Monday, December 12, 2022

NGUYỄN VĂN SÂM: NGƯỜI GIỮ HỒN NƯỚC

Phan Tấn Hải
 
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm
cùng phu nhân, nhà văn Ngọc Ánh.
 
Người ta đã gọi Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm bằng nhiều danh hiệu, và lời nào cũng đúng, cũng trang trọng: nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà dịch thuật… Nhưng có một cách gọi khác, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Trần từ Paris viết rằng Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm là người giữ Hồn Nước. Và thực tế, xuyên suốt tất cả những tác phẩm của GS Nguyễn Văn Sâm là một tấm lòng thiết tha muốn tìm về cội nguồn, để lắng nghe những chữ nghĩa sâu thẳm nhất của tiền nhân.
 
Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần đã nhận định: “…cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và chữ Nôm. Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ…
Cách nay vài năm, cứ mỗi năm vào mùa thu, Giáo sư Hán Nôm Nguyễn Văn Sâm vẫn đều đặn qua Paris một tháng, dành nhiều thì giờ vào thư viện tìm những bản văn Nôm của tác giả xứ Nam kỳ để diễn dịch ra quốc ngữ với thêm chú giải. Cách nay hai năm, vì không kịp đọc tại chỗ, ông in lại hơn 3000 trang ôm về Huê Kỳ đọc và phiên dịch. Ông nói thấy ham quá nhưng bây nhiêu đây cũng phải mất nhiều thì giờ mới làm xong. Năm rồi ông không qua Paris được vì dịch Vũ Hán. Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm là người trong số rất hiếm quí làm công việc không còn mấy người làm này. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay tre đã già đang chờ măng mọc!” (ngưng trích)
 
Thử nhìn khắp trong và ngoài nước, chúng ta có thể đếm thấy nhiều ngàn nhà văn, hàng trăm ngàn nhà giáo… nhưng không có bao nhiêu người gọi được là học giả Chữ Nôm. Và trong các học giả Chữ Nôm, Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm đã nổi bật như một ngọn núi khổng lồ, nhờ các công trình dịch và chú giải các tác phẩm Chữ Nôm, đặc biệt là “những tác phẩm chữ Nôm là những gia tài cổ có một không hai của văn học Việt Nam” – như cách nhà nghiên cứu Hoàng Kim Oanh ghi nhận qua bài viết nhan đề “Nguyễn Văn Sâm và dòng chảy văn chương Nam Kì Lục Tỉnh” trích như sau:
 
Ngoài tuồng, cải lương, truyện thơ bình dân, truyện ngắn, giai đoạn sau này, thơ Nôm là một thể loại được ông quan tâm đặc biệt. Ông cho rằng chữ Nôm và những tác phẩm chữ Nôm là những gia tài cổ có một không hai của văn học Việt Nam, ra đời trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước và có giá trị giáo dục rất cao song đang dần bị mai một. Đó là các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu... Gần 20 năm nay, tác giả đã lặng lẽ đi tìm ở các thư viện trên các nước Mỹ, Pháp, kết hợp với những chuyến về thăm quê, lùng tìm… Có khi ngẫu nhiên nhặt được trên bệ thờ một gia đình xứ Huế, có khi trên gác bếp một căn nhà nông thôn Nam Bộ do con cháu biết là của ông cha để lại nhưng không hiểu nội dung viết gì đành giữ đó như một di vật của tổ tiên… Có khi được tặng không, có khi phải mua cả mấy cây vàng… Công cuộc tìm kiếm tôn tạo giữ gìn vốn cổ ấy cho đến nay nhà văn của chúng ta vẫn chưa dừng bước.” (ngưng trích)
 
Để hình dung được những chặng đường học và nghiên cứu rất mực đa dạng của người giữ hồn nước đó, nơi đây chúng ta ghi ra sơ lược tiểu sử của GS Nguyễn Văn Sâm.
 
GS Nguyễn Văn Sâm sanh ngày 21/3/1940 tại Sàigòn. Tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Triết Học (Tây Phương) năm 1965, Cao Học Văn Chương (Việt Nam) năm 1972, và Năm Thứ Nhứt Tiến Sĩ Văn Chương Việt Nam (Khóa độc nhất trước 1975). Từng dạy Trung học (Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Sàigòn), Đại học (Sàigòn, Cần Thơ, Hòa Hảo, Cao Đài, Vạn Hạnh). Vượt biên đến Nam Dương tháng 03/1979, vào Mỹ tháng 09/1979. Dạy học từ đó đến khi về hưu năm 2006. Viết cho các tạp chí Văn, Văn Học, Đi Tới, Chánh Pháp….
Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Giáo sư Viện Việt Học, California, Hoa Kỳ.
 
TÁC PHẨM IN TRƯỚC 1975:
1. Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Kỷ Nguyên, Sàigòn, 1969),
2. Văn học Nam Hà (Lửa Thiêng, Sàigòn, 1972, 1974),
3. Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp 1945-1954 (Lửa Thiêng, Sàigòn, 1972, Xuân Thu, CA, 1988).
 
