Monday, July 14, 2014

TẠP BÚT ĐỖ HỒNG NGỌC






                                       Photo Nguyễn Thị Khánh Minh

chọn những bông hoa
và những nụ cươì…
(TCS)

Tôi nhớ Phạm Trọng Cầu đã “xuyên tạc” câu hát đó bằng cách đổi lời là: “Mỗi ngày tôi nhậu một lần thôi, từ sáng tinh mơ cho tới chiều tà…” rồi nhớ Trịnh Công Sơn viết “…một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ, ngày qua” mới thấy để cho ngày qua thật nhẹ đôi khi người ta cần một chút say. Có người say cái này, có người say cái khác, nhưng say. Ở tuổi chớm già, người ta gần như phải say một cái gì đó nếu không muốn… tự tử. Có người say… hoa kiểng, chiều chiều bắt chước người áo xanh Tư mã Giang Châu tỉa một cành hoa, nắn một nậm rượu còn xanh trên giàn bầu, có người trau chuốt một vần thơ, có người hò hét ở sân bóng đá, cũng có người đắm đuối vào chén rượu, canh bạc. Có cái say tốt và cái say không tốt, dĩ nhiên. Ở đây ta nói cái say, cái đam mê, cái sở thích của tuổi chớm già. Hình như ở tuổi đó, sở thích của người ta khựng lại, chắt lọc hơn, tinh chất hơn và lắng đọng hơn. Phần đông không chọn cái ồn ào mà chọn cái yên ả, đôi khi rất một mình để lắng nghe cái im lặng chung quanh và…”im lặng đời mình”. Nhiều người chọn đọc sách như một thú vui tao nhã, thanh khiết. Sách cổ, lịch sử, danh nhân, hồi ký có vẻ hợp với tuổi chớm già hơn là tiểu thuyết giả tưởng, hành động, phiêu lưu. Dĩ nhiên cũng tùy người, tùy cá tính. Có người gắn chặt vào cái TV, hết chương trình này qua chương trình khác, cầm cái “remote” bấm liên tục, đổi từ kênh nọ qua kênh kia đến nỗi thành một thứ bệnh mới, bệnh “bấm nút”. Nhiều người thuở trẻ bay nhảy, hào hoa, bỗng nhiên về già ngán ngẩm tìm đến những thú vui văn hoá, tao nhã, từ bỏ những bữa nhậu nhẹt bí tỉ, bù khú bạn bè, ồn ào náo nhiệt. Tuổi chớm già dường như thích nghe hoà nhạc, nghe diễn thuyết, xem kịch, xem triển lãm hội họa, nhiếp ảnh nhiều hơn. Trước kia nhiều cuộc vui tổ chức nam riêng nữ riêng thì nay các… chớm già có thể chia sẻ niềm vui chung với nhau, vì thú vui đã gần như giống nhau, và phải chăng một phần cũng do nguồn kích thích tố đã cạn dần nên họ gần như đồng nhất với nhau, chẳng cần õng ẹo chi nữa cho thêm mệt!

Nhưng cũng có cái không giống. Đàn ông thường có vẻ tìm thú vui trong nghề nghiệp của mình, đặc biệt khi họ thành công, họ sẵn sàng dành hết thì giờ cho sự nghiệp, sẵn sàng bỏ bê tất cả. Phụ nữ thì khác, sau bao năm nặng gánh gia đình, con cái, nay họ đã có nhiều thời gian hơn để có thể tìm lại những thú vui riêng. Có người thích học một kỹ năng mới nào đó như cắm hoa, thêu đan, bánh trái, bơi lội… Nói chung tuổi này người ta ít đi tìm cái gì mới lạ hoàn toàn mà tìm lại những thú vui, sở thích cũ hồi còn trẻ, thí dụ một người hồi trẻ chơi bóng bàn thì ở tuổi này người ta cũng lại chơi bóng bàn thay vì chơi tennis. Học một kỹ năng mới dĩ nhiên là khó rồi, nhất là khi đã lọng cọng, lưng mỏi, khớp cùn, ở đây còn chủ yếu là do ngươì ta tự tin hơn khi sử dụng lại kỹ năng cũ của mình và do người ta biết rõ giá trị của nó. Có vẻ như ở tuổi chớm già người ta để ý đến chuyện ăn mặc của mình hơn. Có gì đâu, trước kia khi ngươì ta trẻ thì ăn mặc sao cũng thấy được, thấy hợp, thấy tươi mát, nay về già thì cần phải chăm sóc bộ cánh mình hơn chút để phù hợp với tuổi tác, để trông chững chạc, trẻ trung hơn, và nếu họ có tham gia vào các hoạt động xã hội thì sự ăn mặc càng được chăm sóc, chọn lọc kỹ càng hơn. Không ngạc nhiên khi thấy một người chớm già dành thời giờ săm soi chăm sóc quần áo tỉ mỉ, có vẻ như “điệu” hơn xưa, đặc biệt là ở các ông, nhiều khi còn bị nghi oan.

