Monday, September 27, 2021

THỜI GIAN

Trân Sa
 
Thủ bút Trân Sa. Từ Phan Nguyên
 
Sóng đã xóa
những dấu chân trên bờ biển
con dã tràng
chạy khuất bãi im
bão cát lấp mù
những gì thoáng hiện
sa mạc lặng thinh
nhân chứng không lời
Vườn tuổi nhỏ
trái ổi vàng
chim rỉa khoét
trên đường gió
chim ngậm hạt bay biền biệt
cây ổi già
ngủ mộng trái xanh
Thời gian đi và đi thật nhanh
sợi tóc ai
tiếng thở dài nuối tiếc.
TRÂN SA
 

Sunday, September 26, 2021

SÁCH MỚI

Văn Hc Press
 22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press
 
Trân trọng giới thiệu:

 
CHÀNG NHO SINH DƯỚI GỐC TÙNG
 
thử bút & xuôi dòng
 
L Ữ  K I Ề U
 
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021
 
Tựa:
Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc
 
Bạt:
Nguyên Minh – Cao Kim Quy – Trần Thị Nguyệt Mai
 
Tranh bìa:
Lữ Kiều
 
Thiết kế bìa:
Lê Giang Trần
 
@@@
 
Sách đã có bán trên BARNES & NOBLE:
Giá: US$18.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
 
Chang nho sinh duoi goc tung by Lu Kieu, Paperback | Barnes & Noble® (barnesandnoble.com)
 
Keyword: Chang nho sinh duoi goc tung
 
@@@
 
TỰA
 
TÔI CŨNG TIN NHƯ VẬY…
Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc
 
Hơn bốn mươi năm cầm bút, chàng “nho sinh” kia vẫn chỉ có mỗi một việc để làm, miệt mài, không mệt mỏi, ấy là thử bút. Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà còn ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắt lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, rồi phóng bút… Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả…
 
Thử bút, không phải tùy bút, không phải tản mạn, không phải tạp văn… Nó ùa ra, nó túa ra, có lúc tòe loe, có khi hụt hẫng, những cảm hứng, những ngẫu hứng, những xúc động bất chợt, như không kềm chế được…
 
Bạn tôi, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, con mắt thầy thuốc đắn đo, cái hồn thi sĩ mang mang, trái tim hiền triết đông phương. Tuổi đôi mươi tự vấn văn chương, số phận, ý nghĩa đời người… Rồi “xuôi dòng” với bao bờ bến lạ. Có những phút tưởng thoát ra được. Giằng xé, hoang mang. Cuối cùng vẫn không thoát. Chàng vẫn là kẻ chỉ sống với cảm tính, viết với cảm tính, nếu có nhận ra một điều gì đó như là một khẳng định thì ấy chính là “chỉ có văn nghệ là vượt thoát, là giúp con người tử tế với nhau”. Chàng thổ lộ:
 
Thuở đôi mươi chữ nghĩa đã mê hoặc tôi… cho đến khi hiểu ra, cuộc sống vẫn hồn nhiên trôi đi. (Lãng ca, 1982)
 
… chúng tôi không còn trẻ, quỹ thời gian của đời người đang hồi vét cạn. (Tự tình, 2001)
 
Khi nói về thơ, thứ mê hoặc hơn tất cả những mê hoặc, chàng cũng đã nhận ra của hôm nay và ngày tháng cũ:
Thơ bấy giờ là bài ca mê muội của lòng say đắm, có cái thất thanh của tiếng vỡ thủy tinh nhưng cũng đâu đó đã có cái bồi hồi im lặng của giới hạn.
… những điều tưởng như rất cũ xưa kia, giờ đây đã khác. Đã có sự giả hình, lòng khinh bạc, có cả sự thù hận lẫn trong tình thương yêu…
Những cuộc chia tay, những lần phụ tình, thấy lòng nghèo đi những xúc động cũ. Mới hoảng hốt thương mình đã sống quá xa đường hẹn ước… (Lãng ca, 1982)
 
Chàng không viết “những lần tình phụ” mà viết “những lần phụ tình”. Tôi thích cái cách viết của bạn tôi, khẳng khái, của một tâm hồn hào hoa mà nhân bản. Nhưng điều đắng cay đọng lại trong chúng tôi chính là “thấy lòng nghèo đi những xúc động cũ… hoảng hốt thương mình đã sống quá xa đường hẹn ước.”
 
Bởi đã có một thời chàng hùng hồn như đứng giữa đời mà hét: Con dế mèn có thể hát để mà hát nhưng tôi không thể viết để mà viết. Đó là những phút rời bỏ viễn mơ, thấy con đường trách nhiệm của người trí thức, thấy cần thiết một dấn thân.
 
Phải, nhưng rồi chàng đành thú thật: Đời sống trở nên đầy ắp giằng co. Sự giằng co giữa hai người trong một tấm thân làm ta kiệt quệ!
 
Đó chính là sự giằng xé giữa lý trí và cảm xúc để cuối cùng chỉ còn “chừa lại một sợi khói phù du”. Vâng, chính là sợi khói phù du đó mà ta “ưng tác như thị quán!’.
 
