Thursday, December 22, 2011




Tô Thẩm Huy dịch thơ Đỗ Phủ 

Thu Hứng

Thu đã về. Tác giả Tôi Cùng Gió Mùa bảo tôi thế, từ phương bắc Texas, nghe trong hơi gió heo may, viết cho tôi mấy giòng: Thu vàng rồi đấy, dịch Thu Hứng của Đỗ Phủ đi chứ.  Hay viết về Lý Hạ đi. 
Xin lãnh ý. 

   Bài thơ ấy - bài đầu trong tám bài Thu Hứng bát thủ của Đỗ Phủ - có một câu đọc lên tê tái cả cõi lòng: Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ - Khóm cúc hai lần nở giọt lệ ngày khác.  Ngày khác là ngày nào ?  Đỗ Phủ không nói ra, ông chỉ bảo là tha nhật - other day(s) – ngày nào khác, có thể đã qua hay chưa đến, nhưng không phải hôm nay, có thể là hôm qua, hay hôm kia, lại cũng có thể là ngày mai, hay ngày mốt, lại cũng có thể là mọi ngày chứ không riêng gì hôm nay.  Sao lại là hai lần nở ? Một lần hôm nay và một lần nào khác ?  Hai lần cúc nở, hay hai lần nhỏ lệ ?  Hai lần nhỏ lệ, hay hai lần hoà hai làm một ?  Có thể nào là giọt lệ từ một ngày cô liêu xưa cũ rón rén trở về lăn dài cùng giọt lệ hôm nay?  Không chừng lại có thể là giọt lệ của ngày mai, của ngàn sau, mượn về để khóc trước, góp cùng giọt lệ hôm nay mà tuôn rơi một lần cho đã hai con mắt ?  Còn hai con mắt khóc người lần hai ?  Nghĩa là ?  Là Chiều nay buồn cả hơn chiều hôm qua.  Là sao ? Là chiều hôm qua buồn hơn chiều hôm kia, và chiều hôm kia buồn hơn chiều hôm trước, và chiều hôm trước buồn hơn ... Là cái buồn cổ độ đổ xô về, làm cái ngày tha nhật ấy biến thành ngày hôm nay.  Một lần thử nhật cúc nở, rồi một lần tha nhật ngậm ngùi, một lần hôm nay, và một lần ngày ấy, cùng chan hòa khóc chung hai lần làm một, thì hẳn là từ nay mầu quan san sẽ thôi không còn làm buồn lòng khóm cúc nữa, mà sẽ chắp cánh theo nhau bay về cánh rừng phong thụ mỗi độ thu về.

   Xin mời Quý‎‎ Vị đến Quỳ Châu, dong thuyền trên giòng sông Dương Tử, giữa sừng sững hai vách núi kẽm Vu Giáp, nơi Sở Tương Vương xưa giao duyên với thần mây mưa trên núi Vu Sơn, để nhìn thu về mà ngậm ngùi cùng Đỗ Phủ. 

  ,   





            Thu Hứng,  Đỗ Phủ   
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm  
Vu sơn Vu giáp khí tiêu sâm             
Giang gian ba lãng kiêm thiên dõng  
Tái thượng phong vân tiếp địa âm     
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ        
Cô chu nhất hệ cố viên tâm   
Hàn y xứ xứ thôi đao xích     
Bạch đế thành cao cấp mộ châm

Thích Nghĩa:
Những hạt sưng long lanh như ngọc làm xơ xác cánh rừng phong,
Khí thu dâng mù mịt giữa hai vách núi Vu sơn.
Nơi kẽm Vu Giáp sóng nước tuôn dội, cuồn cuộn tung lên nền trời,
Trên chốn quan ải mây gió biến hóa, gầm ghì đè xuống mặt đất.
Khóm cúc hai lần nở, nhỏ những giọt lệ của ngày ấy,
Một chiếc thuyền con cột chặt chút lòng thương nhớ mảnh vườn xưa.
Nhà nhà đang dao kéo may áo, lo đỡ cái giá lạnh sắp đến,
Ngày dần tối, tiếng chày giặt đuổi nhau bên thành Bạch Đế. 

Lời quê xin góp mấy vần:

Thu Hứng
Sương buốt rừng thu, xót cánh phong,
Khí thu u uất, ngút song song.
Trường giang sóng dựng lưng trời thõng,
Biên ải mây ùn nách đất long.
Chắt lệ ngày nao vàng vọt cúc,
Neo buồm dậu cũ sắt se giòng.
Ai may giá rét len trong áo,
Gióng giả chày gieo thốn đáy lòng.
    Lại xin mời đọc một bản dịch khác, nghe đâu là của Nguyễn Công Trứ.  Chao ôi, Nguyễn Hiệp Sĩ làm thơ giữa vòm trời đất dọc ngang là vậy, sao lại còn dịch thơ Đỗ Phủ hiu hắt thế kia?  Sao tài tình không kém Phan Huy Vịnh dịch Tỳ Bà Hành thế ấy?
Lác-đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu-hắt khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm giòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình già.
Lạnh-lùng giục kẻ tay đao thước,
Thành Bạch chày vang bóng ác tà.
 
Và đọc thêm bản dịch của Ngô Tất Tố:
Vàng úa rừng phong, hạt móc bay,
Non Vu hiu hắt phủ hơi may
Giòng sông cuồn cuộn, trời tung sóng,
Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây.
Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở,
Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy.
Giục ai kéo thước lo đồ lạnh,
Đập vải trời hôm rộn tiếng chày.

Còn Thi Quỷ Lý Hạ thì xin hẹn với con chim hồng-tước nơi cánh rừng thu của Nguyễn quân một dịp khác. 

