Saturday, September 26, 2026

‘TÔI CÙNG GIÓ MÙA’ CỦA NGUYỄN XUÂN THIỆP QUA PHÊ BÌNH ĐA CHIỀU

Ngu Yên

Hình bìa. Tôi Cùng Gió Mùa
……
gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua
Thổi những chiếc lá khô lăn khắp hè phố, khắp con đường, trước sân nhà. Hình ảnh này quen thuộc gợi đầy cảm tính. Trong trường ca Tôi Cùng Gió Mùa của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tôi thường trở lại đọc những đoạn thơ gió mùa gió mùa thổi qua với cảm giác xa vắng, man mác gần giống nỗi buồn, không phải buồn vô cớ nhưng lại không có cớ nào rõ ràng. Rồi vào đoạn cuối:
trên cây vô ưu
và cành nhân sinh
có con chim nào hót
có không một chỗ dừng chân
cho loài người. suốt cuộc hành trình. về nơi tĩnh lặng
Có chỗ nào dừng chân trên đường về tĩnh lặng? Câu hỏi nặng nề chìm sâu vào bên trong. Có lẽ, không cần câu trả lời chung vì mỗi ta đều có câu trả lời riêng và hầu hết không kịp trả lời.
Những cảm xúc đầy cảm tính này không dùng được nhiều vào phê bình, nơi đòi hỏi lý tính, không phải như ánh sáng hoa học, mà như ánh sáng bật đèn trong bóng tối để nhìn thấy rõ hơn những gì đã hiện diện ở đó.
 
Tiểu Sử Tác Giả: Một Đời Người Trùng Khít Với Một Cơn Gió Mùa
Nguyễn Xuân Thiệp bắt đầu làm thơ, đăng báo, từ trước năm 1954, nghĩa là ông cầm bút khi còn rất trẻ, giữa lúc đất nước đã bắt đầu chia cắt. Ông học ở Huế và Sài Gòn, sau đó vừa dạy học vừa nhập ngũ năm 1963, phục vụ trong ngành phát thanh Quân Đội tại Pleiku, Đà Lạt, Sài Gòn. Đây là chi tiết quan trọng cho bài phân tích: ông không phải một nhà thơ ở tháp ngà, mà một người lính-nhà-báo, hàng ngày xử lý tin tức chiến sự, sống giữa cao nguyên miền Trung nhiều năm.
Tháng Năm 1975, ông đi tù cải tạo cho đến năm 1982: bảy năm. Đến năm 1995, ông sang Mỹ, định cư tại Dallas, Texas, và tiếp tục in thơ trên các tạp chí Văn Học, Thế Kỷ 21, Hợp Lưu, Văn. Và thực hiện tạp chí Phố Văn.
Điều đáng chú ý, đây là một phát hiện nhỏ khá thú vị khi tra cứu: tập thơ mang chính tên bài thơ ta đang phân tích, Tôi Cùng Gió Mùa, được nhà Văn Học xuất bản năm 1998, tức hai mươi bốn năm sau khi bài thơ được viết ra (bài thơ ghi năm 1974). Nói cách khác, bài thơ này quan trọng đến mức tác giả đã chọn nó làm tựa đề cho cả một đời thơ, một cuốn sách tổng kết hành trình “chiến đấu, mơ mộng, lưu vong, hồi phục sau chấn thương” của ông, như một nhà phê bình từng nhận xét.
Bài thơ được viết năm 1974, tức một năm trước biến cố 1975. Khi đọc lại hôm nay, ta đọc nó với toàn bộ hiểu biết về những gì sắp xảy đến với tác giả (tù cải tạo, lưu vong), nhưng bản thân bài thơ, tại thời điểm viết, chưa hề biết trước điều đó. Đây chính là chỗ lý thuyết văn học gọi là “cái trớ trêu của độc giả sau này” (retrospective irony), một khái niệm rất hữu ích để hiểu: ý nghĩa của một văn bản có thể thay đổi hoàn toàn tùy vào việc người đọc đứng ở thời điểm nào trong dòng lịch sử để nhìn lại nó.

