Saturday, December 21, 2013

TÙY BÚT BAN MAI

Quê nhà tôi


Thời Đại học, năm thứ hai tôi đi sưu tầm Văn học dân gian, thành Đồ Bàn là nơi chúng tôi đến.

Nhà cụ Thãnh ở Nhơn Hậu, nhóm chúng tôi trọ nằm lọt thỏm giữa Tháp Cánh Tiên và Lăng Võ Tánh, cũng là Tử Cấm Thành thời Tây Sơn Nguyễn Nhạc.
Ký ức của tôi thành Đồ Bàn là những đêm trăng sáng, chúng tôi quây quần bên hồ sen trước chùa Thập Tháp để nghe các ông cụ bà cụ kể chuyện ngày xưa. Chúng tôi tách từng nhóm hỏi thăm những cụ già và ghi chép cẩn thận. Hàng đêm xong công việc đồng áng các nông dân nghỉ ngơi là thời gian dành cho chúng tôi.

Ngày ấy, tôi tuổi 20.
Những buổi chiều, khi ánh nắng còn hắt những tia nắng vàng cuối cùng trên cánh đồng, tôi thích lang thang trong thành Hoàng Đế, Tử Cấm Thành. Ngày đó người ta chưa khai quật các Hồ bán Nguyệt nằm xung quanh Lăng Võ Tánh. Tôi thích chạm vào những lớp gạch hoang phế, tường thành đỗ nát … tôi như nghe tiếng cười nói của các cung nữ đâu đó, thấy dáng các phi tần thướt tha lướt qua bên trong tường thành.

Ngôi mộ của Võ Tánh thời tôi đến bỏ hoang vì người ta cho là tướng Nguyễn Ánh, có nghĩa là tướng nhà Ngụy nên không chăm sóc. Nhìn vào ngôi Tháp vị tướng trung kiên, tự thiêu để giữ thành Quy Nhơn, một cảm giác đau xót không nói nên lời khi nhìn Lăng hoang phế. Với tôi, thời nào cũng vậy, tướng nào cũng vậy nếu họ là người có lòng trung với nước, tử tiết vì quốc gia thì mình nên kính trọng. Tôi và nhóm chúng tôi thường đến thắp hương những buổi chiều tà.
Những đêm khuya trằn trọc nơi ở lạ, tôi thường thức giấc, mơ hồ như nghe trong hơi gió tiếng khóc rên của dân tộc Chămpa trên tháp Cánh Tiên, xa xa tiếng ngựa phi trong thành Đồ Bàn, tiếng chạy thình thịch của nghĩa quân Tây Sơn trong thành Hoàng Đế và cả tiếng rống đau đớn của đoàn Voi chiến khi nhà Nguyễn Ánh bắt nữ tướng Bùi Thị Xuân hành hình.
Nơi quê nhà tôi, lớp lớp phế tích là lớp lớp triều đại chồng chất lên nhau. Thành Đồ Bàn của Chế Bồng Nga, Tử Cấm Thành của Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Lăng Võ Tánh của nhà Nguyễn Ánh.
Trên dải đất này, biết bao thể chế đến rồi đi không một dấu tích. Triều đại này bôi xóa triều đại kia. Cuộc đời là hư ảo, huống chi vài thế kỷ vương triều.

BM
14/12/2013




 

 
 
 



 

GỞI THEO VIỆT DŨNG


Đã bỏ ngang đời
 

 

“Tôi còn trẻ, tôi chưa muốn bỏ ngang đời…” 

