Monday, January 24, 2022

TIN SÁCH


Như Phố Văn đã đưa tin:
Hiện nay Trẻ đã hoàn thành Tủ Sách trên mạng:
https://tusachtre.com/
 
Các thân hữu có thể giới thiệu sách (miễn phí)
đến độc giả 4 phương.
Xin cho địa chỉ mua sách (nhà riêng, hay email,
điện thoại tác giả), hoặc các đường link bán sách,
như Amazon, Barnes & Noble, ebay v.v...
 
Trong phần giới thiệu sách, cần:
1. hình tác giả và đôi dòng tiểu sử
2. hình bìa sách
3. số trang
4. bài viết hoặc ý kiến của bạn văn về cuốn sách v.v...
 
Xin thân hữu gởi email về : tusachtre@trenews.net
 
Đây sẽ là nơi họp mặt ấm cúng với những hứa hẹn tốt đẹp.
 
PV

 

 

Saturday, January 22, 2022

SINGAPORE: NGHỆ THUẬT TRANH TƯỜNG

Phan Tấn Hải
 
Chúng ta đã quen suy nghĩ rằng các Phố Tàu (Chinatown) có mặt trên khắp thế giới. Ngay tại Việt Nam, cũng có Chợ Lớn, một khu Phố Tàu độc đáo. Tuy nhiên, từ rất lâu đã có một cuộc cạnh tranh lặng lẽ: các phố Ấn Độ, nơi tập trung mọi thứ liên hệ tới đất nước và dân tộc Ấn Độ. Các phố Ấn Độ -- trong tiếng Anh gọi tên chung là Little India – cũng có mặt rất nhiều nơi trên thế giới, kể cả tại Hoa Kỳ.
Có một điểm ghi nhận rằng, Phố Tàu thường không nằm gần Phố Ấn Độ. Có thể vì mùi cà ri sẽ làm mùi thuốc Đông Y mất hiệu nghiệm? Hay vì áo xường xám của các thiếu nữ Thượng Hải sẽ bị các bộ saree rộng thùng thình của các mệnh phụ Bombay che bớt các mảng đùi xinh đẹp? Hay, có phải tư tưởng bất bạo động của ngài Gandhi dị ứng với những hô hào bạo động của họ Mao? Chỉ duy ở Singapore, Little India nằm ngay kế bên Chinatown. Một điểm độc đáo nữa: hai khu vực Ấn-Hoa này lại cùng chia sẻ một niềm vui nghệ thuật: tranh tường ở đường phố.
Tranh tường, là gốc chữ “mural” của tiếng Tây Ban Nha (Spanish), nghĩa là những gì gắn sát vào tường. Tuy rằng chữ “mural” chỉ mới sử dụng thịnh hành từ khởi đầu thế kỷ 20, nhưng nghệ thuật vẽ tranh tường có thể đã có từ thuở ông bà chúng ta sống trong hang động cả trăm ngàn năm về trước. Theo các nhà nhân chủng học, tranh vẽ lên vách hang động được tìm ra ở vùng Borneo thời xa xưa, khoảng các năm “40,000-52,000 BP” --- nghĩa là, trước Tây lịch khoảng 50 thiên niên kỷ.    
Tuy nhiên, Singapore là quốc gia non trẻ, thoát thân từ độc lập ra khỏi Anh quốc, rồi thời gian sau ra khỏi Malaysia. Ngày Singapore tuyên bố độc lập là ngày 9 tháng 8/1965. Dân số chỉ khoảng hơn 5.86 triệu người, tính vào năm 2020, nghĩa là, dân số bằng phân nửa dân số Sài Gòn. Trong khối dân số đó, 75.9% là người Hoa, 15% người Malay, 7.5% người Ấn Độ, 1.6% các sắc dân khác. Ngôn ngữ chính thức là 4 thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Malay, tiếng quan thoại (Mandarin), tiếng Tamil. Về tôn giáo, dân Singapore có: 31.1% theo Phật giáo, 20% vô thần, 18.9% Thiên chúa giáo các hệ phái, 15.6% Hồi giáo, 8.8% Lão giáo…
Và Singapore tiến bộ hơn Việt Nam xa lắm. Do vậy, người lao động từ nhiều nước đã rủ nhau tới Singapore làm việc. Trong khối hơn 5.6 triệu dân tại Singpore, có khoảng 1.3 triệu người nước ngoài tới làm việc; riêng ngành xây dựng là có 300,000 lao động nhập cư (việc nặng, lương thấp). Vậy thì, làm gì để hòa hợp lòng dân? Không thể dùng ngôn ngữ, vì họ dùng nhiều thứ tiếng. Thức ăn, mùi vị, âm nhạc của các nhóm dân đều khác nhau. Phố bên này chiếu phim Bollywood, thì phố bên kia chiếu phim Hồng Kông. Phố bên kia hát nhạc Hồ quảng, thì phố bên này chơi nhạc Bhangra. Bởi vậy, xích mích là bình thường. Bởi vì, căn cước Singapore là một phần Hoa, một Ấn, một phần Hồi giáo Malay, một phần Tây phương. Mà không thánh chiến mới hay. Do vậy, một tuyển tập thơ các tác giả Singapore nhan đề Rhythms: A Singaporean Millennial Anthology Of Poetry (ấn bản 2000), tất cả các bài thơ đều dịch và in trong 4 ngôn ngữ. Chữ thì hòa hợp hòa giải vất vả như thế.
Thế rồi tới một lúc, do cớ sự tình cờ, bạo loạn bùng nổ ngay ở khu vực Little India của Singapore. Hôm đó là ngày 8 tháng 12/2013, vào khoảng 9 giờ tối, một tai nạn giao thông xảy ra ở khu Little India: một xe buýt đụng chết một công nhân xây dựng người Ấn Độ tên là Sakthivel Kumarvelu, 33 tuổi. Đã tha hương cầu thực, vậy mà lại gặp nạn. Thế rồi 300 lao động nhập cư Ấn Độ túa ra, đập phá, ném đá, đốt xe trong vòng 2 giờ liền. Tới mửa đêm mới êm. Hàng trăm cảnh sát tới đàn áp, giải tán, bắt 27 người – trong đó 24 là lao động xuất khẩu từ Ấn Độ, 2 người là lao động xuất khẩu từ Bangladesh và một người là thường trú nhân Singapore. Thẩm vấn sau đó, chỉ giữ 24 anh gốc Ấn Độ để truy tố ra tòa, thả ba người còn lại. Singapore đã lộ ra những bất an phía sau mặt ngoài thiên đường. Bấy giờ đi lại trên phố cũng dè chừng, nhất là ban đêm.
Thế rồi, Sở Du Lịch (Singapore Tourism Board - STB) nghĩ ra một độc chiêu: vẽ tranh tường. Đó cũng là cách để ghi những hình ảnh đa dạng sắc dân lên tường, một cách để vinh danh sự có mặt của họ trong xã hội và kinh tế Singapore. Thêm nữa, cho dù có nhậu say, không ai nỡ đập phá các bức tranh tường. Đặc biệt nữa, không cần dịch ra nhiều ngôn ngữ làm chi, vì hình ảnh và màu sắc là ngôn ngữ phổ quát. Bởi vì màu sắc, hình ảnh là phi ngôn ngữ: chỉ có hội họa là vô ngôn, cũng là tiếng nói chung.  Thế là, tranh tường hiện ra để ghi hình ảnh di dân, hình ảnh cộng đồng, để nối kết mọi người rằng ai cũng có mặt, cùng trên những đường phố này. Tranh tường vẽ trên nhiều đường phố ở Little India, ở Chinatown, ngay cả ở các bờ tường ở công viên Somerset Skate Park, vẽ tranh tường ngay trong đường hầm dưới cầu Anderson Bridge, nơi gần bến Clarke Quay, vẽ tranh tường ngay trên các bờ tường nhà dân ở các khu dân cư Ang Mo Kio, Tiong Bahru… và nhiều nơi khác
Vào tháng 1/2015, Sở Du Lịch Singapore hợp tác với Đại Học Mỹ Thuật LASALLE College of the Arts hợp tác và khánh thành lễ hội có tên là ARTWALK Little India. Đi bộ mệt nghỉ, chưa ngắm hết các bức tranh tường. Lễ hội này về sau gọi đơn giản là ARTWALK, hàng năm tổ chức vào tháng 1 dương lịch, nhằm mời gọi du khách quốc tế.
Thống kê cho thấy, Lễ hội ARTWALK năm 2015 thu hút gần 70,000 du khách trong chương trình kéo dài 5 ngày. Thế rồi, Lễ hội ARTWALK năm 2018 thu hút khoảng 270,000 du khách với nhiều sự kiện trong chương trình kéo dài 10 ngày.
Sau đây là một số khu vực nổi tiếng về tranh tường tại Singapore.
.
CHINATOWN

