Wednesday, July 4, 2012

thơ chiêu anh nguyễn

viết cho người con gái có khuôn mặt thiên thần 



                                                   Huỳnh Thục Vy

Ánh mắt em
                   ám ảnh tôi
Mái tóc em
                   ám ảnh tôi
Giọng nói khản đặc em
                               Ám ảnh tôi

Cô gái ngoài hai mươi
Nước da tái xanh
Nhợt nhạt
Màu biển đông
vận vào em tiếng kêu xé lòng
Lũ bán nước
“Mọi người ơi bọn nó bán sạch rồi “
Tôi khóc
Người đàn ông ngoài 60 bên cạch tôi cũng khóc
Giờ  ngồi đây gõ những dòng này
Tôi còn rơi nước mắt
…..
Vừa xong
Đọc tin em bị khóa tay bóp cổ lôi đi
Em rong kinh
Em tiều tụy
Người con gái Quảng nam thuần túy
Giọng còn pha chút trẻ con
Gánh nặng nào trên vai em ?
Cô gái ngoài đôi mươi tôi gặp một lần duy nhất
Qua tấm kiếng chắn cửa xe
Ánh nhìn em hốt hoảng
Mái tóc xổ tung   
Tôi e ngại,
Em mới gội đêm qua
Còn phảng phất mùi thơm của lòng can đảm
….
Giữa những thây ma
Những cỗ máy vận hành bằng lương thực
Em ở đâu lúc này
???????
Đoàn người đã tan rồi
Tiếng hô còn âm ỉ vang trời
Giữa một rừng bất trắc
……
Tất cả chỉ còn là hi vọng
Chắp tay cầu nguyện cho em
Cô gái can trường
Có khuôn mặt đẹp như thiên thần
Cầu mong thượng đế cho em đôi cánh
Tiếp cho em sức mạnh
Vượt qua….
Vượt qua….

C.A.N





Tuesday, July 3, 2012


Giã biệt Nguyễn Mộng Giác
Lưu Na




Đường Một Chiều ra đi ngày tắt nắng
Sông Côn Mùa Lũ nghe chơi vơi
Bão Rớt chợt thương Mùa Biển Động
Nhạt Bóng Thuyền Say im giấc mơ
Băn Khoăn đâu Tiếng Chim Vườn Cũ
Ngựa Nản
            Chân Bon
                        giã biệt đời. 

Khoảng mười năm đầu cuộc đời tỵ nạn tôi sống bằng sách, có bao nhiêu tiền đem mua sách, có bao nhiêu giờ rảnh thì cắm đầu đọc sách.  Rất bực, rất nóng lòng vì cứ phải chực chờ để đọc Mùa Biển Động, lúc đó ra được 3 cuốn rồi im một thời gian khá dài mới hoàn tất, và hoàn tất trong đôi chút nhọc nhằn thị phi.  Nguyễn Mộng Giác có vẻ là một nhà giáo hiền lành, tới đỗi tôi không nghĩ ông viết được những dòng chữ tả cảnh Nam và Tường (hình như vậy, lâu quá rồi tôi không nhớ rõ) xoắn xuýt ôm nhau vội vàng bên lề những cuộc xuống đường tranh đấu của sinh viên Huế, chiếc cúc áo dài bật đứt...  Và tôi cũng không nghĩ cái bộ vó xương xương ấy có thể dài hơi mà hoàn tất một bộ trường thiên.  Vậy mà không những một, ông làm luôn bộ thứ 2, Sông Côn Mùa Lũ.  Với đời tỵ nạn, tôi quý bộ Mùa Biển Động lắm.  Nó mang chút lịch sử của những năm cuối cuộc chiến, dẫn qua giai đoạn dâu bể, qua một hố thẳm đổi đời trong lịch sử người Việt miền Nam, cái mùa tang thương nguy biến ấy.  Cùng với những truyện ngắn viết sau này, từ trại tỵ nạn qua đến đời viết lách trên đất định cư, những đóng góp của Nguyễn Mộng Giác đủ và xứng làm một chương trong bộ sách văn học của người tỵ nạn cho chúng ta tham khảo.  Không tuyên bố, ông chỉ dùng cái bền bỉ âm thầm trong công việc của mình để nói lên sức sống, sức sinh tồn của những số phận con sâu cái kiến sau cuộc tang thương, và người trí thức không phải là một danh xưng mà là một thực thể.  Với tôi, bộ Sông Côn Mùa Lũ mang bóng dáng thực của ông hơn: một nhà giáo nghiêm túc trong công việc, chừng mực trong chữ nghĩa, một nghệ sĩ tận tâm với đời và một tâm hồn tinh tế nhạy bén với những cảm xúc của con người.  Cô An và Huệ của Nguyễn Mộng Giác lưu lại trong lòng tôi rất lâu, dù tôi đã được giới thiệu rất nhiều phóng ảnh khác của “Huệ.”   