Việt Dũng đã hát, những tiếng thiết tha, với cả hồn thiết tha, cho quê hương, cho tuổi trẻ.  Không chỉ tiếng hát mà còn là những dòng nhạc, những lời nói, những hoạt động đấu tranh, sự có mặt không mệt mỏi ở khắp mọi nơi trên mọi lãnh vực truyền thông cũng như rất nhiều những cuộc đấu tranh _ Việt Dũng đã làm tất cả những điều ấy cho một quê hương mến yêu, cho những người Việt mến yêu, chỉ với trái tim và đôi nạng.  Trái tim ấy đã đột ngột ngưng đập.  Đôi nạng ấy nay đành xếp lại không còn là một chỗ dựa vững chãi cho rất nhiều con tim Việt ở đất này.  Gọi Việt Dũng là nhà truyền thông, nhà đấu tranh, người làm văn hóa, ca sĩ, hay nhạc sĩ, tất cả đều không nói hết được cái thiết tha anh mang đến, và có lẽ lời khen tặng nào cũng không đủ vẽ được trái tim của con người nồng nhiệt ấy.  Khi âm thanh đã bặt, khi hình ảnh đã mất, khoảng trống “Việt Dũng” chợt mênh mông.  Hôm nay, một ngày nắng vàng thật đẹp, thì quả mặt trời không còn là vàng rơi châu vãi, và những ngày Việt Dũng đã sống _ sống ngày nào biết ngày ấy thôi đã là những ngày vô cùng xứng đáng.  

Lúc 10: 35 sáng ngày hôm nay, 20 tháng 12, 2013, Việt Dũng đã bỏ ngang đời.  Xin gửi theo anh ánh nắng vàng ấm áp, mong ánh thái dương ấp ủ trái tim anh.

Lưu Na
12/20/2013

Friday, December 20, 2013

THƠ NGUYỄN XUÂN THIỆP


mùa đông của tôi


 
                                                                 Photo: Bảo Huân 
đêm mùa đông
ngồi đốt một ngón nến
nhớ
bình trà. mùi hương hoa hồng
và những chiếc lá. trên bàn
mơ
giấc mơ
của tranh tĩnh vật
ngoài trời
tuyết chưa tan. những mái nhà. im lặng
con chim. đậu trên cây. sáng nay
đã bay chưa

dường như
không còn ai
không còn ai
về lại
con đường của mùa thu trước. dưới lá khô

NXT

TẠP BÚT ĐỖ HỒNG NGỌC


Thư gởi bạn xa xôi 
                                                        

 
   
    Xin lỗi bạn. Lâu quá chẳng “tường trình” gì như đã hứa khiến bạn phải nhắc.  Nhiều chuyện quá, chẳng biết nên bắt đầu từ đâu nữa! Noel sắp tới rồi và nghe bạn than tuyết  dày đặc quanh nhà. Ở Việt Nam, năm nay cũng lạ. Tuyết tràn ở Sapa, Lào Cai… Người giàu từ Hà nội, các tỉnh ùn ùn đi ngắm tuyết. Người nghèo chết điếng vì hoa màu hư hỏng, gia súc run lập cập. Ngay tại Saigon cũng nghe lạnh. Nhưng lạnh thì lạnh, các cô gái Saigon vẫn rất phong phanh. Phố phường thì giăng cây cảnh trắng xóa, giả làm tuyết. Đám cưới thì ào ạt để bớt lạnh.   

   * Sáng chủ nhật 15.12. 2013 được một cú phone từ Thủ Đức của nhà thơ Trần Thiện Hiệp, niên trưởng nổi tiếng của bọn mình ở trường Phan Bội Châu Phan Thiết ngày xưa. Anh TTH nay đã 79, giọng vẫn sang sảng, đọc thơ tuyệt vời, làm thơ không biết… mệt mỏi! Vợ anh, chị Lệ Hiền thì hát hay, ngâm thơ giỏi và nấu ăn càng giỏi, nên anh thường tụ họp bạn bè tới nhà riêng hát hò ngâm vịnh. Anh phone mời mình đi “nhậu” cuối năm với anh em ở một cái quán nào đó ở Saigon vào sáng thứ hai, do nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên… “đầu mối”.  Mình “OK” ngay dù không biết nhậu, cũng chẳng ưa quán xá. Anh kêu nhớ gọi Đoàn Thuận và Thiếu Khanh nữa nha. Thế mà sáng sớm thứ hai, Nguyễn Phú Yên phone cho hay Trần Thiện Hiệp đưa đi cấp cứu ở BV 115 hồi 3 giờ khuya! Chị Lệ Hiền cho biết đêm anh té mấy lần trong nhà vệ sinh, tay chân cứng ngắc, nghĩ anh bị stroke. May quá, không phải. Nhưng vẫn phải nằm bệnh viện theo dõi. Khi mình vào thăm, anh đã tỉnh táo, vui vẻ, tuy có hốc hác và gầy ốm. Mình gởi gấm anh nhờ mấy bạn đồng nghiệp đàn em, học trò chăm nom giùm nhà thơ...  


