Friday, September 11, 2026

VIỄN KIẾN MÔI SINH CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA. TỪ “NÓC NHÀ THẾ GIỚI” TỚI THẢM HỌA NEPAL–TÂY TẠNG 2026

NGÔ THẾ VINH 
 
Đức Dalai Lama, hình chụp năm 2012.
Author: Christopher Michel, wiki commons
 
MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG
 
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” 
 
*
Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?
Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.
 
Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái
   
     Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.
Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.
Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreat, sự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ bang / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.
Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.
Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.
Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 
 
Tây Tạng: “Tháp Nước Châu Á”
Cao nguyên Tây Tạng cùng hệ thống Hindu Kush–Himalaya thường được nhìn như một “Tháp Nước Châu Á / Water Tower of Asia.” Đây là vùng băng tuyết lớn nhất bên ngoài hai địa cực, nên cũng thường được gọi là “Cực Thứ Ba / Third Pole.”
 
Từ vùng núi cao này phát nguyên hoặc được nuôi dưỡng bởi băng tuyết nhiều hệ thống sông ngòi.
 
Hình 2: Những con sông lớn Châu Á bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng
 
Bởi vậy, một biến đổi xảy ra ở độ cao 5.000 hay 6.000 mét không nhất thiết kết thúc ở đó. Một phân tử nước tan ra từ băng tuyết Himalaya có thể bắt đầu một hành trình rất dài, qua núi cao, thung lũng, biên giới quốc gia, những hồ chứa và đập thủy điện, rồi cuối cùng trở thành một phần của dòng sông nuôi sống những đồng bằng đông dân cách nơi nó khởi nguồn hàng ngàn cây số.
Đó chính là ý nghĩa sinh thái sâu xa của khái niệm phụ thuộc lẫn nhau / interdependence.
 
Ngày 26 tháng 8 năm 2026: khi cả một sườn núi chuyển động

Thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026 đem lại một minh họa kinh hoàng cho tính mong manh của hệ sinh thái ấy.
Những phân tích ban đầu từ ảnh vệ tinh cho thấy một khối khổng lồ gồm đá, băng và trầm tích từ vùng núi cao đã sụp xuống thung lũng. Theo các nhà khoa học được Reuters tham khảo, phần dưới của một glacier ở độ cao khoảng 5.200 mét đã rơi xuống đáy thung lũng thấp hơn khoảng 1.200 mét, kéo theo một khối lượng rất lớn đá, băng, bùn và nước.
Điều đặc biệt đáng chú ý là tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghĩ tới một trận động đất.
Nhưng Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho rằng tín hiệu ấy có thể chính là năng lượng do khối đá và băng khổng lồ sụp xuống tạo ra, chứ không phải một trận động đất thông thường gây nên vụ sạt lở. Một khi khối vật chất ấy lao xuống, thảm họa không còn giới hạn tại nơi sông băng / glacier bị phá vỡ.
 
Nước, đá, bùn và băng tràn vào hệ thống Bhote Koshi–Trishuli. Có nơi mực nước phía hạ lưu được báo cáo tăng tới khoảng 9 mét chỉ trong vòng 30 phútĐó là tốc độ của một tai biến gần như không cho cộng đồng phía dưới thời gian phản ứng.
Đến ngày 7/9/2026, Reuters ghi nhận ít nhất 1.380 người thiệt mạng và hơn 5.500 người còn mất tích tại Nepal và Tây Tạng; hàng trăm công nhân tại các dự án thủy điện nằm trong số những người chưa tìm thấy.
Nhưng phía sau những con số tử vong ấy còn có một câu hỏi lớn hơn: Điều gì đang xảy ra với Himalaya?
 
Không thể quy mọi thảm họa đơn giản cho biến đổi khí hậu
Ở đây cần một thái độ khoa học thận trọng.
Không thể chỉ vì một thảm họa xảy ra giữa thời đại hâm nóng toàn cầu / global warming mà lập tức kết luận rằng climate change là nguyên nhân duy nhất.
Các nhà địa chất đang tiếp tục nghiên cứu chuỗi diễn biến của tai biến ngày 26/8. Một phân tích cho rằng một vụ sạt lở đá khổng lồ có thể đã cuốn theo sông băng / glacier; nguồn gốc của lượng nước cực lớn trong dòng bùn đá / debris flow vẫn còn những điểm chưa được giải thích hoàn toàn. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng ở độ cao này, sự tan vỡ của tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / permafrost, có thể làm giảm độ ổn định của sườn núi, nhưng việc quy kết một biến cố cụ thể cho khí hậu cần thêm nghiên cứu.
Sự thận trọng ấy rất cần thiết.  Nhưng cũng không thể bỏ qua một bức tranh lớn hơn đã ngày càng rõ.
Các sông băng / glacier Himalaya đang mất băng nhanh chóng. Reuters dẫn dữ liệu Liên Hiệp Quốc cho biết các núi phủ tuyết Nepal đã mất gần một phần ba lượng băng trong hơn ba thập niên, và tốc độ tan sông băng / glacier trong thập niên gần đây nhanh hơn đáng kể so với thập niên trước đó.
Khi nhiệt độ tăng, không chỉ sông băng / glacier thu nhỏ. Tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / Permafrost tan vỡ. Sườn núi mất ổn định. Hồ băng hình thành và lớn dần. Những con đập thiên nhiên bằng băng và trầm tích băng hà / moraine trở nên mong manh. Các trận Mưa lớn có thể tác động lên một địa hình vốn đã bất ổn.
Những nguy cơ trước kia nằm riêng rẽ bắt đầu chồng lên nhau. Và khi chúng hội tụ, một tai biến địa phương có thể trở thành một thảm họa dây chuyền / cascade disaster.
 
