào lòng cho tôi chút ấm
Khoác vai em ăn mày cho tôi dạo chợ Xuân
Vào rừng Đơn Dương thăm bạn rẫy vườn
Theo sông nhỏ về Cà Mau thăm ông lái
Về làng xưa quỳ lạy mộ ông bà. (trang 335 – cuối đoạn 4)
 
Đó là thế giới của tâm tưởng, của trí nhớ, của mơ mộng, của ước muốn và của những phải chi… Và rất buồn. Đó là những dòng thơ rất buồn.
 
Chân dung Lê Giang Trần. Phan Tấn Hải vẽ
 
Cũng có điểm rất nổi bật: Lê Giang Trần rất trân trọng với các bạn hữu văn nghệ, gọi các bạn văn là kỳ hoa dị thảo. Trong bài viết nhan đề “Trần Duy Đức và thơ kỳ hoa dị thảo” nhà thơ Lê Giang Trần kể về chàng nhạc sĩ họ Trần:
 
“Trần Duy Đức với tôi, là một quãng đường thật dài không đo bằng mốc cây số mà trải suốt bằng độ thời gian 30 năm của tình bằng hữu.
Trần Duy Đức với tôi, trên độ dài thời gian như thế, 30 năm trong chuỗi thời gian 45 năm ‒ mà người nhạc sĩ này gọi là "45 năm tình ca" − đã cho tôi nhìn ra anh nhiều điều, nhưng nổi bật nhất, cho thấy anh là một nhạc sĩ có nỗi đồng cảm với thi ca; trong sự đồng cảm rung động ấy, người nhạc sĩ từ khi còn là một thanh niên tràn đầy sức sống, anh đã có biệt tài nhận ra những bài thơ như là nhận ra một thứ kỳ hoa dị thảo bất ngờ đập vào mắt một kẻ lãng du trên bước đường phiêu lãng băng qua những cánh đồng làng vun trồng tràn ngập bông hoa, hay những cánh rừng trong độ xuân về trăm hoa đua nở khoe sắc khoe hương, hay trên một ngọn núi hoang vu chợt nhìn thấy một đóa hoa rực rỡ kiêu ngạo lặng lẽ vươn lên nơi khe đá khuất, hay bỗng dưng ven bờ suối róc rách nào đó lúc dừng chân thả hồn bâng quơ mơ mộng chợt trong tầm mắt xuất hiện một loài hoa dại lạ lùng quyến rũ... Và những bông hoa duyên tao ngộ như thế, làm cho tâm hồn của người nhạc sĩ nhìn vào cảm thấy hương sắc ấy biến thành những nốt nhạc bay lên... bay lên...
Ngôn ngữ của thi ca vốn là thứ chỉ để cảm nhận, giống như nếm mới biết được vị, giống như ngửi mới biết được mùi, giống như tình yêu có chảy tan vào huyết quản mới làm cho trái tim rung lên giai điệu chất ngất men tình.... Trần Duy Đức cảm nhận những bài thơ có ngôn ngữ như thế, và biến hóa thứ hương vị, thứ màu sắc, thứ quyến rũ, tất cả những thứ tỏa ra ấy, trở thành âm nhạc. Sự sáng tạo ấy mang một nét rất riêng, rất Trần Duy Đức; giống như một linh mục dùng phép phối ngẫu ghép "nàng giai nhân thi từ" với chàng "tài tử nốt nhạc" trở thành "đôi uyên ương" hạnh phúc miên viễn bên nhau, hòa nhập, hòa điệu, cất lên tiếng hát, cất lên giai điệu, âm nhạc bay lên không gian, quyến rũ gọi mời, thơ mộng thấm đẫm vào tâm hồn những sinh loại đang sống, bầu trời nở rộng, màu nắng lung linh, màu trăng huyền ảo, cây lá xạc xào, bông hoa run rẩy, chim hót sầu vui, cánh bướm chập chờn, con người nghe thả hồn trầm tưởng.
“Người nào yêu thi ca hẳn người đó có yêu "Thơ Tình Du Tử Lê", vì, người thi sĩ này thả từ trong tâm hồn và trái tim của mình bay ra những cánh bướm ngôn ngữ mê hoặc. Khi đọc lên những thi ngữ như thế, giống như mình đang cận kề bên cô gái xinh tươi, hít thở được hơi thở thơm tho của nàng thở ra, hít thở được hơi hướm từ da thịt nàng toát ra mùi hương làm ngây dại tâm hồn mình, khiến cho trái tim nghĩ tưởng đến một sự đê mê ngây ngất, thứ cảm giác chỉ có khi ái ân; hay huyền diệu hơn, diễn tả thứ cảm giác mà những bậc đạo sư cảm nhận trong giây phút tâm thức bừng sáng hoát ngộ lẽ nhiệm mầu nào đó mà không có bất kỳ loại hạnh phúc nào có thể giống như thế.
Có lẽ như thế, mà, rất nhiều "Thơ Tình Du Tử Lê" bỗng hóa thân thành âm nhạc, không chỉ duy nhất riêng nơi một mảnh vườn của một nhạc sĩ lãng mạn, thu hút cả một thế giới âm nhạc trở thành người tình, người yêu. Và, Trần Duy Đức là một trong những người yêu ấy, một người nhạc sĩ yêu "Thơ Tình Du Tử Lê". Và như thế, sự hôn phối đó, giới thiệu đến những ai yêu thi ca - âm nhạc một sắc thái mới của một "nàng trinh nữ thơ" trở thành một "nàng hôn thê của âm nhạc". Và người kết hôn này giới thiệu "tân giai nhân" của chàng giống như một vị hoàng đế đăng quang nàng "ái phi" lên ngôi hoàng hậu.” (Trang 227-230)
 
Vậy đó, Lê Giang Trần sử dụng nhiều hình ảnh để mô tả về nhạc Trần Duy Đức: chàng phù thủy âm nhạc đã phù phép để thơ tình Du Tử Lê hóa thân thành âm nhạc. Văn phong này của Lê Giang Trần rất độc đáo, rất riêng biệt. 
 