 

   * Đinh Cường về lần này khá lâu vì có đợt triển lãm tranh ở Huế và Đà Lạt cùng các họa sĩ Phan Ngọc Minh, Thân Trọng Minh. Mình có dịp cùng ngồi café Bean – trước nhà thờ Đức Bà- với Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Quốc Thái, Sâm Thương… rôm rả mấy hôm. Nhớ nhất bữa cơm đạm bạc ở chuồng cu “tòa soạn” Quán Văn nhà Nguyên Minh có khá đông anh em: Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, Lữ Kiều, Chu Trầm Nguyên Minh, Trương Văn Dân-Elena, Đỗ Hồng Ngọc... Hôm đó anh ĐC “làm” luôn mấy chén cơm vun ăn với mắm chưng một cách ngon lành. Có lẽ suốt mấy tuần tiệc lớn tiệc nhỏ ở Huế, Đà Lạt chán quá rồi! Nguyên Minh thì “biểu diễn” máy in mới, in tranh Đinh Cường tại chỗ làm Đinh Cường ký tặng mỏi tay. Trương Văn Dân nói tranh giả mà chữ ký thiệt nên cũng có giá lắm!

   Sau đó ĐC và mình về, trên đường ghé ăn… đậu hũ ở Ru. ĐC chê cái muỗng không đúng điệu. Phải là cái muỗng nhôm, dẹt mới đúng. Đậu hũ phải múc ăn bằng cái “chan xỉ” (?) mới ngon. Rưới nước đường tán nâu sậm lên mấy lát gừng mỏng, rồi nước cốt dừa béo chan vào thứ đậu hũ mềm trắng toát nóng hổi tạo nên một bức tranh… đầy màu sắc sinh động!  Nhà mình có cả lô “chan xỉ” nên gởi tặng ĐC vài cái kỷ niệm. Còn anh gởi mình cây viết để ký tặng sách cùng cái áo pull xanh…  Mình đã dùng cây viết này “ký họa” ngay cho ĐC bức chân dung bên cạnh nhà thờ Đức Bà nơi anh và bạn bè thường ngồi nhâm nhi café nghe gió sông Saigon và ngửi mùi khói xe nhộn nhịp cuối năm. Về đến Mỹ, anh gởi bài thơ thật dễ thương:

(…) sáng chủ nhật có Đỗ Hồng Ngọc ghé Coffee Bean
không uống gì. chỉ ăn khúc bánh mì thịt ngon
Thái mua cho tôi vì biết tôi thích
rồi đi cho kịp buổi nói chuyện ở Chùa


đừng quên chuyện cây trâm nghe Ngọc
cây trâm đã bay qua mấy tầng mây
về nằm im trong mùa băng giá nhất
tháng cuối năm những giọt tuyết đọng
nặng trĩu làm gãy mấy cành cây

…………..
(Đinh Cường) 

 

   * Hôm qua mình lại vừa ghé Bệnh viện An Bình thăm nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà. Bạn nhớ anh Kiên Giang hoa trắng thôi cài trên áo tím chứ? Năm nay anh đã 86, bị té gãy xương đùi, xương chậu. Các bác sĩ ở Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình đã tích cực chữa trị cho anh và nay đã khá nhiều, hy vọng vài tháng nữa có thể đi lại được.