Ký Hiệu Học: “Gió Mùa” Như Một Ký Hiệu Trôi Nổi Đa Tầng
Đọc theo ký hiệu học (semiotics, truyền thống Saussure), nhanh chóng và đầu tiên, ta nhận ra ngay ký hiệu trung tâm và theo dõi hành trình của nó xuyên suốt bài thơ. Đó là “gió mùa.” Nó vận hành theo đúng cách một ký hiệu giàu ý nghĩa, không đứng yên trong một nghĩa cố định, mà trôi qua nhiều tầng nghĩa khác nhau, mỗi lần xuất hiện lại mang thêm một lớp mới, đúng tinh thần “unlimited semiosis” của Peirce, mà tái diễn lại trong lý thuyết của Umberto Eco.
Ở tầng thứ nhất, gió mùa là hiện tượng thiên nhiên rất cụ thể, thời tiết chuyển mùa, mang theo lá khô, cái lạnh, khói bếp: một ký hiệu chỉ định trực tiếp (denotative).
Ở tầng thứ hai, gió mùa trở thành một người bạn đồng hành theo nhân cách hóa, “tôi cùng gió mùa”, “gặp lại nhau”, biến hiện tượng vô tri thành một chủ thể có thể trò chuyện, có thể lắng nghe nỗi khổ kiếp người. Đây là một phép ẩn dụ nhân hóa khá cổ điển, nhưng được xử lý tinh xảo: gió từ biểu tượng chuyển vào đối thoại trực tiếp (“hỡi gió mùa”), gần như một ai đó, thân ái.
Ở tầng thứ ba, bước nhảy vọt đáng chú ý nhất về ký hiệu học, gió mùa mở rộng thành ký hiệu của chính dòng chảy lịch sử nhân loại: thổi qua “biên thùy”, “chủng tộc”, “màu da”, “dòng nước mắt”, từ “tử hải” đến “bờ hiện sinh”. Ở đây, cái biểu đạt (gió mùa, một hiện tượng khí tượng khiêm tốn) được kéo giãn giăng lưới thành cái được biểu đạt khổng lồ (toàn bộ bi kịch và hy vọng của loài người). Kỹ thuật mà nhà ký hiệu học gọi là “sự trôi nghĩa được kiểm soát”, trôi xa nhưng không đứt lìa khỏi cái neo ban đầu (gió mùa vẫn là gió mùa, dù mang tầm vóc vũ trụ).
Một mã ký hiệu phụ đáng chú ý: hình ảnh chiếc khăn quàng cổ chưa đan xong. Đây là một ký hiệu rất nhỏ, gần như dễ bị lướt qua, nhưng đáng được dừng lại: sự dang dở của việc đan khăn (một công việc của người ở lại, người chờ đợi, thường gắn với hình ảnh phụ nữ) đối lập với sự viên mãn, tuần hoàn của gió mùa (luôn “trở về”). Đây là cặp đối lập nhị phân kiểu cấu trúc luận: cái con người làm thì dở dang, cái tự nhiên làm thì trọn vẹn. Một mô-típ rất quen thuộc trong thơ ca chiến tranh, nơi đời sống con người bị cắt ngang bởi biến động, còn thiên nhiên vẫn cứ tuần hoàn đều đặn, thờ ơ. Như cái chết với kim đồng hồ.
 
Tâm Lý Học: Cấu Trúc Của Một Tâm Hồn Vừa Hoài Niệm Vừa Tìm Kiếm
Không cần phải đi sâu vào phân tâm học lâm sàng, chỉ cần quan sát cấu trúc cảm xúc của chủ thể trữ tình, cách làm phù hợp và an toàn khi phân tích một tác giả còn để lại tư liệu công khai, tránh suy đoán tản mạn quá mức về đời tư. Có ba diện tâm lý đáng chú ý.
Diện một: Tâm lý của sự trở về. Bài thơ mở đầu bằng “cuộc hành hương” và kết thúc bằng lời hẹn “một mùa đông ấm lửa”. Cấu trúc tâm lý này là cấu trúc của một người luôn ở trạng thái đi và về, không bao giờ định cư hẳn ở một điểm cảm xúc nào. Đọc kèm tiểu sử (một người lính-nhà báo di chuyển liên tục giữa Pleiku, Đà Lạt, Sài Gòn), ta thấy tâm lý “trở về” này rất có thể không chỉ là một ẩn dụ văn chương, mà phản ánh đúng nhịp sống thực của một người thường xuyên xa nhà, thường xuyên hành quân, thường xuyên chờ đợi ngày về.
Diện hai: Tâm lý của sự phân mảnh giữa cái riêng và cái chung. Đây là điểm nhạy về mặt tâm lý học cấu trúc: bài thơ liên tục dao động giữa hai tầng ý thức, tầng cá nhân, thân mật (nói với “em”, nhắc chiếc khăn quàng cổ, ly rượu chiều) và tầng tập thể, vũ trụ (nói về chủng tộc, lịch sử, thánh kinh). Một tâm lý khỏe mạnh, theo nhiều mô hình tâm lý học nhân văn, cần có khả năng dịch chuyển linh hoạt giữa cái riêng và cái chung mà không bị mắc kẹt ở một cực. Bài thơ này, xét theo cấu trúc, cho thấy một cái tôi trữ tình đang cố gắng vượt lên: neo mình từ một tình cảm riêng tư cụ thể, rồi phóng chiếu ra nỗi quan hoài lớn lao về phận người nói chung, như một cách để cái đau cá nhân không nhấn chìm chủ thể, mà được “phân tán” ra một không gian rộng lớn hơn, dễ thở hơn.
Diện ba: Tâm lý của kẻ đi tìm câu trả lời tâm linh mà chưa chắc đã tìm thấy. Đoạn thơ hỏi gió mùa đã nghe thấy gì “từ trong thánh kinh, và nam hoa kinh” (tức Nam Hoa Kinh của Trang Tử), rồi hỏi có “con chim nào hót”, có “một chỗ dừng chân” cho loài người hay không, đây là một chuỗi câu hỏi tu từ không được trả lời trực tiếp trong bài thơ. Về mặt tâm lý học, đây là dấu hiệu của một trạng thái tìm kiếm ý nghĩa, gần với khái niệm của Viktor Frankl, mà chưa đóng lại: người viết đặt câu hỏi lớn về sự tồn tại, nhưng trầm ngâm không tự cho mình câu trả lời dễ dãi, mà để câu hỏi lơ lửng, hay đó là một rthái độ khiêm tốn.
 