Các bà… chớm già thì khác. Hồi trẻ hình như họ quan tâm chăm sóc sự ăn mặc nhiều hơn để được hấp dẫn hơn, còn nay, họ thấy sao cũng được, bất cần, nhiều khi ăn mặc cẩu thả vì coi như thôi già rồi, bày đặt chi nưã! Tuy vậy khi phải ăn mặc phù hợp với công việc, với giao đãi bên ngoài xã hội, họ cũng hết sức chăm chút. Ngày nay, nhờ biết cách chọn thức ăn, không để cho bị béo phệ, rèn luyện thể hình, quần áo phù hợp, trang nhã, với một chút mỹ phẩm sẽ làm cho người phụ nữ trông trẻ hơn nhiều so với tuổi tác. Cả các ông nữa, đã bắt đầu ra vào các thẩm mỹ viện. Đã có khá nhiều những loại mỹ phẩm, nước hoa dành cho đàn ông, đã có những kỹ thuật căng da, độn mặt, xóa nếp nhăn cho cả bà lẫn ông.

Ai cũng thấy một đặc tính chung của người lớn tuổi là… keo kiệt, nhiều khi bủn xỉn. Dễ hiểu thôi, họ không còn khả năng tăng thu nhập dễ dàng như hồi trẻ, họ phải chắt mót dành dụm cho những lúc bất trắc, khó khăn. Tuổi già neo đơn, tuổi già bị con cái bỏ rơi vẫn thường thấy, vậy để có sự an toàn, họ phải chắt mót, dành dụm. Đàn ông có vẻ như ít quan tâm về tiền nong, họ quan tâm nhiều hơn đến sự nghiệp, danh tiếng, trừ những người nghề nghiệp không ổn định, nợ nần, sức khỏe yếu kém. Đàn bà thì khác, họ quan tâm đến kinh tế nhiều hơn, lo lắng dành dụm, không phải là để tiêu pha cho mình mà lo cho tương lai con cái, lo cho những lúc bất trắc, và để được sự an toàn hơn trong lúc tuổi già.

Ở tuổi chớm già người ta cũng thường quan tâm đến những biểu trưng xã hội, vì những biểu trưng đó “nói lên” vị trí của họ trong cộng đồng. Nhà này có xe dream, thì nhà nọ cũng phải có suzuki, nhà này có TV, thì nhà kia đầu máy… Nhiều kẻ trọc phú, đùa bỡn với đồng tiền, khoe của một cách vô văn hoá vẫn thường thấy. Dĩ nhiên, đa số người có học không ai làm như vậy. Tri túc rất cần thiết để cho thần kinh được dịu êm. Tôi mê nhất “Bài ca một nửa” ( Bán bán ca ) sau đây của Lý Mật Am mà Nguyễn Hiến Lê đã dịch ( Sống Đẹp, Lâm Ngữ Đường):

Tôi đã thấy già nửa kiếp phù sinh này rồi
Chữ “nửa” đó có công dụng vô biên
Có hưởng nửa tuổi trời rồi
mới cảm được hết cái vui nhàn nhã
Có vườn tược ở nửa đường lên núi nửa đường xuống sông
Nửa đọc sách, nửa làm ruộng, nửa buôn bán
Nửa là kẻ sĩ nửa bình dân
Đồ dùng nửa nhã nửa thô
Nhà nửa đẹp nửa xấu
Quần áo nửa mới nửa cũ
Thức ăn nửa phong nửa kiệm
Vợ nửa chất phác nửa khôn lanh
Tên tuổi nửa vinh hiển nửa tối tăm
Uống rượu nửa say mới ngon
Ngắm hoa bán khai mới đẹp
Thuyền giương nửa buồm mới khỏi lật
Cuộc đời trăm năm nửa vui nửa khổ
Thì hưởng một nửa là thích đáng hơn cả…
Tuổi chớm già, trên dưới năm mươi như người xưa nói, là tuổi ” tri thiên mệnh” gẫm không sai. Muốn không tri cũng không được. Tạo hóa sẽ cho ngay một vố để sáng mắt ra. Tục ngữ nói “bốn chín chưa qua năm ba đã tới” là vậy. Người bị cú này, người bị cú khác như một cảnh báo. Đủ rồi. Thôi đi. Chuẩn bị đi. Bác L C, một nhà báo đã bảy mươi lăm tuổi nói với tôi, hồi còn trẻ ông không tin những gì ông bà mình nói, nay thì càng ngẫm càng thấy đúng đến phát sợ. Hình như mọi thứ đều đã được sắp đặt đâu đó rồi, nhất ẩm nhất trác giai do tiền định. Do vậy mà tuổi chớm già thích tìm tới tôn giáo. Nhỏ đọc Khổng, lớn đọc Lão Trang, già nữa thì Lão Trang cũng không đủ mà phải Chúa, phải Phật. Người ta thích tìm đến thiền, đọc thiền, hành thiền. Người ta theo dưỡng sinh, tập khí công, ráng đưa khí vào huyệt đan điền… trong tư thế bán già, kiết già gì gì đó. Một số nhà khoa học đâm ra tin huyền bí, điều mà lúc trẻ họ phản đối quyết liệt. Tôn giáo trở thành niềm an ủi, niềm hạnh phúc của nhiều người. Một số thích đi chùa, lễ Phật, số thích đi nhà thờ, nguyện Chúa và người ta cũng thích làm việc từ thiện. Nhưng nói chung, ở tuổi chớm già, ngươì ta không bám vào những giáo điều cứng nhắc. Người ta có thể hiểu sâu xa hơn ý nghĩa cuả Từ bi, Bác ái. Người ta nhìn đời bằng con mắt cảm thông hơn, độ lượng hơn bởi vì người ta đã từng trải, đã tích lũy nhiều kinh nghiệm sống, người ta đã “tri thiên mệnh”.