Đến thăm, anh vui lắm. Nói chuyện thôi là nói chuyện! Mình có “duyên” với anh từ… nửa thế kỷ trước. Lúc đó mình vừa đăng bài thơ “Em còn sống mãi” viết về Quách Thị Trang (năm 1963) trên báo Tình Thương của Sinh viên y khoa Saigon thì anh xin đăng lại  trên báo Điện Tín, rồi sau đó anh còn đăng trên mấy tờ khác nữa. Nói chuyện với anh thật cảm động. Anh ấp ủ in tập thơ có tựa là: “Lối mòn xe trâu” về người Mẹ mình. Anh nhắc đến cây bần, lục bình, mội nước… ở quê Long Xuyên. Anh nói lục bình nó lạ lắm, vừa trôi vừa nở hoa, như mình vừa trôi trong đời vừa sáng tác vậy… Chỉ cần nhắc một chút về “hoa trắng thôi cài trên áo tím” thì anh tuôn kể mênh mang. Hai bạn học cùng trường. Nàng giỏi toán. Anh giỏi văn. Anh giúp nàng làm văn. Nàng cho anh “cọp dê” toán. Anh nói hồi đó anh thường làm “rédaction” mướn cho mấy bạn dân Bạc Liêu, mỗi bài hai cắc! Hai cắc lớn lắm. Ăn nửa tháng mới hết! Bạc Liêu con nhà giàu… làm biếng. Còn với nàng, anh… miễn phí! Anh còn viết bích-báo (báo tường) giùm nàng, cho nàng ký tên! Chuyện tình đẹp, chân thật, vì chưa có nắm tay, chưa có hun hít lần nào! Anh nói. Nàng công giáo kỹ lưỡng lắm. Anh thì nghèo không dám bước tới. Khi anh dẫn đoàn ca vũ kịch Thúy Nga về Cần Thơ, mời vợ chồng nàng hai vé VIP, đêm đó không thấy đi chắc chồng ghen. Ông chồng còn trùng tên với anh nữa chứ! Anh thì “ghen nguội”, sửa đoạn cuối bài thơ cho “bả chết”: Lạy Chúa con là người ngoại đạo…   

Thư đã dài, hẹn hồi sau… phân giải.

Thân mến,
ĐHN

 

RA MẮT SÁCH ‘CŨNG CẦN CÓ NHAU’


Hoàng Xuân Sơn sẽ tổ chức giới thiệu tác phẩm
‘Cũng Cần Có Nhau’

lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật ngày 19 tháng giêng năm 2014
tại Viện Việt Học
15355 Brookhurst - Phòng 222
Wesminster, CA 92683
(gần góc Brookhurst và Mc Fadden)





 

Wednesday, December 18, 2013

TÙY BÚT BAN MAI

Huế, ngày mưa

 
                                                                   Huế mưa



                                         Ban Mai & Siphani ở phòng tranh Đinh Cường
                                                       trên Gác Trịnh tháng 11. 2013

   Huế đón tôi dưới cơn mưa phùn, bầu trời xám đục. Chị Hiền xuýt xoa vì gió lạnh tạt vào mặt, tôi vòng tay ôm, dụi mặt vào lưng chị tìm chút hơi ấm, xe len lỏi dưới những con đường rợp bóng cây. Huế khác nhiều so với ngày xưa tôi đến.

    Con đường yên tĩnh nhà chị, với những căn biệt thự xưa cũ, nay trở thành hotel gia đình đèn neon xanh đỏ nhấp nháy, những bảng hiệu choáng hết lề đường. Bên trái, bên phải, trước mặt đều là hotel, chỉ còn ngôi nhà chị lọt thỏm sau cánh cổng. Tôi nói lạy trời, Huế kỳ này đừng làm em thất vọng, như 10 năm trước tìm về thôn Vỹ.

    Bé Bon mở rộng cánh cổng đón tôi, cô bé chút xíu ngày xưa giờ đây là một nữ sinh với mái tóc quăn tự nhiên, đôi mắt đậm nét Trung Đông làm tôi thích thú. Tôi đùa, chị Hiền mua ngay con chó Berger giữ nhà đi chị. Chị bật cười khanh khách, tiếng cười phóng khoáng như tâm hồn của chị. 

