Tuesday, October 18, 2011


Hạc Vàng Khuất Bóng
Tô Thẩm Huy

        
   
Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.  Tôi học với Giáo Sư Nguyễn Đức Hiển cách nay đã mấy mươi năm.  Không học dưới mái trường mà học trên sân nhà ông.  Không học ở Sài Gòn mà học ở Houston.  Không học văn chương mà học võ thuật.  Trong hơn hai mươi năm quen ông tôi cũng không biết là ông đã từng dậy Việt văn tại ngôi trường mà mình đã chạy nhẩy suốt bẩy năm trung học.  Cho đến ngày ông mất.
           
Tôi quen ông qua người anh cả trong gia đình.  Dạo mới sang Mỹ, ông và người anh tôi định cư tại Pine Bluff, một tỉnh nhỏ kế cận thủ đô Little Rock của Arkansas, rồi rủ nhau  dọn về Houston đầu thập niên 80.  Tôi bắt đầu quen ông từ đấy.  Ông dáng người quắc thước, không vạm vỡ nhưng rắn rỏi.  Cái rắn rỏi của một võ sĩ Đại Hàn.  Cằm vuông, vầng trán cao, đôi mắt sáng, nửa như khiêu khích, soi mói, nửa như ân cần, thăm hỏi.  Ở ông toát ra cái vẻ vừa nhanh nhẹn, lại vừa ung dung, cái ung dung từ tốn của một con cọp đang nằm phơi nắng, lẫn cái vẻ vừa rêu phong, cổ kính như những nhân vật của Vũ Khắc Khoan, của Nguyễn Tuân, lại vừa quen thuộc, thân tình như người hàng xóm kế bên.  Những nét trái ngược ấy đã tìm được cách hài hoà chung sống nơi con người ông.  Và nơi tranh vẽ của ông.  Tranh ông đầy những mầu sắc thuỷ mặc, mềm mại của hội hoạ Trung Hoa, pha trộn với những đường nét mạnh mẽ, góc cạnh của hội hoạ Nhật Bản.  Dạo ấy, hai mươi mấy năm trước, tôi nhìn ông như một người tài hoa, đởm lược, đã từng lang bạt kỳ hồ sang Lào, sang Tân Gia Ba, làm việc cho Sứ quán Viêt Nam, thu nhặt những nét đẹp tinh hoa của Đông Á.  Yêu cây kiểng, say mê đồ cổ, tinh thông chữ Hán, giỏi thập bát ban võ nghệ.  Nhưng tôi đã không nhìn thấy ở ông một tâm hồn thi sĩ.  Người ta quả có thể đối diện mà không tương phùng.  Tôi vốn say mê Đường thi từ những ngày còn trẻ.  Ông lại là người yêu mến cổ văn, từng học Văn Khoa ở Hà Nội.  Thế mà trong những lần gặp gỡ, chẳng bao giờ ông và tôi nói chuyện văn chương với nhau.  Gặp nhau, chúng tôi nói chuyện về cách thức nấu phở, ông nấu phở cho tôi ăn, phở ông ngon lắm, đậm đà mà thanh tao, nói chuyện về nghệ thuật ăn uống, về hội hoạ, về võ thuật, nhưng không một lần đả động đến văn chương.  Nhưng không phải vì thế mà không có chuyện.

Số là bẵng đi một thời gian khá lâu không liên lạc, thì cách đây vài năm tôi được một người bạn tặng một tập sách do ông biên soạn, tập Vang Bóng Hạc Vàng, viết về bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu và những giai thoại, những bản dịch khác nhau, của ông và của nhiều người khác.  Riêng của ông thì đến những mười mấy bản.  Bài thơ này thì không ai đọc Đường thi mà không biết.  Và cũng không biết bao nhiêu người đã say mê dịch nó sang tiếng Việt.  Trong số những người ấy có Vũ Hoàng Chương.  Đầu năm 1970, trên tờ Văn Học ở Sài Gòn ngày trước, nhân dịp giỗ thi sĩ Tản Đà lần thứ 31, Vũ Hoàng Chương đã nhắc đến và lên tiếng ca ngợi bản dịch của hai người (1).  Một của nhà nho Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, một của Tản Đà.  Mỗi người một vẻ.  Bản dịch của Tùng Vân thì ít được phổ biến, dù đã đăng trên Nam Phong tạp chí từ những năm 20, có lẽ vì đọc lên nghe trúc trắc, không xuôi tai.  Nhưng, như Vũ Hoàng Chương đã chỉ ra, bản dịch ấy rất công phu, rất già tay.  Ở chỗ nó đã theo sát nhạc điệu của nguyên tác.  Sát cả ở những chỗ sai niêm thất luật.  Bản dịch của Tản Đà thì trái lại, nhẹ nhàng, bay bướm.  Nó du dương trầm bổng trong cung điệu lục bát.  Bản dịch ấy ắt phải hay lắm, vì đến nay đã hơn 70 năm, mà vẫn còn được nhiều người nhắc đến một cách ưa thích.  Nó đã vượt qua được sự thử thách của thời gian.  Nhưng theo tôi, cái hay ấy nó ’Tản Đà’ quá, nó ngọt ngào, hiền lành quá.  Cái không khí mang mang hiu hắt, nỗi cô đơn day dứt của thân phận con người đang bơ vơ lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt, mà thiên đường thì đã mù mịt lối về, cái không khí ấy đã bị dịch giả thuần hoá, trở nên nhu mì mềm mại, nhẹ nhàng trôi chẩy trong giòng ca dao.  Cái hay của Tản Đà là ở chỗ ấy.  Nó dễ đến với người Việt vì lẽ ấy.  Nhưng đó, theo cái thiên kiến lệch lạc của riêng tôi, cũng là chỗ hụt hẫng của ông khi dịch Hoàng Hạc Lâu. 

Ít lâu sau biến cố 1975, giới yêu thơ ở hải ngoại bỗng nhận được từ trong nước bản dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương.  Nghe nói là những dòng chữ cuối cùng của một đời đắm đuối với chữ nghĩa, gọt dũa nhiều năm đến lúc lìa trần mới hoàn tất.  Tôi đã đọc bản dịch của Vũ Hoàng Chương một cách say đắm.  Nó còn hay hơn cả nguyên tác.  Mà nguyên tác thì đã hay tót vời.  Cái mà Thôi Hiệu phải vận dụng hết mười thành công lực, phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh trắc liên tiếp mới nói được:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du

đến độ hùng tâm dũng khí như Lý Bạch, đọc xong, tay vung quyền, chân tung cước, vẫn phải gác bút chịu thua, cúi đầu ra đi (2), thì Vũ Hoàng Chương vẫn ung dung rút kiếm giữa trời thơ, phóng con mắt nghìn đời dõi theo đôi cánh hạc đã mù khơi mà thong thả dẫn nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật.  Hai câu thực trong bản dịch của Vũ Quân bay bổng giữa trời thơ ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một mầu mây vạn vạn đời  