Một nghịch lý của phát triển: thủy điện cũng chắn trên đường đi của lũ
 
Thảm họa Nepal còn phơi bày một nghịch lý khác. Các con sông Himalaya có tiềm năng thủy điện khổng lồ. Những quốc gia nghèo miền núi cần điện năng, đường sá và phát triển kinh tế. Nhưng chính các công trình ấy lại thường được xây trong những thung lũng hẹp, nơi dòng nước bị tập trung và cũng chính là hành lang của lũ quét, dòng bùn đá / debris flow và lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood.
Trong thảm họa 2026 vừa qua, nhiều dự án thủy điện bị ảnh hưởng nặng; hàng trăm công nhân mất tích hoặc bị kẹt trong các đường hầm.
Bởi vậy, câu hỏi không thể giản lược thành “phát triển hay không phát triển.” Câu hỏi đúng hơn phải là: Phát triển ở đâu, phát triển tới mức nào, và cái giá sinh thái mà các thế hệ sau phải trả là bao nhiêu?
Đó cũng chính là điều Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra từ cuối thập niên 1980 khi ông không phủ nhận nhu cầu phát triển kinh tế, nhưng nhấn mạnh rằng việc khai thác tài nguyên phải được điều tiết để không phá hủy hệ sinh thái, và phát triển phải mang tính khai thác bền vững.
 
Hình 3: Bahrabise Bazar, Nepal trước và sau trận lũ ngày 26 tháng 8, 2026
do sông băng lở giếtchết hàng ngàn người, với hàng ngàn người khác còn mất tích.
(Ảnh Wikimedia Commons)
 
Những dòng sông không mang sổ thông hành
Đây có lẽ là phần hiện đại nhất trong viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Biên giới quốc gia được con người vẽ trên bản đồ. Đường phân thủy thì do địa hình vẽ.
Một sông băng / glacier không biết mình thuộc Trung Quốc hay Nepal. Một hồ băng không biết phía dưới nó là Tibet, Nepal, India hay Bhutan. Và khi một con đập thiên nhiên vỡ, dòng lũ không dừng lại ở trạm biên phòng để xuất trình sổ thông hành.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng năm 2026 vì vậy không chỉ là một thảm họa của Nepal hay Tây Tạng. Nó một cảnh báo / wake-up call cho toàn vùng Hindu Kush–Himalaya và những quốc gia hạ nguồn.
Ngày nay hàng tỷ con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hệ thống sông bắt nguồn hay được nuôi dưỡng từ vùng cao nguyên này. Trong một thế giới khí hậu đang thay đổi, an ninh nguồn nước cũng trở thành an ninh xuyên biên giới.
 
Và từ Himalaya nhìn xuống Mekong và ĐBSCL 
Đối với Việt Nam, bài học ấy không hề xa vời. Mekong cũng bắt nguồn từ vùng cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc rồi Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam Bốt trước khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long và chảy ra Biển Đông.
Dĩ nhiên, không thể vạch một đường nhân quả trực tiếp từ thảm họa Nepal tới Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai hệ thống địa lý khác nhau, với cơ chế thủy văn khác nhau. Nhưng chúng thuộc cùng một bức tranh sinh thái lớn của châu Á.
Ở thượng nguồn là băng tuyết, khí hậu và những biến động của “Cực Thứ Ba / Third Pole”. Ở trung lưu là những hồ chứa khổng lồ của chuỗi đập thủy điện dòng chính ở Vân Nam Trung Quốc và Lào và sự điều tiết nguồn nước ngày càng lớn do tham vọng của con người. Xa hơn về phía nam là Biển Hồ Tonlé Sap với nhịp đập lũ / flood pulse theo mùa vốn quyết định sức sống của Biển Hồ. Và cuối dòng là Đồng bằng Sông Cửu Long, một đồng bằng thấp đang đồng thời chịu áp lực của thiếu phù sa, sụt lún, xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Tất cả không phải một chuỗi nhân quả đơn giản. Nhưng. tất cả nhắc chúng ta về cùng một nguyên tắc: Không một đoạn sông nào thực sự đứng riêng lẻ một mình.
 
Một lời cảnh báo từ gần bốn thập niên trước
Trong Diễn từ Nobel Hòa Bình năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ  một hành tinh nhỏ bé, nhân loại phải học cách sống hòa bình với nhau và với thiên nhiên. Theo ông, đó “không chỉ là một giấc mơ mà là một điều cần thiết.”
Ngày ấy, lời nói ấy có thể được nghe như tiếng nói của một nhà lãnh đạo tinh thần. Sau những gì đang xảy ra với các sông băng / glacier Himalaya, người ta có thể đọc lại nó như một lời cảnh báo sinh thái.
Và sau ngày 26 tháng 8 năm 2026, câu nói ấy có thêm một hình ảnh cụ thể: một khối núi và sông băng / glacier từ độ cao hơn 5.000 mét sụp xuống, biến thành một dòng thác băng, đá, bùn và nước lao xuyên qua những thung lũng, xóa đi những công trình con người tưởng là kiên cố, để lại phía sau hàng ngàn sinh mạng mất tích.
 
Đó chính là ý nghĩa sâu xa của cụm từ tương thuộc / interdependence, có nghĩa là phụ thuộc lẫn nhau. Con người và thiên nhiên; Thượng nguồn và hạ nguồn; Một quốc gia và những quốc gia láng giềng; và thế hệ hôm nay và những thế hệ chưa ra đời: tất cả đều tương thuộc.
 
Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì thế không phải là lời tiên tri rằng một ngày nào đó Nepal sẽ có một trận đại hồng thủy. Giá trị của nó sâu xa hơn thế: ông đã sớm nhìn thấy rằng sự an toàn của con người trên “Nóc Nhà Thế Giới” và sự toàn vẹn của môi trường thiên nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề sống còn.
Thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026 mới đây đã biến nguyên lý ấy từ một suy tưởng đạo lý thành một thực tại địa-vật lý đầy tang tóc.
Và đối với Việt Nam, chúng ta ở cuối nguồn sông Mekong, khoảng cách hơn 4500 km theo dòng chảy, Cao nguyên Tây Tạng tưởng như một thế giới xa xôi; nhưng băng tuyết tan trên “Nóc Nhà Thế Giới” ấy và số phận của ĐBSCL lại nằm trong cùng một hệ thống thủy văn Mekong. Những gì xảy ra trên “Nóc Nhà Châu Á” không bao giờ chỉ ở lại trên "ngọn đỉnh trời Himalaya” ấy. 
NGÔ THẾ VINH 
California 09.2026

  

Wednesday, September 9, 2026

ĐOẢN THI

V ũ Ho àng Th ư
 
Dragon and Moon Enso. Source: Ebsy.com
 
A ÀO?
 
một nửa đùa
một nửa chơi
một vờn nắng gió
một chờ đợi mưa
một xuân xanh
biết đã vừa
một riêng ngồi lại
ngập thừa ly tan
một sương sa
lệ luống hàng
một nghe thân ngã
những thăng trầm mù
một toan tính
giữa thật hư
một ngồi xuống
bật tiếng cười hư không
02/2013
 
 
B T  V
 
chia hai
bên nớ
bên ni
chia màu cố quận
một ly biệt mù
chia đôi năm tháng
phạm trù
nửa câu
dị ngữ
sóng xua
bạc nhàu
nửa thân thể mỏi
thiết thao
nửa nghe
triều lộng
tiếng chao bọt về
sept. 8, 2026
 
VŨ HOÀNG THƯ 

BỐ CỤC VÀ TĨNH VẬT

Chân Phương
 

Tranh và hoa. Nguồn Internet
 
xuôi ngược kim đồng hồ
tròng mắt đu đưa giữa không gian
 
đóa hoa vô tâm
ấm trà vô cảm
 
tĩnh vật là chiều thu
ánh sáng chuyển sang sắc nhạt
 
tôi nâng bát rượu cạn
 
bố cục này
còn thiếu cặp môi
CP 

Monday, September 7, 2026

TÔ ĐĂNG KHOA- HÀNH TRÌNH TÂM THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN ‘TRÔI GIẠT’

Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Nhà thơ NT Khánh Minh
 
Nếu muốn tóm tắt Trôi Giạt, tôi sẽ nói
“Trôi Giạt” là hành trình một người trở về, sống lại ký ức để tìm nguyên nhân của một cuộc chia lìa, nhưng càng đi sâu vào quá khứ, anh càng nhận ra mình không tìm thấy sự thật mà chỉ nhìn thấy những phiên bản của sự thật do chính ký ức và nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa của mình tạo ra. “Chuyến tàu” không đưa nhân vật đi qua không gian địa lý mà đi xuyên qua những tầng của tâm thức, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai không còn trôi theo một tuyến tính thuận lý. Sau cùng, điều nhân vật nhận ra là sự vô ích và sai lầm về những hình ảnh mà mình vẽ ra về nhân vật Liễu lẫn chính mình. Điều tháo gỡ cho anh là gì?
 
Nhân vật Tôi trong truyện ngắn này không được định vị theo thời gian và không gian rõ ràng, người đọc xác nhận được anh ta đang làm gì, ở đâu, lúc nào bằng những mảnh ghép ký ức trong hành trình lội ngược dòng của tâm thức.
Ngay từ đầu, truyện đã phá vỡ trật tự thời gian hiện thực:
“Ba tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.”
 
Lá thư đến từ tương lai, tấm vé được mua bằng chính thẻ của nhân vật ở vào thời điểm mà nhân vật chưa sống, và điểm đến là một nhà ga tên Trôi Giạt không tồn tại trên bản đồ địa lý.
“Đấy là lúc ba tháng sau khi Liễu bỏ đi.”  Tôi cho là sự thôi thúc một cách quả quyết muốn tìm được một giải thích cho nguyên nhân của chia lìa mà nhân vật bị chìm đắm vào những suy tưởng, những giả thuyết đủ sức lôi anh ra khỏi không gian và thời gian đang sống. Anh không hồi tưởng, anh nhớ một cách sống động, và anh hoàn toàn tin là nó đã xảy ra, anh đã bước lên tàu, đã đi -bằng một tấm vé ảo- chuyến tàu không phải là phương tiện di chuyển đi từ A đến B, nó là phương tiện tâm linh đưa anh vào không gian của ký ức. Nó lần lượt hiện lên, tự diễn tả, tự bôi xóa, và anh hiện ra bên cạnh những tâm thái mà anh cho là phản xạ, người phụ nữ buộc tóc đẩy đến nhớ Liễu, một bài hát dẫn đến hình ảnh một chuyến xe, mùi áo mưa lại toát ra từ Seattle, đôi tình nhân cãi nhau, khả dĩ một chút hiện tại để nối kết anh với chuyện tình của mình. Hình ảnh, ký ức, đan xen chồng lớp như anh tin rằng sẽ có được tia sáng soi rọi những nhận xét giải thích mới mẻ cho những tình huống cũ, Người ta nghĩ rằng anh đang cố khôi phục sự thật mà ký ức có thể quên. Dường như anh đau khổ không chỉ vì Liễu bỏ đi, anh đau khổ vì không chịu được một sự kiện không có lời giải thích hoàn toàn. Mỗi lần nghĩ đến những điều Liễu nói trước khi chia tay, anh đã nghĩ nó theo nhiều kiểu khác nhau của chính anh chứ không phải bản chất thật của lời Liễu nói, điều đó làm anh càng loay hoay trong mớ ký ức mà anh muốn sắp xếp lại, được lựa chọn, cắt nối và diễn giải, tái tạo, thẩm định lại theo chiều hướng mà suy nghĩ anh cho là hợp lý, như thể trong vô thức anh viết lại quá khứ:
 