Thường khi, chúng ta dễ quên người vắng mặt. Một bạn văn nào đi xa, chúng ta dễ nhớ khi tới 49 ngày, hay 100 ngày, hay dài hơn, là dịp để nhớ tròn một năm tiễn biệt. Nhưng Lê Giang Trần luôn luôn nhớ các bạn văn nghệ với những kỷ niệm ngập tràn hình ảnh và âm thanh. Như khi Lê Giang Trần nhớ về nghệ sĩ Vô Thường, tay đàn guitar độc đáo.
Trong bài viết nhan đề “Tháng Tư nhớ Vô Thường, tiếng đàn guitar bất hủ” nơi trang 281-292, nhân vật Vô Thường đầy những giai thoại được Lê Giang Trần ghi lại, trích:
 
“…Từ sau ngày đó, tất cả các tiệm nào có bán băng nhạc đều thi đua mở nhạc Vô Thường đờn guitar, hành hạ ỏm tỏi con phố Bolsa một thời gian không ngắn; rồi thì không biết bao nhiêu bài viết về tiếng đàn Vô Thường. À, còn cái tên nữa, Võ Thường mà Đông Duy bỏ dấu mờ ảo nên Phạm Công Thiện đọc ra Vô Thường, rồi kêu để luôn Vô Thường cho vô thường một chút. Ông tò mò hạch người Phạm Công Thiện về ý nghĩa hai chữ vô thường. Cao Xuân Huy khi biết tên Võ Văn Thường, giở giọng Bắc phê bình “văn cũng xoàng mà võ cũng xoàng”, lý do chàng họ Cao ức vì bỗng phát giác thằng bạn võ văn xoàng là “thần tượng” của bà vợ  “yêu vấu” của mình cộng thêm cái list dài sọc trong family.
 
Vô Thường bỗng trở thành hiện tượng, trở thành người bày trò ra mắt băng nhạc. Những buổi ra mắt bán băng nhạc ấy được tổ chức ở nhiều bang và tất cả số tiền thu được, ông gửi đến các em bé mồ côi trong trại tị nạn. Không biết bây giờ, có em bé mồ côi tị nạn nào khi có dịp ghé đến thủ đô tị nạn Little Saigon, tìm đến nấm mộ của người nhạc sĩ có lòng nhân ái này, thắp cho ông một nén hương lòng hay đặt trên ngôi mộ ấy một đóa hoa dại tươi thắm để tỏ tấm tình với người nhạc sĩ vắn số.
Báo Register đến phỏng vấn Vô Thường. Một trang báo với hình ảnh trang trọng dành cho ông. Theo thời gian, ông được đưa vào sách những người nổi danh, ông có tên trong danh mục những nghệ sĩ tài danh của Pháp. Ông là nghệ sĩ nhận được thư khen tặng, thư cảm ơn của những thính giả ngoại quốc, hằng ngàn bức thư gửi đến ông qua đường bưu điện từ khắp thế giới. Những thính giả này sau khi nghe tiếng đàn của ông, gửi đến một lá thư khen ngợi thật cảm động, là niềm vui thỉnh thoảng ông mang ra khoe cùng bạn. Ông cho biết người ngoại quốc đa số đều mua một loạt toàn bộ những CD nhạc ngoại quốc ông đàn. Vài tháng sau khi ông mất, một tối tôi nghe có tiếng người ngoại quốc bên nhà Vô Thường, cặp vợ chồng Bác Sĩ người Phi, mua CD của ông đều đặn, rất ái mộ ông, hay tin ông mất đã ghé đến viếng linh vị ông và mua thêm nhiều CD để dành tặng cho bạn bè họ.” (Trang 283-284)
 
Kể chuyện của người chưa hết, Lê Giang Trần lại kể chuyện của chàng. Mối tình này của Lê Giang Trần rất nhiêu người biết, kể như duyên tiền định, chớ không phải tự nhiên một kiếp này mà gặp. Cô nàng đẹp, nhưng tâm trí không bình thường. Do vậy, bài “Chuyện Tình Điên” được Lê Giang Trần ghi lại, câu chuyện rất dài, đầy những sóng gió, nơi đây chỉ dẫn ra chút ít, để ngậm ngùi phần nào, trích:
 
