Monday, December 7, 2020

SEN THỨC & GÁI SEN

Hoàng Xuân Sơn
 
Cô gái & hoa sen
Tranh Võ Hoàng Minh. Fb Hồ Đình Nghiêm
 
Sen thc
 
mặt anh chìm giếng bông sen *
nở ra một đóa loa kèn ngậm tăm
ngủ đi. kẻo trăng không rằm
vì đêm trắng thức cùng thăm thẳm mùa
 
@hxs.05dec2020
*ý, ntkl
 
 
Gái sen
 
gái sen cái mình dài ngoằn
cái mẩy thon thả
cái loăn xoăn
chìm
giữa mùa lá
ngủ
lim dim
sen hồng
nhũ phấn
đợi tìm gương nhan
 
@hxs.04dec2020
HOÀNG XUÂN SƠN
 

BỮA MỘNG ĐÓ

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Thiếu nữ. Tranh Đinh Cường
 
lòng trót dại một màu môi óng tuyệt
như lần kia về nợ bóng trăng đầu
một bữa gặp chưa xanh màu thơ ấu
rụng trái sầu đưa đẩy mộng trầm sâu
 
sao thấy mắt mở ra từ chổ hẹn
của mù khơi thở lối nhỏ vâng lời
ẩn khuất mãi nỗi lòng nên dịu vợi
ai đợi về mây dạt quá trời ơi
 
bữa mộng đó dường như đời rên khẽ
rằng thưa xin mây xế đã hôm rồi
bữa mộng thắm chỉ đôi lời thỏ thẻ
rằng xin vừa chút lỡ muộn khe trôi
 
xin níu áo nói vài câu giả dối
nói vài lời sau trước ái ngại chi
xin khất lại của vực sâu chắn lối
của sự đời dứt khoát để mong đi
 
rằng bữa đó thì sao sa bữa đó
thì sao băng cũng lỡ khóc lỡ cười
hỏi nhỏ chút kiếp đời như mê muội
sao giật mình màu mắt mở xanh tươi
 
từ bữa đó nghe gió hoài thổi tóc
xuống bâng quơ hò hẹn trắng khung trời
cầm tay lại xin thưa hồn phách lạc
có niệm tình nhìn ngắm thuở mây trôi
 
rồi níu giữ vùng hoang sơ cỏ lá
tiếc chưa cùng hạt muối cắn làm đôi
rồi nằm xuống ngàn sao đêm len tỏa
bỏ nhau về cho ròng rã khuây nguôi
 
thử bóng ngược đầu xanh qua tóc bạc
mấy phương rồi chân mỏi bước rong chơi
xin chải nốt phận đời kia nhỏ hẹp 
để mây tan không xế nỗi cuộc đời.
 
24/11/2020
HUỲNH LIỄU NGẠN
 

Sunday, December 6, 2020

ĐỌC TRUYỆN NGUYỄN VĂN SÂM. ‘GIỌT NƯỚC NGHIÊNG MÌNH’

Phan Tấn Hải
 
Bìa tập truyện Giọt Nước Nghiêng Mình.
  
Tôi có một thói quen từ thời đi học là khi viết chỉ thuận theo giọng Bắc. Phần lớn vì chương trình văn học bậc tiểu học và trung học nửa thế kỷ trước là chịu ảnh hưởng văn phong miền Bắc. Khi sang Mỹ, học tiếng Anh cực kỳ vất vả, vì giọng tiếng Anh của nước Mỹ, nói ít thì có 4 giọng vùng miền chính, nói chi tiết thì có 24 giọng vùng miền dị biệt. Không thể nào học đầy đủ được, nên chỉ theo tiêu chuẩn giọng trên truyền hình làm chuẩn, mà ráng mấy cũng không thể nào học như người Mỹ được. Cho nên, nhìn thấy phương ngữ là cái gì rất đáng ghét, nó làm cho chúng ta mệt hơn. Nhưng rồi khi già hơn, đọc lại văn học Việt Nam, mới thấy những dị biệt vùng miền trong ngôn ngữ là cái gì rất đẹp và tự nhiên. Giọng là âm thanh, phương ngữ là chữ dùng. Nếu không có sự đa dạng địa phương, hẳn là cái đẹp không toàn bích. Do vậy, từ nhiều năm, tôi đã ưa thích đọc Nguyễn Văn Sâm với các truyện ngắn viết theo văn phong Nam Bộ.
 
Cũng như nhìn một thiếu nữ, chúng ta có thể nhận ra cái đẹp. Đó là nhan sắc, là khuôn mặt, là hình dáng. Cái đẹp này lơ lửng trên không gian, có thể là quyện theo sương khói từ ký ức hay từ kho tàng truyện và phim mà chúng ta đã từng đọc. Cái đẹp lơ lửng đó là bàn chân không chạm đất. Nhưng khi cô cất tiếng nói, giọng nói là cái gì làm cho cô chạm đất: chúng ta nhìn thấy cặp chân trần của cô hoặc dính bùn sớm mai của sông Hồng, hay thoang thoảng hương sen của sông Hương, hay là hai bàn chân đong đưa nghịch nước sông Mekong. Tập truyện Giọt Nước Nghiêng Mình của nhà văn Nguyễn Văn Sâm cũng thế. Nó không phải là cái đẹp lơ lửng không chân dung. Tập truyện là cái đẹp của văn học trong dòng chuyển động của đời sống rất buồn, và được viết bằng văn phong miền Nam.
 