“Tôi từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn phòng được sửa mỗi đêm...”
Chính vì thế mà anh sống trong ba tháng - “Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích”.
Việc “dựng một Liễu hoàn chỉnh” khiến tôi nghĩ rằng, một điều xảy ra có thể chỉ được hiểu sau đó. Nhưng sau khi đã hiểu, con người lại quay về sửa lại ý nghĩa của cái đã xảy ra trước. Phải nói là anh xâm nhập vào quá khứ bằng nhiều cái tôi, cho nên, Trôi Giạt không chỉ là nỗi bất định của sự kiện chia tay, mà nhân vật trôi giạt trong những phiên bản của mình, giữa các điểm luôn dịch chuyển: hiện tại - ký ức - diễn giải - ký ức được sửa lại- và rồi hiện tại.
Bà cụ xuất hiện là một nhân vật siêu thực, như cái bóng trong hành trình của anh, nhắc nhở, “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.” Nếu muốn tìm một điểm định vị trong câu truyện này là chuyện bất khả, bởi đây không phải là một lộ trình được hoạch định có chủ đích mà là một hành trình tâm thức, dẫn dắt bởi sự kiện chưa tới, đã qua, hoặc đang đã, mong tìm được được một ổn thỏa cho những điều còn mơ hồ, nhất là nhân vật lại là mẫu người “Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân và ý nghĩa.” Và cái bóng kia thương hại: “Khổ. Cái gì cũng phải có nghĩa.”, bà cụ này đồng quan điểm với Camus, cuộc sống vốn dĩ đâu có ý nghĩa nào định sẵn.
Cuối cùng, anh cũng xuống cái ga không có tên trong bản đồ; Trôi Giạt. Đây là bến dừng và cũng là điểm mở đầu của Trôi Giạt-, căn bếp nơi xảy ra cuộc nói chuyện của anh và Liễu. Từ cái nút thắt ở căn bếp đó anh đi tìm cái gút để tháo. Và có được sự bắt đầu cuộc trở về nội tâm. Tôi có nhận xét với kinh nghiệm rằng hầu như người ta ai cũng có một cơ hội để bắt đầu một cuộc nhìn lại mình.
Đoạn tôi thích nhất là nơi phòng chờ của ga. Những nút thắt từ từ buông lỏng theo những bảng chữ “ngày cô ấy bắt đầu rời đi”, “lần cuối cô ấy còn yêu”, “người ở lại”, “người bị bỏ”, “người yêu nhiều hơn”, nó khiến ta được hiểu là những khoảng thời gian mấu chốt của từng giai đoạn, nhưng thật ra, đó là những nhãn tên mà nhân vật đã gắn lên ký ức của mình. “Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu muộn, người mang vết thương.”,
Và câu trả lời trong sự xuất hiện tấm vé của Liễu, cô cũng xuống sân ga ấy, để rồi anh thấm thía một điều mà ngay lúc đầu anh không hoàn toàn tin: “Vậy mà có một chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và tôi hoàn toàn không biết.” Cả Liễu và anh, đều từng khắc khoải và cùng bắt đầu cuộc tìm kiếm mình là ai. Chí ít đây là sợi chỉ mỏng nhất để hai nhân vật gặp gỡ, nhận thức về tâm trạng cô đơn hiện sinh của phận người. Trên cùng một đường ray ấy, anh vỡ ra: “Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần — không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.”
Từ đây, ký ức không còn là những chất vấn, không còn đối tượng người bỏ đi, người mang vết thương. Có những mất mát ta không thể chữa lành bằng cách hiểu cho hết. Đôi khi điều cần buông không phải là người đã rời đi, mà là câu chuyện ta đã dựng lên về họ — và về chính mình.
 
 “Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ chính những mảnh chuyện kia hay không. Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
Cái lạnh người ấy là một thức tỉnh sau cơn hôn trầm của lý lẽ, của giải thích. Phải nói là sống thêm lần nữa quá khứ, xem như là một thử thách, một chiêm nghiệm về chân sự thật, và về cái Tôi đích thực hơn. "Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa." Xuyên qua lăng kính của nhau, chúng biết rõ hơn bóng và hình, và có lẽ ngưởi đang chạm được đến tự do khi hỏi,“nếu bỏ chúng xuống, còn gì?”
 
“Điều kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.”
 
Đoạn văn đầy tính văn chương trong một hành trình gập ghềnh, nó mang nghĩa tích cực của một người tưởng như sự lưu vong trong suy tưởng đã bào mòn mình.
 
Điểm tôi thích nhất là tác giả không cho nhân vật “ngộ” bằng một lời giải thích; anh chỉ ngừng đưa tay giữ hai tấm vé.
 
“Hai tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi đưa tay định giữ.
Rồi thôi.”
 