Hình thành các cộng đồng Singapore - Tranh của Yip Yew Chong - Hình: Caburtyuk

  Tại Chinatown, một trong các tác phẩm tranh tường tuyệt vời nhất được vẽ trên tường của ngôi đền Thian Hock Keng (phiên âm tiếng Việt là: Thiên Phúc Cung), đền thờ Lão giáo, trên đường Amoy Street. Đền thờ này xây từ năm 1839, nghĩa là có tuổi hơn 180 năm. Bức tường vẽ tranh dài 40 mét. Họa sĩ vẽ công trình mỹ thuật này là Yip Yew Chong, chủ đề tranh tường này kể chuyện di dân Trung Hoa ban đầu đa số từ Phúc Kiến tới Singapore, những gian nan và đóng góp của họ.

 
LITTLE INDIA TOWN
.
Cảnh mua bán ở phố Little India
Tranh của Psyfool - Hình: Caburtyuk
 
Phố này có nhiều tranh tường, dọc theo các con đường như Belilios Lane, Clive Street, Kerbau Road và Hindoo Road. Tấm tranh tường nổi tiếng nhất trên đường Belilios Lane ở Singapore là tác phẩm của họa sĩ Psyfool, vẽ các hình ảnh thương mại thường gặp của những người di dân Ấn Độ nhiều thập niên trước tại Singapore.
.
KAMPONG GLAM
 
Em bé - Tranh của Nadia Alsagoff - Hình: Caburtyuk
 
 Khu vực này còn có tên là Muslim Quarter (Phố Hồi Giáo) của Singapore, với các ngôi nhà có từ thế kỷ 19, và nhà vừa là nơi mua bán, vừa là nhà ở. Thương mại trong khu phố hầu hết là sản phẩm liên hệ Hồi Giáo, tiệm ăn thực đơn Hồi giáo… Trong khu phố này có ngôi đền có mái vòm dát vàng tên là Sultan Mosque. Một tấm tranh tường khổng lồ trong khu phố Hồi Giáo là hình ảnh một em bé, họa phẩm của Nadia Alsagoff.
.
CHANDER ROAD
 
Vẽ cảnh người thợ trồng hoa
Tranh của Nadia Alsagoff - Hình: Caburtyuk
 
Con đường Chander cũng nằm trong khu phố Little India. Một tranh tường nổi tiếng trên đường này vẽ hình ảnh một anh thợ làm vườn gốc Ấn đang ngồi trồng cây hoa Jasmine (hoa nhài). Loài hoa này tại Ấn Độ có tên là Madan mogra, còn được gọi là 'Belle of India' (Vẻ Đẹp của Ấn Độ, cũng có thể dịch là Giấc Mơ của Ấn Độ). Tranh tường này do họs sĩ Nadiah Alsagoff vẽ.
.
BRAS BASAH BUGIS
 
Tranh vẽ chung của nhiều họa sĩ Singapore và Thái Lan
Hình: Caburtyuk
 
Khu phố này có nhiều di tích văn hóa của người sắc tộc Malay. Bạn sẽ không ngạc nhiên, khi nhớ rằng Singapore từng nằm trong liên bang Malaysia rồi sau đó mới tách ra khỏi Malaysia để thành quốc gia độc lập từ 1965.  Khu phố Bras Basah Bugis có nhiều bảo tàng viện, trong đó có National Museum of Singapore, Singapore Art Museum, Peranakan Museum và Singapore Philatelic Museum cũng như nhà thờ Armenian Church of St Gregory the Illuminator, thánh đường Cathedral of the Good Shepherd…
Trong khu phố đa dạng này, có con đường tên là Armenian Street, nơi tường là tấm tranh tường đầu tiên do Hội Đồng Di Sản Quốc Gia Singapore (National Heritage Board) đặt vẽ. Tranh tường này rất dài, nối qua nhiều tòa nhà, là vẽ chung bởi nhiều họa sĩ Singapore và Thái Lan.
.
Bạn đi nhiều nơi tại Hoa Kỳ, có thể gặp tranh tường ở New York, ở Philadelphia, ở San Francisco… Nhưng hẳn là chưa có cảm giác bước đi giữa một thành phố mà tranh tường nhiều tràn ngập như Singapore, kể cả dưới đường hầm xe chạy dưới cầu hay các vách tường công viên. Hiển nhiên, bên cạnh mưu kế kiếm tiền cho ngành du lịch, các nhà lãnh đạo Singapore cũng phải có một chính sách công nào đó về hội họa. Phải chăng tranh tường cũng là tạo ra việc làm cho các họa sĩ? Vì trước tháng giêng Lễ Hội ArtWalk hàng năm, là các họa sĩ lại phải sơn đi, phết lại cho rực rỡ, vì qua mấy tháng  mưa nắng là nhạt đi rồi. Hay là, các cặp tình nhân quốc tế sẽ tới chụp hình lưu niệm bên các tranh tường…
Nhưng các thế hệ trẻ lớn lên tại Singapore, khi nhìn thấy hình ảnh về các thế hệ đi trước -- người thợ Ấn Độ trồng hoa nhài trên vách tường trên đường Chander, hay những người Trung Hoa kéo xe được vẽ nơi vách tường ngôi đền Thiên Phúc Cung --- hẳn là cũng bùi ngùi nghĩ tới tiền nhân. Nước mắt và mồ hôi của nhiều sắc dân, nhiều thế hệ đã đổ xuống để xây dựng Singapore. Và rồi, họ cũng biến dần vào lịch sử, nơi trí nhớ trở thành một con số gọi chung cho nhiều người.
 
