Tuesday, May 29, 2018

THƠ CHO NGÀY TỬ BIỆT


Phan Tấn Hải



Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong… Chính thức, tại Hoa Kỳ trong năm nay, Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong là Thứ Hai 28/5/2018.

Đất nước nào cũng từng trải qua các cuộc chiến tranh với nước khác, cũng có khi trải qua những cuộc nội chiến trong dân tộc mình, hay là những phong trào tranh đấu vì lý tưởng dân chủ, tự do. Đó là những sự kiện lớn, khi nhiều ngàn người, và có khi cả triệu người hy sinh. Cuộc chiến nào cũng mang theo các vết thương đau đớn, dù là cuộc chiến Quốc Cộng tại Việt Nam các năm 1954-1975, hay như với phong trào Thiên An Môn tại Trung Quốc năm 1989, hay phong trào đấu tranh dân chủ Gwangju Democratization Movement tại Nam Hàn tháng 5/1980.

Đất nước Đại Hàn vẫn còn chia đôi, và các chặng đường để tìm hòa bình thống nhất vẫn còn là một ẩn số khó tìm ra. Điểm đặc biệt đối với dân tộc Đại Hàn, còn gọi là Cao Ly, hay Triều Tiên, một thời từng có truyền thống làm thơ trước ngày xuất quân hay tử biệt. Một số bài thơ trước ngày tử biệt này còn ghi lại trong lịch sử văn học Đại Hàn. Nơi đây, chúng ta sẽ đọc lại một số bài thơ mang tính tử biệt của Đại Hàn.
 .
Nhà thơ Yi Gae (1417–1456) là một trong “sáu quan thượng thư tử tiết” bị xử tử vì âm mưu ám sát Vua Sejo, người đã cướp ngai vàng của cháu trai chính ông là Vua Danjong. Vua Sejo nói rằng sẽ tha tội cho sáu quan thượng thư (trong đó có hai nhà thơ nổi tiếng Yi Gae và Seong Sam-mun) nếu họ chịu xin tha tội và chấp nhận sự chính danh của ông. Nhưng cả sáu vị quan đều từ chối. 
Trong tù, Yi Gae  đọc lên bài thơ  dưới đây trước khi bị đưa ra xử tử vào ngày 8 tháng 6/1456. Chữ Hoàng Đế trong bài thơ này là chỉ cho Vua Danjong, người bị Sejo cướp ngôi. Các bài cổ  thi về tử biệt thường không có nhan đề. Thơ Yi Gae như sau:

Ô, ngọn nếu chiếu sáng phòng, với ai ngươi đã từ biệt? 
Ngươi chảy nước mắt bên ngoài, và cháy bỏng bên trong, nhưng không ai nhận ra. 
Chúng ta từ biệt Quốc Vương trên một hành trình dài, và cháy hệt như ngươi.

Tương tự, Seong Sam-mun (1418–1456) cũng là một trong “sáu quan thượng thư tử tiết,” và là lãnh tụ âm mưu ám sát Vua Sejo. Sam-mum từ chối đề nghị ân xá, và bác bỏ tính chính danh của Sejo. Sam-mun đọc bài thơ dưới đây trong nhà tù.

Tôi sẽ về đâu khi thân này tử biệt? 
Một cây thông cao, vững chắc, trên đỉnh cao nhất của núi Bongraesan, 
Xanh khắp thời, đơn độc, khi tuyết trắng phủ lên toàn thế giới. 
Và Sam-mun đọc bài thơ thứ nhì dưới đây khi bị áp giải ra pháp trường để xử tử, nơi tay chân ông bị buộc vào bốn con trâu để phân thây. 
Khi tiếng trống gọi đời tôi 
Tôi hướng đầu về nơi mặt trời sẽ lặn 
Không có lữ quán nào trên đường tới cõi âm 
Nơi nhà ai, tôi sẽ ngủ đêm nay?

Jo Gwang-jo (1482–1519) là một nho sĩ chủ trương cải cách, và do vậy bị phe bảo thủ gài bẫy để vu cáo. Kẻ thù chính trị của ông dùng mật ong viết trên lá cây dòng chữ “Jo sẽ lên ngôi vua” để sâu bướm ăn mật ong, và như thế sẽ còn lại dòng chữ trên lá… Vua Jungjong gửi thuốc độc tới, ra lệnh nhà thơ phải tự tử, và xóa bỏ tất cả các những gì liên hệ tới chính sách cải cách của Jo. Jo viết bài thơ sau đây, trước khi uống thuốc độc vào ngày 20/12/1519.

Tôi yêu kính quốc vương như cha ruột chính mình 
Lo lắng về đất nước như chính ngôi nhà của mình 
Mặt trời sáng chiếu trên mặt đất 
Chiếu rực sáng trên trái tim hồng của tôi.

