Friday, July 24, 2020

TỪ CHÂU LIÊM ĐẾN NGUYỄN XUÂN THIỆP

hoàng lâm

NXT

Từ những năm của thập niên 50 , Nguyễn Xuân Thiệp đã có thơ đăng trên các tạp chí ĐỜI MỚI, NHÂN LOẠI, THẨM MỸ… với bút hiệu CHÂU LIÊM. Lúc này có một dòng thơ với hiện cảnh núi rừng hoặc đồng nội, một phần ảnh hưởng của QUANG DŨNG thời kháng chiến nhưng lại ít có khí thế biên tái hào hùng mà chỉ đượm chất lãng mạn mông lung. Có thể kể đến những thi sĩ đồng thời với ông như ĐỖ HỮU, DUY NĂNG, THẾ VIÊN… thường xuyên góp mặt với các bài thơ phần lớn bây giờ không được nhiều người nhớ đến. Tuy vậy, vẫn có một ít tác phẩm mà người yêu thơ hân thưởng như Chiều Việt Bắc, Sầu Ai Lao của ĐỖ HỮU… Trong số đó có bài THÁP NẮNG của CHÂU LIÊM được  nhà thơ HUY TRÂM ca ngợi trong tập biên luận, được giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1959 với tựa đề “ Những Dòng Châu Ngọc Trong Thi Ca Hiện Đại “.

THÁP NẮNG

Dừng chân nơi biên cương
Ngút trời nắng lửa
Đá dựng thành trì ngăn đại dương
Lối về bụi đổ
Núi tiếp mây trời xây tháp nắng dặm trường!
Dừng đây sau bóng núi
Dăm kẻ không nhà mơ cố hương
Gạch, đá ngậm ngùi phơi đổ nát
Ngói đỏ giờ ai xây
Như môi cười say tiếng hát
Nơi đây:
Suối độc - Rừng sâu
Nắng trưa ngời khoé mắt
Có người tay đã nâng cao
Tình đằm sương gió
Ánh thép nở hoa bừng lửa đỏ
Tiếng đục dậy lên đường
Tháp nắng rưng rưng ngùi trông bốn phương
Ôi! tháp nắng muôn trùng
Chiều xưa qua đây câu ca trên môi còn rung
Chiều nay qua đây lòng say yêu thương
Tháp nắng lưng trời!
Ôi! lửa sáng đại dương.

Tạp chí ĐỜI MỚI, 1954


Thơ của CHÂU LIÊM xuất hiện ở giai đoạn này trên các tạp chí kể trên mang nét buồn man mác với thi cảnh và thi ngữ đậm chất lãng mạn. Chúng ta thử đọc thêm một bài thơ nữa của ông ( do chính tác giả còn giữ và gởi đến).

NẮNG VÀNG

Nắng lịm trưa nay vàng đậm quá
dịu hiền như nắng vợi chiều xưa
có con bướm nhỏ vàng đôi cánh
chập chờn trên dậu nắng rơi thưa
từ nghe xóm cũ buồn ghê lắm
tôi đã về đây suốt mấy mùa
hồn quê đồng nội chừng chua xót
mà kiếp thân tàn theo gió mưa
súng dậy bốn bề say máu lửa
nắng chảy trời ơi xuống liếp dừa
đồng nội trưa ni buồn quạnh quẽ
tiếng gà đã bặt lối thôn xưa
tôi về nhặt nắng hàng cau ấy
mà liệm chôn vào đôi nét thơ
người nhé nắng vàng rồi sẽ tắt
con đò neo đậu bến sông mô
1953

Sau đó, từ những năm của thập niên 60 đến cuối tháng 4 năm 1975, CHÂU LIÊM đã dùng tên thật NGUYỄN XUÂN THIỆP để sáng tác. Trong thời gian công tác tại Đài phát thanh Quân Đội của thành phố Đà Lạt, ông thân với vợ chồng nhạc sĩ LÊ UYÊN PHƯƠNG và có hợp tác làm một loạt bài sử ca nhưng chưa hoàn thành. LÊ UYÊN PHƯƠNG có phổ nhạc một bài thơ của ông TÔI MUỐN YÊU TÔI MUỐN TIN CUỘC ĐỜI, là một trong số ít những ca khúc mà nhạc sĩ này phổ từ lời thơ.


TÔI MUỐN YÊU
TÔI MUỐN TIN CUỘC ĐỜI

tôi muốn yêu
tất cả cuộc đời
tất cả mọi người
như ngày xưa
yêu sân trường lớp học
yêu thầy yêu bạn
yêu anh yêu em
nhưng cuộc đời khốn nạn
đã giết chết trong tôi
những tình yêu trong sáng nhất
tôi muốn tin
cuộc đời như trang sách giáo khoa thư
với những chuyện thật thà đơn giản
những đứa trẻ con nô đùa đuổi bướm
những quả bứa quả sung
hiền lành ngoan ngoãn
con đường mòn với tiếng guốc ban trưa
nhưng thế giới thần tiên sụp đổ
những kẻ hiền lương sống kiếp đọa đày
những người thật thà đã chết
như bạn tôi
một buổi sáng trong vòng dây oan nghiệt

hỡi cô bé quàng khăn đỏ

đã chết trong hàm răng sói già
hỡi anh em bạn bè
mắt chúng ta đục ngầu cát bụi
kìa trái đời đã chin trên cây
sầu rụng
thế giới chúng ta bây giờ
mờ mờ bức tranh dã thú
không có chỗ cho con người
anh tìm gì trong bóng tối
anh tìm gì trên những dòng cổ ngữ
trên bia đá nghìn thu
hiền giả đã quyên sinh

hỡi anh em bạn bè

trong hoang vu
xin chờ đợi những con người

Thơ ông bây giờ đã mở rộng phạm trù đến tha nhân, đến thân phận con người trước những biến động của lịch sử. Về mặt hình thức, ông thường sử dụng thể tự do để diễn đạt rất thành công những tâm tình thật phong phú của con người qua những bể dâu. Dĩ nhiên, thơ tự do của NGUYỄN XUÂN THIỆP rất khác tính phản kháng, nổi loạn của THANH TÂM TUYỀN hay TÔ THÙY YÊN. Thơ ông, từ trước cho đến sau này ( ngay cả trong lao tù hoặc lưu vong ) đều hiền hoà, đậm chất nhân bản. Đỉnh cao của thời gian này là bài thơ dài  “ tôi cùng gió mùa “, mà sau đó ông đã dùng làm đề tựa cho thi tập được ấn hành tại Mỹ năm 1998. Chúng ta thử đọc vài đoạn thật ấn tượng.

