Phan
Tấn Hải
Tác phẩm của Nguyễn Đức
Tùng
Đất
nước Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn
khốc, như thời Trịnh- Nguyễn
phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của
thế kỷ 18 và 19. Sau nội chiến là trả thù và truy sát tàn bạo.
Bây
giờ, may mắn, chúng ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau
không chắc đã thân
thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa
có vẻ như là những
quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi chúng ta dễ dàng chạm
tới là sẽ bị nổ tan
xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN
ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ,
chỉ vì không giữ văn phong truyền thống.
Trong
thời kỳ như thế, tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất
hiện rất hy hữu, chạm
vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình
đôi khi chỉ tạmquên
đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ qua đã có rất nhiều chiếc ghe biến mất giữa
biển. Hẳn là, sẽ có
nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người
nói sao viết mơ hồ quá,
như trên mây, không chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi
trên các chiếc ghe
liều thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân
vân. Tôi chưa đọc, xin thú
thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói, nghĩ gì nói đó. Do
vậy, xin có vài lời.
Bài
viết này là những suy nghĩ rải rác nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô
Thì Nhậm, người cuối đời
là Thiền sư Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.
Hãy
nhìn về lịch sử quê nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều
tác phẩm văn học không
muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên nào
cũng có người thân.
Thời
phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ nội chiến giữa nhà Tây Sơn
(trong đó có vua Quang
Trung) và Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến
là truy sát, những
người sống sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.
Hãy
suy nghĩ xem: văn học trong thời kỳ lòng dân ly tán đó, những gì nên được viết
ra và những gì chạm được
vào lòng người? Có nhiều kiệt tác văn học đã xa lìa chính trị để duy trì lập
trường trung lập tuyệt đối,
giữ tinh thần nhân đạo phản chiến hoặc thái độ phản kháng thầm lặng. Bởi vì khi
khi bị nhận định là công
khai chống lại triều đình, người viết có thể nguy cơ bị chém đầu và tru di tam
tộc ngay lập tức; đó là
lý do các tác giả hiếm khi trực tiếp kêu gọi ân xá hay hòa giải.
Để
hình dung mức độ căng thẳng, chúng ta có thể nhớ tới chuyện này. Bạn hãy còn nhớ
rằng Đặng Trần Thường
(khai quốc công thần của Vua Gia Long) đã dùng roi tẩm thuốc độc đánh Ngô Thì
Nhậm (nguyên Binh
bộ Thượng thư triều Tây Sơn) ở Văn Miếu (Hà Nội) năm 1803 để vài ngày sau, họ
Ngô từ trần, bất kể
bấy giờ Ngô Thì Nhậm đã xuất gia, trở thành một nhà sư ẩn dật. Điều bi hài là:
Đặng Trần Thường thời
trẻ từng học chữ Nho với cụ Ngô Thì Sĩ, thân phụ của Ngô Thì Nhậm.
Tôi
nghĩ rằng, tác phẩm nói lên mức độ phản chiến cao điểm nhất là Chinh Phụ Ngâm của
Đặng Trần Côn.
Thi tập này được viết nguyên bản bằng chữ Hán và sau đó được các danh sĩ như
Đoàn Thị Điểm dịch
sang chữ Nôm, kiệt tác này là một cột mốc quan trọng thể hiện tinh thần trung lập
và phản chiến.
Thay
vì ca ngợi các chúa Trịnh hay chúa Nguyễn vì những chiến dịch quân sự của họ,
bài thơ dài tập trung
hoàn toàn vào nỗi đau đớn, sự cô đơn và những tổn thương tâm lý của người vợ có
chồng phải ra trận.
Bằng cách gạt bỏ những lý lẽ biện minh cho cuộc chiến và làm nổi bật nỗi đau
thương mang tính nhân
bản, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” đã lặng lẽ phơi bày sự vô nghĩa của các cuộc nội
chiến.
“Chinh
Phụ Ngâm” dài 476 câu thơ, là một tác phẩm phản chiến lớn hàng đầu, nếu không
phải là lớn nhất,
của dân tộc Việt Nam. Cả trong bản chữ Hán và trong bản dịch chữ Nôm đều tuyệt
vời. Bài thơ là một
lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại
trong truyện là một người vợ
có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn
buồn tủi phải xa chồng.
Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch
kêu gọi mọi người
bước vào chiến trường. Yêu nước tất nhiên ai cũng yêu nước, nhưng cuộc chiến
nào cũng rất mực bi thương.