Bạn thấy gì không?  Một mầu vàng loé lên giữa trời rồi vụt tắt, một mầu vàng tung lên rồi vĩnh viễn không trở lại, nhưng cứ mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và trên thân phận con người.  Còn lại gì chăng, ngoài một cõi thiên thu vàng ngợp đến bất tận!  Đọc đến câu cuối:  Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, cả một trời Đường thi bỗng lay động.  Thôi Hiệu giá có đọc được câu ấy, nội chỉ một câu ấy thôi, cũng phải ngả nón cúi đầu khâm phục.  Nó nói được điều Thôi Hiệu muốn nói, bằng một cách khác hẳn, một cách rất tài hoa riêng biệt, như một lời ngậm ngùi năn nỉ với hư không:  Sóng ơi, sầu đã chín, xin thôi giục.  Sóng gì ? Sóng nước ? Hay những lớp sóng của bể dâu hưng phế ?  Ai muốn thấy sự khác biệt tinh tế giữa hai dòng ngôn ngữ Hán, Việt xin cứ thư thả đọc lại hai câu:  Yên ba giang thượng sử nhân sầu ... Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, ắt sẽ rõ.   Hoặc muốn biết nội công thượng thừa của Vũ Quân thâm hậu đến đâu, xin nhẩn nha ngoảnh lại, thử bầy một cuộc đổi dời di dịch, đọc lại một lần nữa câu vàng tung cánh hạc đi đi mất, nhưng lần này hoán đổi chữ hạc lên đầu câu, hạc vàng tung cánh đi đi mất.  Bạn thấy gì không?  Cũng bẩy chữ ấy, nhưng lần này, khi chỉ đổi chữ hạc lên đầu câu, thì cả một trời thơ đang lung linh sáng bỗng tối sầm lại.  Tô mì Hải Ký đang bốc hương ngào ngạt bỗng lặng lẽ trở thành tô mì gói.  Mì gói một tô cũng thú vị lắm, nhưng chao ôi, tô mì Hải Ký ... Và tôi đã tự nhủ:  không ai sau Vũ Hoàng Chương nên ‘dại dột’ dịch Hoàng Hạc Lâu nữa.  Đến Vũ Hoàng Chương thì Hoàng Hạc Lâu đã dịch xong rồi.  Tôi vẫn nghĩ thế.  Nên lúc đọc Vang Bóng Hạc Vàng của GS Nguyễn Đức Hiển với mười mấy bản dịch tôi đã thầm có ý ‘chống đối’.  Tôi đã đọc mười tám bản dịch của ông bằng con mắt không ‘hạnh phúc’.  Và tôi đã thầm ‘trách’:  Sao lại đi dịch Hoàng Hạc Lâu!  

Sau đó ít lâu tôi được anh tôi báo tin ông đã mất.  Rồi các cựu học sinh Võ Trường Toản liên lạc rủ nhau đi dự đám tang GS Nguyễn Đức Hiển.  Lúc ấy tôi mới biết là ông đã từng dậy Việt văn tại trường trung học của mình ngày xưa.  Hôm đưa đám ông tôi lại có việc phải đi xa.  Lại không được nhìn mặt ông lần cuối.  Sau đó, tôi tìm đọc các tác phẩm khác của ông, tập Cổ Thi Nhàn Dịch và tập Trời Sau Nhật Thực.  Lúc ấy tôi mới khám phá ra rằng không những ở cái thú ăn uống, nấu nướng, mà còn ở thi ca, ông và tôi có nhiều say mê giống nhau.  Nhiều bài trong tập Nhàn Dịch của ông tôi cũng đã dịch.  Tôi đã đọc và dịch Đường thi như một niềm hạnh phúc cô độc.  Một mình.  Một mình với người xưa.  Rồi đến một đêm nọ tôi lại bắt gặp chính mình đang ‘dại dột’, đang ngồi dịch Hoàng Hạc Lâu, lịch kịch gõ tới gõ lui vẽ lên hình ảnh một cánh hạc rực vàng đang tung cánh trong nắng chiều chực tắt, đang bay, bay mãi về phương trời vô hạn.  Khuôn mặt ông chợt hiện ra từ đằng xa nhìn tôi mỉm cười.  Vẫn đôi mắt ấy, nửa như ân cần thăm hỏi, nửa như dịu dàng khiêu khích:  Sao, còn thầm trách nữa không ?  Tôi tắt đèn, nhắm mắt.  Khuôn mặt ông thấp thoáng chập chờn trong giấc ngủ.  Đêm hôm đó tôi hiểu hơn bao giờ, rằng người ta đôi khi viết như để trò chuyện với một nỗi ám ảnh, với chính mình, và như để chẳng làm gì hết.  Viết để viết ra.  Thế thôi.  Hay hay dở cũng chẳng để làm gì hết.  Cứ chịu chơi hết mình một cuộc rồi thì đâu sẽ ra đấy.  Hay hay dở là ở chỗ chịu chơi hết mình hay không hết.  Mọi điều còn lại đều vô nghĩa.  Giữa những người chung một cuộc chơi có một sự cảm thông kỳ bí không nói ra được bằng lời.  Liền cả tháng sau đó, đêm nào tôi cũng dịch tới dịch lui Hoàng Hạc Lâu, như là một cách trò chuyện với ông.  Dịch đến mấy mươi bản khác nhau mà vẫn cứ loay hoay dịch.  Hoàng hạc Lâu chỉ là một cái cớ.  Hoàng hạc Lâu có thể là bài thơ hay nhất Đường thi nhưng điều ấy không quan trọng.  Dịch hay không dịch, hay dịch mấy mươi bản, không quan trọng.  Điều ly kỳ gay cấn là cái sự vụ dịch.  Nó biến khoảnh khắc trở thành vĩnh cửu.  Và vì thế, với người dịch, ngay trước và trong lúc cầm bút dịch, nó đã là sáng tạo, là làm hồi sinh trong hồn cái mầu xanh ban sơ bất tuyệt.  Những lúc ấy tôi không còn một mình, không còn cô độc.  Cũng người một hội một thuyền đâu xa.        