Ba câu rời. Thời gian và nhân vật lúc này điềm tĩnh. Không hối hả, không bồn chồn, thong thả theo từng dấu chấm xuống hàng. Ngữ điệu, ngữ cảnh “rồi thôi” ở đây cũng đầy Thiền vị.
Chính cái “rồi thôi” ấy có sức nặng hơn rất nhiều chữ tha thứ, hiểu ra hay buông bỏ.
 
Và tôi hiểu, một điều quan trọng nữa: Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần này tôi không mời chúng vào. Và, “có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.”
Phải chăng tác giả muốn nói đến, sự biến chuyển trong sát na khi ý tưởng nói nên Lời? và cả sự giới hạn của Lời? Theo tôi, đây cũng là quan niệm của nhà văn nhà thơ Tô Đăng Khoa khi khởi xướng dòng thơ DạKhai.
 
NTKM
Upland, tháng 8.2029

  

Sunday, September 6, 2026

TÔI LÀM THƠ

nguyễnxuânthiệp
 
Cardinal. Duyên vẽ
 
tôi. áo rực tà dương
đi. trong rừng parkwoods
như đi qua đời. sấm dội
như con chim màu đỏ. vẫn hót
tôi làm thơ
cho bạn bè. cho những người cùng khổ
cho sấm dội. cho đổ vỡ. cho mây xa
tôi làm thơ
và con chim màu đỏ
hót. một mình. dưới trời mưa thưa
NXT 

TRÔI GIẠT

Tô Đăng Khoa
 
Salvador Dali ship with butterflies
 
Ba tháng sau khi Liễu bỏ đi, tôi nhận được một lá thư do chính mình gửi.
 
Tên tôi, địa chỉ nhà tôi, nét chữ cũng là của tôi -cái kiểu chữ nghiêng sang phải, chữ g luôn hở bụng mà Liễu từng bảo trông như một người chạy ra khỏi nhà chưa kịp mang giày. Dấu bưu điện đóng từ một thị trấn ven biển phía Bắc, nơi tôi chưa từng đến. Tôi đã định quẳng nó vào đống thư quảng cáo nếu không nhìn thấy ngày gửi: mười bảy tháng Mười Một, ba tuần nữa mới đến.
 
Tôi mở phong bì bằng con dao Liễu vẫn dùng cắt trái cây. Bên trong không có thư, chỉ một tấm vé tàu một chiều: ghế 17A, khởi hành lúc 4 giờ 20 chiều ngày mười bảy tháng Mười Một. Điểm đến là một ga nhỏ mang cái tên tôi chưa từng nghe: TRÔI GIẠT.
 
Tôi tra bản đồ. Không có thị trấn nào như vậy. Tôi tra hãng tàu. Chuyến tàu có thật, nhưng lịch trình kết thúc ở San Luis Obispo. Khi tôi đọc mã vé cho tổng đài, người phụ nữ ở đầu dây gõ bàn phím một lúc rồi xác nhận vé hợp lệ, đã thanh toán bằng thẻ tín dụng mang tên tôi.
 
“Tôi đã mua vé ngày nào?” tôi hỏi.
“Ngày mười bảy tháng Mười Một.”
“Ý cô là năm ngoái?”
 
Một khoảng im lặng rất nhỏ, rồi cô đáp: “Năm nay.”
Tôi cúp máy. Nếu chuyện này xảy ra trước khi Liễu đi, có lẽ tôi đã chụp tấm vé gửi cho cô. Liễu thích những chuyện hơi lệch khỏi trật tự bình thường: một căn nhà chỉ có cửa mà không có cửa sổ, một người đàn ông nuôi chim nhưng sợ bầu trời, một câu trong sách tình cờ lặp lại đúng câu người ta vừa nghĩ. Cô không tin vào điềm báo. Cô chỉ thích khoảnh khắc sự vật chưa kịp giải thích được chính nó.
 
Tôi thì ngược lại. Tôi kiếm sống bằng cách tìm nguyên nhân và ý nghĩa. Có lẽ vì thế, sau khi Liễu đi, tôi đã mất gần hai tháng để tìm ra nguyên nhân cho sự ra đi của cô.
 
Ngày cuối cùng của chúng tôi không có gì đáng để trở thành ngày cuối cùng.
 
Liễu về nhà lúc sáu giờ hơn, đặt túi xuống chiếc ghế cạnh cửa rồi hỏi còn cơm không. Tôi hâm cá kho. Cô cắt một quả dưa leo. Chúng tôi ăn trong bếp vì bàn ăn đầy giấy tờ của tôi. Giữa bữa, cô nói:
 
“Em thuê được chỗ rồi.”
Tôi đang gỡ xương cá nên phải mất vài giây mới hiểu.
“Chỗ gì?”
“Chỗ ở.”
 
Tôi đặt đũa xuống. Liễu không khóc. Tôi nhớ rất rõ điều đó, bởi nhiều tuần sau tôi đã dùng nó làm bằng chứng rằng cô chuẩn bị chuyện này từ lâu.
“Có ai khác không?”
“Không.”
“Anh đã làm gì sai?”
“Không phải vậy.”
“Vậy là gì?”
 