Nơi đầu sách, Nguyễn Văn Sâm giới thiệu ngắn gọn: “Những truyện ngắn viết trong khoảng thời gian mà những nỗi đau buồn của thời đại luôn làm trái tim chúng ta đau đớn khi phải bị bắt buộc chứng kiến hằng ngày.”
 
Văn học nơi đây là tiếng kêu đau đớn của một nhà văn, từ một người viết trở thành một nhân chứng, một người sống sót để kể truyện. Và kể bằng văn phong Nam Bộ. Trong đoạn tác giả giới thiệu vừa dẫn, chữ “đau” lặp lại hai lần — nỗi đau buồn… và trái tim [chúng ta] đau đớn…
 
Nỗi đau buồn là cái không thể chỉ ra được, nó lơ lửng, nó bay lảng vảng, nó như mờ nhạt hơn sương khói, nó không hình dạng, không màu sắc, không vuông, không tròn… Và trái tim đau đớn là cái được nhận ra cụ thể, nó ngay ở đây, ngay giữa ngực chúng ta, nó làm chúng ta đau tim nhức nhối… Và khi tim vỡ, chúng ta sẽ chết. Truyện Nguyễn Văn Sâm là cái đẹp của cả hai phần, vừa trừu tượng như nỗi đau buồn và vừa cụ thể tới mức nhận ra được là nó đau ở ngay giữa ngực, nỗi đau không ở đâu xa.
 
Tập truyện Giọt Nước Nghiêng Mình (GNNM) gồm 19 truyện ngắn, với Lời Tựa của Phạm Phú Minh. Một nhận định nhiều độc giả sẽ đồng ý dễ dàng với người giới thiệu họ Phạm — đó là đặc chất miền Nam ở tập truyện:
“…Khi đọc bản thảo Giọt Nước Nghiêng Mình của Nguyễn Văn Sâm tôi thấy mình bồi hồi cảm động như đang được tắm lại trong một dòng sông cũ, nơi phát nguyên dòng văn chương hiện đại của Việt Nam. Chính từ chỗ phát nguyên này, trong thế kỷ 20 tôi đã đọc Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên…, họ cùng nhiều bậc tiền bối nữa đã làm thành nền văn học miền Nam với tính chất riêng của nó…” (GNNM, trang 8)
 
Chúng ta dễ dàng nhận ra nhà văn Nguyễn Văn Sâm đã dùng nhiều chữ đặc chất Nam Bộ. Mở thử một trang bất kỳ, thí dụ trang 158, trong truyện Người Em Xóm Giếng, tác giả dùng các chữ rất miền Nam như: à nhe, cô nào bắt cặp với cậu nào, con gái nhà ai chịu đèn với con trai nhà nào, trật đâu được, tuổi cũng sồn sồn, để tui lo, dợm cẳng bước đi, đợi tôi về nha, buồn buồn trong dạ, trơn lu, trớt quớt…
 
Tôi đoán rằng, cũng y hệt như khi tôi vào Mỹ và học tiếng Anh, những anh ngoại quốc vào Việt Nam và học tiếng Việt sẽ rất là mệt nhọc khi học thêm các chữ vùng miền. Cũng như một học sinh tại Việt Nam, khi học Anh văn sẽ nhận ra tiếng Anh ở Anh sẽ có một số dị biệt với tiếng Anh ở Hoa Kỳ hay tại Úc châu.
 
Rất mệt nhọc để học cho đầy đủ. Nhưng chính như thế mới là văn học. Dễ nhìn thấy nhất là trong các cuộc tranh luận chính trị gần đây: trong khi Tổng Thống đương nhiệm Donald Trump nói hình như là giọng New York thì Tổng Thống tân cử Joe Biden nói hình như là giọng Delaware. Trong cương vị một người học tiếng Anh (không bàn chuyện chính trị nơi đây), tôi thích nghe giọng của Trump hơn, vì rất gần với nhiều xướng ngôn viên truyền hình. Và giọng của Biden thì khó nghe hơn, có lẽ đó là lý do ông Biden thường nói chậm nhằm cố ý để người nghe không bỏ sót.
 
Có một điều dễ dàng nghiệm ra là trong văn học Nam Bộ thường có ca kệ, ca dao, hay một vài câu theo thể hát. Nghĩa là, đối với độc giả Nam Bộ, hay Nam Kỳ Lục Tỉnh, hay người Miền Nam, thì trong giọng nói thường kèm theo giọng hát. Đó là điều tôi nhận ra khi quan sát Thầy Thích Giác Nhiên thuyết pháp. Thầy đã viên tịch lâu rồi, nhưng tôi đoán nhiều người không thể quên kiểu nói chuyện của Thầy. Có khi Thầy chen vào vài câu ca dao miền Nam trong khi đang thuyết giảng về diệu lý cao siêu của Kinh Phật. Cũng có khi Thầy hát một câu hò miền Nam. Tại sao hầu hết các nhà sư miền Bắc và miền Trung không có thói quen này? Trong khi đó, từ rất nhiều thập niên trước, nhiều nhà đạo học, như Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo, cũng ưa thích ca kệ, ca dao… kiểu như xuất khẩu thành ca, thành kệ, thành thơ.
 