hỡi gió mùa
đã đến trong cây
đã nói cùng với lá
rằng ta yêu nỗi cùng khổ của kiếp người
cả những điều tuyệt vọng
rằng khắp nơi trên mặt đất mùa đông
                            này thiếu lửa
nhưng dưới mái tranh nghèo quê hương
                                    ta chiều nay
đã ấm lại tình hoa cỏ

hỡi gió mùa

đã cùng ta gặp lại
nhớ không
lần đầu tiên chia tay cùng người
mà lịch sử đã có dư nghìn tuổi
mà hôm nay ta lại gặp ta
người lại gặp người
trong nỗi bàng hoàng
trong cơn sốt vỡ da

Chúng ta hẳn đã cảm nhận được chất trữ tình đậm đặc, niềm trắc ẩn thật “người” của thơ  NGUYỄN XUÂN THIỆP. Và để tạm kết thúc mấy dòng tâm tình trên đây, xin mời đọc tiếp vài đoạn kết của bài thơ.

hỡi gió mùa
giữa những bình minh và những hoàng hôn
cười khóc
người đã nghe gì thấy gì
từ trong Thánh Kinh và Nam Hoa Kinh
và triệu triệu những trang kinh vàng óng
trên cây vô ưu
và cành nhân sinh
có con chim nào hót
có không một chỗ dừng chân
cho loài người suốt cuộc hành trình về
                      nơi tĩnh lặng

hỡi gió mùa

đã đến trên quê hương chiều nay
để thêm một lần gặp lại
xin hẹn cùng ta
xin hẹn cùng người
một mùa đông ấm lửa
1974

Trên đây chỉ là những cảm nhận có tính cách cá nhân về hành trình thơ được hạn định trước năm 1975 của nhà thơ CHÂU LIÊM từ bút hiệu đến lúc mang tên thật NGUYỄN XUÂN THIỆP.
Hoàng Lâm


PHOENIX, 7/2020.

Thursday, July 23, 2020

ANH SẼ SỐNG LẠI. EM SẼ SỐNG LẠI

nguyễnxuânthiệp


    Hoa hải đào. Crape myrtle
Hình Internet

Above all the peaks is calm
In all the treetops you feel
Barely a whiff;
The birds are silent
Birds are silent in the woods
Just you wait, soon
You rest too.

trên mọi đỉnh cao là im lặng
trên các chòm cây chỉ còn
một thoáng hương
chim đã ngừng hót
chim trong rừng. ngưng hót
và bạn chờ
bạn chờ. chẳng bao lâu nữa
mình cùng yên nghỉ

đây là ca khúc
wanderer’s night song
của thi hào goethe
anh vừa nghe
khi đến thăm ngôi nhà goethe’s cabin
trở về. vui mừng nhìn thấy
hoa hải đào. nở. khắp nơi
đỏ. hồng. tím. xanh
con sóc. dỡn nắng. dưới gốc sồi
và chim bay lượn
chúng ta vừa tái sinh
rinascerò. rinascerai

NXT


THƯƠNG NHỚ NGƯỜI… CẦM ROI

Khuất Đẩu

Nguồn: Internet

Gửi Đỗ Hồng Ngọc

Anh Ngọc à, nếu “nghĩ từ trái tim” như anh thường nói, tôi thấy mình không thể nào thương nhớ nổi đòn roi được, mà phải là thương nhớ người cầm roi, tức là thương cha thương mẹ và thương thầy, những người dạy ta trước khi vào đời. Cũng có nghĩa rằng thương cái cách cho roi cho vọt của họ, nói chữ là cách giáo dục.

Mặc dù “làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, nhưng vẫn là một làng quê nghèo. Cha mẹ tôi và cả thầy giáo vỡ lòng của tôi, cũng là nông dân từ đầu đến chân và từ suy nghĩ đến hành động. Cho nên cách dạy con của họ phải nói là không được văn minh, nếu không muốn nói là thô bạo, tức là theo cách “thương thì cho roi cho vọt”.

Như bao đứa trẻ khác, tôi cũng thường bị ăn đòn!

Người để lại dấu ấn sâu sắc nhất chính là cha tôi. Ông ấy hơn tôi chỉ đúng 18 tuổi, nhưng tôi tưởng hơn cả ngàn và sợ ông như sợ các bạo chúa Trung Hoa! Vừa gia trưởng, vừa độc đoán, chẳng riêng gì tôi mà cả ông nội bà nội và mẹ tôi đều sợ.

Ngọn roi đầu đời mà tôi được nếm cay xè là thế này. Hôm ấy, cách đây đúng 75 năm, sau khi chạy đi xem ông hàng xóm đánh con gái, tôi về khoe: “Cha ơi, ông Ánh ổng ánh con Ánh”, trong bụng tự cho là mình ngon hơn con nhỏ nọ. Cha tôi liền bảo, bẻ cái roi đem vào đây! Tôi nghĩ bụng (chứ không nghĩ từ trái tim) chắc là để đánh thêm con nhỏ đó cho nó chừa, nên tôi ra bụi trảy đầu hè bẻ một nhánh trảy thật dài, thường gọi là roi mót, đánh rất đau. Nào ngờ ông bảo nằm lên phản, nhịp nhịp đầu roi trên hai cái mông. Ông lớn tiếng:
“Nói lại coi, ông Ánh làm gì”?
“Dạ, ổng ánh con Ánh!”
“Trật rồi, ông Ánh đánh con Ánh, nói đi”
Ba lần đều sai cả ba. Cứ mỗi lần nói sai là “ăn” một ngọn roi đau buốt tận óc.
Đánh đủ 3, ông cất roi, bảo: “Cho 3 ngày, còn nói sai, đánh đủ 10 roi”.

Lệnh ban ra còn hơn cả lệnh vua, vì không chỉ riêng tôi mà cả nhà đều “ánh ánh… đánh đánh”!
Từ đó tôi không còn nói đớt nữa. Và rất “may” cho tôi, là ông mang roi theo sau một trận thương hàn, mặc dù càng lớn tôi càng mắc nhiều lỗi!

Dĩ nhiên, hồi đó tôi không “thương” ông được. Nghĩ từ cái bụng cho nên tôi không khóc khi ông mất. Nhưng khi bước vào đời, tôi thấy rất cần có ông. Những vấp ngã, những lầm lỡ, rất cần cánh tay vững chãi và khối óc sáng suốt của cha hơn là những giọt nước mắt của mẹ.

Và, lúc chớm già, phải chi có một ông “bạn” già hơn mình đúng một giáp rưỡi, mời nhau một điếu thuốc, một ly rượu hay “khà” một tiếng sau khi cạn một cốc bia! Ấm áp xiết bao, dịu ngọt xiết bao!
Còn mẹ tôi, bà không chỉ cho ăn cơm nhai từ cái miệng răng đen mà còn cho “ăn” đòn từ đôi tay đầy chai sạn của bà.

Chuyện là thế này. Tôi đã bớt tiền mua nước mắm để mua kẹo, và tôi được ăn thêm trận đòn nhớ đời.