Đọc Lữ Kiều, thấy có những lúc ngọn bút của anh như những nhát dao phẫu thuật, sắc cạnh và chính xác; lại có những lúc như những nhát cọ mơn man, đắm đuối…
 
Tôi thương bạn như thương chính mình, cùng những anh em bạn bè mình một thuở khôn nguôi. Chàng như vùng vẫy giữa trùng vây của ngã nhân chúng sanh thọ giả, để rồi hốt hoảng nhận ra mình đang cheo leo: “Tôi vẫn thường ngồi thâu đêm, suy nghĩ và không suy nghĩ. Thời gian qua đi, tôi chiêm nghiệm được thời gian trên từng phân vuông da thịt, bởi khi người ta già, ta nhạy cảm với cái chết của từng tế bào trong cơ thể, vô hình nhưng có thật”. (Con đường nhan sắc, 1990)
 
Đó là những lúc bạn bè về trong trí nhớ, và đôi mắt nhung ai kia đã từng dòng lệ nhỏ, một chiều cuối năm hun hút nơi đầu hẻm cụt phố phường:
 
                Bạn cũ gọi về trong trí nhớ
                Lá vẫn bay và ta cuối năm
                Đôi mắt nhung đen hàng lệ nhỏ
                Thì thôi lá chọn đất ân cần.
 
Bạn cũ. Đất. Ân cần. Đó là tất cả những gì còn lại trong người đàn ông 60 chiều cuối năm. (Gió Mai, những ngày hoang dại).
 
Đọc Lữ Kiều, thương một thân phận. Cảm được cái chán chường, cái đắng cay lạ lùng không nói hết, không nói được. Tôi rưng rức nhớ hình ảnh buổi chiều, anh ngồi bên tôi ở một quán riêng. Để ánh sáng hắt từ phía sau lưng mình, không như thường lệ, chàng buồn bã nói với tôi về chiếc lá bàng đỏ hun hút cuối hành lang của một phòng thí nghiệm, ở đó, một người bạn chung của chúng tôi là bác sĩ giải phẫu bệnh lý chuyên khoa về ung thư, đã mỉm cười cùng chàng mà ánh mắt vời vợi xa xăm.
 
Với tôi, dẫu thế nào tôi cũng hiểu và thương bạn hơn bao giờ hết: Khi tác phẩm đã hình thành, mây tan, hồn tôi khánh kiệt. Bạn viết. Sự khánh kiệt nào cũng dễ thương, như một buông xả. Bởi buông xả nào mà không khánh kiệt, phải không?
 
Tôi có một thói xấu là mỗi khi soạn chồng sách cũ, giở lại những tờ thư xưa, những tấm ảnh hoen màu lại bần thần rã rượi, bị chìm đắm cuốn hút vào bao nhiêu kỷ niệm lúc nào không hay, quên cả thở chánh niệm! Đọc bản thảo THỬ BÚT của bạn, nhớ lời bạn dặn viết gấp mấy dòng mà đắm và sợ. Như ngọn lửa ngún trong một gốc cây to, chỉ cần thổi vài hơi là đủ bùng cháy. Bùi nhùi đâu mà sẵn sàng đến vậy?
 
Rồi bỗng lóe lên một niềm hy vọng mong manh khi bạn tôi viết:
 
Tìm trong kinh Dịch, bèn đắc ý với một hào dương dưới những hào âm, quẻ Phục đó!
 
Tôi cũng tin vậy.
ĐHN
(8/2006)

  

Friday, September 24, 2021

MÙA TRĂNG KHỔ

Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh
 
Ác điểu trong trăng. Hình Internet
 
1
Em mở mắt ra. Trong đêm tối, nghe có tiếng khua nhè nhẹ bên ngoài. Nhận ra là mẹ em ở đó, em khe khẽ đi ra. Em hỏi:
“Đã khuya quá rồi, sao Mẹ không ngủ?”
Mẹ em nói:
“Mẹ chờ tin Bà Ngoại.”
“Bà Ngoại sao hở Mẹ?”
“Bà ngoại nguy lắm rồi con ạ! Bệnh viện mới báo về.”
“Rồi làm sao hở Mẹ?”
Mẹ lắc đầu:
“Không biết làm sao. Từ lúc Bà Ngoại “cách ly” rồi vào bệnh viện, mình không được gặp.”
 
Em không dám hỏi nữa, yên lặng ngồi bên Mẹ, cùng chờ đợi với Mẹ. Đã hơn bốn tháng ở trong nhà, ý nghĩa hai chữ “cách ly” hầu như ai cũng thấm thía. Rồi từ khi Bà Ngoại được đưa vào bệnh viện, mấy mẹ con chỉ “gặp” Bà qua điện thoại. Có khi Bà Ngoại nói chuyện được, Bà gắng gượng vui vẻ. Bà còn dặn dò việc nhà phải làm cho đàng hoàng. Chẳng là Bà đã quán xuyến hầu hết công việc trong nhà để Ba Mẹ yên tâm đi làm. Tám mươi tuổi, trông Bà còn nhanh nhẹn, sáng suốt lắm. Vậy mà dịch bệnh đã tấn công Bà trước nhất. Ba đi làm ở tỉnh xa, giãn cách, Ba không về nhà được. Mẹ nói thôi để Mẹ lo cho gia đình, Ba hãy khoan về.
 
Hai mẹ con ngồi một lát, Mẹ bảo em vào ngủ. Ngày mai không đi học, cũng như những ngày khác, em không được đến trường. Em lấy đó làm cái cớ để ngồi nán lại với Mẹ. Một lát, em cảm thấy như mình ngủ gật ngủ gà. Nhìn qua, thấy Mẹ em vẫn trao tráo mắt.
 
