Monday, July 16, 2012


Bán ConTrên Internet 

Tác giả:Xiaolu Guo
Người dịch: Nguyễn Thị Hải Hà 



                                                                       Xiaolu Guo

   Đây là những lý do vì sao Weiming và Yuli phải bán con củahọ trên Internet, đứa bé này chỉ mới nhìn thấy ánh sáng cuộc đời được năm ngày
   Yuli vẫn còn đang đi học, năm thứ nhất trường Đại học KỹThuật Chongqing. Đối với một cô gái nhà quê mười tám tuổi, tai tiếng nàythật là khổng lồ; chắc chắn cô sẽ bị đuổi học và mất tất cả thì giờ lẫntiền bạc cô và bố mẹ đã đầu tư để đưa cô đến chỗ của ngày hôm nay: sắp có cuộcsống tốt đẹp hơn. Cô đã lừa dối tất cả mọi người – từ giáo sư chủ nhiệm ngànhhọc đến bạn cùng lớp và bạn chung phòng nội trú. Với tất cả những người này, côbảo cô bị bệnh viêm gan và cần phải ở nhà một thời gian. Đó là sau khi cô thànhcông trong việc dấu cái bụng càng lúc càng to dưới cái áo khoác thùng thìnhsuốt năm tháng trời. Và bây giờ, trong một phòng phụ khoa tồi tàn và nhớp nhápở ngoại ô của Chongqing, cô cho ra đời một sinh vật tí hon khóc gào ỏm tỏi.
    Yuli là một cô gái có nghị lực. Cô sẽ học hành, lấy mảnhbằng tốt nghiệp và bắt đầu sự nghiệp ở một thành phố lớn. Cô sẽ không nuôi conlúc này. Vì thế cô sẽ không hé lộ điều này với bất cứ người nào ở làng quê củacô, một vùng sơn dã gần Sichuan nơi nguồn lợi tức duy nhất là trồng ớt, và dânquê hay quan trọng hóa việc lập gia đình và sinh con một cách quá đáng. Nếu họbiết cô vừa sinh ra một bé trai, họ sẽ tức tốc đến Chongqing và sẽ làm bất cứ việc gì để giữ đứabé lại.  Trí óc của Yuli rất minh mẫn và chắc chắn trong lúc đứa bé đang ngậm vúcủa cô với khuôn mặt nhỏ bé, và đầy nước mắt. Cô sẽ không giữ nuôi nó.
    Người yêu của Yuli, Weiming, có một lý do rất đơn giảnkhiến cậu đem bán đứa con của hai người: thiếu tiền. Weiming là người cùng làngvới Yuli. Hai người yêu nhau từ thưở thanh mai trúc mã. Là người đàn ông mườichín tuổi, cậu vất vả kiếm sống trong thành phố này kể từ khi cậu rời bỏ quênhà để đi theo người yêu. Cậu không thể tưởng tượng ra cách nào có thể giúpYuli trả học phí, gửi tiền về gia đình ở quê nhà, đồng thời nuôi một đứa trẻ. Bấtkhả thi. Cậu đã làm việc hai mươi bốn trên hai mươi bốn, hai việc: ban ngày cậurửa xe, cho cả tư nhân lẫn công sở, ban đêm cậu làm gác dan cho một tiệm nhạckaraoke. Cậu chỉ ngủ từ ba giờ khuya đến bảy giờ rưỡi sáng. Cậu luôn cảm thấykiệt sức từ khi cậu đến thành phố này; mắt cậu mờ đi vì thiếu ngủ và trí óc cậumù mịt như đám mây thường xuyên lơ lửng trên sông Yangtze. Tuy nhiên cậu hiểurằng: để có thể giúp người yêu và gia đình ở quê, cậu phải làm việc như một conlừa. Con lừa có thể ngủ trong lúc đứng, và Weiming cũng phải học cách ngủ nhưthế. Cậu không có sự chọn lựa nào khác. Cậu cũng chẳng than phiền gì.

   Thế là đôi uyên ương đồng ý đem bán đứa con của họ trêninternet. Yuli học kỹ thuật computer ở Đại học, cô biết cách mua bán kiểu này.Những thứ người ta thường bán trực tuyến là máy móc, đồ vật như Ti Vi, (máynghe nhạc) Walkmans, xe đạp, máy chụp ảnh, đôi khi một quyển sách bị cấm. Đembán một đứa trẻ bằng xương bằng thịt không phải là chuyện bình thường.
   “Nhưng có gì khác biệt đâu?” Weiming nói. “Bán một đứa bécũng giống như bán một chiếc xe, chỉ khác nhau ở giá tiền. Nếu Hoa Lục có thểbán một ít dân sang Tây phương, thì ở đây người bị đói khát sẽ ít hơn, và chúngta sẽ có nhiều tiền hơn.”
   Yuli chụp một số ảnh của đứa bé và chọn những tấm xinh nhấtđưa lên mạng. Sau khi thảo luận với người yêu, cô ra giá của đứa bé. 

Muốn bán một đứa bé trai khỏemạnh – tám ngàn yuan[1].
Liên lạc với: 13601386243  

    Đấy là số điện thoại di động của Weiming, người ta cho cậu vìcông việc cậu làm ban đêm. Mặc dù cả hai đều biết tám ngàn yuan là giá quá hờicho một đứa bé trai khỏe mạnh, họ lý luận là đa số dân ở tỉnh nhỏ không giàu vàhọ thì đang vội vàng tống khứ thằng bé đi, đòi giá rất thấp có thể giúp mọiviệc tiến hành dễ dàng và nhanh chóng hơn. Và Weiming cũng nghĩ đến việc ngườiyêu của cậu có thể tiếp tục mang thai nếu cuộc mua bán này tiến hành êm xuôi.
Sau khi đăng mẩu quảng cáo lên mạng, Yuli cho con trai búsữa và thay tả ướt cho nó. Điều làm cô lo ngại là nếu không cho đứa bé đi sớm,cô sẽ bị lỡ kỳ thi cuối khóa, và sẽ không được cấp bằng tốt nghiệp.
   Mẩu quảng cáo trên internet chứng tỏ có hiệu quả. Chỉ vàigiờ sau, điện thoại bắt đầu rung liên tục. Vài người đầu tiên muốn biết có phảiđây chỉ là trò đùa làm cho Weiming cáu tiết la mắng họ. Cậu không có thì giờ đểđùa giỡn chuyện đời, cậu đang cần tiền. Nghe như cậu là một thương gia gắtgỏng, cậu mắng lại là nếu họ không có ý muốn mua thì cậu sẽ cúp điện thoại,trong khi ông chủ cau có của cậu đang chửi rủa sau lưng cậu.
   Nhưng sau đó, một người đàn bà có giọng nói run rẩy giảithích trên điện thoai là bà ta ở một làng duyên hải gần Qingdao, bà ta đã bốnmươi sáu tuổi, chồng bà ta ốm nặng, vì thế họ không thể có con, bây giờ ôngchồng của bà vừa qua đời, và bà muốn mua đứa bé, con trai là lý tưởng lắm.Giọng bà có vẻ lo lắng.
   “Bà có thể trả tám ngàn yuan trọn một lần không?” Weiminghỏi vội vàng.
   “Có chứ. Nhưng trước tiên tôi muốn xem đứa bé có thật sựkhỏe mạnh không đã.”
     Weiming bảo đảm với người đàn bà con trai của cậu hoàn toànkhỏe mạnh và cậu sẽ gọi lại cho bà sau khi cậu thảo luận với người yêu. Weimingbiết cậu không nên ưng thuận ngay lập tức với người đầu tiên tỏ ý muốn mua. Mặccả qua lại, giá bán có thể tăng lên.
   Sau đó có một vài cú điện thoại chẳng vào đâu, có cặp vợchồng gọi điện thoại từ Wenzhou , thành phố kỹnghệ phồn thịnh ở địa hạt Zhejiang. Họ muốn nhận được đứa bé càng sớm càng tốt:   “Chúng tôi có thể lấy chuyến bayđầu tiên đến Chongqingđể gặp cậu.” Đôi vợ chồng này nói cùng lúc nhưng dùng hai cái điện thoại khácnhau. Weiming biết họ là chủ một xưởng giày ở Wenzhou, họ giàu có nhưng không thể có con.
   “Thật tình, tôi có một số khách hàng tỏ ý muốn mua. Ông bàlàm thế nào để thuyết phục tôi chọn ông bà?” Weiming hỏi, rõ ràng ám chỉ mộtcuộc đấu giá. Đôi vợ chồng là những thương gia tinh ý; ngay lập tức họ trả giágấp đôi cho đứa bé.
   Thế là cuộc thương lượng hoàn tất. Weiming được trả mườisáu ngàn yuan tiền mặt. Nhưng cậu không muốn đôi vợ chồng này đến Chonqing, nơicậu và Yuli đang sống. Để tránh sự khám phá của láng giềng, bạn học của Yulihay những người đồng nghiệp của cậu, họ đồng ý gặp đôi vợ chồng ở một thành phốkhông ai biết đến họ: Shanghai.Địa điểm gặp gỡ sẽ là công viên Nhân Dân Shanghai, ngày hôm sau vào lúc bốn giởchiều ngay trước cổng công viên.
    Đôi tình nhân trẻ vơ vội vàng cái túi xách, quấn đứa conđang ngủ và vội vã đến nhà ga để đón chuyến tàu hỏa kế tiếp đến nhà ga Shanghai . Cả Weiming vàYuli chưa từng được đi tàu hỏa vì thế họ thích thú lắm, cứ như trẻ con ngồitrên ghế, hăng hái nhìn ngắm tất cả các nhà ga mỗi khi tàu hỏa chạy ngang,tưởng tượng có ngày họ sẽ làm việc ở Shanghai, cảm ơn số tiền mười sáu ngàn yuan ấy. Thỉnh thoảng, Yuli cho thằng bé bú,nhưng cái sinh vật bé bỏng quạu cọ này dường như không thích chuyến đi nên cứkhóc gào suốt buổi. Tất cả hành khách đi chung đều biết và đều ghét đôi tìnhnhân trẻ này. Có lần, người soát vé cũng đến hỏi là họ có cần được trợ giúp gìvề mặt y tế hay không.