Sự Hòa Quyện Giữa Lịch Sử Và Ý Đồ Tác Giả
Kết nối tiểu sử vào lịch sử là việc dễ rơi vào một trong hai thái cực: hoặc lơ là lướt qua hoặc gán ép tưởng tượng. Vào trường hợp này là tâm sự trong bối cảnh chiến tranh 1974, lúc cuộc chiến cao trào sắp tàn lụn, dễ bị lôi cuốn vào hư cấu.
Đọc những chi tiết lịch sử trong bài thơ, như “chủng tộc”, “biên thùy”, “cơn oan khốc”, “tử hải”, “hàng hàng bia mộ”, “thấp thoáng bóng ngọn cờ” không phải như một tuyên ngôn chính trị trực tiếp, mà như dấu vết tự nhiên của một tâm hồn đã sống quá lâu bên cạnh chiến tranh (qua công việc phát thanh quân đội) đến mức chiến tranh và cái chết trở thành một phần của vốn từ vựng cảm xúc, ngay cả khi bài thơ đang nói về một chuyện rất riêng tư là một cơn gió mùa trở về phố cũ.
Nói cách khác: ta không cần khẳng định “bài thơ này viết về chiến tranh Việt Nam” một cách hẹp hòi, cũng không nên phủ nhận rằng bối cảnh chiến tranh kéo dài đã thấm vào tận cấu trúc ngôn ngữ của bài thơ. Đây chính là điều lý thuyết gia sử học mới (New Historicism, Tân phê bình lịch sử) gọi là mối quan hệ hai chiều giữa văn bản và lịch sử: văn bản không đơn thuần “phản ánh” lịch sử một cách thụ động, mà lịch sử đã thấm vào, định hình luôn cả cách một nhà thơ hình dung về gió, về mùa, về sự trở về, khiến ngay cả một bài thơ tình cảm nhất cũng mang dáng dấp của một khúc bi ca tập thể.
 