Ở nông thôn, ngày xưa, người vào tuổi năm mươi đã con đàn cháu đống, ra đường đã có nhiều người gọi là ông, là cụ, và mỗi khi có lễ lạc trong làng họ luôn được ăn trên ngồi trước ( “sống lâu lên lão làng”, “kính lão đắc thọ” ). Nhiều người mới hườm hườm cũng ráng đóng vai già, nói năng điệu bộ cho ra vẻ già khá ngộ nghĩnh. Tuy vậy, nhờ xã hội hóa theo một nếp văn hóa lâu đời ít thay đổi ở nông thôn như vậy, người chớm già dễ dàng chấp nhận và an phận. Đó là ngày xưa. Bây giờ nông thôn cũng đã khác. Người chớm già ở đô thị nói chung thường thích tham gia vào một công việc nào đó của cộng đồng, như tham gia vào một hội đoàn, một câu lạc bộ, là thành viên của hội phụ huynh học sinh, hội chữ thập đỏ , hội từ thiện v.v… Nhờ sinh hoạt trong một tập thể như vậy họ thấy thoải mái, dễ chịu, thấy mình vẫn có ích cho cộng đồng, vẫn có thể đóng góp những kinh nghiệm trong lãnh vực này hay lãnh vực khác. Những người vốn quen với công việc xã hội sẽ thích nghi dễ dàng và hài lòng với công việc mới này, nhưng những người không quen cũng không phải dễ dàng tham gia một cách thoải mái. Một số người tìm kiếm những người bạn cùng sở thích, hợp thành những nhóm nhỏ thân mật, gần gũi, tổ chức những cuộc vui chơi yên tĩnh, hoặc đi đó đi đây, thăm viếng các thắng cảnh, chuà chiền cũng là một cái thú rất tốt. Lúc này họ thường đi với nhau từng nhóm nhỏ mà không đi theo từng gia đình có nhiều thế hệ như trước. Thực ra bọn nhóc cũng đã lớn, có khuynh hướng tách thành từng nhóm riêng của chúng mà không theo cha mẹ nữa.

Đỗ Hồng Ngọc
(Gió heo may đã về)

NHỮNG BÀI THƠ CỦA HOÀNG TRÚC LY





 


Sầu Ca Sĩ
 
            Tặng Thanh Thúy
Từ em tiếng hát lên trời
Tay xoa vòng tóc tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống hồn anh
Lắng nghe da thịt tan tành sau xưa.


Hoàng Lan

Có phải vì em đang gỡ tóc
Cho mây từng sợi rối chân chim
Có phải hoa bay đầy cánh bướm
Vì em thay áo mái tây hiên.

Ôi mới hôm nào như hôm qua.
Tay ai bùa phép nắm đôi ta.
Như nắm mùa đông hơ ngọn lửa
Cho tuyết đầu non chảy máu ra...
Ôi mới hôm nào như hôm kia
Con đường chở nặng những mưa khuya
Cho nên bóng tối tan thành khói
Ánh mắt mớ sương lạc lối về
Ôi có hôm nào như hôm nay
Anh ghen vì gió đã choàng vai
Em đi nh3 vẽ trên đường nắng
Em nói như đàn trong miệng ai
Anh là dòng sông mơ chín suối
Em là mặt trăng thèm mặt trời
Cách trở bốn mùa vây trái đất
Còn nghe đau xót thuở nào nguôi


