Friday, April 10, 2026

50 NĂM SAU...

Vũ Hoàng Thư
tản mạn
 
 

Chim hồng hạc bay qua bầu trời
 
“Như chim hồng, chim hạc. Dù lưu lạc mười phương, chúng ta vẫn bay mãi trên vùng trời quê hương. Đuôi xòe đóa sen, lưng chở núi, lòng ôm mặt trời, đôi mắt trừng trừng nhìn hư không xanh, và đôi cánh lộng làm rơi rụng nghìn dặm cách chia.”
(Logo tạp chí Quê Mẹ, Paris)
 
     Nếu có thể nào thu tóm lại một đám mây, thứ hơi nước mang hâm hấp nhiệt độ, một ân tình của biển bốc hơi nơi xa xăm? Tôi sẽ cất giữ lại dù biết rằng đó chỉ là ảo tưởng hư hao. Mây sẽ trắng bay, điểm cho trời xanh bật dậy hẳn lên, hay mây sẽ vươn trong buổi cuối chân ngày làm ráng cam óng đỏ. Mây cũng có thể cuồn cuộn đen màu ly biệt ngậm ngùi. Mây rất có thể làm nhiều điều. Và mây sẽ bay mãi trong bầu trời lữ thứ. Có một chốn về chăng? Không, đời vô định vì bản thể của mây vốn là hơi. Vì thân thế ấy sẽ ngưng đọng thành mưa khi thời tiết, điều kiện cho phép. Còn nếu không? Mây sẽ lang thang mãi không định hướng. Như một định mệnh.
 
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh.
 
Sau khi nghe tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng trên đài phát thanh Saigon, đơn vị tôi rã ngũ, chưa biết phải đi đâu nhưng chắc phải ra khơi, chẳng còn lựa chọn nào khác.
 
Thương thuyền Challenger neo ngoài xa trong vịnh Phú Quốc, không hẹn mà như điểm đến. Suốt mấy đêm qua, tàu nhỏ đã di chuyển hàng ngàn người ra tàu Challenger. Thì ra vậy, mọi sự việc đã được an bài, mọi kế hoạch đã được tính toán. Những mắt xích của guồng máy sẽ được tháo gỡ và vứt bỏ khi chúng không còn cần thiết nữa. 
 
Những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ gác ở cầu thang tàu Challenger chỉ cho đàn bà và con nít lên tàu, theo truyền thống lady first của Mỹ. Ph. và gia đình đã được lên trước, tôi là người cuối cùng may mắn thoát được lên tàu trong một khắc giây định mệnh.  Vừa bước lên boong tàu, tôi liền nghe tiếng khóc dội vang theo tiếng sóng rầm rì đập vào mạn tàu. Thì ra tàu đã nhổ neo rời đi. Gia đình chia cắt, người lên được, kẻ thân yêu còn kẹt lại bên dưới, khóc than khôn xiết. Khúc phim của một quê hương đau khổ quay thật lẹ trong đầu, tôi đứng bất động nhìn biển khơi giữa những người đang cùng chung số phận. Cuộc chiến chấm dứt đột ngột, không hề có kẻ thắng người thua, nhân dân hai miền đất nước đều thua lỗ. Xa khuất phía bờ, Việt Nam bây giờ là một dãi thẫm đen mờ cuối chân trời, xa dần, xa dần... Đất nước tôi đang chìm vào màn đêm đen đặc. Không hiểu vì lý do nào, hay từ một linh tính, tôi thầm vẫy tay chào. Chào gì nhỉ? Tôi không biết. Lòng tôi tắt tiếng, hồn tôi bâng khuâng, cảm giác của sự mất mát tuôn trào không nói được. Chiếc thương thuyền hướng mũi ra khơi càng lúc càng nhanh cho kịp vào vùng biển quốc tế vì bấy giờ Việt Nam đã hoàn toàn nằm trong tay kiểm soát của Hà nội. Giữa tiếng khóc bốn bề, nhớ mấy câu thơ bài Ai Sính của Khuất Nguyên khi ông nhìn dân gian chạy loạn, lúc đất Sở mất về tay Tần, Miễu bất tri kỳ sở chích / Thuận phong ba dĩ tòng lưu hề / Yên dương dương nhi vị khách. (Chẳng biết sẽ đặt chân đâu / Theo sóng gió mà trôi nổi a / Biết lênh đênh về chốn nào. – Đào Duy Anh dịch). Tình cảnh mấy ngàn năm trước sao vẫn giống như hôm nay!
 
    Như thế, tôi cùng với một số bạn bè Hải quân theo tàu Challenger làm chuyến hải hành cuối cùng bất đắc dĩ.
 
Tàu chạy suốt đêm. Sáng hôm sau, tàu thả trôi ngoài khơi Vũng Tàu để vớt thêm ghe của dân chúng từ bờ ào ạt tiến ra. Vang vang từ radio của dân chúng mang theo trên tàu lời kêu gọi lính Ngụy ra đầu thú của đài phát thanh Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Ngoài kia biển Vũng Tàu lấm chấm đen hàng vạn con thuyền nhỏ bé bấp bênh trôi. Như những chiếc lá rụng mùa thu dù bấy giờ chỉ mới mùa xuân. Câu hát thuở ấu thời không dưng hiện về, đời như chiếc thuyền nan,Tính tính tính tình tang tang tang / Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan / Trôi nó trôi bềnh bồng... Bây giờ trăm nghìn bá tánh bềnh bồng số phận sau cuộc đổi dời. Rồi cũng sẽ đến Tokyo, Chicago, Karachi, Mexico, và nhiều nơi khác nữa trên khắp châu lục nhưng nào phải là những cuộc du hí vui tươi như lời bài hát “Chiếc thuyền nan”.
 
Những chiếc thuyền nhỏ bé như thế tiếp tục ra khơi trong hơn 20 năm sau 1975. Sóng gió, bão tố, hải tặc chờ đợi người vượt biển. “Thuyền nhân”, dịch từ tiếng Anh “Boat People”, thành danh từ thông dụng đầu môi của cộng đồng hải ngoại sau 1975 và thập niên 80, 90 để gọi những người bỏ nước tìm tự do. Ở trong nước, chính quyền gọi họ là những kẻ “vượt biên” với chủ ý ám chỉ một việc làm phi pháp. Nhưng có bao giờ Nhà Nước tự hỏi vì sao người dân bỏ nước ra đi?
 