SAU 1975:
A. Sáng tác:
1. Miền Thượng Uyển Xưa, tập truyện (Bách Việt, CA 1983, in chung với Đặng Phùng Quân),
2. Câu Hò Vân Tiên, tập truyện (Gió Việt, TX, 1984),
3. Ngày Tháng Bồng Bềnh, tập truyện (Gió Việt, TX, 1987),
4. Khói Sóng Trên Sông, tập truyện (Văn, CA, 2000),
5. Quê Hương Vụn Vỡ, tập truyện (Viện Việt Học, CA, 2012),
6. Giọt Nước Nghiêng Mình, tập truyện (Viện Việt Học, CA, 2018),
7. Ước Vọng Bay Tan, kịch thơ (Tiếng Quê Hương, Virginia, 2016).
 
B. Phiên âm từ sách Nôm:
1. Trương Ngáo (Viện Việt Học, 2008),
2. Tội Vợ Vợ Chịu (Viện Việt Học, 2010),
3. Người Hùng Bình Định (Viện Việt Học, 2012),
4. Mà Lòng Tôi Thương (Viện Việt Học, 2013),
5. Tỉnh Mê Một Cõi (Viện Việt Học 2015),
6. Báo Ứng Nhân Quả (Gió Việt, 2016).
7. Nữ Tắc Diễn Âm (Lời Dạy Đàn Bà - Con Gái)
8. Tam Quốc Diễn Nghĩa Ca. (Viện Việt Học, 2020)
8. Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ (Viện Việt Học, 2021)
9. Quan Âm Tế Độ (Viện Việt Học, 2022)
 
C. Chú giải sách xưa:
1. Kể Chuyện Tình Buồn (Chú giải “U Tình Lục” của Hồ Văn Trung, 2014),
2. Chuyện Đời Xưa (Chú giải “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký (Ananda Viet Foundation, 2017).
 
Những người sinh hoạt trong học giới nghĩ gì về Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm và các công trình?
Cư sĩ Tâm Huy Huỳnh Kim Quang, cũng là một nhà nghiên cứu uyên bác về Phật học và Hán học, nơi Lời Giới Thiệu sách Quan Âm Tế Độ đã ghi nhận: “Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm là một trong số hiếm hoi các học giả có thẩm quyền về chữ Hán-Nôm của Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay đã nỗ lực không ngừng để chạy đua với tuổi già sức yếu mà hoản thành việc phiên âm sang chữ quốc ngữ nhiều tác phẩm văn học chữ Nôm.”
 
Chúng ta sẽ thấy là, nếu một dịch giả không đủ uyên bác và nhạy cảm văn học như GS Nguyễn Văn Sâm, sẽ không giúp độc giả hiểu và cảm được tác phẩm, có khi sẽ còn ngộ nhận hay hiểu sai lệch. Đặc biệt là nhiều tác phẩm cổ thường pha trộn tư tưởng tam giáo đồng nguyên Nho-Lão-Phật đòi hỏi người dịch và chú giải phải có một nền học vấn rất thâm sâu.
 
Do vậy, GS Trần Huy Bích nhận định rằng GS Nguyễn Văn Sâm đã rất công phu khi phiên âm và chú giải bản Quan Âm Diệu Thiện (Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Kinh). Dựa theo bản khắc năm Mậu Thân 1908 năm thứ 34 niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh). Phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ là: Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm.
 
GS Trần Huy Bích nói rằng GS Nguyễn Văn Sâm đã có những chú giải rất cần thiết. Bởi vì, nếu, không có chú giải, chúng ta không hiểu được chữ của tiền nhân.
 
Thí dụ như câu 87-88 ở sách Quan Âm Tế Độ:
Thiên Tôn Vô Cực tòa tiền
Từ Hàng quì gối phút liền tâu qua.
Chú giải rằng: Vô Cực Thiên Tôn theo dân gian Nam Bộ là Diêu Trì Kim Mẫu hay Tây Vương Mẫu, nhân vật truyền thuyết của Đạo Giáo. Còn Từ Hàng là hình ảnh Quan Âm Bồ Tát trong Phong Thần Diễn Nghĩa. Tức là trong tác phẩm, những niềm tin dân gian pha trộn nhau để thành tiểu thuyết chữ Nôm, như một phương tiện đem giáo lý nhà Phật tới cho người bình dân Nam Bộ.
 
Cái pha trộn tam giáo đó cũng hiển lộ ở câu 100, 101:
Chỉ ư chí thiện tiền trình đâu riêng
Lập công phản bản, hoàn nguyên.
Nhóm chữ “Chỉ ư chí thiện” là từ sách Đại Học của Nho Giáo, trong khi “phản bản hoàn nguyên” là từ sách Thiên Thai Chỉ Quán của nhà Phật. Nếu không có chú giải, độc giả thời nay sẽ khó nắm ý tác giả.
 
GS Trần Huy Bích cũng ca ngợi về chỗ chú giải câu thơ 909:
Hay đâu cứng cổ việc tu
Bản Nôm viết là “cheo” (Cheo đâu cứng cổ việc tu) nhưng GS Nguyễn Văn Sâm nhận ra là in nhầm vì nên là chữ “hay” do cách viết 2 chữ rất gần nhau. Nghĩa là, chữ nghĩa rất thâm hậu mới nhận ra sách in sai. Có bao nhiêu người trên đời này dò ra cái in sai của cổ thư? Hy hữu vậy.
 