“…Vài tháng sau, khi cô bị đưa trở vào nhà thương điên, cô viết giấy nhờ người mang đến chỗ tôi làm, nhắn: “Em thèm đồ ăn Việt Nam lắm, anh mua bún tôm thịt nướng cho em nghe”. Vậy là cứ mỗi cuối tuần tôi mang một món ăn Việt vào nhà thương thăm cô. Cô ngồi đối diện tôi ở một bàn nhỏ, nơi có y tá qua lại canh chừng, ăn ngon lành thức ăn mang đến.
Ba tháng sau, cô có vẻ tỉnh táo nhiều. Đến thăm, cô cho biết có người quen hồi trước cùng xóm, bảo lãnh cô về tiểu bang X nên hôm nay sẵn dịp cô từ giã luôn. Mắt cô long lanh nhìn tôi rất tình-cảm-một-hồi, rồi nói nhỏ nhẹ:
“Em thiệt thương anh hết sức, anh tốt bụng với em lắm, nhưng anh không có nhà ở nên em để người ta bảo lãnh em đi. Em không lấy được anh, anh đừng buồn nghe!”
Câu nói thật tỉnh táo. Tôi chúc,
“Em đi mạnh khỏe ha”.
Trên đường về, tôi tự hỏi có phải là chuyện tình điên của nàng không? Chắc cô tỉnh ra, cô thấy mình điên thật, nên từ chối khéo.
Cô bị đưa vào nhà thương điên trở lại, vì một sáng cô múa khỏa thân cho Đường Minh Hoàng coi ở trước cổng Phước Lộc Thọ. Cách đó không lâu, trời đã vào đông, khi gặp cô lang thang ngoài phố, tôi mang cô đến “Bà Chúa Xứ”, xin Kiều Nguyên Tá, là người chủ điện Bà, nếu cô có tới nữa thì cho cô ngủ nhờ, trời lạnh tội nghiệp cô. Cô bình yên được vài tuần, tối ôm sleep-in-bag lên điện Bà nằm ngủ co ro.
Một tối tôi ở lại chơi, bỗng cô “lên vùng” múa ca không nghỉ, Kiều Nguyên Tá chịu hết nổi nạt một tiếng, cô đái trong quần. Tôi phải hy sinh bộ đồ ngủ lạnh của mình, dắt cô vào phòng tắm, cô hồn nhiên như đứa trẻ cởi đồ ra cho tôi lau rửa thay đồ.
Thương thay cho vóc dáng ngọc ngà mang tâm thần điên dại, bị bao kẻ mất lương tri lạm dụng dày vò. Cô điên vì lúc vượt biên mười lăm tuổi bị hải tặc bắt đi, thả về thì cô có bầu. Cô sinh một bé gái xinh xắn (luôn có tấm hình con trong bóp), qua Mỹ cô bị gia đình cha mẹ ruồng bỏ. Khủng hoảng, người hóa dại điên nên con cô bị chính phủ giữ. Lúc tôi gặp, cô hai mươi sáu tuổi, gương mặt đẹp đẽ, vóc dáng thanh tao…” (trang 399-400)
 
Tuyển tập dày 516 trang, trong đó có rất nhiều trang làm độc giả ngậm ngùi với những chuyện cõi này sao buồn lắm thế. Tuyển tập “Con đường tay trái đi về mặt trời” của Lê Giang Trần không chỉ kể chuyện của anh, không chỉ ghi những cảm xúc của anh, nhưng cũng khắc họa những mảng đời văn nghệ sĩ Quận Cam --- một thời rời nước ra đi, và chỉ còn chữ nghĩa để lại cho ngươi đời sau hiểu được tấm lòng.
 
Nơi trang bìa cuối, ghi bài thơ lục bát dài 16 dòng của Lê Giang Trần, nơi đây trích đoạn giữa, với 6 câu phác họa một phần chân dung nhà thơ họ Lê:
 
Làm báo, vui chơi, làm thơ
Nhâp đàn bằng hữu những cô độc đời
Tóc dài đo tháng năm rơi
Đọc kinh. Tịnh khẩu. soi tôi. Xét mình
Quán ơn nghĩa, quán ái tình
Bị thương sướt mướt say linh lang buồn…
 
Tịnh khẩu? Hình như Lê Giang Trần chưa sẵn sàng tịnh khẩu. Phải chờ cho dứt hết say linh lang buồn đã chớ.
PHAN TẤN HẢI
 
Độc giả có thể email tới legiangtran@yahoo.com nếu muốn liên lạc với tác giả.
 
  

Saturday, August 6, 2022

DÒNG SÔNG

KCNguyễn
 
Tranh Đinh Cường
 
tôi biết tên dòng sông
vốc nước, biết mức phù sa đỏ
hình dung những khúc quanh, những cơn mưa lũ nhưng không biết chiều sâu
 
kể cho tôi nghe đi
qua tiếng chảy rầm rì
cuồn cuộn nhưng lại âm trầm
niềm đau của đồi núi vỡ và những hạt cát mà người mang nặng
nỗi buồn của vàng, bạch kim
những lấp lánh vùi trong bùn đặc quánh
kể cho tôi nghe đi
sự giằng xé của mùa bão động
nước dâng cao và những trái tim chìm xuống hai bờ
 
những đồng bằng người đã đi qua
có đếm những vụ mùa và rải hoa vào trong nước
có đo phù sa với thước đo bao đời trước
cảm xúc nhiều hơn
 
những thành phố người ghé ngang qua
có biết nước sông mềm hơn ngọn gió
người ngậm chất nóng từ khí trời lầm lỡ
thở ra hơi mát, trả về hơi ấm
tuỳ mùa
 
tôi sẽ kể cho người nghe
câu chuyện của mặt trăng kỳ lạ
đến thăm tôi khi đêm lên, chờ tôi dậy dù nắng lên đầy ngõ
để ngày tôi bắt đầu với sự biết ơn
 
vốc nước trên tay
tôi sẽ không quên
màu đỏ, máu và lời thơ trong lòng người đó
tôi sẽ hình dung
những làn sóng nhẹ
mỉm cười trên viễn ảnh của hạn khô
 
KC NGUYỄN
 

TỚI LUI

Trần Hoài Thư
 

Con đường tới trước thì chưa tới
Con đường lui sau thì đã qua
Chưa tới có nghĩa rồi sẽ tới
Đã qua thì đã tới rồi xa!
 