Danh từ thuyền nhân nói lên sự quyết chí trong vô vọng vì lý tưởng sống cho xứng đáng nhân phẩm của con người. Thuyền Nhân là Kẻ Vượt Thoát, quyết định nắm lấy sinh mệnh của chính mình để thách thức quyền lực nhân danh Giải Phóng. Họ là những cử tri tuyệt vời nhất, sử dụng lá phiếu bằng chính đôi chân của mình, một lựa chọn nhân bản đẹp nhất trên cuộc đời để đối đầu với bạo tàn, với bóc lột vô nhân đang xảy ra trên quê hương. Dẫu rằng mỗi chuyến ra đi đều có thể là một hành trình đưa đến tử biệt, Thuyền trôi xa về đâu ai biết / Thuyền có về ghé bến tự do? Bài “Lời Kinh Đêm” của Việt Dzũng hát ở thời đại oan khiên ấy nói hết thân phần của người vượt biển, Thuyền Nhân. Không chỉ biển vô tình, nhân loại làm ngơ, chính sách hà khắc của Nhà Nước trên quê hương đã xua đuổi nhân dân ra biển lớn.
 
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh.
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ.
(Lời kinh đêm – nhạc Việt Dzũng)
 
Và tôi bắt đầu cuộc đời tỵ nạn tại trại Orote Point nơi Guam mù mờ ốc đảo, có nắng dài ngày, có đêm thức rỗng, chờ đợi những mịt mù ngày tới. Tôi rướm lệ khi tình nguyện viên tập cho chúng tôi hát bài “This land is your land” ở trại tỵ nạn. Có thật vậy, chúng ta đã mất quê hương?
 
Những năm lưu xứ tiếp tục trôi qua, chuyện cơm áo, gia đình, như bất cứ người tỵ nạn nào, trở thành chuyện bình thường của đời sống.
 
    Tôi đã trở về Việt Nam lần đầu sau 32 năm xa xứ. Nhớ nước đưa chân tôi về. Không gì khác. Buổi sáng đầu tiên hít thở không khí quê nhà, tôi đã ghi lại như thế này trong tập Bắt Nắng:
     “Nắng đầy lên lòng mắt. Nắng vỡ xuống rừng tùng. Ve râm ran dài suốt một vùng đồi. Tiếng hát diệu kỳ lâu lắm chưa được nghe, người hẫng trong dãy phượng đỏ chói chan những ngày mới lớn. Thơ ấu đi và thơ ấu trở về giữa không gian quê nhà. Khoảng đời ở giữa là nỗi trống lưu vong. Những chuyến về Đông phương nói theo anh Thi Vũ là những lần “recharge our batteries”. Những thỏi pin cạn dần chất điện, hao hớt nguồn năng nơi những vật lộn xứ người. Người khô héo miền đất khách như cây quít Hương Cần đem trồng nơi xứ tuyết. Cho đến sáng hôm nay tôi được tắm lại khung trời của nắng, gió và hơi hám người phương đông. Bây giờ hương quê là hít thở thật gần, trầm trầm khí quản. Mọi lời nói ngưng và không cần thiết khi buồng phổi căng gió, những cơn nồm của biển xa một thời và ngọn gió bấc mùa tháng chạp thuở trước quay về làm nổi ụ làn da vừa se lên trong cơn nắng.”
(32 năm nhìn lại, Bắt Nắng, Vũ Hoàng Thư)
 
            Trở lại Nhatrang, mái nhà xưa đã không còn, biết bao kỷ niệm từ nơi ấy một thuở thiếu thời. Tất cả đã đổi thay, cảnh vật cũng như lòng người. Tôi đâm thấy mình xa lạ ngay trên quê hương. Những háo hức nay thành hụt hẫng. Ngậm ngùi với ý nghĩa của hai chữ lưu vong. Khi cất bước ra đi như thân cây chỉ còn núm rễ đứt, èo uột những rễ con còn lại bám vào đất mới, thế rồi một ngày tôi nhận ra mình chẳng thuộc về đâu, bên đó hay bên này... Lại bước đi, có lẽ.
 
đêm cuối ở nhatrang
hàng phi lao còn sót lại
vi vút gào ký ức
gởi lại em một mùa xanh
khi tóc cùng màu như liễu
tôi sẽ đi như 32 năm trước
tôi sẽ đi vội vã
            như một lần
có thật đã 32 năm?
(Đêm cuối ở Nhatrang – Vũ Hoàng Thư)
 
oOo
 
    Năm 1975 đối với người Việt là một năm tràn đầy biến động, đổi dời định mệnh, trên phương diện cá nhân cũng như của nước nhà. Nói như ông thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt, có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn. Ông chỉ nói đúng một phần nhỏ, thực sự có hơn ba triệu người “di tản” buồn bên ngoài và hàng chục triệu người không-di-tản buồn bên trong.
 
Danh từ “di tản” thường được dùng trong thuật ngữ quân đội. “Di tản chiến thuật” để nói đến việc di dời đội quân tạm thời cho một chiến thuật nhất định nào đó trong tương lai gần. Có thể nói di tản là triệt thoái để chỉnh đốn cho nhu cầu mới. Thời chống Pháp ta có tản cư để tránh giặc và hồi cư là trở về lại nguyên quán. Khi di tản không còn là tạm thời, hồi cư là vô vọng, tương lai đầy chông gai trước mặt nơi xứ lạ quê người, người Việt lưu vong buồn trong chờ đợi. Họ trở thành “người di tản buồn” khi “chiều rơi nhanh và đêm xuống rất mau”. Họ nhìn qua phía bên kia chân trời, giọng nhừa nhựa Khánh Ly như châm chích thêm niềm đau, “nhìn xa xăm về quê hương rất xa”. Bài hát “Người di tản buồn” của Nam Lộc càng lúc nghe càng thấm thía.
 
Những năm sau, trong cái buồn chung lưu xứ, bắt đầu hé ra đôi tia sáng, hy vọng. Tin kháng chiến dậy lên hừng hực lòng người hải ngoại. Mọi con tim trông chờ để rồi cuối cùng tắt ngúm trong tuyệt vọng của mọi người. Mặt khác, điểm nổi bật là báo chí truyền thông Việt bắt đầu ra đời làm việc kết nối đồng bào tỵ nạn năm châu. Những tờ tiên phong lúc ban đầu có Quê Mẹ ở Pháp, Hồn Việt, Văn Nghệ Tiền Phong ở Mỹ, v..v...
 