Có một phương diện khác của Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm: viết truyện ngắn, và viết rất độc đáo. Nhà phê bình văn học Trần Văn Nam đã nhìn về nét phương ngữ qua bài nhan đề “Nguyễn Văn Sâm, nhà văn viết về những lập nghiệp lên từ sông Bến Nghé” trích như sau:
 
Ta thấy các nội dung trong các truyện của Nguyễn Văn Sâm không ngoài tình đất, tình quê hương, tình người nhân nghĩa, tình gia đình gắn bó; nhưng những điều đáng kể trong các truyện của Nguyễn Văn Sâm ở chỗ ông tận dụng phương ngữ của người bình dân Sài Gòn; có lẽ thuộc về phương ngữ Sài Gòn hơn là phương ngữ Nam Bộ như ta thường gồm chung lại. Do phương tiện đi lại thuận tiện, giao lưu thường xuyên giữa Sài Gòn và Miền Tây Miền Đông, nên phương ngữ các vùng ấy không có gì khác, nhưng cũng có những câu nói mà người Sài Gòn bình dân thường dùng nhiều hơn. Trong các truyện của Nguyễn Văn Sâm, phương ngữ rất dồi dào; như vậy nhà văn như cũng đã áp dụng phương châm của một số nhà văn coi “cách diễn tả quan yếu hơn điều muốn diễn tả”. Cách diễn tả muốn cho đậm chất tình quê hương tình đất thì tận dụng phương ngữ, như vậy làm cho nội dung và hình thức gắn bó với nhau. Nhưng thiển nghĩ, điều ấy nên áp dụng ở những câu đối thoại.” (ngưng trích)
 
Một văn phong miệt vườn, nhưng đi rất xa… Đó là nhận định từ nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh khi nói về ngòi bút Nam Bộ trong truyện Nguyễn Văn Sâm qua bài viết nhan đề “Đọc ‘Khói Sóng Trên Sông’ của Nguyễn Văn Sâm” trích như sau:
 
Văn chương Nguyễn Văn Sâm tưởng chừng theo truyền thống viết-như-nói khởi từ trường phái Trương Vĩnh Ký, qua Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc đến Võ Kỳ Điền, Nguyễn Tấn Hưng thời hiện đại. Khởi sáng tác cùng thời với hai nhà văn sau, nhưng các truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm nếu đọc kỹ mới thấy ông đi xa hơn: ông viết như nghĩ và dùng ngôn ngữ nói để làm văn chương. Ông hấp dẫn người đọc bằng các chi tiết ly kỳ xen kẽ với lối nói, lối suy nghĩ của các nhân vật đa dạng nhưng tiêu biểu cho “miệt vườn”. Cái khiến Nguyễn Văn Sâm không giống các nhà văn “miệt vườn” khác, là chính trong câu văn mà muốn hiểu thì người đọc phải hiểu được mạch nổi, mạch chìm và lớp từ ngữ bộn bề, dồi dào, nhuốm trí thức của ông. Có thể xem Chờ Cho Trăng Lặn và Như Nước Trong Nguồn là hai truyện ngắn tuyệt tác tiêu biểu của Nguyễn Văn Sâm!” (ngưng trích)
 
Tuy nhiên, tận trong gốc rễ, nhà văn Nguyễn Văn Sâm đã viết truyện như một nhà giáo, với ngòi bút rất mực thần sầu quỷ khốc. Đó là nhận định của Giáo sư Đàm Trung Pháp, người có giao tình với GS Nguyễn Văn Sâm vì là đồng nghiệp dạy học ở các đại học Sài Gòn trước 1975, sau qua Mỹ gặp lại và cùng hoạt động về Việt học. GS Đàm Trung Pháp trong bài viết nhan đề “Giới thiệu tập truyện Quê Hương Vụn Vỡ của Nguyễn Văn Sâm” đã ghi nhận về người viết truyện rất mực Nam Bộ này như sau:
 
Quý bạn đọc đang cầm trong tay một tuyển tập truyện ngắn đặc sắc qua ngòi bút Nguyễn Văn Sâm. Tôi có cảm tưởng mỗi truyện anh viết là một kỷ niệm đậm sâu trong đời anh, hoặc trong đời một người rất thân của anh, mà khi đọc xong, dù vui hay buồn, tôi còn lưu luyến mãi trong lòng như một nhắc nhở ray rứt. Anh là một nhà văn gốc nhà giáo có một tâm hồn hướng thượng, một trái tim nhân ái, một ước vọng chấn hưng đạo đức trong một quê hương đang băng hoại về lối sống; do đó, mỗi truyện của anh là một bài ngụ ngôn thấm thía. “Văn dĩ tải đạo” là sứ mệnh văn chương của anh mà anh đã thực hiện một cách ngoạn mục trong tập truyện. Phương tiện để anh đạt mục tiêu vừa kể là một văn phong truyền cảm, thành tâm, sâu sắc, quan sát tận tường. Thêm vào đó là những yếu tố bất ngờ kỳ thú trong các cốt truyện được anh xây dựng mạch lạc, những từ vựng thực vui mắt của một phương ngữ miền Nam đáng yêu, và những đoạn văn tả chân thần sầu quỷ khốc của anh mỗi khi anh ra tay hạ xuống. Một bí quyết nữa khiến những truyện ngắn của anh thành công là chúng đều có một mở đầu gợi cảm kích thích bản chất tò mò của người đọc (khiến họ không thể bỏ cuốn sách xuống) và một kết luận làm người đọc xao xuyến trong lòng (khiến họ khó quên được câu chuyện).” (ngưng trích)
 