Hàng cây bên đường    
 
người yêu tóc xõa tròn vai
nửa đêm da thịt quên cài áo khuya
xác thân rã mục lời thề
mùa đi lá rụng đường về xuân thu

THƠ Ý NHI- LỜI NGUYỆN CHO NỖI YÊN HÀN



Chu Văn Sơn



                             Chân dung Ý Nhi. Kevin Bowen vẽ




                                   Ý Nhi tuyển tập

Tôi cứ hình dung nghệ sĩ đích thực là một kẻ khát. Khát như một chứng bệnh, lại như một nhu cầu. Là rủi ro mà cũng là may mắn. Nó khiến anh không thể không đi tìm cho được nguồn nước của riêng mình. Vừa buộc anh thành nghệ sĩ vừa biến anh thành tù nhân trong một cuộc đày ải vô hình và dai dẳng. Biến đời nghệ thuật thành cuộc lưu đày. Nó khác nào như một thứ khổ giá tiền định mà tự nguyện. Nó mà thôi dày vò, anh liền bị cắt cơn sáng tạo. Khỏi phận tù đày, anh hết là nghệ sĩ. Khuôn mặt tinh thần và tầm vóc của anh tùy thuộc vào cơn khát ấy. Cơn khát có tên là Tuyệt đối. Mỗi người khát một thứ khác nhau nhưng đều là cái mình cho là Tuyệt đối. Là Tuyệt đối, nên bao giờ nó cũng có khoảng cách đối với nghệ sĩ. Khoảng cách bằng chính cơn khát.
          Dày vò đeo đẳng Ý Nhi suốt mấy chục năm qua trên mọi chặng đường thơ là một nỗi khát thôi. Nỗi khát Yên bình. Chẳng phải thế sao! Cứ lần theo bước chân mải miết kiếm tìm nguồn nước, có thể thấy kẻ khát đã rắc lại những ngôn từ, khác nào một thứ lông ngỗng riêng đánh dấu đường qua các trang thơ: chỗ này là yên tĩnh, yên hàn, yên lành, trong lành, chỗ kia là lắng yên, yên lặng, bình yên, thanh bình, trầm tĩnh…Những ngôn từ vốn là chị em ruột rà với nhau. Baudelaire gọi những từ ấy ở một thi sĩ là từ chìa khóa. Nó biểu hiện nỗi ám ảnh, biểu hiện mối ưu tư chính của nhà thơ. Nhà thi pháp học gọi đó là hệ thống ngôn từ mang tính quan niệm. Dù gọi bằng tên gì, đó vẫn là những biến thể khác nhau của cùng một cơn khát bình yên thôi. Qua các tập thơ, ta còn nhận ra: từ cơn khát ấy, theo những cách riêng nào đó, đã mọc lên cả một thế giới hình tượng tươi tắn sum suê. Nó là chiếc lá thắm biếc, là bóng cây thâm u, là màu trời xanh nhẫn nại sau mây, là cái lắng mình của dòng sông, là chùm rau me đất giữa độ đường không cây, là bóng mát cây sồi trầm tĩnh bên hồ Thuyền Quang, là sông Trà với doi cát vàng như tơ dưới nắng, là Praha thanh bình như một giấc mơ…Là vườn, là chùa, là cơn mưa, là biển lớn, là mùa thu- Mùa thu ngủ yên dưới tầng lá thắm/ Gió trong xanh như nước chảy qua rừng… Trong mỗi hình tượng kia đều âm vang một tiếng thì thầm: Này hỡi yên bình, người ở đâu? Có lẽ đó là cái tiếng thì thầm như một điệp khúc khắc khoải của cái Tôi ấy. Nó vang vang ngân ngân qua tầng tầng hình tượng của thế giới thi ca Ý Nhi. Có lúc nó rơi vào hư không thăm thẳm chẳng chút hồi âm. Có lúc nó rơi lại chính lòng mình thành một tiếng thở dài chìm vào lồng ngực.
          Tôi cứ ngỡ trong một lần nào đó, Ý Nhi đã lỡ tay đánh rơi mất sự yên bình vô giá của mình. Mất đi vĩnh viễn. Nó rơi hút vào tuổi thơ xa tít tắp Hải Phòng hoặc rớt xuống cái mặt đất đầy việc dữ, rồi cát bỏng đã lập tức làm cho hoàn toàn tiêu tan. Tuổi thơ đã mang đi hay cái thời khắc nghiệt kia đã cướp mất, nó là tâm bệnh hay là thời bệnh? Chỉ biết rằng, tự bấy trở đi, nhìn vào lòng, chỉ còn thấy có nỗi bồn chồn, xao xác. Và từ đó, cái Tôi Ý Nhi có diện mạo riêng là kẻ khát Yên bình. Sống, với Cái Tôi ấy là lên đường tìm kiếm sự Yên bình. Càng bồn chồn càng khát Bình yên. Chị hy vọng yên bình vẫn chờ đâu đó ở cuối con đường. Chị gắng nâng niu mọi che chở, gom góp mọi bao dung, chắt chiu mọi dịu dàng. Với chị, đó là khoảnh khắc hạnh phúc có thực, dù nó vô cùng hiếm hoi. Mà thật oái oăm là dường như khi đã đánh mất sự bình yên, Cái Tôi ấy đã đánh mất luôn cả một thứ sâu xa nữa: khả năng cầm giữ sự bình yên. Nói tâm bệnh là thế. Giáp mặt với bình yên, chị vừa không dám tin vừa không dám hưởng. Bồn chồn mong mỏi yên bình, đến giữa yên bình lại thấy lòng xao xác. Hạnh phúc và tủi sầu giao tranh nhau trong cõi lòng không yên định, mà chị thường gọi là nỗi niềm không xác thực:” Đôi lần/ Em nhìn tán cây mà ứa nước mắt/ Vì màu xanh…Đôi lần/ Em nghe tiếng chim khuyên mà ứa nước mắt/ Vì sự trong trẻo”. Thật là :” Một hạnh phúc thương đau/ một hân hoan buồn bã”. Thế nên, đi giữa một thủ đô thanh bình như giấc mơ cổ tích, Cái Tôi ấy chỉ thấy Lòng bồn chồn giữa Praha bình yên. Và xao xác giữa ngày yên, một nỗi niềm oái oăm, đã thành nỗi niềm thường trực. Một cơ chế tinh thần éo le, nghịch lý như vậy phải chăng là bi kịch? Mà suy cho cùng, nó đâu phải của riêng người đàn bà nào, riêng thời nào. Nó là cơn khát muôn thưở. Dù thế nào, với cái Tôi ấy, bình yên đã thành thoáng chốc xa vời, bồn chồn mới là thường hằng vĩnh viễn. Trải qua năm tháng chính nó đã kết tinh thành một quan niệm thơ rất riêng của thi sĩ. Phải, với Ý Nhi, thơ chính là lời nguyện cho nỗi yên hàn.