TÔ THẨM HUY
Houston, Trung Tuần tháng Mười, tiết Lập Đông, Tân Mão

Monday, December 5, 2011


Chiều hát nhạc Nguyễn Đình Toàn
Nhắc người nhớ nhau 

Bài và hình: Tiểu Tử


   Chương trình giới thiệu nhạc Nguyễn đình Toàn mở ra với lời cáo lỗi phải đóng cửa vì hết chỗ.  Không thiếu những lời cằn nhằn sao không bán vé.  Nghe nhạc free mà còn khiếu nại?  Vì mua vé mới giữ được chỗ.  Chính nhạc sĩ cũng phải đứng vào hậu trường nhường chỗ cho quan khách.  Tiểu Tử đến từ 6 giờ, 7:30 pm khai mạc thì đã phải cùng bạn đứng lên nhường chỗ cho Doãn Quốc Sỹ và cho một cụ bà trên 70.  Đây không phải lần đầu tiên người ta hát nhạc Nguyễn Đình Toàn, và trên thị trường cũng đã có những dĩa nhạc Nguyễn Đình Toàn rồi.  Nhưng có hẳn một chương trình để chính thức giới thiệu nhạc Nguyễn đình Toàn thì đây mới là lần đầu.


   Hát suốt, không nghỉ.  Cả một chương trình khoảng 20 bài hát, chỉ thuần túy phục vụ nghệ thuật, hát bởi những tâm hồn yêu nhạc.  Một vài ca sĩ hát chuyên nghiệp, còn đa số là ca sĩ tài tử nhưng hoặc từ trường nhạc ra, hoặc dày kinh nghiệm ca hát.  Riêng ông bầu dấu tên nghe đâu chỉ mới “bầu” vài show.  Họ gộp nhau lại cùng hát với một lòng tha thiết.  Có em chưa hề biết Sài Gòn khi hát ca khúc Nước Mắt Cho Sài Gòn (Quang Thái, Khang Huy).  Có em hát thật hay, thật tới, mà thực ra em nói tiếng Việt không thạo lắm: Hàn Phúc. 


          Từ trái qua phải: Kim Ngân Viện Việt Học, Tạ Chương, Mộng Thùy, Quang Thái, Khang  
          Huy, Bích Huyền, Pianist Quốc Vũ, Bà Nguyễn Đình Toàn, Thanh Thúy, Vương Lan,
          Thanh Vân, Nguyễn đình Toàn, Jenny, Hàn Phúc
   Hàn Phúc có nét mặt lạnh lùng, cách hát thật tha thiết và cũng thật buốt giá, như lửa cháy trong khối băng (Em còn yêu anh).  Bên cạnh, Bích Huyền làm Tiểu Tử thật thích thú và ngạc nhiên.  Tiểu Tử đã từng nghe Bích Huyền hát, nhưng Đường Đưa Bước Em Đi làm cho Bích Huyền trở nên người hát thành công nhất trong chương trình, theo thiển ý.  Như thể tìm được đúng dòng nhạc cho tiếng hát của mình, tiếng hát ấy bỗng cất cánh.  Tạ Chương cũng là một tiếng hát được mong đợi của chương trình.  Giọng Tạ Chương ấm, vang, và có người nói là rất manly (Tiểu Tử đồng ý dù không đủ trình độ đế phán quyết!!!!)  Nếu như nhịp chậm lại một tý thôi, thì 
Dù có đau thương cũng còn tình riêng
Được sống với nhau dẫu đời khó khăn
sẽ khó có ai hát hay hơn Tạ Chương.

                                                                        Tạ Chương


                                                                        Bích Huyền

   Có một vài giọng hát với Tiểu Tử thì chưa tới vì không đủ lực hoặc thiếu kỹ thuật.  Nhưng khó chịu nhất là cách trình diễn đầy kịch tính.  Nhạc Nguyễn đình Toàn không thể hát bằng giọng kịch, vì tự nó đã là những vở kịch bi thương của đời sống.  Không cần diễn thêm mà cần nhập nỗi lòng.  Có nhiều lúc Tiểu Tử phải nhắm mắt lại để chỉ nghe mà không phải nhìn, nên những lúc ấy không chụp được bức hình nào.  Anh bạn ít nói của Tiểu Từ khi ra xe đã phán, nhạc của “ổng” đã lên cao xuống thấp thì chớ, lời lẽ lại rất khó khăn đâu phải ai cũng hát được.  Khó khăn, nghĩ cho cùng không phải vì chữ khó hay chữ mới.  Cái chính xác trong ca từ của Nguyễn đình Toàn cũng còn là bề nổi.  Cái thơ trong cách nhìn cũng là cái còn dễ nhận ra.  Dấu vết nhà văn trong dòng nhạc Nguyễn Đình Toàn mới là điều gây nỗi khó khăn cho người hát.  Cũng vẫn cái tỉ mỉ nhức nhối, những ghi nhận nhậy bén, và cách dùng chữ làm cho chữ quen thành mới, chữ cũ thành chưa biết bao giờ.  Như mới biết tim ta là bể đau khi yêu: mình biết bể tình bể khổ, nhưng bể đau khi yêu?  Chữ thì xưa rích mà bể đau thì chữ không lạ chỉ là chưa ai dùng, và chỉ là quá đau.  Người hát thường chỉ hát tới được nỗi buồn, khó hát cho ra được nỗi đau.  Ông viết nhạc mong có người hát cho tới, mình nghe nhạc mong có người hát cho ra nhạc, nhưng nếu phải có cả một hồn đau mới hát nổi thì cũng hơi khó cho nhau!!!
   Ngẫm nghĩ rồi quanh mắt nhìn.  Ông đứng ở một góc tối nơi hành lang hậu trường.  Các ca sĩ xong bài bước vào trong, ông ôm từng người cảm tạ lời riêng.  Ân cần, nó ý nghĩa trong thầm lặng.  Khi ông viết xuống những giọt nước mắt đau thương của những số phận, ông đã chia xẻ cách riêng của mình.  Khi nhắc đến một quê hương khốn khổ, chung cuộc ông chỉ muốn nhắc người nhớ nhau.  Bước ra sân khấu nói lời cảm tạ, cái giọng khàn đục như mang theo một giọt nước mắt khô.  Ông vẫn mang theo mình một nỗi lẻ loi, tựa như suốt buổi đứng một mình trong cõi riêng để nghe những tiếng hát ấy, nghe lại tiếng lòng.
   Cõi riêng, dĩ nhiên không phải ai cũng thấu.  Mỗi khi ngồi trong bóng đêm nhìn ngắm muôn sao ông có thầm mong có người nghe ra tiếng nhạc?  Vốn, ông viết chỉ để ngày nào xa biết mà nhớ nhau… 