   Sau mười bốn giờ đồng hồ, đôi tình nhân trẻ đến nơi, nhợtnhạt và mệt mỏi, trong thành phố Shanghaibóng nhoáng rực rỡ. Yuli hoàn toàn thán phục. Người ở đây xinh đẹp hơn, theođúng thời trang, nhà cửa cao ráo và sang trọng hơn ở Chongqing . Nhưng Weiming đang đói; cậu khôngthể thưởng thức cái thành phố mới mẻ này, cậu đói lả và càng cảm thấy mình vôdụng trên những con đường đông đúc của Shanghai,hơn cả ở Chongqing.Họ vào một tiệm bán hoành thánh và mỗi người ăn hai tô. Weiming ngốn ngấu thêmnửa con vịt quay. Thức ăn được tiêu thụ nhanh chóng, thô bạo, trong im lặng;nhưng đứa bé thỉnh thoảng ho trong vòng tay của Yuli, không ai hiểu tại sao.
   Hai mươi phút trước khi bốn giờ chiều, Yuli và Weiming đứngtrước cánh cổng sắt của công viên Nhân dân Shanghai. Đứa bé lại khóc và Yuli phải đòngđưa đứa bé trên tay liên tục, mệt mỏi, cho đến khi thằng bé ngủ thiếp đi.
   Đôi vợ chồng chủ xưởng giày Wenzhou đến đúng giờ. Cả hai chừng ba mươilăm và trông có vẻ nghèo nàn hơn là cách nói của họ trên điện thoại vớiWeiming. Cậu nghĩ trông họ còn có vẻ thiếu ngủ hơn cậu, đầy mệt mỏi. Nhưng ngaykhi họ nhìn thấy đứa bé trong tay của Yuli, mắt của đôi vợ chồng bắt đầu lónglánh. Mắt họ dán vào đứa bé như là nam châm. Người đàn bà không thể dằn đượcnên kêu to: “Thằng bé xinh xắn làm sao! Kháu khỉnh quá, đáng yêu quá.” Chồngcủa chị duỗi ngón tay cứng nhắc, có lẽ vì đã quá cần mẫn đánh bóng những chiếcgiày trong xưởng, sờ đôi má hồng hào và vuốt ve mái tóc mềm mại của thằng bé.Anh ta có vẻ yêu mến thằng bé. Người đàn bà đỡ lấy đứa bé trên tay Yuli, ôm nó,và bắt đầu mang cảm giác làm mẹ khi đứa con trai ngủ yên trong vòng tay.

   Thằng bé thức giấc sau giấc ngủ ngắn, đôi mắt của nó mở tođăm đăm nhìn người đàn bà xa lạ cứ hôn hít nó và nói những câu bằng tiếng Wenzhou khó hiểu.
   “Thế còn tiền thì sao?” Weiming cẩn thận hỏi.
   Người đàn ông mở cái cặp da, lấy ra một cái bao nhựa màuxanh dày nặng, nhưng không đưa ngay cho Weiming. Thay vào đó, anh ta nói:
   “Hãy cùng vào bên trong công viên. Chúng tôi cần kiểm soátxem đứa bé có khỏe mạnh đúng như cậu nói không.”
   Hai cặp vợ chồng đồng ý và cùng vào trong Công viên Nhândân. Trời tháng Năm, những cây liễu xanh ngát, khóm trúc óng mướt, hoa nở rộ.Vài bô lão đang tập tài chí. Trẻ con đang thả diều, với ông bà của chúng chạytheo phía sau.
   Đứa bé đang ở trong tay đôi vợ chồng Wenzhou . Thay phiên nhau, cả vợ lẫn chồngkiểm soát thằng bé thật kỹ lưỡng, săm soi nó như một đôi giày vừa mới đóng xong;họ lật sấp thằng bé, xem lỗ tai, mắt, mũi, ngón tay, chân, ngón chân, ngay cảmông đằng sau và phía trước. Cũng thật kỳ lạ, bây giờ đứa bé lại không khóc. Nódường như thích thú với việc được chú ý bất thình lình, và nó bắt đầu cườithành tiếng.[2]
   Cuối cùng, người đàn bà Wenzhou thỏa mãn và hỏi đôi tình nhân trẻ:
   “Cô cậu đã đặt tên cho bé chưa?”
   “Chưa. Khi đăng ký trong bệnh viện chúng tôi gọi nó là WeiYu. Đó là cách kết hợp họ của hai chúng tôi,” Weiming trả lời.
   “Như thế, chúng tôi sẽ chọn cho bé một cái tên thật đẹp,cái tên tốt nhất mà một người đàn ông có thể mang.” Người đàn ông Wenzhou nói bằng giọnghào hứng.
   Họ tìm một chỗ vắng vẻ trong công viên, một cái hồ chungquanh viền bằng những cây liễu lá xum xuê. Ở đấy, không ai có thể quan sát và nhìnthấy chuyện gì xảy ra. Nước hồ trong veo, người ta có thể nhìn thấy đàn cá vàngđang bơi lội dưới đáy hồ. Sen trong hồ mọc rậm rạp, chuồn chuồn chập chờn trênmặt hồ. Người đàn bà Wenzhoutình nguyện canh gác và ra ngoài chỗ khác.   Người đàn ông Wenzhou đặt cái cặp da lên mặt đất và lấy cáibao nhựa xanh ra. Cầm một bó tiền Weiming bắt đầu đếm, rất cẩn thận.Thỉnhthoảng cậu lại kiểm soát để xem có phải là tiền giả không.
   Lâu quá, mà chỉ mới đếm được nửa số tiền. Người đàn ông Wenzhou bắt đầu mất kiênnhẫn và Yuli cũng thấy nóng lòng. Cô đặt đứa bé xuống đất, đối diện với cái hồ,và bắt đầu cầm một cọc tiền khác lên đếm.