Jeong Mong-ju (1337–1392), được xem như cha đẻ của Tân Khổng Giáo Triều Tiên, là một quan thượng thư cao cấp của triều đại Goryeo. 
Khi Yi Seong-gye lật đổ Goryeo và dựng lên triều đại mới có tên là Joseon. Khi Tân Vương yêu cầu tuyên bố trung thành với triều đại mới, Mong-ju làm bài thơ sau để bày tỏ trung thành với Cựu Vương Goryeo. Và đúng như dự liệu, Mong-ju bị ám sát ngay trong đêm đó, 4/4/1392.
Nếu tấm thân này chết, và chết lần nữa một trăm lần 
Với xương trắng tan thành bụi, dù có hay không chút dấu vết hương linh 
Trái tim tôi vững chắc hướng về Quốc Vương [Goryeo], làm sao nhạt phai được. 

Bây giờ tới thơ thời cận đại. Kim Nam-ju (1946-1994) sinh tại thị trấn Haenam, học Anh văn ở đại học Chonnam National University, là một trong các nhà thơ đấu tranh hàng đầu -- nổi bật trong cuôäc nôåi dậy đòi dân chủ Gwangju 1980 ở Nam Hàn, khi đất nước này còn bị ghìm dưới ách độc tài quân phiệt. Ông bị giam hai lần, tổng cộng hơn 10 năm tù. Trong tù, nơi giấy và bút chì bị cấm, ông viết nhiều bài thơ trên hộp giấy đựng sữa bằng mũi đinh do ông mài một bàn chải răng làm thành. 
Các bài thơ trong tù này về sau được xuất bản thành hai thi tập trong các ấn phẩm thơ  tù của ông. Ông lãnh hai giải thưởng lớn – giải Yun Sang-won Literary Award năm 1993 và giải National Literary Award năm 1994. Thơ ông được An Chi-hwan phổ nhạc, với album có tên là Remember (Hãy Nhớ). Bài thơ hai đoạn dưới đây của Kim Nam-ju có tên là “Gửi Bạn.”

Gửi Bạn 
Các bạn tốt không còn là người của thế giới này nữa. 
Những ai còn sống hoặc đã bị bắt giam phía sau bức tường tàn bạo 
hay đã trở thành mạch nước ngầm và chạy lặng lẽ. 
Vài bạn đã đi băng vượt đêm và trôi nổi như bóng ma. 
Các bạn đấu tranh ơi, chớ mất niềm tin vào chiến thắng. 
Bây giờ là lúc để đứng trước tòa và hãy vững vàng. 
Hãy luyện tâm và thân, vì tương lai tươi đẹp 
Và là của chúng ta. 

Đã tới giờ nói từ biệt rồi 
Với lòng can đảm các bạn đã cho tôi thấy 
Với vũ khí các bạn để lại, tôi cầm lên 
Trầm tư về những chữ các bạn là biểu tượng: 
sống chân thực không phải là chuyện tài sản 
nhưng là các phiêu lưu bất tận để thể hiện  
chỉ trên chiến trường, con người mới được sinh ra trong từng khoảnh khắc  
cách mạng có thể đạt được chỉ khi thực hiện.  

Và bây giờ, với mấy dòng thơ tưởng niệm, xin hướng về quê nhà Việt Nam:

Nơi đó có bạn tôi 
khi ngã xuống  
mây trời trong mắt còn trôi 
chưa kịp nghe tiếng súng 
góc núi nằm mơ hòa bình 
cỏ nhuộm xanh màu tóc  
chiến binh.
PTH

PHOTOS:
1. Nhà thơ Seong Sam-mun thế kỷ 15
2. Sinh viên và trí thức Nam Hàn biểu tình đòi dân chủ tháng 5/1980, bị đàn áp dữ dội. Kết quả: 165 người chết, 76 người mất tích, hơn 3,500 người bị thương. (Photo courtesy of The 5.18 Memorial Society)


TRIỂN LÃM


Lữ Kiều

Tranh Thân Trọng Minh

Vậy là phòng tranh đã đóng cửa
Những bức tranh đã ra đi
Như từng phần đời bỏ ta
Những cuộc chia tay
Bây giờ và mai sau

Trăng xanh trên lưng trời
Chiều nay thành phố chúng ta
Lá rụng nhiều quá
Có nghe tấm thân này
Cũng muốn ngả mình trên lá

Giữa phố xe người
Vừng trăng hắt hiu
Ngẩn ngơ màu tang chế
Bạn bè rút đi
Cả em nữa

Đóa lys còn lại cuối phòng
Như bàn tay từ biệt
Bên kia bờ đại dương

Ta không ngủ nhiều đêm qua
Cơn đau bóp lồng ngực
Một ngày nào ta chết
Em không còn nhìn ta
Diễu cợt nỗi bi thương
Như mũi tên
Như giọt nước nhỏ hoài
Trên thạch nhũ

Không còn ảo tưởng
Bầy ruồi vo ve bên tai
Tiếng chim ngàn kêu thương
Cay nghiệt
Vết sẹo khi mặt trời lên
Trần trụi bức tranh Không.