Rồi thì tiếng chuông điện thoại reo lên, hai mẹ con giật mình. Mẹ nghe điện thoại, và rú lên. Bệnh viện báo Bà Ngoại của em đã không qua khỏi. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Cái cột trụ để  tựa nương của nhà em đã mất!
 
Bà Ngoại đã tám mươi tuổi. Như em đọc trong sách báo, đến tuổi này thì được kể là “thọ” rồi. Nhưng Bà Ngoại mất ở thời này, không “thọ” chút nào, không bình thường chút nào. Không bình thường bởi vì không ai được ở bên Bà, trừ bác sĩ và y tá. Không bình thường bởi vì Mẹ em và em chỉ làm mỗi một việc là chờ đợi. Không có đám tang, không có người đến phúng viếng như em thường thấy các đám tang trong khu xóm nhà em trước đây, hoặc xem trong sách báo, phim ảnh, truyền hình.
 
Rồi đến một hôm, Mẹ em khóc ngất nhận một hũ sành từ một người không quen. Mẹ nói hũ sành đựng tro cốt. Và đó là những gì còn lại của Bà Ngoại em.
 
2
Mẹ dạy em xếp một chiếc lồng đèn bằng giấy bông, loại dùng để gói quà, đặt lên bàn thờ Bà Ngoại. Chiếc lồng đèn bé bằng cái tô, nhưng vẫn có thể thắp một cây nến nhỏ trong ấy. Bà Ngoại trong bức ảnh, nét mặt vui tươi. Bà chụp hình này lúc chưa biết đến tên cái bệnh dịch quái ác mà cả thế giới đang đương đầu. Lúc nào Bà cũng như đang cười. Em nhớ những câu chuyện Bà hay kể, kể hoài không chán. Mà em nghe cũng không chán, nghe đến thuộc lòng. Yêu nhất là câu chuyện Chú Cuội Cây Đa. Bà bảo hãy gọi Chú Cuội, đừng gọi Thằng Cuội, nghe không hay. Trẻ con Việt Nam nào ít nhiều cũng biết câu chuyện này. Em thì mê nhất là lúc Chú Cuội rình thấy cọp mẹ nhai nắm lá đắp vào vết thương cho cọp con, thế là cọp con lành ngay. Chẳng là em muốn lớn lên làm bác sĩ chữa bệnh, hay dược sĩ chế thuốc, nên em chú ý nhiều đến điểm này. Chuyện đời xưa hay quá, hay ở chỗ người ta không sợ bệnh. Hễ bệnh thì có cây đa của Chú Cuội như trong chuyện này. Còn thì có nào là thuốc tiên, nào là ông tiên, bà tiên chữa bệnh cho. Ôi, sao mà em mơ có một thế giới như vậy! Hễ ai sống hiền thì sẽ gặp lành, như một công thức không thay đổi. Còn trong cuộc đời thực, em thấy ai cũng có thể gặp chuyện chẳng lành. Em ngẫm nghĩ hoài, rồi thấy nếu em cứ như vậy, em sẽ lý sự như một bà cụ non. Nhưng không nghĩ không được. Em thương Bà Ngoại của em quá! Bà hiền lành, nhân hậu lắm mà! Sao Bà lại bị biến mất lạ kỳ như vậy? Em thương Mẹ em thờ thẫn suốt ngày, mà em đoán chắc trong lòng Mẹ thì đau điếng.
 
Em biết Trung Thu sắp đến, qua xem lịch hàng ngày. Có một vài chương trình trên ti-vi nhắc đến Tết Trung Thu, nhưng em thấy nhạt nhẽo, gắng gượng quá! “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi.” (1) Ồ không, tụi con nít chúng em không được ra đường! Người lớn như Mẹ thì quá lắm đi mua thức ăn, đi mua thuốc. Em xem tin, thấy người ta cũng làm bánh để bán ăn Tết Trung Thu. Nhưng Mẹ em đã làm một chiếc bánh nướng theo cách của Mẹ, để cúng Bà Ngoại. Em thì muốn thắp đèn cầy thật nhiều, đặt lên bậu cửa sổ để cho Bà Ngoại cũng thấy, cùng vui với hai mẹ con.
 
Khu xóm nhà em vắng vẻ từ mấy tháng nay. Bình thường có khi Bà Ngoại than sao tụi nhỏ nô đùa la lớn làm Bà nhức óc. Bây giờ một tiếng cười cũng không có. Thỉnh thoảng có tiếng xe gắn máy, là do người ta phải đi ra đường khi thật cần thiết, cũng nghe vui vui một chút. Sài Gòn của em đã vắng đi rất nhiều. Mẹ nói người ta ra đi, về quê, vì Sài Gòn dịch bệnh lan tràn. Sài Gòn, nơi đón người đến và tiễn người đi. Không có việc để làm, không có tiền trả tiền nhà trọ, thậm chí bị đói, người ta phải đi thôi! Nói rằng họ bỏ đi cũng rất tội. Đâu ai muốn bỏ Sài Gòn mà đi! Em thấy thương họ. Em thấy thương Sài Gòn của em lắm!
 