   Sau một thời gian thật im lặng đến căng thẳng chỉ có tiếnggiấy sột soạt, họ cùng đi đến kết luận: đúng mười sáu ngàn yuan, không gian lận.Weiming bắt đầu thu gom tiền, khi bất thình lình có tiếng kêu thét lên.
   “Con tôi đâu rồi?” Yuli bắt đầu khóc vì hoảng hốt.
   Cả ba người nhìn chung quanh nhưng chẳng thấy đứa bé đâu,chỉ có cái cặp da trống rỗng nằm trên mặt đất.
   Người đàn bà Wenzhouvừa quay trở lại. Khi bà ta đến gần, nét mặt của bà biến sắc. Mọi người nhìntheo hướng mắt của bà về phía hồ yên tĩnh. Khi ánh mắt họ ngừng trên mặt nước,họ thấy đứa bé chết đuối trong im lặng, nhẹ nhàng chìm xuống đáy nước trong veo của cái hồ xinh đẹp. 

NTHH





Xiaolu Guo sinh năm 1973 ở một làng đánh cá miền Nam TrungHoa. Bà đã xuất bản bảy quyển sách kể cả truyện dài A Concise Chinese –English Dictionary for Lovers (được đề cử cho giải Orange bộ môn văntruyện), Twenty Fragments of a Ravenous Youth, và giải UFO InHer Eyes, quyển này đã được xuất bản thành sáu ngôn ngữ. Bà viết vàđạo diễn bộ phim She, A Chinese và How is Your FishToday?


[1] Khoảng6 yuan bằng một Mỹ kim.
[2] Ýkiến của người dịch. Chi tiết này không hợp lý. Trẻ sơ sinh (năm ngày) may racó thể nhoẻn cười nhưng chưa biết cười thành tiếng.


Tuesday, July 10, 2012


thơ nguyễn xuân thiệp 

Trà oán




Hôm 23 tháng 6 vừa qua, về Houston nghe hát nhạc Nguyễn Đình Toàn, tình cờ mình gặp một người -một lát sau mới biết đó là anh Phí Ngọc Hùng tức Ngộ Không rất đổi than tình với mình trong văn học -anh đến ngỏ ý xin bài thơ Uống Trà Trong Thành Đá Xanh cho một bạn thơ là Nguyễn Lập Đông. Siết đỗi vui mừng, mình nói với Phí Ngọc Hùng rằng đó là bài Trà Oán viết năm 1980 ở trại Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Về lại Dallas, mấy hôm sau mình đánh máy lại bài thơ và gởi cho Phí Ngọc Hùng để chuyển cho Nguyễn Lập Đông. Mình nói trong email: “Buổi uống trà là có thật. Có Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên, Chu A Hạnh, Nguyễn Trung Dũng và nhiều anh em khác. Các nét chính là có thật: thành đá xanh, vác củi qua vườn cam tối, nồi trà (đúng là nồi) và những nụ hoa cam, bưởi bòng và manh chiếu rách v.v... Ở đây, xin thêm một chút: người hái trà là Chu A Hạnh, người sao trà là Dũng Nhà Bếp, công việc nấu trà do anh Phong phụ trách.

Hà Thúc Sinh cũng có đọc bài thơ và viết hồi âm: “Bài thơ đẹp, giàu có, chứa sức mạnh của vô nhiễm. Nó gợi hình ảnh một rừng sen ung dung nở trong ao... Thế mới biết người dưới chợ tâm yên vẫn hơn người "ngồi thiền" tâm động.”

Xin đăng lại bài Trà Oán để bạn bè có ai nữa đồng tâm đồng điệu thì đọc chơi. 

Chiều vác củi qua vườn cam tối
nghe quanh mình. rụng mấy hương cam

mùi hương cam theo ta về trại
mùi hương cam. trong đất nghìn năm 

ai xưa. bơi thuyền. trên sông hằng
nghiêng lẳng. rải chùm hoa nhiệt đới
lềnh bềnh. trôi. màu tro nhục thân
trong nồi trà chiều nay. sóng sánh
cũng nổi lên vài nụ hoa cam
bạn bè ta. ngồi quanh. xúm xít

chiều đã tàn. chiều đi chưa hết

đây. bữa trà trong thành đá xanh
ngồi uống trà. dăm ông mặt nghệ
râu hùm. lởm chởm cỏ đồi tranh
tóc buông. lùm xùm. tựa bờm ngựa
lửa đóm reo. ngời ánh mắt gươm
quần áo loạn. hình muông thú lạ
ông thì gầy. như cái hạc vàng
ông thân cao. ngất trời. đồng thụ
kể từ đi theo gánh chèo điên
nửa tỉnh. nửa mê. ra tù rạc

ngồi lại đây. quanh nồi trà thơm
như người xưa ngồi trong động đá
đức đạt ma. cùng với chúng tăng
dâng trà hoa. trước giờ thiền tọa

ngồi lại đây. quanh nồi trà thơm
hãy nhớ nhé. cánh trà oan khổ
bạn bé hái. từ trên núi xanh
cất giấu. qua bao tầng địa ngục
nhớ mồ hôi. và giọt máu tươm
từng cháy hồng hồng trên ngọn lửa
nhớ chiều qua. trên những cánh nương
chiều treo. chon von. bờ dốc đá
hú tiều. gọi nhau. ngoài đầu non
ai hay chúng mình thành vượn khỉ
bởi từng chiều thiếu trà. đói cơm
bạn bè mang cho ta khoai sắn
mùa này có thêm nhãn và bồng
đem bày hết. một manh chiếu rách
ăn đi. uống đi. thở mùi hương
cúi đầu. cảm tạ ơn trời đất
bây giờ mới hiểu lẽ diệt sinh
tiếng trẻ. oe oe. trên rạ ướt
bây giờ mới thấy được buồn vui
như lửa cháy. truyền trên củi bếp

hồn ta nay. như cụm trà hoang
lá sần sùi. gội đầm mưa nắng
hạt từ gieo. oằn đỏ. cành sâu
lại trổ bông. bên sườn thung lũng
nhìn ra. ôi. chớp xé. mây trôi
chiều đã tàn. chiều đi qua biển

uống đi. vị ngái chát đầu môi
uống đi. hoa. và mùi mật đắng
chén trà này. dành để riêng ta
uống cho hết. khe rừng. suối độc

ngoài dặm cỏ. chiều nhen đốm lửa
nhà ai kia. dưới cụm mây vàng
nhà ai kia. như trong thơ đường
trở lại vườn xưa. đi chân đất
chén trà này. tưởng nhớ vợ con
mấy năm rồi. quế cay. gừng xót
người xa nguời. đắp mảnh chăn đơn
giờ này. bếp nhà không đỏ lửa
trẻ khóc. kêu ăn. trong chiều sương
mẹ khuya về. thân gầy. áo mỏng
khép cửa. nghe hoa rụng trong vườn

lòng ta ơi. có như hoa rụng
chén trà chiều nay. vàng hoàng hôn
chén trà chiều nay. cho đồng bạn
đã cùng ta. đi suốt sử xanh
đã cùng ta. bơi qua bỉ ngạn
ai khôn thiêng. chìm nổi khúc sông
ai. trăng khuya. mênh mang đầu núi
hãy về đây. trong chén trà oan
hơi trà đẫm hơi may xao xác
nghiêng ly trà. mắt chiều xẩm đục
hỏi bạn hiền. vì sao ông buồn
phải chăng. ngày xa ngoài dặm cỏ
hay mùi trà. cứng vị nước nguồn
tẩm trong nước. một loài hoa ác
hơi trà. thấm hạt mưa. lất phất
áo tơi. nón lá. mai lên nương
ngày chầy. cơm độn. mưa sơn thôn
ông ơi. tùi gì. thân lau lách
ông ơi. nhớ gì. rau trên đất
một mai ta về làm thú đồng