Thượng Đế chỉ cho người bước tới
Có bao giờ quay lại để bước lui?
Bước tới để da mồi tóc trắng
Bước lui thì trẻ mãi không già
 
Và bởi vì không thể bước lui
Nên tôi mượn xe tình của em đẩy tạm
Trước tập đôi chân bước đi thêm mạnh
Sau tập trái tim trẻ mãi không già!
TRẦN HOÀI THƯ

 


Friday, August 5, 2022

DU TỬ LÊ, ‘TUNG CÁNH VÀNG XƯA HẠC VÚT BAY.

Đỗ Hồng Ngọc
 
Đỗ Hồng Ngọc & Du Tử Lê
 
Trang dutule.com, ngày 3 tháng 9-2010 có một tin ngộ:
 
“ Đỗ Hồng Ngọc và, puzzle… thơ!”
Tháng 10 năm 2009, Cơ sở H.T. Productions ấn hành thi phẩm “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới.” 
Bằng vào tình bạn có với nhau tự những năm đầu thập niên 1960 ở Saigòn, nhà thơ Đỗ Nghê (Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,) đã nhặt một số câu trong nhiều bài năm chữ khác nhau của Du Tử Lê, sắp lại theo kiểu…những mảnh puzzle, thành một bài thơ khác. Khá dài. Gửi ngược lại cho bạn.
Tác giả “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” cho biết, ông thích lắm, cuộc đùa nghịch mang tính văn chương và, ý nghĩa này.
Hôm nay, chúng tôi xin gửi tới quý thân hữu trang nhà dutule.com tác phẩm “phối hợp nghệ thuật” của nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhan đề “năm chữ du tử lê và,”. Như một món quà tinh thần nhỏ, trong lãnh vực chữ nghĩa của hai tác giả hiện đang sống ở hai đầu… trái đất.
Trân trọng. 
 …………………………………..
Xin được nói rõ thêm một chút.
Cuối năm ngoái, Lữ Quỳnh mang về tôi tập thơ “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” với những minh họa rất thơ của Đinh Cường, có kèm cả CD do chính Du Tử Lê đọc. Anh ghi: gửi người thầy thuốc - nhà thơ dễ thương nhất nước, Đỗ Hồng Ngọc.
Tôi lần giở. Ngạc nhiên thấy có mấy dòng “căn dặn” độc giả: “… Xin đừng đọc quá 3 bài thơ năm chữ, và không nhiều hơn 1 bài, ở những thể loại thơ khác của tôi, trong mỗi lần đọc. Trân trọng. DTL”. 
 
Tôi cười. Đúng là dutule! Rõ ràng nhà thơ đã tự “chẩn đoán” ra cái bệnh của thơ mình. Anh biết nếu độc giả mà đọc một lèo nhiều bài thơ 5 chữ của anh thế nào cũng mắc nghẹn, phát ách, hoặc …tẩu hỏa nhập ma! Nhiều năm nay, đọc thơ Du Tử Lê đôi khi tôi cũng “phát ách” như thế. Nào phẩy, nào chấm, nào gạch ngang, gạch dọc… Dĩ nhiên nó đều mang những thông điệp, những ý nghĩa. Nhưng… phát ách! Làm như cứ phải nhập “vô lượng nghĩa xứ định” trước khi đọc vậy! Tôi bèn thử nghe CD xem sao. Ô kìa, trong CD lại khác hẳn. Anh đọc thơ trơn tru bằng thứ chất giọng truyền cảm của mình như ngày nào. Thì ra khi đọc, anh đọc theo cái nghĩa. Khi viết, anh viết theo cái ngữ.
Tôi vốn thích thơ dutule vì cái tình, hình ảnh, nhạc điệu, nhất là cái “tứ” rất riêng của anh. Lần này, vì bị anh “cấm” không cho đọc quá 3 bài thơ năm chữ của anh, tôi bèn lật xem thử cái Mục lục trước. Và ơ hay! Tôi phát hiện ra một bài thơ năm chữ rất dutule ở đây. Chính cái Mục Lục đó với tôi, đã là một bài thơ năm chữ, có thể còn là một bài hay nhất trong tập thơ này. Tôi tủm tỉm cười, chép lại và gởi cho bạn xem anh có nhận ra là bài thơ nào, tự đâu, bao giờ không. Anh rất vui, đúng là thơ dutule nhưng đã… không nhận ra bài thơ “trời ơi” này đã từ cái Mục lục ghép thành!
 (dưới đây là bài “thơ” do Đỗ Nghê ghép từ tựa các bài thơ 5 chữ trong Mục Lục tập thơ DTL)
 
 NĂM CHỮ DU TỬ LÊ VÀ, 
 
trở giấc cùng hư vô,
chưa ai từng có mặt,
chúng ta những đứa trẻ
cần quá đi tình yêu. 
bão đi qua bàn tay,
sương, chiều, trên môi đấy,
tôi: được người cứu chuộc,
gai lũy thừa vết xước, 
nuôi tôi lời hứa, dối,
môi nhỏ nhắn nỗi buồn,
những ngón tay biệt, ly,
trong tiếng cười quặt quẹo, 
tâm chất đầy phế liệu,
xúc xiểm tôi, mùi hương,
trăng khuyết chiều hóa trị,
môi nhỏ nhắn nỗi buồn, 
tín cẩn tôi: nỗi đau
chúng ta ngoài thế giới
nhận mũi đinh tuyệt vọng,
niết bàn nanh chó sói, 
dutule
 