Phan Tấn Hải 

QUÊ HƯƠNG Ở ĐÂU?

Nguyễn Quang Chơn

Sài Gòn. Tranh Đặng Kim Long

Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn. Là đất tổ quê cha. Là nơi ta sinh ra, lớn lên, học hành, cùng nói một ngôn ngữ, cùng thưởng thức những món ăn quê nhà, những văn hoá địa phương…, quê hương là đó chớ đâu!…
 
Nói cho gần, quê hương là quê nhà. Xa hơn, quê hương là đất nước!…
 
Những năm 2000 tôi thường sang Mỹ vì các con tôi học hành bên đó. Gặp bạn bè Việt kiều sống tha hương, có người chưa một lần về lại quê nhà bởi công việc bề bộn và chẳng còn ai thân thích. Họ đã ổn định mọi mặt tại vùng đất mới này. Nhắc chuyện cũ, họ say sưa với những ngày tháng sinh viên sôi nổi hồn nhiên, và tránh nhắc lại những ngày tháng ủ dột sau 75, tránh nhắc lại những chuyến vượt biển gian nan về với tự do…
 
Những anh chị bè bạn thân quen là văn nghệ sĩ với trái tim nhạy cảm và tha thiết quê nhà. Họ cũng không muốn nhắc nhở về những năm tháng sau chiến tranh, những ngày đầu định cư xứ người. Họ có buồn nhớ quê cha đất tổ không? Chẳng ai nói với tôi nhưng tôi tự nghĩ, hằn sâu dưới đáy lòng, ẩn lấp dưới những tiếng cười hằng ngày, có lẽ là những giọt nước mắt nhớ quê!…
 
Tôi hỏi và đa số nói với tôi. Họ cám ơn đất nước đã cưu mang, bảo vệ họ, cho họ có quyền sống, quyền làm người, cơ hội công việc, phát triển năng lực, và đặc biệt con cái họ được học hành, được tôn trọng…Họ đã chọn nơi này làm quê hương: “Ở đâu có gia đình con cái, ở đó là quê hương!”…
…
Tôi không thích ứng được với xã hội Mỹ. Ở tối đa một tháng là tôi phải về lại VN. Thực phẩm, thời tiết, kỷ luật Mỹ, v.v… làm tôi mệt mỏi. Nhưng chỉ vài tháng, nhớ con, tôi lại bay qua. Có năm vợ chồng tôi đón Tết nguyên đán ở Cali cùng bọn trẻ nhưng tôi vẫn nghĩ, mình không thể rời được VN…
…
Một thời tuổi trẻ tôi học Sài Gòn. SG là quê hương thứ hai với những kỷ niệm đẹp của đời người. Ngày ba bắt tôi về Đà Nẵng học, tôi như kẻ mất hồn. Từ khu ký túc xá đại học BK, tiếng còi tàu xuôi Nam mỗi chiều rúc lên là lòng tôi rạo rực như muốn gởi cả hồn mình theo về phương ấy…
 
Rồi năm tháng trôi. Tôi lập gia đình, con cái, công việc…Sài Gòn vẫn mãi đi-về, nhưng SG không còn hấp dẫn tôi nữa. Đặc biệt khi tuổi đã cao. Vào SG xong việc là tôi bay về ngay, không thể chịu được cái ồn ào, ngột ngạt, cái thức ăn ngọt lịm của SG nữa…
 
Rồi con trai về lại VN, lấy vợ SG, làm việc SG. Rồi tôi có cháu kháu khỉnh xinh tươi, quấn ông nội không rời. Vậy là mươi ngày, một tháng, tôi lại có mặt SG. SG không còn làm cho tôi mệt mỏi vì khói bụi cộ xe, vì ồn ào phố xá, mà đem cho tôi niềm vui và hạnh phúc bên gia đình con trai, bên khuôn mặt thiên thần cháu nội. SG lại trở về trong tôi thành một quê hương!…
 
Tôi thấm thía lời bạn tôi bên Mỹ. Tôi không còn trách bạn tôi sao chẳng về quê. Bởi quê vẫn chỉ là nơi chứa đựng tình người, với gia đình con cái. Quê hương không đơn giản là bờ tre, ruộng lúa, căn nhà. Mà quê hương là sức sống của con người. Bóp nghẹt sự sống là nghiền nát quê hương. Còn dân tộc là vĩnh cửu . Quê hương có thể thay đổi nhưng dân tộc mãi trường tồn, hồn dân tộc là bất biến!…
 
Tôi đồng ý với bạn tôi. Ở đâu có gia đình, ở đó có quê hương!…
 
NGUYỄN QUANG CHƠN
20.1.22, cuối năm Tân Sửu
 

Friday, January 21, 2022

NHƠN CHUYỆN HALLEY

Tố Nghi
 
Sao chổi Halley dẫn đường Ba Vua
 
Tuồng Kouzina Politica, chiếu tại Phố Văn dạo nọ, kể chuyện cụ chủ tiệm tạp hóa hương liệu dạy khôn thằng cháu "nếu buộc phải nói, cứ nói về những chuyện không nhìn thấy, bị chúng hấp dẫn nhiều lần hơn những cái nhìn ra và nhìn rất rõ" - Qua tuổi teen, thằng cu còn được gái khuyên thêm "đừng nói với em ánh sao đang tỏa sáng trên bầu trời kia thực ra chỉ là dư âm của một thiên hà đã tắt" - Có lẽ vậy nên chuyện vũ trụ luôn là chuyện mơ huyền thiếu mạch lạc, nghe nó rồi sanh thắc thỏm, cùng lúc lại tò mò muốn nghe thêm. Thế là khởi đầu màn hấp dẫn phấn kích!
 