Nhìn chung về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm, chúng ta thấy rằng tác giả không tách rời mình vào trong tháp ngà của văn chương. Ông hội nhập vào đời sống, mở mắt lớn ra nhìn những cảnh đời và ghi nhận những điều xấu cũng như tốt của cuôc đời: Truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm còn gần gũi thời sự với những chuyện tranh chấp biển đất của Trung-quốc, khiến những hố chưn voi chia cắt những người Hoa Việt sống chung từ nhiều đời (Những hố chưn voi trong lòng người). Hay chuyện người Hoa chế biến thực phẩm, dầu mè ra sao (Chuyện đổi chó), chuyện hóa chất, chuyện đẻ mướn, chuyện 'tàu lạ' hoành hành ngoài khơi, v.v. đã xảy ra từ thuở xa xưa rồi! Không lạ, nhưng khi đặt đặt để trong chuyện, thì lạ lẫm hơn bình thường!
 
Nhìn về bối cảnh phía sau những trang chữ đó, cần phải nhắc tới một mối lương duyên đã trở thành nguồn tình cảm rất lớn để cảm thông và hỗ trợ: là hiền thê và là một tri kỷ của GS Nguyễn Văn Sâm, phu nhân Trần Ngọc Ánh là một phụ nữ sau năm 1975 đã xông pha vì yêu nước, chịu nhiều năm tù, và rồi trở thành một nhà văn sau khi kết hôn với GS Nguyễn Văn Sâm và sang Hoa Kỳ cư ngụ.  
 
Cô Phan Dụy, một học trò cũ của GS Nguyễn Văn Sâm tại Đại Học Văn Khoa SG trước 1975, ghi lại cảm nghĩ về mối lương duyên của Thầy Sâm: “Nói về Thầy tôi, không thể không tỏ lòng cảm mến, biết ơn và cảm phục cô Ngọc Ánh, người phụ nữ này nếu không là con cháu của Bà Trưng Bà Triệu, thì cũng là đồng đội tâm huyết của Cô Giang Cô Bắc. Theo cá nhân chúng tôi, cô Ngọc Ánh là người phụ nữ chịu đứng mũi chịu sào cho chuyến đò dọc, chở Thầy tôi, và sự nghiệp của người đã dày công xây dựng suốt cả một đời người, kể từ tác phẩm “Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam” năm 1969, cho đến ngày nay, một gia tài kếch sù về bộ môn biên khảo đặc biệt về Chữ Nôm và Chữ Hán, mà tôi có thể rất tự hào thiên vị-chủ quan để nói rằng khó có ai sánh kịp, đó là chưa kể những tác phẩm sáng tác, tập truyện, thơ, bày tỏ tình cảm nỗi lòng của mình cũng như nói giùm cho kiếp nhân sinh trong những “Ngày Tháng Bồng Bềnh”…” (ngưng trích)
 
Đặc biệt, trong ngày mừng sinh nhật 81 của GS Nguyễn Văn Sâm, nhà văn Trần Ngọc Ánh cũng là vị hiền thê trăm năm tri kỷ của Giáo sư, đã làm 4 câu thơ chúc mừng phu quân như sau:
 
Mừng Sinh Nhật
Cây cổ thụ lâu nay vẫn còn sức
Thầy Đồ Sâm vẫn thức với thời gian
Tám mươi mốt năm tay bút vững vàng
Cố giữ chút hương ngàn Văn Hóa Việt.
       ---- Ngọc Ánh 21/3/2021
 
Và bản thân tôi, người mang ơn những dòng chữ viết của GS Nguyễn Văn Sâm, xin trân trọng làm mấy dòng thơ kính tặng Thầy Sâm:
 
Kính Tặng Thầy Sâm
Nửa đêm dò trang chữ cổ
bụi vàng phủ mấy trăm năm
nghe vọng bút nghiên cung kiếm
về khua mở hội trăng rằm.
 
Triệu mời hồn xưa trong gió
Thầy tìm dịch lại từng trang
so chữ đêm dài cũng ngắn
chép từng dòng thơ mênh mang.
 
Nghe dây cổ cầm bật khóc
quân binh thúc ngựa hí vang
Thầy ghi lại hồn giấy mực
tóc râu nhuộm trắng mây ngàn.
 
PHAN TẤN HẢI,
2020-2021.
 