Dĩ nhiên, đúng như anh nói, chỉ là một chuyện đùa vui trong chỗ bạn bè.
……………………………
Phải nói dutule “lừng lẫy” với thơ đã từ lâu, xứng đáng ngồi một mình một vuông chiếu (luân hoán), nhưng với tôi, có một điều muốn nói riêng với bạn: du tử lê khổ quá, với thơ!
Mà không phải mình tôi đâu. Đọc Nguyễn Vy Khanh coi. Ông có những nhận xét thấu đáo. (https://luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%2016-4-03.htm)
Du Tử Lê đã liên tục thử nghiệm, canh tân, suốt cuộc đời làm thơ và có vẻ không lùi bước! Ông muốn làm mới ngôn ngữ, biến hóa cấu trúc, cách đặt câu, chấm câu, làm mới cách diễn tả thơ (và văn) trên trang giấy, đem thị giác mới đến với thơ.
 Du Tử Lê cho rằng đời sống hiện nay như những mảnh vụn, nên xử dụng những dấu chấm, phẩy để cắt vụn câu thơ…. Dùng dấu gạch chéo slash / để cho phép người đọc đổi vị trí chữ theo ý riêng, làm nhịp đi của câu thơ được ngắt lại; tính và chiều đi tới của câu thơ được cởi bỏ để thơ có tự do chuyển động hai chiều và (…), người đọc tự do đổi vị trí các chữ hoặc nhóm chữ đứng trước gạch chéo đến một vị trí khác trong câu thơ nếu muốn (...) thay thế giới tự (preposition) với thí dụ "Rừng / tôi / sâu / thở / nốt chân trời" trong đó ba chữ Tôi / Sâu / Thở có thể đổi vị trí để thành những câu và ý nghĩa khác câu nguyên bản. Rồi "chẻ chữ để thêm nghĩa": "Sương, trần thân mây chia, ly / nhập chung nỗi chết : sầu khô, héo về" ( Chấm Dứt Luân Hồi : Em Bước Ra). "Và, ngày cù sương: bay lên / nắng thâu phế liệu; em truyền nhiễm, thơ / (...) và chiều cù ta: chìm, rơi / ai /vai / bồ tát / tim / ngồi ghế sau" (Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà).
(…)
 
Tôi thấy thương dutule! Tự nhiên làm khổ mình với thơ! Khi về Việt Nam năm 2009, anh vạch bụng, chìa tôi xem vết mổ K đại tràng với cái túi đeo lủng lẳng bên hông… Tôi nhìn khí sắc anh nói không sao đâu. Rồi tôi nghĩ thơ anh phải chăng cũng ít nhiều bị ảnh hưởng với những  “buổi chiều hóa trị”, và cái tủi lủng lẳng kia... Những lần sau, tôi cùng Du Tử Lê, Vũ Hoàng, Phạm Chu Sa ngồi cafe quán cốc, cũng có nhắc một chút về chuyện… “mần” thơ. Chàng có vẻ lắng nghe. Những lần sau nữa, với Thân Trọng Minh, Hạnh Tuyền và vài thân hữu, chúng tôi chỉ nói chuyên món ăn… quán Lục Tỉnh dưới cơn mưa mùa hạ…
Tôi thấy thơ dutule tự nó đã hay từ trong cốt cách, từ trong tiếng Mẹ của anh, không cần “phu chữ” thịt bắp vai u…
Bởi thơ đi thẳng vào tâm hồn người mà tâm hồn vốn… “vô tướng” (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, Kim Cang kinh)… 
Vốn nhà quê thứ thiệt, tôi ưa những câu thơ như thò tay ngắt một cọng ngò/ thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ, hoặc trèo lên cây bưởi hái hoa… nó chân chất, mà thiệt ra đàng sau đó là cả một mênh mông của chân không diệu hữu…
………………………….
Hơn nửa thế kỷ trước, Đỗ Nghê là người giới thiệu Thơ Du Tử Lê, trên tập san Tin Sách do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam xuất bản, bộ mới, số 38, tháng 5-1965, tập thơ đầu tay của anh, do chính tác giả tự xuất bàn.  
 . Chúng tôi chưa hề quen biết nhau. Tôi viết bằng tâm cảm của một người yêu thơ.
 
Tôi chưa biết Du tử Lê, nhưng đọc thơ anh tôi thấy như quen đã từ lâu, rất gần gũi (…). Du tử Lê đến bằng bước chân ca dao, ngọt ngào, tình tứ, bằng một tâm hồn yếu đuối, đam mê và rất nhiều dằn vặt, xót xa về quê hương, về số kiếp… 
tôi còn tiếng nói
tôi còn linh hồn
tôi còn dĩ vãng
tôi còn quê hương
tôi còn lịch sử
tôi còn là tôi
(tuyên ngôn) 
(…) Thơ Du tử Lê giản dị mà không thiếu truyền cảm vì đã nói lên ý nghĩ thực: không cầu kỳ, không ngạo nghễ, kiêu sa như phần đông những nhà làm thơ thời thượng. 
Bắt đầu một ngày
Con người múa may
…..
Kết thúc một ngày
Con người thua cay…
(Một ngày của con người) 
(…) Bên cạnh một Du tử Lê đầy hoang mang, khắc khoải, thao thức đó, còn có một Du tử Lê mềm yếu, đam mê, lãng mạn. Ở đây Du tử Lê cũng trung thành với kỹ thuật của anh. Không có những cầu kỳ, bí hiểm, sáo ngữ mà là những lời ca dao (…)
* tình tôi đam mê hồn tôi yếu đuối
ánh mắt nụ cười em đã giết tôi… 
* mai em có con tay bế tay bồng
mai em yêu con, mai em thương chồng
tôi chỉ xin em một lần kể lại
chuyện em sang sông: có tôi đau lòng
                          (thư cho em) 
Và cái nhìn đầy triết lý bi quan
cầm bằng bãi gió mây qua
đôi chân nhỏ dại lỡ sa vào đời
cầm bằng nước mắt trôi xuôi
tiếng đâu thê thảm ru dài không gian
(Cầm bằng) 
(Đỗ Nghê- Tin sách Bộ mới, số 38, tháng 5-1965 trang 9-11) 
 