Liễu nhìn xuống đĩa cơm. Cô lấy đầu đũa đẩy một hạt cơm dính trên vành chén rồi nói một câu mà về sau tôi đã nhớ theo ít nhất năm cách khác nhau. Phiên bản tôi nhớ nhiều nhất là: “Em không còn biết em là ai khi ở cạnh anh.”
Nhưng có đêm tôi nhớ cô nói: “Em không còn biết mình đang ở đâu.” Có lần khác: “Em không biết làm sao ở lại mà không thành một người khác.” Và một buổi sáng, ngay sau khi thức dậy, tôi hoàn toàn chắc chắn câu cô nói chỉ là: “Em mệt rồi.”
Tôi từng nghĩ trí nhớ là một kho chứa. Sau Liễu, tôi bắt đầu nghi nó giống một căn phòng được sửa mỗi đêm, rồi sáng ra người chủ nhà cứ tưởng những bức tường đã đứng ở đó từ đầu. Suốt nhiều tuần tôi quay lại căn bếp ấy trong đầu, xem lại từng ánh mắt, từng câu nói, từng lần Liễu im lâu hơn bình thường. Một sự im lặng trở thành dấu hiệu. Một chuyến công tác trở thành khoảng cách. Một câu “em mệt” trở thành thời điểm cô bắt đầu rời khỏi tôi.
Dần dần, tôi biết chính xác chuyện gì đã xảy ra. Ít nhất tôi tưởng vậy, cho đến một hôm cố nhớ giọng Liễu khi nói câu cuối cùng ấy và phát hiện mình không còn chắc giọng nào là của cô nữa.
Tôi không định đi chuyến tàu, nhưng sáng ngày mười bảy tháng Mười Một, tôi thức dậy lúc năm giờ và việc đầu tiên là nhìn tấm vé trên bàn.
 
Ba tháng qua, căn nhà đã dần mất dấu Liễu. Đầu tiên là bàn chải đánh răng, sau đó quần áo. Chai dầu gội trong phòng tắm hết mùi. Một buổi chiều tôi bước vào phòng khách và nhận ra chiếc ghế cô thường ngồi đã trở lại thành một chiếc ghế. Riêng tấm vé thì càng ngày càng có vẻ thuộc về căn nhà.
Ba giờ chiều, tôi mặc áo khoác. Tôi vẫn tự nói mình chỉ ra ga để hỏi cho rõ. Nhưng khi nhân viên quét mã và cánh cửa toa tàu mở ra, tôi đã bước lên trước khi kịp nghĩ “hỏi cho rõ” thực ra có nghĩa gì.
Ghế 17A cạnh cửa sổ. Ghế bên cạnh có một bà cụ khoảng bảy mươi tuổi, tóc bạc cắt ngắn, đang bóc một quả quýt. Bà nhích túi sang một bên cho tôi ngồi rồi đưa tôi một múi.
“Anh đi tới đâu?”
Tôi suýt nói San Luis Obispo.
“Tôi không chắc.”
Bà nhìn tôi. “Tới đâu mà không chắc?”
“Tấm vé ghi một nơi tôi không tìm thấy trên bản đồ.”
Bà gỡ một sợi trắng khỏi múi quýt. “Vậy thì bản đồ đỡ được một việc.”
Tôi chờ bà cười. Bà không cười.
 
Tàu chạy khỏi thành phố. Nhà kho thấp biến thành khu dân cư, khu dân cư thưa dần thành đồng ruộng. Những đường dây điện kéo dài bên đường ray như cố theo kịp chúng tôi. Tôi nhìn cảnh vật trượt lùi ngoài cửa kính và nghĩ tới Liễu.
Điều ấy đã thành một phản xạ. Một phụ nữ buộc tóc lên làm tôi nhớ buổi Liễu nấu ăn. Một bài hát trong siêu thị đưa tôi về chuyến xe lên Napa. Mùi áo mưa nhựa đưa tôi về một tối ở Seattle. Bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành một đường dẫn về cô. Tôi vẫn gọi đó là nhớ.
 
Bà cụ nhìn tôi một lúc rồi hỏi: “Vợ anh à?”
“Từng là người yêu.”
“Từng là người yêu hay từng là người anh đang nghĩ?”
Tôi quay sang. Bà đã nhìn ra cửa sổ.
 
Sự không tò mò của bà làm tôi khó chịu một cách vô lý. Tôi muốn bà hỏi thêm. Tôi muốn kể Liễu đã đi thế nào, tôi đã ở lại thế nào, có những thứ người ta không thể bỏ ngang như vậy thế nào. Tôi muốn trình bày câu chuyện đủ rõ để một người hoàn toàn xa lạ cũng phải thấy tôi có lý. Nhưng vì bà không hỏi, câu chuyện nằm nguyên trong miệng tôi, và lần đầu tiên tôi nhận ra nó có vị hơi lạ.
 
Khi tàu đến Santa Barbara, bà cụ xuống mua cà phê. Tôi ở lại. Một đôi trẻ phía trước đang cãi nhau rất khẽ. Người con gái quay mặt ra cửa kính. Người con trai cứ lặp lại: “Anh đâu có ý đó.” Tôi chỉ nghe được vài mảnh nhưng gần như lập tức biết câu chuyện: anh ta vô tâm, cô ấy chịu đựng đã lâu, rất có thể có người thứ ba.
 
Tôi đã gần hoàn tất toàn bộ quan hệ của hai người xa lạ thì chợt nhận ra tôi chẳng biết gì về họ. Ngay lúc ấy, một ký ức bật lên.
Một tối cách đây hơn nửa năm, Liễu và tôi ăn ở một quán Thái. Cô gần như không nói, liên tục nhìn điện thoại. Trên đường về, cô im lặng gần hết quãng đường. Sau khi cô bỏ đi, tôi đã quay lại tối ấy hàng chục lần: đó là lúc cô bắt đầu xa tôi; có lẽ đã có ai khác; có lẽ tin nhắn cô chờ hôm đó đã quyết định mọi chuyện.
Tôi nhớ rất rõ cảm giác ấy. Nhưng khi tàu bắt đầu rời Santa Barbara, một chi tiết khác hiện lên, nhỏ đến mức lúc đầu tôi tưởng mình vừa nghĩ ra.
Mẹ Liễu nhập viện hôm đó.
 