Không đánh bằng roi mót mà bằng tàu cau. Không nằm phơi mông trên phản mà nằm úp mặt trên sân đất trước nhà. Mẹ tôi như một bà nữ quan, ông tôi và bà tôi như sai nha. Ông thì đè đầu, bà đè chân (sợ phạm nhân vùng dậy chạy trốn). Tôi bị đánh 3 roi, không đau như roi mót, nhưng cái bản tin mà bà ghi trên vách khiến tôi khá đau. Ấy là, để tôi nhớ và chừa, bà lấy than viết trên vách: “thằn Sơn ăng cắp”.* Vì bà mới tốt nghiệp bình dân học vụ nên chỉ có 4 chữ mà đến 2 lỗi chính tả, còn chữ thì như gà bới.

Cũng may là nhà bị đốt cháy, cái bức vách ghi tội lỗi ấy cũng không còn nên tôi đỡ phải xấu hổ với con vợ vừa mới cưới sau này!

Thầy giáo vỡ lòng của tôi, ngoài việc sai những đứa lớn đi bắt tụi trốn học đem về trường, đánh đến quắn đít, còn bắt quỳ xơ mít và bắt đứng ngửa người ra sau vì cái tội viết chữ đứng không thẳng.

Nói cho cùng, những người cầm roi ấy, quả thật rất thô bạo, nói theo kiểu Âu Mỹ là làm mất nhân cách, tổn hại tinh thần, sẽ bị tòa kêu án ít ra cũng mấy tháng tù treo.

Nhưng nghĩ từ trái tim như anh, tôi thấy họ cũng chỉ đánh bằng trái tim, cho nên, dù vụng về, dù không giống ai, về già mình chỉ thấy thương chứ không hề oán ghét. Còn nên hay hư chủ yếu là do xã hội và nhà trường. Với một thế giới đầy những Putin, Kim Jong Un, Tập Cận Bình, Trump, Duterte, Cờ lờ mờ… thì bọn trẻ trước sau gì cũng sẽ trở thành những Hồng vệ binh, vậy thôi!

Nói chơi cho vui, chứ không dám cãi anh đâu!

Gửi anh lời chúc mừng đã đạt ngưỡng “đỉnh cao” Tám Mươi năm cuộc đời!

KHUẤT ĐẨU
22/7/2020

*Vợ anh bạn tôi vừa mới mất, ghi lên bảng mắng con như thế này: “Hãy giết tôi bằng gươm bằng giáo/ Xin đừng giết tôi bằng những lời hỗn láo”!


Wednesday, July 22, 2020

SHOTGUN. KHẨU SÚNG SĂN

Tố Nghi

Tác giả Inoue Yasushi
(1907-1991)

Lời ngỏ :
Lóng rày chiên-da lu bu với nàng covid. Đôi lòng kề cận vậy thì hẳn chuyện dính líu có rất nhiều.
Nhưng... Phố Văn là chốn văn chương, phóng sự chuyên ngành khó chen chơn vào đặng - trừ phi uốn lưỡi Tô tần (ông ni là ai tui vẫn chưa biết, lưỡi ông nay nghe nói đã dài tới 8 tấc rồi) rằng... thì mà là... chuyện xã hội nhơn văn nên cũng văn chớ bộ - Bác chủ bút dặn dò hoài, muốn làm văn sĩ thì nói cái chi cũng phải có văn trong trỏng, Phố-Văn chớ đâu phải Phố... siêu vi ! Thị dân Phố Văn muốn nghe chuyện siêu vi sốt dẻo, xin ký thỉnh nguyện thư đệ lên hội đồng thành phố chờ cứu xét, rồi chiên da tuyến đầu lửa đạn (mỗi bữa mỗi vào covid unit đứng thị uy chơi) thong thả kề cà phát sóng. Giấc mộng văn-sĩ khó thành, hướng sang siêu-vi-sĩ chắc dễ hơn - Sĩ nào mà hổng là sĩ kia chớ !

Khẩu Súng Săn, Shotgun, là truyện dịch hai lần: từ Nhựt ngữ sang Anh ngữ rồi Việt ngữ.
Trong sanh hoạt xã hội cao bồi viễn tây, shotgun ngoài nghĩa khẩu súng ra, còn là chỗ ngồi trên xe ngựa kế bác xà ích tòng phạm, chạy thục mạng với túi tiền vừa cướp được từ nhà băng ra, mần màn tu thoát để đừng bị ốp tại trận. Vì... teng teng teng tèng... luật western là luật rừng đúng đạo lý viễn tây, quả tang phạm pháp đồng nghĩa với treo cổ và treo tức thì, hổng chờ quan tòa đăng đàn tuyên án chi cho tốn thì giờ lâu lắc. Nên rồi shotgun mang nghĩa bóng là... chạy thoát trước khi bị tóm.
Tình trong "khẩu súng săn" là tình không suy tư nên không lối thoát, là trái cấm chứa toàn độc dược. Biết rõ ràng thế nhưng tỉnh bơ hái ăn hổng ngán, càng độc chừng mô càng háo hức thèm thuồng chừng nớ,dzậy mới ly kỳ ! Theo ngôn ngữ hiện hành thì nọc độc tình yêu ngang ngửa hay dám còn hơn nọc covid- 19. Cũng bởi covid tìm nạn nhơn, còn tình yêu thì được nạn nhơn tự ý tìm tới hiến dâng trong ngõ cụt.

Ngõ cụt thiếu lối secours, nên cứ yêu rồi là y phép... chết. Ấy cũng bởi cái đám sến nọ đã bị nhồi sọ sáu câu vọng cổ dài thoòng, rằng chết vì tình chết cho tình là cái chết não nùng và đẹp nhứt hạng ! Yêu mà chỉ chết trong lòng thôi là yêu giả bộ, mơ màng yêu cho có cho vui, cho hạp fashion với lối xóm. Yêu thiệt thì phải chết thiệt, một đi không trở lợi, hân hoan tận hiến xác hồn, hổng ong đơ chi ráo. Nên dzồi..tình nọc độc covid 19 là tình lơ mơ ra ngoài lế lối trần tục tầm thường, tới độ chúng ta nghe xong đực ra, hổng thể thẩm thấu nổi !
Rà soát miết 3 lá thư trong truyện mà hổng ra việc săn bắn bằng súng - trừ chuyện ông chồng dương súng biểu diễn, đưa ngay cô vợ trẻ vào tầm nhắm (làm cô thất sắc) mần màn thị uy chơi - nên độc giả (ai còn hỏi) yên trí shotgun hàm nghĩa... tẩu thoát đặng tránh bị bắt đang quả tang phạm pháp, bởi quả tang phạm pháp đồng nghĩa bế mạc cuộc đời.