Không biết Du Tử Lê bây giờ khi đọc lại những dòng này thấy sao, có ngượng, có thấy hồi xưa mình… ngây thơ quá, thơ gì mà thiệt thà quá! Lúc đó bọn tôi đều mới ngoài hai mươi!
Những năm gần đây, khi có dịp gặp lại nhau ở Saigon, Du Tử Lê  thường nhắc: Thời đó, một nhà thơ trẻ, có tập thơ đầu tay bao giờ cũng bị… đập, vậy mà Đỗ Nghê đã viết những lời trang trọng. Còn tôi, tôi cũng nói với bạn rằng tôi nghĩ thơ là tấc lòng, “thốn tâm thiên cổ”, cái còn lại là cái tình. Chẳng hạn, với tôi, khi nhắc Du Tử Lê tôi chỉ còn nhớ  “Như loài chim bói cá. Trên cọc nhọn trăm năm. Tôi tìm đời đánh mất… Thụy ơi, và tình ơi…” (Khúc thụy du, DTL) hay gần đây “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển / Đời lưu vong không cả một ngôi mồ / Vùi đất lạ thịt xương e khó rã / Hồn không đi, sao trở lại quê nhà” (DTL). Nhiều câu chữ, chấm, phẩy, cấu trúc nọ kia tôi không nhớ đâu, mà cũng chẳng cần nhớ, nhưng cái tình trong thụy ơi và tình ơi hay hãy đem tôi ra biển thì tôi không thể nào quên. 
Tôi bỗng nhớ trên Tạp chí Thơ, có một bài viết về thơ “tương tác”, rằng với hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
 Đời vắng em rồi say với ai?”
có thể đọc theo lối ngắt dòng, ngắt chữ thành:
Em ơi /
Bình rượu khô /
Lửa tắt.
Vắng em /
Say với ai /
Rồi đời!
 
Nhớ năm 1973 thì phải, dutule ôm thằng con nhỏ chạy vào bệnh viện Nhi đồng tìm tôi ở phòng Cấp cứu. Thằng nhỏ bị bệnh Bạch hầu (Dipthérie) nặng, màng giả (fausse membrane) đã lan rộng, chặn nghẹt cổ họng làm hết thở!  Bé lập tức được đặt ống nội khí quản giúp thở, làm hô hấp nhân tạo và chích huyết thanh, vaccin, cùng kháng sinh các thứ… 
Rồi một tối nọ, anh gọi tôi khẩn cấp: Đỗ Nghê đến “cứu” mình với! Thì ra có một nữ độc giả ái mộ thơ Du Tử Lê đang ngồi đợi anh ở quán café H, Đakao. Anh kẹt vì một lý do gì đó không biết, nhờ tôi tới “cứu bồ”. Tôi xách xe đến gặp cô nàng trò truyện… suốt buổi về thơ Du Tử Lê!  Mấy chục năm sau, gặp lại Du Tử Lê và phu nhân của anh về thăm quê hương hóa ra là nàng… Chính là cô gái mê thơ dutule tôi đã gặp năm xưa ở quán café!
Có người nói anh có số đào hoa! Có người nói anh có cái giọng khiến con kiến… trong hang cũng phải bò ra! Tôi không biết. Với tôi, anh vẫn vậy. Nhỏ nhẹ. Dễ thương. Lãng mạn. Sâu sắc.    
Năm 2017, bỗng có bài viết trên dutule.com về thơ đỗ hồng ngọc/đỗ nghê, như là một lời trần tình, một trao đổi những nghĩ suy về thơ và “mần” thơ của chúng tôi:
 