Chúng ta cũng gặp thói quen trong truyện Nguyễn Văn Sâm bầu không khí này. Thí dụ, khởi đầu truyện ngắn Giọt Nước Nghiêng Mình, tác giả khởi đầu bằng hai câu thơ của Sơn Nam:
Phong sương mấy độ qua đường phố,
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê… (GNNM, trang 19)
 
Hay là khi khởi đầu truyện ngắn Hương Vị Đời, nhà văn Nguyễn Văn Sâm cũng khởi đầu bằng hai dòng thơ của chính tác giả:
Chút đăng đắng trong cuộc sống
cũng là chút hương vị đời. (GNNM, trang 35)
 
Dĩ nhiên, nói về ca, thì vọng cổ là một tượng đài vĩ đại trong lòng người dân miền Nam. Cho nên chúng ta sẽ thấy rất tự nhiên, một khi vọng cổ được hát lên ngay trên một chiếc ghe đang vượt biên trên biển Đông đầy sóng gió. Nghĩa là, giữa những nỗi lo chưa biết ghe sẽ về đâu, và giữa cuộc nói chuyện về thế sự đầy gian nan những chuyện mịt mờ, một giọng ca bất ngờ vang lên, như để hòa giải, như an ủi, như để làm êm sóng gió đại dương, như để dịu lại những mệt mỏi đang trải qua:
Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi,
Đường trường mịt mùng em không đến nơi.
Mây nước buồn cơn lửa binh, hết chuyện chung tình,
Khóc than riêng em một mình…
Trời ơi, bởi sa cơ chiến trường thọ tiễn nên Võ Đông Sơ
đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu ….Hà. (GNNM, trang 32)
 
Một thời tôi dị ứng với vọng cổ. Hẳn là tôi nhiễm bệnh của các thầy giáo, cô giáo gốc Bắc dạy văn thời trung học. Khuôn mẫu văn luôn luôn phải là Nhất Linh, Khái Hưng… Lãng mạn nhất định phải là mối tình của Tú Uyên – Giáng Kiều hay Phạm Thái – Quỳnh Như… Không hề thấy một bài vọng cổ nào trong chương trình học của tiểu học và trung học hồi đó. Vậy mà… nhiều thập niên sau, khi tóc đã bạc và sức đã mòn, mới thấm được và phải nói rằng vọng cổ rất mực tuyệt vời. Phải đi rất xa quê nhà, mới thấy được như thế.
 
Ý tôi muốn nói rằng chúng ta hình như không thấy, hay rất ít thấy trích vài câu vọng cổ trong truyện Tự Lực Văn Đoàn, hay Mai Thảo hay Thanh Tâm Tuyền… Than ôi, đời người không có bao nhiêu, mà lại bỏ sót một mảng văn học miền Nam rất đậm đà này. Hãy hình dung rằng, ngồi trên ghe vượt biên, mệt nhọc, lo sợ, tranh cãi, sóng nhồi rồi êm, người ngủ rồi tỉnh… và rồi vọng cổ đột nhiên vang lên. Như một lời từ biệt quê nhà. Hẳn là sẽ có người khóc được.
 
Chưa hết. Ca nhạc Nam Bộ không chỉ là vọng cổ. Nhà văn Nguyễn Văn Sâm trong truyện Khói Thuốc Cả đã kể về một nhóm trẻ em vừa đi, vừa ịn chưn trên nền đất ẩm và hát một điệu nhạc mà tác giả chưa từng nghe:
“Dưới trời kỳ quái sao cùng/ Chân đâu còn vết ở trong đá này/ Ví đem sắc tướng tin đây/ Như Lai chưa dễ thấy ngay được ngài…
Bể oan lai láng trên đời/ Xưa nay ai vớt hết người trầm luân/ Mong cho ngọn nước chảy lần/ Lòng mê ta rửa dần dần tỉnh ra.” (GNNM, trang 224)
 
Trang giấy trong tập truyện dĩ nhiên không chở được điệu nhạc. Nhưng hiển nhiên đây có thể là Kinh Phật viết theo thể thơ lục bát. Có thể đây là Kinh Kim Cang viết theo thể lục bát diễn nghĩa.
Bởi vì Kinh Kim Cang, nơi phẩm Pháp thân phi tướng, có lời Đức Phật dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã. Dĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai.” (Nếu lấy sắc thấy ta. Lấy âm thanh cầu ta. Người ấy đi đường tà. Không thể thấy Như Lai).
 Ai đã phổ kinh thành thơ lục bát và dạy trẻ em hát như thế? Phải thấy, các tăng ni cư sĩ có trình độ rất cao mới làm được như thế. Nghĩa là, vùng đất miền Nam một thời quá khứ (và hy vọng cả bây giờ và tương lai) vẫn là vùng đất được chư Phật hộ niệm.
 
Một đặc điểm truyện Nguyễn Văn Sâm cũng là hình ảnh Phật Giáo thoang thoảng hiện ra trong truyện. Nhà phê bình Phạm Phú Minh nhận định trong Lời Tựa:
“Nguyễn Văn Sâm đã mở đầu cuốn sách bằng cuộc đi viếng chùa, và giáo lý đạo Phật lại được bàn đến trong một số truyện khác, như là nối dài của một truyền thống tâm linh của dân tộc, với giai đoạn mới mẻ nhất, là sự hình thành của miền Nam.” (GNNM, trang 12)
 
Có lẽ, tác giả Nguyễn Văn Sâm khi cầm bút không hề có ý viết truyện cho nhà Phật. Cũng không có ý xây một lâu đài văn học Nam Bộ trên truyền thống tâm linh. Mọi chuyện như dường rất tự nhiên lưu xuất từ ngòi bút của tác giả, từ con tim, và trong đó chữ của ông đã mang sẵn dấu ấn của miền Nam, của cái hồn nhiên Phật Giáo.
 