Nhiều người lý luận rằng bản dịch thì không thể nào hay hơn nguyên tác, nó chỉ diễn lại cái ‘‘ ý ’’ đã có sẵn.  Những người ấy thực không hiểu gì về thơ.  Họ làm như trong thơ ‘‘ ý ’’ là cái gì quan trọng lắm, làm như thơ là cái gì rõ ràng minh bạch lắm.  Họ không hiểu được rằng cái điều được nói ra, và cái điều nói ra được, lại là cái điều không muốn nói, và lại càng là cái điều không đáng nói.  Cách nói mới là cái cốt tuỷ của nghệ thuật, cái làm ta ngậm ngùi tái tê hồn phách.  Vậy là sao?  Xin thưa ngôn ngữ vốn bất lực, cái điều nói ra được chỉ là một cuộc bầy binh bố trận để tìm cách nói ra cái điều không nói ra được.  Nhưng nói như vậy cũng không hẳn là nghe được.  Nói như vậy cũng chỉ là nói để nghe vậy.  Chứ ngôn ngữ, cả chữ lẫn nghĩa, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chỉ là cái ngón tay.  Và vầng trăng cổ độ thì mãi mãi chiếu sáng trên thân phận con người.  Trước cái bờ vực thẳm mà ngôn ngữ đã phải cúi đầu hàng phục, phải đứng lại, thì thơ đã chắp cánh, đã nhắc một nhịp cầu để đáo bỉ ngạn, để có thể bước sang cảnh giới bên kia.  Muốn biết cái cảnh giới ấy thế nào thì phải dấn liều một bước mà bước bước qua, thì mới có thể chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn.  Còn cứ đứng tại chỗ vỗ tay khen ngợi, hay lên tiếng đổ lỗi cho nhịp cầu, thì làm sao thấy được những đoá hồng dại đang run rẩy đón chờ buổi tương phùng của một ngày đoàn viên xum họp.  Làm mới ngón tay, trau chuốt nó, là điều cần thiết.  Nhưng chao ôi, cái cách trỏ . . .

Kể ra ông đã thọ, chỉ kém vài năm thì đầy bát tuần.  Ông ra đi đột ngột, để lại bao thương tiếc cho người thân, và những bức hoạ, những vần thơ mê ảo.  Ông vừa dịch cổ thi, vừa sáng tác, bằng Việt ngữ, và bằng cả Hán ngữ.  Thơ ông vừa mới, lại vừa cổ.  Cổ như tiếng nói của con người.  Mới hơn thơ của những người đang đòi làm mới thơ.  Thơ thì bao giờ chẳng mới, thứ thơ tinh khôi đến từ đáy lòng, làm sao mà nó cũ được.  Sao người ta cứ thích tô son thoa phấn cho thơ, mà không chịu làm mới lòng mình, không chịu đưa mảnh hồn mình ra mà dấn liều tang thương một cuộc.  Thử chép ra đây mấy câu thơ của ông:

...Những vụn vặt ảnh hình
Những đê mê hồi tưởng
Ánh tóc ấy xưa dài như con suối
Dẫn lối Đào Nguyên
Huyễn tượng
Ánh mắt ấy chứa chan thần mật
Sáu nẻo mê đồ
Sắc tướng
Làn môi ấy căng lên cánh buồm phơ phất
Lưu thuỷ hành vân
Ngũ âm
Tuyệt xướng

Chữ nghĩa ông quả là say đắm, mê đồ.  Ánh tóc ấy, Ánh mắt ấy...thần mật... sắc tướng.  Làn môi ấy căng lên cánh buồm...tuyệt xướng.  Hay tuyệt sướng ?  Nào ai biết...

Một chữ cũng là thầy, nửa thế võ cũng là thầy.  Lúc ông còn ở hồng trần, tôi đã được cái duyên cùng ông đối diện nhiều lần, nhưng lại chẳng được một lần tương phùng.  Nay ông như cánh hạc đã vụt bay bất phục phản, tôi lại gần gụi, thân thiết với ông hơn bao giờ.  Ngày giỗ nhì cũng sắp đến.  Xin thắp nén hương chắp tay lạy ông mấy lạy.  Một lạy để tạ lỗi đã thầm trách ông.  Một lạy nữa để cảm ơn ông đã dậy tôi đôi điều, dăm thế, lúc ông đương còn ở quán trọ trần gian, cũng như sau lúc đã bay về nơi cõi trời xa tắp.

Như đôi điều tâm sự cùng người đã khuất, xin chép ra đây hai bản dịch của ông và hai bản dịch của tôi, một bản giả vờ tuân theo niêm luật, một bản noi gương cụ Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, đi theo nguyên tác mà bước ra ngoài luật thơ.

Tô Thẩm Huy



Lầu Hoàng Hạc



Bài một

Hạc vàng người cưỡi biết đâu nơi
Gác hạc vàng đây đứng ngóng trời
Một phới hạc vàng không trở lại
Nghìn trùng mây trắng mãi rong chơi
Ngàn cây bến Hán còn ngơ ngác
Lớp cỏ châu Anh vẫn ngậm ngùi
Chiều xuống có quê mà chẳng ở
Để sầu khói phủ với sông trôi

Bài hai

Chuyện xưa người cưỡi lưng hoàng hạc
Bỏ mặc bên đường gác Hạc không
Một chuyến vàng bay chìm bóng hạc
Nghìn đời trắng xoá gợn mây bông
Hán Dương rờ rỡ hàng cây bến
Anh Vũ lê thê lớp cỏ đồng
Chiều xuống nơi nào quê quán nhỉ
Nhớ thương thương nhớ khói đầy sông

Nguyễn Đức Hiển



Bài một

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời
Trơ lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi
Mù tăm cánh vút, vàng muôn thuở
Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời
In bóng Hán Dương, sông loáng nắng
Quạnh bờ Anh Vũ, cỏ im hơi
Chiều nay sương khói dâng trên sóng
Sầu thẫm hoàng hôn lạnh xứ người

Bài hai

Người xưa cưỡi hạc đi đi mất
Đây lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không
Một đi bóng hạc vàng hun hút
Muôn thuở mầu mây trắng chập chùng
Cây bến Hán Dương xanh trong nắng
Cỏ bờ Anh Vũ trĩu ven sông
Chiều hoe nắng lịm, đâu quê quán
Khói sóng dâng khơi giục não lòng.

Tô Thẩm Huy



Ghi chú:



(1)    Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hạc Lâu, in lại trong ‘Tản Đà, Về Tác Giả và Tác Phẩm’, NhiềuTác Giả,
       NXB Giáo Dục, 2000, trang 330, 331.