Tôi ngồi bật thẳng người. Không phải một phát hiện. Tôi từng biết chuyện ấy. Chính tôi lái xe đưa Liễu tới bệnh viện sáng hôm sau. Vậy mà trong câu chuyện tôi đã kể đi kể lại suốt ba tháng, chi tiết ấy biến mất hoàn toàn. Sự im lặng của Liễu còn lại, chiếc điện thoại còn lại; người mẹ ở đầu kia biến mất.
 
Tôi lấy điện thoại mở những tin nhắn cũ. Càng đọc, tôi càng có cảm giác mình đang xem lại một bộ phim đã bị ai đó cắt dựng. Có những câu không hề mang giọng tôi nhớ. Những ngày tôi cho là lạnh nhạt lại đầy những chuyện rất bình thường: mua sữa, lấy thuốc, nhớ đóng tiền điện.
 
Rồi tôi tìm thấy một tấm ảnh Liễu gửi từ lâu: một dòng sông trong buổi chiều, mây trắng trên trời, bóng mây trên nước. Tôi vẫn nhớ nó như một trong những thứ cuối cùng giữa chúng tôi, nhưng ngày gửi cho thấy nó đến gần một năm trước khi cô đi.
Bên dưới ảnh, Liễu viết: “Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa.”
Tôi đã trả lời bằng một trái tim. Chỉ vậy. Không mật mã, không lời tiên báo.
 
Tôi nhìn bức ảnh rất lâu và lần đầu tiên có cảm giác điều đáng sợ không phải trí nhớ của mình đã phai, mà là nó đã làm việc quá tốt.
 
Khoảng sáu giờ, trời tối hẳn. Tôi mở bản đồ theo dõi hành trình và thấy con tàu vừa đi qua ga cuối theo lịch trình, nhưng nó không dừng.
Tôi gọi một nhân viên.
“Chúng ta đi đâu vậy?”
Anh ta quét tấm vé trong tay tôi.
“Ga của anh còn một chặng.”
“Ga nào?”
“Trôi Giạt.”
 
Tôi nhìn quanh. Không ai có vẻ thấy điều gì bất thường. Một người đàn ông ngủ há miệng. Hai đứa trẻ chơi game. Người phụ nữ phía trước đang dùng khăn giấy lau son môi. Bà cụ đã trở lại từ lúc nào, ly cà phê nằm giữa hai bàn tay.
“Bà cũng xuống ga đó?”
“Không.”
 “Ga sau nó?”
Bà nhìn tôi một lúc. “Trước hay sau tùy anh đi hướng nào.”
 
Tôi bật cười, nhưng tiếng cười nghe không giống của mình. Tôi hỏi bà ga đó là gì, tại sao nó không có trên bản đồ, tại sao tôi nhận được một tấm vé do chính mình mua từ tương lai. Bà nghe hết rồi hỏi:
“Anh làm nghề gì?”
Tôi trả lời bà.
Bà gật đầu. “Khổ.”
“Khổ gì?”
“Cái gì cũng phải có nghĩa.”
Trước khi tôi kịp trả lời, tàu giảm tốc. Ngoài cửa kính không còn nhà cửa, chỉ có một sân ga nhỏ nằm giữa bóng tối.
Tôi là người duy nhất xuống. 
Ga chỉ có một căn phòng chờ, một máy bán nước đã tắt và dãy ghế gỗ quay mặt ra đường ray. Không bảng giờ. Không nhân viên. Tôi quay lại định hỏi khi nào có chuyến về, nhưng đoàn tàu đã bắt đầu chuyển bánh. Qua cửa kính, bà cụ giơ tay; tôi không biết bà chào hay chỉ đang chỉnh rèm. 
 
Trong phòng chờ treo hàng chục bức ảnh đen trắng. Tôi nhận ra căn bếp trước tiên -căn bếp của tôi và Liễu. Trong ảnh, Liễu đứng bên bồn rửa, quay lưng về phía máy ảnh. Tôi đứng ở cửa, khuôn mặt chìm trong bóng tối. Bên dưới là một tấm thẻ nhỏ: NGÀY CÔ ẤY BẮT ĐẦU RỜI ĐI.
Bức kế tiếp là quán Thái: LẦN CUỐI CÔ ẤY CÒN YÊU. 
 
Rồi bệnh viện, bờ biển, phòng ngủ, một chiếc ghế, một hành lang khách sạn. Tôi chưa từng chụp những bức ảnh ấy, nhưng từng cảnh đều thuộc về đời mình. Dưới mỗi bức là một cái tên: DẤU HIỆU ĐẦU TIÊN. NGƯỜI Ở LẠI. NGƯỜI BỊ BỎ. ĐIỀU KHÔNG THỂ THA THỨ. NGƯỜI YÊU NHIỀU HƠN. 
Tôi đứng giữa căn phòng và có cảm giác kỳ lạ rằng mình đang nhìn thấy nội thất bên trong đầu mình. Tôi tháo bức NGÀY CÔ ẤY BẮT ĐẦU RỜI ĐI xuống. Sau nó chỉ là tường trắng. Tôi tháo tiếp LẦN CUỐI CÔ ẤY CÒN YÊU. Vẫn tường trắng.
Đến bức NGƯỜI BỊ BỎ, một vật nhỏ rơi xuống sàn: một tấm vé tàu, cùng chuyến, cùng ghế 17A. Nhưng tên hành khách là LIỄU. Ngày đi: ba tháng trước.
Tôi đọc lại ba lần, rồi một lần nữa. 
 