Bữa 6 tây tháng giêng, tui đớp Galettes des rois lấy sức hạ thông và đồ trang trí giáng sanh mang cất. Galettes des Rois là bánh truyền thống ăn trong dịp lễ Ba vua. Chuyện kể rằng... Ba vua được sao giáng sanh dẫn đường tới hang Bethlehem thờ lạy chúa hài đồng trong máng cỏ. Ngoài vàng hương mộc dược... nấu phở, ba ông còn mang theo cả bánh ngọt galette... tráng miệng. Ai ăn galette thì kinh thánh làm lơ, nhưng bảo đảm Hài đồng Jesus còn bú sữa, không ăn được vì răng cỏ chưa có. Còn chuyện sao chổi Halley dẫn đường ba vua thiệt hư hổng tường, biểu vậy biết vậy, chớ chắc thì hổng chắc.
Khi thiên văn học trở nên một ngành của khoa vật lý, chăm chỉ hướng viễn vọng kính lên trời ngó sao đặng tường trình khai báo cùng thế giới, thì “sao chổi học” biến thành nhánh riêng cho các thiên văn gia thích xách chổi chà quét nhà tìm... rác vũ trụ. Rồi đám sao kiếm ra được định danh định vị trong bảng phong thần theo thời điểm phát hiện đặng khỏi có màn lẫn lộn, sao nọ dẫm chơn lên sao kia, y chang kiểu “siêu sao nghệ thuật”. Chỉ thấy ở trái đất, sao nghệ thuật khác sao vũ trụ vì đã tiến hóa nên đực cái  phân miêng. Ngộ cái, sao nghệ thuật chỉ tuyền sao cái thôi nha, còn sao vũ trụ là sao trời nên chưa kịp... phân giống !
 
Sao trong hiểu biết bình thường của chúng ta là những điểm lấp lánh khi tối trời và tốt trời.
Sao theo định nghĩa thiên văn học, là định tinh phát ra ánh sáng, trung tâm của "hành tinh hệ - planetery system". Planets (hành tinh) có qũi đạo quay quanh mặt trời.
Thái dương hệ của chúng ta có sao mặt trời.
Trái đất là hành tinh trong Thái dương hệ.
Satellite (vệ tinh) có qũi đạo quay quanh hành tinh. Mật trăng là vệ tinh của trái đất.
Thái dương hệ ngoài hành tinh vệ tinh, còn hằng hà sa số các vật thể khác nhỏ hơn, asteroids, comets, meteroid... v.v, đếm hổng hết.
 
Thái dương hệ chia thành hai vùng : Vùng trong, inner space, gần mặt trời nên sáng và nóng, với 8 planets, trong đó chỉ Earth là có nước và có sự sống. Vùng ngoài, outer space, xa mật trời, tối và lạnh với 3 planets lùn, dwart planets vì kích thước nhỏ.
Comets, asterois, meteroids từ đám bụi đất tạp nhạp dư thừa tụ lại sau khi các planets đã thành hình, chúng cũng di chuyển trong qũi đạo riêng y chang planets. 
 
Comets được chia thành 2 nhóm theo độ lớn qũi đạo : Short periode có orbit dưới 200 năm, long periode có orbit trên 200 năm. Qũi đạo comets hầu như rộng, trài dài từ inner ra luôn tới sát bờ outer space, nơi tận cùng của vụ trụ. Do rộng vậy nên trên đường đi, comets còn bị ảnh hưởng bởi sức hút của các planets dọc đường.
Số lượng tìm ra tăng dần và tăng lẹ, hơn 5,200 comets được nhận diện. Nhiều vậy nên tên tuổi hẳn là khó nhớ. Rồi để đơn giản hóa, comet được nhận diện bằng mã code theo số thứ tự lúc làm khai sanh, Halley1P, Wirtanen 46P, Chouriomov-Guerassimenko 67P vv.. P viết tắt từ period hay periodic, hàm nghĩa theo chu kỳ, xài riêng cho short periode comets. Năm chu kỳ của 1P là 75, của 67P 6.5, của 46P 5.4 .v.v.
 
Khác asteroid, comet có thêm gaz và nước. Khi comet xa mặt trời (trong outer space) gaz và nước hoàn toàn ở thể rắn, comet như một trái banh tuyết bụi bặm, a dirty snowball. Chừng tiến gần tới mặt trời thì trái banh ấy nóng lên như núi lửa hoạt động, gaz và nước đang ở thể cứng bổng “thăng hoa” biến thẳng thành hơi. Đám hơi ấy bao quanh comet, kêu bằng vòng “coma”. Khi comet di chuyển, coma bị kéo dài thành cái đuôi phía sau như cán chổi - nên được người mình định danh là "sao chổi"
 
Rất có thể chỉ trái đất mới có nước và có sự sống, vậy sự sống trái đất ở đâu ra và bắt đầu từ lúc nào ?
Hỏi xong, đám khoa học (thiên văn, vật lý, sinh học, sinh hóa...) mới chụm đầu bàn bạc, rằng nếu  comets cũng có nước như trái đất, thì có lẽ comets là phần tử của solar system còn sơ khai chưa kịp tiến hóa như các planets chăng? Thành ra... nghiên cứu comets rất có thể sẽ là chìa khóa để mở ra cánh cửa bí mật của sự sống và vũ trụ.
Rồi nhơn loại dùng hoả tiễn mang phi thuyền (tức vệ tinh nhơn tạo) chứa máy móc kỹ thuật (và cả người) lên không gian để quan sát chụp hình gởi về trái đất. Chương trình thám hiểm không gian trở thành cuộc chạy đua của các đại cường nhằm khẳng định đẳng cấp và vị trí với toàn thế giới.
 