Những năm đầu 1990, tờ Văn Học qua những lấn cấn nội bộ, với Cao Xuân Huy bị đẩy ra và những cái tên khác lần lượt thay thế vào.  Bài vở đi xuống, có những số báo thật mỏng và nghèo nàn về nội dung.  Tôi cầm tờ báo mà nản lòng.  Nói một mình NMG thì có vẻ phủ nhận công sức của cả ban biên tập, nhưng thực sự là vậy, NMG đã vực tờ Văn Học đứng lên.  Nội dung tờ báo giữ đủ tiêu chí của một tạp chí văn học, rất ít khi có bài “tạp” thiếu tiêu chuẩn chữ nghĩa hay nghèo nàn nội dung.  Tuy Văn Học có thể bị xem như “già” nhưng với tôi đó là cuốn tạp chí có giá trị với những bài nghiên cứu văn, sử, những bài tiểu luận phê bình đặc sắc, và truyện thơ khá đều khá vững.  Công khó của NMG kết thúc với cái hậu của chuyện cư xử: khi biết mình có bịnh nan y, NMG giao Văn học lại cho Cao Xuân Huy, tổng thư ký cũ của Văn học.  Lui về tịnh dưỡng, ông vẫn còn góp chữ với đời chứ không buông tay.  Hành trình một đời người, một cây viết thực đã quá trọn quá đầy.  Xin cảm ơn và giã biệt nhà văn Nguyễn Mộng Giác. 

Lưu Na
07/03/2012





thơ nguyễn xuân thiệp

Giác đi.
có tôi và bông hải đào nói lời chia tay


                                         
                          
                              Nguyễn Mộng Giác. Đinh Cường vẽ July 2. 2012



                                     chúng ta sống để nhìn bạn bè ra đi

gíác đã đi sao
giác của diệu chi
không còn nghe tiếng cười như nắng vỡ trên những bông trúc đào dọc theo các con đường ở westminster
không còn thấy ánh mắt nheo
nhắc đến tên dung của tôi
và diệu uyển
nhớ buổi đầu tiên tới mỹ
qua hoàng khởi phong. giác lấy những bài thơ của tôi và đăng lên văn học
rồi giác xuất bản ‘tôi cùng gió mùa’ của tôi
và tổ chức họp mặt anh em ở nhà giác ký tặng sách
có lê uyên phương và lê uyên hát ‘tôi muốn yêu tôi muốn tin cuộc đời’
và bùi bích hà và trần mộng tú đến nghe đọc thơ tôi. có dung ngồi bên nhắc từng câu từng chữ khi tôi quên
có nguyễn xuân hoàng và hải phương nhắc thời ở pleiku
có đặng thơ thơ . và phùng  nguyễn. lần đầu tiên gặp
mới đó mà đã hơn 15 năm trôi qua
rồi giác lâm trọng bịnh
nhưng mỗi khi tôi gọi phone cho diệu chi đều nghe tiếng cười của giác
giác ơi
hãy nhớ cùng tôi
hãy nhớ cùng tôi
nếu còn trí nhớ
cách đây hai tháng. đinh cường và tôi sang cali gặp giác ở quán vỹ dạ. giác cười. rưng rưng nước mắt. như đã thấy được ngày chia tay hôm nay
ơ. sao nắng cali vẫn lóe trên những hàng cây
ở đây hoa hải đào nở rực trước căn nhà tôi mướn
bảy cây hải đào. với những cành vươn ra trong gió. thả rơi những bông hồng hồng vình biệt
như cách đây hơn mười năm vĩnh biệt lê uyên phương
giờ đây vĩnh biệt giác
ôi một người đi
mà sao nắng vỡ trong mắt tôi
buổi sáng quá buồn
thôi chia tay giác
mình ở lại
diệu chi ở lại
để tưởng nhớ một thời có giác
và tiếng cười trong căn nhà xưa

Sáng ngày july 3. 2012
khi nhận được email lữ quỳnh báo tin giác ra đi
NXT



                                            Đinh Cường. NXThiệp, NMộng Giác



                                             NXThiệp. Diệu Chi. NMGiác

Monday, July 2, 2012


Hành trình về đến trái tim 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh 


                                               

                                                     Ai cũng mơ trở về nguồn cội
                                             (Hình Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh) 