3
“Bà Ngoại là một kho chuyện cổ tích, con ạ!”
“Dạ, con nhớ lắm! Chuyện Bà Ngoại kể… không thể quên được.”
“Ừ, Bà Ngoại sống trong thế giới chuyện cổ tích. Bà Ngoại rất đơn thuần. Tới thế hệ của Mẹ, được học hành nhiều hơn, nhìn thế giới rộng mở hơn, ước mơ cũng khác nhiều.”
Mẹ em đem hình của Bà Ngoại ra xem, ngồi lặng yên, nước mắt rưng rưng. Em muốn Mẹ nguôi bớt, nên kiếm chuyện khác để bàn với Mẹ.
“Mẹ mơ ước gì hở Mẹ?”
“Mẹ từng mơ mình được lên mặt trăng, nhưng không phải vì muốn gặp Chú Cuội, Chị Hằng. Mà vì mẹ thấy các vị phi hành gia giỏi quá. Họ thay mặt cho cả thế giới, đến được vùng đất thần tiên trong cổ tích. Họ biến ước mơ thành sự thật. Mẹ thích khoa học, con à!”
Em cảm động quá! Mẹ nói như đang viết văn hay đang giảng bài. Mẹ của em là một nhà giáo ấy mà!
 
Mẹ nói tiếp:
“Khoa học có thể giải thích những gì bí hiểm nhất. Ngay cả với bệnh tật, khoa học cũng làm sáng tỏ nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết. Với cái con virus này cũng vậy…”
Em tưởng mình có thể “dẫn” Mẹ ra xa một chút, nhưng Mẹ đã đưa em về thực tại.
“Vậy tại sao con người giống như đang chịu thua con virus này hở Mẹ?”
 
Mẹ lắc đầu:
“Con người không chịu thua. Con người hiểu rất nhiều về nó, đang chống lại nó. Nhưng nó đang biến chủng. Con người cứ bị nó dẫn trước trong cuộc chạy này.”
“Nếu nước mình có vaccine sớm thì nhiều người đâu có chết ha Mẹ!”
“Phải, và Bà Ngoại đâu có chết. Bà Ngoại còn sống với mình nhiều năm nữa, đến cả trăm tuổi…”
“Vậy còn có những nước có vaccine sớm nhưng vẫn chưa diệt nổi dịch bệnh thì sao hở Mẹ, như nước Mỹ?”
Mẹ thở dài:
“Có những nơi dư thừa vaccine nhưng có những người quay lưng, không muốn chích, vì hoài nghi, vì không tin vào khoa học, con ạ!”
Em nghe khó chịu trong mắt. Hình như có một nỗi tức giận đang ùa đến.
Tới lượt Mẹ dẫn em đi qua chuyện khác. Mẹ cùng em mở máy computer xem lại những bước chân của các vị phi hành gia đặt lên mặt trăng lần đầu tiên, năm 1969. Chuyến bay của phi thuyền Apollo 11 lừng danh. Em hào hứng hỏi Mẹ từng chi tiết. Mẹ quên buồn, kể em nghe về những phút giây cảm động, mọi người ngồi dán mắt lên màn hình ti-vi, say sưa như thể mình đang được sống trên quê hương của Chú Cuội, Chị Hằng.
 
4
“Trên một ngàn năm trăm học sinh phổ thông rơi vào cảnh mồ côi do cha mẹ mất vì dịch COVID-19, chỉ riêng ở Sài Gòn.”
 
Đọc bản tin, em lạnh cả người. Em nghĩ con số này sẽ còn tăng lên nữa, khi mà dịch bệnh chưa bị đánh bại. Tự nhiên em muốn cầu xin các đấng thiêng liêng cứu vớt con người. Tuổi nhỏ của em không mộng mơ như Mẹ ngày trước. Em không mơ lên mặt trăng. Em chỉ mơ, ngay bây giờ đây, có được một bầu không khí trong lành để thở, có được lớp học với đông đủ thầy cô, bạn bè, dạy và học với nhau trong không gian thực, không qua ipad, cell phone; hay phải giam mình lặng lẽ nhớ lớp, nhớ trường vì không có phương tiện. Em chỉ mơ khu xóm nhà em rộn vui tiếng trẻ con nô đùa, tiếng xe chạy qua lại rộn ràng. Em chỉ mơ thành phố bừng lên sau giấc ngủ dài, người người hớn hở mua bán xôn xao.
 
Em nhìn lên trăng qua khung cửa sổ. Đêm nay trăng đã tròn. Trăng chiếu vào nơi Bà Ngoại ngồi. Em thấy nhớ Bà Ngoại quá! Chú Cuội, Chị Hằng đi vắng rồi! Chỉ còn vầng trăng trải một màu thương nhớ.
 
Bỗng em nghe tiếng Mẹ thì thầm. Em lắng nghe. Mẹ ở trong phòng. Mẹ đang nói chuyện điện thoại với Ba. Tiếng của Mẹ nghe khác lạ.
 
“Có gì thì anh về nhé!”
 
Không nghe Ba nói gì bên kia đường dây. Em nghe Mẹ nói tiếp:
 
“Chỉ là xét nghiệm dương tính thôi. Em sẽ cố gắng tự cách ly. Con mình cũng hiểu biết lắm, anh đừng lo nhiều. Em đã có một mũi vaccine trong người. Mình sẽ vượt qua.”

CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH
Mùa Trung Thu 2021
 
(1): Rước Đèn Tháng Tám, tác giả: Nhạc sĩ Vân Thanh (Đức Quỳnh)

Thursday, September 23, 2021

TRANG VIẾT*

Trần Hoài Thư
 
Tranh trên giấy báo. Thân Trọng Minh

Họa sĩ Đinh Cường, thường vẽ và làm thơ trên những tờ napkin, không phải vì ông lập dị, khác đời hoặc vì ông có thói quen, nhưng vì, napkin là một chiếc phao đến vào lúc ông cần để diễn dạt. Mà những ý thơ hay những  xúc động thường xảy đến khi ta gặp bạn bè, hay khi cô đơn bên ly cà phê trong một quán ăn hay một tiệm cà phê chẳng hạn. Khi ấy, đâu có computer để đánh vào keyboard, đâu có giấy croquis để phác họa chân dung một người bạn. Chỉ có những tờ napkin có sẵn trên bàn. Nói nôm na là những tờ giấy lau chén, lau muỗng, đũa, hay chùi miệng. Chúng mới là cưu tinh. Chúng xuất hiện đúng lúc, như một ân nhân, vì nếu không, ý thơ sẽ bay mất, hay nét vẽ kia cũng sẽ vô vọng, lúc người họa sĩ đã tìm thấy một nỗi xúc động trước người bạn của mình.
May mắn cho  đời là có người biết giá trị của tờ napkin mà xem như báu vật. Người ấy đã giữ hộ cho người nghệ sĩ.
Hôm nay, qua Email,  họa sĩ Thân Trọng Minh đã kèm 4 bức tranh của anh, trong đó có hai bức trên trang báo in.  Thời đại dich cách ly, cấm đoán... làm gì bạn ta có được tự do ra tiệm mua khung canvas, sơn dầu, bột màu... nhưng hai búc tranh ấy đã làm tôi xúc dộng, Trên trang báo chữ lem luốc mà người đời xem xong là vất bỏ, một công trình nghệ thuật đã mọc lên, kết hoa, kết trái. Backgound là mây xám. là những tín hiệu ghi băng một bản tin liên quan đến đại dịch, làm nội bật  những con cá trên khay. Màu không nóng, sáng mà trái lại là màu rất lạnh. Mùa đại dịch cái gì cũng buồn, cũng u ám, làm sao mà vui đươc.
 
Napkin, trang báo hai vật thể vô giá trị, nhưng có khi là cần thiết. Như những máy in thổ tả của Thư Ấn Quán chúng tôi. Vậy mà đã giúp TQBT sống đến năm thứ hai mươi rồi đó.
THT
 
*Nguồn: Đọc thấy trên email
 
 

Wednesday, September 22, 2021

THƠ QUA MÙA U KHỐC

nguyễnxuânthiệp
THĂM VƯỜN. MÙA DCH
 
buổi trưa
mùa dịch
nàng đeo khẩu trang
đi thăm vườn. nắng
thăm cây magnolia. bông tím
có thấy bóng tôi. đứng tựa góc tường
cười. khóc
 
 
ANH S SNG LI. EM S SNG LI
 
Above all the peaks is calm
In all the treetops you feel
Barely a whiff;
The birds are silent
Birds are silent in the woods
Just you wait, soon
You rest too.
 
trên mọi đỉnh cao là im lặng
trên các chòm cây chỉ còn
một thoáng hương
chim đã ngừng hót
chim trong rừng. ngưng hót
và bạn chờ
bạn chờ. chẳng bao lâu nữa
rồi mình cũng yên nghỉ. bạn ơi
 
đây là ca khúc
wanderer’s night song
từ bài thơ của thi hào goethe
anh vừa nghe
khi đến thăm ngôi nhà goethe’s cabin
trở về. vui mừng nhìn thấy
hoa hải đào. nở. khắp nơi
đỏ. hồng. xanh. tím
con sóc. dỡn nắng. dưới gốc sồi
và chim bay lượn
chúng ta vừa tái sinh
rinascerò. rinascerai
 
 
NHƯ T BC TRANH SIÊU THC
 
như từ bức tranh siêu thực
chúng ta sẽ sống lại
anh sẽ sống lại
em sẽ sống lại
sau cơn bão. mọi người sẽ sống lại. cùng ngắm sao trời
hoa sẽ nở trong vườn. cho bàn tay cô bé emily hái
và những con chim én. sẽ quay về làm tổ. dưới mái nhà thờ. xưa
phố xá mở cửa chào đón người
anh sẽ đưa em vào quán rượu. có một chút paris
như thanh tâm tuyền
và những nhà thơ của chúng ta
những nhạc sĩ
sẽ hát lại khúc ca bên bờ sông danube
hay come back to sorrento
những bạn bè sẽ gọi tên nhau. cho đỡ nhớ
bên ly cà phê sáng
hay tách trà giữa khuya
và anh sẽ hôn em
dưới bóng cây mộc lan ngày nào
tất cả sẽ tái sinh
như từ bức tranh siêu thực…
 
*Cảm xúc sau khi nghe ca khúc ‘rinascerò, rinascerai’
của Roby Facchinetti hát cho thành phố Bergamo của Ý
vừa qua cơn dịch Covid 19.
 