 
 

CÓ NHIỀU KHI

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Mưa qua phố. Hình Internet
 
có nhiều khi thấy dòng sông không còn trôi nữa
và hai bờ thật gần một tầm tay
nhưng không bao giờ với thấu
 
có nhiều khi thấy trời mưa như không rơi xuống tóc
để hỏi thăm tóc có lạnh không
cho bờ vai run rẩy
 
có nhiều khi thấy mây bay không dừng lại trên đầu
để che giấu niềm đau
của tâm hồn lạc lỏng bơ vơ
một ngày rải đầy những mộng mơ không thật
cứ xao xuyến dày vò tâm tư
bởi hàng cây đã biến mất trong trí nhớ từng chiếc lá vàng bay
như mặt trời vỡ ra từng mảnh
biết tìm nơi đâu
 
có nhiều khi thấy hoàng hôn không về trên cánh đồng
để tiếng hò trăng khuya chìm xuống đáy nước mênh mông
 
có nhiều khi thấy căn nhà không còn soi bóng cầu ao
để nghe lòng nghiêng chao tóc dài thả nhánh
bể dâu cuộc đời trôi đi chẳng còn thấy nữa
tiếc như sao hôm không mọc
 
có nhiều khi thấy bầu trời không còn xanh trong
thấy lục binh chẳng còn màu tím bâng khuâng
hỏi em còn nhớ anh không
khi thời gian làm trí nhớ cụt mòn
già nua cằn cỗi áo cơm gạo tiền
một đời lận đận long đong
 
có nhiều khi thấy đôi mắt không còn long lanh
để ước mơ màu xạnh vờn quanh ngọn lá
vườn xưa cỏ úa trăng tà
vắng tiếng chim ca
hoang vu xơ xác canh gà
 
có nhiều khi thấy trên cành cây không còn giọng hót líu lo
để đánh thức thanh xuân bùng vỡ
rồi cầm tay níu áo
hẹn hò biển rộng sông sâu
 
có nhiều khi thấy đời mình không còn trẻ nữa
để thả từng ước mơ
lên trời cao
cho những vì sao lấp lánh trong đêm
rơi rụng xuống.
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
10.12.2022
  

Sunday, December 11, 2022

Ý NGHĨ CHIỀU HÔM…

Vương Ngọc Minh

Tiếng Nói. Linda Le

bữa chiều ở nhà hàng "bodega" tôi dùng hai cái gỏi cuốn 3 đô la 50 xu hai cái bì cuốn 3 đô la 50 xu uống bốn chai bia hiệu "lagunitas- IPA- india pale ale" đời sống đô thị hiện đại tôi đọc  truyện vừa "tiếng nói" của Linda Lê qua bản dịch của Nguyễn Đăng Thường và tôi đọc một mạch không giấu giếm nơi mỗi dòng tôi đều tự minh họa ra một hiện cảnh cho chính mình tiền còn nợ hai tháng thuê phòng tôi nghĩ mình phải sẵn sàng vẽ bất kì gì khi người ta mướn chứ không lại ra đường cầu bơ cầu bất cũng bởi không muốn nói ngược thực ra đa phần do bản chất vụng về tôi tiếp tục lưu giữ các ý nghĩ cố định của mình không thể để ai thuyết phục và tôi nghĩ đến tình tiết cốt truyện của Linda Lê và tôi thấy mình đã bỏ mất cơ hội bằng vàng mà bấy lâu cuộc đời ban tặng và tôi có thể viết một cái truyện vừa na ná như thế tôi sẽ mô tả về một người mà suốt đời chỉ tìm mọi cách hòng để không rơi vào máy chém cho tới khi tôi bàng hoàng nhận ra mình đang nằm trong một tủ kiếng được cả thế giới công nhận là một chiếc tủ kiếng hoàn hảo nhất thời đại mọi người vây quanh tủ kiếng chỉ trỏ xầm xì "dù sao gã đã là quá khứ!" ngay khi đấy tôi bị giằng co giữa ước nguyện được chết tức khắc với việc làm sao đánh tan mọi ngờ vực người ta đang đổ lên đầu tôi điều oái oăm ở đây nhân vật tôi mô tả suốt đời chỉ tìm mọi cách lìa xa cái máy chém biến mất và tôi sững sờ khi biết mình nằm trong tủ kiếng đã qua ngày thứ tư cái tuyện vừa mà tôi cho mình đủ tư cách viết coi như đồ bỏ tôi rời ghế ngồi xem như mình vẫn chưa nói gì xốc lại áo quần trong mắt da diết tôi bình tĩnh thản nhiên lạ thế nào thì cũng phải bắt chuyến buýt  về chúng cư chưa bao giờ tôi biết do đâu mình đãng trí đến đỗi chỉ đi nhận diễn tuyền vai hài thậm vô duyên.
..
VƯƠNG NGỌC MINH.