                                         ***
          Nỗi khát nằm sâu trong tâm thức đã thành kẻ kiến tạo toàn bộ cõi thơ Ý Nhi. Nó phân lập không gian thành hai đối cực: Miền yên bình nơi sinh ra để bao dung và thanh lọc, nơi chung sống của những gì trong trẻo, dịu lành. ở đó có tiếng chim khuyên trong như giọt ban mai, có bông tuyết nhẹ nhàng tinh trong buốt giá và sắc hoa quỳ luôn vàng thắm nơi lưng dậu vườn êm hay những triền xa…Miền khắc nghiệt với cát bỏng, bùn lầy, nắng xối, gió quất, mưa chan, ồn ào, phồn tạp, đầy bất ổn, bất an, nơi ngự trị của hiềm khích, hận thù, đố kỵ, giả trá, chúng vây bủa những cây dương đơn độc mà kiêu hãnh, chúng muốn làm tiêu tan sắc xuân dịu dàng của chùm rau me đất…Hành trình của cái Tôi là gắng từ bỏ miền khắc nghiệt để đến với chốn yên bình. Thế là, thi sĩ thành kẻ lữ hành đơn độc giữa phố đông, người bước vội trong đêm qua miền cát. Nó cũng phân lập thời gian: Quá khứ là thời yên bình đã mất, ở đó tuổi trẻ và tuổi thơ lúc nào cũng mỉm cười tha thứ chở che. Hiện tại là quãng thời gian phi yên bình, ở đó trạng thái bồn chồn đã làm thời gian vụn nát thành muôn mảnh, thi sĩ đi xâu những mảnh vỡ sắc nhọn thành nỗi xao xác lê thê. Còn tương lai thì đâu đó mãi cuối tầm nhìn, nó là cõi yên bình tuyệt đối luôn vẫy gọi, cũng luôn lùi xa như rừng mơ chập chờn trong cơn khát. Thế giới thơ Ý Nhi là sự tương sinh tương khắc của các đối cực ấy.
          Mà sâu xa hơn, cơn khát kia quyết định chuẩn mực hạnh phúc của người phụ nữ Ý Nhi lẫn chuẩn mực cái đẹp của thi sĩ Ý Nhi. Tìm kiếm hạnh phúc cũng là tìm kiếm cái đẹp. Cả hai có cùng một gương mặt. Chị yêu những phút giây yên ắng, trong lành, dị ứng với những ồn ào, giả trá. Gắng chịu đựng và vượt qua những nắng nôi, bỏng sôi, giông gió để đến với những cảnh giới u tĩnh, thanh thản. Tìm kiếm vườn trong phố, chùa trong phố, hồ trong phố. Hành hương đến những dòng sông và biển lớn. Đến với những Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, những Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu, những Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Akhmatova, Xvetaeva…chị đã tìm thấy được cái đẹp của mình. Bởi họ đều là những nhân cách lớn, đều đã đắc đạo. Đắc đạo dường như là lý tưởng nhân văn của chị. Theo thi sĩ, đắc đạo là đã đạt đến độ tự biết, đã vượt lên mọi vướng bận đời thường. Biểu hiện hằng ngày của nó là lặng lẽ sáng trong. Sáng trong của dòng sông đã qua nhiều bão tố. Và lặng lẽ của chưng cất:” Những tiếng kêu bi thương cuồng nộ/Đã