*
 
Rosetta - Mission Impossible.
Năm 1993, thành hình Cơ quan không gian liên hiệp âu châu ESA với 17 quốc gia do 5 nước lớn dẫn đầu (tính theo khả năng góp nhân lực và vật lực) pháp, đức, anh, ý, tây ban nha (không có nga xô).
ESA đưa phi thuyền lên không gian bằng hoả tiến Ariane của pháp, phóng từ trung tâm không gian Guiana ở Kourou, trong vùng French Guiana, lảnh thổ liên hiệp pháp tại nam mỹ
 
Rosetta thám hiểm 67P, phi vụ sao chổi đầu tiên của nhơn loại, do tổ chức khoa học không gian âu châu ESA chủ xướng. Là một phòng thí nghiệm cao cấp, hoạt động bằng năng lượng mật trời với 11 máy móc tối tân, Rosetta sẽ bay quanh comet, chụp hình thu lượm phân chất tổng hợp những dữ kiện khoa học và các thay đổi hoạt động của 67P khi tiến gần mặt trời để gởi về tổng hành dinh ESA dười đất.
Đặc biệt Rosetta còn thả xuống Philae và để luôn lại trên mật 67P. Philae là một phòng thí nghiệm nhỏ, cũng hoạt động bằng năng lượng mật trời. Tại chỗ, Philae đào đất đá và hít thở "khí trời", phân chất lượng phẩm rồi gởi lên Rosetta đang bay lòng vòng bên trên. Philae còn sẽ đi cùng với 67P tới gần mật trời, để ghi nhận những thay đổi hoạt động của comet dưới sức nóng mật trời  v.v. Tất cả các dữ liệu thu thập được sẽ gởi cho Rosetta chuyển về tổng hành dinh ESA dười đất.
 
Sứ mệnh của Rosetta ngó chừng quá lớn.
Không như thiếu phụ Nam Xương đất việt hiền hòa ẵm con lẳng lặng chờ chồng. Thiếu phụ Nam Xương trời âu nai nịt gọn gàng, cõng thằng Philae vượt đường dài đúng kế hoạch bài bản : Trước tiên kiếm cho ra ông 67P để trao con, rồi dặn chừng thằng cu theo sát bố, nhứt cử nhứt động méc lợi cho mẹ đặng bà còn kịp thời... tạt át xít
ESA đưa Rosetta lên, cho dong ruổi 10 năm dằng dặc, vượt 6.4 tỉ cây số (billions kilometers) mới tóm được bạc tình lang 67P lúc chàng vào inner space, sửa soạn tới điểm hẹn gặp gỡ Thái dương thần nữ tình nương.
 
ESA dự thảo chương trình rất chu đáo. Khi ra ngoài không gian,  Rosetta thu năng lượng mặt trời, cắm cúi nhắm hướng chạy miết. Trên đoạn đường thiên lý ấy, trong những dịp "flyby" tới gần 1 thiên thể khác (trái đất, hoả tinh, asteroid...) ESA cho bà Rosetta làm màn "gravity assist", nghĩa là "trượt" trên lực hút của thiên thể ấy mà lấy đà, để hoặc gia tăng vận tốc hoăc điều chỉnh chánh xác hướng đi.
Chạy một chập 7 năm dài ngó chừng đâu đó ổn thoả, ESA theo đúng thảo chương, bật nút OFF cho Rosetta ngủ dưỡng sức bảo toàn năng lượng, một giấc ngủ dài hơn 2 năm, để bà cứ thế thong thả xuôi dòng trôi dần. Mãi khi tới gần qũi đạo 67P thì Rosetta thức dậy - tằng hằng một tiếng thị uy cho đám ESA dưới kia nhẩy cẫng reo hò -
 
Lọt vào qũi đạo 67P rồi, Rosetta trước tiên tiến gần bạc tình lang chụp hình túi bụi coi dung nhan long thể thế nào, xong lòng vòng tìm chỗ nắng ấm đặng thả thằng Philae xuống, nhờ nó hành nghề gián điệp thu thập tin tức.
Ngờ đâu, mưu sự tại nhơn mà thành sự tại thiên, bà Rosetta lúc thảy thằng Philae xuống, do stress quá xá stress nên sanh lọng cọng, thằng bé lăn kềnh ra, tưng lên vài bận, xong rớt xuống bất động, head trauma nặng nề, thế là nó lăn ra hấp hối !
Đây hẳn là ý trời - hoặc do thiên vị thần nữ Thái dương, hoặc muốn tránh trận uýnh ghen kinh thiên động địa có lẽ -  nên dzồi... cuộc gập gỡ trăng hoa giữa ông 67P và cô Thái Dương đã kín như bưng, không hé lộ mảy may dấu vết. Trong inner space sau đó, ESA vẫn để bà Nam Xương bay lòng vòng quanh bạc tình lang mần màn hy vọng.
 
Khi 67P rời inner để ra lại outer space 2 năm sau, thì mission Rosetta đi vào kết thúc, Rosetta theo đúng dự trù được khai tử, chấm dứt luôn mối tình vô vọng khổ đau.
Thoạt tiên ESA định cho Rosetta nổ cái đùng, cháy thành tro bụi ngoài không gian. Nhưng rồi có lẽ còn ấm ức và thương tiếc đứa con vắn số, nên họ tính toán để bà chết đoàn tụ cạnh con. Thiếu phụ Nam Xương tiến gần tới 67P, chụp hình ảnh gởi dzìa cho trái đất thấu đáo dung nhan đứa bạc tình sau cữ... coffee-intake. Tới đúng ngày giờ trợ tử, thay vì tắt máy "rơi tự do", bà Nam Xương thả thắng nhấp ga, mần màn "kamikaze" lao thẳng xuống, cốt để đo lường chuyện cọ sát - đằng nào cũng chết vì tình thì phải chết cách nào cho đứa bạc bẽo nọ không trầy cũng sứt... cả bình lẫn phin, một cú sứt ngoạn mục để nó khỏi cà phê cà pháo gì được sất nữa -
 
Trong lô hình ảnh gởi về trái đất chụp trước kamikaze, ESA nhìn ra được bia mộ của thằng Philae. Nó nằm lăn chiêng trong một hóc bà tó, tối thui thiếu ánh mặt trời. Thảo nào nó chẳng chết thảm sau 57 giờ hạ cánh. Trong 57 giờ ấy, Philae đã hoàn tất 80% sứ mệnh được giao phó, bằng năng lượng dự trữ sẵn trong bình ắc qui riêng, trong khi chờ bình sơ cua upload năng lượng mật trời từ đôi cánh thép. Chẳng may ra ánh mật trời đã không tới !
Bà Nam xương chết cái chết oanh liệt anh thư nữ kiệt. Những data thu thập từ sứ mệnh lịch sử của bà và thằng bé con sẽ được trung tâm không gian âu châu ESA khảo cứu tìm tòi, có thể là dài dài trong cả thập niên tới. Theo tin tức tiết lộ từ ESA, thì những data này là của chung nhơn loại. ESA chỉ giữ  nó trong 6 tháng, rồi sẽ mở kho cho thế giới thong thả xài chung
 
Phi vụ Rosetta kéo dài 12 năm (2004-2016) chưa kể thời gian tính toán, hoạch định, dự trù, soạn thảo chương trình trước đó. Chi phí tốn kém sau cùng lên tới 1.3 tỷ euro (1.8 tỷ mỹ kim), để tìm ra những kết quả sau đây về sao chổi 67P :
1. 67P có 2 thùy phình ra ở hai đầu, hình dạng giống trái đậu phọng.
2. Đất của nó mềm chớ hổng cứng.
3. Chứa  glycine và phosphorus, hai tiền chất của aminoacids. Aminoacids tổng hợp thành protein, chất cơ bổn của sanh vật.
4. Nhưng... nước của 67P là nước nặng deuterium H2O2, không như nước trái đất H2O.
 