Trong suốt ba tháng, tôi đã biết Liễu đi đâu, vì sao cô đi, cô nghĩ gì, điều gì trong cô đã thay đổi. Tôi đã dựng một Liễu hoàn chỉnh đến mức không còn chỗ nào trong cô mà tôi không thể giải thích. Vậy mà có một chuyến tàu cô từng đi, một nhà ga cô từng đến, một phần đời cô đã sống qua, và tôi hoàn toàn không biết.
 
Tấm vé run nhẹ trong tay tôi. Lần đầu tiên kể từ ngày cô đi, tôi cảm thấy Liễu ở rất gần — không phải vì tôi hiểu cô hơn, mà vì đột nhiên tôi không hiểu cô nữa.
Bên kia đường ray là một con sông rộng. Tôi ra ngoài ngồi xuống ghế. Trời gần sáng. Một cụm mây nhạt trôi trên mặt nước, chậm đến mức nếu không nhìn lâu, người ta sẽ tưởng nó đứng yên. Tôi nhớ tấm ảnh: “Mây trên trời trôi một lần. Xuống nước trôi thêm lần nữa.”
Tôi từng nghĩ câu ấy đẹp. Bây giờ tôi nhìn cụm mây trên trời và bóng của nó dưới sông, rồi bất giác tự hỏi cái nào mới là thật. Ngay khi câu hỏi xuất hiện, tôi thấy nó làm gì: nó muốn chọn một cái, giữ một cái, rồi gọi cái còn lại là bóng. 
Tôi không trả lời. Rất lâu sau đó, những ký ức về Liễu bắt đầu tự đến, không theo thứ tự, không xin phép.
Liễu im lặng trong xe, và ngay phía sau ký ức ấy câu quen thuộc xuất hiện: Cô ấy đã bắt đầu hết yêu.
Liễu nhìn điện thoại trong quán ăn: Cô ấy đang chờ một người.
Liễu nói: “Em mệt.” Cô ấy muốn rời khỏi tôi.
 
Lần đầu tiên tôi nghe rõ khoảng cách giữa hai thứ: một cái xảy ra, một cái đến sau. Tôi đã sống trong cái đến sau quá lâu đến mức tưởng nó có mặt ngay từ đầu.
Rồi tôi nhận ra một chuyện khác. Trong mỗi câu chuyện về Liễu luôn có một người khác được dựng lên cùng lúc: người ở lại, người bị bỏ, người yêu nhiều hơn, người hiểu muộn, người mang vết thương.
 
Tôi. 
 
Tôi đã tưởng mình đứng ở đầu câu chuyện để chứng kiến mọi thứ xảy ra. Nhưng ngồi bên con sông ấy, lần đầu tiên tôi tự hỏi liệu cái “tôi” mà tôi đã sống cùng suốt ba tháng có phải cũng được ghép lại từ chính những mảnh chuyện kia hay không. 
Câu hỏi làm tôi lạnh người. Nếu bỏ chúng xuống, còn gì?
Tôi nhìn hai bàn tay. Không có câu trả lời. Điều kỳ lạ là sự không có câu trả lời ấy không giống một cái hố. Nó giống căn phòng sau khi người ta vừa chuyển hết đồ đi: vẫn còn sàn, còn cửa sổ, còn ánh sáng đang bò dần lên một bức tường mà trước đây chưa bao giờ được nhìn trọn.
 
Mặt trời lên. Cụm mây đã đi khỏi mặt sông từ lúc nào, tôi không biết.
 
Chuyến tàu đầu tiên đến lúc 6 giờ 12. Tôi bước lên mà không hỏi nó đi đâu. Ghế 17A trống. Bà cụ không còn ở đó. Tôi đặt hai tấm vé lên chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ: một mang tên tôi, một mang tên Liễu. 
 
Khi tàu chạy, điện thoại bắt đầu có sóng. Một tin nhắn hiện lên từ Liễu.
Tôi nhìn tên cô rất lâu mới mở. Không lời, chỉ một tấm ảnh: một dòng sông trong buổi chiều, mây trên trời, bóng mây dưới nước.
Ngay lập tức, tất cả những gì quen thuộc trong tôi thức dậy: “Tại sao cô gửi lúc này? Cô có biết tôi đang ở đâu không? Cô nhớ tôi? Đây có phải một dấu hiệu? Có phải cô cũng—” 
 
Tôi gần như đi hết con đường cũ. 
 
Rồi tàu ôm một khúc quanh. Ánh mặt trời bất ngờ tràn qua cửa kính khiến tôi phải nheo mắt. Khi nhìn lại màn hình, bức ảnh vẫn chỉ là một bức ảnh: mây, nước, bóng mây.
 
Một điều gì đó trong tôi muốn gọi tên khoảnh khắc ấy. Buông bỏ. Hiểu ra. Tha thứ. Có lẽ còn một chữ đẹp hơn nữa nếu tôi chịu khó tìm.
Tôi nhận ra cả đám chữ đang đứng ở cửa. Lần này tôi không mời chúng vào.
Không phải vì không còn gì để nói. Trái lại, có một điều quá thật vừa đi ngang qua, và tôi không muốn làm nó nhỏ đi bằng cách biến nó thành lời.
Hai tấm vé trên bàn rung theo nhịp đường ray. Từ từ, chúng trượt về phía mép.
Tôi đưa tay định giữ.
Rồi thôi.
TÔ ĐĂNG KHOA