Tiểu Tử
12/04/2011


Saturday, November 26, 2011



MỘT  VỆT  SAO  MỜ

Chân Phương



                                                      Chan Phuong. by Nguyen Trong Khoi

    Đầu thập niên 90 lúc mới dọn về ở Cambridge (Boston) tôi rất siêng lui tới thư viện Harvard-Yenching để sưu tầm thơ văn miền Nam trước 1975 trong mớ báo chí Sàigòn cũ. Tình cờ một hôm khi lục lọi mấy chồng bán nguyệt san VĂN, giữa vô số những câu vần điệu phần nhiều là lục bát tôi khám phá một bài thơ tự do của Nh. Tay Ngàn đăng trong VĂN số 25 (15-2-1965). Vừa bàng hoàng vừa thú vị tôi chép ngay vào sổ tay bài  Đơn khúc của Liễu với tâm trạng của kẻ đang khát bỗng được uống từng ngụm suối mát. Đó cũng là lần đầu tôi hạnh ngộ với sáng tác của thi sĩ này. Cái bút hiệu nửa mộc mạc nửa bí ẩn kia trở thành dấu hỏi ám ảnh tôi. Nh. Tay Ngàn, người là ai? Đang lưu lạc góc trời nào? Còn sống hay đã mất?
    Tôi dò hỏi trong đám bạn hữu văn nghệ và ít lâu sau có người gửi cho tờ Quê Mẹ, (Xuân Canh Ngọ 1990), trong đó có nhiều trang văn xuôi Nh. Tay Ngàn và một tùy bút-tự sự của Phạm Công Thiện thuật lại cuộc gặp gỡ của họ ở Paris “trong thời gian cả hai đều nghèo đói và chỉ biết sống hết mình với thơ văn nghệ thuật; cả hai thường lang thang suốt đêm trên những đường phố Paris, lúc nào có chút ít tiền thì la cà ngày đêm trong những quán café ở Montparnasse hoặc ở Montmartre. Cả hai đều say sưa viết, mộng và mơ bất tận. … Có lúc dắt nhau ra bờ sông Seine, thòng mấy chai rượu đỏ xuống nước sông, uống rượu say lướt khướt, ngâm thơ Lý Bạch và Nguyễn Du, đọc thơ Apollinaire ngay nơi chỗ ở xưa của thi nhân, ngó những cụm mây trắng ngập ngừng trên tháp chuông nhà nguyện Saint Germain-des-Prés, ngồi quán café ở Montparnasse vui cười ngó nhìn Jean-Paul Sartre dẫn cô đầm trẻ tóc vàng bước qua vỉa hè. …”

    Rất có thể  Đơn khúc của Liễu cũng như một số ít bài thơ khác đăng trên báo VĂN vài năm sau đó đã được tác giả chúng sáng tác trong thời gian nói trên vì chúng mang khá đậm không khí của thơ hiện đại Paris, đặc biệt là chất trữ tình bình dân Prévert và âm vang thời gian siêu hình Apollinaire như mấy câu sau: 
                      Ba giờ trưa    một khúc nhạc sầu
                      Un jour sans toi
                     
                      Liễu ơi Liễu
                      Un jour sans toi
                      tiếng hát cuối cùng nhỏ xuống
                      gạch ngói hoang tàn hồn anh     
                      Đơn khúc của Liễu   
    Dù chưa tìm ra tài liệu hay nhân chứng nào để hỏi cho biết ngày sinh tháng đẻ tôi đoán rằng thi sĩ lúc ấy khoảng 23-25 tuổi, cái thuở thanh xuân tràn trề hoài bảo của chàng sinh viên VN say mê văn nghệ lại được đặt chân lên thánh địa của thơ văn quốc tế.  Bị ma lực của thủ đô ánh sáng réo mời, tâm hồn tài hoa nhưng non bản lĩnh ấy đã hóa làm thiêu thân…”Nh. Tay Ngàn bỏ học kỹ sư không gian ở Paris, sống nghèo đói cả chục năm hoang liêu, suốt ngày chỉ làm thơ và chẳng bận tâm xuất bản. Rất ít nói và khiêm tốn, không bao giờ tự nhận là thi sĩ, dù đã làm cả ngàn bài thơ tuyệt diệu. …Nh. Tay Ngàn… dám sống cho tới nơi trọn cả nỗi đời nghệ sĩ hiu quạnh, từ chối đời sống khoa cử trường ốc, …,vợ con, việc làm, nhà cửa ấm êm, cô độc đói rét lao cả thân mệnh mình vào thơ, và chỉ biết có thơ và thơ mà thôi.” Người Pháp có hai chữ POÈTE MAUDIT ngắn gọn để tôn vinh những kẻ chấp nhận mọi nguyền rủa của đời đổi lấy sự thủy chung với Nàng Thơ. Hơn cả Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng … còn có thân nhân, đồng bào khi hoạn nạn, Nh. Tay Ngàn hoàn toàn tứ cố vô thân ở Pháp trong những năm tháng túng thiếu, nghiện ngập, lao phổi, điên khùng  … Không hiểu những bóng hình phụ nữ (gái Việt, đầm Pháp, đàn bà Tây ban nha) trong những trang bản thảo của ông có an ủi, khỏa lấp được chút nào niềm tuyệt vọng và ám ảnh hư vô chủ nghĩa đã thấm vào máu thịt nhà thơ?



                                                 Ao Ba Om. Tra Vinh - Indocycling.com

             Rồi mùa thu rủ tôi đi xa
             Tôi đi xa mãi tôi rồi
             Nhằm đêm hoa rụng như ánh trăng
             Tan mù mù trên miệt hải ngạn
            
             Ánh trăng không thành như cơn huyễn mộng
             của tôi và Liên hôm nay
            
             Một mùa thu trước Liên xa
             Không còn gì nhớ lại nữa đâu
             Những hàng sao im nguyên ngày ấy
             của con đường Trà Vinh sớm hôm