Những ai quả tang phạm pháp trong truyện Khẩu Súng Săn ?
Thưa nhiều lắm, nguyên một đám người lớn lận. Chúng nhơn danh lợi dụng tình yêu mà làm sự tội. Việc tội lỗi này đã để lợi một chấn thương tinh thần trầm trọng trong tâm hồn cô bé gái đang hồn nhiên đeo kiếng hồng ngây thơ vô tư ngó cuộc đời. Vết thương lòng ni mới là tội ác đích thực và độc địa của đám người lớn quanh cô, nhưng đám tội phạm nọ cứ ung dung thoát lưới, trừ người mẹ chọn cái chết khi biết tội lỗi trong bóng tối của mình bị lòi ra.

*
Những mảnh tình rối nùi tội lỗi của "Khẩu súng săn" tóm tắt như sau :
Văn sĩ vào hội săn bắn địa phương cà kê dê ngỗng, được ông thành viên kia gởi cho cái bì thư tổ chảng, trong đó chứa 3 lá thư ông nhận được từ 3 phụ nữ khác nhau.
Thành viên biểu văn sĩ đọc cho biết. Văn sĩ lôi ba lá thư nọ ra cho độc giả của ông đọc ké giúp vui.

Lá thư thứ nhứt của cô con gái kể chuyện gia đình.
Cô gọi vợ chồng thành viên là dì dượng, liên hệ phía bên vợ, là chị em họ của nhau.
Cô bé 18 tuổi, không còn nhớ rõ mt mũi cha mình, một bác sĩ y khoa. Hồi cô lên 5 thì cha cô bị đại gia đình từ vì lỡ có con với 1 phụ nữ khác. Cha cô ra sống riêng, học lên cao, thành trưởng khu nhi khoa. Ông không liên lạc với vợ cũ đã đành, lại cũng không liên lạc cả với con gái (tác giả lá thư thứ nhứt), không rõ vì sao ?
Cô nhỏ được mẹ nhờ gởi cho dượng lá thư, rồi vô tình đọc được cuốn nhựt ký của mẹ - khi bà sai con mang  ốt trước khi chết - và biết được mối tình tội lỗi của mẹ và dượng, xảy ra đã 13 năm, một mối tình không được chúc phúc. Cô nói với dượng, rằng cô không bao giờ muốn gập lại dì dượng nữa.

Lá thư thứ hai của cô vợ trẻ.
Cô là nạn nhơn nên không có quyền lựa chọn, trừ quyền... ly dị chồng. Cô tinh ý nên nhìn ra ngay tắp lự việc ngoại tình của chồng từ đầu, khi vừa lập gia đình và mới 20 tuổi. Rồi cô tỉnh bơ màn "ông nem bà chả" ăn nhậu lung tung, thây kệ tai tiếng, chớ cũng không bỏ chồng. Sự việc ở lại không rõ vì không dám, do luân lý á đông buộc ràng trong xã hội phù tang thời ấy, hay vì không trả tự do cốt là để "trừng phạt" tới nơi tới chốn đứa phản bội ! Ai mà biết cho đặng, chỉ biết rằng... cô luôn tử tế dịu dàng với hai mẹ con "cừu nhơn", tới nỗi người mẹ trong 13 năm dài, vẫn hổng dè tội giựt chồng của minh đã lòi ra ánh sáng. Dzậy mới ly kỳ. Tới hồi kẻ “tử thù" chết, đưa đám xong, thì cô cầm kéo cắt cái cụp, đoạn lìa quá khứ, soạn hoa ly tỉnh rụi dông luôn !

Lá thư thứ ba của bà mẹ, kể lể sự việc lý do vì sao bà chọn cái chết.
Lá thư đầy hoang mang hỗn loạn của một linh hồn lạc phương hướng - lái tàu trên biển cả nhưng thiếu la
bàn, có ống nhòm đó nhưng không biết sao Bắc đẩu nằm đâu - Theo ngôn từ bảy tỏ thì bà yêu người tình, nhưng không rõ có thiệt sự được yêu lại - "đáp lễ" nếu có hoặc do thương hại hay bị lợi dụng hổng chừng -có thể vì bị chồng phụ bạc nên quơ đại người đứng gần nhứt mà gởi gấm tâm sự vào... chăng ?
Đại khái một loại tình deplacement- projection, biến dạng từ nỗi thất vọng và cô đơn ! Bà leo vô ghế shotgun, cạnh bác xà ích tình nhơn, yên trí tội lỗi sẽ không bao giờ lòi ra ánh sáng, nào ngờ ! Khi vỡ lẽ mình bị bắt quả tang, bèn quyết định chết để khỏi lãnh án phạt sau cùng - dù lương tâm đã lai rai gặm nhấm từ trước đó !
Nhưng... có một chi tiết khiến độc giả (tui chớ ai) sanh lòng lưỡng lự lý do quyên sanh của bà :
Sau khi cô em họ Midori tiết lộ đã manh nha mối tình tội lỗi, thì lại nhận được tin Kadota chồng cũ vừa  lập gia đình sau 13 năm độc thân. Tin ni làm bà khụy xuống, và hẳn đã là phát súng ân huệ để bà quyết định kết thúc cuộc đời.
Không hiểu tin chồng cũ lấy vợ đã khơi lại vết thương lòng chưa thể đóng sẹo. vì tánh cứng rắn cao ngạo đã bị xúc phạm, hay vì tình yêu với chồng vẫn còn ? Giả như còn thì lần này mới thiệt sự là phản bội, bởi lần trước chỉ là tai nạn ấm ớ mà thôi. Một ông có địa vị, đã ở vậy trong 13 năm dài, thì có thể cái tình với vợ con vẫn còn, và chuyện không liên lạc lại với gia đình cũ vì không được vợ cũ cho phép chăng? Suspense quá xá !
Văn sĩ và độc giả của ông chỉ đọc được ba lá thư của hai người đờn bà và cô con gái.
Đã thiếu hẳn thư tự sự (thứ tư thứ năm) của hai người đờn ông trong cuộc. Nếu có thì chúng hẳn sẽ là các puzzles sau cùng của toàn cảnh bức tranh - Kể ra cũng có thư của ông thành viên, nhưng cha nọ ngôn từ ấm ớ vớ vẩn lung tung, không rõ ràng chi tiết, thành cũng huề tiền, không giúp ích chi ráo cho cuộc điều tra nội tình của... thám tử -
Nên rồi... những chi tiết thiếu thốn đã và sẽ chỉ là những câu hỏi không có lời giải đáp, trừ việc... tất cả đều là nạn nhơn của hoàn cảnh tình huống do chính mình góp phần tạo nên, ngoại trừ cô con gái 18 tuổi, bị lôi vào tâm bão mà không có quyền gật hay lắc.
Cô là nạn nhơn tuy gián tiếp nhưng thiệt thòi nhiều nhứt, không phải chỉ bây giờ mà còn hết cả phần đời sau này - đã xa cha mất mẹ, còn tiêu tùng luôn niềm tin tưởng và hy vọng ở cuộc sống tương lai -
Thương cô quá xá !
Sau cùng thì... chuyện ngoại tình ta nghe hà rằm, nhưng chuyện này do văn sĩ ngắn gọn kể ra bằng bút pháp bố cục chi tiết mông lung mờ ảo. Độc giả như bị thôi miên vào mê lộ, chừng bước ra vẫn lờ quờ không tường tận cảnh sắc trong ấy ra sao thế nào, xong đã phải ngẫm nghỉ miết đậng mần màn... điền vào chỗ trống.
Truyên như vậy có gọi là thành công không, hay cũng chỉ "thành công" với các độc giả vốn thích rành mạch tận tường ? Cái chi đầu cua tai nheo ấm ớ sanh mất công suy nghĩ tìm giải đáp phân miêng. Tốn thì giờ là cái cẳng !
Vậy chớ... hồi hôm cái bụng (chỗ gác chơn mỗi tối) lại phàn nàn, rằng kết tội bác xà ích (ông thành viên kia chớ ai) thì thiệt hổng fair. Nhờ bác bé gái mới còn mẹ thêm 13 năm nữa, thay vì ngay lúc chìm tàu khi 5 tuổi - em hỏi thăm coi chả ở đâu đặng anh gởi liền cái anh dũng bội tinh thưởng công n lực cứu giá –
T NGHI