Tạp chí Quê Mẹ - Paris khởi xướng chiến dịch “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” đến biển Đông cứu vớt người vượt biển bằng con tàu Île de Lumière (Đảo Ánh Sáng). Chiến dịch này đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của hơn 160 nhân vật nổi tiếng trên thế giới bao gồm các nhà văn, nhà báo, công đoàn và chính giới đủ mọi khuynh hướng. Ngoạn mục nhất, những trí thức thân tả của Pháp trước đây như Jean Paul Sartre, Raymond Aron vẫn thường đứng về phía cọng sản nay xoay qua ủng hộ cho người vượt biển Việt Nam. Ngoài ra Quê Mẹ còn chủ xướng phong trào “Chuyển lửa về Việt Nam” bằng cách gửi bài vở, tin tức, truyền đơn, báo chí hải ngoại về trong nước. Chủ đích là phá vỡ bức trường thành che đậy ngu dân từ nhà nước, và khai sáng, chiêu hồi cán bộ cọng sản, giúp họ bỏ chất cọng để trở lại bản thể Việt của người Việt, không còn là Việt cọng u muội nữa. Được như vậy, “chuyển lửa về Việt Nam” sẽ tạo nên một phong trào quốc kháng mạnh mẽ trong nước. Quốc kháng là gì? Nhà tranh đấu nhân quyền Thi Vũ – Võ Văn Ái chủ nhiệm báo Quê Mẹ giải thích:
“Toàn dân đã hận là hận sự dại khờ phá phách, hận sự phung phí di sản của tiền nhân, hận sự giam người không xét xử, đày người không lý do, giết người không gớm tay. Cho nên bung thức đầu tiên là niềm Quốc hận, mà kỳ thực chứa ngầm một ý thức Quốc Kháng.
Vì sao quốc kháng? Ý thức quốc kháng là gì?
Quốc kháng là sự đối kháng của toàn dân. Tính chất tiêu cực của đối kháng là quốc hận và tính chất tích cực của quốc hận là quốc kháng.” (30-4-1978)
 
Dần dà văn nghệ sĩ hải ngoại kết hợp làm báo văn học, đáng kể phải nói đến tạp chí Văn Học Nghệ Thuật, Văn, Văn Học, Khởi Hành, Làng Văn, v..v... Cho đến khi kỹ thuật liên mạng phát triển, nhiều trang mạng văn học của người Việt xuất hiện làm đầu cầu cho việc sáng tác, nghiên cứu văn chương Việt đi thẳng đến đại chúng nhiều hơn, nhanh hơn báo giấy. Đầu tiên là trang Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng của Phạm Chi Lan, Gio-O của Lê Thị Huệ, Talawas của Phạm Thị Hoài. Không hẹn mà giới nữ lưu đứng đầu tiên phong trong việc sử dụng internet để giao lưu văn học cùng đại chúng. Sau đó rất nhiều trang mạng, blog của người Việt mọc lên khắp nơi trên thế giới.
 
Sự ra đời của báo giấy, báo liên mạng văn học của người Việt hải ngoại đã thiết lập lại nền văn học nhân bản có từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Một cộng đồng văn chương Việt ở ngoài nước, nuôi dưỡng và làm sáng, làm đẹp ngôn ngữ Việt. Văn học Việt hải ngoại có phải là cánh tay nối dài của văn học Miền Nam trước 1975 hay không đó là một câu hỏi đáng được bàn luận. Tuy nhiên hít thở trong không khí tự do và vun xới tinh thần độc lập từ những giá trị căn bản con người ở các nước dân chủ tự do, giới sáng tác người Việt hải ngoại đã tạo cho mình một chỗ đứng rất riêng biệt trong văn học Việt Nam. Họ đã tạo nên một thành trì đối kháng với nền văn hóa chỉ đạo marxist, văn công, ca ngợi chế độ vẫn còn duy trì ở trong nước. Đó là mốc son của giới cầm bút ở bên ngoài. Hà nội đã lo sợ và không ngừng đã phá cũng như xâm nhập chia rẽ hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại. Không thể không nhắc đến nhà văn Trần Hoài Thư một mình một ngựa, gìn vàng giữ ngọc bằng cách sưu tầm và phổ biến lại tài liệu, văn thơ của văn học Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Hà nội chẳng thể tiêu diệt được nền văn học đó với chính sách đốt sách vở, học đòi chiêu thức phần thư khanh nho từ thời Tần Thủy Hoàng, từ đám vệ binh đỏ Maoism sau khi “giải phóng” miền Nam. Nền văn học đó vẫn hiên ngang tồn tại ở hải ngoại.
 
oOo
 
   50 mươi năm sau, đủ dài cho hai, ba thế hệ nối tiếp. Một bên trong, một bên ngoài. Ác mộng chiến tranh hầu như chỉ còn sót lại trong tâm tưởng của một thiểu số người Việt. Tất cả như nguội dần trong quên lãng. Tuy nhiên Cờ vàng vẫn tung bay mỗi lần lễ lạy, tưởng niệm, sinh hoạt cộng đồng và đã trở thành nghi thức. Đó là ID, là căn cước xác định một tập thể người Việt hải ngoại, độc lập với đảng cầm quyền trong nước. Một cộng đồng hải ngoại nhà nước không lay chuyển được nhưng vẫn được mời gọi đóng góp những khi cần. Hà nội vẫn tiếp tục chiến dịch mưa dầm thấm đất cho đến khi địch thủ ngã xuống trong mòn rữa. Vì vậy người cầm bút hải ngoại đừng quên ghi nhớ và nhắc lại thời kỳ đen tối ở quê nhà, chẳng phải vì muốn đào xới thêm lên thù hận cũ, nhưng để lịch sử sẽ không tái diễn trong tương lai. Gần nửa thế kỷ trước nhà thơ Cao Tần tự hỏi cho mình mà cũng chính cho hết chúng ta, Ta làm gì cho hết nửa đời sau? Cao Tần đã phó thác hết cho cơn mộng, một cơn mộng dữ đồng bào anh em phải gánh chịu bên ngoài cũng như bên trong quê hương,
 
Hãy đem hết những đổi đời tan tác
Gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua
(Cao Tần)
 
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng trong bài “Ainsi Parlait Le Poète” đã cảnh báo về chế độ tù đày cải tạo khắc nghiệt của chế độ cọng sản như thế này: "Thế kỷ hung man này có những vết chàm riêng của nó. So với đồng nghiệp xa xưa, tên cai tù hiện đại tinh vi hơn, kiến hiệu hơn, tỉnh táo hơn, giỏi hơn trong cái ngón nghề hành hạ và làm khổ tha nhân.”
 
Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm... Lời ca Tuấn Khanh nhắc lại một ngày xanh tươi mát mẻ trong quá khứ. Có yên tĩnh quê nhà, có nắng hanh ngủ ngày dưới giàn hoa thiên lý. Hoa thiên lý có màu vàng, thơm ngát, tên thiên lý gọi kêu vạn dặm muôn trùng xa. Dù có xa bao xa, ta vẫn nhận ra người. Những cái xa còn lay lắt khôn nguôi. Vươn tay ra tìm dù không nắm được cái đã mất, nhưng cái mất vẫn nằm mãi ngay trong hồn.
 
     “Người di tản buồn” có còn buồn sau 50 năm? Có lẽ... cho đến cuối đời. Một điệu buồn man mác như sợi khói bay lên từ mái rạ cuối chiều ở một nơi xa xăm ngút ngàn ký ức.
 
VŨ HOÀNG THƯ
Năm thứ 50 lưu xứ
 
(trích Tự do cùng ngôn ngữ, 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại, Gió-O sắp xuất bản)

 

  

MỘT BÀI THƠ TH ÁNG TƯ

Ai Nhớ Ngàn Năm Một Ngón Tay
 
DU TỬ LÊ

Hoa loa kèn. tháng tư
 
Tháng tư tôi đến rừng chưa thức
Mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
Có môi chưa nói lời chia biệt
Và mắt chưa buồn như mộ bia
 
Tháng tư nao nức chiều quên tắt
Chim bảo cây cành hãy lắng nghe
Bước chân ai dưới tàng phong ốm
Mà tiếng giày rơi như suối reo
 
Tháng tư khao khát, đêm, vô tận
Tôi với người riêng một góc trời
Làm sao anh biết trăng không lạnh
Và cánh chim nào sẽ bỏ tôi
 
Tháng tư hư ảo người đâu biết
Cảnh tượng hồn tôi : một khán đài
Với bao chiêng, trống, bao cờ xí
Tôi đón anh về tự biển khơi
 
Tháng tư xe ngựa về ngang phố
Đôi mắt nào treo mỗi góc đường
Đêm ai tóc phủ mềm da lụa
Tôi với người chung một bến sông
 
Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa
Riêng đoá hoàng lan trong mắt tôi
Làm sao anh biết khi xa bạn
Tôi cũng như chiều: tôi mồ côi
 
Tháng tư chăn gối nồng son, phấn
Đêm với ngày trong một tấm gương
Thịt, xương đã trộn, như sông, núi
Tôi với người, ai mang vết thương?
 
Tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
Rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
Mắt ai rồi sẽ như bia mộ
Ngựa có về qua cũng thiếu đôi
 
Tháng tư người nhắc làm chi nữa
Cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
Trống, chiêng, cờ, xí như cơn mộng
Mưa đã chờ tôị Mưa...đã ...mưa
 
Mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây
Góc phố còn treo đôi mắt bão
Ai nhớ ngàn năm một ngón tay ?"
DTL

  

ĐỌC BÙI VĨNH PHÚC: CHỮ NGHĨA & KHÔNG GIAN VĂN CHƯƠNG

Phan Tấn Hải
 

Bùi Vĩnh Phúc. Tác phẩm
 
    Thêm một cuốn sách phát hành giữa một thời bom đạn bay khắp trời. Bất kể rằng, dòng chữ không ngăn cản được đường đạn bay. Hiển nhiên, bởi vì tác giả Bùi Vĩnh Phúc đang rời khỏi thế giới vật lý của địa cầu, để bước vào một thế giới nơi mà anh gọi là một không gian văn chương rất riêng trong tác phẩm mới, nơi đó là thơ, là văn, là nhạc, là phê bình, là cảm nhận, là những giấc mơ bay bổng từ chiếc đàn dương cầm với các phím là chữ và nghĩa. Như thế đó, tuyển tập các bài viết của Bùi Vĩnh Phúc ấn hành với nhan đề “Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương” nơi do chính anh tuyển chọn, trích lại các bài viết anh ưa thích nhất.
     Bùi Vĩnh Phúc là một cái tên quen thuộc với rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực. Anh là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục, nhà dịch thuật cho tiểu bang California, người dịch văn chương, và cả phê bình âm nhạc. Và nhiều nữa, nếu phải kể hết. Do vậy, rất nhiều những trang văn Bùi Vĩnh Phúc viết ra đã thường trực làm cho tôi bất ngờ, không chỉ mới lạ mà vẫn rất là thơ mộng, không chỉ uyên bác tháp ngà như khi phân tích âm nhạc Trịnh Công Sơn mà vẫn rất gần gũi đời thường như khi nói về chất thơ Bùi Giáng.
     Bùi Vĩnh Phúc là một điển hình phức tạp của lớp trí thức hải ngoại mang trong tim hai dòng chảy: truyền thống mỹ học Việt Nam và phương pháp nghiên cứu hiện đại phương Tây. Hai kho tàng văn hóa này giúpanh xây dựng một lối viết dung hòa giữa thơ mộng và lý luận, giữa trực giác thẩm mỹ và phân tích lý thuyết. Chúng ta sẽ thấy rất nhiều đa tầng chữ nghĩa như thế trong tác phẩm Chữ Nghĩa & Không GianVăn Chương của Bùi Vĩnh Phúc, dày 730 trang, vừa do Tạp Chí Ngôn Ngữ ấn hành.
     Khoan. Xin nói về một bất ngờ rất riêng tư. Tôi giựt mình khi thấy nơi trang 28 của sách KGVC, nơi những dòng đầu của bài “Cho Đi Lại Từ Đầu” Bùi Vĩnh Phúc đã viết, trích:
     “Tôi nhớ Robert Nathan, qua lời một họa sĩ trong cuốn “Portrait of Jennie” -- bản dịch Việt Ngữ là “ChânDung Nàng Thơ” của Hoàng Ưng và Trần Phong Giao -- có nói đại ý rằng trong đời một người nghệ sĩ, có những giai đoạn mà hắn ta cảm thấy năng lực sáng tạo của hắn bị đông đặc lại. Lúc đó, hắn cảm thấy linh hồn hắn bị giam nhốt giữa đời sống, và hắn không thể tìm được lối thoát. Đó là mùa Đông của người nghệ sĩ. Mùa Đông dày đặc và giá lạnh bao trùm lên đời sống hắn, khiến cho hắn có những lúc cảm thấy không còn có thể tiếp tục sống nổi.”
 