    Buổi tối, nhà văn Lữ Quỳnh đón tôi và chị Hiền đến nhà hàng, vợ chồng anh Nguyên Minh, TC Quán Văn, anh chị Trương văn Dân – Elena, em gái và người bạn gái anh Nguyên Minh từ Mỹ về đã đến trước. Nhóm bạn nghệ sĩ ở Huế của anh Đinh Cường đến cùng lúc với anh Bửu Ý và chị Tường Vy (vợ cố họa sĩ Bửu Chỉ). Anh Đinh Cường chiêu đãi các loại bánh Huế. Trời lạnh, ngồi trong căn phòng ấm không gì thú bằng nhâm nhi ly trà nóng, nghe các anh chị kể giai thoại văn chương và thưởng thức những chiếc bánh nhỏ bé, tinh tế của xứ này: nào là bánh nậm, bánh bột lọc, bánh rán, bánh khoái, chả tôm, chả giò và các loại chè cung đình nữa. Ôi trời tôi thích món chả tôm ở nhà hàng này quá, ngon chưa từng thấy. Anh Lữ Quỳnh tặng tập sách mới xuất bản: “Những giấc mơ tôi”, tập nhạc “Thành phố Mùa Đông”;  anh Đinh Cường gửi tặng cuốn “Cũng cần có nhau” của Hoàng Xuân Sơn. Tôi xúc động khi nhận được cuốn sách viết về nhà văn Nguyễn Mộng Giác, kỷ niệm 1 năm ngày mất của ông “Nguyễn Mộng Giác và bằng hữu”. Cuốn sách quý vì có hai trang chữ ký tên tuổi của các nhà văn Miền Nam trước 1975 mà tôi ngưỡng mộ, họ ký tặng anh Lữ Quỳnh làm kỷ niệm, anh mang về tặng lại cho tôi.

    Nhà sưu tầm tranh xứ Huế, mời đến quán cà phê của ông trên đường Nguyễn Huệ. Với khuôn viên rộng, xây kiểu Tây, ông để một mảng sân vườn làm quán. Bài trí trang nhã. Cô vợ trẻ đài các mời chúng tôi vào phòng khách. Ông tiếp đón nồng hậu, chỉ cho chúng tôi xem các bức tranh ông mua vào những năm 60. Nghe anh Bửu Ý nói, ông là một trong những người đầu tiên dấy lên phong trào mua tranh ở Huế. Ông cởi mở kể vanh vách lịch sử các bức tranh mà ông mua, thời nào, bao nhiêu tiền và lý do. Tôi thích ngắm chị Tường Vy nói chuyện, chị duyên dáng, nền nếp đúng chất e ấp của các cô gái Huế xưa.

    Buổi sáng, chị Hiền gọi đi tập thể dục với chị bên bờ sông Hương, nhìn đồng hồ 5h15 nhưng trời vẫn còn mờ mịt tối, tôi làm biếng, lạnh quá chị ơi. Chút xíu nữa bé Bon đi học, đi ăn sáng rồi dạo bờ sông nghen chị. Trùm chăn, tôi ngủ nướng. 

    6h30  bầu trời vẫn xám đục, mưa bay lất phất, sông Hương mờ sương, những con đò trôi lững lờ trên khói sóng. Mặt nước yên tĩnh như lòng tôi yên tĩnh.
   Tự nhiên, chị Hiền nhắc, em còn nhớ QY không? năm thứ tư QY vượt biên bây giờ không biết trôi dạt nơi nào.  QY tay guitar nổi tiếng của Đại học tổng hợp Huế? Em nhớ mà.