chiều đã tàn. chiều trong hơi giông
thì thôi. chén này. để tưởng nhớ  
chén mời đồng bào trên đất khổ
bao năm rồi. cửa nhà trống không
ruộng nỏ. mùa heo. đêm dạ xót
kẻ lên rừng. hùm tha. sấu bắt
người bỏ làng. đi kiếm miếng ăn
kể từ lệnh trên mở chiến dịch
trường sơn. quanh co. qua lào miên
lũng thấp. đèo cao.. mù núi bốc
mưa vèo bay . mùa đông. tối mặt
rét sương thu. xanh tím thịa da
đường đi. đạn nổ. máu loang cát
lối về. gò nổng. mưa lâm thâm

buổi trà muộn. chiều hoang. xây xẩm
điểm điểm. hạt mưa. đầu xóm thôn
ngày đã tàn. cơn giông u uất
nhìn ra. chim bay. chim bay
ôi. cửa biển. giờ này đóng sập
sóng thần phù. từng đợt. lặng im
óng ánh trong ly. màu sen ngát
hương trà còn. như hơi thu tàn
u khốc đó. giờ đây thấm ngọt
bây giờ. ta hiểu ra thiên thu 

bây giờ. như bao giờ. nhớ lại
buổi uống trà trong động đá xanh
nước trà ánh lên màu hổ phách
dòng sông nào không là sông hằng
hồn ta. chiều nay. là sông hằng

Thanh Chương, Nghệ Tĩnh
1980
NXT



  


Monday, July 9, 2012


đ ọ c  t h ả o  a n      m ù a  c h ớ m  t r ă n g



                                                    Về nơi phố xưa. Đinh Cường

phóng bút vào nơi thâm sâu vầng trăng bỗng nở nên mầu mực tươi còn khăng khăng dạ yêu đời chuỗi thanh tân với gọi mời sương  hoa ô kìa ! liền lạc xương da hồng ân về một quê nhà nắng mưa điểm tranh lên nụ cười vừa dấu khắc bỗng cạn huyền xưa nỗi niềm bây giờ khép nụ thuyền quyên ngàn năm sóng vỗ hương nguyền mới như . 
HOÀNG XUÂN SƠN 01 tháng 8 - 2001

m â y _________________________________________

                      làm xong, đọc bài viết về mây                         đề tặng đại huynh Võ  Đình 


                                                 
                                                      Helen Huệ Liên. Võ Đình

sao đời anh lúc này chao đảo sáng ngủ dậy mất thăng bằng chúi mũi nhúng đầu vào hư vô thực tại ở bồng bềnh__________________ mây (lững lờ mây phàm y không vướng bận  labyrinthe du plaisir con sâu bò quanh lỗ khóa  trần truồng tinh khôi) 

ôi mây đâu phải là ngụy trưng chiếc bánh sừng bò ăn vạ vẫn còn móc ngoéo bàn tay khum ngón cong hút địa bàn anh chao đảo từng giờ từng phút giây không có thực không anh buổi sáng cà phê không thuốc lá làm gì đau cuơng phù vân một đời hoang dại 

điểm tựa lời không nói anh vượt trầm tư đứng lặng khung người và mặt mũi này thiện tai chỉ còn râu tóc về hùa theo năm tháng cọng mơ lung lạc mọc choài ra như nhánh khô gie bờ vực cẩn thận đấy không ngã đời anh (lúc này vẫn hoài chao đảo) em ngúc ngắc đung đưa hình như em trong đầu anh bướu mọc sừng bò buổi sáng vụn huyết thanh anh trông đời anh ngủ dậy mây phủ đầy đầu vin bước xuống trần gian mộng ảo . 

HOÀNG XUÂN SƠN 03 aout 2001



mắt nhìn chín cõi 

nguyễn thị thảo an




                                             Nguyễn Mộng Giác. Ký họa Đinh Cường

Tháng 10, năm 1999, lần đầu tiên tôi gửi bài cho báo Văn Học. Gửi thử thôi. Không có hy vọng báo đăng. Một vài cây viết kỳ cựu trước 1975 bảo tôi, Văn Học, Văn “tuyển” bài lắm. Có người còn dọa, làm thơ phải biết “nhậu”, viết văn phải biết xã giao, phải có quen biết, có gửi gắm,... Đóng cửa như tôi thì viết có mà để giun dế đọc.
Tôi không tin. Một nhà văn đích thật, tự nhiên sẽ quý văn người như văn mình.
“Không tin ư?” Bạn tôi nói. “Văn của Dương Nghiễm Mậu từng bị quăng vào sọt rác, thơ Nguyễn Tất Nhiên cũng phải chầu chực, lòn cuối mới được đăng.”
Tôi xót xa, “Thế còn gì là văn chương?”
Cả ngày, tôi lan man thương cảm cho những ngòi bút còn mịt mùng trong quên lãng.
Bạn tôi “bồi” thêm, “Vì sao mà Đối Diện, Trình Bày, Ý Thức,... ra đời? Vì sao có những tên tuổi bây giờ lại chưa từng có mặt trên Bách Khoa, Văn Học, Văn,... thuở trước?”
Trong tích tắc, lòng tôi bỗng dưng chùng xuống.
Rượu, tôi không uống. Xã giao, tôi không thích. Phe nhóm, tôi không ưa. Tôi thở dài, liều mạng tuyên bố một câu xanh dờn. “Được thôi. Vậy thì tôi viết để giun dế đọc.”
Qua ngày hôm sau, Văn Học email hồi âm. Ông Nguyễn Mộng Giác viết vài lời nhận xét và khen ngợi. Tôi hồi âm, kiệm lời, kiệm ý. Và tự răn mình trước những lời khen. Lời khen giống như một thứ rượu ngon, dễ quá chén.
Mấy ngày sau, hơn mười giờ tối, ông Giác gọi hỏi thăm. Giọng ông hòa nhã, vui vẻ. Ông tỏ ý thích những tư tưởng trong bài và nhắn nhủ mong có sự hợp tác dài lâu. Sau này, qua một vài người quen, tôi vở lẽ, ông gọi bất ngờ chỉ để kiểm chứng coi tôi có phải là phụ nữ thật không.
Năm 2001, tôi có dịp đi Cali và đến thăm “tòa soạn” báo Văn Học. Đó là căn nhà riêng của ông Nguyễn Mộng Giác. Đó cũng là căn nhà chung của văn nghệ sĩ ở Cali. Ông Giác dẫn tôi đi loanh quanh xem góc làm việc của tờ Văn Học, chỗ garage làm kho chứa báo.


Với những người viết, sự gặp gỡ chỉ là cơ hội để kiểm chứng giữa văn và người. Bởi họ đã quen biết nhau qua tác phẩm. Nhưng Nguyễn Mộng Giác đã đưa tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Cảm giác ngạc nhiên đầu tiên, ông là người đàn ông không đẹp trai. Nhưng càng nói chuyện, tôi càng bất ngờ. Bên trong cái bề ngoài thô ráp kia là một tâm hồn tinh tế, tỉ mỉ, sâu sắc và đẹp. Đẹp đến xúc động. Trí nhớ tôi bất chợt lui về trên những trang sách. Loáng thoáng, tôi bắt gặp vài nét trong những nhân vật của ông. Ông Giáo Hiến, Lãng, người tù cải tạo, anh chàng kéo vĩ cầm,... đều đang lẩn quất đâu đó trong ông.