MƠ ƯỚC
 
trong cơn khổ nạn. của đất trời
đôi khi
anh mơ thấy mình là cậu bé
đầu húi cua. như ngày nào
cầm cái tu huýt
thổi toe toe
đi báo tin vui. tới mọi nhà
hay anh là cái chong chóng
quay quay
trong gió trời
hoặc giả. anh là chiếc lồng đèn
soi sáng tuổi thơ. ôi thời vui. của cổ tích
và nghĩ tới em
anh cũng muốn mình là
một bông hoa bưởi
đem cài trên mái tóc em. như ngày nào. trong thơ anh
và rồi đời hết lo. hết khổ
như thuở anh và em
nắm tay nhau
đi trên phố xá
của người
 
tháng 3. 2020
 
 
ĐÊM. TRONG NGÔI NHÀ G
 
đêm. trong ngôi nhà gỗ
màu tóc
những chiếc lá bàng
cánh cổng. mùa cổ thi
với tiếng hát camille huyền
lại hiện về. trong trí nhớ tôi
trong thơ tôi
 
ôi. đã về đâu
những chia ly. dài bao nhiêu năm
cánh cửa thời gian khép mở. âm. dương
xin cho tôi về lại
như kẻ lãng du. về lại
nơi từ đó tôi đi
tuổi thơ
làm chú sa di đuổi quạ*
chiều
cổ tích. trăng lên
 
*mượn từ của Vĩnh Hảo trong truyện ngắn Nghề Đuổi Quạ
 
 
CHIU. VN SIÊU THC. CHIU
 
em có nghe
này em có nghe
vẫn tiếng còi tàu
buổi chiều
âm vang qua khu rừng. natick
những cánh dã quỳ tứa máu. run rẩy
không ai về lại quán cà phê xưa
nơi khung cửa
con bướm monarch. nhìn thấy trong giấc mơ nào
đang vỗ cánh
gây ra những chấn động. màu hổ hoàng
trên phế tích. mùa qua
anh thấy mình ngồi
đốt lại đống lửa
lá thông khô
những khuôn mặt bạn bè. chợt hiện
đinh cường. lê uyên phương. phùng văn hưởng
thanh sâm
và tiếng ai
gọi mình trong gió
thiệp ơi. thiệp ơi
về đi
 
chiều. vẫn siêu thực. chiều
 
 
Đã qua. Đã Đi qua
 
Buổi sáng
đồi cổ thi
con sơn ca. hót
đã qua. đã đi qua
gate. paragate. para sam gate
đã qua bên kia rồi
cây sầu đông
bờ dậu
mái tranh nghèo
cậu bé. với củ khoai lang nướng
con bé sún răng. cười
đã qua. đã đi qua
ngôi trường. phượng đỏ
thành phố. tiếng hát của người ca sỹ. dòng sông xanh
đã qua
cuộc chiến. mặt trăng. trên khu rừng cháy
trại tù. lau trắng
ôi. biển xa
đâu. cây cầu. bắc ngang thế kỷ
thành phố. bông hoa iris. tím than
đã qua. đã đi qua
bầy quỷ đỏ. những chiếc xe chở xác
đã qua
đã qua rồi
còn lại chiếc hài cỏ
cây gậy. trời. và. tiếng chim
NXT
 
Tranh của Ni Sư Hạnh Đạt
 
 

Sunday, September 19, 2021

TÌM NHAU TRÊN TRANG SÁCH

nguyễnxuânthiệp
 


Sách của Nguyễn Trung Dũng và Nguyễn Mạnh Trinh
 
Nguyễn có hai người bạn vừa ra đi: nhà văn Nguyễn Trung Dũng và nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh. Hai bạn ơi, bây giờ nhớ nhau chỉ còn biết tìm trên những trang sách.
 
Nguyễn Trung Dũng là bạn lâu năm, quen nhau từ trong trại tù Thanh Chương. Hồi đó, năm 1979, mình và Tô Thùy Yên cùng nhiều anh em khác được đưa bằng xe molotova từ Bắc Thái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, nơi đã có một số tù cải tạo ở từ trước. Những ngày đầu ở trại xây bằng đá núi này, cứ khi chiều xuống là vang tiếng chày giã bắp khiến nghĩ đến tiếng chày chiều trên thành Bạch Đế trong bài Thu Hứng của Đỗ Phủ. Số là có những anh em đã rụng gần hết răng phải dùng chày đâm bắp cho nhuyễn với tí muồi hột mới nuốt trôi. Ở trại Thanh Chương thời gian đầu ngày nào mình cũng thấy một anh chàng chân đi cà nhắc cầm chổi quét sân. Hỏi ra mới biết đó là nhà văn Nguyện Trung Dũng từng có tác phẩm xuất bản. Và rồi mình với Nguyễn Trung Dũng quen nhau. Trong trại Thanh Chương thời ấy (tôi gọi là Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ) còn có một số nhà thơ, nhạc sĩ nữa: Hà Thượng Nhân, Tô Thùy Yên, Vũ Đức Nghiêm, Chu A Hạnh, Xuân Bích… Anh em kết hợp lại với nhau thành một nhóm, có thêm tay chơi đàn guitar và giọng hát giọng ngâm thơ, kể chuyện… thường tụ lại lúc chiều xuống, ngồi quanh nồi trà, chuyện trò ca hát và đọc thơ cho nhau nghe (phải canh chừng cán bộ đi tuần). Trà thì do Chu A Hạnh hái nhét trong quần áo mang về và Dũng Nhà Bếp lãnh việc sao sấy khô cho anh em nấu uống. Những buổi uống trà này gợi nhiều cảm xúc và mình đã viết bài Trà Oán, sau này được Nguyễn Trung Dũng viết kể lại trong truyện ngắn Khách Viếng Chùa Dưới Trăng Đọc Trà Oán. Thời gian đó, Hà Thượng Nhân viết bài Chiều Long Giao, Tô Thùy Yên viết Tàu Đêm và Mùa Hạn. Nguyễn có Thảo Nguyên, Ánh Trăng, Mưa Ở Đây Như MƯa Ở Quê Nhà, Chiều Bên Sông Giăng,,, được anh em chuyền tay nhau đọc.
 