    Ông Paul vui vẻ nhận con vịt làm từ bắp cải thảo rất khéo. Con vịt có thân mình mập mạp, đôi cánh xếp thẳng xuôi theo mình, còn đôi chân thì “tác giả” đã khéo léo giấu chúng mất rồi, cũng không sao, con vịt đang bơi nên giấu chân dưới mặt nước chăng? “Mặt nước”, chính là cái nền đĩa màu xanh lơ.
   Tôi quen ông từ buổi đó, cái đêm văn nghệ gây quỹ của một tòa soạn báo dành cho người gốc Việt. Ông là một trong số rất ít những người không phải gốc Việt tham dự. Ông chưa nói với tôi tại sao ông có mặt. Những người trong ban tổ chức thì chắc biết nhiều về ông. Riêng tôi, tôi muốn ông chỉ là bạn của tôi, thế là đủ.
   Tôi thấy mình có một cảm tình rất tự nhiên đối với ông, ngay khi ông đứng lên ghi danh xin tặng một số tiền và nhận món hàng mỹ thuật rất “nhà bếp” này. Số là có một nữ sinh tình nguyện làm hai con vịt trắng tinh bằng cải bắp thảo để tặng cho ban tổ chức trưng bày rồi sau đó… xổ số. Nhưng rồi cuộc xổ số đã không diễn ra mà lại biến thành một buổi quyên góp. Ai muốn tặng bao nhiêu thì tặng, tùy hỉ. Và dù số tiền tặng là bao nhiêu, người ghi danh đầu tiên cũng sẽ được nhận món quà trong số những món quà được đưa ra. Khi ông Paul đứng lên để nhận con vịt, ông không thể bưng bằng cả hai tay. Một tay, vâng, bàn tay phải của ông, không thể sử dụng được. Tôi, từ trong một nhóm khán giả ngồi gần đó, đã nhanh chân chạy đến bưng món quà giúp ông. 

   Và như thế, sau vài câu hỏi han thông thường, chúng tôi quen nhau. 

2 

   Tôi ghé thăm ông Paul sau giờ tan sở. Ông đang đứng trước giá vẽ. Ông vẽ bằng tay trái. Còn bàn tay phải yếu ớt của ông chỉ để làm những động tác phụ. Căn phòng trong khu chung cư đủ nhỏ để bề bộn những vật dụng của ông. Tôi dọn nhanh những khung vải, những tấm giấy to vào một chỗ, rồi đến sau lưng ông để ngắm bức vẽ đang dở dang của ông. Ông vẽ một người phụ nữ. Dáng người thanh mảnh, hơi gầy một chút. Mái tóc dài. Chỉ mới có khuôn mặt nhưng cũng làm cho người xem đoán chừng đó là một cô gái đẹp.
   Ông bảo tôi tự lấy nước uống. Tôi đi đến tủ lạnh. Chỉ vài lần đến đây, tôi nay đã xem mình như người nhà của ông rồi.

    Tôi chợt nhớ tuần tới là sinh nhật của mẹ. Mà cũng đã lâu tôi không gọi cho mẹ. Tôi móc điện thoại ra và gọi về. Mẹ có ngay ở đó. Tôi biết mẹ vẫn ngồi nơi bàn làm việc, dù mẹ về hưu đã hơn hai mươi năm rồi. Sau lưng mẹ là một giàn kệ sách. Sách ngập tràn, như một thư viện. Tôi từ thuở bé đã từng chơi “trốn tìm” – ngày xưa chúng tôi gọi đó là trò chơi “năm mười”- với mấy anh chị em trong cái rừng sách đó. Và cũng vì ham chơi trong ấy, tôi đã trở thành một con mọt sách. Tôi lớn lớn một chút, mẹ chỉ cho tôi những sách phải coi. Mẹ là giáo sư dạy Sử. Và đương nhiên, tôi làm con mọt trong một lô sách Sử.
   Mẹ hỏi tôi:
   -Thế bao giờ con mới chịu về cho mẹ gặp?
   - Dạ, mẹ ơi, cho con thong thả chút…
   - Bao giờ con mới thong thả? Bao nhiêu năm nay rồi, mẹ con mình chỉ gặp nhau trong hình. Con đợi lấy vợ, rồi sinh con, và chắc đợi sinh đủ chục rồi mới về hở con?
-  Không phải…
-  Hay con đợi mẹ mất rồi con mới về?
Vn những câu trách móc đó. Tôi nghe mắt tôi cay xé. Mẹ ơi mẹ không hiểu đâu!..

Nhưng tôi giả vờ cười thành tiếng rồi chào từ giã mẹ, nói rằng tôi phải đi làm.