(2)  Nhất quyền đả đảo Hoàng hạc lâu,  Lưỡng cước thích phiên Anh Vũ châu,
      Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,  Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu. (Lý Bạch)
      Một quyền đấm lệch Hoàng Hạc lâu,  Hai cước đá phăng Anh Vũ châu.
      Cảnh đẹp lọ là xin gác bút,  Kìa thơ Thôi Hiệu ngửng ngang đầu. (TTH)




(3)         Nguyên tác và một số các bản dịch khác:



Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tảikhông du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu


Người xưa đã cưỡi hoàng hạc đi mất
Chốn này luống còn riêng mỗi lầu Hoàng Hạc
Hoàng hạc một đi là đi mãi, không trở lại
Mà mây trắng thì cứ nghìn năm lững lờ bay
Sông trong vắt, hàng cây Hán Dương hiện rõ
Cỏ ngun ngút , bờ bãi Anh Vũ ngậm ngùi
Ngày đang tắt, quê hương biết ở phương nào
Khói sóng trên sông giục lòng ta nỗi muộn phiền



                                               黃 鶴 樓
昔 人 已 乘 黃 鶴 去
此 地 空餘 黃 鶴 樓
黃 鶴 一 去 不 復 返
白 雲 千載 空 悠 悠
晴 川 歷 歷 漢 陽 樹
芳 草 萋萋 鸚 鵡 洲
日 暮 鄉 關 何 處是
煙 波 江上 使 人 愁



  

Người xưa cưỡi hạc đã lên mây
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng
Xanh ngút châu Anh lớp cỏ dầy
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây
            Ngô Tất Tố
Người xưa cưỡi hạc đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Tản Đà




Người tiên xưa cưỡi hạc vàng tếch
Ở đây còn có lầu hạc trơ
Hạc vàng một tếch chẳng về nữa
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ
Sông tạnh Hán Dương cây sát sát
Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa
Trời chiều quê quán đâu chăng nhỉ
Khói sóng trên sông giục nhớ nhà
Tùng Vân

Người đi cưỡi hạc từ xưa
Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu
Hạc vàng đi mất đã lâu
Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông
Hán Dương cây bóng lòng sông
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì
Chiều hôm lai láng lòng quê
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu
Trần Trọng Kim





PHỐ VĂN

giới thiệu Ca Oán của nguyễn thanh châu



Thơ Nguyễn Thanh Châu cô đọng, sắc nét. Thơ mang dáng dấp cổ, nhưng có những nét mới, bật sang. Ở đây, người đọc gặp những tâm tình hoài niệm, xen lẫn những cơn đau bật máu của thời đại. Như mây trời xanh thăm thẳm và bông xương rồng đỏ rực trên sa mạc vùng Châu ở.
NXT


                                          OrangeCactusFlower - tao'spaint

TIỂU SỬ:
Tên thật. Sinh năm 1951 tại SÀIGÒN. Theo học Trung học PETRUS KÝ, Đại học VẠN HẠNH. Động viên vào Trường Bộ Binh THỦ ĐỨC tháng 6 năm 1972, ra phuc vụ tại Chi Khu CAO LÃNH, Tiểu Khu KIẾN PHONG. Tập trung tù CS từ ngày 26 tháng 5 năm 1975 đến ngày 14 tháng 11 năm 1980. Sang MỸ theo diện HO ngày 24 tháng 4 năm 1975. Trước năm 1975 có thơ đăng trên Tập san TƯ TƯỞNG.  Ở hải ngoại có sáng tác trên các tạp chí văn học như VĂN, VĂN HỌC, KHỞI HÀNH, PHỐ VĂN, THƯ QUÁN BẢN THẢO và các trang mạng DA MÀU, GIÓ-O. Hiện định cư tại Thành phố PHOENIX, Tiểu bang ARIZONA.
Đã xuất bản:
. ca nguyện. gởi cây xương rồng trong gió
   thơ, 2009, thuanquan
. ca oán. đến với mùa giải oan
   thơ, 2011, thuanquan

nước non ngàn dặm

nước non ngàn dặm. đành ra đi
còn ai câu thơ đề vạt áo
chờ nhau. mắt úa tàn xuân thì
chạnh tiếng từ quy hồn ứa máu


mối hận lòng

hận ta không được như phạm công
tìm em khắp mười tầng hoả ngục
dẫu thác sinh. tình vẫn mặn nồng
nào kể đời trong hay bến đục


thời mạt pháp

mạt pháp nên chồn cáo thành tinh
huyễn đời. huyễn mộng. huyễn nhân tình
cớ sao chẳng thấy đao lục yểm
giúp triệu người oan thoát nhục hình

trăng cố thổ 

tiếng rụng điêu linh dài lối ruổi
trăng khuya nhầu nhợt mái hiên người
mười năm. cố thổ hằng trông nuối
tim đời sao cạn giọt máu tươi


ca nguyện. gởi cây xương rồng trong gió

đêm. đêm tĩnh lặng
tôi cất lời ca nguyện
như gió. lang thang qua những hàng saguaro
trần trụi. với cánh tay bị đóng đinh trong gió
vẫn cháy bỏng. bởi mùa hè sa mạc
chỉ nơi đây. da diết chỉ mùa hè
trắng rộ những nụ hoa. bất tận
mười năm. tôi đốt lửa lòng tôi
bập bùng những mảnh vụn ký ức
một thời oan khốc
này em có nghe. những hồi chuông thánh
đêm. phục sinh những đời hôn ám
tự bao giờ. cho đến bao giờ
đêm. đêm nguyệt tận
tôi săm soi chiếc bóng
cô đơn. như con người đầu tiên
trò chuyện với bóng mình
đã đến đây. ở đây. và ra đi
còn lại chăng những giấc mộng. những ảo hình. lung linh trên cát
như ta. những đứa con sinh ra từ cát
rồi trở về cát

đêm. sa mạc nhớ mênh mang
em khoả thân. xanh. trời cố xứ
tôi ngầy ngật thở. những ngày mưa
và mưa. mưa như lời chúc phúc
cho tình yêu. cho mãi mãi đời nhau

đêm. đêm tĩnh lặng
tôi cất lời ca nguyện
theo gió. cuộc viễn du không đích cuối cùng
này em có biết. mê lộ nào lẫn khuất
những ốc đảo hồi sinh
hồn cựu kinh rập rờn cánh hạc
về đi thôi. nhưng về đâu kiếp hư
trời xa. thổi tàn rụng
đêm. giọt máu khô tượng hình
những đồi trọc xương rồng. xây xát gió
dầu dãi thiên thu
xế đời như xoá cơn hôn thụy
nhã nhạc còn nghe. lòng thuở nào..

NTC.

Halloween & Mùa thu New England


Nguyễn Xuân Thiệp
 


                                         Longfellow Bridge. Bostonbiker.org 

   Thế là mình sẽ trở  lại Bostton. Nghe theo tiếng chim gọi đàn và tiếng gọi của mùa thu. Thật vậy, Phan Xuân Sinh vừa gởi email cho biết: Trong mùa thu này, anh em văn nghệ Boston sẽ tổ chức một buổi sinh hoạt Mùa Thu New England. Cùng một lúc sẽ giới thiệu các thi sĩ và văn sị phương xa: nhà văn Hoàng Thị Bích Ti, nhà văn Trần Nghi Hoàng, nhà thơ Phan Thị Ngôn Ngữ, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn và nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình. Sẽ  được tổ chức ngay trong ngày lễ hội Phù Thủy (31 tháng 10.2004), thành phố Salem mà tôi đang ở chính là nơi phát sinh ra Halloween của nước Mỹ.. Các bạn sẽ được trông thấy thành phố tưng bừng với hóa trang. Mời các anh chị trước là thăm viếng nhau, dự buổi sinh hoạt văn nghệ, sau là đi coi lễ hội Halloween tại Wich Town này. Thay mặt anh em văn nghệ Boston kính mời. PXSinh.