tan trong lặng thinh kỳ bí”. Ấy là nỗi lặng yên minh triết, vẻ khiêm nhường kiêu sang. Họ cứ mãi thế cho đến giờ phút chót:” Rồi ra đi/ Như một vì sao/ Chợt tắt/ Giữa bao la”. Có thể đắc đạo thế này dễ ra cao đạo. Dù sao, chỉ đến với họ, chị mới tìm được cho mình sự thanh thỏa. Mà, họ hiện diện giữa cõi đời cũng giống như vì sao ở giữa bao la. Cho nên, trong thơ chị, người ta luôn thấy một người đàn bà mải miết đi lên phía trước và thường ngoái lại phía sau. Đời đã thành một hành trình. Tôi cứ nghĩ người đàn bà này là chị em song sinh với người đàn bà trong thơ Xuân Quỳnh. Họ đã cùng lên đường, rồi mỗi người mỗi ngả, mỗi người một cách cùng nhằm về cái đích phía chân trời. Xuân Quỳnh đi tìm kiếm sự yên lành trong đời, Ý Nhi đi tìm kiếm sự yên tĩnh trong mình. Điều họ tìm cứ luôn ở phía trước vừa mời mọc vừa trêu ngươi. Mà người luôn thấy đích ở phía trước là người không bao giờ chạm đích. Hôm chiêm bao gặp Xuân Quỳnh, Ý Nhi- giờ là kẻ đồng hành đơn độc- đã chua xót nhìn suốt cả hành trình mà nói vọng sang thế giới bên kia với người đồng bệnh tương liên:” Cơn mưa ta ngóng đợi/ Còn ở tận cuối trời/ Đường dài ngày nắng xối/ Bước chân trần Quỳnh ơi//Nào thấy đâu bến bờ/ Sau gió Lào, cát trắng/ Thấy đâu mảnh vườn êm/ Thấy đâu miền biển lặng//Ánh mắt nhìn đăm đắm/ Lệ trôi qua môi cười/ Suốt một đời vội vã/ Suốt đời không tới nơi//Kìa mây mùa thu trôi/ Cúc đã vàng thắm lại/ Thơ buồn trên mặt giấy/ Bóng người về đơn côi. Lúc nào cũng nghĩ: Sau tất cả những khắc nghiệt, gian truân, thế nào rồi cũng đến thôi. Nhưng đã “sau’ nhiều lắm rồi, đến cát, đến dòng sông, đến biển, đến mùa thu, đến mảnh vườn, đến cơn mưa…rồi . mà vẫn chưa tới, vẫn cứ còn phía trước, vẫn khắc khoải chờ đợi điều chi, mong mỏi điều chi. Tính chất giời đày chính là ở chỗ: lòng không chịu nguôi yên. Đi tìm sự yên tĩnh, ngỡ nó là một bến bờ, một xứ sở, một cõi nào đó ngoài mình, hóa ra nó ở trong mình. Lòng mình có tĩnh thì mới nhập vào đời tĩnh. Hóa giải được nỗi bồn chồn mới đến được cõi bằng an. Chìa khóa của hạnh phúc là đó. Nhưng chìa khóa đó đã lỡ làm rơi hoặc bị đời khắc nghiệt đoạt mất rồi. Mà còn chưa an bằng, thì còn mải miết đi. Bấy giờ mới thấy ra rằng đi ấy là số phận mình. Đi là cái hành trình của phận người. Đi như một nhu cầu, một chứng bệnh, một lưu đày. Không ngừng nghỉ, không nguôi ngoai. Đó là hành trình của phận người hay huyền thoại Xidiph vẫn nằm sâu trong định mệnh những thi sĩ chăng? Và chị đã chấp nhận nó như chấp nhận khuôn mặt vốn có của  mình.