Tới nay, không rõ, chưa rõ những khám phá này sẽ ứng dụng cách nào trong khoa học xã hội nhơn văn, nhưng chắc chắn 1.8 tỷ mỹ kim chi ra ấy sẽ giúp ích rất nhiều cho các nước đói nghèo của thế giới thứ ba.
Cuộc chạy đua vào không gian nay còn có thêm tàu cộng góp mặt - nghe nói chúng đã gởi lên để lại ở mặt trăng sau (khúc khuất chìm trong tối) một gói chi đó cốt... lấy tiếng -
Cao hơn và xa hơn, hoả tinh chừ là hướng nhắm của các chương trình thám hiểm không gian hiện nay trên thế giới.
 
*
 
Với bà Rosetta tui có chút tình riêng.
Năm 2004 tía trở bịnh nặng, mỗi bữa qúi nữ vào nhà thương đút ăn, mở TV entertain thân phụ, trùng lúc ESA sửa soạn phi vụ Rosetta. Đài âu châu chỉ toàn tin tức chi tiết đường đi nước bước của Rosetta thôi, vì nếu thành công sẽ là niềm tự hào chung của toàn Liên hiệp châu âu. Dĩ nhiên là tía không hiểu nếu không có phụ đề việt ngữ của qúi nữ.  Nghe là nghe vậy chớ thiệt sự hổng rõ ông có thích nghe và thấu đáo được bao nhiêu phần. Rosetta theo dự trù sẽ kết thúc 10 năm sau đó.
Nhớ có lần ông độ chừng "hồi Rosetta tới điểm hẹn chắc là tía không còn". Mà ông không còn thiệt. Tía mất năm 2007, khi bà Rosetta còn lơ lửng đẩu đâu, đang trượt tới trượt lui trên sức hút của các thiên thể đọc đường mần màn gia tốc và nhắm hướng.
 
Theo cùng cái chết của bà Rosetta, một chương đời với tía đóng lợi, và ngàn nỗi ngậm ngùi.
Tin Ariane 5 đưa James Webb vào vũ trụ ngay tối giáng sanh 2021 thinh không làm bùng dậy tro tàn quá khứ. Kỷ niệm với tía ào ạt trở về.
Cuộc sống vẫn trôi, nhưng kỷ niệm sẽ sống mãi. I miss you, daddy. I really do.... !
TỔ NGHI
  

Thursday, January 20, 2022

C U Ố I N Ă M, B Ộ H À N H

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh Van Gogh
 
năm cùng
thả bộ
trầm
ngâm
bước chân như thể vết cầm hoang
xưa
nghe ta cây cỏ sái mùa
vàng hoe một ánh xuân
vừa gợn xanh
chao ơi vạt gió lung cành
mấy mươi rồi nhỉ
dăm thành khói sương
vận cùng
nước chẳng khai mương
khua đâu mạch sống
nửa đường
chắt
chiu
mộng về
chừng đã hắt hiu
với tâm thương tật sớm chiều ngụy trang
thôi
đêm với bóng
                       tan hàng
nhủ ta xuân biếc
lầm than cội tình.
 
HOÀNG XUÂN SƠN
TànniênNhâmNgọ 

Monday, January 17, 2022

MỘT NƠI ĐỂ VỀ

Đặng Mai Lan
 
Chân dung Trần Hoài Thư. Đinh Cường vẽ

Tôi lấy cuốn sách ra khỏi bao thư. Gáy bìa của tập sách gần như phẳng, dẹp vì bị tách làm hai. Chưa thấy có dấu hiệu những trang giấy sẽ bung ra. Nhưng tôi đã gấp nó lại, để trên sách một cái ly bằng sứ được dùng để cắm những cây bút. Trọng lượng của cái ly đủ giúp cuốn sách khép kín như lúc nó vừa được hoàn tất từ những máy móc, dụng cụ thủ công, từ hai bàn tay và sức lực của chỉ một người.
Phong thư màu vàng, thứ màu có vẻ đặc trưng của ngành viễn thông bưu chính Hoa Kỳ. Hai mảnh kim loại nhìn như  hai nhánh của cánh hoa dầu. Chúng mỏng, mềm và rắn đủ có thể đặt xuyên qua một cái lỗ tròn, nhấc lên hạ xuống khi cần đóng hay mở phong bì mà không bị gẫy gập. Những bao thư đã vượt qua bao nhiêu trời biển mênh mông mới tới nơi tôi ở. Từ Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng rồi đến Nguyễn Mộng Giác. Những cây cao bóng cả trong ngôi làng Văn Học Việt Nam nay đã khuất bóng. Có người hẳn nằm sâu trong đất ngắm sao trời nghiệm lại triệu điều không hiểu của thế giới, người lơ lửng trên mây, người thả hồn xuôi về giòng Sông Côn Mùa Lũ (1) … 
Và bây giờ tới phiên anh. Chỉ khác là bao thư ngày đó xinh xắn, nhỏ nhắn, vừa để bỏ vào một cuốn sách. Thư tôi nhận hôm nay to gấp đôi vì sách không là sách nữa. Nó mang tấm áo của hồ sơ, văn thư. Văn chương đôi khi phải trá hình để qua cái ải "kim tiền".
Nhìn chữ first class và mẩu giấy in số tiền cước phí của bưu điện chợt thấy nao nao buồn, cơ hồ một niềm cảm động. Cũng là một bài viết, một tạp chí được biếu tặng như những ngày xưa. Nhưng xưa và nay tự nó đã khác. Những tình cảm lại càng khác xa hơn. Ngày xưa nhận báo vì có đăng bài viết của mình, hay dẫu không có bài, tôi cũng vẫn nhận được hàng tháng. Đó là một thứ nhuận bút tinh thần, chủ bút tỏ lòng cùng người cộng tác thường xuyên. Có lẽ vì thế mà lòng chẳng mấy băn khoăn. Chỉ vui khi thấy bài mình xuất hiện. Còn bây giờ sao tôi lại nâng niu cuốn sách và để ý đến cả giá tiền tem gửi.
Khi được mời đi ăn bao giờ tôi cũng lựa một món ăn nào không đắt lắm vì e ngại, không muốn tốn tiền của người mời. Chẳng lẽ cái tính tiết kiệm dùm người cũng được áp dụng trong trường hợp này chăng? Có đáng gì đâu, tôi nhủ lòng nhưng sao cứ thấy nằng nặng một nỗi ưu tư.