Dưới Mắt Nhìn Phép Đọc An Vị Của Lý Thuyết Độc Giả Trí Tuệ
Trong lối phê bình này, ta cần đặt bài thơ vào đúng chỗ trong dòng đối thoại dài của thơ ca Việt. Sự định vị này sẽ cho thấy tác dụng của bài thơ liên hệ với quá khứ và sức sống vào tương lai.
Bài thơ này đứng trong truyền thống thơ có mùa, thơ gió hiện diện rất lâu đời trong thơ Việt (Xuân Diệu, Huy Cận, và xa hơn là thơ Đường tả cảnh tứ thời), nhưng viết vào đúng năm 1974, giữa cao trào chiến tranh, bởi một người lính-nhà báo. Có gì khác chăng? Bối cảnh chiến tranh như ngọn lửa bùng lên phút cuối trước khi tàn, mang theo biết bao nhiêu kinh hoàng. Bao tan nát. Bao mất mát. Bao thuơng đau. Bao chất chóc. Câu hỏi: vì sao không thấy hình ảnh, không khí, dấu vết gì về sự tàn khốc này trong trường ca Tôi Cùng Gió Mùa?
Không phải chỉ bài thơ này, một số bài thơ hay khác trong cùng thời điểm cũng như vậy. tâm lý học có thể trả lời một cách dễ dàng. Đối diện với những gì khốc liệt, khủng khiếp đang xảy ra. Một số tâm lý phản ứng ngược lại. Một hình dạng của tâm trạng trốn. Ta đã thấy trong Dạ Khúc của Thanh Tâm Tuyền, “Anh đưa em đi trốn / những dày vò ngày mai.”
Không có khả năng xoay chuyển chiến tranh, không thể làm gì khác hơn là chịu trận, nhưng vẫn có tâm sự, vẫn bị thôi thúc. Tôi cùng gió Mùa là bài thơ hiện sinh trong một biểu tượng hư cấu, một chọn lựa vị nghệ thuật với một thông điệp nhân bản, thay vì trực tiếp tham dự vào hoàn cảnh đất nước.
Bài thơ có sự biến hóa từ khung cổ điển của gió, gợi tình, gợi nhớ, gợi thân phận, chuyển sang chiều kích triết nhân sinh. Có sự leo thang thăng hoa từ trái tim người phu quét đường đến cành vô ưu. Bài thơ tự trở về kết nối với nguồn trí thức cổ xưa (Kinh Thánh, Nam Hoa kinh), tìm nơi tựa vững chắc giữa lúc tinh thần biến động theo thời cuộc chao đảo.
Chọn gió mùa đại diện, chọn thẩm mỹ văn học, giữa thế sự thăng trầm hỗn loạn, bài thơ ra đời 1974 chìm vào thất lạc. Mặc dù, sau này, được in ấn tại hải ngoại 1998 nhưng một lần nữa, bài thơ lại lạc loài giữa lúc đời sống mới tiêu hao tâm trí, nuốt ngốn thời giờ và vết thương quê quán vẫn còn canh cánh. Nhưng dần dần, khi khả năng hội nhập đời sống mới đã khá ổn định, nỗi đau quê nhà nhẹ dần, việc đi lại thăm viếng quê hương dễ dàng hơn, Tôi Cùng Gió Mùa cần được quan tâm hơn. Tại sao?
Tôi là người đọc có phần nào thiên vị về thẩm mỹ văn học và luôn nhớ câu nói của một nhà thơ Ba Lan, tôi không thể đọc tên ông. Ông nói, một bài thơ hay không cần phải biết trước tương lai mới có giá trị. Đó là lý do tôi trân trọng trường ca này, từ sớm.
Và lý do khiến bài thơ này đáng quan tâm vì bài thơ này nói với chúng ta: Bất kỳ chuyện gì xảy ra trong đời sống, vui hay buồn, sướng hay khổ, chỉ là những cơn gió mùa lập lại. Gió xuân mát. Gió hè nóng. Gió thu hiu hắt. Gió đônglạnh. Thổi qua. Thổi qua. Rồi trở lại. Gió đi gió về, dễ hiểu. Còn con người, mỗi chúng ta, trên đường đi về, có chỗ nào dừng chân? Và chỗ dừng chân là chỗ nào? Nguyễn Xuân Thiệp đã từng dừng chân nghe chim hót. Còn bạn, bạn dừng chân ở đâu?
Qua phép đọc ký hiệu, tâm lý và An vị, Tôi Cùng Gió Mùa thể hiện khả năng chuyển cảnh mượt mà giữa các quy mô (cá nhân — cộng đồng — vũ trụ) mà không gây cảm giác gượng ép; ngôn ngữ giàu nhạc tính nhờ kỹ thuật ngắt dòng, ngắt nhịp rất có chủ ý (nhiều chỗ tác giả tự tay xuống dòng giữa câu, một kỹ thuật thị giác đáng chú ý khi xét về hình thức thơ tự do); sự pha trộn liên văn hóa (thánh kinh phương Tây và Nam Hoa Kinh phương Đông) làm giàu tinh thần đạo lý.
Tôi Cùng Gió Mùa là một bài thơ vừa dễ vào (nhạc điệu gió mùa quen thuộc) vừa khó ra (một khi đã đi theo cơn gió ấy, người đọc bị cuốn từ một buổi chiều phố nhỏ đến tận những trang kinh vàng óng ánh của nhân loại).
Từ bên ngoài ngôn từ và tứ thơ, người đọc dễ cảm thấy nhẹ nhàng, dễ trượt vào tâm hồn nhưng không có nghĩa là đơn giản. Dưới tầng lớp chữ là một dòng chảy ngầm không rối loạn, không bất chợt, không đổi chiều như gíó mùa mà dòng chảy suốt từ cuộc hành hương trốn chạy để ẩn náu đến hẹn hò hơi ấm của nhóm lửa mùa đông, trong lúc, trên cành nhân sinh, một con chim đang đau mà hót.
NGU YÊN
 Bản gốc: Tôi Cùng Gió Mùa
 