Câu chuyện văn học lan man đủ thứ. Mỗi người góp một chút. Tôi im lặng ngồi nghe những khúc chắp nối, không đầu không đuôi. Có người ngắt một vài giai thoại trước 75, chị Chi kể một vài kỷ niệm khi anh Giác viết Sông Côn Mùa Lũ, ông Giác nói về giai đoạn khó khăn khi bắt đầu làm tờ Văn Học, và những khuynh hướng mới, những người mới trong giai đoạn sau này ở hải ngoại.
Khi câu chuyện bắt đầu lơi, mọi người quay sang nhận xét về tôi. Ông Giác tiên đoán, sau này tôi sẽ là một cây viết độc lập, không giống ai. Có nghĩa là, (ông giải thích thêm), tôi sẽ đứng một mình một cõi.
“Một mình một cõi?” Tôi lớ ngớ hỏi, “Cõi nào?” Lập tức, trong đầu liên tưởng ra những chủ đề mình đang viết.
Ông Giác nói, thông thường những người mới viết đều viết truyện về mình, sau mới viết về người. Tại sao tôi không viết về mình. Hay truyện tình, chẳng hạn. Tại sao không?
Tôi cười cười. Nói về mình? Truyện nhạt mất. Còn truyện tình. Là chuyện nhỏ. Ở mỗi một chuyện tình ngang trái đều có một cái gút. Gỡ cái gút, mối tình hết ngang trái ngay. Tôi không hiểu sao, các tác giả thường bắt những nhân vật chính của mình khiêng cái gút nhỏ này đi một mạch từ đầu tới cuối truyện.
Ông mỉm cười khuyên, vậy thì tôi nên viết truyện dài. 


Thời gian sau, Văn Học giao cho nhà văn Cao Xuân Huy. Tôi không còn liên lạc với ông như trước. Thỉnh thoảng, tôi lục bài viết của ông, đọc đi đọc lại. Còn ông, cũng đọc những bài viết của tôi đăng trên net.


Hai năm sau này, thỉnh thoảng bạn bè ở Cali báo tin sang. Tôi mới gọi điện thoại sang thăm. Chị Diệu Chi kể sơ sơ về bệnh tình. Ông Giác bắt điện thoại. Ông lại nhắc tôi viết truyện dài. Giọng ông vẫn hăm hở. Hình như câu chuyện hôm nay vẫn đang tiếp nối cuộc chuyện trò của mười năm trước. Lời đồn quả không ngoa. Lòng đam mê văn chương đang thổi bùng lên một tia lửa, làm hồi sinh một thân xác đang suy tàn. 


Vẫn biết “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?”, tôi khuyên mọi người, nhưng không khuyên được chính mình. Những vì sao trong văn học cứ rơi rụng dần.


Biết ông bệnh nặng, nhưng tôi không đi thăm. Không có người đàn ông nào muốn người phụ nữ thấy mình trong tình trạng đang suy kiệt. Tôi cứ ngồi nhà mà nghĩ tới ông, thì cũng được. Nói đúng ra, tôi muốn giữ hình ảnh nhà văn Nguyễn Mộng Giác thời nào của tờ Văn Học. Một người trí thức điềm tĩnh, hiền hòa, mô phạm. Một ngòi bút sâu sắc, tinh tế, đầy nhân bản. Một phong cách điển hình cho văn nghệ sĩ Miền Nam. Một loại “thạch trung ẩn ngọc” phải lôi trôi, luân lưu theo thời vận. 


Tin ông qua đời không làm tôi ngạc nhiên. Tôi chuẩn bị tinh thần đã nhiều lần trước đó. Dù vậy, vẫn không tránh khỏi sự xúc động. Xúc động đến lao đao. Mấy hôm nay, tôi cứ ngẩn ngơ.
Sau cái chết, linh hồn người ta đi đâu?
Lên thiên đàng? Xuống địa ngục? Hay lạc bước về đâu trong chốn vũ trụ khôn cùng?
Sau cái chết, linh hồn người viết sẽ về đâu?


Tôi lên net, đọc lại bài Bầu Ơi, Thương Lấy Bí Cùng. Bất chợt, gặp lại ông sống động trong vai người tù cải tạo.

... Tôi cố giữ trầm tĩnh ngồi bó gối nhưng trong lòng như có ai đốt lửa. Nhà tiếp tân vắng dần. Bốn giờ 23, rồi bốn giờ 24 phút. Ðúng 4 giờ 25 thì chuyến tàu chợ từ Sài Gòn lên xình xịch đỗ ngoài ga. Niềm hy vọng của tôi đây. Không dằn được nữa, cả tôi lẫn cụ thiếu tá đều đứng bật dậy dợm chạy ra nhà tiếp tân. Tôi đã không lầm. Lúc hồi kẻng báo hiệu giờ thăm nuôi đã hết uể oải điểm đều từng tiếng, tôi thấy mẹ và em tôi vội vã xách hai cái giỏ lát khá lớn chạy từ nhà ga vào cổng trại. Em gái tôi gầy gò, mẹ tôi già yếu, nên thấy dáng hối hả của hai mẹ con, tôi xúc động quá bất giác kêu lớn:

- Mẹ, con đang chờ đây!

Có lẽ tiếng gọi của tôi bị gió rừng bạt mất, vì tôi không thấy mẹ và em tôi quay lại. Anh vệ binh đứng tuổi mang kính râm giữ việc kiểm soát giấy phép đã đứng dậy ra về, toán thân nhân đến trễ đang bu quanh anh, nét mặt người nào cũng khẩn khoản, chới với. Họ năn nỉ gì đó, nhưng tôi thấy anh vệ binh cứ lắc đầu. Một bà cụ nắm tay anh nói một hồi. Anh ta chăm chú nghe, nhưng đưa tay lên xem đồng hồ, rồi cương quyết lắc đầu. Ðến phiên mẹ tôi chen vào. Mẹ tôi nói gì tôi không rõ, chỉ thấy mẹ tôi vừa nói vừa trỏ về phía nhà ga. Có thể bà cụ đang đổ lỗi cho chuyến tàu chợ trễ nãi. Anh vệ binh vẫn lắc đầu. Nóng ruột quá, tôi liều lĩnh bỏ chỗ gốc sấu chạy đến khu thăm nuôi. Tôi nghe rõ mồn-một giọng Nghệ Tĩnh giận dữ tức tối của anh ta:

- … Các người còn muốn đòi gì nữa? Chồng con các người mang tội với nhân dân phải học tập cải tạo nhưng còn có ngày được về. Còn tôi đây này, nhập ngũ từ 1965, đi khắp các chiến trường cho đến lúc về ở cái xó rừng này, biết bao giờ tôi mới được về? Chồng con các người còn được tiếp tế giỏ này giỏ nọ. Còn tôi đây, vợ con không có đủ tiền gửi cho lấy một cái kẹo. Các người có dư tiền để mua vé xe lửa lên đây thăm nuôi. Vợ tôi biết tôi ở đây từ hơn hai năm nay, chưa thấy mặt tôi gần bảy năm rồi mà không có đủ tiền mua lấy cái vé xe hạng chót! Các người còn đòi gì nữa!

Nghe lén được mấy câu đó, tôi sững sờ đến nổi gai ốc. Tôi va đầu vào cái tường sự thật tàn nhẫn nên choáng váng. Người tôi ngây ngây, quên cả ý định lên tiếng để mẹ và em tôi trông thấy. Có lẽ các thân nhân đến trễ cũng có tâm trạng y như tôi, nên nghe anh vệ binh nói xong, họ tản ra hết. Ðã nói đến nước đó thì nằn nì cũng vô ích, nên tôi thấy mẹ và em buồn bã xách đồ ra ga mà không biết phải làm gì. Cuối cùng tôi chỉ còn biết sợ! Tôi nháy mắt ra hiệu cho cụ thiếu tá hồi hưu, rồi se sẽ nép vào các gốc cây để trở lại chỗ cũ. Chúng tôi về trại tay không, lòng vừa buồn rầu vừa hoang mang thật khó tả. Anh vệ binh già cầm xấp giấy phép hướng dẫn chúng tôi vào. Nét mặt anh lầm lì, bước chân nặng nề, đầu cúi xuống. Chiều ở rừng buốt lạnh. Chuyến tàu chợ ngược về Sài Gòn xình xịch đỗ ở cái ga xép. Tiếng còi tàu khao khao hơi nghẹn. Cổ họng tôi cũng nghẹn. Buổi tối hôm đó tôi nằm riêng một góc không tham dự cuộc vui chung. Các bạn tưởng vì không được thăm nuôi tôi buồn, nên ân cần đem đến tận chỗ tôi nằm mời ăn hết thức này đến thức khác. Tôi cầm cho họ vui lòng, nhưng không thể nói hết lý do nỗi hoang mang của tôi.