 Khi tôi trở lại thì bức vẽ của ông Paul đã tạm xong. Người phụ nữ trong tranh đã rõ nét. Gương mặt là của một thiếu nữ tuổi đôi mươi. Ông Paul vẽ không sắc sảo như một họa sĩ nhà nghề. Nhưng cái hồn của bức tranh như đang thấp thoáng. Ông nheo mắt với tôi:
-  Tôi vẽ theo trí nhớ, cậu em ạ!
-  Thật sao? Một người quen của ông?
-  Phải.
-  Một người con gái Việt Nam?
- Đúng.
- Xinh quá!
Ông Paul cười thú vị:
- Cậu khen nét vẽ của tôi, hay khen người con gái?
Tôi ngơ ngác, luống cuống, rồi chống chế:
- Ơ… thưa… cả hai ạ.
-  Cậu khôn thế?
 Ông và tôi cùng cười vui vẻ. Cũng không có gì lạ, ông Paul thường tham dự những buổi sinh hoạt của cộng đồng Việt.  Ông bảo lúc đầu ông được mời, sau dần dần ông mến. Ông biết ăn món ăn Việt, biết hát cả nhạc Việt. Có lần ông bảo “Đúng ra tôi phải là người Việt”.
 Tôi trở lại với bức tranh. Tôi tò mò, không ngăn được mình hỏi:
-  Cô gái này, đang ở đâu hở ông?
Ông Paul giật mình, hỏi lại:
 -  Cậu muốn biết?
 -  Vâng.
 -  Cô ấy không có ở đây, cô ở xa lắm!
 -  Tiểu bang nào hở ông?
 -  Cô ấy ở Việt Nam.
 -  Ủa, ông có đi Việt Nam?
 -   Không… À, có, nhưng rất lâu rồi, đã hơn bốn mươi năm.
 Tôi lại càng thắc mắc dữ. Tôi hỏi nữa:
 -  Vậy cô gái này…???
-  Lúc đó, cô ấy như thế này.
 Tôi thôi hỏi. Tôi hiểu. Đây là một hình bóng cũ của ông.

 3

 Mẹ tôi đẹp lắm, ít ra là đối với riêng tôi. Cái vẻ đẹp của người phụ nữ miền Tây, nó ngồ ngộ, đáng mến lắm! Tôi là con trai, lại ham mê sách vở, suốt ngày vùi đầu trong đống sách Sử của mẹ, ít chú ý đến chuyện mỹ thuật. Nhưng hồ như từ khi tôi biết suy nghĩ, cái hình bóng thân thương của mẹ đối với tôi đã là tất cả. Mà tôi đâu phải là con một. Mẹ còn có cả bầy con. Đứa nào đứa nấy phá như quỷ sứ.
Tôi đi xa mẹ đã lâu, hơn hai mươi năm rồi. Ngày tôi đi, mẹ còn khoẻ, đến nay mẹ đã tám mươi. Những năm đầu tôi xa nhà, đối với tôi như là đi đày. Tôi chỉ có thể viết tay những lá thư và gửi bưu điện về cho mẹ. Thư đi mất gần cả tháng. Gọi điện thoại thì tôi không dám nghĩ đến. Sau này, tôi tận dụng phương tiện “tối tân” như viết email, và giá cước điện thoại cũng tương đối khá rẻ, tôi mới gọi điện thoại cho mẹ thường xuyên. Chưa hết, gần đây tôi còn biết mua cái webcam để mẹ con tôi có thể “gặp” nhau.
Chính nhờ vậy mà tôi muốn khoe với mẹ về “người bạn lớn” của tôi. “Bạn vong niên” đấy! Ông Paul. Tôi mở webcam lên và bảo ông Paul ngồi bên cạnh tôi. Mẹ đã xuất hiện rồi! Tôi giới thiệu họ với nhau:
- Mẹ ơi, đây là ông Paul, bạn mới của con. Ông Paul, đây là mẹ tôi.
Hai người chào nhau. Mẹ nói tiếng Anh cũng rất giỏi nên câu chuyện khá trôi chảy. Rồi mẹ hỏi tôi:
- Cái bức tranh sau lưng con, là do ông Paul vẽ ư?
- Dạ phải.
- Trông đẹp lắm con à!
- Dạ. Mẹ thấy… có quen không?
- Không. Mẹ chỉ thấy đó là nét của người con gái Việt Nam.
Mẹ lại nói lời khen ông Paul về bức vẽ. Ông cám ơn. Thế là xong một cuộc trò chuyện.
Tôi mang cái laptop ra chỗ khác để tiếp tục hàn huyên với mẹ mà không gây vướng bận cho ông Paul. Mẹ hỏi tôi:
-Ông Paul ấy… ra sao hở con?
 - Ông tốt lắm mẹ à! Ông là cựu quân nhân, giải ngũ lâu rồi. Ông thích sinh hoạt trong cộng đồng người Việt ở đây lắm. Chuyện gì cần đến sự giúp đỡ là có ông.
 - Ông đặc biệt mến người Việt hở con?
- Dạ.
- Con có biết gì thêm về cuộc đời của ông ấy không?
- Dạ không. Khi nào ông ấy thích nói thì ông tự nói, con không muốn hỏi. Con thấy ông có vẻ buồn bồn thế nào ấy!
 - Mẹ cũng thấy vậy. Thôi, mình hãy tôn trọng những gì mà người ta chưa muốn thố lộ với mình, nhé! Mẹ đi nghỉ đây! Già rồi, làm cái gì cũng không ngồi được lâu.
Tôi lại cảm thấy mình có lỗi. Mẹ sắp nói lên nỗi buồn xa con. Mẹ ơi mẹ có biết không???