   Trở lại Boston lần này, người viết nhất định phải ngồi uống cà phê (mà cà phê một mình thôi đấy nhé) ở quảng trường Harvard Square (chứ không uống trong tưởng tượng như lần rồi), để nhìn lại những mùa thu đã đi qua trong đời mình. Và rồi sẽ đứng trên cầu Longfellow với nắng mùa thu mà đọc thơ của Apollinare: Sous le pont Mirabeau, coule la Seine / Et nos amours, faut-il qu’il en souvienne / la joie venait toujours après la peine… Dưới cầu Mirabeau / sông Seine chảy / và tình ta / liệu anh còn nên nhớ / niềm vui luôn đến sau nỗi buồn… Thế đấy, chưa chi mà dòng sông Charles của Boston đã biến thành dòng sông Seine của Paris và mình biến thành Apollinare để nhớ về Lou. Nào các bạn bên trời, có đi cùng tôi đến chơi Boston lần này không? Cam đoan sẽ vui hết ý. 

   Ôi, chuyện xảy ra cách đây đã sáu, bảy năm. Bây giờ ngồi ghi lại vẫn còn thấy náo nức, bồi hồi.


chào boston. chào bạn bè

từ giấc mơ của cơn giông
xứ sấm sét
tôi tới đây. chào boston
chào bạn bè anh em. thành phố cổ

và xin tặng nhau, thơ này
của xứ
hoa hải đào. nở đầy trong màu nắng
tháng mười
theo chim. tôi đến đây. gặp boston
gẵp bến cảng mù sương. ánh đèn. soi góc hè gạch xám
ôi. lou giờ đã xa. trăng gầy đỉnh whispering pine. hồn thảo mộc
và ly cà phê. trong trí tưởng. uống ở harvard square. với cái bóng của mình. và hoàng thị bích ti
không còn thấy. phố tàu. los angeles
mưa sương. mưa sương. cầu longfellow

này anh em. bạn bè
chúng ta đã đi hết biển
qua các đại dương. và châu lục
không về lại mái đình xưa
bá ngọ
thời của quỷ
ngói lở. cột xiêu. sen tàn. mùa hạ chết
để gặp nhau đây. điểm hẹn boston
con tàu may flower. bắc qua thế kỷ. ký ức của tiếng sóng bờ xa
về phố biển. trời.plymouth

vâng. tôi từ xứ bò. miền đồng cỏ
hái bông vô ưu. ngày nắng phai
chào boston. thế giới dường như rất nhỏ
xướng ca. ồn. quên lệ rơi

tháng 10. 2004
NXT

Friday, October 14, 2011


TẢN MẠN
bên tách cà phê

Nhớ Hà Thượng Nhân

Nguyễn Xuân Thiệp


Ông đã đi sao
sáng nay trời garland mưa thưa
tôi khóc ông
và nhớ
cây ngọc lan trước sân nhà thơm ngát. chỗ ta ngồi uống rượu. nhậu thịt cầy
với hữu loan thanh tâm tuyền tô thùy yên nguyễn trung dũng
nơi gần nhà thờ ba chuông
tôi tới thăm ông
trên gác thơ
dáng ông ngồi. như thú dữ chờ trăng
khi tiếng sấm từ chân trời vọng lại
màu tím
hà thượng nhân