    Tôi đọc và giựt mình. Đúng là tôi mê cuốn truyện dịch "Chân Dung Nàng Thơ" trong những ngày còn là một tên học trò mê đọc trong các năm trung học ở Sài Gòn. Lúc đó, tôi đọc và có lúc như dường thấy hơi lạnh của tuyết New York phả lên từ các dòng chữ đang làm lạnh thêm cho nhân vật chính trong truyện, một chàng họa sĩ đói rách trong thời Kinh Tế Suy Thoái của Hoa Kỳ giữa thập niên 1930s bỗng gặp một thiếu nữ ngồi giữa trời lạnh, nơi công viên  Central Park của thành phố Manhattan, và chàng sau đó vẽ phác hình ảnh nàng từ ký ức. Tôi không biết vẽ, nhưng có lúc tôi trực giác như dường mình sẽ là một tên nhà thơ đói rách ngồi giữa một công viên đầy tuyết trắng.
    Tiểu thuyết này dĩ nhiên còn nhiều tình tiết ly kỳ, lãng mạn, về sau còn được dựng thành phim. Tôi không ngờ là Bùi Vĩnh Phúc cũng ưa thích tác phẩm này như tôi. Nhưng dịch giả Hoàng Ưng lại là thầy dạy Anh văn của tôi thời trung học đệ nhất cấp ở Trần Lục, quận 3 Sài Gòn (bây giờ hình như đổi tên là Trường THCS Lê Quý Đôn?). Bây giờ, hiển nhiên là Thầy đã lìa đời, nhưng chữ của Thầy trong bản dịch thơ mộng đó vẫn còn in sâu trong tôi, như dường các bụi tuyết New York vẫn chưa tan trong mắt tôi. Các bạn nào từng học Thầy này hẳn nhớ rằng Thầy có một mắt giả, có lẽ vì bị thương do một tai nạn hay từ một thương tích ở chiến trường nào đó, mà Thầy không kể trong các buổi tôi học. Tôi nhớ Thầy có tròng mắt giả màu xanh da trời, ngó là biết giả liền (thời thập niên 1960s là như thế, không có chuyện phải ngụy trang cho giống mắt thiệt). Còn tròng mắt kia của Thầy ngó lúc nào cũng như đang cười, rất là an lạc và  thơ mộng. Nhiều thập niên về sau, tôi tự khám phá ra một điều, khi nhớ tới Thầy: nếu tâm hồn không thơ mộng, không ai có thể dịch, viết văn, hay làm thơ...
    Sách mới của Bùi Vĩnh Phúc dày 730 trang, nghĩa là nặng tới mức không thể cầm một tay mà đọc. Sách gồm 6 phần. Phần I: Tản văn / Tuỳ bút; Phần II: Tiểu luận / Chuyên luận (trích); Phần III: Thơ (tuyển 50 bài của Bùi Vĩnh Phúc); Phần IV: Dịch thuật; Phần V: Đối thoại, trả lời phỏng vấn; Phần VI: Phụ Lục: Hình ảnh kỷ niệm, và Thân hữu viết về BVP.
     Vào sách là bài Thư Đầu Sách của nhà thơ Luân Hoán, thay mặt Tạp Chí Ngôn Ngữ, giới thiệu tổng quan về Bùi Vĩnh Phúc và tác phẩm mới, với lời cuối thư: “Kính chúc quý bạn đọc khoan khoái khi đọc và ngẫm về cuốn sách này. Trong sách có bao nhiêu điều thú vị, đẹp đẽ và bao thông tin, kiến thức mang tính khoa học văn chương mà ta có thể thưởng thức và tìm hiểu, theo dõi. Chỉ riêng đoạn Bùi Vĩnh Phúc, một nhà phê bình văn học, một nhà thơ, nói về bài thơ Hoàng Hạc Lâu và các cách dịch nó thôi cũng đủ khiến ta yêu thích văn chương nhiều thêm. Cái sướng khó nói rõ được.” (CN&KGVC, trang 13)
     Kế tiếp, sau lời của Luân Hoán là bài nhận định từ một nhà nghiên cứu từ Huế, tựa đề “Nghe Tiếng Quê Hương Từ Nơi Xa Thẳm” của Nguyễn Thị Tịnh Thy – người được tuyển tập giới thiệu là: “Nhà Nghiên cứu - Phê bình văn học. TS Ngữ văn, Đại học Sư phạm Huế. Chuyên môn giảng dạy tại Đại học Sư phạm Huế: Văn học nước ngoài, Phê bình sinh thái.”
     Trong bài viết dài 8 trang của Nguyễn Thị Tịnh Thy, tôi chú ý tới đoạn văn này: “Đi vào các trường hợp, trong hơn 20 cuốn sách viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà chúng tôi đang sở hữu, có thể nói, cuốn sách của Bùi Vĩnh Phúc thuộc vào hàng hay nhất. Khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn từ góc độ thi pháp học văn học, ở đoạn trích viết về "ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật", tác giả đã chỉ ra các kiểu không gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn một cách tinh tế. Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Bùi Giáng đều là những gương mặt thơ được giới cầm bút bình luận rât nhiều. Tuy nhiên, đọc các tiểu luận của Bùi Vinh Phúc, ta vấn thây ông luôn tìm được lối riêng, có tính "vũ đoán" riêng trong "viết, đọc và thẩm thức văn chương". Bài về Phạm Công Thiện đúng là "một thứ fire for fire" - "lửa đáp lửa" - là bài viết của "một thi sĩ viết cho một thi sĩ" đúng như nhận định của chính triết gia này. Đó là tuyệt bút, là một cơn lên đồng chữ nghĩa, là sự thăng hoa của trí tuệ và cảm xúc diệu kỳ khó lặp lại trong đời, ngay cả với chính tác giả.” (CN&KGVC, trang 21)
     Lời cuối trong bài viết của Nguyễn Thị Tịnh Thy là những gì độc giả chắc chắn là sẽ cùng nhìn thấy về vai trò nối liền sự đứt gãy văn hóa – văn học của dân tộc: “Trên dưới 700 trang sách với nhiều thể loại, điều khiến tôi không rời được Chữ nghĩa & không gian văn chương là khối kiến thức về văn học, trết học, mỹ học và ngôn ngữ học mà tác giả Bùi Vĩnh Phúc mang lại. Nhưng, quan trọng nhất, gợi nhiều xúc cảm nhất, là trong từng cầu chữ của ông, tôi được nghe tiếng quê hương từ nơi xa thắm. Người nối liền sự đứt gãy văn hóa - văn học của dân tộc, lại chính là những kẻ tha hương. Tôi biết ơn ông và những người câm bút ở ngoài nước, như ông!” (CN&KGVC, trang 22)
 