ĐỖ HỒNG NGỌC, THƠ NHƯ MỘT HẠNH PHÚC?
dutule.com  21.11. 2017
 
Du Tử Lê
 
Nhiều độc giả (kể cả một số người có làm thơ), nói với tôi rằng, biết làm thơ và làm được thơ là một hạnh phúc! Tôi nghĩ khác.
Với tôi, trừ những người đến với thi ca như một thời thượng, làm dáng, hoặc, một cuộc du ngoạn ngắn hạn thì; làm thơ là một lao động (tinh thần,) vất vả. Một thao tác trí tuệ ngặt nghèo. Thường khi bất lực. Đuối sức. Với tôi, đó là một cuộc chạy đua việt dã không đích đến. Không bạn đồng hành. Khi đối diện với bài thơ thì, chỉ có mình y, cùng lắm là… chiếc bóng.
Ngoài ra, tôi chưa thấy một cá nhân bình thường, không bị một khuyết tật tinh thần nào, lại ở được bền lâu, với thi ca. Tôi cũng chưa thấy một cá nhân thỏa mãn mọi lãnh vực trong đời thường, có thể tạo được một hôn phối tốt đẹp với thi ca. Tại sao?
Xin thưa, vì căn bản, thi ca là đỉnh ngọn chênh vênh, nhọn, sắc nhất của định mệnh bất toàn.
Vì căn bản, thi ca là cõi trú đầu tiên và, cuối cùng của những tâm hồn bất an.
Những sinh phần liu điu, cần sự cân bằng sinh-thái-tinh-thần…
Hiểu như thế, với tôi, nhà thơ trước nhất, là người thợ đào bới để làm mới những con chữ đã cũ, hoặc hình ảnh, chân dung những mảnh đời đã mất. Khi tìm được những hầm mỏ chữ, nghĩa, những “trầm tích” gặp được ở độ sâu đủ thì, tôi cho, đó là lúc nhà thơ sức thả mình, rớt xuống. Y hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình.) Y hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu), với địch thủ trên cơ: Định mệnh. Y san bằng mọi bất toàn. Y cân bằng sinh-thái-thân-tâm. Nhưng, đau đớn thay, đó cũng là lúc, y thấy tận cùng vẫn là thất bại, hiểu theo nghĩa nào đấy – – Để rồi y lại khởi sự một lên đường khác (?)
Trên hành trình chữ nghĩa, ở đôi ba giao lộ, tôi may mắn được gặp một số bằng hữu. Những thi sĩ. Trong đó, có Đỗ Hồng Ngọc. Thi sĩ.
Tôi không chủ quan nghĩ rằng, Đỗ Hồng Ngọc, sẽ sẵn sàng chia sẻ những quan điểm của tôi về thi ca và, đời sống: Chữ nghĩa và sự bất toàn. Khuyết tật và định mệnh.
Nhưng, là người dõi theo hành trình văn chương của Đỗ Hồng Ngọc, trên dưới sáu mươi năm qua – – Từ những bài thơ đầu đời, tới những bài thơ mới nhất trong thi phẩm “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” (của năm 2017), tôi nghĩ, Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, thi sĩ, không chỉ muốn hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình). Ông cũng không chỉ muốn hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu,) với địch thủ trên cơ, định mệnh. Mà, ông còn muốn trả ơn người, tạ ơn đời bằng chính những lao tác tinh thần, song song với những lao động đời thường, với tư cách một bác sĩ, của ông nữa.
Ở quá xa, tôi không thể tìm đến ông (như ngày nào), để ngả mũ chào ông: Một thi sĩ. Tôi viết xuống, những dòng chữ này, như một lời xin lỗi, thi sĩ.
Hôm nay, giữa thập niên 2010s của một thiên niên kỷ khác, tôi lại thấy tôi sẽ rất không phải với họ Đỗ, nếu không sớm nói với Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc rằng, cá nhân tôi, cũng rất biết ơn ông với những trang văn xuôi đẹp như thơ, ông gửi cho người, cho đời. Thí dụ “Gió heo may đã về”. Thí dụ “Già ơi…Chào bạn”. Thí dụ “Nghĩ từ trái tim”. Thí dụ mới đây: “Ghi chép lang thang”… và nhiều nữa!
Tôi thích lắm tựa đề của tác phẩm của họ Đỗ. Ông gọi đó là những “Ghi chép lang thang”, đúng nghĩa… lang thang – – Nơi trang 287 và 288 của tác phẩm này, khi phải trả lời câu hỏi của độc giả Lê Uyển Văn, tác giả giải thích, ghi chép lang thang, thực ra là những ghi chép không đầu không đuôi, kiểu “cà kê dê ngỗng” trong lúc lang thang nơi này hay nơi khác. Ông chợt nghĩ, chợt nghe, chợt nhớ… một điều gì đó có khi chỉ là mùi khoai nướng, có khi chỉ là mùi dĩa bánh căn, mùi cá khô đuối xúc hột vịt…, thậm chí mùi phân trâu bò trên đường làng cũ, nhưng cũng có khi là một câu nói đanh thép của nhà vua trong bảo tàng viện với hàng trăm chiếc… thuyền thúng giăng ngang bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng một ngày lộng gió…
Cũng trong 2 trang sách vừa kể, với bản chất khiêm cung, luôn chọn vị trí cách xa ánh đèn sân khấu tiền trường, giấu mặt trước những lời khen dù chân thật của đám đông, Đỗ Hồng Ngọc đã viết thêm:
Tác phẩm “Ghi chép lang thang” của ông, không phải là chuyện ‘văn chương chi sự’ mà, chỉ là những ghi chép riêng tư cho đừng quên với người tuổi tác.
Thế rồi thế giới bỗng nhiên phẳng, người người trong nháy mắt có thể tâm tình trao đổi cùng nhau, bèn cùng mò mẫm mà “tung” lên cho bạn bè gần xa khắng khít nhau hơn. Ghi chép lang thang như vậy cũng chỉ là những cảm xúc bất chợt, không tính toán, không… hư cấu. Mà thực ra ‘ghi chép’ cũng chẳng phải là “ghi chép”… Ông nói:
“… Có khi viết lách lăng nhăng dòm trông giống bài thơ mà không biết có phải thơ không, hoặc có khi ngoằn ngoèo như một phác thảo… mà không biết phải họa không”…
Sau này, được đọc nhiều bài biết của bằng hữu về cõi giới văn chương Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy dường như quan điểm của tôi về văn chương của Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, có nhiều phần nghịch với quan điểm của nhiều tác giả khác.
 
Thí dụ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, khi viết về thế giới thi ca Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, trong bài tựa đề “Khói trời phương đông”, đã ghi nhận rằng, Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, từ những bài tùy bút cho đến thơ, họ Đỗ luôn trân trọng với chữ nghĩa. Ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, “lên gân” cho mọi sự vật… Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Bởi vì căn bản ông là một thầy thuốc yêu nghề, có lương tâm.
Ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của họ Đỗ về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới chợt thấy ra…Nó vẫn có đấy nhưng ta không nhìn thấy, không nghĩ ra được nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhấn mạnh rằng, những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hồng Ngọc, chúng được “hóa giải, đã giúp ta từ bỏ thói quen nhìn, nghĩ đời sống quanh ta, một cách hạn hẹp… bất cập –  Để từ đó, ta có được cái nhìn cởi mở, thênh thang, không thiên kiến…”
Tôi cũng không quên mới đây, nhà thơ Phạm Chu Sa đã ghi nhận một cách chi tiết, chân tình về Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng dù các bài viết về cõi-giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được.
 