Tôi tiếp tục được hưởng sự ân cần mời mọc của bạn bè suốt nửa tháng thăm nuôi còn lại. Thật ngược đời! Trong láng, tôi và cụ thiếu tá bảo an hồi hưu trở thành hai đứa trẻ được nuông chiều. Tôi ăn uống sang trọng phủ phê còn hơn cả những người được thăm nuôi đầy đủ. Nhưng “sự phồn thịnh ấy giả tạo” đúng như bài học chính trị chúng tôi học thuộc làu trong năm đầu. Lúc các thức ăn chơi đã cạn và trong giỏ xách từng người chỉ còn lương khô, thì ai ai cũng lo tính đến đường xa. Kỳ thăm nuôi sắp tới chưa biết lúc nào, sức mang, xách, khiêng, đội, gánh gồng của những người vợ héo hon những bà mẹ già nua những đứa em yếu ớt thì có hạn. Cho nên ai cũng phải dè xẻng tính toán từng mẩu bánh khô, từng nắm cốm dẹp. Không muốn ích kỷ cũng phải đâm ra ích kỷ. Tôi trở lại sống nghèo đói đúng 100% nghĩa đen giữa đám bạn bè tương đối đầy đủ. Tinh thần tôi còn sa sút hơn trước. Không còn sự bình đẳng trong thiếu thốn nữa, nên tôi và cụ thiếu tá thui thủi một mình, mỗi lần thấy ai mở giỏ lương thực hoặc nấu nướng thứ gì, phải tìm cách lánh đi chỗ khác để họ khỏi khó xử. Và thành thực hơn, phải nói thêm là để đỡ thèm thuồng! Ðã thế hình như ban quản giáo ỷ y vào đồ thăm nuôi nên lặng lẽ rút bớt tiêu chuẩn cấp phát xuống. Tôi đói mà không kêu ca than van với ai được! Kêu ca với các cán bộ hoặc vệ binh ư? Lỗi tại mẹ và em tôi đi trễ chứ đâu phải tại tổ chức! Than van với bạn bè thì có khác nào xin khéo để buộc họ bố thí. Cụ thiếu tá đã trên 60 ăn uống nhỏ nhẻ và giỏi chịu đựng như đã từng chịu đựng cuộc đời 60 năm dài. Còn tôi, sức tôi còn trẻ. Tôi cần ăn nhiều. Tôi mới 24 tuổi. Nhưng lấy gì bỏ vào mồm bây giờ? 

Đọc tới đây, tôi đâm ra thương anh tù trẻ này quá đỗi. Trong lúc đói tới hoang mang mà vẫn coi nhân cách nặng hơn cái chết. Con người hơn con vật chỉ vì cái cách ăn.

Nhưng điểm nhất của bài này là ở câu kết. Cái đoạn sau kể về một đêm tối canh rẫy bắp. Người tù và kẻ canh tù chạm trán trong khi “ăn cắp” bắp. Dù bắp do chính tay mình trồng. Cả hai cùng “giành quyền làm chủ ngang xương”


… Bầu ơi, thương lấy bí cùng.
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
…Từ lâu, tôi vẫn nghĩ lẩn thẩn: không biết người nghệ sĩ nhân dân nào đặt ra hai câu ca dao đó, có tiên đoán tác phẩm của mình về sau lại được sử dụng vào hoàn cảnh oái oăm như thế không? Tôi nghĩ rằng có, vì đôi mắt nghệ sĩ có thể nhìn suốt chín cõi. Kể cả cảnh hai chúng ta lén ăn bắp nướng, phải không?

Đóng trang sách lại.  Bây giờ thì tôi tin, sau khi chết người viết sẽ trở về giữa những dòng chữ của mình. Ví như một vì sao tắt, còn để lại trên bầu trời những dấu vết lấp lánh.

ntta
7/7/2012


Saturday, July 7, 2012


thơ trần thị nguyệt mai 

một ngày


                                              Biểu tình trong mưa. ở Sài Gòn

Một ngày bắt đầu bằng buổi sáng
Em bắt đầu bằng đêm tối đen
Anh đừng hỏi vì sao như thế
Em biết làm gì thân gái yếu mềm 

Khi em lớn đời đã đen như mực
Cuộc chiến chinh ngỡ đã dứt hẳn rồi
Mọi người sẽ đồng lòng xây đất nước
Ai chẳng mơ hòa bình mới tinh khôi

Ai chẳng vẽ một ngày tàu thống nhất
Từ Bắc vô Nam nối lại lòng người
Ai chẳng ước gặp nhau niềm mừng tủi
Bao nhiêu ngày đã chất ngất khôn nguôi

Đổ vỡ hết niềm tin tàn tạ hết
Khi bao điều sự thật đã phơi ra
Con người ta sống mà như chết
Trên quê hương không liền được thịt da

Hòa bình rồi sao người còn rời bỏ
Làm kẻ lưu vong không có quê hương
Anh đừng hỏi những ngọn cây ngọn cỏ
Mộ bây giờ là cả biển cả sông

Cả rừng núi cũng còn đau đớn lắm
Người đã đi và người chẳng thấy về
Bóng hạnh phúc ôi sao mà thăm thẳm
Chiều đã tàn lòng người vẫn tái tê

Mấy mươi năm sau ngày ngưng cuộc chiến
Ấm no đâu cơm áo ở nơi đâu
Dân vẫn khổ oán hờn còn chồng chất
Những nhà tù còn mãi chốn rừng sâu

Người vẫn hát bài ca bất khuất
Vẫn biểu tình chống lại giặc ngoại xâm
Dẫu vẫn biết nhà tù luôn dành sẵn
Cho người yêu đất nước tự ngàn năm
TTNM
03-07-2012




Friday, July 6, 2012


KHI XA SÀI GÒN 

Lưu Na




(tiếp theo) 

4. 

Westmsinste, Ngày…Tháng…
Tân thưong mến

   Tao về lại Mỹ đã gần 3 tháng, dự định viết cho mày 1 lá thư vẫn chưa được bắt đầu.  Tao muốn nói lại những cảm nghĩ và nhận xét của mình sau 8 năm xa cách.  Tao cứ nghĩ sẵn trong đầu những điều muốn chia sẻ cùng mày, rồi lại lu bu chạy theo công việc mà bỏ qua rất nhiều điều muốn nói.
    Đường về lại Sài Gòn của tao rất êm xuôi, nhưng đường trở lại Mỹ không vui cho lắm.  Khởi đầu với  phòng vé máy bay, những cô nhân viên làm cho hãng máy bay nước ngoài nhưng vẫn giữ thói quen ăn tiền của VN: người khách thường đến trước phải về sau các anh dịch vụ.  Kế đến là nhân viên phi trường làm việc thiếu hiệu quả (thiếu huấn luyện nghiệp vụ và trang bị kém ) dẫn đến chỗ bất lịch sự với khách hàng.  Chuyện văn hóa khác biệt cũng rất nên chú ý.  Người VN không thích mang tiếng bợ đỡ nên thường lạnh lùng với khách VN và vồn vã với khách ngoại quốc. Người Việt nước ngoài đã quen chuyện thông tin sòng phẳng và khách hàng là trên hết nên rất bực bội “kiểu làm ăn của người Việt.”  Dĩ nhiên người trong nước thấy bọn Việt kiều hách dịch và Việt kiều thấy người trong nước làm ăn cà chớn.  Tao cám ơn ông Trời là đã không làm điều gì quá đáng để đóng góp vào sự kiện đó.  Điều tao mong muốn đã đạt được, tao hài lòng với chuyến đi của mình. 

Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng… 


   Sài Gòn, tao về không còn nghĩ đến cái nóng nung người, nhưng thật ra chuyện nắng mưa vẫn ràng buộc với cuộc sống của tao.  Những lần trước, sau mỗi chuyến đi VN về lại Mỹ thì cái còn lại trong tao là cái nắng chói chang hay cái nóng gắt gay dính theo những kỷ niệm và con người.  Năm nay, lần này, tao thấy mình không còn băn khoăn chuyện Nắng.  Tao tưởng vậy nhưng mà không phải vậy.  Lâu dần tao nghĩ ra:  tao dự trù và xếp đặt những hoạt động của mình theo nhiệt độ của Sài Gòn.  Hóa ra cả đời tao đã gắn liền với nắng, và nếu trở về quê sinh sống tao sẽ gặp lại nó, không trốn vào đâu được.   Những ngày cuối, khi mày nhắc là tao hơi gầy thì thật ra tao đã sụt 1.5 kg vì nóng chảy mỡ (không phải kiêng ăn đâu!!!)   Mày bảo sao không mua đồ ở VN mặc cho sướng, mang về cho nặng và mất công.  Nhưng tao không quen đường nước ở VN, lại không chịu nắng được như xưa nên chuyện đi mua sắm là một cực hình cần giới hạn.  Sài gòn, nắng vẫn nung người… 

Sài Gòn bây giờ ai khóc thương ai…  


    Bỏ quên lá thư, cho đến bây giờ mới viết tiếp cho mày.  Tháng 4, cả phố Bolsa (Little Sài Gòn) treo cờ vàng ba sọc đỏ kỷ niệm ngày đau thương.  Năm nay ít biểu tình ở điạ phương vì nhiều người lên Washington DC để làm lễ kỷ niệm và tổ chức tuần hành đòi tự do dân chủ cho Việt nam.  Hình ảnh và phim tài liệu về ngày 30/4 cũng như về trại tị nạn tràn ngập.  Tao vẫn đổ nước mắt mỗi khi nhìn thấy.  Sau 30 năm chỉ còn người Việt bên ngoài quan tâm chuyện tự do dân chủ cho Việt nam.  Người ở VN, họ chỉ quan tâm chuyện làm giàu và làm sao để hơn được người bên cạnh.  Luật sống còn đòi hỏi, tao nhận xét như vậy có quá khích và làm mày buồn lòng không? 

   Những ngày tháng ở bên cạnh mày và Lan, kết luận của tao nay là chắc chắn: mày chầm chậm với mọi điều nên đôi khi thua thiệt, nhưng không đánh mất chính mình.  Xuân Lan là người năng động thẳng thắn và nhiều tham vọng, thành công nhưng không thể đứng lại và hài lòng với chính mình.  Những ngày đó, tao thấy mày luôn thong thả và lắng nghe 2 bạn của mình và X Lan thì không thể chú ý đến người khác quá 5 phút.  XL phải nói về mình, về công việc của mình, về những gì xảy ra quanh mình.  Dù luôn nhắc trong e-mail với tao rằng giờ đây XL rất vui vẻ và chỉ còn quý tình bạn mà thôi, XL vẫn hỏi Kim Thiên tại sao tao hờ hững với nó!  Tao không buồn lòng đâu, tao nghĩ rằng X Lan rất cô đơn và muốn được chú ý, nhưng tao và mày không phải là đối tượng mà XL cần.  Những người không hài lòng với người và việc quanh mình thường thấy cô đơn và càng cô đơn hơn giữa đám đông.  Gánh nặng con cái là chuyện muốn quên mà luôn phải đối diện, cũng có thể là vì vậy mà XL tìm quên trong những thành quả bên ngòai.  Không ai vác dùm được thánh giá cho ai dù thương nhau biết mấy…Tao chắc X Lan đã khóc thương mình rất nhiều.  Tao và mày, dẫu có khóc phụ cũng không sớt được nỗi cô đơn trong lòng XL.  Vả chăng mày cũng có nỗi cô đơn của riêng mình và đã chờ cho ngày tháng phôi pha.    

Sài Gòn giới nghiêm che kín đêm dài?
Sài Gòn khói bay Sài gòn nắng đổ?
Sài Gòn có còn bước chiều bơ vơ? 

   Không, đêm Sài Gòn không che để hưởng, ngày Sài gòn phải phơi để khoe.  Sài Gòn lọan.  Lọan đặc sản và loạn hưởng thụ.  Tất cả mọi người nhất định nói với tao rằng họ không nghèo dù tao chỉ muốn tặng bạn bè thân và họ hàng quen chút quà của người ở miền xa chứ không hàm ý giúp đỡ cảnh nghèo. 

    Tao bước chân ra phố là thấy mọi sự hưởng, không chậm một phút giây.  Không có ai khuân đá về để trong vườn mà ngắm đâu, và như vậy Thúy là một biểu tượng còn sót của núi rừng và là một hiện tượng lạ về năng khiếu thiết kế nữa.  Nên giữ lấy chính mình, đó là điều bảo vệ nhân cách trước mọi sự thay đổi bạo tàn. 

    Khi về lại Mỹ tao thường băn khoăn tự hỏi, nếu tao có ông chồng cù lần mà gặp một người vui tính như X Lan_ biết chăm sóc và lấy lòng người đối diện_ thì anh ta có chống lại được tình bạn ấy không?  Tao thì sẽ đối phó ra sao với người không hề nhìn lại lòng mình và nhìn vào lòng người cần được thấy?  Bước đường đời tao đã qua còn nhiều chi tiết hơn vậy nữa kìa, cho nên tao nói ra không phải để phê phán đâu.  Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, nhìn lại mình đời đã xanh rêu.  Tao muốn nói những cái quyến rũ ngọt ngào ấy có cái giá là làm cho mình vô tình với tha nhân.  Tao chắc với mày, khi ngồi đọc những giòng nhắn tin “thân ái” của “tình bạn chân thành” thì người đọc lẫn người gửi đã quên mình là ai và đương nhiên quên cả tha nhân.  Tao đã đi qua và đã nhìn lại, thấy ra tất cả mọi điều mình làm dù ít hay nhiều đều liên quan đến tha nhân.  Và tao ngượng cho những sự vô tâm của mình.  Tự trọng là điều chúng mình đã học, thường vấp phạm, và luôn cần được trau giồi.  Tao ngán ngẩm cho tao khi ở Bình Dương, và tao thấy không còn lý do gì để giữ lại chút tình với Đỗ Do.  Dù người Sài gòn vẫn hiếu khách, vẫn quý tình thân, nhưng Sài gòn đã có đủ tầm vóc của “Mỹ trụy lạc”. 

Sài Gòn đã buồn như trời sớm mưa.
Sài gòn còn ai khóc kẻ lên đường
Sài gòn mưa chiều rạc rời vó ngựa
Sài gòn âm thầm đèn đỏ đèn xanh
Sài gòn mưa bay thôi thế cũng đành
Giấc ngủ miền xa ôm trời núi dựng
Bên rừng nhớ nắng trung nguyên

   Khi ra đi, tao nhớ nhất là mày.  Tao nhớ các em mày, nhớ Kontum buồn hiu hắt.  Kontum, quả thật mày là người Kontum: chầm chậm, thong thả, buồn buồn.  Tao cười một mình nhớ tới lúc 3 đứa mình ngồi taxi nói chuyện như ong vỡ tổ: anh khách lạ đi lên đi xuống vì không biết đi đâu…Tình cảm con người với nhau là điều không nói mà ai cũng nhận được, và như vậy tao sung sướng thấy mình được bao bọc bởi tình cảm và những con người đáng quý.  Tao không chắc làm được điều mà mình đã nhận lãnh để đáp trả ân tình, cái tôi luôn đáng ghét.
    Ở Đà Lạt mọi người cứ hỏi thông đẹp không, tao ở Mỹ thấy nhiều thông lắm, Đà Lạt không thể hơn.  Thú nhất đối với tao là khí trời giống nơi tao ở, làm tao có thể ngủ yên.  Ngày nào tao cũng đi chợ Đà lạt dù chẳng mua gì nhiều, chỉ ăn quà và ngắm người qua lại. 
    Miền cao là lần đầu tao đến, ngoại trừ chuyến bay đau tim và đường hơi xốc, tao thấy mình đã có một kỷ niệm đẹp dù nói ra thì thấy chẳng có gì.