 - Tôi là một cựu quân nhân. Cậu đã biết rồi đấy! Và chiến trường tôi tham dự là Việt Nam. Lúc tôi sang đó, chắc cậu còn ở tận đâu đâu.
- Vâng. Ông đáng tuổi cha tôi.
- Phải. Cha của cậu… có ở với cậu không?
- Không.
- Ồ, vậy xin lỗi… ông ấy ở đâu?
- Tôi… không biết.

Ông Paul có hơi ngập ngừng. Nếu là tôi, tôi cũng sẽ ngầm hỏi “cha của cậu còn sống hay đã chết?”. Tôi không muốn để ông thắc mắc lâu, vì cho đến nay ông cũng đã tâm sự đôi điều với tôi về ông. Tôi nói:
 - Ông Paul, tôi không biết mặt cha tôi.
Rồi tôi khựng lại. Ông cũng như hẫng đi trong một tích-tắc. Có tiếng thở ra nhè nhẹ nhưng tôi đã kịp nghe. Tôi nhắm mắt lại. Hình như tôi đã nói ra một điều mà từ nhỏ đến nay tôi rất ít khi muốn nói: “Tôi không biết cha tôi là ai”. Rồi bỗng nhiên tôi có cảm giác ông Paul đang nhìn tôi. Tôi mở mắt ra. Thật vậy, ông đang nhìn tôi chăm chú. Tia mắt ông lạ kỳ.
Giây lát sau, ông Paul hỏi tôi, giọng thật nhẹ:
- Cậu chưa từng biết mặt cha?
Tôi lắc đầu. Có một nỗi gì đau nhói trong lồng ngực tôi. Nhìn ông Paul, bỗng dưng tôi muốn thố lộ như với một người bạn.
-  Đúng ra là tôi không biết cả cha lẫn mẹ. Tôi lớn lên đến như bây giờ, vẫn thao thức về nguồn gốc ca mình. Người mà ông nói chuyện đó, là mẹ nuôi của tôi. Khi tôi có trí khôn thì đã thấy mình là con của mẹ. Mẹ tôi có cả một bầy con hơn chục đứa. Là do bà nhận nuôi từ viện mồ côi. Tôi là một trong số đó.
Đôi mắt của ông Paul như có cái gì làm trĩu nặng. Đôi lông mày cau lại. Những đường nét của thời gian như hằn sâu thêm trên trán ông. Ông lẩm bẩm:
- Bà ấy thật là một người quá tử tế.
- Phải, một bà mẹ tuyệt vời ông ạ. Bà là nhà giáo. Bà dạy Sử. Tôi không hiểu vì sao mà bà lại có một tấm lòng lớn lao như vậy. Bà là con trong một gia đình của một vị quan cáo lão về hưu, muốn con cháu mình tiếp nối sự nghiệp giáo dục. Vậy mà bà chỉ có được tôi là đứa con nuôi mê sách Sử. Mấy người kia chỉ thích chuyện khác. Bà yêu thương tôi lắm, thường giảng giải cho tôi nghe về những sự kiện trong sử Việt. Tôi có trí nhớ khá tốt nên những cái mốc lịch sử tôi hầu như thuộc nằm lòng.
-  Tôi thật rất ngạc nhiên đấy cậu à!
-  Không ai nhìn tôi mà nghĩ rằng tôi là người yêu Việt Sử đâu ông Paul. Tôi không có vẻ gì là Việt Nam cả, đúng không ông?
Ông Paul gật gù đồng ý.