             Không còn gì ru nhớ làm chi
           
             Mười hai năm thành điệu gió mùa
             Thổi lưu lạc mỗi hôm mù mắt
             Trên hình bóng Liên xa và xa
             Như hiện thân tôi trôi và trôi
             Mãi mãi với muôn ngàn ánh sao giá lạnh    
                                                            Nỗi Liên đen tối vô cùng  
    Cũng nhờ bài viết nói trên của PCT tôi biết được hung tin trễ tràng: “Nh. Tay Ngàn đã chết từ lâu,…chết lúc mới ngoài ba mươi tuổi, tự tử. Người ta tung cửa phòng anh và biết rằng anh đã chết bốn năm ngày. Ông bạn thi sĩ ở G. đã khổ công lắm mới tìm được cả ngàn trang văn thơ của Nh. Tay Ngàn. Cả một sự nghiệp thi văn vĩ đại hãy còn quạnh hiu đâu đó mà chưa có ai hay biết..”
    Vài đoạn trích trong bài giới thiệu sơ lược này kèm theo mấy bài thơ dưới đây dĩ nhiên không thể đại diện cho sự nghiệp sáng tác của người quá cố . Hi vọng giới yêu thơ VN sẽ hợp tác để khôi phục lại tác phẩm, đặc biệt là thơ, của Nh. Tay Ngàn; đồng thời bổ túc cho một chương văn học sử VN hiện đại do những nhà thơ Việt từng sinh sống ở Pháp như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Trần Hồng Châu, Nh. Tay Ngàn…tạo dựng nên và đang đứng trước nguy cơ bị phủ nhận hay quên lãng. 

ĐƠN  KHÚC  CỦA  LIỄU
ba giờ trưa   một khúc nhạc sầu
Un jour sans toi
những chiếc lá tàn rơi không cần một làn gió
điếu thuốc đốt lên hình bóng
và chợt tắt bơ vơ
kỹ niệm xuống đêm
ở chót vót của tuyệt vọng
anh im lìm ngắm hai tay không
Un jour sans toi
người thủy thủ già rời bỏ biển khơi
chiếc tàu đã chìm
căn phòng nhuộm đầy bóng tối
mền gối bắt đầu rã mục
Liễu ơi Liễu
Un jour sans toi
tiếng hát cuối cùng nhỏ xuống
gạch ngói hoang tàn hồn anh
cùng tiếc thương mọc lan trên đó
Un jour sans toi
một ngày người thủy thủ già
vô vọng chuyến ra khơi
Liễu ơi Liễu 

BÀN  TAY

trên cao xa kia nhớ nhung nàng chỉ còn mảng trời tím lạnh.

buổi chiều tắt dần tắt dần tiếng chuông,
cây lá sẩm.
nàng vuốt lấy mặt nàng,
thấy ngón tay nàng ướt đẫm.
những đớn đau lớn theo đời nàng
nàng đếm mãi trên bàn tay
(ôi những ngón tay yếu ớt như côn trùng đơn chiếc)
còn thanh xuân nàng ư?
nàng hỏi sao mùa đông loài chim ủ rũ
ôi những chiều những chiều kéo nàng vào bóng tối
những xót đau khó hiểu của hồn chàng,
chàng đặt giữa vũng tay nàng,
chàng bỏ chàng đi;
rồi mặc tình cho con lốc bi thương cháy rực.

nàng vuốt lên thân thể nàng;
ôi bàn tay em đâu là cánh tay anh.
nàng hôn lấy hôn lấy từng chiếc móng.
ở cuối đêm khuôn mặt chàng xanh.

CHIM 

một sáng thức dậy nàng biết nàng không còn tiếng hót
mặt trời nàng nhìn thẳng
cũng hóa đen

rồi mùa rét mang về nhớ nhung
lòng nàng mướt xanh
vết thương tự đấy mưng lên
nàng muốn bay vào miền ấm áp của lòng chàng
nhưng cánh nàng đã mỏi
và bắt đầu nàng gọi
rừng chập chùng
căn lầu vườn cây bốc cháy
đêm ơi đêm anh ơi anh 


CHÚ  THÍCH
Giai phẩm Quê Mẹ ( Xuân Canh Ngọ 1990) với tùy bút của Phạm Công Thiện, Tuyết vẫn bay đêm cuối năm, 83-87; và truyện của Nh. Tay Ngàn, Ngồi như nỗi gió reo cuồng,88-94, là tư liệu cung cấp nhiều thông tin quí về đoạn đời ở Pháp của nhà thơ. Bài trường ca Nỗi Liên đen tối vô cùng trong Tạp chí Thơ 13 (Thu 1998), 17-23 bổ túc thêm vài chi tiết tiểu sử về giai đoạn thiếu thời và mối tình đầu (?)  của Nh. Tay Ngàn ở Trà Vinh. Cảm ơn Trần Hoài Thư & Phạm văn Nhàn đã sưu tập hai bài thơ  Bàn Tay, và Chim, trong  bộ tài liệu Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến, Thư Ấn Quán xb, 2006. (Bạn đọc nào có thêm tư liệu, thông tin gì về Nh. Tay Ngàn xin vui lòng liên lạc với tôi.)  

CP
(Nguon: tu Google)






Tuesday, November 22, 2011


thơ trần văn sơn

Mưa trên những chùm chuỗi ngọc


Trời đang nắng chợt mưa rơi nặng hạt
Mưa mịt mù mưa dai dẳng ngày đêm
Vườn chuỗi ngọc em mưa bay xơ xác
Bầy lá phong trải thảm úa vàng sân

Em ngửa mặt hứng giọt mưa vần vũ
Giọt lệ sầu hiu hắt giấc mơ tan
Quê ngàn dặm nghẹn ngào sương tuyết phủ
Hồn cỏ cây lạ lẫm dấu chân quen

Em đội mưa nâng niu từng lá cỏ
Lạnh đôi tay ấm áp trái tim đời
Mưa ôm ấp quỳng hoa vừa nở rộ
Chuỗi ngọc xanh lấp lánh cuộc tình người

Mưa tí tách tiếng dương cầm réo rắt
Hòa ngũ âm khúc dạ cổ hoài lang
Người xưa đến mang hồn mưa u uất
Nhịp tử sinh cùng vũ trụ xoay vần

Em xuống phố quẩn quanh con phố nhỏ
Bụi mưa bay mơn trớn tóc em mềm
Mưa tầm tã che vầng trăng cố xứ
Trăng phương tây toả sáng xóa màn đêm

Mưa lang thang trong công viên cuồng loạn
Gió thét gào cây trốc gốc chênh vênh
Hồn tượng đá mang mang thiên cổ hận
Vọng cố nhân hề phương đông buồn tênh