   Trước 1975, tôi không quen Hà Thượng Nhân, chỉ biết tiếng ông. Dạo ấy, thỉnh thoảng tôi có đọc
những bài thơ trong mục Đàn Ngang Cung của báo Tự Do. Ông làm thơ thật dễ dàng, giọng điệu hóm hỉnh đôi khi cũng khá độc. Nhớ lại chính ông đã viết nhạo Thanh Tâm Tuyền và thơ tự do để rồi sau này đều là bạn. Vâng. Phải đợi đến khi vào tù tôi mới gặp được Hà Thượng Nhân. Đầu tiên ở ga Hạ Lý, Hải Phòng. Sau ba ngày ba đêm trên tàu Sông Hương, nín đái nín ỉa, tới Hạ Lý chúng tôi được lùa vào một cái hangar lớn, ăn ngủ ở đó, chiều ra tắm vũng trâu đầm. Một chiều, tôi ngạc nhiên thấy một người mặc bộ bà ba màu nâu, ngồi giữa đám đông anh em trẻ, nói chuyện say sưa như sư giảng kinh. Hỏi ra mới biết là Hà Thượng Nhân, người nổi tiếng “thơ ngang Tào Thực” lúc còn là cậu học trò ở Huế.  Ông từng là giám đốc Đài Phát Thanh Sài Gòn, và là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến. Trong buổi chiều Hạ Lý, ông nổi bật với dáng người cao lớn, thật đẹp. Đúng như Viên Linh tả “Dáng người thẳng băng, lưng dài vai rộng, giọng ông lớn, tiếng ông khỏe, ý kiến ông đưa ra thường là độc lập, dứt khoát, không ở cái khoảng nửa tối nửa sáng bao giờ.” Tôi muốn được nói chuyện với ông, nhưng đông quá, đành thôi. Rồi tôi gặp lại Hà Thượng Nhân ở trại Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.
   Nhớ lại những ngày ấy, khoảng năm 1980-1981, lòng còn rộn lên bao ý nghĩ và cảm xúc hỗn độn. Trại có tường cao xây bằng đá núi vây quanh. Buổi chiều tới trại, nghe tiếng chày vang dội khắp nơi, tưởng là tiếng đập lụa trong thơ Đỗ Phủ, hóa ra tiếng chày anh em giã bắp. Nguyên do: bắp nấu trại phát cứng quá, nhai không nổi, phải giã ra cho nát để nuốt. Trước khi tới trại thì ở đây đã có nhà thơ Hà Thượng Nhân và một số văn nghệ, trí thức khác của miền Nam. Dạo ấy, tôi mới tới được bổ sung vào đội thợ xây, ngày ngày đi xây tường, làm nhà. Một buổi chiều chủ nhật, Tô Thùy Yên và Xuân Bích đưa Hà Thượng Nhân sang chơi phòng tôi. Nhân có một gô trà nóng và ít bưởi bòng do đổi chác linh tinh ở ngoài trại mang về, chúng tôi có được những phút giây thư giãn, chuyện trò hào hứng. Dịp này, tôi đọc thơ cho Hà Thượng Nhân nghe, và ông đặc biệt thích bài Thảo Nguyên, đi đâu cũng mang bài thơ theo trong túi. Một hôm, cán bộ trại mở cuộc bố ráp, kiểm tra hành lý của tù. Một tên xét túi ông Hà, bắt được bài thơ Thảo Nguyên, quát hỏi: “Thảo Nguyên là gì?” Ông trả lời không chút sợ hãi: “Thảo Nguyên là thảo nguyên.” Tên này đọc bài thơ nhưng hình như không hiểu gì bèn lớn tiếng hỏi: “Anh làm thơ hả?” Hà Thượng Nhân: “Vâng, tôi làm thơ. Thi sĩ là nghề của tôi.” Thế đấy, con người Hà Thượng Nhân, không tham phú quý, không cúi đầu trước bạo lực. Mà có thể nói, kể từ khi về Thanh Chương, chúng tôi đông và đoàn kết nên không sợ chúng nữa. Đặc biệt, một số anh em đâm ra yêu thơ, nhờ đó mấy ông làm thơ chúng tôi bỗng lên giá và được chiều chuộng cực kỳ. Mỗi khi có thơ hay là được thưởng. Không nhiều, một cục đường, vài bi thuốc lào, có khi được điếu pallmall. Một buổi trưa, sau khi đọc bài Ánh Trăng của tôi, Hà Thượng Nhân xách qua cho một lon gô chè đậu xanh, nói là biếu thi sĩ bồi dưỡng. Làm sao tôi quên được những thâm tình ấy. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
   Rồi những ngày ở Sài Gòn sau khi ra tù. Chúng tôi thỉnh thoảng lại gặp nhau. Thường là ở nhà ông, hoặc trên gác nhà Nguyễn Trung Dũng có trồng cây bông sứ thật đẹp, đôi khi ở nhà Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên hoặc nhà tôi bên bờ sông Thanh Đa. Chính ở nhà ông, tôi gặp Hữu Loan và viết bài Kẻ Sĩ Nga Sơn. Dạo ấy Hiếu Chân Nguyễn Hoạt còn sống, có khi chúng tôi kéo nhau qua Làng Báo Chí thăm Nguyễn Đình Toàn, nghe Toàn đọc thơ Động Đình Hồ Nguyễn Hữu Nhật, bài Tự Do Tự Do. Có một dạo ông bị gout thật khổ sở vậy mà vẫn ngồi dịch Ly Tao của Khuất Nguyên. Gặp bạn tới chơi, bèn bật dậy đọc thơ sang sảng. Ông ngồi như thú dữ chờ trăng. Lời tôi viết tả ông ngày ấy còn in trong tim óc.
   Sang tới Mỹ, tôi có lái xe lên San Jose hai lần thăm ông và các bạn. Lúc này ông không còn khỏe nữa, tuy nhiên trí óc vẫn minh mẫn. Năm 2010 vừa qua, hai vợ chồng tôi mua vé máy bay đi Cali, định thăm ông anh rồi thăm Nguyễn Mộng Giác và thăm ông. Nhưng rồi công kia việc nọ lại thêm bệnh tật, phải bỏ vé máy bay. Năm nay cũng tính đi nữa, nhưng bây giờ đã giữa tháng 10 rồi và ông đã không còn. Trời đất mang mang, lòng người như có sấm chớp. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
   Nhớ lại, cách đây hơn nửa năm, nhân viết Tiếng Dế Và Ánh Trăng, tôi đã mở đầu với hình ảnh Hà Thượng Nhân (ông là người đã viết tựa cho tập truyện Đêm Nằm Nghe Dế Gáy của Nguyễn Trung Dũng):  
   “Hà Thượng Nhân là nhà thơ, cựu giám đốc đài Sài Gòn và nhật báo Tiền Tuyến. Ông được xem là một nhân cách đáng kính đối với kẻ sĩ miền Nam thời trước. Gần đây, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm từ San Jose gọi điện cho biết: dạo này ông Hà -đã ở tuổi 90- lúc nhớ lúc quên. Có hôm vào 6 giờ sáng, ông gọi Vũ Đức Nghiêm rủ đi ăn phở. Nghiêm nói giờ này tiệm phở đâu đã mở cửa, đợi sau 9 giờ rồi rủ thêm vài ông bạn nữa cùng đi. Nghe vậy, Hà Thượng Nhân nói: Nếu sau 9 giờ thì sẽ có thêm nữ sĩ Huệ Thu. Trước khi đi, Vũ Đức Nghiêm gọi cho Huệ Thu thì được biết vụ đi ăn phở là vào sáng mai lận. Một hôm khác, vào lúc nửa đêm, Hà Thượng Nhân gọi bảo sẽ đưa cho Nghiêm bốn ngàn để Nghiêm tìm cách giúp đài phát thanh Tân An. Ông Hà nói đài này hay lắm, nên giúp đỡ. Vũ Đức Nghiêm bèn giải thích: Đài Tân An là cách đây 40 năm lận, bây giờ đâu còn nữa. Nghe câu chuyện Nghiêm kể, tôi hết sức cảm động và thương cho tấm lòng Hà Thượng Nhân.”  
   Ngồi đây trong một chiều phai nắng, nhắc lại những dòng đã viết, lòng không khỏi bồi hồi. Chúng ta sống và nhìn bạn bè ra đi… Hỡi ơi, Hà Thượng Nhân.
Garland, ngày 12 tháng 10. 2011
NXT

Wednesday, October 12, 2011


DỊCH THƠ TOMAS TRANSTRÖMER



Tác giả: Robin Robertson

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà





    Thơ Tomas Tranströmer khó dịch vì đa chiều đa dạng và nhiều ẩn ý. Lời thơ cô đọng tuyệt đẹp cùng với hình ảnh trong thơ sống động như nhữngbức ảnh chụp rất nghệ thuật làm thơ ông quyến rũ ngay tức khắc, nhưng cái ngôn ngữ đơn giản tự nhiên trong thơ ông khi dịch thường bị biến thành không màu sắc và đơn điệu. Nhịp điệu mềm mại của những bài thơ nguyên tác thường khó được táitạo và, nhạc tính trong những chữ Thụy Điển như “domkyrkoklocklang” bị mất âmvang khi chúng biến thành một “hồi chuông giáo đường.” Cảnh tượng trống vắng,bí ẩn trong thơ ông khá quen thuộc với các nhà thơ Bắc Âu, nhưng biến những mệnh đề siêu thực của cảnh tượng ấy thành ngôn ngữ Thụy Điển cho thật đơn giản ngắngọn là điều rất khó khăn.

Trong lời giới thiệu quyển “Imitations, (Bắt chước)”tuyểntập bản dịch của những bài thơ châu Âu, Robert Lowell viết, trích dẫn Pasternak,“Dịch giả bình thường đáng tin cậy có thể dịch đúng nghĩa đen nhưng thường không chuyển đạt được giọng thơ và … trong thi ca, giọng thơ là tất cả.” Trong bảndịch tương đối thoát qui luật của tôi từ một số bài thơ của Tranströmer, tôi đã thử chọn vị trí đứng giữa một bên là những bài thơ được viết lại một cách trangtrọng và thử nghiệm của Lowell và bên kia là phương pháp dịch sát nghĩa theo truyền thống. Tôi vẫn giữ dáng dấp bài thơ mở rộng ý nghĩa cho rõ ràng hơn và cố gắng - như Lowell đã rất đúng khi nhấn mạnh là người ta phải cố gắng – truyền đạt giọng thơ.