Thuở
trời đất nổi cơn gió bụi
Khách
má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh
kia thăm thẳm tầng trên
Vì
ai gây dựng cho nên nỗi này
Đặng
Trần Côn viết nguyên tác bằng chữ Hán vào khoảng đầu đời Cảnh Hưng (thập niên
1740), thời vua Lê
Hiển Tông và chúa Trịnh Doanh. Đây là giai đoạn cung đình Lê - Trịnh khủng hoảng
trầm trọng. Triềuđình
liên tục phát động các cuộc hành quân trấn áp, chinh phạt các cuộc khởi nghĩa
nông dân ở Đàng Ngoài
(như khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh
Phương...).
Người
chồng (chinh phu) bị bắt lính ra trận không phải để giữ gìn bờ cõi trước giặc
ngoại bang, mà là xông
pha vào những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm bảo vệ quyền lực và ngai vàng
của nhà vua.
Do
vậy, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” mang đậm tinh thần phản chiến.
Xin
cảnh giác, tôi không phải sử gia, tôi chỉ suy luận trong cương vị một người
sáng tác. Và không có gì chắc
chắn rằng tôi nhận định đúng 100%, kể cả chuyện xưa và chuyện nay.
Tương
tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng thế, cũng là một tác phẩm
mang tinh thần phản chiến.
Chúng
ta còn nhớ rằng gia tộc họ Nguyễn đã chia hai phe – một bên theo Tây Sơn, và một
bên theo Nguyễn
Ánh. Cuộc nội chiến dai dẳng tới mức kinh hoàng, có một thời kỳ Nguyễn Du lưu
vong ba năm trên
đất Trung Hoa, mặc áo nhà sư du hành tới các chùa. Bản thân Nguyễn Du đã trực
tiếp trải qua sự sụp
đổ của triều Lê, sự hưng vong của triều Tây Sơn và thắng lợi cuối cùng của vua
Gia Long. Nguyễn Du luôn bị giằng xé sâu sắc giữa lòng trung thành với chế độ
cũ và việc phải phục vụ triều Nguyễn mới. Ông đã gửi nỗi trăn trở đạo đức sâu sắc
này vào tác phẩm "Truyện Kiều". Nhân vật chính (nàng Kiều)
liên tục bị buộc phải đánh đổi danh dự và thích nghi với những hoàn cảnh nghiệt
ngã, đầy biến động chỉ để tồn tại.
Hãy
thấy, câu chuyện của nàng Kiều là một ẩn dụ lớn lao về tầng lớp trí thức Việt
Nam --- những người phải
xoay xở giữa những cuộc chuyển giao đẫm máu và khắc nghiệt của nội chiến mà
không thể chọn dứt
khoát một phe phái chính trị nào. Xin cảnh giác lần nữa: Đây cũng chỉ là một
suy đoán, vì tôi không phải
sử gia. Bạn thử suy nghĩ xem: tại sao lại đoạn trường, đứt ruột? Tại sao nhan đề
Truyện Kiều còn là Đoạn
Trường Tân Thanh (tiếng kêu mới đứt ruột)? Phải là người chứng kiến những cuộc
thảm sát giữa gia
tộc, giữa các bạn học, và giữa đồng bào mình mới thấy đứt ruột. Chứ không phải
cô Kim Vân Kiều
thời
nhà Minh nào hết. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Du viết sơ hở, nếu để bị đấu tố là kể
như sẽ bị chém đứt đầu.
Nêu
lên những chuyện như thế để thấy rằng có những vị trí thức đã từ bi, đã suy
nghĩ tới những cách hòa
giải nội chiến. Hãy thấy những thảm sát tàn khốc, những chấn thương tâm lý từ nội
chiến và nỗi thống
khổ lan rộng trong xã hội đã tác động sâu sắc đến Ngô Thì Nhậm, và ngài chuyển
mình thành một thiền
sư và trở thành một tác giả biên soạn sách Thiền; lựa chọn này là từ một chiến
lược lớn lao hơn: hòa
giải vì tồn vong của dân tộc và phương tiện là thống nhất tư tưởng tại Việt
Nam.
Ngô
Thì Nhậm không tìm đến Phật giáo như một cách trốn tránh thụ động trước cảnh nội
chiến. Thay vào
đó, ngài chủ động lựa chọn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một dòng thiền bản địa
– để xây dựngđiểm
tựa tinh thần và văn hóa, nhằm hàn gắn một xã hội đang bị chia rẽ. Ngô Thì Nhậm
là một vị quan tài
năng từng phục vụ cả Chúa Trịnh lẫn triều đại Tây Sơn. Ngài đã tham dự, chứng
kiến hàng thập niênbiến
động quyền lực, đã phi ngựa trên các xác người, và đã đứng giữa các chiến trường máu chảy thành sông.