5

Tôi nhớ Việt Nam da diết. Tôi nhớ mẹ và mái nhà thân yêu trong khu phố cũ kỹ ở Sài Gòn. Tôi nhớ mấy anh chị em khác cha khác mẹ cùng lớn lên, học hành, chơi đùa dưới một mái ấm. Mẹ tôi, vâng, mẹ của chúng tôi là mẹ chung. Bà ôm từng đứa, từng đứa chúng tôi từ cô nhi viện về nhà. Bà không biết cha mẹ của từng đứa là ai. Bà chỉ quen biết với viện trưởng của cô nhi viện, người cưu mang chúng tôi. Dưới mái nhà thân yêu của bà, chúng tôi lớn lên như một cái xã hội nhỏ. Có đứa ngoan ngoãn, có đứa hung hăng, có đứa hiếu động, có đứa trầm lặng… Nhưng chúng tôi đều hiểu được rằng mẹ đã hy sinh rất nhiều để trọn vẹn làm một bà mẹ chung. Bầy con thì đứa trắng, đứa vàng, đứa da đen. Mẹ ôm hết, ôm hết. Vòng tay của mẹ bao la lắm! Cho đến ngày chúng tôi tạm gọi là lớn khôn thì bà cũng vừa đến lúc cần nghỉ ngơi. Từng đứa, lại từng đứa, đi ra khỏi mái ấm. Tôi là đứa ở lại cuối cùng. Không phải vì tôi nhỏ tuổi nhất, mà bởi vì tôi không muốn lìa xa mẹ. Nhưng cho đến một ngày, mẹ bảo tôi hãy đi, như những anh chị em khác. Mẹ nói tôi là đứa thông minh nhất, cần bay nhảy, cần có nơi chốn để học hành. Và con đường duy nhất mà mẹ chọn cho tôi, là con đường đi Mỹ.

Tôi đi Mỹ. Tôi đi Mỹ theo chương trình con lai.
Và quả thật, mảnh đất lành đã đón tôi. Dù phải trải qua những ngày cô đơn, lo lắng, nhưng tôi không còn có cái cảm giác sợ hãi của một đứa trẻ lớn lên bị phân biệt đối xử như ngày xưa. Tôi không còn lo bước vào lớp bị bạn bè bắt nạt, thầy cô la mắng. Tôi, tuổi đôi mươi, tự bước những bước đi vững chãi. Tôi đi học. Tôi ra trường. Tôi có việc làm. Nhưng tôi vẫn không quên sử Việt. Là bởi vì tôi vẫn là người Việt. Tôi là con của mẹ.
Rất nhiều khi tôi băn khoăn tự hỏi tôi là ai. Bởi tôi không biết cha mẹ ruột của mình. Tôi từ đâu đến? Tại sao tôi có mặt ở cô nhi viện? Những ngày làm bạn với ông Paul tôi lại càng khắc khoải nhiều về những câu hỏi ấy. Chưa bao giờ nỗi ao ước gặp lại, hay ít ra biết tin tức về cha mẹ ruột lại to lớn, thúc giục như vậy.

Cũng thật tự nhiên, một hôm ông Paul tâm sự cùng với tôi, như thể ông cũng đã thấu cảm được những ý nghĩ của tôi. Ông bảo ông rất muốn tìm lại những người thân của ông. Tôi ngồi yên lặng nghe ông kể. Khi ông sang Việt Nam, đó là vào khoảng thời gian khốc liệt nhất. Ông quen một nữ cứu thương, người đã cứu ông ra khỏi nguy cơ hoại tử của bàn tay phải bị trúng đạn. Ông và cô ấy yêu nhau. Tình yêu hiền hòa nhưng cũng rất mãnh liệt. Ông bảo sẽ cưới cô khi ông giải ngũ. Cô nghỉ phép về Huế để thăm nhà. Và cũng là để nhận những lời mắng chửi từ gia đình vì cô đã để mang thai với một người ngoại quốc. Ông thúc giục cô hãy trở vào Sài Gòn, cùng ông tiếp tục phấn đấu cho một cuộc sống mới. Nhưng ông đã bặt tin cô. Chiến cuộc xảy ra. Cô đã biến mất.
Tôi khóc. Một đấng nam nhi phải khóc khi được tâm tình với người bạn vong niên. Như là tôi đang khóc vì chuyện mình.
Tôi nghe có một bàn tay đặt lên vai tôi, an ủi…