     Khi trở lại Mỹ, Kim Thiên kêu điện thoại hỏi thăm và giải thích tại sao nhất định kêu bà Thanh đi chơi chung với tao và Xuân Lan: nó nghe nói mày bận, và cũng muốn bà Thanh báo cáo tình hình của tao và Lan vì có vẻ X Lan buồn thấy tao nay xa cách với nó.  Tao biết có giải thích với ai cũng không xong nên tao nói với mày.  Tụi mình đã đến với nhau là duyên, mọi chuyện có thể thay đổi nhưng những tình cảm đã có với nhau là thực, thực như những nhận xét có trong óc tao.  Tao không thể từ chối những cảm nhận đã đến với mình cũng như không thể phủ nhận tình cảm.  Mà thôi, cứ miễn 3 bà già là mày, tao, và Xuân Lan còn có cơ hội thì còn gặp mặt, còn gì hơn phải không.  Tao còn chưa biết hết Thủ Đức.  Lần sau về được chắc phải lên ở nhà Lan nhiều hơn nữa, để được hưởng sự vui vẻ sống động cuả Xuân Lan.  Thủ Đức không chật như Sài gòn, nếu về hưu ở nột nơi tương tự như vậy chắc dễ thở hơn SG.  Thêm nữa, nếu có ngày mày chính thức về sống cùng anh Tạo thì tao cũng muốn được có mặt chung vui với mày…

   Tao đã xa Sài gòn, xa lắm…Viết lá thư này cho mày mà tao tốn đến 3 hrs, đọc lại một lần thấy phải thêm chỗ này bớt chỗ nọ.  Đọc thêm lần nữa tao chắc sẽ không gửi, thôi vậy, gửi cho xong…

Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng
Sài gòn bây giờ cúi mặt xa nhau
Sài gòn bước ai gõ xuống đêm sầu
Sài gòn bóng nghiêng Sài gòn đứng đợi
Sài Gòn bây giờ cúi mặt xa nhau
…

5.
    Mây rủ anh Tư vào con đê đi bộ.  Hôm nay nóng, sắc trời như bị đục đi vì một lớp bụi trong mờ trong không gian.  Bước lên cao, gió thổi nhè nhẹ man mát, Mây nhớ Tân, nhớ lại những ngày ngắn ngủi ở Việt Nam.  Tân mới email, nói chuyện anh Toản của Tân đã mất sau 1 năm chống chọi ung thư phổi.  Cái Tâm cùng cơ quan, mới lần nào về thăm Tân mà Mây đã gặp, cũng ra đi với ung thư gì đó.  Tâm còn trẻ quá, Mây buồn.  Tân vẫn lửng lơ cùng Tạo, Tân vẫn là giòng suối lẻ loi.  Chữ Tân viết như gợi tiếng gió khô lùa qua miền cao nguyên quê Tân, hoang vu buồn tênh, và Mây như thấy cái buồn trong mắt Tân.  Thoáng chốc Mây biết, rồi Mây sẽ phải trở lại Sài Gòn, trở lại cái quê hương đã khép không chờ đón ai ấy, và khi Tân chết, khi Mây chết, cái quê hương héo mòn ấy sẽ hoàn tất một dáng hình. 

Lưu Na
06/14/2012

Wednesday, July 4, 2012


Không định viết
rồi cũng phải viết vài hàng
khi Giác ra đi 

Đinh Cường

                                                      
                                                

                                                         Nguyễn Mộng Giác

Ra đi thật rồi sau cơn đau dài
Nguyễn Mộng Giác người bạn hiền lành
của chúng tôi có nụ cười lúm đồng tiền
tóc gợn sóng đôi kính cận
nhớ huế nhớ qui nhơn nhớ sàigòn
gặp nhau ngày xa xưa
nhớ mùa hè hoa cỏ khô chạy vòng vòng
trên bãi cát trắng bờ biển qui nhơn
nhớ hàng hoa sầu đông tím nhạt
ở bến ngự, ngõ trúc vỹ dạ
nhớ nhà từ đuờng nguyễn khoa, nguyễn khoa
diệu chi vợ giác luôn nở nụ cười …

Tôi như còn nghe tiếng Diệu Chi cười nói
như lấp đi nỗi đau khó xẻ chia
Giác ơi nhắm mắt rồi sao nhắm mắt đi vào
hư vô đi vào trăng sao dù mùa biển động
biển động rồi kia em đừng tìm kiếm nữa
không còn con dã tràng nào đâu và hàng thùy dương reo
như buổi chiều cuối cùng giã từ sơn khê biển nhớ
như cơn bão vừa qua virginia khi giác thở hơi cuối cùng
đêm trước ngày rằm một ngày không có trăng [1]

Cây nhang thắp khói bay nhẹ vào hư không
lời niệm nhỏ trên môi khô Giác ra đi nghe
nhớ phòng 25 A  Alta Gardens Care Center
ở đường Blackbird, Garden Grove, tháng tư vừa qua
huy phương đưa nguyễn xuân thiệp và tôi
đến thăm Giác không gặp sau đó hoàng thi thao
phone nói gặp Giác ở quán vỹ dạ
chúng tôi đã đến đó gặp nhau mừng tủi
Giác như ứa  nước mắt chúng tôi như ứa nước mắt
buổi ăn cuối cùng đó sao buổi ăn ở vỹ dạ.

Không định viết nhưng khi ngồi vẽ chơi với hai cháu nội
tôi đã nhắm mắt nhớ bạn vẽ trong từng sát na
khuôn mặt hiền từ tình nghĩa tròn vẹn
như bài viết của nguyễn chí kham đọc đã lâu rất hay
và làm sao tôi quên những ngày đầu đến Mỹ năm 1989
đã về Cali  thăm ở với Giác và Thầy Từ Mẫn
nhà có treo bức tranh nguyên khai
nay Thầy Từ Mẫn gọi quen hơn gọi anh Võ Thắng Tiết
vẫn về ở chung nhà với Giác, nhớ căn phòng Giác nằm
nhớ năm nào về ở lại, Diệu Chi xếp tôi ở phòng với Giác
tôi ra chiếc sofa đen nằm thoải mái hơn nhìn khu vườn bên hiên nhà
đầy cây xanh tươi, nơi sofa đen này bao nhiêu bạn bè đã ngồi
đã cười nói đã chụp ảnh cùng Giác, Giác ơi …và chiếc computer bên góc
Giác chỉ chỗ làm việc thời còn lo cho tờ Văn Học …

Mùa Biển Động và Sông Côn Mùa Lũ tôi vẽ bìa nói không lấy tiền
mà Giác cứ trả, như ngày khốn khó sau bảy lăm chia nhau gói mì sợi
tình bạn tôi muốn im lặng giữ cho riêng mình mà sao như có tiếng gọi
từ sâu thẳm : Bạn ơi, tiếng người dạo trong lòng tôi như
tiếng trùng dương vọng giữa hàng thông đang lắng nghe. [2]

Tôi đang lắng nghe từng tiếng tim giữa chiều nắng lửa
ôi ngọn lửa ngày kia sẽ thiêu, tro cốt một nhà văn …[3]


Virginia, 4 July 2012
Đinh Cường 


[1] Nguyễn Mộng Giác mất 10 giờ 15 phút tối thứ hai 2 tháng 7, 2012
nhằm ngày 14 tháng 6 năm Nhâm Thìn tại tư gia, thành phố Westminster- California
[2]  Tagore- Khúc Hát Dâng Đời
[3] Lễ hỏa táng : Chủ Nhật ngày 8 tháng 7 lúc 3 giờ chiều tại nhà quàn
Peek Family Funeral Home, Westminster- California