Sau
cái chết đột ngột của vua Quang Trung vào năm 1792 và sự sụp đổ nhanh chóng của
chính quyền Tây
Sơn, Ngô Thì Nhậm nhận ra rằng đất nước cần hòa bình và hàn gắn. Nho giáo thuần
túy đã thất bại trong
việc ngăn chặn cảnh huynh đệ tương tàn. Do vậy, Ngô Thì Nhậm ra sức khôi phục
thiền phái Trúc Lâm
(có từ thế kỷ 13) – dòng thiền duy nhất mang đậm bản sắc Việt Nam, hy vọng Phật
giáo sẽ làm mọi người
xa lìa sát sanh, sẽ bẻ gãy cung kiếm để nhận lại anh em một nhà. Đó là lý do
Ngô Thì Nhậm trở thành
một Thiền sư dòng Trúc Lâm, và viết sách dung hợp Phật giáo, Nho giáo và Đạo
giáo thành một thế
giới quan thống nhất, để chữa lành những vết thương lòng của người dân, khôi phục
văn hóa bản địa
và dẫn tới hòa hợp hòa giải dân tộc.
Tới
thời của chúng ta, sau nửa thế kỷ thống nhất đất nước, lòng dân còn ly tán, phần
lớn còn đau đớn, chưa
hàn gắn hoàn toàn. Theo tôi thấy trong cách chủ quan: Tiểu thuyết “Thuyền” của
nhà văn Nguyễn Đức
Tùng (do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội ấn hành) chính là một nỗ lực
dùng văn chương để
dịu dàng hàn gắn giữa một thời đại mà lòng dân vẫn còn nhiều rạn nứt.
Việc
một cuốn sách khai thác đề tài thuyền nhân---vốn là một trong những vùng ký ức
đau buồn nhất lịch
sử Việt Nam hiện đại---được cấp phép và ra mắt chính thức trong nước là một hiện
tượng hy hữu.
Tôi
chưa đọc cuốn sách này của Nguyễn Đức Tùng, nhưng dư luận cho thấy tính cách hy
hữu như thế.
Có
người sẽ nói rằng sách chưa đủ rùng rợn, chưa như đời thực. Có thể như thế, hẳn
là như thế.
Tôi
nhìn lại dòng lịch sử dân tộc mình, và đã thấy các tác giả xưa còn tránh né
chuyện nhạy cảm rất là xa, không dám nói minh bạch cho độc giả hiểu. Ngày xưa,
các cụ viết văn phản chiến trong một cách rất xa vời, kiểu như là nói chuyện rất
xa xưa bên Trung Hoa chứ không phải chuyện nước mình. Các cụ Đặng Trần Côn,
Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du... đều hiểu rõ cái giá phải trả rất đắt khi kêu gọi
hòa bình trong thời nội chiến, và các cụ phải viết trong một cách “chỉ về hướng
Đông mà nói chuyện hướng Tây” để tác phẩm có thể được chuyền tay nhau, để mời
nhau đọc.
Trong
thời hiện nay, tôi tin rằng nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã viết tiểu thuyết “Thuyền”
với một thiện ý.
Xin
nhắc rằng, tôi chưa đọc, nhưng tôi tin như thế, theo nhận định của nhiều nhà
phê bình, và tôi sẽ đọc đêm
nay. Tôi không so sánh anh với các nhà văn của các thế kỷ trước. Tôi chỉ muốn
nói rằng anh đang muốn
bước qua một bãi mìn nơi vĩ tuyến 17 để hàn gắn, để chữa lành.
Tôi
hy vọng rằng, trong một thời gian gần, bao lâu nữa thì tôi không thể biết, tôi
tin rằng thiện ý của tất cả
chúng ta sẽ làm rỉ sét, sẽ làm tắt ngúm tất cả các quả mìn còn sót lại dù ở bất
kỳ nơi nào trên quê nhà.
Và
muốn như thế, đó phải là thiện ý của tất cả chúng ta.
Hãy
cầm bút lên, và hãy sáng tác với thiện ý. Y hệt như Ngô Thì Nhậm, sau khi rời
chiến trường là về mặc áo nhà sư, cầm bút viết những dòng chữ có thể giúp toàn
dân, bất kể họ đã từng mặc bất kỳ trang phục binh giáp nào, đều có thể yêu
thương nhau hơn, và mở được mắt trí tuệ để nhìn thấu suốt qua bờ giải thoát.
PTH
*Bài
đọc ngày 8 tháng 8 trong buổi ra mắt tác phẩm THUYỀN của Nguyẽn Đức Tùng ở
Coffee Factory.

No comments:
Post a Comment