QUY CỐ HƯƠNG QUA THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

Đoàn Minh Đạo
 
Sông Hương. Hình Internet
 
Tóc trầm hương
Đường lá muối trượt cỏ thơm hoang lạnh
Cơn mưa đơn xướt cánh chim chao
Mịn màu áo em
Chiều men lam Huế
Hoa sứ bung mê vương phủ phong rêu (ĐMĐ)
 
Vừa nhận được hai thi phẩm Thơ Quỳnh và Huế Buồn Chi của Thi sĩ Hoàng Xuân Sơn gửi tặng đến với niềm vui Nam Cali những ngày mưa hiếm hoi cùng lùa đưa cái ướt át như thơ tình thời thanh xuân sung mãn của nhà thơ họ Hoàng như với Buồn Lô Dung khi chiều quải nắng qua từng đợt sóng Hương Giang Huế;
 
Gối đầu lên mùa lũ
buồn Lô Dung đổ dài
vạt chiều quai nắng thắt
ngoi ngóp dặm triều phai
……
Miên miên đầu cổ tự
lệ khô thầm ngấn tang
đâu ngọc ngà khuê nữ
đâu vương tướng mơ màng
 
Đùm đề chi rong tảo
sông lở bồi. xa hương
ngạn đau rồi tả hữu
hồi âm dẫu một đường
 
Thôi mắt xanh đồng ấu
đêm ở tận sương hồng
Lô Dung buồn mai hậu
hò vẳng cuối bờ không (HXS)
 
Hồn quê chỉ qua những hình ảnh thấm đậm nhân cách tài hoa lãng mạn cả trong thi ca và âm nhạc của Hoàng, nỗi nhớ quê hương ấy trong xa cách trở thành đầy đặn như những dấu lặng trong âm nhạc, như những khoảng cách không gian âm vang. Ngôn ngữ thơ Hoàng tinh tế, giàu sang cho phép ta cùng Hoàng gặp gỡ Bắc Đảo để cảm nhận đồng điệu trong bài thơ Tân Niên 倾听那最短促的停顿 Tại khuynh thính na tối đoản xúc đích đình đốn (Nghiêng lắng nghe khoảng lặng dừng ngắn ngủi) đó là thời gian. Khoảng lặng cần để “Chính ngòi bút nở hoa trong tuyệt vọng”, Theo Bắc Đảo: “Thơ cải thiện đời”. Kết quả là gì? Văn thơ của thi sĩ giống như cánh diệc viết trên mặt nước, Giữa không gian mặt nước và thời gian vỗ cánh! Nơi đây yếu tố không gian và thời gian của thơ và nhạc là điều kiện tất yếu. Hoàng mở ra một khoảng cách không gian, chân trời xa lạ cùng nỗi nhớ quê (nostalgia) và khoảng tĩnh thời gian “Những Bản Đàn Dấu Lặng”:
 
Những chuyến tầu xuôi nam hú hồi giã biệt đêm-mưa-hư-linh
đêm nghe Linh Phương những bản đàn dấu lặng
chợt nhớ ra một buổi chiều xanh xưa sương khói
con chim nhỏ đứng trên vai cầu
ngó xuống giòng sông
lặng lẽ
 
Không nhìn ra nữa đâu là trăng đâu là tóc
năm xưa mắt biếc
hình như đã lâu lắm rồi
những sợi tơ trời không còn bay trên tóc người chớm hạ
vai áo rồi mong manh
trắng chìm cơn mưa hồi vọng
thuyền đi thuyền đi xa
vút hồng đôi cánh. (HXS)
 
Thời gian lặng đẩy không gian ra xa, cách biệt, “Huế, từ phong vũ” Hoàng viết cho người bạn rất thân của anh, Ngô Vương Toại tâm sự về những hình bóng quê hương với Hoàng là Huế với Toại là tỉnh Nam!
 
Tôi nhớ em từ sông mắt trong
Từ dáng em trôi tóc mượt bồng
Xa nhau nước dỗi hai mùa lá
Em chờ bến cũ muộn màng rong
 
Tôi nhớ hơn là chim nhớ mây
Nhớ mùa thu nguyệt xuống heo may
Nhớ ơi xa quá ôi là nhớ
Mưa giọt vô tình trong đêm nay… (HXS)
 
Heidegger minh giải thơ qua đúc kết năm mệnh đề thơ Hölderlin, tạm thời ta nhấn mạnh vào hai đề cuối: “Ngoài ra mọi di sản được tạo tác bởi các nhà thơ.” và “Thật chính đáng, song thơ mộng, khi con người lưu cư trên mặt đất này.”
 
“Thơ là nền tảng bền vững của lịch sử, và do đó không chỉ là một diện mạo của văn hóa, hơn hết không phải là “sự thể hiện” đơn thuần “linh hồn của một nền văn hóa.” Rốt cuộc, sự tồn tại của chúng ta là thơ mộng trong nền tảng của nó không thể có nghĩa là cuối cùng, nó thực sự chỉ là một trò chơi vô hại. Nhưng không phải chính Hölderlin, trong câu quan trọng đầu tiên mà chúng tôi đã trích dẫn, lại gọi thơ là “công việc ngây thơ nhất trong tất cả các nghiệp nghề”? (But does not Hölderlin himself, in the first key verse that we cited, call poetry “this most innocent of all occupations”?) Heidegger.
 