                                           ***
          Lưu Trọng Lư có lý khi cho rằng nếu không có một lý tưởng nhân văn ,thi sĩ chỉ là anh thợ vần. Quả thật, tư tưởng nhân văn mới là yếu tố quyết định nên khuôn mặt tinh thần của người nghệ sĩ. Mỗi thi sĩ chân chính đăng đàn là một tinh thần nhân văn nào đó cất tiếng. Nó dị ứng với mọi thứ phi nhân văn và đấu tranh cho khát vọng nhân văn của mình. Nhưng một tư tưởng nhân văn không hóa thân được vào vần, nghĩa là không hình thức hóa được, thì cũng không thể có thi sĩ thực sự. Từ những bài thơ đầu tay đến Vườn, Lời nguyện cho nỗi yên hàn của Ý Nhi càng lúc càng đượm một chất giọng riêng.
          Như một nhà thơ biết tiết chế, hành trình thơ Ý Nhi cứ đi dần từ những lối mòn màu đỏ/ mưa êm trên mặt đường, với nỗi hân hoan đến những miền ta chưa tới với bao niềm se thắt. Trên hành trình ấy, giọt mưa dạo tháng Mười long lanh ngọc trai đã biến thành bông tuyết nhẹ nhàng tinh trong buốt giá. Giọt nước mắt cuồng nộ của thiếu nữ cầm trong tay quả bóng màu đã thành giọt lệ ráo khô của Người đàn bà ngồi đan. Thơ Ý Nhi là sự lên tiếng của giọt nước mắt ấy: Tôi tìm đến những đền đài tưởng niệm/ Nào hay đâu chỉ là cát đấy thôi/ Hạt cát nào trong đáy mắt bỏng sôi/ Đang lặng lẽ lăn đi trên gò má. Thơ cứ như một tiếng thở dài được nén trong lồng ngực. Ý khổ mà lời cam. Chính giọt lệ im lìm kia là bè trầm của mỗi lời thơ rắn đanh chất nghĩ.
          Gia tăng chất nghĩ cho thơ là một hướng lớn của thơ ta kể từ sau cách mạng. Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Chính Hữu, Việt Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hoàng Hưng…là những tiếng thơ đã đem được nhiều chất nghĩ vào phong cách của mình. Ở một đất nước mà duy cảm là căn cốt trong cấu trúc tinh thần của dân tộc, việc đem chất nghĩ vào thơ, dù thế nào cũng ít nhiều là sự gây hấn về thị hiếu. Nhưng không thế, làm sao có thể làm giàu cho tiếng nói thi ca. Có thể gặp những dị ứng ban đầu nhưng về sau sẽ được sàng lọc và tiếp nhận.
          Không thuộc vào số người tiên phong nhưng trong hàng những nữ thi sĩ, Ý Nhi là cây bút mạnh dạn dấn thân vào hướng đi chông gai đó. Và chị có không ít ưu thế. Được đào tạo bài bản từ giảng đường đại học, từng làm nghiên cứu viên của Viện văn học, làm biên tập thơ ở nhà xuất bản Hội nhà văn, lại giao lưu với nhiều cây bút giàu tâm huyết cách tân, Ý Nhi đã tích cóp được một vốn liếng văn hóa thơ khá dày, nên chị luôn vững tâm trên con đường mình đã chọn. Từ bỏ sự giãi bày nặng chất duy cảm buổi đầu, chị bước nhanh tới những lời thơ tiết chế nặng chất suy tư. Thế là, chất nhạc tràn ra khiến cho thơ muốn cất thành lời hát giờ đã dần dần chìm vào để biến thơ thành lời nguyện. Dòng tâm tình nghiêng về cảm xúc trực quan, giàu tính mô tả vốn là chủ lưu trong Nỗi nhớ con đường, Đến với dòng sông cứ chuyển dần thành dòng tâm tư, mà trong đó lối phân tích của một lý trí sắc sảo dần chiếm ưu thế. Hình tượng sinh động tươi rói chất sống thưở Mưa dạo tháng Mười càng về sau càng được gia tăng những hàm ý tượng trưng để trở thành biểu tượng. Cát, Bùn, Nắng, Gió, Biển, Cơn mưa, Mùa thu, Dòng sông, Mảnh vườn…thậm chí, những địa danh quen thuộc như Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Bình, Huế, sông Trà…tất tật đều trở thành những biểu tượng trữ tình của riêng cái Tôi kia. Khuynh hướng tượng trưng này đã khiến cho thơ chị có độ nén hơn, nhiều dư vang hơn. Với sự xâm thực ngày một lấn lướt của ngôn ngữ phân tích, diện mạo thơ Ý Nhi đã biến đổi khá nhiều. Trước, ta thường thấy những tâm trạng hóa thân vào đối tượng khách thể- Đi suốt