    Tôi đến Huế lần đầu tiên khi là sinh viên năm thứ ba. Ngày ấy tôi trong đội văn nghệ trường tham dự Festival các trường Đại học. Ban tổ chức, cho các Trường Đại học tập trung tại khách sạn trên đường Lê Lợi để dễ sinh hoạt. Hôm đầu tiên ráp nhạc, QY phong trần, lãng tử, tự nhận mình bị sét đánh khi gặp tôi. QY theo tôi mải miết suốt thời gian tôi ở Huế. Đêm dạ vũ, Ban tổ chức tổng kết ở hội trường, QY xin phép thầy Tùng cho phép đưa tôi về trước. Hai đứa đi bộ, lang thang khắp các con đường ngập ánh trăng. Huế ngày ấy thơ mộng, không gian thật yên tĩnh, thỉnh thoảng vài chiếc xe đạp lướt qua. Trên con đường rợp bóng cây, chỉ có tiếng bước chân của chúng tôi và tiếng xào xạc của gió. Ngày ấy, tôi biết QY có tình cảm với mình, nhưng tôi lại xem QY như một người anh. Ngày xưa, tâm hồn chúng tôi thật trong sáng. Tôi biết QY thật lòng, khi sáng hôm sau đoàn tôi về Quy Nhơn, anh đã đứng đợi ngoài cổng từ sớm. Và những ngày tháng sau thư từ Huế tới tấp bay về Trường tôi. Rồi một hôm QY viết sẽ ra Quy Nhơn thăm. Tôi sợ, tôi nói tôi đang đi học, và anh đừng ra. Ngày ấy, tôi cũng không ngờ cuối năm thứ ba tôi lại đính hôn.  Và cuộc đời tôi rẻ sang một con đường khác. Năm thứ tư, tôi nghe tin QY vượt biển. 

    Tô bún bò Huế thơm lừng bên bờ sông Hương, với những lát ớt cay nồng làm mắt tôi ướt, tôi vừa ăn vừa xuýt xoa, ngoài hiên mưa đang rơi,  những giọt mưa tí tách bung vỡ trên nền gạch hắt vào người tôi lạnh buốt. Bà chủ quán nói, mưa mây đó mấy cô nì, răng mà mưa suốt mấy tuần ni.  

    Đường Trịnh Công Sơn dọc bờ sông Hương vắng lặng, con đường nhỏ, ngắn với những hàng quán im lìm. Tôi đến nhà sách Phương Nam tìm xem có sách gì mới, thăm phòng tranh Lê Bá Đảng để biết Không gian Lê Bá Đảng là gì? khi đọc bài phê bình của chị Thụy Khuê, để cảm nhận: “ ...Nghệ thuật của ông như muốn “thoát hài”, đập vỡ cổ kính để tạo ra không gian phi thời gian, gồm thâu quá khứ, vị lai, địa tầng, địa chất, cõi này, cõi khác trong khoảnh khắc một cái nhìn. Độc đáo, cô đơn. … Đó là sự gặp gỡ giữa nhiều ngành nghệ thuật: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, Lê Bá Đảng không chỉ vẽ mà ông tạo hình. Đó là mối tương quan giữa người, vật và vũ trụ” (1) 

    Huế, đầu thập kỷ 60 thời kỳ nở rộ của chủ nghĩa hiện sinh Phương tây với Jean Paul Sartre, Albert Camus gây ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của một tầng lớp thanh niên. Trịnh Công Sơn hợp cùng với Đinh Cường, Trịnh Cung, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lữ Quỳnh, Bửu Ý, Bửu Chỉ…lập thành một nhóm văn nghệ trẻ rất có thế giá. Nói như Hoàng Xuân Sơn: Họ ăn bận theo lối Tây, đội mũ nồi, ngậm pipe, khăn quàng cổ hoa hoè, thong thả dạo chơi dưới trời xám lạnh. Đinh Cường, Trịnh Cung đem những nét mới mẻ Tây Phương vào hội họa, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường là những giáo sư dạy Triết có tiếng ở học đường trung học, Bửu Ý uyên bác, giỏi ngoại ngữ giáo sư dạy Pháp văn thuộc type ăn bận đàng hoàng, cổ điển. Huế của thời Diễm xưa, Lời buồn thánh…nhạc Trịnh Công Sơn ngôn ngữ trừu tượng, siêu hình… những ca từ như…dài tay em mấy thuở mắt xanh xao… hát nghêu ngao mà không hiểu tác giả muốn nói gì. Chỉ hát vậy thôi (2). Nhóm bạn khởi từ Huế, sau đó thành danh khắp Miền Nam. Qua bao bể dâu, tứ tán khắp bốn phương trời, người còn người mất, nay tất cả đều ở lứa tuổi xế chiều, nên họ rất trân quý thời gian. Lần này anh Đinh Cường về Huế bày tranh trên căn gác Trịnh cũng là nhớ đến bạn mình và mong gặp lại bạn xưa. 