“Thôi mắt xanh đồng ấu
đêm ở tận sương hồng” (HXS)
 
Yếu tính thơ hình thành từ ngôn ngữ, thơ bằng thể điệu của mình gọi tên sự vật, ngôn ngữ thơ mời gọi sự sáng tạo, lập thành bản thể. Một thế giới qua thơ phơi mở với chúng ta. Và cách mở phơi ấy là cung cách của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn mà tôi chợt cảm nhận mối tương giao khi đọc thơ Hölderlin; thơ là cánh chim báo bão với không gian rừng thiêng kêu gọi ngày mới, trong cuộc Quy Cố Hương, về nhà (Heimkunft):
 
Dẫu sao chim báo bão ghi dấu thời gian và giữa
núi rừng bay lượn trong không trung kêu gọi ngày.
 
Thời gian đi và đến không gian xa hay đặc quánh, phân sáp, cách biệt; đọc thơ hôm nay “Ngủ, và các thức khác” của Hoàng Xuân Sơn cảm xúc tôi cao lớn sâu đậm hơn, có lẽ do tôi bặt gặp anh phần nào cùng với thời gian khi qua tuổi cứ thuận theo lòng mình “Tòng tâm sở dục”!:
 
Rồi đến rồi đi cũng như nhau
Chẳng biết thời gian lâu hay mau
Ngồi miết một chỗ ngồi đặc quánh
Mà nhớ bao la một tạng màu
 
Nhớ quá tranh xưa thời xanh xám
Ai mới tô thêm một chút hồng*
Cánh áo mùa hè khăn thu lụa
Mát rượi vô vàn những bến sông
 
Núi đã xa. Và rừng thật xa
Thì người cứ ngủ giấc như là
Trăng treo trên đỉnh hồn non dại
Một bóng nhu cầm như bóng ma
)(
hoàng xuân sơn
30 tháng 10, 2022
 
*ý, hoàng xuân giang – Nhờ Em Giữ Lấy Tình Ta
 
Tóm tắt đọc thơ Hoàng Xuân Sơn như một cuộc Hành hương kỳ thú với tinh yếu ngôn ngữ, nhất là hậu kỳ thơ anh. Cũng như bất cứ nhà thơ lớn nào, thơ Hoàng Xuân Sơn là món quà, một tặng vật cho cuộc lưu cư của chúng ta trên trần gian.
 
ĐOÀN MINH ĐẠO
tháng 11, năm 2022

GỢI NHỚ

Trần Yên Hòa
 
Tranh Hồ Hữu Thủ
 
Em là mây ngàn bay
Bốn phương trời chưa mỏi
Tuổi năm mươi cũng vừa
Cho đời em dừng lại
 
Anh phương này đợi mãi
Một ngày em quay lưng
Sẽ hết một căn phần
Cho quãng đời bất hạnh
 
Anh ra vào quán nhớ
 
Hàng đêm và từng đêm
Nhìn vách im tịch mịch
Biết em đã lặn chìm
 
Còn đâu ngày thơ mộng
Ta dắt tay lên đồi
Kể chuyện tình cổ tích
Ngọt ngào trên đôi môi
 
Còn đâu ngày thân yêu
Đêm đêm cùng chăn chiếu
Cơn mộng du qua rồi
Ta nhìn em nhỏ xíu
 
Bây giờ thì đã qua
Như một cơn sóng lớn
Ụp lên đầu chúng ta
Em và cơn mộng dữ
 
Thôi bình yên mà sống
Thôi bình yên mà đi
Có nhớ nhau mà chi
Dưới chân toàn đá sỏi
 
Vẫn nhớ em muôn vàn
Em không về chốn cũ
Ta chắp tay cầu xin
Cuộc tình thôi. hãy ngủ
TYH
 

Sunday, December 4, 2022

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 Nhà xut bn Nhân nh (California)
trân trọng giới thiệu tuyển tập tiểu luận
của nhà biên khảo, nhà văn Trần Hữu Thục - Trần Doãn Nho:
 
CÕI CH CÕI NGƯỜI





CÕI CHỮ CÕI NGUỜI gồm hai tập:
 
Tập I: biên khảo về văn chương và văn học.
Xuân tình trong Đường thi
Tác giả: cuộc thăng trầm
Đọc sách: “Lý thuyết Trung Hoa về hư cấu” của Ming Dong Gu
Tự Lực Văn Đoàn và chuyện văn phong
Tính “văn học” trong văn học miền Nam
Theo dấu nhân vật
Giữa văn và thơ
 