Truyện Nguyễn Văn Sâm có một cái gì rất buồn phảng phất. Phải chăng đó là một ý thức về Khổ Đế? Nhưng nếu chỉ thuần nói lên ý thức này, cũng không hình thành được văn chương. Ngay cả khi viết truyện trong sân chùa, cũng chưa chắc đã là truyện nhà Phật. Chúng ta có thể nhớ rằng truyện Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, viết với bối cảnh tại chùa Long Giáng, với một nhân vật là chú tiểu Lan mà chàng trai tên Ngọc từ Hà Nội tới thăm chùa đã nghi là một cô gái giả trai… Cốt truyện ly kỳ, trong bầu không khí sương khói ở sân chùa. Nhưng không thể gọi là văn học Phật Giáo, vì chủ yếu là nêu lên tư tưởng lãng mạn trong phong trào làm mới văn học (và cải cách xã hội) mà Tự Lực Văn Đoàn muốn thúc đẩy tới cho một cuộc cách mạng toàn diện và lâu dài. Tương tự, trên YouTube có rất nhiều vở chèo phiên bản “Thị Mầu lên chùa ghẹo tiểu Kính Tâm” cũng không hoàn toàn là để “hộ trì chánh pháp Như Lai”… Chủ yếu là vui, mà khi hết vở chèo, không chắc người xem đã nhớ gì, chỉ trừ những màn cười vui nhộn…
Nhưng truyện Nguyễn Văn Sâm lại khác. Không có ý viết về Đạo Phật, nhưng là nêu lên một ý thức về Khổ Đế, về những “đau buồn” và “đau đớn” mà tác giả đã nói ngay ở đầu tập truyện. Phải chăng, cái buồn, cái bùi ngùi khi đọc xong, chính là một đánh thức về Khổ Đế mà chúng ta cần trong cõi này?
Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng các truyện của Nguyễn Văn Sâm sẽ giữ vai trò giải thích thêm về Đạo Phật hay bất cứ vai trò vị nhân sinh nào khác. Tác giả đôi khi cũng lý luận, nhưng không phải là chủ ý. Đôi khi, người đọc có thể không đồng ý với cách trình bày truyện: thí dụ, một nhân vật đang ngồi đọc kinh trước Phật đài thì một ông cụ tóc bạc phơ bước từ pho tượng tới… (Truyện Tiếng Hát Người Tín Nữ Ni Sư, GNNM, trang 120). Viết như thế là trái với mấy câu ca nơi đầu bài về “sắc tướng” với “Như Lai”… Nhưng đây là truyện, không phải lý luận như khi một nhà sư dẫn kinh ra nói chuyện.
 
Trước hết, và luôn luôn, là phải có yếu tố văn chương. Truyện của Nguyễn Văn Sâm viết là để đọc dưới mắt nhìn của người thưởng thức văn học. Cũng như chúng ta vào rạp hát xem phim, trước tiên chú ý là nghệ thuật. Cũng như xem một bức tranh, trước tiên là phải đẹp. Truyện cũng thế, chẳng cần vì đâu, chẳng cần vị nhân sinh hay bất kỳ vị cái gì, truyện phải là hay.  Nhiều truyện Nguyễn Văn Sâm đạt được như thế: hay, và rất hay. Đọc Nguyễn Văn Sâm không chỉ để nhớ quê nhà, không chỉ để ngậm ngùi với những nỗi đau mà cũng để có một cơ duyên trở về tắm mát trong dòng sông văn học Miền Nam, với dòng văn rất mực nhân bản kiểu Nam Kỳ, và rất mực xót xa của một người từng đứng giảng dạy văn học ở nhiều trường đại học và trung học tại Việt Nam trước khi rời nước ra đi.
 
Tập truyện Giọt Nước Nghiêng Mình do Viện Việt Học xuất bản, đề giá 25 Mỹ Kim. Liên lạc với tác giả để đặt sách có chữ ký của tác giả: samnguyen20002002@yahoo.com.
PTH

Saturday, December 5, 2020

TỰA VÀO MÌNH. GÂY HƯƠNG NHẸ

Hoàng Xuân Sơn
 
Thơ Haiku. Nguồn: Internet
 
Đừng để khuôn mặt đêm
lấn vào quỹ thời gian tiết kiệm
hãy viết bài thơ
cài lên khung cửa nhàn đàm
ấm trà
hằng tích cũ
tiếng ngân nga mi sương
ban mai vòm họng
hát
vin nghe
 
Giọt an lành
hứng lấy triều nhụy
màu non vàng anh
 
Hãy là sen như nhiên
bồ đề chép mắt
phương bối mềm
động vào lũy
tịnh riêng
cho lời của sắc mây mưa
dậy từ khép nép
 
Về thu xếp lại
nếp ngời xinh
khúc yêu đời
và điệp khúc yêu mình *
 
H O À N G X U Â N S Ơ N
29 nov. 2020
*ý, Trịnh Công Sơn
 
 
 

SÁCH MỚI

 VĂN HC PRESS

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press
PR 12/01/2020
 
Trân trọng giới thiệu: 
 

Nụ cười buồn mùa hè
Tập truyện của nhà văn Lê Lạc Giao
Thiết kế bìa @ Lê Giang Trần
Văn Học Press xuất bản, 12/2020
Ấn phí: US$22.00
Tìm mua trên:
BARNES & NOBLE
https://www.barnesandnoble.com/w/nu-cuoi-buon-mua-he-le-lac-giao/1138038294?ean=9781663590435

Đọc “Nụ Cười Buổn Mủa Hè” của Lê Lạc Giao
 
Sự khuếch tán của âm bản truyền thống trong định mệnh đời thường 
Tô Đăng Khoa 
 
Tác Phẩm “Nụ Cười Buồn Mùa Hè” là tác phẩm thứ tư của nhà văn Lê Lạc Giao do Nhà Xuất Bản Văn Học phát hành vào cuối năm 2020.  Ba tác phẩm trước là “Một Thời Điêu Linh” (2013), “Nửa Vầng Trăng Ký Ức” (2016), và “Có Một Thời Nhân Chứng” (2018).
 