1987
LK



Monday, May 28, 2018

MỘT VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TẢN VĂN THI CỦA NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH


Đỗ Hồng Ngọc


“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (*)

Tôi không tin Tản Văn Thi của Khánh Minh là giấc mơ,huyền thoại, chiêm bao. Trái lại, nó rất hiện thực. Nó rất ở đây và bây giờ. “Đó là bức tranh sắc mầu cuộc sống”: bức tranh của một gia đình hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ như  Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao/ Cha tôi ngồi xem báo... Tôi nghe tiếng còi tàu... ’(Kỷ Niệm, Phạm Duy).
Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng chim trao lòng tin cậy; chỉ ở đó mới có bờ vai nương tựa sớm hôm; chỉ ở đó mới có những ánh mắt sao trời thơ trẻ; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”. Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tát-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết ‘”ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính,  nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!
Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy.
Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.
Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng.
Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người.
Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu.
Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã.
(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ)

Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.
Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” – Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé...
Và chỉ ở đó:
Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến...
Phải, đã gặp một Tagore lồng lộng nắng phương đông, một Tagore viết nên những lời thơ dâng hiến! Còn phải tìm kiếm đâu xa?
Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:
“Yêu thương nhé” “ nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”,
“yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…”
“yêu thương ơi khoảnh khắc sum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.
Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe…” “ Cho dẫu chiều rồi phai nắng...”
(Khánh Minh, Yêu thương ơi)

Rồi một hôm, người Bạn sẽ đến. Thế nào cũng sẽ đến. “ trong chiếc áo mầu nắng mang theo chân trời rất lạ của phương đông”. Phải chính là người Bạn “nơi con đường vừa mới có tên mọc đầy hoa Nguyện Ước”: ‘Lưu ly reo âm thanh trái tim. Và sẽ tặng tôi phép mầu của câu thơ đi vào cuộc sống. Tôi run rẩy chờ đợi... “. Người bạn đầy Nguyện Ước phương đông đó chính là Dược sư lưu ly quang Như Lai đó vậy!
Và dĩ nhiên người thơ sẽ đến điểm hẹn dầu giữa đêm tuyết giá. “Sẽ đem theo trái tim đầy tin cậy”. Trái tim đầy tin cậy, ấy chính là ‘Tín tâm”. Hãy giữ lấy. Dù “Ngày xám đục những mây/ đứng dưới một cây phong bay những chiếc lá khô/ Không có loài chim nào đến hót/ Cơn bão rớt đem mưa làm nước mắt…”. Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Vô thường sẽ là ‘đóa hoa’ của Trịnh.   
Rồi cũng có lúc “ngũ ấm xí thịnh”, người thơ hoang mang: Nếu có tìm tôi... Nếu có tìm tôi...? Ai tìm ai? Hãy nương tựa chính mình thôi nhé!
Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng.
Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự...
Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ giậu quê nhà. (...). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ.
Nếu có tìm tôi...Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời…
(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ, 2018).
Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!
“Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh.
Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…”.
(Khánh Minh. Trong cơn bệnh).
Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.
“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 24.5.2018)

(*) Trịnh Công Sơn

TRANH THIỀN. LẠY TẠ


Lê Ký Thương

Lạy tạ. Tranh Lê Ký Thương

Thiền sư - họa sĩ Hakuin Ekaku (1686-1768), một trong ba trụ cột thiền Nhật Bản, một hôm đi khất thực đến trước một căn nhà, không nghe tiếng quát tháo xua đuổi từ bên trong vọng ra vì tâm ý đang ngập tràn chuyện sống chết của một kiếp người. Người chủ nhà là một bà lão, thấy sư cứ đứng lì một chỗ như bị trời trồng, bèn lấy cây chổi tre đánh vào đầu sư. Sư bất tỉnh. Khi tỉnh dậy thì tất cả các công án Thiền đã hành hạ tâm ý sư lâu nay bỗng bừng sáng. Sư vui mừng hét lên vì đã Ngộ. Nhiều năm sau Kakuin đã vẽ một cây chổi tre với phụ đề "Đây là cây chổi đã quét sạch những thứ giác ngộ rẻ tiền". Xúc cảm tận tâm can câu chuyện Thiền này, tôi đã vẽ bức Lay tạ.
LKT
(Nguồn: Giác Ngộ)