Xưa, mỗi khi nhận báo, mở ra đọc, tôi thường đi tìm bài của các nhà văn nữ đọc trước, háo hức xem họ viết gì. Bình thường thôi, vì tôi cũng là một người viết nữ, lại mới bước vào thế giới chữ nghĩa. Đương nhiên, tôi đọc không sót một tác giả nào. Vòng giao tiếp của tôi trong văn giới cũng không nhiều. Kể như tôi không quen anh, nhưng tên anh thì tôi nhớ rõ qua những trang báo. Một cái tên đọc lên, nghe êm đềm, chứa chan tình cảm.
Thời đó, có lẽ theo ước định giá cả của nhà in, người chủ trương làm những tạp chí văn học bắt buộc phải in một số lớn. Báo được phân phối cho những nhà sách phát hành và báo sống được phần nào có lẽ nhờ số độc giả mua báo định kỳ. Nhưng cuối cùng vẫn phải đình bản. Cùng với nhiều nguyên nhân khác, nhưng lý do chính  là số lượng phải in quá nhiều mà độc giả thì càng ngày càng thưa thớt.
Thời này, chuyện in ấn sách báo dễ dàng hơn trước rất nhiều. Người đọc có thể ngồi nhà mua báo qua mạng internet. Độc giả mua cuốn nào thì nhà ấn hành in cuốn nấy. Chẳng cần phải ôm hàng đống sách đi giao cho từng nhà sách, hoặc chồng chất ở nhà. Nên nhiều tạp chí xuất hiện trở lại trên văn đàn. Những tạp chí có bìa màu bắt mắt với những bức tranh của các hoạ sĩ tài danh. Trăm hoa lại đua nở trong những trang sách đẹp vì kỹ thuật in ấn tân kỳ. Sao anh không làm theo cách đó, sao anh chọn những cực nhọc, cực kỳ tỉ mỉ?
Một người bạn, một ngôi sao mới đang sáng rực trên bầu trời Văn Học. Từ báo giấy cho tới báo mạng, báo nào cũng có sự góp mặt của cô. Như một chiến sĩ hào hùng, đang tham chiến trên khắp cùng mặt trận. Bạn đã từng giới thiệu báo này báo nọ, rủ tôi gửi bài cùng góp mặt với nhau cho vui. Nghe xong tôi chỉ cười thối thác rằng tôi lười lắm. Tôi không quen biết những vị chủ bút, lại phải "thưa ông, thưa bà" mà lâu rồi tôi rất ngại chuyện thưa thốt. Thời gian, tuổi tác dường như làm tôi co cụm lại.
Ra biển gọi thầm, tựa của một truyện ngắn hiện ngay trong đầu khi nghe cô bạn nhắc tới anh. Nói điều này anh nghe chắc anh buồn vì tôi chỉ nhớ cái tựa, nội dung của câu chuyện tác giả kể ra không thể nào tôi nhớ nổi.
Đã bảo ngày ấy, tôi chỉ quan tâm đến những cây bút nữ. Bây giờ nhớ tới anh, như tìm thấy lại một người quen. Không hiểu sao tôi lại có cảm giác như thế. Thứ tình cảm ấm áp khiến tôi gạt hết những cân nhắc ngại ngùng thưa ông, thưa anh thường có trong những thư đầu gửi cho ai đó, chưa lần gặp mặt, thiết thân.
Dear anh, đó là hai chữ đầu tiên tôi gõ trong điện thư gửi anh. Sống lâu nơi quê người,  cách nói năng trò chuyện đôi khi tôi phải dùng thêm những từ ngữ của xứ sở mình đang sống vì nó có thể diễn đạt nhanh chóng điều muốn nói với người đối thoại, hoặc chưa tìm ra tiếng mẹ đẻ nào cho trọn nghĩa. Nhưng khi viết thì lại khác, tôi luôn cố gắng tránh dùng tiếng Pháp. Song cũng có trường hợp ngoại lệ, khỏi mất công bỏ dấu tôi mới phải xen vào vài từ Anh, Pháp để gõ cho nhanh. Nhưng chữ "dear" tôi dùng hôm nay thật là tuyệt diệu. Thân, thương, quý, mến đều nằm trong từ ngữ đó. Không quá cung kính, chẳng màu mè. Lời hay ý đẹp chắc gì nói lên được những tình cảm, đôi khi lại trở thành khách sáo. Điều này thể hiện trong vài câu chữ ngắn ngủi anh gửi cho tôi khi nhận bài viết đầu tiên.
Hên quá ! Không ngờ gần cuối cuộc đời lại tìm gặp nhau.
Chữ "hên" của anh làm tôi bật cười. Tưởng tượng anh đang loay hoay tìm bài chuẩn bị cho một số báo thì bất ngờ nhìn thấy tên tôi hiện trên hộp thư điện tử của anh. Anh quá đổi ngạc nhiên, mừng rỡ mới thốt lên như thế. Và tên tôi có lẽ cũng gợi trong lòng anh một tương quan thân thiết nên mới có câu gần cuối cuộc đời lại tìm gặp nhau.
Anh nói cũng đúng thôi, chúng tôi chỉ gặp nhau bằng chữ trên những trang báo ngày xưa, những dặm đời đã lắc-lơ xa. Mới đầu nghe vui vui, nhưng lắng lòng lại mới thấy thương bốn chữ gần cuối cuộc đời.
Tôi bắt đầu đọc trang nhà của Thư Quán Bản Thảo.
Kẻ sĩ ngày xưa thắp đèn đọc sách trong đêm và ngủ quên trên những trang sách thơm ở một hiên trăng mộng mị. Thư Quán Bản Thảo ngày nay có người đàn ông gầy gò, tóc trắng như lau bước trên những bậc thang từ một căn phòng nào đó dưới nhà. Trên tay ông là những cuốn sách đã cặm cụi trong những đêm khuya, gõ từng con chữ, in từng trang giấy, chăm chút qua nhiều công đoạn... Sách theo ông vào giấc ngủ. Sáng thức sớm còn thấy sách nằm ngoan trên ngực và trái tim ông bật lên những nhịp đập nhẹ nhàng hạnh phúc. Tôi đã nhìn thấy Trần Hoài Thư như thế, qua hình ảnh, qua những lời chữ câu văn anh chia sẻ cùng thân hữu.
Chữ theo anh phiêu bạt rày đây mai đó, từ thời thanh niên trai trẻ gian nan nơi những chiến trường, vất vưởng lam lũ sau ngày oan khốc tù tội và cho đến bây giờ. Chữ rù quến mời gọi cả người phụ nữ bên anh nhập cuộc. Tình chữ và tình nghĩa tào khang của anh chị đã biết bao nhiêu người nhắc đến. Tôi có viết thêm cũng bằng thừa, và viết bao nhiêu cho đủ. Chỉ là một người quen, chưa lần gặp mặt. Nhưng lòng tôi chùng xuống thương anh khi đọc những bài thơ-văn anh viết cho vợ. Có nhiệm mầu nào giúp chị bình phục để đọc được, hiểu thấu những gì anh viết. Đó là mơ ước của tôi.