    Buổi chiều trời nắng đẹp. Tôi đến dự khai mạc phòng tranh Đinh Cường - Phan Ngọc Minh trên căn gác nhỏ đường Nguyễn Trường Tộ. Không gian nhỏ, ấm áp với những bạn bè cũ của anh. Có lẽ đây là sự kiện văn hóa của thành phố. Gác Trịnh đông kín khách viếng thăm và phóng viên báo đài đưa tin…khó khăn lắm tôi và chị Tường Vy, Siphani, Bửu Ý, Lữ Quỳnh mới chụp chung được một tấm ảnh kỷ niệm. Từ lan can căn gác Trịnh, tôi ngắm nhìn các cô gái thướt tha đi lễ nhà thờ Phú Cam. Có lẽ ngày xưa, Trịnh Công Sơn và các bạn ông cũng đã từng xao xuyến bước chân giai nhân đi dưới hàng cây long não lá li ti này. 

     Buổi tối, anh Bửu Ý mời đến nhà dùng cơm muối. Trong một email trước đây, tôi tưởng anh Đinh Cường đùa khi hứa kỳ này đến Huế anh sẽ đãi món cơm vắt muối sả. Đọc lại tài liệu ẩm thực xứ Huế, tôi bất ngờ vì món cơm muối lại là món ăn cầu kỳ, tinh tế, chế biến công phu của các gia đình hoàng tộc Huế xưa.
    Đêm lạnh, ngồi quanh mâm cơm thân tình, tôi nghe các anh kể chuyện bạn bè ngày cũ. Lần gặp ở Đà Lạt anh Bửu Ý thâm trầm, kiệm lời. Lần này anh cởi mở, nói cười dí dỏm, có lẽ lâu rồi từ ngày cô Lợi mất, hôm nay bạn bè cũ về đông nên anh vui đến vậy.

    Chị Siphani từ Pháp về, chị là bạn của Trịnh Công Sơn và các anh thời trai trẻ. Mới nhìn trông chị bình dị, nhưng anh Bửu Ý nói, chị giả dạng đó em. Chị Siphani lấy người chồng tên Gérard trong dòng Hầu tước, sở hữu một tòa lâu đài ở Pháp, chị than đây là di sản quốc gia nên gia đình chị muốn bán cũng không được, bảo quản trùng tu thì lại quá tốn kém. Anh Bửu Ý đùa đặt cho chị biệt danh là “người mở cửa”, vì anh nói nếu tính thời gian mở tất cả các cánh cửa sổ của tòa lâu đài, cũng là lúc phải đóng các cánh cửa. Nội một việc đóng và mở cửa sổ thôi là đúng một ngày. Anh nói, anh đã đến ngủ ở tòa lâu đài đó một đêm, và hôm sau các anh đi ngay không ngủ lại nữa. Tòa lâu đài của chị tọa lạc ở một nơi hoang vắng, đêm nghe gió hú, và tiếng đập cánh của bầy dơi, tiếng cào cửa của những con sóc, giống tiếng chân người. Chị Siphani cười, kể tiếp. Có lần mấy người bạn Miên đến thăm chơi, chị bố trí mỗi người một phòng ngủ. Sáng dậy chị đến gõ cửa thấy tất cả tập trung một phòng, người nào cũng xanh xao, thì ra nửa đêm họ sợ quá chui vào một phòng ngủ chung. Tôi nghe mà cười ngất, chẳng gì đến họ, em cũng sợ ma kinh hoàng. Các con chị đều ở Paris, không đứa nào chịu về tòa lâu đài sống, tụi nó than buồn. Anh Đinh Cường lúc nào cũng hiền lành, im lặng ngồi nghe anh Bửu Ý và chị Siphani kể chuyện.