Truyện đọc ở đây :
KHẨU SÚNG SĂN
Ryoju by Inoue Yasushi
Phạm Đức Thân dịch từ bản Anh ngữ Shotgun của George Saito.
http://www.art2all.net/tho/phamducthan/ ... uShoko.htm




Tuesday, July 21, 2020

MÙA HÈ CỦA (M) & LỤC BÁT MỎI MÒN

Hoàng Xuân Sơn

Chiều bên sông Hương. Tranh Đinh Cường

MÙa    Ca [M]

Em cứ nấp như thế
trong áo váy
trong khăn quàng cổ
nấp trong giày giày rủ đi chơi
trắng tinh cùng gió
em cứ rình rang đây đó
nấp trong cây nắng nhìn mồ hôi trộm
nấp trong cơn khát bia vại um tùm
du theo bạn nói cười hể hả
những viên đá chạm ngày lanh canh
em cứ thế nấp vào tăm bọt
bọt sủi tình thơ
có anh ngồi đợi
buổi chiều
loang dần cuộc phiếm du

19 tháng bảy 20


Lc bát mi mòn

Bây giờ bóng đổ liêu xiêu
cám ơn mầu nhạt buổi chiều dạ vâng
cám ơn những luống sinh phần
đã hoang xa nắng đã gần cổ sơ
cám ơn thi án một tờ
lụa thôi đường chỉ mắt mờ gút kim
cám ơn hoa mộng nổi chìm
văn xương còn một cánh chim mỏi về
cám ơn ngày dựng lê thê
dài xuân ngục lánh hương thề tiệp dư

H O À N G X U Â N S Ơ N
27 juin 20

TÔI THẤY TÔI THƯƠNG NHỮNG CHUYẾN PHÀ

Đỗ Hồng Ngọc

Chuyến phà trong phim L’Amant

Tôi thấy tôi thương những chuyến phà
 Ngàn đời không đủ sức đi xa…

Không phải thơ của tôi đâu! Nhại thơ Tế Hanh đó. Từ những năm 40 của thế kỷ trước, Tế Hanh viết: 
Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu
 Ngàn đời không đủ sức đi mau
 Có chi vướng víu trong hơi máy
 Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau…
(Những ngày nghỉ học. Tế Hanh).

Thật ra mấy chiếc toa tàu chẳng nặng khổ đau gì đâu, khổ đau chẳng qua là do “lòng của người đi với kẻ về” kìa! Nhưng Tế Hanh quả cũng không thể ngờ rằng chẳng bao lâu sau đó, những chiếc xe lửa đầu đạn chạy nhanh như gió với tốc độ 300 km/giờ và nay đã lên đến 500 km/giờ!

Phà ở quê mình thì khác. Hằng trăm năm nay vẫn ì ạch nối đôi bờ. Thế rồi một hôm bỗng bị người ta vứt lên cạn. Xẻ thịt. Bán ve chai… Không ai còn cần tới nữa! Người ta nay đã có cầu. Những chiếc cầu ngạo nghễ, nghênh ngang vươn giữa dòng sông.

Nhưng, hãy đợi đấy! Với tình hình hiện nay, đến một lúc khi mà “sông kia rày đã nên đồng” thì những cây cầu cũng sẽ bị xẻ thịt, bán ve chai… “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng”, là cuốn sách của bạn tôi, bác sĩ, nhà văn Ngô Thế Vinh báo động gần hai mươi năm trước, nay gần như đã hiện thực. Gần đây, Ngô Thế Vinh còn có loạt bài nêu vấn đề phải chăng cần làm đê ngăn nước mặn tràn bờ và làm những hồ chứa nước ngọt ở U Minh Đồng Tháp, một khi nước ngọt sắp trở thành một thứ “vàng xanh”!

Những ngày cuối năm, tôi vội vã đi một vòng qua những chuyến phà. Hết rồi phà Rạch Miễu. Hết rồi phà Cần Thơ, phà Mỹ Thuận. Hết cả phà Hàm Luông. May còn Cổ Chiên. Cổ Chiên thiệt ngộ. Ngay cái tên nghe cũng khoái rồi. Cổ Chiên khác Cần Thơ, Rạch Miễu. Nó dài và rộng hơn, và đặc biệt, nó gần biển hơn nên lắc lư với sóng và gió biển, đến nỗi tưởng mình đang vượt biển trong khi những phà khác chỉ vươn qua một dòng sông! Đi trên phà Cổ Chiên… sắp dẹp, đã nghe có cái gì khang khác: không còn ung dung, thư thả, mà hấp tấp vội vàng. Ai nấy như bực bội, cáu gắt hơn, kể cả những nhân viên phục vụ. Họ sẵn sàng quát tháo, to tiếng. Không một tiếng rao. Không một tiếng đàn, tiếng hát… Rời Cổ Chiên, tôi qua Đình Khao rồi Vàm Cống, An Hòa, Cao Lãnh, Mỹ Lợi… Không kể phà Cát Lái, Bình Khánh, Thủ Thiêm vốn gần gũi thân quen.