“Ngay ở tựa đề, tuyển tập Cõi Chữ Cõi Người của nhà văn Trần Doãn Nho đã thể hiện quan hệ cộng sinh giữa văn chương và đời sống. Vì liên hệ mật thiết với đời sống nên trong mọi khuôn khổ, văn chương đã sẵn “ươm mầm mống cho sự ‘vượt thời’” và vượt biên giới. Ta có thể đọc bảy bài viết trong tuyển tập như những ngụ ngôn về Tự do, được minh họa qua hiệp ước uyển chuyển nhưng bền bỉ giữa tinh thần sáng tạo của tác giả, đặc tính bất ổn của ngôn ngữ, và cách tiếp nhận đa tầng về văn bản từ mọi tầng lớp độc giả. Cho dù khái niệm tác giả đã có dạo bị giới phê bình khai tử, và nhân vật cũng tan biến trong cơn lốc hậu hiện đại, thì người nghệ sĩ vẫn không ngừng sáng tác, không ngừng tranh đấu với hoàn cảnh để đạt được những nhận thức “vô thời,” luôn luôn mới, luôn luôn bất ngờ và bất diệt, trong văn chương. Men theo hương đôi hài thêu của Hàn Ốc, phiêu lưu trong lý thuyết thăng trầm về tác giả và nhân vật, đối chiếu khái niệm tiểu thuyết Trung Hoa với quan điểm fiction của văn học Tây phương, phục hưng văn phong Tự Lực Văn Đoàn và Văn học Miền Nam, cùng cảm nhận những khoảng trống ý nhị trong thơ văn Việt Nam, độc giả thật may mắn được chung bước với Trần Doãn Nho trong chuyến hành hương đến Cõi Chữ Cõi Người. (Đinh Từ Bích Thúy)
 
Tập II: biên khảo về các vấn đề chính trị, xã hội văn hóa và ngôn ngữ.
Hiện tượng chống Mỹ
Vấn đề tự do diễn đạt
Khía cạnh ngôn ngữ trong “Phong trào Dù” Hồng Kông
Về một đất nước mang tên Việt Nam Cộng Hòa
Donald Trump, kẻ lạ mặt
“Nội chiến” ngôn ngữ ở Ukraine
Từ Coronavirus đến “Dịch hạch” của Albert Camus                         
Chuyện trái tim
           
Vài trích đoạn trong tập II:
*Jean-François Revel nhận định: “Quyền lực thống trị của Mỹ chỉ nợ một phần ở sự sáng tạo và quyết tâm của nhân dân Mỹ; nó còn xuất phát từ sự bỏ cuộc do các thất bại chồng chất của phần còn lại của thế giới: sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, sự đổ nát của Phi châu, sự chia rẽ của Âu châu, sự chậm chạp của Á châu và châu Mỹ La Tinh trong quá trình tiến đến chế độ dân chủ.” (Hiện tượng chống Mỹ)
 
*Rốt cuộc, đổi mới là gì, cải cách là gì nếu không muốn nói là con đường dẫn đến những giá trị VNCH. Những người hiện đứng lên tranh đấu cho một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do, dân chủ ở trong nước đang đòi hỏi cái mà chúng tôi đã từng tranh đấu để có và đã từng có vào những năm tháng VNCH.  (…) Chả thế mà, giáo sư Nguyễn Văn Trung nhận định, “Cái gọi là “đổi mới” thực chất là “đổi mới chẳng qua là trở về những cái cũ đã bị phủ nhận.  Hiểu như thế, VNCH không phải là quá khứ, mà chính là tương lai. Là mô hình của một Việt Nam đổi mới, dân chủ, tự do. (Về một đất nước mang tên Việt Nam Cộng Hòa)
 
*Trump xuất hiện trong thế giới như một người lạ mặt. Lạ nhân dáng. Lạ nết người. Lạ ăn lạ nói. Lạ đi lạ đứng. Tóc tai lạ. Chữ ký lạ. Ngôn ngữ lạ. Hành trạng lạ. Chính sách lạ. Lúc nào nhìn ông, tôi cũng cảm thấy lạ. Lạ hơn cả nhân vật tiểu thuyết…hậu hiện đại! Donald Trump lạ mặt, rốt cuộc, khiến cho Hoa Kỳ cũng trở thành một nước…lạ mặt! (Donald Trump, kẻ lạ mặt)
 
CÕI CHỮ CÕI NGƯỜI đã có bán trên Amazon.
Giá: Tập I: $20.00, Tập II: $20.00
Độc giả có thể mua cả hai tập hay mua riêng từng tập.
Xin bấm vào đường nối sau:
Amazon.com: coi chu coi nguoi
Key word: tran huu thuc, tran doan nho, coi chu coi nguoi
 
Liên lạc:
Tác giả: TRẦN HỮU THỤC - TRẦN DOÃN NHO Email: trandoanho@yahoo.com
Nhà xuất bản Nhân Ảnh:  E.mail: han.le3359@gmail.com (408) 722-5626

Friday, December 2, 2022

V À

Hoàng Xuân Sơn
 
Van Gogh, Bateau, 1888
 
Và rồi cũng chẳng tới đâu
nước trôi vẫn nước
qua cầu thản nhiên
và quánh
đặc
vẫn xứ, miền
chim bay không nổi
cuồng điên ghế ngồi
không nhớ người
chẳng nhớ ai
và rồi chỉ nhớ mình nơi
thất thần
chai cứng rồi
mụt. nhọt
thân
có đau thì cũng chỉ ngần ấy thôi
ngó rất lâu
ở trên trời
và rồi cũng chỉ rụng rơi
bóng
chiều
 
)(
H O À N G  X U    N   S Ơ N
2 3  n o v e m b r e  2 2