   Món muối sả nhà anh Bứu Ý ngon tuyệt, đến nỗi chị Siphani xin đem về Pháp.
   Nói là cơm vắt với muối, nhưng thực chất không phải vậy. Ngoài món chủ đạo muối sả làm bằng thịt nạc băm với sả, với ruốc, với mè, xáo cho đến tơi khô là một kỳ công, còn có món thịt tôm kho riêu, canh thơm cá mó, chả giò, chả tôm. Cơm trắng vắt tròn, xắt thành miếng mỏng, từng lát cơm vắt dẻo thơm chấm với muối sả ăn thật đậm đà, húp một thìa canh thơm cá mó vị ngọt thanh ở đầu lưỡi, đó là bữa cơm ngon ý nhị nhất mà tôi từng ăn. Chị Tường Vy đem đến món bánh ít Huế và món khoai lang luộc anh Đinh Cường nói thèm quá muốn ăn.

    Chị Vy khoe tôi xem cuốn “Bửu Chỉ đường bay nghệ thuật và ký ức trần gian” gia đình và bạn bè mới xuất bản, để tưởng nhớ 10 năm ngày mất chồng chị. Cuốn sách tập hợp các bài viết, tranh ảnh Bửu Chỉ, tự tay chị biên tập, nó là tình yêu của chị dành cho anh. Những ngày làm luận văn, sưu tầm tư liệu tôi đã từng xem hai bức tranh sơn dầu Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn “Tuổi đá buồn” và “Trăng thiên cổ”, nên tôi rất ấn tượng người họa sĩ này. Anh Bửu Ý tặng tôi 3 cuốn sách anh mới vừa in: “Tâm tình với Trịnh Công Sơn”; “Ngày tháng thênh thang”, “Nước chảy qua cầu” tập hợp tất cả những bài viết tản mạn của anh từ trước đến nay. Sách bìa cứng, giấy trắng in đẹp, trang nhã. Cầm trên tay những cuốn sách nặng  tình nghĩa những bậc đàn anh mà tôi kính trọng,  tôi biết mình thật may mắn, bao giờ họ cũng cưng chìu tôi, xem tôi như cô em gái nhỏ.
    Huế, những ngày mưa lạnh buồn bã với tôi đã trở nên ấm áp bởi tình cảm nồng ấm của bạn bè, nó giúp tôi hiểu hơn ý nghĩa tình bạn trong cuộc đời phù du này.

    Xin cho tôi tạ ơn đời, tạ ơn những người bạn mà tôi có hạnh ngộ gặp gỡ trên đường đời. Rồi một ngày nào đó, tất cả rồi cũng sẽ chìm trôi, nhưng tôi tin tình bạn mãi trường tồn, nó là báu vật trần gian mà cuộc đời mang tặng chúng ta. Bạn ơi, hãy yêu thương, tận hưởng và sống như là giây phút cuối. 

BAN MAI
14/12/2013
(Hình & bài Ban Mai gởi)

-----------------
(1)   Họa trường Lê Bá Đảng – Sóng từ trường III – Thụy Khuê, NXB Văn Mới (tr 181)
(2)   Cũng cần Có Nhau – Hoàng Xuân Sơn, NXB Nhân Ảnh (tr 16)

THƠ LỮ QUỲNH

Có một giấc mơ như thế

 

                                      
                                                    Winter landscape by Paul Guauguin

tuyết bắt đầu rơi bên miền đông
miền tây tuyết chỉ rơi trong những giấc mơ
giấc mơ thì không có mùa đông mùa hạ
tuyết đuổi tôi trong nhiều đêm dài

dù  Trần Hoài Thư ở New Jersey
có nhìn tuyết mà buồn
cũng không thể buồn bằng nỗi buồn tôi
khi tuyết tan trong bóng tối
thức giấc với bàn tay lạnh đặt lên trái tim mình
nghe nhịp đập thời gian

dù đêm vẫn có giấc mơ hồng
nhưng tuyết biến thành cơn bão trắng

thổi hồng tan theo hư không 

LỮ QUỲNH
San Jose, Oct.30-2011
(Nguồn: Blog Trần Hoài Thư)