Cuốn tạp chí được tôi đọc chậm chạp từng câu, từng chữ. Đọc rốt ráo đến trang cuối cùng mới nhận ra một điều đã từ lâu biến mất trong cuộc sống tôi. Tình cảm, lòng quý trọng cho anh, cho chị đã đành. Đời này mấy ai có được tấm lòng tận tuỵ với văn chương chữ nghĩa như anh chị. Nhưng đâu chỉ có thế. Sao những bài văn thơ của bao nhiêu thập niên trước, khoảng thời gian tôi còn ngờ nghệch thơ ngây lại làm tôi cảm thấy thú vị, mê say. Tôi đọc, như một người chưa bao giờ cầm được một cuốn sách trong tay. Truyện dù vui dù buồn vẫn đọng lại trong tôi một nỗi bùi ngùi. Buồn như một giấc mơ đêm nào thấy mình trở về ngôi nhà cũ. Ngôi nhà tôi đã sống từ ấu thơ cho đến trưởng thành. Chỉ là một con ngõ im, một vuông sân tối mà lòng chợt thẩn thờ khi tỉnh giấc.
Lưu lạc quê người, bất cứ những hoài niệm thương tưởng nào về cố hương  có lẽ đều thu gọn vào hai chữ  nhớ nhà. Và nỗi nhớ ấy chỉ hiện thực sừng sững trong tôi khi gia đình ở Sài Gòn quyết định bán ngôi nhà trong khu phố sầm uất, về sống ở một vùng ngoại ô yên tĩnh. Nơi có công viên cây cỏ, không khí trong lành để mẹ tôi có thể dạo chơi mỗi sáng mỗi chiều dù bà chỉ ngồi trên xe lăn cho con cháu đẩy. Tôi sẽ  không còn dịp nào bước chân trên thềm nhà niên thiếu. Nó đã mất, vĩnh viễn. Nhưng còn một cái mất khác to lớn hơn là khi mẹ tôi qua đời. Còn mẹ, là còn đau đáu niềm mong muốn trở về, còn giấc mơ hồi hương. Quê hương đã xa, giờ còn xa hơn nữa. Mẹ tôi ra đi mang theo tất cả. Sự mất mát, nỗi chia lìa mơ hồ nhưng váng vất trong tôi những trầm tư u uất.
Dạo sau này tôi hay nhớ về quá khứ. Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt, Biên Hoà, Lái Thiêu. Tuổi trẻ của những đứa con gái lớn lên nơi đô thị bình yên trong một đất nước chiến tranh nào có được đi xa. Cố hương, kỷ niệm của tôi chỉ có từng ấy để nhớ về.
Bây giờ là Tuy Hoà, Bồng Sơn, Kontum, Quảng Ngãi… những con đường quốc lộ  mịt mù nắng bụi, phố chợ đìu hiu. Những bờ lau, bãi sậy, đồng ruộng xác xơ. Những cánh rừng nám khô vì bom đạn. Đêm mưa nơi lưng đèo, sương mù giăng đỉnh núi. Tình yêu hạnh phúc, sự bất hạnh gian nan của tuổi trẻ trong chiến tranh và những điều phi lý… Tôi đang lần từng bước qua bao miền đất nước, thao thiết cùng tâm tư của những thế hệ đàn anh, đàn chị. Họ nghĩ gì, họ đã sống ra sao được hiển hiện nơi từng con chữ quá khứ trên Thư Quán Bản Thảo. Quê hương đâu phải chỉ có ngôi nhà, ngoại ô êm ả và những con phố xanh ngọc hoa niên mà tôi đã sống.
 Phải chăng sau những mất mát cá biệt, tinh thần liêu xiêu hụt hẫng và ý niệm về một tổ quốc chia lìa nên không gian-thời gian, câu chuyện của những người viết năm xưa như những chuyến xe văn chương đưa tôi về bao nơi chốn chưa từng đến và có lẽ sẽ chẳng bao giờ. Tại sao tôi cảm thấy gần gũi thân thương khi đọc những gì họ viết. Khó mà diễn giải được hiện tượng tâm lý này.
Họ bây giờ ở đâu? Người còn, kẻ mất. Có người đã ngừng viết, có người vẫn miệt mài chữ nghĩa.
 
Cái bóng in trên vách
Bóng nào, xưa hay nay
Hôm qua soi đường trăng
Hôm nay soi trang giấy (2)
 
Bóng của anh với từng trang giấy. Từng trang đời mà đa phần là đời của những người lính. Thời đại của các anh mấy ai tránh được đoạn trường binh lửa. Những người lính mà thế hệ chúng tôi phải mang ơn. Trong đó có người lính Trần Hoài Thư. Người đang tận tuỵ đốt lò hương cũ, nhóm lại củi than bằng hữu của một thời điêu linh khốn khó.

Tôi phải nói gì với anh, việc "gìn vàng giữ ngọc" anh đang làm. Nói gì về món quà tặng bằng sức lực, khối óc, tâm huyết của anh. Nói gì về những trang chữ đã như một nơi để tôi về tìm lại quê nhà. Lời cám ơn chưa đủ. Nhưng nói gì hơn nữa? Tôi không biết.
Không cũng là vô, vô cùng, không cùng !
 
ĐẶNG MAI LAN
 
1/ Sông Côn Mùa Lũ ( Nguyễn Mộng Giác)
2/ Đêm Khâu Sách ( Thơ Trần Hoài Thư)
 

Sunday, January 16, 2022

THƠ CHO ĐINH CƯỜNG

nguyễnxuânthiệp
 
Tranh Đinh Trường Chinh
 
tiếng còi tàu đã tắt. chiều rơi
con chim màu đỏ không về nữa
bóng người đội chiếc mũ xanh. đã khuất.
                                                sau rừng thông
tiếng gió
không quán cà phê starbucks
chỉ có những trang thơ. nhóm lên đống lửa.
                                                    của một thời
sưởi ấm
ôi. đinh cường. bạn tôi
 
Khi ở Garland. đầu năm 2019
NXT