Tuyển tập truyện ngắn “Nụ Cười Buồn Mùa Hè” bao gồm 18 truyện ghi lại những chuyện đời thường, rất thật và đa dạng của những nhân vật đã trải qua cuộc chiến Việt Nam.  Tập truyện phác họa những mảnh đời muôn màu muôn vẻ, nhưng vẫn mang tính hợp nhất, và cũng là nột sự tiếp nối của dòng tư tưởng triết văn của nhà văn Lê Lạc Giao, một dòng tư tưởng triết học vừa uyên thâm vừa thực dụng: nó có tính chất soi sáng mối liên hệ sâu kín giữa truyền thống và định mệnh trên mọi cấp độ, từ cá nhân đến tập thể và thậm chí cho tới cả vận mệnh của một dân tộc. 
 
Có thể nói “Nụ Cười Buồn Mùa Hè” là  “cái-còn-lại” sau những trải nghiệm đau thương qua “Một Thời Điêu Linh”,  là  “cái-còn-lại” sau những hồi tưởng về tình yêu và chiến tranh khi bạn bè khắp nơi cùng nhìn về  “Nửa Vầng Trăng Ký Ức”,  là “cái-còn-lại” của “Một Thời Nhân Chứng”: tức là một Nụ Cười Buồn. Để có thể  cười (cho dù là cười buồn chăng nữa) sau khi đi xuyên qua những nỗi thống khổ của “Một Thời Điêu Linh”, con người phải rất từng trải.  Từng trải luôn đòi hỏi yếu tố thời gian trong đó. Nhưng thời gian không có lẽ cũng chưa đủ, nó còn cần có sự trầm tĩnh, sự sáng suốt, và  quyết định trong sự lựa chọn cho chính mình: Sự lựa chọn làm nạn nhân của Lịch Sử hay nhân chứng Lịch Sử. Trong một bài viết trước về tác phẩm  “Có Một Thời Nhân Chứng” (2018), tôi có viết về ý nghĩa của sự lựa chọn này như sau:
“Bốn mươi ba năm chiêm nghiệm, ba tác phẩm, một chủ đề canh cánh, Chiến Tranh và Tình Yêu, Lê Lạc Giao với đức tánh cẩn trọng và thẩm sát của một nhân chứng cho chiến tranh và tình yêu, cùng với những chiêm nghiệm thậm thâm của Ông, chắc chắn sẽ đưa độc giả nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam từ một góc nhìn rất khác, từ trước tới nay.  Đó là góc nhìn độc lập, không chống đối, không hệ lụy của một Nhân Chứng sống sót sau cuộc chiến tàn khốc.  Khi bị ném vào bối cảnh của chiến tranh, thì sự chọn lựa quyết liệt nhất chính là sự lựa chọn làm nhân chứng hay nạn nhân của lịch sử.  Chính sự lựa chọn một cách dứt khoát này sẽ mang đến cho chúng ta một thái độ sống thích hợp trong chiến tranh. Vì sao? – Vì chỉ có làm nhân chứng của chiến tranh thì mới thấu hiểu được chiến tranh và có cơ hội vượt qua được những hệ lụy lâu dài của chiến tranh mang lại. Về mặt tác dụng và thái độ sống của từng con người, sự lựa chọn đó mang ý nghĩa rất to lớn:  Đó chính là sự lựa chọn giữa Tự Do và Nô Lệ!”
 
Giá trị của 18 tuyển tập truyện ngắn “Nụ Cười Buồn Mùa Hè”  không nằm ở tình tiết éo le gay cấn của truyện kể mà ở những diển biến nội tâm phức tạp và vô cùng sâu sắc của nhân vật chính. Cốt truyện chỉ là cái nền, nhưng chính trên cái nền của những mảng đời bình thường đó, những tư tưởng thâm sâu, những nhận định rất sắc bén về những vấn đề quan trọng nhất của kiếp nhân sinh được nhà văn Lê Lạc Giao đề cập đến một cách vô cùng khéo léo và tài tình. Bị ném vào bối cảnh lịch sử, bị thế lực vô hình của truyền thống xô giạt vào những định mệnh đời thường, những nhân vật chính trong các truyện ngắn đều có những tư duy trăn trở để tìm ra lối thoát riêng cho chính mình: Có khi là hội họa, là sáng tạo, là rượu, là bạn bè, hay tìm về nguồn cội của gia phả v.v. 
 