6

- Dậy đi con! Dậy đi con!
Tôi dụi mắt, ngơ ngác. Nghe như tiếng mẹ gọi dậy mỗi sớm chuẩn bị đến trường. Tôi định thần. À thì ra là tôi nghe tiếng chuông điện thoại, vào cái giờ rất quen thuộc ngày xưa được mẹ gọi dậy. Nhưng bây giờ bên nhà là đêm. Mẹ thường ngủ sớm, lại ít khi gọi điện thoại cho tôi, chỉ chờ tôi gọi.
- A-lô, mẹ hả? Sao mẹ gọi con vậy? Mẹ có khoẻ không?
- Mẹ khỏe. Nhưng con à, mẹ có việc này muốn nói với con ngay.
- Sao mẹ?
- Hôm qua tự nhiên mẹ nhớ lại một gương mặt rất quen. Nó nằm ở đâu trong trí nhớ lờ mờ, không rõ rệt. Mẹ không nhớ như nhớ một người thân hay một người bạn. Mà là gương mặt của một người đàn bà tuổi khoảng năm mươi, nhưng lại có nét rất giống người con gái trẻ trong bức vẽ của ông Paul con ạ!
- Con chưa hiểu mẹ ơi, người đó có liên quan gì đến mình không?
- Không, mẹ không quen người đó. Nhưng cái ánh mắt người đàn bà đó trông theo mẹ, như đã vào nằm trong vô thức của mẹ mà mẹ không biết. Cho đến hôm qua, khi mẹ thấy gương mặt ấy nổi lên, mẹ đã không cầm được và chạy đến cô nhi viện. Mẹ năn nỉ viện trưởng lúc này cũng đã quá già yếu, cho mẹ biết lai lịch của một đứa con của mẹ. Bà lục lại giấy tờ và cho biết đứa bé này được giao cho viện bởi bà ngoại của cháu. Bà đã đưa cháu đi một đoạn đường thật xa, từ Huế vào Sài Gòn, cốt để tránh tai tiếng. Bà ngoại đã dứt đứa trẻ ra khỏi tay người mẹ của cháu. Khi biết đứa bé đã được mẹ nhận nuôi, bà trở về Huế. Nhưng sau chiến cuộc Tết Mậu Thân ấy, bà không còn trở lại viện nữa. Viện trưởng chỉ có chừng đó thông tin.
Tôi nuốt nước bọt, nói khó khăn:
- Mẹ ơi, xin mẹ hãy kể tiếp.
- Cái ánh mắt của người đàn bà đó, mẹ dần dần nhớ ra, rõ nét con ạ! Người đàn bà đứng ở một góc rất xa, nhìn về phía mẹ con mình. Đôi mắt xót xa, hối hận, van lơn, nhắn gửi…
- Mẹ con mình hở mẹ?
- Phải.
- Đôi mắt của bà ngoại con, phải không mẹ?
- Thằng con của mẹ thật thông minh.
- ?
Ông Paul đã nghe tôi kể lại câu chuyện. Chúng tôi chỉ có chung những chi tiết thật ít ỏi, là loạn ly, đứa con lai, người con gái ở Huế. Là gia đình không chấp nhận cuộc tình của hai người trẻ lúc ấy. Là thời điểm Tết Mậu Thân. Rồi thôi. Không có một giấy tờ gì hay một bức ảnh nào làm bằng chứng. Có thể là gia đình ngoại tôi cũng đã không còn. Tuổi ấu thơ của tôi như một dấu lặng trống trải. Có thể cuộc hành trình tìm về cội nguồn của tôi sẽ phải dừng lại.
Tôi lén nhìn ông Paul. Ông đang đi đến bên bức vẽ. Bàn tay ông sờ lên khuôn mặt của người con gái. Tôi thấy được một trời yêu dấu qua bàn tay phải yếu ớt đó. Và khi ông quay lại, tôi thấy đôi mắt ông đầy lệ.
Tự nhiên tôi thấy tôi ôm chầm lấy ông, trong một cử chỉ không chủ ý. Tôi nghe được trái tim của ông đang đập. Ông hỏi tôi:
- Ta có thể làm cha của cậu không?
-  Có thể, ông Paul.
- Chúng ta cũng có thể chỉ là người dưng nước lã mà thôi. Chuyện của cậu, chuyện của tôi chỉ là một trong vô vàn những mẩu chuyện đau thương của cuộc chiến. Một điều đơn giản mà khoa học ngày nay có thể dễ dàng giúp chúng ta tìm ra sự liên hệ…. là DNA đấy, cậu em ạ!
- Vâng, thưa cha.
- Nhưng …
- Nhưng thưa cha, cho dù có là thế nào đi nữa, con cũng xin được làm con của cha. Bởi cha và con đã “tuần dưỡng” nhau rồi!
- Ta đồng ý, con trai của ta!

Tháng 5,2012
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Sunday, July 1, 2012


thơ nguyễn xuân thiệp 

sáng nay.
nắng lên. nghe tin bão rớt
ở miền đông. và biểu tình ở sài gòn





                                            Tiếng đàn của người đi biểu tình 

sáng nay
nắng lên. ngoài khung cửa
ngồi đọc tin
bão. ở miền đông
sập nhà
cây cối. ngã gãy. đầy đường
người chết. mất điện. kẻ sống sót như những chiếc lá khô
ôi
chiêu anh vừa gởi hình và những video clip
công viên nhà thờ đức bà. những hàng cây xanh
ánh nắng trên những chùm bông giấy
biểu tình ở sài gòn. qua những con đường ngày xưa anh cùng người đã đi
chiêu anh viết
anh ơi
hôm nay. em khóc mấy lần. nhìn cảnh những người trẻ và bạn bè bị bắt đẩy lên xe chở đi
chỉ vì kêu gào
hoàng sa trường sa cho tổ quốc
ôi anh
làm sao em làm thơ
vâng
làm sao em làm thơ
chiêu anh ơi
thơ. như thơ anh. thơ em. chỉ là tiếng nói của một người
lẻ loi. cô độc  
nhưng rồi
triệu tiếng nói. sẽ cất lên. làm sụp đổ bức tường ý hệ. và lũ người câm

sáng nay
nắng lên ngoài khung cửa
sao không có nắng trong thơ tôi. trong lòng chiêu anh
tôi hỏi tôi
tôi hỏi trời
trời. đất. lặng thinh
chim bay chim bay

8:00 am. July1. 2012
NXT

KHI XA SÀI GÒN
Lưu Na



                                          Chim thiên di 

1.