Thời gian rồi trôi qua… Những tháng ngày ở Thanh Chương gian khổ nhọc nhằn nhưng anh em có nhau bên chén trà, câu ca, bài thơ… nên cũng được an ủi. Tới năm 1980 thì chuyển trại. Anh em lại được xe molotova chở ra Ngã Ba Đồng Lộc đưa tới ga xe lửa xuôi Nam. Đêm ngủ trên những vồng khoai lang ở Đền Cuông, Nghệ An. Sáng sớm hôm sau lên tàu, hai người chung một còng. Khi tàu ngừng ở những ga xép dọc đường, đồng bào buôn bán hai bên vẫy tay nước mắt lưng tròng. Những củ khoai, khúc sắn, gói xôi… được quẳng lên tàu cho anh em. Ôi tình nghĩa ngày xưa vẫn mặn nồng.
Xe lửa ngừng ở Ga Hàm Tân. Anh em được đưa về trại Z30C. Tại đây mình lại gặp Tô Thùy Yên, Hà Thượng Nhân và cả Nguyễn Trung Dũng. Tình cờ mình ở chung lán với Dũng. Hai người nằm cạnh nhau, lại có dịp chuyện trò, đọc thơ… Chiều xuống, mình nấu một gô (lon guigoz) trà mang vào lán hai người cùng uống. Và Nguyễn đọc thơ mình cho Dũng nghe. Trong đêm thao thức vì trà vì thơ, nằm một mình Nguyễn lại nghiền ngẫm Ánh Trăng, Thảo Nguyên, Chiều Bên Sông Giăng… Nhờ vậy mà còn nhớ để sau này về chép lại.
 
Và rồi Nguyễn và Dũng ra trại cùng ngày. Đó là vào năm 1982. Dũng về nhà ở Ngã Tư Bảy Hiền còn mình về Thanh Đa. Về Sài Gòn, hai người lại gặp nhau. Ở trên lầu nhà Dũng dưới cây bông sứ nở hoa. Hoặc nơi một góc quán bia nào đó có cả Dương Nghiễm Mậu bạn chung của hai người. Có khi ở nhà Hà Thượng Nhân trước Nhà Thờ Ba Chuông. Một hai khi ngồi với nhau bên ly cà phê phin dưới bóng cây ngọc lan ở quán cà phê đằng sau rạp Cao Đồng Hưng nơi Thanh Tâm Tuyền thường ngồi. Một nơi nữa còn in trong trí nhớ mình là ở thềm ga xe lửa cũ, trên đường Lê Lai. Vào những buổi chiều bơ vơ mình thường hẹn Dũng tới đây. Thềm ga này vào những ngày ấy thường bày ra những cảnh đời xơ xác, âm dương chập choạng. Một hai người làm nghề tẩm quất. Anh chàng nhà thơ lỡ vận bán quần áo cũ kèm theo ít cuốn sách xưa. Đặc biệt nơi đây có một cô từ đâu ngoài Bắc vào ngồi bán trà bụi và thuốc lào. Nguyễn và Dũng, đôi khi có thêm Nguyễn Minh Diễm bạn xưa, tới đây là tới với cô bán trà này. Một chén trà đậm một bi thuốc lào cũng đủ ngất say quên đi thực tại chung quanh.
 
Và rồi qua Mỹ, Dũng trước mình sau. Lại gặp nhau ở San Jose trong căn apartment của Dũng hay tại nhà ông Hà, nhà Hải Phương. Bên chén rượu, ly trà, tách cà phê lưu xứ. Dũng làm nghề đi phát flyers, nhân thể phát giùm báo cho bạn bè. Và viết truyện, ra sách. Như một cái nợ phải trả cho đời. Rồi vợ mình ra đi, vợ Dũng cũng ra đi. Những năm sau này Dũng lâm trọng bệnh, còn mình do không còn khỏe như xưa và thân đơn mà đường sá lại xa xôi nên không tới được San Jose như ngày nào để gặp bạn bè.
Rồi bạn văn lần lượt ra đi: Hà Thượng Nhân, Nguyễn Xuân Hoàng, Vũ Đức Nghiêm, Hoàng Ngọc BIên… Năm rồi lại được tin Nguyễn Trung Dũng bị ung thư, bác sĩ cho về chờ ngày. Mình gọi điện cho Dũng và được biết Dũng yếu lắm rồi nhưng còn cố gắng hoàn thành tác phẩm dở dang. Và sau đó, cuối tháng 12, Dũng gởi sách tặng mình. Rồi bỗng một hôm cách nay hai ba tháng, Huy Phương gọi điện báo cho biết Nguyễn Trung Dũng đã chết. Lòng mình đau quặn thắt. Đi rồi sao ông Dũng. Còn đâu sách vở gió bụi một thời. Tôi muốn khóc mà nước mắt nghẹn. Thôi thì đành an ủi: Bạn hãy cứ như con dế trong bài văn thuở nào bay vào ánh trăng miên viễn.
 