Xin dẫn ra đây một vài chủ đề chính mà tôi cảm nhận được khi đọc qua 18 truyện ngắn của anh Lê Lạc Giao: 
Vấn đề của Tự Do và và Nô Lệ trong từng tư tưởng và vai trò thiết yếu của Tự Do trong sáng tác nghệ thuật
Những hệ lụy lâu dài và đau xót của chiến tranh và phế tích của ký ức vẫn còn đè nặng trên tâm thức của người tham chiến
Sự cô đơn và bất lực của con người qua những bối cảnh lịch sử khác nhau, cho dù là chiến tranh hay hòa bình với một nền công nghệ kỹ thuật phát triển vượt bực
Quan niệm của sáng tác nghệ thuật và vai trò của người nghệ sĩ, trong từng bối cảnh lịch sử khác nhau.
Mối liên hệ sâu kín giữa Truyền Thống và Định Mệnh và sự khuếch tán của âm bản truyền thống trong định mệnh đời thường

Những truyện ngắn của Lê Lạc Giao không những là những nét chấm phá nội tâm rất súc tích, gần gũi với đời thường mà còn mang nặng tính triết học và nhân văn rất cao.  Nhà văn Lê Lạc Giao cũng là một trong những sáng lập viên của nhóm nghiên cứu Triết Văn (với trang mạng tại địa chỉ: www.trietvan.com) quy tụ các nhà nghiên cứu Triết Học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và các thân hữu.
Xuyên suốt trong các tác phẩm của nhà văn Lê Lạc Giao, chúng ta nhận thấy Lê Lạc Giao luôn canh cánh trong lòng những tư duy về ý nghĩa của cuộc chiến tranh và hệ lụy lâu dài của nó trong lịch sử dân tộc.  Và hơn thế nữa, với tâm trạng định tĩnh của một nhân chứng, Lê Lạc Giao còn cho chúng ta một “nhãn quan” mới mang đậm tính triết học thực dụng, một thứ triết học không qua sách vở giáo điều mà qua sự cẩn trọng thẩm sát và kinh nghiệm của tự thân. Chính triết học thực dụng này đã nhận ra  mối liên hệ mật thiết giữa truyền thống và định mệnh.
 
Theo nhà văn Lê Lạc Giao thì: “Trên sân khấu đời, người ta có thể vừa tung hô truyền thống vừa nguyền rủa định mệnh mà không nhận ra định mệnh chỉ là hóa thân của truyền thống, cũng như nạn nhân cũng là một thứ âm bản của truyền thống”
  
Theo chổ tôi hiểu về ý nghĩa của nhận định rất sâu sắc của nhà văn Lê Lạc Giao một cách rộng rãi như sau:  Âm bản là một thứ phim có tác dụng “đổi trắng thành đen”, tác dụng của truyền thống trong xã hội cũng vậy, tuy bề mặt cạn cợt có vẻ thiện lành, nhưng tác dụng của nó phần nhiều chỉ làm con người đau khổ.  Khi âm bản truyền thống khuếch tán thành những định mệnh đời thường, nó diễn tiến một cách thầm lặng: nó len lỏi trong từng ngóc ngách của đời sống, từng suy nghĩ, từng hành vi của mỗi cá nhân. Truyền thống chảy vào tư duy của chúng ta dưới hình thức “sự thật hiển nhiên” nên nó ngăn cản tư duy đặt lại vấn đề từ đầu nguồn, và thế hệ này qua thế hệ khác con người làm khổ nhau nhân danh truyền thống.
 
Khi truyền thống không được cẩn trọng thẩm sát, không bị sàn lọc, hậu quả thật khôn lường. Áp lực của truyền thống phối hợp với thói quen kiêng nể, thói quen chịu đựng, thói quen nhẫn nhịn để tránh xung đột, để được yên thân, sẽ làm cho cá nhân tự đánh mất chính mình.  Nó biến người thành nộm, biến tự do thành nô lệ.
Nhìn từ khí cạnh này, truyền thống nếu được chấp nhận vô đều kiện và không bị cật vấn hay thẩm sát sẽ trở nên một thế lực vô hình, sẽ khuếch tán “âm bản” của nó vào những định mệnh đời thường.
 
Mười tám truyện ngắn trong tác phẩm “Nụ Cười Buồn Mùa Hè” là mười tám họa phẩm của những tâm hồn, những mảng đời bị xô giạt sau cuộc chiến của “Một Thời Điêu Linh”, là mười tám “âm bản” của truyền thống đã thân thành định mệnh đời thường, là mười tám nỗ lực của từng cá nhân để tìm lại chính mình, tìm lại ý nghĩa của đời sống. Tất cả chỉ nhắm tới MỘT mục đích duy nhất, tức là Tự Do.
  
Tự Do vừa là mục đích nhắm tới, vừa là điều kiện tiên quyết để cá nhân có thể tìm lại chính mình, vừa là một sự lựa chọn luôn luôn mở ra trong tâm thức con người trong từng phút từng giây.  Có khi Tự Do phải trả giá rất đắt: bằng sự cô độc tận cùng ngay trong đời sống này, hay là sự cô độc rốt ráo tuyệt đối của cái chết.  Bàng bạc trong các truyện ngắn của Anh Lê Lạc Giao, tôi nhận ra cái giá phải trả cho sự Tự Do của một cá nhân còn sống, còn hít thở: Sự Cô Đơn tận cùng dù là đang ở kề cạnh một cô gái đẹp mang tên Marcela, cùng với rượu và nhac Jazz trong nightclub:
Rượu, nhạc và Marcela làm anh ngây ngất. Tiếng kèn như gào khóc một thời quá vãng. Những cảm xúc đột ngột hồi sinh, anh nghe trong vòng tay một hình thể yêu dấu một thời. Đó là thể xác, là khối vật chất nóng bỏng và khi anh siết vòng tay, khuôn mặt từ từ hiện ra trong vòm sáng. Từ đôi mắt nâu to thăm thẳm, anh thấy hiện lên cả nỗi tuyệt vọng và niềm hi vọng của mình. Anh còn thấy cả vũng tối khủng hoảng điên dại, câm nín, giam hãm mình trong bức tường cô quạnh thời gian. Có một nụ cười rạng rỡ, đằm thắm vực dậy cả một quê hương mà anh tưởng đã tan rã từ lâu. Anh thì thầm, “Marcela, anh thấy thiên đường trong đôi mắt em.” Nàng cười bằng ánh mắt và nói vào tai anh, “Em tin như thế, vì mắt anh đã mọc cánh.” (Macela) 
 