Nhà thơ Phạm Chu Sa cho rằng, nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ-nhà văn, nhưng Phạm Chu Sa cho biết, ông vẫn thích gọi Đỗ Hồng Ngọc là “thi sĩ hơn là bác sĩ,” bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.
Phạm Chu Sa kể rằng Đỗ Hồng Ngọc làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên – tập “Tình Người” (xuất bản năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là “Thơ Đỗ Nghê” (in năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn thuở đó. Sau này ông trích một số bài trong hai tập thơ trên in lại trong các tập thơ “Giữa Hoàng Hôn Xưa” (1993), “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác” (2010).
Bài thơ làm tựa chính “Thư Cho Bé Sơ Sinh…” Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa thực tập tại bệnh viện Từ Dũ: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…/ Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ… Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người” (Một bài thơ đặc biệt vì dường như chưa nhà thơ nào viết về đề tài này).
(…) Để chấm dứt bài viết của mình, nhà thơ Phạm Chu Sa khẳng định: “Tôi nghĩ sau này người ta có thể quên một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhưng người ta không quên Đỗ Hồng Ngọc thi sĩ.”
Không chỉ Nguyễn Lệ Uyên hay Phạm Chu Sa mà còn nhiều bằng hữu khác, ghi nhận về tiếng thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc như một thành tựu tốt đẹp, dẫn người đọc tới kết luận những người làm thơ, được nhiều người ưa thích, là những người có được cho họ niềm hạnh phúc tinh khiết trong cuộc sống thực tế chấp chới những khổ đau, bất toàn này.
 
Đa số bằng hữu của họ Đỗ cho rằng về hạnh phúc có được từ thơ, của Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi thấy cảm nhận của tôi về những “lao động” thi ca của những người làm thơ có phần không đúng. Ít nhất cũng đối với Đỗ Nghê.
Tôi càng thấy sự “cường điệu hóa” (?) của tôi về hành trình của thi ca của Đỗ Nghê trong quá khứ là những nhận định thiếu cơ sở – tiêu biểu là thi phẩm mới nhất, có tên “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” của ông.
Tôi không muốn nói về những bài thơ ngắn của họ Đỗ, có xu hướng thơ Haiku của Nhật bản: Ngợi ca thiên nhiên hoặc tương tác giữa con người và vũ trụ,… đã hiện diện khá nhiều trong thi phẩm mới nhất của ông.
Người đọc sẽ rất khó tìm thấy những bày tỏ bi quan, hoặc than thở, “vật vã” trong thơ Đỗ Nghê, nhất là với thi phẩm “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” mới ấn hành những ngày cuối năm 2017 này. Ngay cả khi tác giả viết về phần thịt, xương đã mất, như:
 
“Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…”
(Bài “La Ngà 3” – 1990)
 
Hoặc tương quan với kẻ khác:
 
“Khi nhìn nhau xa lạ
Là rất đỗi thân quen
Khi nói năng vô nghĩa
Là thác reo trong hồn.”
(Bài “Không Tên”)
 
“Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh.”
(Bài “Lá”)
 
Hay ảnh hưởng của thiên nhiên, vũ trụ lớn vào vũ trụ nhỏ là cá nhân con người:
 
“Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo”
(Bài “Tuyết” – Boston, 1993)
 
“Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”
(Bài “Thu” – Boston, 1993)
 
 “Nước xanh như ngọc
Sâu đến tận trời
Vốc lên một vốc
Ơi mùa Xuân ơi!”
(Bài “Tuyền Lâm”)
 
Ngay cả khi nhớ tới và viết về đứa con đã mất của mình, một tai họa khủng khiếp, ai cũng tưởng, Đỗ Nghê sẽ không thể vượt qua được. Nhưng, tâm thái của một hành giả: Hiểu thấu sống, chết… cách gì cũng không ra khỏi lẽ vô thường, họ Đỗ đã nhìn sự việc như một bài học tự nhiên đời sống mà thôi:
“Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con
Nỗi mất!”
(Bài “La Ngà 5” – 1990)
 
Hoặc về người mẹ đã qua đời mình, ông vẫn có cái thanh tịnh lạc quan, của một tâm thức không còn trụ, bám vào mất còn:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”
(Bài “Bông Hồng Cho Mẹ” – 2012)
 
Hoặc:
“Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!”
(Trích “Nụ Cười Của Mẹ” – 2014)
 
Tôi cho những phong thái kể trên của Đỗ Nghê là phong thái của một hành giả đã khu trừ được cái tâm nhiễu loạn, nguồn gốc của cái “tôi,” để thong dong dạo chơi giữa vườn đời…
Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi. (Du Tử Lê)
 
Ngày 7.10.2019 Du Tử Lê qua đời tại Mỹ. Không ai đưa anh ra biển, nhưng dẫu sao anh cũng đã trở về quê mẹ.
Tôi đang ở Úc, chỉ kịp viết gởi về bạn mấy câu:
Rồi cũng về thôi du tử ơi
Bao năm lưu lạc xứ con người
Một hôm sực nhớ về quê mẹ
Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…
 
ĐỖ HỒNG NGỌC
(2019).