Đi cho hết phà. Bởi vì rồi đây phà sẽ vắng dần rồi tắt ngủm. Như những cây cầu khỉ và áo dài trắng nữ sinh. Và, như những dòng sông…

Phà đúng là ngàn đời không đủ sức đi xa! Chỉ bờ này bến nọ. Nối những niềm vui, những nỗi buồn, những đợi chờ… “Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm… qua bến bắc Cần Thơ”(Chiếc áo bà ba, Trần Thiện Thanh)… Hồi đó trong Nam phà gọi là “bac” – tiếng Pháp- chạy có giờ. Ban đêm phà nghỉ. Trễ một chuyến phà là trễ biết bao nhiêu!
Phà chẳng những không đủ sức đi xa mà còn không đủ sức đi mau. Nó ì ạch một cách dễ thương. Ai vội vã mặc ai. Nó cứ ì ạch, khệnh khạng, làm như không nỡ rời bến, không nỡ cặp bờ… Há mõm thật to bên này nuốt gọn dòng người dòng xe rồi há mõm thật to bên kia nhả dòng người dòng xe ra cứ như một con quái vật hiền lành.

Và những chuyến phà trăng. Nó ì ạch chở trăng đi. Nó nhích từng bước như sợ trăng tan. Lòng người cũng nhẹ tênh, dãi cùng trăng sáng. Bỗng nhớ 
Có ai về miền tây/ lúa mùa thơm, thơm mãi/ dừa xanh nghiêng chênh chếch/ cá ngược dòng sông đầy… Có ai về miền tây/ mái nghèo nhưng mà đẹp/ má gầy nhưng mà xinh…(Y Vân).

Có những cuộc tình phà. Làm như khi người ta lên phà, rời bến, người ta sống một cách khác rồi. Lòng rộng mở cùng sông nước, chập chùng cùng bãi bờ. Người ta bỗng dễ thương chi lạ. Nếu không, đâu có L’amant (Người tình) của Marguerite Duras thuở nào…

Một ông bạn “đào hoa” của tôi nói, qua phà, một cơ hội tốt để làm quen, đế tán tỉnh… Ai cũng đẹp ra, thảnh thơi ra, mở lòng ra. Người ta hình như đã bỏ đi trên bờ kia bao nhiêu nhọc nhằn, bao nhiêu khổ lụy. Chỉ có ở trên phà, người ta mới dễ mời mọc xâu nem, bịch bánh tráng, mía, bắp, trái cây các thứ. Chỉ có ở trên phà, người ta mới dễ nhũn lòng với tiếng hát tiếng rao. Sau những giờ cá hộp nhọc nhằn, sau những giờ chờ đợi mướt mồ hôi, người ta uống vội trái dừa tươi hay ly trà đá để kịp chen chúc xuống phà. Nhẹ nhõm, sảng khoái, lâng lâng. Phà vì thế mà.. rất phà!

Tôi còn có một kỷ niệm với Phà Rừng, một đêm trăng. Đó là năm 1978, lần đầu tiên ra miền Bắc. Phà Rừng. Phà qua sông Bạch Đằng. Không thể cầm lòng mà không thử nhúng chân xuống nước, để nghe rờn rợn lời của dòng sông “…Bạch Đằng giang sông hùng dũng của nòi giống tiên rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung…” 
(ĐHN)



Sunday, July 19, 2020

ĐỌC THƠ HUY TƯỞNG: ĐÊM VANG HÌNH TIẾNG CHUÔNG

Phan Tấn Hải

Bìa ‘Đêm Vang Hình Tiếng Chuông’

Huy Tưởng & Bùi Giáng

Nhà xuất bản Văn Học Press vừa ấn hành tác phẩm “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” -với 197 bài thơ của nhà thơ Huy Tưởng và 10 họa phẩm của họa sĩ Trương Đình Uyên. Tất cả thơ trong tập đều là lục bát, hoặc lục bát biến thể với cách ngắt dòng hoặc cách chấm câu theo kiểu riêng. In trên giấy đẹp, khổ sách vuông 8.5” x  5”, dày 160 trang, toàn bộ sách in màu. Với Trương Đình Uyên ký họa chân dung, Trịnh Y Thư thiết kế  sách,  Đinh Trường Chinh thiết kế bìa.

Tất cả đều là lục bát. Đa số trong tập là lục bát bốn dòng, có khi ngắt dòng câu lục hay câu bát để thành các  òng hai chữ với bốn chữ. Và xen trong các dòng thơ, thỉnh thoảng là các dấu chấm. Đối với thói quen làm thơ của Huy Tưởng, các dấu chấm là mới, nhưng thơ lục bát ngắt dòng giữa câu lục hay câu bát là bút pháp anh đã từng dùng nhiều thập niên trước; thí dụ, bài thơ hơn nửa thế kỷ trước, nhan đề “Con đường” viết tại Đà Lạt năm 1971 cũng là lục bát, cũng ngắt dòng để có dòng 2 chữ, có dòng 4 chữ. Điều khác biệt là, trong tập thơ “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” ấn hành năm 2020 không có chữ đầu dòng nào viết hoa như các bài thơ thời còn ở Việt Nam. Và các bài thơ trong thi tập mới này, duy nhan đề là viết tất cả là chữ hoa, sau nhan đề là  một dấu phết (‘) và xuống hàng, với toàn bài thơ đặt nằm giữa trang (centered) như bài 80 nhan đề “Phẩm Vật” nơi trang 71 của tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” (nghĩa là, cách trình bày thơ trên giấy cũng là một yếu tố thi ca, không chỉ biến đổi cách đọc mà còn biến đổi cách nhìn):

80
PHẨM VẬT,

tan theo mây trắng vạn hình
ra đi
ướt đẫm tiếng kình giữa trưa
khi về
trú dưới hiên chùa
nhặt được chiếc bóng
ai
vừa bỏ quên!

Tất cả các bài thơ trong tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” đều trình bày tương tự và có khi biến thể nhiều câu hơn, nhưng cũng ngắt dòng như thế. Thói quen của tôi khi đọc thơ là ngưng nơi các dấu chấm câu, và nơi các xuống dòng. Do vậy, âm vang mỗi bài thơ mỗi khác. Nhưng có một gợi mở của tác giả Huy Tưởng cho thấy tất cả các bài thơ đều mang hình các dòng dài ngắn khác thường như thế, và có lẽ đó là “hình tiếng chuông” như thi sĩ muốn gợi ý – có lẽ.
Tôi có kỷ niệm nhiều với lục bát. Thể thơ tôi học đầu tiên nơi trung học đệ nhất cấp (bây giờ gọi là trung học cơ sở) là lục bát. Ngôi trường lúc đó mang tên Trần Lục ở Tân Định, trong các lớp đệ thất, lục, ngũ, tứ (bây giờ là lớp 6, 7, 8, 9) dạy văn là do hai cô giáo: cô giáo Oanh (vợ thầy Giáp) và một cô giáo tôi không còn nhớ nổi tên, gần đây mới hỏi bạn Trần Văn Nhy được nhắc rằng cô này tên Lan. Những tác phẩm lớn là do cô Oanh dạy, như Bích Câu Kỳ Ngộ (thi tập thế kỷ 18 này dài 678 câu thơ lục bát) với Lục Vân Tiên (thi tập thế kỷ 19 này dài 2082 câu thơ lục bát), dĩ nhiên là dạy tổng quan và trích đoạn. Cô giáo Lan dạy bọn học trò chúng tôi làm thơ lục bát trong năm đệ lục. Thực sự ca dao, tục ngữ đã học từ thời lớp đệ thất đã có thể thơ lục bát rồi, nhưng đọc và nghe vậy thôi. Sau này tôi quên bẳng đi tên cô giáo Lan, và khi nhớ về thể thơ lục bát chỉ nhớ rằng có một cô giáo trẻ, gầy, mặc áo dài trắng (dĩ nhiên, cần phải nhắc, áo dài thời xa xưa không phải kiểu cách tân như thế kỷ 21 bây giờ). Nghĩa là, thướt tha. Tôi cũng không nhớ nổi khuôn mặt cô giáo Lan, không hình dung nổi mắt phượng hay tóc chấm vai thế nào. Chỉ nhớ rằng, một cô giáo mặc áo dài trắng dạy mình làm thơ lục bát, và từ đó thế giới thi ca hiện ra trước mắt tôi, một vùng trời trắng xóa và dịu dàng.