Still-life-with-flowers-and-books
Karl-Isakson-Oil-Painting
 
Với Nguyễn Mạnh Trinh, tình bạn cũng đã nhiều năm nhưng không nhớ là bắt đầu quen nhau ở đâu, tại tòa soạn báo Văn Học nhà Nguyễn Mộng Giác hay ở quán cà phê Factory nơi anh em thường gặp. Qua chuyện trò và thơ văn hai người hiểu nhau. Mình biết thời chiến tranh Nguyễn Mạnh Trinh ở trong không quân trú đóng tại thành phố Pleiku. Điều này càng khiến mình thêm thân thiết với bạn. Tiếc rằng thời đó mình và Nguyễn Mạnh Trinh không được hội ngộ cùng nhau bên tách cà phê để có thêm kỷ niệm. Sau này khi đã ở Mỹ đọc bài thơ Pleiku, Tháng Ba 1974 của mình, Nguyễn Mạnh Trinh đã viết những dòng tinh tế và cảm động:
   “Chiến tranh lại rõ nét hơn với nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Bài “Pleiku, tháng ba 1974”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn còn sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật ký ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quãng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy, là ngày thành phố cao nguyên quặn mình rồi gục ngã.
   “Người thi sĩ kể chuyện một mình. Đâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.
“cầm bút viết, tháng ba rực cháy / hàng dầu cao trong bình minh / cơn sốt của trái chín và cánh đồng / trận gió hung trưa ngày ấy / cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng / tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây màu tàn lửa / tiếng thét hư không. Chiều rượt qua ngàn…”
     Tháng 3 năm 1974, báo hiệu thời điểm cao nguyên di tản và là một nỗi kinh hoàng còn ám ảnh mãi đến bây giờ. Nguyễn Mạnh Trinh viết tiếp:
      “Nhà thơ hình như đã mang cả tâm tình của một người yêu Peiku vào thơ qua những hình ảnh thật là đặc biệt.
     Những hình ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Đồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như chìm đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn bão lửa dậy lên từ hoang vu:
“tháng ba, chân trời chớp tía / những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến / rào qua mái nhà, bàng hoàng. mưa ngưng bặt / đêm. những căn nhà gỗ sáng đèn / Tháng ba. trên đồi vông nở / tôi trở về thị trấn tháng ba / những sợi dây trời cắt đau trí nhớ / Cườm tay em. rỏ máu. hè xưa…”
     Thơ như của lời chia biệt, như người đánh mất tất cả. Pleiku cũng như cả nước phải khoác khăn tang. Nhà Thơ Nguyễn Xuân Thiệp như đã viết lời trăn trối của một thành phố miền cao đầy lãng mạn dễ thương. Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mắt. Thảm họa sụp xuống, như cơn hồng thủy đến.
“… vò nát chiếc khăn và đừng khóc / chiều nay. chớp bể mưa nguồn / chia tay nhau. sương phụ / người đi. râu bám bụi đường / tháng ba. em. những căn nhà gỗ / ánh đèn khuya. vệt máu hè xưa / đừng tiếc. chiếc khăn tay ngày ấy / sẽ bay trong lửa hoàng hôn / tháng ba. cơn giông rền mặt đất.”
     Đọc xong bài thơ, tôi như ngươì hụt hơi. Đời sống, như một hơi khói nhẹ, loãng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy lòng mình chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đã xa. Ngày còn trẻ. Và hoa quỳ vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có còn vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối ký ức…”
 
Như ta vừa thấy. Bài viết đẫm chất thơ. Điều này dễ hiểu, Nguyễn Mạnh Trinh vốn là nhà thơ. Nhà báo Mặc Lâm cũng ghi nhận: Trong bốn thập niên, Nguyễn Mạnh Trinh ban đầu xuất hiện trong giới văn chương là một nhà thơ, dần dần ông chuyển sang biên khảo và trở thành một trong những nhà bình luận văn thơ viết khỏe nhất tại hải ngoại…
Như vậy, Nguyễn Mạnh Trinh khởi đầu là người làm thơ. Từ yêu mến thơ văn, Trinh bước vào con đường viết về văn học. Nguyễn rất yêu thích những bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh. Và nghĩ rằng sau này sẽ còn nhiều người tìm đọc.
 
Trở lại tình bạn của Nguyễn và Nguyễn Mạnh Trinh. Tình bạn đó được đánh dấu bằng những lần gặp gỡ trò chuyện ở đâu đó trong những tháng ngày qua. Và nó được ghi bằng mấy bài Nguyễn Mạnh Trinh viết về thơ và tùy bút của mình. Nó vẫn còn trong video clip ghi cuộc nói chuyện giữa mình với Nguyễn Mạnh Trinh và cô Nhã Lan trên Radio Little Sài Gòn năm nào. Bây giờ nhớ lại không khỏi lấy làm tiếc là mối giao tình sao không có thêm những lần hội ngộ. Còn nhớ cách đây vài năm khi qua chơi Cali mình có gọi cho Nguyễn Mạnh Trinh hẹn gặp ở cà phê Factory nhưng rồi không thực hiện được.
 
Một buổi chiều chớm thu, ngồi tưởng nhớ bạn lòng vẫn thấy xót xa. Cái tin Nguyễn Mạnh Trinh qua đời khiến mình bị shocked cũng như Kiều Chinh, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bá Trạc, Đỗ Kh… Không ngờ bạn sớm bỏ cõi thơ văn đi về nơi mây trắng. Thôi hãy yên nghỉ nghe Trinh.
Tháng 9. 2021
NXT