Hay là: 
Anh nhìn góc phố tối đi vì một vầng mây đang trôi qua trên cao. Cuộc sống của anh cũng tối sáng như thế. Nỗi cô đơn không phút giây rời anh, cả trong lúc anh nghĩ rằng mình đang vui vẻ nhất. Xúc cảm trong tâm hồn như dòng sông xa nguồn không bao giờ trở lại, thì nỗi cô đơn kia dựng lên bao chướng ngại cản ngăn mọi ước muốn cần thiết cho một tương lai! (Quê Nhà của Kẻ Tha Hương)
Tự Do hay Nô Lệ,  Tự Do hay là Chết, Nạn Nhân hay Nhân Chứng, Cô Đơn để là chính mình hay là hòa nhập để đánh mất chính mình.  Đó là những chọn lựa rất khó mà các nhân vật chính, sau khi bị ném vào bối cảnh lịch sử của cuộc chiến Việt Nam bị buộc phải chọn lựa cho chính mình.  Chính sự lựa chọn này mang lại ý nghĩa cuộc sống.
 
Nhà văn Lê Lạc Giao, với tinh thần tận tụy cống hiến cho nền triết văn, cho sự sáng tạo bền bỉ, đã tự mình lựa chọn cho chính mình.  Anh Lê Lạc Giao đã nhập vào vai chính của sân khấu đời này với vai diễn của môt nhà văn, một người cầm bút chân chính, anh đã chọn làm Nhân Chứng của Lịch Sử, anh đã soi sáng mối liên hệ sâu kín giữa truyền thống và định mệnh, đã mô tả làm thế nào những âm bản truyền thống đã tự sao chép chính nó thành những định mệnh đời thường. Và hơn thế nữa anh đã cho chúng ta thấy cuộc chiến quan trọng nhất mà chúng ta ai cũng phải đối diện: Cuộc chiến chống lại các áp lực từ bên ngoài để được tự do là chính mình.  Cuôc chiến này phải dành được chiến thắng bằng mọi giá, thất bại sẽ là một đời sống nô lệ, cuộc chiến này phải trả giá đôi khi bằng trăm năm cô đơn vì nếu không thắng cuộc chiến nội tâm này, thì đời sống không có ý nghĩa gì.
 
Xin trân trọng ghi lại đôi dòng cảm nhận này thay cho lòng tri ân của tôi đối với một người anh, một người bạn vong niên mà tôi rất kính trọng, một nhân cách tuyệt vời và những lựa chọn rất quyết liệt mà anh đã can đảm thực hiện bao nhiêu năm qua, để sáng tạo bền bỉ và cống hiến cho người đọc. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm “Nụ Cười Buồn Mùa Hè” của nhà văn Lê Lạc Giao đến quý độc giả gần xa.
 
TÔ ĐĂNG KHOA

 

 

Friday, December 4, 2020

ĐỌC ‘VÒNG QUANH’. THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC

Minh Lê
 
Thi phẩm Vòng Quanh
 
Một ngày rất xưa, cách đây đã hơn 20 năm, tôi đứng trong hiệu sách Nguyễn Huệ với cuốn sách thật mỏng trên tay có tựa: “Đỗ Hồng Ngọc – Vòng quanh – Thơ” (nhà xuất bản Trẻ 1997). Phải nói ngay rằng tôi không có duyên, cũng không có nợ với… thơ. Cầm sách lên chỉ vì tò mò, bởi tôi rất thích văn Đỗ Hồng Ngọc. Đọc xong vài bài, tôi quyết định khiêng về nhà để đọc cho kỹ. Đọc xong rồi, mỗi lần đọc lại, vẫn tủm tỉm cười.
 
Như bài Affiche (trang 16) tả cô gái tuyệt trần trên bảng quảng cáo trong hành lang xe điện ngầm ở Paris:
 
“Có kẻ nào táy máy vẽ chơi
Bôi đen chiếc răng làm cô sún
Có kẻ trời ơi vẽ vời lên rún
Làm cô cựa mình…”
 
Từ đó về sau, mỗi lần thấy quảng cáo có cô gái đẹp, là tôi lại nhớ tới đoạn thơ này. Một cô gái đẹp răng…sún, lại đang cười mím chi vì…nhột, chà chà, dễ thương tới mức đó làm sao quên được! Bài “Ở bảo tàng sáp Grevin” (trang 60) có chuyện còn ngộ hơn:
 
“Tưởng người thiệt
Chào, không nói
Tưởng người sáp
Sờ một cái!”
 
Vỏn vẹn 12 từ, còn ngắn hơn một bài haiku của Nhật, vậy mà thành nguyên một câu chuyện, thậm chí như một bộ phim. Trước mắt tôi có một thi sĩ tha thẩn trong viện bảo tàng, nhìn ngắm tượng và người. Không biết do tượng qúa giống người, hay do người giống…tượng, mà thi sĩ nhìn tượng thành người, nhìn người thành tượng? Suy thêm tí nữa, tượng và người khác nhau ở chỗ có… hồn, cho nên thi sĩ nhìn nhầm như vậy, kể cũng…đúng! Bởi đâu có thiếu tượng có hồn, người lại không có? Thiệt dí dỏm, duyên dáng mà sâu sắc, từ tuy ít mà ý ở ngoài lời.
 