      Trong bộ sách là một thế giới mênh mông chữ nghĩa của Bùi Vĩnh Phúc, tôi ngừng lại và đọc nhiều lần một đoạn văn, nơi ký ức thời tuổi nhỏ của tôi.  Bài “Những Đóa Hoa Dịu Dàng Phất Phơ Trong Gió” của Bùi Vĩnh Phúc có một đoạn, trích: 
       “Tôi cũng nhớ lần được cho leo lên xe thổ mộ chạy một vòng thành phố. Ông già đánh xe Nam Kỳ hay ghé qua xóm tôi ngồi đánh cờ tướng với mấy bạn rượu của ông ta. Tôi được quen biết ông trong những lần đứng coi ké những cuộc cờ này. Tôi nhớ vào một dịp Tết, ông già đánh xe thổ mộ chạy qua khu xóm tôi. Những chậu hoa vạn thọ vàng rực treo lắc lư đầy hai bên thành xe. Màu vàng lung linh theo nhịp xe chạy thật là chóa mắt. Lần đó, ông già cho tôi leo lên ngồi chung với năm, bảy người trong khoang xe. Mọi người ngồi hết chỗ, ông già leo ngồi ngay lên cáng xe. Chiếc xe chạy đi, và tôi sung sướng nhìn mọi người cũng như cảnh vật dạt mãi về phía sau. Những chậu hoa vạn thọ vàng rực chấp choa lăc lư trong gió. Thời tiết còn để lại một chút lạnh châm kim trên da thịt. Tiếng vó ngựa lóc cóc giòn giã. Và tuổi nhỏ, như con chim chào mào vẫy cánh bay vụt lên.” (CN&KGVC, trang 59)
      Tôi tin rằng các nhà phê bình văn học sẽ chú ý đặc biệt tới các đề tài trong sách mới của Bùi Vĩnh Phúc, với các bài nhận định về hai mươi năm văn học Miền Nam (1954 - 1975), về ngôn ngữ Trịnh Công Sơn, về Truyện Kiều và Tiếng Việt 200 năm trước, về các nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, về bài phát biểu của Bùi Vĩnh Phúc khi nhận giải Nghiên Cứu - Phê Bình của Diễn đàn Văn học Văn Việt, về bài trả lời phỏng vấn do Diễn đàn Da Màu thực hiện (về Đọc & Viết và về Văn Học Hải Ngoại), và nhiều đề tài khác.
 
      Tuyển tập cũng ghi lại nhiều cái nhìn, trong phần Thân hữu viết về Bùi Vĩnh Phúc, với các bài của:
-- Trần Chấn Trí: Hiệu ứng của Âm và Thanh trong Thơ qua lăng kính của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc
-- Phan Tấn Hải: Bùi Vĩnh Phúc, nhà phê bình của Thơ mộng, U hiển
-- Trần Hữu Thục: Vài cảm nghĩ về 9 Khuôn Mặt, 9 Phong Khí Văn Chương của Bùi Vĩnh Phúc
-- Đặng Thơ Thơ: Bùi Vĩnh Phúc và Phê Bình Văn Học
-- Trịnh Y Thư: Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu
-- Trần Thị Nguyệt Mai: Bùi Vĩnh Phúc, "Người Bạn" thời Hoa mộng
 
    Không chỉ với người quan tâm về văn học, tôi tin rằng các ca sĩ, nhạc sĩ và những người quan tâm tới âm nhạc sẽ chú ý tới bài viết của Bùi Vĩnh Phúc tựa đề “Trịnh Công Sơn: Ngôn Ngữ & Những Ám Ảnh Nghệ Thuật”, đặc biệt là ghi chú (2) in nơi cuối bài, phân tích về một chữ trong câu nhạc:
“Bài "Biển Nhớ", trong một số sách nhạc, câu "Bàn tay chăn gió mưa sang" bị đánh lộn là "Bàn tay chắn gió mưa sang". Điều đó làm mất hẳn đi cách dùng chữ tài hoa và đầy sáng tạo của người nhạc sĩ. Trong văn cảnh của bài hát, "chắn gió mưa sang" trở nên lạc, không thích hợp với khí hậu và tinh thần chung của toàn bài, trong đó, ta thấy có "triều sương ướt đẫm cơn mê", có "hồn liễu rũ", "bờ cát trắng", "biển động", "sầu lên", "cồn đá rêu phong rũ buồn, đèn phố nghe mưa tủi hờn"... Thật ra, trong bản nhạc rời in ở Việt Nam thời sáu mươi, tôi đã thấy nhà xuất bản in đúng là "chăn gió mưa sang".” (CN&KGVC, trang 184-185) 
 
    Người quan tâm tới âm nhạc cũng có thể chú ý tới bài viết tựa đề “Về Tính Vũ Đoán trong Viết, Đọc, và Thẩm Thức Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc, nhắc tới các ca khúc phản chiến bị bỏ quên:
     “Trong kinh nghiệm cá nhân, về phương diện này, tôi cũng đã rất ngạc nhiên và khá bất ngờ khi thấy trong tập Những Bài Ca Không Năm Tháng, tuyển hơn 120 ca khúc của mình, được xuất bản mấy năm trước khi anh mất, Trịnh Công Sơn đã không đưa vào những ca khúc phản chiến một thời đã làm nên tên tuổi anh. Có lẽ đã có một suy nghĩ đắn đo nào đó, có một ý nghĩa quyết định, đã khiến anh không đưa chúng vào tuyến tập đánh dấu một đời sáng tác này của mình. Tôi bỡ ngỡ, nhưng thấy không nhất thiết phải lý giải điều đó.” (CN&KGVC, trang 223) 
 
Hiện thời sách mới của Bùi Vĩnh Phúc đã lưu hành trên hai mạng:
https://www.amazon.com/ và https://www.barnesandnoble.com/
Bạn chỉ cần gõ tên "bui vinh phuc" là ra các sách mới này.
 