                                                            
                                                                 Tranh Chagall


Cái nhìn của Tranströmer có khuynh hướng tư tưởng tâm linh rất sâu đậm, nhưng không thuần là tôn giáo. Ông quan tâm đến sự khác biệt đến đốilập và chúng ta phản ứng như thế nào, ở cương vị loài người, cho đến khi tìm thấy chúng ta ở điểm then chốt, ở cái điểm tựa đòn bẩy của một khoảnh khắc. Đây là bài trích từ bài thơ “Out in the Open” (Ngoài Khoảng Rộng):

Mặt trời bốc lửa. Phi cơ bay thấp,
trải bóng có hình dáng của chiếc thập tự khổng lồ, vội vã trên mặt đất.
Một người đang rình cái gì đó trên cánh đồng.  

Bóng phi cơ chạm đến anh ta
Trong tít tắt anh ta ở ngay chính giữa chiếc thập tự.
Tôi đã nhìn thấy cái thập tự treo trên những vòm cong đẹpmắt của nhà thờ
Đôi khi nó giống như một tấm ảnh chụp
sự náo loạn  

Tôi đã đọc những bản dịch này trên sân khấu với Tomas, ở Stockholm  và London , và có được sự tán thành của ông rất quan trọng với tôi. Ở vai trò một trong những ủy viên quảntrị của giải thưởng Griffin, tôi có mặt nơi đó khi ông được trao tặng Lifetime Recognition Award (Giải Thưởng Thành Tựu Trọn Đời) năm 2007, nhưng chúng tôi có cảm giác lúc ấy – cũng như từ nhiều năm trước đây – là giải thưởng quan trọngnhất vẫn chưa trao tặng cho ông. Tin (ông được giải Nobel văn chương) hôm nay,đã được chờ lâu đến độ không thể tin được, nhưng thế giới thi ca có thể nâng ly chúc mừng người đàn ông khiêm tốn này, nhà thơ vĩ đại này.

NTHH



Robin Robertson đã xuất bản vài bài thơ trên The New Yorker, và là dịch giả tậpthơ “The Deleted World,” của Tomas Tranströmer, sắp phát hành bởi Farrar,Straus & Giroux

Bài diễn văn nhiệm màu: Thơ của Tomas Tranströmer


Tác giả: Teju Cole

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà




Hai sự thật tiến đến gần nhau. Một đến từ bên trong, cái kia từ bên ngoài, và nơi chúnggặp nhau chúng ta có cơ hội nhìn thấy bóng dáng của chúng ta. (Từ “Preludes”Phần Mở Đầu).

Tomas, người được trao giải Nobel Văn chương năm nay, đãnhiều năm là một trong những nơi trú ẩn của tôi. Các quyển thơ của ông đặt trênkệ không bao giờ bị bỏ quên lâu ngày. Tôi hướng về ông mỗi khi tôi muốn được tiếnđến, càng gần càng tốt, những điều không thể nói. Thập niên vừa qua đầy nhữngnăm đen tối, và tôi vẫn tiếp tục tìm về với các nhà thơ. Họ chăm nom tôi và,dùng một câu của Tranströmer, tôi sống nhờ vào sữa đánh cắp từ vũ trụ của họ.Tôi đọc Walcott, Bishop, Ondaatje, Szymborska, Bonta, và cả chục thi sĩ xuấtsắc khác, nhưng trên tất cả tôi đọc Heaney và Tranströmer, hai người, bằng haicách khác nhau, đã kết hợp những vấn đề trọng đại nhất với kinh nghiệm cá nhân.

Đọc Tranströmer – thời điểm thích hợp nhất là vào ban đêm, trong im lặng, và một mình – là buông thả theo những điều nằm bên ngoài lẽ tựnhiên. Đó là trèo ra khỏi giường và lắng nghe ngôi nhà nói chuyện gì và ngọngió trả lời như thế nào. Mỗi độc giả đọc ông xem đó là một bí mật cá nhân. Vì lý do này, không khỏi lạ lùng khi nhìn thấy một ông tổ sư của  sự cô độc lại được chào mừng ồn ào trên đườngphố hay là chủ đề thời thượng trên Twitter và có sách bán chạy nhất trênAmazon. Ông thường trú ngụ trong những lãnh vực yên tĩnh hơn.

Thơ của Tranströmer chịu ảnh hưởng truyền thống Nhật Bản và khởiđầu sự nghiệp ông đã làm thơ haiku. Đọc ông, độc giả cũng liên tưởng đến cácnhà thơ Hoa Kỳ như Charles Simic (khuynh hướng siêu thực) và Jim Harrison, GarySnyder, và W. S. Merwin (vì cách nói đơn giản và sự thông tuệ như công ánThiền). Nhưng Tranströmer có cách mê hoặc riêng, những thí dụ mãnh liệt nhất đếntrong tư tưởng tôi là âm nhạc của Arvo Pärt và những tấm ảnh chụp của SaulLeiter.  

Tôi bơi ra ngoài trong cơn mê muội
trên nước đen lấp lánh
Tiếng kèn tu ba đều đặn trôi vào
Đó là giọng người bạn: “Nhận huyệt mộ của bạn và bướcđi.” (Từ “Two Cities” Hai Thành Phố)
Thơ của ông chứa đựng sự đơn giản rất minh bạch; nó bànhtrướng cho đến khi nó đẩy cái bản ngã của bạn ra khỏi tổ ấm, và chỉ còn bạn,một mình với Sự Thật. Trong thơ của Tranströmer, bạn chiếm chỗ không gian mộtcách khác biệt; thân thể trở nên vật thể, tư tưởng trôi nổi, đồ vật có đờiriêng và kể cả những thứ không phải là vật thể, ngay cả quan niệm, đều có sựsống. Hồi ký của ông, “Ký Ức Ngắm Nhìn Tôi,” tạo cảm hứng cho tôi đặt tên cộtbáo hằng tuần tôi phụ trách cho tờ báo Nigeria NEXT (trong những năm cócột báo của tôi) “Chữ Nghĩa Theo Tôi.” Có rất nhiều thứ đi theo trong thơ của Tranströmer,ngắm nhìn nhiều, từ xa và ở gần, cây cối, quá khứ, nhà cửa, khoảng cách, cơn yênlặng, và ruộng đồng, tất cả đều đảm nhiệm vai trò người quan sát. Có rất nhiều giấc mơ. 