Bài “Ở Montmartre” (trang 48) tả phố nghệ sĩ ở Paris, nơi nghệ thuật thấm đẫm trong không khí và những con đường lát đá nhấp nhô:
 
“Con đường là một dòng sông,
Sóng lăn tăn gợn vỗ quanh ghế ngồi…
Ta nhìn xuôi ngược ơ hay
Những làn gạch sóng lắt lay cõi người…”
 
Có lẽ phải một lần đã tới Montmartre, nhìn các họa sĩ say mê vẽ tranh, nghĩ tới Picasso, Renoir và Van Gogh từng ở đây, rồi nhìn lên nhà thờ Sacré-Cœur hình trái tim trắng muốt ở trên cao, mới cảm được ý tưởng về “sông” và “sóng” của thi sĩ. Cuộc đời như một dòng sông nhiều sóng, sóng to sóng nhỏ, rồi cũng chảy về biển. Dù khó so sánh, nhưng nếu cho tôi chọn, tôi thích hình ảnh dòng sông này hơn là hình ảnh “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi” của nhạc sĩ Trịnh.
 
Nhân nói tới nhạc, thơ Đỗ Hồng Ngọc có nhạc, họa, lại có văn:
 
“Ngõ cũ
Ao xưa
Vầng trăng bạc
 
Lầu văn
Gác tía
Bước chân son.”
(Văn Miếu, trang 42)
 
Nhạc nằm trong tiết tấu 2-2-3, trong thanh điệu trắc trắc – bằng bằng- bằng bằng trắc của đoạn 1 đối xứng với bằng bằng – trắc trắc – trắc bằng bằng của đoạn 2. Họa tới từ những nét bút rất thoáng vẽ nên cảnh vật, từ bối cảnh bên ngoài “ngõ, ao, trăng” đến mảng hình chính “lầu văn, gác tía” và tâm điểm “bước chân son”. Văn nằm trong ý tưởng ở trong và ở ngoài từ ngữ, người đọc tự thấm và… tự hiểu. Cũng có bài, thi sĩ nói thẳng tưng, kèm theo một nụ cười tinh nghịch:
 
“Chiều thu
Nghe tiếng quạ
 
Giật mình
Nỗi xa nhà
 
Nhớ sao
Mà nhớ
 
Quá!”
(Thu, trang 34)
 
Quạ – quá, vần cũng chỉnh mà nghĩa cũng chỉnh. Sao các nhà soạn sách của chúng ta không đem bài thơ này vào chương trình lớp 1 cải cách nhỉ, khỏi phải khổ sở sửa tới sửa lui truyện của người khác cho mệt óc?
 
Ngày xưa, Phật giơ cành sen lên, ngài Ca Diếp mỉm cười vì ngài đã ngộ. Tôi, vốn rất không có duyên nợ với thơ, nhờ cành sen “thơ Đỗ Hồng Ngọc” mà ngộ ra một chút về thơ. Mà cũng cùng những bài thơ đó, cái “ngộ” của tôi bây giờ đã khác 20 năm trước. Xin cám ơn thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc!
 
MINH LÊ
Suối Tiên 11/2020

Wednesday, December 2, 2020

THÁNH CA… VÀ NHỮNG BÀI KHÁC

nguyễnxuânthiệp

Swallows Legend. Mission San Juan Capistrano
 
THÁNH CA
 
đêm
trong ngôi nhà. của những chiếc lá thông. khô
ngồi thấy lại
người nghệ sĩ. áo sờn vai
đi trong chiều lộng gió
qua phố xưa
ai. còn ai. đứng đợi người
giấc mơ
dòng sông
phiến đá. lãng quên
dài bao nhiêu năm
cho tôi về lại
căn gác
của mùi hoàng lan
trong ký ức
mái tóc. và mặt trăng
tiếng hát
thánh ca
bầu trời. phượng đỏ. của tôi
 
 
MÂY. ĐI C THI
 
thời gian
như mây. đồi cổ thi
tôi gặp lại em
con dốc nhà thờ
với những bông cúc. vàng
trong nắng
nhưng đâu rồi. bầy chim én. xưa
dưới mái lầu. quán sách nhân văn
hương cà phê
tôi cầm tay em
không nói
rồi đi. như mây
qua khói lửa. chiến tranh
áo vương mùi cỏ
một chiều. dừng chân
ôi biển xa. ngôi nhà thờ. với gác chuông
và đàn chim én. lượn bay
như trong thơ tôi. trao em. ngày ấy
 
Tháng 11. 2020
 
 
TING HÓT CHIM HA MI
 
đêm mùa đông
một cơn ác mộng. đánh thức tôi
lúc 2 giờ rưỡi sáng
em. em có chờ tôi. trên con dốc nhà thờ
sao mãi hoài tôi đợi
mong. gặp lại nhau. một ngày nào
tôi nằm. nghiêng tai. lắng nghe
dường như trong vòm lá. tối. ngoài khung cửa
có mảnh trăng hạ huyền. và tiếng chim họa mi
hót
tiếng chim họa mi
từ thơ. tomas transtromer
trong đêm khuya
cất lên. lảnh lót
không hề run rẩy. sợ sệt
tiếng chim họa mi hót
như lời trẻ reo. trên đồi cổ thi
ôi. tiếng chim họa mi. đến thăm tôi
ý chừng thấy tôi cô đơn. tuyệt vọng
 
họa mi ơi
 
NXT