Em đóng cửa xa đường mưa ngõ trúc
Bên án thư nghĩ chuyện một dòng sông
Lũ bàn ghế có em thêm hạnh phúc
Ngôi nhà có em sưởi ấm tình nồng

Đường trúc thư trang. 2011

Mưa  độc dược 


                                                   Mưa Tím. Tranh Lương Trường Thọ

Quỉ ám hồn đau sầu vận nước
Nâng ly rượu đắng xót xa đời
Mưa chiều độc dược ôm đầu khóc
Ghế trống chờ ai xé ruột người

TVS

Requiem
Anna Akhmatova
Nguyễn Ước dịch


                                                        Anna Akhmatova by Olga- Della-Vos  
  
   Ðó là nhan đề tiếng Anh (giữ nguyên gốc La-tin) của thi phẩm Rekviem, có nghĩa là lễ cầu hồn hoặc là nhạc cầu hồn, để nguyện cho linh hồn người quá vãng được siêu thoát. Requiem là một tập hợp gồm 15 bài thơ ngắn viết vào những thời điểm khác nhau, rải rác từ năm 1935 tới 1940, một đoạn văn xuôi viết năm 1957, và bốn câu đưa dẫn viết năm 1961. Thoạt nhìn, đây là một tác phẩm kết hợp giữa sử thi và thơ trữ tình; nhìn gần hơn, Requiem là một ai ca tưởng niệm và than khóc, trong đó khổ đau đã vượt mức giới hạn của nó khiến con người hóa đá tới độ không còn bất cứ cái gì có thể làm y sợ hãi. Với nội dung ấy, Requiem hội đủ cả hai đỉnh điểm đau thương và hùng tráng của một bi kịch.
    Trong cuộc đại khủng bố của Stalin, có một số lượng nạn nhân đông gấp bội nam giới. Họ bao gồm những người mẹ, người vợ, người tình và các nữ thân nhân. Cuộc hành quyết người chồng cũ và tình cảnh tù ngục của con trai đẩy Akhmatova vào xếp chung hàng với những người nữ khốn khổ ấy. Qua con mắt một người mẹ chứng kiến cảnh con trai bị bắt đi mất -theo lối diễn tả của Solzhenitsyn trong Quần đảo Gulag là “thình lình bị đẩy xuống rồi trôi tuốt tuồn tuột trong ống cống đen ngòm” -và kế đó, bà mỏi mòn suốt 17 tháng trời thống khổ, đứng xếp hàng ngóng cổ và bất lực ngó bức vách của nhà tù Kresty, ngay giữa Leningrad, với hi vọng được thăm nuôi hoặc gặp mặt, hay dù chỉ một lời nhắn hoặc thoáng thấy bóng dáng của người thân trước khi y không thể tránh bản án lên đài xử giảo hay đi đày Siberia.
   Ðể có thể diễn tả tận cùng các cảm xúc, Akhmatova hóa thân vào nhiều vai. Khi ngôi thứ nhất, khi ngôi thứ hai hay thứ ba. Khi nói với con trai, nói với những người tình cờ đồng cảnh ngộ và khi nói với chính mình, thậm chí nói với thần chết và với người chưa sống. Nhân vật trung tâm của Requiem lầm lủi bước khập khểnh lên các bậc thang khổ ải khác nhau. Từ đau đớn câm lặng tới dần dà mất niềm tin. Từ giọt nước mắt khô tới lệ trào đẫm má. Từ dùng lý trí kềm chế tới nức nở kêu gào. Và quyết tâm sắt thép khi khổ nạn đã vượt ra ngoài trí tưởng của bản thân và dân tộc. Sau cùng, những nốt nhạc và lời ca chất ngất của Requiem lắng xuống với âm thanh xa đưa của chim câu và hình ảnh cánh buồm êm ái xuôi dòng trường giang, như một lời chúc an tĩnh để lại cuả linh hồn vừa được siêu thoát.
   Từ cảm xúc hiện thực lên tới bí nhiệm tôn giáo, từ nhà tù bôn-sê-vich lên tới hoạt cảnh Núi Sọ trong Phúc âm Kitô giáo, Akhmatova góp phần xác nhận rằng về mặt tâm linh, đức tin tôn giáo là nơi an trụ và nguồn dũng khí cho con tim khi phải đương cự cái ác. Requiem trở thành tiếng nói của quần chúng bị đọa đày khi tác giả của nó phổ quát hóa nỗi đau riêng tư cùng sự mất mát bằng hữu, những trí thức văn nhân đồng trang lứa bị hành quyết, khổ sai hay phải lưu vong, tới cả một dân tộc lâm nạn trong máu và nước mắt. Qua thơ, bà thăm dò vai trò của thi sĩ như người làm chứng cho sự thật và thơ như một ngôn ngữ của thương khó và cứu rỗi, vũ khí của đề kháng và kết đoàn. Từ đầu tới cuối Requiem thấm thía cả ý lẫn lời vinh danh tình thương và tưởng niệm, như một sức mạnh vượt lên trên cái ác và tạo sức lực cho một tình thế bất lực.
    Có lẽ nhờ soi chiếu được “nước Nga vô tội” và chất ngất tình tự, dồi dào thi tính nên Requiem được bí mật bảo lưu suốt mấy chục năm giữa Akhmatova và vài người bạn can trường, tín cẩn, vì chưa biết điều khủng khiếp nào sẽ xảy tới cho người truyền tụng các tác phẩm văn học đang bị một nhà nước sắt máu tìm cách hủy diệt, nhất là đối với loại thơ như Requiem. Lối sáng tác bằng các đoạn ngắn truyền khẩu theo kiểu Requiem cũng tiêu biểu cho cách thức được người dân Nga dùng để hiệp thông, nâng đỡ và hỗ trợ nhau trong những năm sống dưới chế độ Stalin. Nhờ thế, trong bí mật, chữ nghĩa được bọc rất kín, chẳng để lại dấu vết nào để guồng máy toàn trị có thể dùng làm nguyên cớ trấn áp khi trắng trợn man rợ khi độc hiểm khôn lường.
    Năm 1963, Requiem được xuất bản bởi Hiệp hội Nhà văn Lưu vong Nga (Society of Russian Emigré Writers) từ một bản lọt được qua phương Tây. Nhưng mãi tới 24 năm sau, năm 1987, nó mới được xuất bản đầy đủ tại Nga. Bản dịch dưới đây được làm thành qua đối chiếu và phối hợp từ bốn bản dịch tiếng Anh khác nhau (xem phần Nguồn). Trong khi chờ ngày có được một bản dịch Requiem từ nguyên văn tiếng Nga, chúng tôi xin bạn đọc hãy vui lòng xem đây như một bản tạm dịch.