trong cuộc hành hương. về nơi chân trời bình minh ẩn náu
cuộc đi nối tiếp những con đường từ
bóng tối
trong màu đỏ rạn. của ráng trời
khi tôi về qua khu phố nhỏ
thì gió mùa cũng đã trở về
giữa ngã ba chiều gặp lại nhau
 
gặp lại nhau
tôi cùng gió mùa
khi những chiếc lá khô lăn tròn mặt nhựa
cuốn theo chút nắng cuối trời
người phu quét đường
quét bóng hoàng hôn nẻo phố
khi lá chín rụng nhiều
trẻ con sẽ nhặt làm kèn
thổi qua một mùa đông xám. tới một mùa
thu vàng. đầy khói
thổi qua hồn tôi
 
gặp lại nhau
tôi cùng gió mùa
cho nên trong ly rượu chiều nay. uống bên
quán lá
có thêm chút cay đắng của giọt lệ nào
và lời vi vu của nhiều hạt bụi
này em. chưa đan xong chiếc khăn quàng cổ
thì gió mùa đêm nay đã đến đầy phòng
thổi rung liếp cửa
em có nghe tình ta. âm vang. dưới bầu trời
hun khói
âm vang qua đồng cỏ tranh
 
gặp lại nhau
tôi cùng gió mùa
để đêm nay có người lục lại gối chăn trong hòm cũ
tìm lại chiếc gương xưa
để sớm mai
hồng má trẻ con
se môi thiếu phụ
để người đi xa một sớm quay về
 
hỡi gió mùa
đã đến trong cây
đã nói cùng với lá
rằng ta yêu nỗi cùng khổ của kiếp người
cả những điều tuyệt vọng
rằng khắp nơi. trên mặt đất. mùa đông này thiếu lửa
nhưng dưới mái tranh nghèo. của quê hương
ta chiều nay
đã ấm lại tình hoa cỏ
hỡi gió mùa
đã cùng ta gặp lại
nhớ không
lần đầu tiên chia tay cùng người
mà lịch sử đã có dư nghìn tuổi
mà hôm nay ta lại gặp ta
người lại gặp người
trong nỗi bàng hoàng
trong cơn sốt vỡ da
 
hỡi gió mùa
đã thổi từ cội nguồn xa. tới cửa hiện thời
thổi qua những rặng núi. những dòng sông.
những xóm làng. thành phố
quê hương tôi
đã đến đây chiều nay gặp lại
trong ký ức âm u. của đời tôi
đã có những cơn gió mùa. chợt dậy
đã có những cơn gió mùa thổi qua thành quách cũ
thấp thoáng bóng ngọn cờ
đã có cơn gió mùa thổi qua hàng hàng bia mộ
những mặt người thiên thu
 
gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua
qua những tầng cổ tích. những lớp đá ong.
những rừng thạch thảo
như tù và. như tiếng trống thành xưa
vang động. như tiếng độc huyền
dưới những hạt mưa
thổi qua
thôi qua
một mình trên góc phố chiều nay
tôi nghe gió mùa đi qua lục địa
thổi qua những biên thùy. rào cản. những ước định của người.
những tâm hồn mê sảng
những màu da .những dòng nước mắt
gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua
thổi từ lịch sử của từng chủng tộc
tới nỗi riêng của mỗi phận người
trong cơn oan khốc
thổi từ tử hải. tới bờ hiện sinh
thổi qua những nền móng mới
những bàn tay tiếp tiếp lên trời
gió mùa
gió mùa
thổi qua
thổi qua
hỡi gió mùa
giữa những bình minh. những hoàng hôn.
cười khóc
ngươi đã nghe gì. thấy gì
từ trong thánh kinh. và nam hoa kinh
và triệu triệu những trang kinh vàng óng
trên cây vô ưu
và cành nhân sinh
có con chim nào hót
có không một chỗ dừng chân
cho loài người. suốt cuộc hành trình. về nơi
tĩnh lặng
hỡi gió mùa
đã đến trên quê hương ta chiều nay
để thêm một lần gặp lại
xin hẹn cùng ta
xin hẹn cùng người
một mùa đông ấm lửa
1974
NGUYỄN XUÂN THIỆP

No comments:

Post a Comment