Nơi đây, xin ghi lại tiểu sử sơ lược của Bùi Vĩnh Phúc: Sinh tại Hà Nội, 1953. Lớn ở Sàigòn. Dạy Việt văn và Pháp văn tại trường Nguyễn Bá Tòng (Sàigòn và Gia Định) từ 1972 đến 1977. Làm thơ từ 1968. Viết tiểu luận và phê bình văn học từ 1982.
 
Sống tại Mỹ từ tháng 4, 1978. Học và lấy các bằng chuyên môn từ hệ thống Cal State University (CSU) và University of California (UC). Từ 1989, liên tục dạy Anh văn và Ngôn ngữ & Văn hóa Việt Nam tại đại học Golden West College và tại California State University, Fullerton, khoa Ngôn ngữ và Văn học Hiện đại. Hoạt động chuyên ngành trong các lĩnh vực Ngôn Ngữ Học và Văn chương Pháp. Thuyết trình viên về giáo dục và tâm lý-xã hội, cũng như về văn học và ngôn ngữ Việt Nam tại một số trung tâm và đại học tại Mỹ, và tại các diễn đàn về văn học Việt Nam hải ngoại.
Dịch thuật chuyên nghiệp từ 1986. Đã chuyển dịch nhiều tài liệu trong các lĩnh vực y, luật, ngôn ngữ, và tâm lý-xã hội cho tiểu bang California và các trung tâm nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ. Dịch văn chương từ 1987. Trong ban chủ biên cũng như đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học và nghiên cứu trong và ngoài nước.
Cuối cùng, để bạn đọc có thể nhìn rõ hơn về chữ và người, nơi đây xin chép lại ba đoạn thơ tự tình của Bùi Vĩnh Phúc trong bài thơ “Trăng vỡ anh ra” dài 8 đoạn, mỗi đoạn 4 dòng, và nơi đây là ba đoạn giữa bài thơ:
 
anh đã đi xa những ngày quê cũ
trăng dãi trên đầu trăng mở trái tim anh
trăng vẫy anh đi về những miền ánh sáng
anh chạy theo trăng vấp ngã bao lần
 
anh đã mất tăm lòng anh tuổi trẻ
trăng sáng lân tinh những lá cỏ ướt mềm
anh mút giọt sương thơm như giọt sữa
em ơi em ơi trăng và gió đương lên
 
em đừng khóc một ngày trăng đã cũ
một ngày trăng đã vơi một ngày đời sống đã phân ly
một ngày giọt sương rơi trên cỏ biếc
vỡ giọt nước mắt em một đêm mộng xuân thì. (CN&KGVC, trang 496)   
 
    Nhà thơ Bùi Vĩnh Phúc, cũng rất mực thơ mộng và u hiển vậy. Nơi không gian văn chương đó, vầng trăng quê hương vẫn rọi sáng trong các dòng chữ của anh.
PHAN TẤN HẢI

  

Tuesday, April 7, 2026

THƠ NGUYỄN ĐỨC NHÂN


Thiếu nữ. Tranh Ngọc Dũng

CHẮC GÌ NGƯỜI QUAY LẠI
 
          *tặng bạn Phạm Bá Luật
 
mùa xuân đã qua
nắng phương nam chói chang
vài chiếc lá vàng
rơi thương dấu chân
người vừa lặng lẽ
ra đi
tóc xanh bay
lộng gió vai gầy
tà áo xanh
phất phơ mùa hạ
người ra đi
chắc gì người quay lại
nhặt lại ánh mắt mình
để quên
trên chùm hoa tường vi nghiêng sắc hồng
thương nhớ bóng người
            Đà lạt, 04/4/2026
 
TÌNH CA THÁNG TƯ
ĐẤT PHƯƠNG NAM
 
Nắng tháng tư phương nam xanh.   nhan sắc
ruộng đồng phương nam kiều diễm
 
Nắng tháng tư phương nam xanh.   tôi
giàn trải tâm hồn hứng lấy những nụ cười ruộng đồng    phố xá    những
chùm hoa nắng bình minh   đang
lơ lng bay giữa
bầu trời tháng tư phương nam xanh.   vâng.   tôi
hứng lấy những nụ cười sông nước phương nam   và
những chùm hoa nắng đang
lơ lng bay
 
Vòng tay hữu hạn.   tôi ôm ghì
nụ cười ruộng đồng    phố xá trên đất phương nam yêu dấu.   tôi
làm đẹp tôi.   tôi
gắn nụ cười đất phương nam lên trán.   tôi
soi bóng mình giữa bầu trời sông nước phương nam xanh.   hoan hỷ    tôi
trẻ ra
 
Ồ, tôi sáng cùng trăng.   tôi
ru em thơ    ru ruộng đồng    ru phố xá đất phương nam
nồng giấc phù sa
 
Nắng tháng tư phương nam xanh.   tôi
đang thanh tẩy tôi.   tôi
đang làm mới tôi.   vâng
tôi đang nới rộng tâm hồn đến tận cùng bóng mây biên giới.   tôi
hãnh diện là khách phương xa khao khát gió đồng xanh.  tôi
tham vọng nuốt trọn những tiếng chuông biêng biếc của
vùng sông nước phương nam.   tôi 
ngân hoàng hôn trên sóng lúa
 
Vâng.   tôi
thổi năng lượng vào cơ bắp của
những dòng sông.   vâng.   tôi
bơm máu tôi vào trái tim ruộng đồng phương nam.   vâng
tôi cần mẫn tháo rời nỗi buồn em ra khỏi vùng
sông nước  
                                              Hậu Giang, 05/4/2012
 
  

Saturday, April 4, 2026

PHỤC SINH

Vũ Hoàng Thư
 
Tranh: Đinh Trường Chinh.
 
Hương tháng ba khua xuân dậy, nhộn nhịp mầm xanh hy vọng. Mùa Phục Sinh. Từ thập giá của sự chết, của nước mắt và máu. Của giọt dấm tân toan làm chất dưỡng sinh nuôi hoa khổ trên môi khô. Những giọt máu đen bầm ứa từ hông bóp nghẹt dần sự sống, cũng từ đó trường sinh hứa hẹn đâm chồi, Ego sum resurrectio et vita… (*)
 
Đó là sự cứu rỗi của tôn giáo và phục sinh mang con người trở về bản thể thánh thiện ban đầu. Đất hứa không còn khi Từ Thức về trần, nơi đau khổ rộng lớn như biển vì không gì to tát hơn biển dưới mắt con người. Biển khổ. Và cũng không gì vĩ đại hơn tình yêu. Biển ái. Cả hai vùng biển mênh mông, đôi khi nhập một. Từ đó có lệ ứa.
 