Bây giờ đọc thi tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” của Huy Tưởng, tôi nghiệm ra rằng thơ lục bát tượng hình và lãng mạn hơn các thể thơ khác, kể cả các thể loại thơ tự do hay tân hình thức. Dĩ nhiên, bạn có thể nhớ ằng thể thơ hài cú của Nhật Bản, với 17 chữ ba dòng cũng có thể trình bày như hình tháp chuông hay những gì tương tự. Nhưng chỉ có thơ lục bát của Việt Nam mới có tiếng nói của người thiếu nữ, muốn ngắn thì hai dòng, muốn thướt tha hơn thì bốn dòng hay tám dòng, và muốn cho thành tình hận giai nhân thì cho dài thành 3254 câu như Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Nói về tượng hình, có thể thấy rằng thể thơ 5 chữ hay 7 chữ trông như nhiều nam tính, thẳng thuôn đuột,  không có vẻ thướt tha áo dài. Thơ lục bát là thuần Việt, nhưng chỉ mới xuất hiện có lẽ từ thế kỷ 15. Có thể gợi nhớ một bài thơ của Lý Thường Kiệt (1019 – 1105), vị tướng nổi tiếng vì bình Chiêm, phá Tống. Khi Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến ở sông Như Nguyệt, sử ghi rằng quân nhà Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Đại Việt tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt khích lệ tinh thần quân Nam chiến đấu bằng cách nửa khuya cho người nấp trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát (thuộc địa phận sông Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, lộ Bắc Ninh, nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) đọc bài thơ 4 câu thất ngôn, nhan đề "Nam quốc sơn hà" như một tuyên ngôn độc lập. Đó là một lựa chọn của tướng quân họ Lý, nhưng cũng là một cân nhắc của người sắp ra trận: thể thơ nào gươm giáo cung tên nhất?
Hiển nhiên, lãng mạn là thơ lục bát Huy Tưởng, nơi thi tập mới của anh rất mực trầm lắng, nơi nhiều bài thơ trình bày trên giấy như hình âm vang bay lên giữa trời từ chuông, có khi âm vang theo dòng dài ra và rồi có khi thu vào ngắn lại, và đôi khi thêm dấu chấm giữa dòng để làm chậm lại các suy tưởng, như dường để làm âm vang trầm lắng thêm. Như trong bài thơ 128, nhan đề "Tìm Nhau" trang 106, hình quả chuông hiện ra trên giấy, nhưng không giục giã, không vội vàng, và rồi chìm vào tịch mịch:

128
TÌM NHAU,

Chim gù
cóng buốt hồn rêu
vỗ đêm tĩnh tịch
vỗ chiều.chiều dâng
tìm nhau.ủ ấm ngày đông
đất trời lặng lẽ
xanh.
không nói gì!

Trong khi ký ức thơ lục bát của tôi là hình ảnh một vùng trời áo dài trắng của một cô giáo tôi đã quên tên, phải hỏi bạn học cũ mới được nhắc, và chỉ là một màu trắng trong trí nhớ, không cả một chút nhớ gì về khuôn mặt. Những bài học về thơ lục bát không nói gì về tượng hình của chữ, nhưng có lẽ ông bà mình khi soạn ra thể thơ lục bát là đã có sẵn những khuôn hình ảnh của các thiếu nữ hát quan họ, mặc áo tứ thân trong các lễ hội. Thử hình dung, cứ câu 6 chữ rồi tới câu 8 chữ, trông y hệt như hình ảnh cô gái mặc áo tứ thân, hay là hình ảnh ông bà mình gọi là thắt đáy lưng ong. Không hề thẳng đuột như thơ 5 chữ hay thơ 7 chữ. Có phải, thể thơ lục bát hình thành từ những tiếng thì thầm của những cặp tình nhân thời tiên-rồng, hay thời Lý-Trần, hay thời Lê-Nguyễn và vân vân?
Vâng, nữ tính có thể nhìn bằng mắt: thơ lục bát chính là hình ảnh thắt đáy lưng ong của các thiếu nữ nhiều thế kỷ trước. Vâng, lẳng lơ có thể nghe bằng tai: thơ lục bát là tiếng sáo trầm bổng của chàng Trương Chi ngập ngừng nhắn gửi nàng Mị Nương. Như trong bài thơ 147, nhan đề “Chạm Trổ Hoàng Hôn” nơi trang 115 trong thi tập mới của Huy Tưởng:

146
CHẠM TRỔ HOÀNG HÔN,

Một mai
trái đất có chìm
xin em
cố giữ trăng im trong hồn
anh sẽ
chạm trổ hoàng hôn
chiều lam tất tả.đêm dồn dập xanh…

Khi chúng ta nói rằng thơ lục bát Huy Tưởng trình bày trông có khi như áo tứ thân (dù là áo tứ thân cách tân hay truyền thống), không có nghĩa rằng thi sĩ đã tìm cách bước rời dòng sông thi ca quê nhà. Thơ Huy Tưởng là những gì rất đậm hồn dân tộc. Có khi thơ anh nghe như rất mực ca dao. Có thể những cách ngắt dòng và chen dấu chấm giữa dòng là một cách Huy Tưởng muốn làm khựng dòng tâm thức độc giả để anh tự che giấu những nỗi buồn bất khả tư lường của riêng anh? Tôi không biết. Tôi đọc thơ Huy Tưởng, cảm nhận thơ anh với những tà áo trắng trong ký ức thi ca riêng của mình, và nhìn thơ anh với ánh sáng của những chiều nắng quê nhà còn lưu giữ trong tim mình.
Và đôi khi tôi giựt mình, khi như dường thấy lại một bờ ao trong Xóm Chuồng Bò nơi một thời tôi trẻ thơ quậy phá. Trong bài thơ số 12, nhan đề “Nghĩ Ngợi Trên Bờ Ao” nơi trang 21, trong thi tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” của Huy Tưởng, một hình ảnh bờ ao được kể lại, qua thứ tự lục bát truyền thống, chỉ khác là thêm dấu chấm giữa ba dòng đầu:

12
NGHĨ NGỢI TRÊN BỜ AO,

nhái con.cóng giạt bờ ao
tôi về khóc suốt chiều hao.hụt chiều
một con nhái chết.phất phiêu
làm sao thấu được tiếng kêu sông hồ?!