Tôi mơ tôi đã phác họa những phím đàn dương cầm
trên bàn trong bếp. Tôi nhấn phím đàn, không âm thanh.
Láng giềng đến xem. (Từ “Grief Gondola #2” Gondola ĐauBuồn số 2) 



                                                       
                                                        Tranh Salvador Dali


Thơ của Tranströmer được phiên dịch sang Anh ngữ rất nhiều (ngay cả khi không được phiên dịch, cho đến tuần này, là sách bán chạy nhất), cónhiều bản dịch khác nhau do nhiều dịch giả như May Swenson, Robin Fulton,Robin Robertson và nhiều người khác. Quyển thơ tôi thích nhất là “TheHalf-Finished Heaven (Thiên Đàng Dang Dở),” một tuyển tập do Robert Bly phiêndịch. Ngôn ngữ của Bly trong sáng và trực tiếp đến độ dường như đốt giai đoạn phiên dịch. Đây là tuyển tập tôi thường đọc nhất trong những năm kinh hoàng dưới thời Bush và Cheney, mặc dù là vào khoảng thời gian ấy, lòng tin vào ThượngĐế của tôi cũng phai mờ, tôi cảm thấy tôi cần, giữ vững niềm tin trong một đám nhân chứng. Tôi đã lạc lối rời xa giáo điều tôn giáo, nhưng cơn đói thèm một bài diễn văn nhiệm màu chưa nguôi ngoai. Những bài thơ huyền bí củaTranströmer, bay vần vũ ở bên cạnh bờ vực của những điều không thể nói thànhlời, gặp tôi ngay ở điểm chính của nhu cầu.

Tôi mở cánh cửa đầu tiên. phòng rộng đầy ánh sáng mặt trời. Xe nặng nề chạy bên ngoài làm đĩa bát run rẩy.
Tôi mở cánh cửa thứ hai. Bạn bè! Bạn uống chút bóngtối và trở nên hữu hình.
Cánh cửa thứ ba. Căn phòng khách sạn nhỏ hẹp. Nhìn ra ngõ hẽm. Ngọn đèn chiếu sáng mặt nhựa đường. Kinh nghiệm, chất phế thải của nó đẹp. (Từ “Elegy” Điếu Ca). 

Và, tác phẩm “The Scattered Congregation, Nhóm Người Tản Mác”gồm có năm phần ngắn, có những dòng thơ này:
Chúng tôi chuẩn bị khoe ngôi nhà. Người khách nghĩ:bạn sống sung sướng. Xóm tồi tàn phải nằm trong lòng bạn.
Nicodemus, kẻ mộng du đang trên đường đi đến Địa chỉ.Ai giữ Địa chỉ ấy? Không biết. Nhưng đó là nơi chúng ta sẽ đến.

Trong nhiều bài thơ có một sự bất lực, cảm giác bị cái gì đó lôi cuốn đi mà không thể kháng cự và cũng không nhìn thấy. Thơ ông có những nhận định về xã hội rất chua chát, cảm giác công lý bị thương tích (“khu tồi tàn phải nằm trong lòng bạn” – nhiều năm Tranströmer là chuyên gia tâm lý ở mộtcơ quan dành cho trẻ vị thành niên phạm pháp). Trong thơ ông cũng có vẻ bất động không thể phân biệt được với một tốc độ tuyệt nhanh, tương tự âm nhạc của ArvoPärt có thể cùng một lúc vừa nhanh vừa chậm. Cũng may là tôi không biết hỗ thẹnvề chuyện bị ảnh hưởng, bởi vì tôi nhận ra có rất nhiều quan niệm của Tranströmer tôi đã “gói” trong các tác phẩm của tôi. Khi tôi được hỏi điều gì tôi yêu thích nhất về New York ,tôi thường trả lời bằng một câu ngắn lấy từ trong Schubertiana”:

Bên ngoài thành phố New York, ở một chỗ trên cao nơi cái nhìn thoáng qua bạn thu vào những ngôi nhà nơi tám triệu người đang sống.

Những hình ảnh mà Tranströmer dùng để làm phong phú thơ của ông làm tôi nghĩ đến khái niệm “acheiropoieta,” “nghệ thuật sáng tạo không dung tay; trong nghệ thuật Byzantine, những hình ảnh được tạo ra mà không dùng tay là những hình ảnh người ta cho là chúng tự biến thành vật thể mà do họa sĩ vẽ nên.Tấm mạng Turin và tấm mạng Veronica là những thí dụ nổi tiếng nhất. Những hình ảnh này được ghi nhận bởi cách tiếp xúc trực tiếp, và chúng thường là hình ảnh Gương Mặt củaChúa. (Albrecht Dürer, trong thái độ thiếu khiêm tốn của ông, đã gián tiếp dung những phương pháp này khi ông ta vẽ điên cuồng chính diện thân thể trần truồng của ông vào năm 1500.) Tôi có cảm giác cách dùng hình ảnh của Tranströmer cũng giống như thế, và giống như cách in từ phim chụp ảnh mặt phụ (negative) hay mặtchính (positive). Không có chứng cớ cụ thể; mà thay vào đó là cái cảm giác của sựđến bất thình lình của vật đã hiện diện sẵn, như trường hợp con cá voi trồi lên để thở: khổng lồ, hân hoan, và mau kết thúc.

Sự thỏa mãn, thú vui, cảm giác dễ chịu người ta nhận được từ những bài thơ này ở chỗ chúng nó dường như đã hiện diện trước chúng ta. Hoặc có lẽ, nói một cách khác, sự nhiệm mầu nằm trong khả năng chúng có thể trình bày các khía cạnh của cuộc đời của chúng ta đã lâu năm bị chôn vùi dưới phong cách cá nhân, văn hóa, và ngôn ngữ. Những bài thơ nhớ đến chúng ta và, nếu chúng ta tuyệt đối giữ yên tĩnh, sẽ cho chúng ta cơ hội nhìn thấy bóng dáng của chúngta.

NTHH

Teju Cole: Nhà văn, sử gia nghệ thuật, nhiếp ảnh viên trênphố. Sinh ra ở Hoa Kỳ năm 1975, cha mẹ là người Nigeria, sống ở Brooklyn, tácgiả của hai tiểu thuyết, tiểu thuyết ngắn Every Day is for the Thief (Mỗi NgàyLà Một Kẻ Cắp), và một tiểu thuyết dài là Open City (Thành phố Mở). Cộng tácviên của Qarrtsiluni, Chimurenga, the New Yorker, Transition, Tin House, etc.Hiện đang viết một quyển ký về Lagos và Small Faté (Định Mệnh Nhỏ Bé). Giáo Sư ở Bard College (Khóa mùa Xuân 2012).
http://www.newyorker.com/online/blogs/books/2011/10/miracle-speech-tomas-transtromer-nobel-prize.html#ixzz1a2XAMAzS