                    The monument to Anna Akhmatova in the village of Slobidska Shelekhivska

REQUIEM
Anna Akhmatova
Không dưới các vòm trời nước khác đỡ che,
Và không dưới cánh chim xứ lạ cứu chở,
Ở đây dân tộc tôi bị bỏ rơi,
Và tôi chung chia mọi điều bất hạnh
1961

THAY LỜI MỞ ÐẦU
   Trong những năm kinh hoàng thời khủng bố Yezhov[1], tôi trải qua mười bảy tháng xếp hàng bên ngoài nhà tù Leningrad[2]. Ngày nọ, có người “nhận ra” tôi. Một phụ nữ môi tím ngắt, đứng chung hàng ngay sau lưng tôi, và dĩ nhiên suốt đời mình, bà không bao giờ nghe nói tới tên tôi. Chợt như choàng tỉnh khỏi cơn lờ đờ, một trạng thái mất cảm giác chung của chúng tôi lúc ở đó -bà kề miệng sát tai tôi và thì thầm- như mọi người đều thì thầm lúc ở đó:
   - Bà có thể tả lại việc này không?
   Và tôi trả lời:
   - Vâng, tôi có thể.
   Ngay lúc đó, tựa như có một nụ cười lướt qua cái từng có lần là khuôn mặt của bà ấy.
1 tháng Tư 1957 Leningrad
LỜI ÐỀ TẶNG
Núi cúi đầu trước thống khổ này,
Sông lớn ngưng chảy.
Nhưng các cửa nhà giam vẫn im lìm chốt cứng,
Và đằng sau chúng, những “cái hang của người tù”
Thấp và tối, đầy bi thảm chết chóc.
Có ai đó vẫn cảm thấy ráng chiều thắm đỏ,
Có ai đó vẫn có thể nhận ra
Ngày với đêm, và ngọn gió hiu hiụ thổi cho ai.
Còn ở đây chúng tôi chỉ biết
Nơi nào cũng giống nơi này, chúng tôi chỉ nghe
Tiếng chìa khóa leng keng đáng ghét
Với bước chân nặng nề của các lính canh.
Thức dậy rất sớm như đi lễ nhà thờ,
Lê bước qua thủ đô hoang vu,
Ðể làm thành đám người chết dở.
Mặt trời thấp hơn mọi ngày, và dòng Neva mù sương hơn,
Còn hi vọng vẫn hát mãi ở chốn xa xôi.
Phán quyết đọc. Lập tức cơn lụt nước mắt,
Và rồi bốn bề hiu hắt.
Như thể trái tim bà đang đập bị rứt ra đau xé ruột, và vứt đi
Hoặc đẩy cho bà nằm sấp mặt trên con đường lát đá,
Nhưng bà vẫn gắng gượng bước đi, loạng choạng, một mình
Ở đâu hỡi những người bạn tình cờ của tôi,
Những tù nhân của hai năm hiểm ác,
Phép lạ nào các người thấy trong trong những cơn bão tuyết Siberia?
Ảo giác nào lung linh quanh vầng trăng?
Tôi đang gởi tới từng người lời chào vĩnh biệt. [3]



                       Tượng đài tưởng ni ệm Anna Akhmatova ở gần nhà tù Kresty (Saint Petersburg)
LỜI MỞ ÐẦU
Những năm tháng đó chỉ có kẻ chết mỉm cười
Mừng được an nghỉ,
Leningrad như khúc ruột thừa vô dụng
Ðong đưa giữa các nhà tù.
Cũng là thời các sân ga
Thành nơi nương náu của những người mất trí,
Xếp thành đội hình, đi dọc theo
Các đầu máy xe lửa rúc lên lanh lảnh
Bài ca vĩnh biệt cụt ngủn.
Các ngôi sao chết treo trên đầu chúng tôi,
Treo trên đầu nước Nga vô tội
Oằn mình dưới những đôi ủng nhuốm máu,
Và dưới bánh của đoàn xe tang đen[4].
1
Họ đến bắt con đi trong mù sương rạng sáng,
Mẹ lê theo sau, như đưa tang đứa con chết lúc lọt lòng.
Trong căn nhà tối tăm, lũ trẻ khóc
Ngọn nến leo lét, chiếu lên khung hình Ðức mẹ Sầu bi…
Màu giá băng của tượng thánh, trên môi con,
Mồ hôi lạnh chết chóc, trên lông mày con… Không thể nào quên!
Mẹ sẽ rón rén đi tới bức tường than khóc của chúng ta,
Và bò lết tới mấy ngọn tháp Kremlin[5]. [6]

2
Êm đềm chảy sông Don êm đềm,
Ánh sáng vàng lọt vào túp lều,
Trăng lưỡi liềm nghiêng mũ lệch,
Thấy qua cửa sổ chiếc bóng liệt giường,
Người đàn bà ốm đau quạnh quẽ.
Người đàn bà sóng soải trơ vơ.
Con đi tù, chồng về đất.
Ôi, hãy cầu nguyện cho tôi!