Thơ Huy Tưởng buồn nhiều hơn vui. Chúng ta dễ dàng gặp các hình ảnh “chiều tà, bóng chiều, xuống đêm” trong thi tập mới của anh. Những hình ảnh thường gặp nơi quê hương mình như “thổi lửa, bếp lò, gọi đò” được anh tái hiện trong thơ một cách rất là sầu muộn. Nỗi buồn trong thơ Huy Tưởng như dường làm lạnh buốt cả trang giấy. Độc giả có thể cảm nhận như thế khi đọc bài thứ 28, nhan đề “Khản Tiếng Gọi Đò” nơi trang 33 của thi tập:

28
KHẢN TIẾNG GỌI ĐÒ,

bỏ chiều.theo bóng xuống đêm
thổi cho ngọn lửa hồng trên bếp lò
dỗ mình.côi cút bụi tro
nghìn năm khản tiếng gọi đò.lạnh tanh!...

Tuyệt vời của thơ lục bát là thơ tình. Vậy mà phải mất nhiều năm tôi mới thấy như thế. Thời tôi mới học thơ của những năm trung học đệ nhất cấp, lục bát được nhìn qua lăng kính rất mực nghiêm nghị. Như dường tình yêu phải là cấm kỵ. Ngay cả khi hình dung về cô giáo Lan, người dạy lũ nhóc chúng tôi làm thơ lục bát, hình như cô rất ít cười. Trời ạ, có một lần cô giáo Lan bật khóc vì bị lũ học trò quậy phá quá (tôi không nhớ, có phải cô hay không, nhưng tên bạn Nhy Trần kể là đúng cô Lan bật khóc giữa lớp vì bị lũ nhóc quậy phá). Lớp học thời đó nghiêm nghị tới mức, về sau tôi nhớ mãi hai dòng trong Lục Vân Tiên khi nhân vật chính không sợ lũ cướp đao kiếm đầy mình, mà chỉ sợ cô thiếu nữ con nhà lành bước ra trước mặt mình: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai…”
Trong khi đó, nơi một chân trời khác, thơ tình Huy Tưởng lãng mạn mà không hề lẳng lơ, nghiêm nghị mà rất mực thiết tha, chia cách mà nỗi nhớ rất gần… và thương em tới nổi nhìn thấy cả thế giới cỏ cây đang tự trầm. Như trong bài 150, nhan đề “Cớ Sao Cây Cỏ Tự Trầm” nơi trang 117 của thi tập mới:

150
CỚ SAO CÂY CỎ TỰ TRẦM

lời ve giọng bướm.lưng trời
mây bay xa quá.núi đồi phân thân
em về.đẹp rất từ tâm
cớ sao cây cỏ tự trầm.đêm qua?!

Huy Tưởng làm thơ và nổi tiếng từ trước 1975, do vậy anh có giao tình với nhiều người trong văn giới. Nơi trang 147 của tập thơ “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” kể về chuyện tới thăm thi sĩ Nguyễn Đức Sơn. Vào tháng 3/2019, được tin nhà thơ Nguyễn Đức Sơn đột quỵ, Huy Tưởng và một số bằng hữu tới thăm Nguyễn Đức Sơn tai rừng Phương Bối, B’lao. Lúc đó, sức khỏe Nguyễn Đức Sơn suy kiệt, á khẩu, mất khả năng nhận thức, chốc chốc hú gọi inh rừng... Một số bài thơ từ trang 146 được xem như từ biệt, vì Huy Tưởng biết rằng khi trở về Úc châu là sẽ không bao giờ gặp lại Nguyễn Đức Sơn nữa.
Sau đây là bài thơ 189, nhan đề “Vài Bi Khúc Chia Biệt Thi Sỹ Nguyễn Đức Sơn” nơi trang 146, Huy Tưởng viết:

189
VÀI BI KHÚC CHIA BIỆT THI SỸ NGUYỄN ĐỨC SƠN,

treo mình như một hồn dơi
đêm đêm chao bóng.viết lời chiêm bao
bay nhảy như chú cào cào
búng chân dấy động.hú gào hư không
vì mình là sao.trên rừng
khuya hôm nhấp nháy soi lòng quạnh hiu
một đời vạm-vỡ-cô-liêu
phất tay.húc bóng.ráng chiều rưng rưng…

nằm đây
cô biệt núi rừng

nghêu ngao phi lạc.tầng tâng gió mây…

Huy Tưởng có vẻ như không thích tự nói về anh. Trong thi tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” không có phần tiểu sử tác giả, chỉ duy có phần Cùng Một Tác Giả, ghi các tác phẩm anh xuất bản từ 1968 tới 2020, phần lớn là thi tập và một số bản dịch. Tuy anh kiệm lời nơi đây, một số tiểu sử nới khác ghi rằng Huy Tưởng tên thật là Nguyễn Ðức Hiệp, sinh năm 1942 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, làm thơ và nổi tiếng từ trước 1975, hiện cư ngụ tại Úc châu.
Trong thi tập này, bài cuối cùng là anh tự nói về anh, một cách rất mực khiêm tốn, qua bài thơ 197, nhan đề “Tiếng Lời Ít Ỏi” viết như sau:

197.
TIẾNG LỜI ÍT ỎI,

vốn tôi
ít chữ.vụng lời
trí tâm chưa đủ như người tài hoa

nuôi lòng
tát cạn bao la
lay thức tịch lặng.âm ba đất trời!
đành thôi.
ít ỏi tiếng lời
đường mây trắng sẽ tuyệt vời
lãng du…

HUY TƯỞNG
Melbourne, tháng 02.2019.

Có một lời chưa nói đầy đủ về tập thơ (vì hội họa là lĩnh vực ngoài tầm suy nghĩ của người điểm sách): 10 tấm tranh của họa sĩ Trương Đình Uyên rất đẹp. Và đẹp là cả 2 ký họa chân dung Huy Tưởng và Trương Đình Uyên tự họa nơi bìa sau. Nơi bìa trước là họa sĩ Đinh Trường Chinh thiết kế âm vang thơ hình chuông.
PTH

Thi tập giá 30 đôla. Độc giả quan tâm xin liên lạc: nxb Văn Học Press: 22 Agostino, Irvine, CA 92614
USA • vmail: +1-949-981-3978 • email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press