Lệ là dung dịch chất chứa niềm đau cũng như hạnh phúc. Người sẽ khóc khi chia ly và người sẽ cười mếu máo trong sung sướng. Người sẽ ràn rụa vì cơn lốc, hay chút lưng tròng tại khói, Smoke gets in your eyes làm lời che đậy từ một bản tình ca. Hay có thể vì một hạt bụi không đâu? Hạt bụi vô tư khơi mào cho dây chuyền phản ứng. Các khoa học gia khi phân chất nước mắt khám phá rằng nếu chỉ làm phận sự bảo vệ mắt khi có vật lạ xâm nhập hay để làm trơn mắt, cấu chất của nước mắt lúc đó đa số chỉ là nước. Trái lại khóc vì vui hay buồn, nước mắt chứa thêm nhiều kích thích tố khác.
 
Lệ ứa khi niềm đau bão hòa và trào mứa khi cơ thể bất kham những phế thải dư thừa. Thi sĩ bắt gặp cả hai trong một ngày trong, khi nắng reo giòn màu thủy tinh, khi buồn không chỉ mang nghĩa buồn phiền, buồn còn là sự kích thích hay cảm giác nhột nhạt. Vùng não bộ khiến ta cười khi bị cù lét cũng chính là nơi báo động cho thân thể con người biết về sự đau đớn. Hạnh phúc và khổ đau vốn là một, như hai bề mặt của một đồng tiền.
 
Tôi buồn khóc như buồn nôn
 
Thi sĩ làm gì ở giây phút đó? Tự gọi tên mình như một lối thoát. Gọi tên tôi vì không còn gì để bám víu. Tôi đánh mất niềm tin vào bất cứ điều gì trên cuộc đời này. Tôi là ốc đảo cô đơn tuyệt đối. Tôi là hư vô. Giáo đường bên ngoài không là nơi tìm đến. Tôi tự xây một góc riêng trong hồn, nơi đó tôi đối mặt với chính mình, sự thánh thiện hay tính ác có đủ từ tôi. Con chó sói không màu, tưởng là loài thú ngoài đời, dữ dằn đe dọa, ngờ đâu nó hiện hữu ngay chính trong tôi.
 
Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều – sao vỡ vào chuông giáo đường
tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
cho đứa nhỏ linh hồn
sợ chó dữ
con chó đói không màu
(Phục Sinh – Thanh Tâm Tuyền)
 
tôi buồn chết như buồn ngủ
 
Chết là giấc ngủ không bao giờ dậy, ngủ là những cơn chết được đánh thức bởi hồi sinh. Từ khi sinh ra, con người bắt đầu một cuộc hành trình, điểm đích là sự chết, một vị nổi tiếng nào đó đã nói thế. Sisyphus đền tội vì đã chỉ lối cho Aegina thoát khỏi địa ngục và lập mưu nhốt tù thần chết Hades, nhưng tội lỗi nặng nhất vẫn là dám yêu cái sống hơn sự chết. Ôi trần gian điên dại này, dù đớn đau quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương, Hermann Hesse có lần nói như thế. Cho đến khi Hermes được sai xuống áp giải Sisyphus về lại âm ty. Sisyphus bị chịu phạt đến muôn đời lăn đá từ chân núi lên đến đỉnh để nhìn thấy hòn đá lăn tròn về lại chân núi. Từ đó huyền thoại Sisyphus mang tính bi đát và phi lý của kiếp người.
 
Trong cô đơn đen ngòm tuyệt vọng, có lẽ đen hơn nước tuyền đài nơi địa phủ, thi sĩ bắt gặp mình yếu đuối như cô bé quàng khăn đỏ ngây thơ trước đám lang sói. Nghiệt ngã thay, con sói chính là phân thân của hắn. Nhà thơ trằn trọc trong cấu xé, tra vấn và lột xác. Phải giết cái ác để hoàn thiện. Trong hành động vượt lên, hướng thượng hắn thành kẻ sát nhân tự giết chính mình. Tự sát để phục sinh. Cuộc chiến đó không bao giờ dứt cho đến khi hắn khám phá ra một điều. Hắn thôi gọi tên mình. Tên gọi và danh xưng thật chăng vô nghĩa như chân núi và đỉnh trời của một kiếp người lê thê kéo đá? Quên chính mình, hay đúng hơn khi vị ngã không còn, giây trói cột tự nhiên tháo gỡ. Giây phút đó Em hiển lộ. Em là hiện hữu khách quan không vị kỷ. Em là tình yêu. Em là Sự Thật. Tôi thành trẻ thơ, tôi tìm lại cái ban đầu uyên nguyên vô nhiễm. Tôi giao thoa chan hòa trong niềm sống và nỗi chết. Vì sống, chết vốn như nhau khi cái tôi đã không còn. Sống và chết hiện hữu trong phân biện dẫn đến khổ đau. Lệ sẽ khô trong phục sinh.
 
tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng trên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang
tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
 
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh
từng chuỗi cuộc đời tiếp nối
nhân loại không tha thứ tội giết người
bọn đao phủ quỳ gối
giờ phục sinh     
 
tiếng kêu là kinh cầu
những thế kỷ chờ đợi         
 
tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật
(Phục Sinh – Thanh Tâm Tuyền)
 
Tháng ba nhân ngày giỗ của Thanh Tâm Tuyền đọc lại một bài thơ của ông. Mấy mươi năm trước lời thơ bốc dậy những cuồng nộ đập phá, của phản kháng để xây lại một trật tự mới. Phục sinh hôm nay nghe ra như lời suối trong thanh từ tâm, một ngày đầu của xuân, thanh tâm tuyền.
VŨ HOÀNG THƯ
 
(*) Ta là sự sống lại và sự sống… (Gioan 11:25)
 
Nguồn: Tạp Chí Thế Kỷ Mới
  

TRANH TRƯƠNG VŨ



Xuân, Acrylic trên linen, 44” x 33”, thực hiện đầu Xuân 2026.