triền núi xa/Hái đôi nhành Mảnh bát/ Mưa đọng đầy nhị hoa/ Cho ong ngờ là mật. Sau này, khách thể bị tan ra thành từng phần tử của tâm trạng. Đây là biển đã tan mình vào từng phần của lời độc thoại nội tâm: Có thể nào nói đến nỗi đắng cay/ Được dấu kín sau màu xanh trầm mặc/ Và tất cả nỗi niềm hạnh phúc/ Nơi những triền sóng mặn dẫn về xa/ Có điều gì đã vỡ nát trong ta/ Đang kết lại dưới mặt trời như muối trắng/ Bài ca đã lãng quên bỗng thốt lời thương mến/ Như thể là gió biển hát qua môi...Nhưng nhờ thao tác tượng trưng hóa mà người ta vẫn hình dung được diện mạo toàn thể của đối tượng (biển) trong đường nét có tính đứt đoạn, mờ nhòe. Qua Ngày thường, Mưa tuyết, Gương mặt, đến tập Vườn, sẽ chỉ còn thấy cái bóng của hình tượng soi vào dòng tâm trạng hơn là bản thân những hình tượng toàn vẹn. Ấy là khi sự cân bằng- mà chị vốn rất coi trọng- đã bị ít nhiều chao đảo. Nét trực quan cảm tính và lời phân tích lý tính có lẽ đã đạt tới sự hài hòa của nó trong tập Người đàn bà ngồi đan: Giữa chiều lạnh/ một người đàn bà ngồi đan/ bên cửa sổ/ vẻ vừa nhẫn nại/ vừa vội vã/ nhẫn nại/như thể đó là việc phải làm suốt đời/ vội vã/ như thể đó là lần sau chót…Trong mũi đan kia/ ẩn giấu niềm hân hoan/ hay nỗi âu lo/ trong đôi mắt kia/ là chán chường hay hy vọng…Giữa chiều lạnh/một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ/ dưới chân chị/ cuộn len/ như quả cầu xanh/ đang lăn/ những vòng chậm rãi. Nếu coi tổ chức lời thơ của thi sĩ cũng từa tựa việc đan len, thì Ý Nhi đã gắng đan xen cả hai làn ngôn ngữ ấy trong mỗi thi phẩm của mình.
          Cả lời thơ kia, cả thế giới hình tượng kia đã hòa điệu với nhau trong một chất giọng riêng đặc thù của Ý Nhi: điềm tĩnh mà chua xót. Ý khổ mà lời cam là thế. Nhẹ nhàng, tinh trong mà buốt giá cũng là thế. Người ta chính thức nhận ra giọng này kể từ Người đàn bà ngồi đan. Dù chị viết về mẹ với nỗi ân hận chân thành, viết về biển với khao khát khôn nguôi, viết về cát với dày vò day trở, viết về những nhân cách mà chị ngưỡng mộ, xa xót, tri âm hay viết về tình yêu với những nguyện cầu day dứt…Ở đâu cũng là cái tiếng lòng đã nên nhẫn nại/ sau nghìn muôn đổi thay/ như chùm rau me đất/ giữa độ đường không cây. Bình thản đến đắng lòng. Nó chính là chất giọng cố hữu của giọt lệ đã ráo khô.
          Trong một lần nào đó, viết về Ý Nhi, tôi đã hình dung thơ chị là một thứ trái cây lúc chín nhất lại mang vị chua xót. Nó là thứ trái đơm từ một loài cây lạ. Ấy là…cây trước thềm xao xác giữa ngày yên. Lạ, hẳn vì cây vốn nảy mầm từ một hạt lệ mưa: “Em thấy cơn mưa rắc hạt xuống khoảng sân/ Nếu hạt nảy mầm/ sẽ có lá trong suốt/ nếu mầm thành cây/ sẽ có nhánh cành trong suốt/ nếu cây đơm hoa/ sẽ có cánh mềm trong suốt/ nếu hoa tụ quả/ ta sẽ có/ những hạt trong ngần nước mắt”.
          Đến nay nó vẫn là thứ cây trái ấy.
          Bởi nguồn nước còn xa, cơn khát còn khắc khoải.
          Cứ xa. Phải. Cứ xa, để thơ mãi là lời nguyện cho nỗi yên hàn.

                                                       Văn chỉ, mùa hè Tân Tỵ (2001)


*Những chữ in nghiêng là thơ Ý Nhi.

SỰ CÔ ĐƠN CỦA MÙA HÈ



Hoàng xuân sơn

                            

                                   Summer's memory sunflower by Nancy Medina

chợt cười rũ ra.  bông hoa
câu chuyện joke giữa trưa hè
nhanh quá.  bận quần không đáy
sấm nộ vô ngày nực nội

lang thang cùng đôi dép cùn
lang thang.  chữ nghĩa lang thang
khe suối in tuồng khô nước
những giọt mồ hôi lộn ngược

giật bắn.  còi hụ tu oa
ra đường đụng phải người ta
về nhà.  hột giống im thóc
một mình.  một mình muốn khóc

hoàng xuân sơn
4 july 14