3
Không, không phải tôi, ai đó khác đang khổ đau.
Những gì đã xảy ra, tôi không còn chịu nổi.
Hãy trùm kín chúng bằng tấm vải liệm đen,
Và hãy lấy đi những chiếc đèn lồng.
Ðêm. [7] 

4
Nên cho mầy thấy, hỡi nàng tôn nữ một thời hay chọc ghẹo
Hết thảy bạn hữu của mầy, hỡi con vật cưng chiều,
Ðứa tội lỗi hồn nhiên của biệt điện Tsarskoye Selo[8].
Nếu chỉ một mình mầy có thể thấy trước,
Những gì cuộc đời sẽ làm cho mầy,
Rằng mầy sẽ đứng, bọc đồ trên tay,
Bên dưới khu Thánh giá[9], xếp hàng với ba trăm người.
Những giọt nước mắt nóng hổi và cay đắng của mầy,
Ðang nung chảy băng giá Tân Niên.
Ðằng kia, cây bạch dương của nhà tù đưa qua đưa lại
Không một tiếng kêu – và lúc này, đằng kia bao nhiêu
Người vô tội đang đánh mất cuộc đời. [10]

5
Suốt mười bảy tháng dài mẹ kêu khóc
Mẹ gọi con về nhà
Mẹ ném mình dưới chân các đao phủ, không chỉ một lần,
Vì con, con trai của mẹ, nỗi kinh hoàng của mẹ!
Mọi sự đã trở nên mãi mãi mù mờ,
Mẹ không còn phân biệt nổi
Ai thú vật, ai con người,
Và bao giờ tới lúc xử giảo.
Lúc này, chỉ còn các bông hoa đầy bụi,
Cùng tiếng loảng xoảng của lư hương vọng lại từ xa,
Không ở hẳn một nơi nào trên mặt nước đá
Có ngôi sao thật lớn
Ðang nhìn thẳng mắt mẹ,
Và hăm dọa mẹ với cái chết lơ lửng. [11]
6
Ngoài này, những tuần lễ sáng trời đang vụt qua nhanh.
Mẹ sẽ không biết điều gì xảy tới
Trong nhà tù bằng đá, con trai yêu của mẹ,
Những đêm trắng canh chừng con như thế nào,
Và chúng chằm chặp nhìn ra sao
Bằng con mắt chim ưng đỏ ửng,
Xuống cây thánh giá con treo trên cao
Và cái chết đang chầm chậm tới. [12]
7
Tuyên án
Rồi lời ấy như đá
Rớt xuống lồng ngực vẫn phập phồng của mẹ.
Ðừng lo nghe con, mẹ đã sẵn sàng,
Mẹ sẽ hết mình xoay xở.
Hôm nay, cám ơn Chúa, có nhiều việc phải làm
Mẹ cần giết sạch ký ức,
Bắt linh hồn hóa thành tảng đá,
Bắt da thịt sống thêm lần nữa.
Giá như không có… Tiếng xào xạc của mùa hè nóng bức
Như lễ hội đang bên ngoài cửa sổ.
Mẹ linh cảm từ lâu điều này,
Một ngày quang đãng và ngôi nhà bỏ hoang. [13]

8
Nói với Thần chết
Trước sau gì ngươi cũng đến – tại sao không ngay lúc này?
Ta đang chờ ngươi – Ta không còn chịu nổi,
Ta đã thổi tắt đèn và mở toang cửa
Cho ngươi, rất đơn giản và rất tuyệt vời.
Hãy khoác lấy bất cứ hình thức nào ngươi muốn.
Hãy nổ bùng như quả bom hơi ngạt,
Hay bò vào như kẻ cướp lão luyện với quả đấm sắt,
Hay đầu độc ta bằng cơn sốt thương hàn,
Hay với truyện thần tiên do ngươi bày đặt,
(Ai cũng nghe quen tới độ buồn nôn) trong đó cuối cùng
Ta có thể thấy đằng sau ngươi trên ngưỡng cửa
Những chiếc mũ công an xanh nhạt,
Và vẻ mặt trắng bệch hớt hải của người gác chúng cư.
Cách nào cũng được, ta không màng nữa. Sông Yenisei
Ðang cuồn cuộn chảy. Sao Bắc đẩu đang nhấp nhánh.
Và ánh chớp xanh của những con mắt ta rất yêu dấu
Ðang khép lại trong cơn hãi hùng tối hậu. [14]   

9
Cơn điên dại đã dang cánh
Phủ bóng lên nửa trái tim tôi.
Cho tôi rượu nồng để uống,
Và kéo tôi xuống thung lũng tối đen.
Ðó cũng là lúc tôi nhận ra,
Trong khi lắng nghe cơn mê sảng xa lạ của mình,
Rằng tôi phải trao chiến thắng
Cho nó.
Và nó không cho phép tôi mang theo
Một chút gì của tôi.
(Cho dẫu tôi năn nỉ cách nào đi nữa,
Cho dẫu tôi van nài bao nhiêu đi nữa).
Không đôi mắt kinh hãi của con trai tôi
Ðang khổ đau hóa đá.
Không cái ngày khủng khiếp ấy,
Không cái giờ tôi thăm nuôi nó nơi nhà tù.

Không cái mát lạnh dịu dàng của bàn tay nó,
Không chiếc bóng run rẩy của mấy cành dương[15] ,
Không âm thanh đưa lại từ xa
Của những lời an ủi sau cùng. [16]
10 
Hành hình
“Mẹ ơi, đừng khóc cho con,
kẻ ở trong mồ”.
I
Ca đoàn thiên thần hát tụng ca trong giờ trọng đại ấy,
Và các tầng trời chảy ra thành lửa.
Ngài nói với Chúa Cha: “Sao Cha bỏ con…”
Nhưng với Mẹ ngài: “Ðừng khóc cho con…”
II
Maria Magdalene đấm ngực sụt sùi,
Người môn đệ yêu quí[17] biến thành đá.
Nhưng không ai dám – dù khoảnh khắc thôi
Liếc về phía Mẹ[18] đang một mình đứng im. [19]

LỜI KẾT
I
Lập tức mẹ biết các bộ mặt rạn ra như thế nào
Như thế nào cơn kinh hoàng toát lên từ dưới mi mắt
Như thế nào khổ đau tạo thành những trang bản thảo
Bằng chữ hình nêm khắc sâu trên gò má nhợt nhạt.
Như thế nào mái tóc đen hay màu hung hoa râm
Bỗng chốc bạc trắng,
Nụ cười mờ dần trên đôi môi quị lụy,
Và những run rẩy sợ hãi trong tiếng cười khô.
Và mẹ đâu cầu nguyện cho riêng mình mẹ,
Còn cho hết thảy những ai đứng bên ngoài nhà tù,
Trong lạnh buốt hay chói chang mùa hạ,
Bên mẹ, dưới bức tường đỏ mù lòa.

II
Thêm lần nữa giờ tưởng niệm tới gần
Tôi thấy, tôi nghe, tôi cảm giác các bạn
Tất cả các bạn: kẻ què liệt phải có người dìu dắt,
Rất đau đớn, cho tới lúc xong hàng; kẻ ngất ngư;
Và cô gái ấy, kẻ lắc lắc chiếc đầu xinh đẹp,
Và nói: “Tôi tới đây như thể nó là nhà.”
Tôi muốn gọi hết thảy bằng tên từng người,
Nhưng danh sách đã bị lấy đi và không biết tìm nó ở đâu.
Tôi đã dệt cho họ chiếc khăn choàng vĩ đại,
Từ những lời khúm núm tôi từng nghe lỏm.
Tôi vẫn nhớ chúng, không sót một tiếng, bao lâu còn sống,
Dù khủng khiếp mới hay khổ nạn mới, tôi chẳng hề quên. 
Cho dẫu người ta bịt kín cửa miệng kiệt sức của tôi,
Nơi qua đó cả trăm triệu người gào thét;
Tôi mong biết mấy khi tôi lìa đời,
Họ sẽ nhớ tới tôi trong ngày lễ giỗ.
Và nếu ngày nào đó trên đất nước này,
Có người nào đó quyết định dựng tượng đài cho tôi.
Tôi bằng lòng vinh dự ấy,
Với một điều kiện – rằng nó sẽ đứng
Không ở bên bờ biển, nơi tôi chào đời,
Mối dây sau cùng của tôi với biển ấy đã đứt.
Không ở trong vườn hoàng gia gần lùm thông reo,
Nơi chiếc bóng tuổi trẻ khôn nguôi đang tìm kiếm tôi.
Nhưng ngay chỗ này, nơi tôi đã đứng suốt ba trăm giờ,
Và là nơi người ta không bao giờ mở chốt cửa cho tôi.
Hãy nghe đây, cả trong cái chết sung sướng tôi vẫn còn sợ
Rằng tôi sẽ quên đoàn xe tang đen.
Quên như thế nào cánh cửa ghê tởm đóng sập lại
Và một bà lão hú lên như con thú bị thương.
Và có thể dòng tuyết đang tan như những giọt nước mắt,
Từ hàng mi bất động bằng đồng của tôi.
Và chim bồ câu nhà tù gù lên ở một chốn xa
Và những con thuyền thuận buồm xuôi dòng Neva. [20]          


Chú thích
[1] Khủng bố Yezhov. Cuộc đàn áp tập thể tại Liên bang Sô viết, đặc biệt trong hai năm 1938-39, cao điểm của Ðại khủng bố thời Stalin (The Great Terror) khởi sự từ đầu thập niên 1930. Cuộc này được tiến hành bởi Nicolai Yezhov (1895-1939?), ủy viên nội vụ của Stalin (đứng đầu cơ quan NKVD). Chỉ riêng tại Ukraine, có tới 162.000 đảng viên Bôn-sê-vich, chiếm 35% tổng số, biến mất; khoảng 98% ủy viên trung ương và 80% ủy viên khu vực bị bắt. Các thành viên hàn lâm viện như Mykhailo Kravchuk và Yeven Oppokiv bị tống vào trại lao động. Các nhà văn như Ivan Mykytenko, Ivan Kulyk, Borys Kovalenko, Ivan Kyrylenko, và Mykola Filiansky biến mất không một dấu vết.
[2] Nay là nhà tù Kresty.
[3] Akhmatova ghi: Tháng Ba 1940
[4] Bản tiếng Anh: Black Marias (Ðoàn xe ngựa đen trong đám ma).
[5] Hai câu cuối của đoạn này lấy từ bản của D.M. Thomas; ba bản dịch khác (xem phần Nguồn), đều đại thể giống nhau: “Mẹ sẽ giống như vợ của những người Streltsy bị giết, Than vãn không nguôi dưới các ngọn tháp Kremlin”. Ðội thị vệ Streltsy đứng lên nổi loạn chống lại Pyotr Alexeyevich Romanov (Peter I Ðại đế) năm 1698. Hầu hết bị hành quyết hoặc lưu đày.
[6] 1935, Mùa thu, Moscow
[7] 1940
[8] Dinh thự của hoàng gia vào mùa hè, cách trung tâm St. Petersburg 26 cây số, nơi giới quí tộc thường lui tới, (nay là thị trấn Pushkin), nơi Akhmatova sống thời thơ ấu, và là nơi bà gặp người chồng thứ nhất, Nicolay Gumilyov.
[9] Các bản tiếng Anh: The Crosses. Quần thể của nhà tù Kresty tại trung tâm Leningrad, nay lấy lại tên cũ là Petersburg, gần nhà ga Finland, được gọi là khu Thánh giá vì nó có hình hai tòa nhà chéo nhau. Nhà tù này gồm 960 xà lim, thiết kế nguyên thủy là để giam 1.150 người tù.
[10] 1938
[11] 1939
[12] 1939, Mùa xuân
[13] 22 tháng Sáu, 1939, mùa Hè. Fontannyi Dom (ngôi nhà Akhmatova sống ở Leningrad).
[14] 17 tháng Tám, 1939
[15] Cả bốn bản tiếng Anh: Limetrees hoặc lindens, cây đoạn. Tôi dùng “cành dương” cho có thi tính và gần gủi với người Việt.
[16] 4 tháng Năm, 1940, Fontannyi Dom
[17] Tông đồ Gio-an, người được Ðức Giê-su yêu quí nhất trong 12 Tông đồ và trối lời phó thác mẹ của ngài.
[18] Ðức bà Maria.
[19] 1940 Fontannyi Dom
[20] Tháng Ba 1940, Fontannyi Dom

Nguồn:
1. Anna Akhmatova, Selected Poems , D.M. Thomas dịch, Nxb Penguin Books, New York, HK, 1976, bài Requiem, tt.87-96;
2. Requiem, Yevgeny Bonver dịch, www.poetryloverspage.com/yevgeny;
3. Requiem, Sasha Soldatow Mayakovsky dịch,
www. Eliteskills.com/analysis_poetry/Requiem_by_Anna_Akhmatova_analysis.php-;
4. Requiem, Judith Hemschemeyer dịch, www.bezumive.com/requiem.htm;
5. en.wikipedia.org/wiki/ Anna_Akhmatova;
6. Và một số trang web có liên quan tới Anna Akhmatova.