Chiều mát, anh Tư rủ Mây đi bộ.  Đi chỗ nào?  Bolsa Chica há?  Ok.  Hai đứa mang giầy nón áo rồi ra xe.  Bữa nay Mây đã nhớ đường đến nơi ấy, không cần phải đi đến cuối đường Beach để ra Pacific Coast Highway rồi mới quẹo xuống Bolsa Chica.  Đi như vậy thì như mình đi 2 cạnh dài của cái tam giác cân.  Mây bật cười thầm cho sự so sánh ấy cũng như khả năng đi đường của mình. 

Trong lúc đi vòng để vào bãi đậu xe Mây thấy đông người tụ tập nơi một hồ nước sát mặt đường.  Thấy gần nhưng cũng như lúc vào bãi đậu xe, hai đứa phải đi một đỗi xa mới đến nơi.  Mặt hồ xao động, nơi người ta tụ đông nhất có cái gì chuyển động dưới làn nước theo vòng tròn.  Thì ra là một chú cá heo nhỏ, độ hơn một thước, bị lạc từ biển bên kia đại lộ theo kinh đào vào khu đất đầm lầy này.  Khu sinh thái được bảo tồn rất rộng và là nơi gầy tổ giữ giống cho sinh vật của vùng đất đặc biệt ấy.  Chú cá heo cứ mỗi vòng nhỏ lại nhào lên một lần lấy hơi, không biết nước trong hồ là nước mặn như ngoài biển kia hay chỉ là nước lợ.  Tội nghiệp, hình như chú bị stressed vì lạc bầy.  Ai bị lạc mà không hoang mang lo sợ.  Lạc mất nơi sinh sống, cái ấy nguy, Mây thầm liên tưởng. 

Hai đứa xem một lúc chán, rủ nhau đi tiếp.  Cả một vùng đất mênh mông, sáng lòa dưới ánh chiều tà.  Đó đây rải rác những dáng người nhỏ như kiến với quần áo đủ màu sắc, bò chầm chậm từ từ trên những con đê dài nối liền bao bọc khuôn viên_ chỗ dẫn lên đồi cao, chỗ lài xuống vũng hồ, chỗ song song theo lạch nước.  Lác đác những tấm bảng cấm nho nhỏ, ngăn việc bước trệch lối đi gây nguy hại cho những gì đang được gieo giữ bảo tồn.  Nơi hoang dã đây người ta quí thiên nhiên, quí từ con sâu cái kiến, và ngoài phố thị kia thì cũng là người ta tàn hại nhau theo cách riêng. “Nơi đây thành phố mới xa lạ, con chim rừng lạ cây nhớ cành…” Mây nhớ câu hát ca tụng việc đến vùng kinh tế mới để xây đắp tương lai (!) mà anh bạn cùng lớp đã hát năm nào, không biết bây giờ anh ở đâu.  Mây ráng mà không nhớ tên, bước tới bước tới, rồi quên nhau khi nào không ai rõ. 

Bước đều chậm trên đê Mây như mê mẩn với sắc trời bãng lãng trong gió.  Chỉ một khoảng thiên nhiên mở rộng là cảm ngay cái nhỏ bé của mình và cái vô nghĩa của cuộc sống đua chen.  Những lúc ấy Mây thường tần ngần ngẫm nghĩ dù miệng vẫn nói chuyện đều đều với anh Tư.  Cảm nghĩ nhiều khi không phải là điều dễ chia sẻ, nhất là nó thành hình và biến đổi như mây trời.  Chợt anh Tư níu tay Mây giữ lại, miệng nói “coi chừng.”  Mây nhìn quanh ngơ ngác.  Anh Tư cằn nhằn 

_Mây đi phải ngó chứ, vấp té mấy lần rồi mà vẫn cứ không để ý.  

Mây cười trừ, giả lả nói chuyện khác cho qua.  Chốc sau thì Mây đã lại ngó lên trời.  Đê, từ nhỏ tới giờ Mây chưa đi trên đê.  Những con đê Việt Nam, nó có rộng dài bát ngát như ở đây?  Những con đê, nó có phải là xương sống của cuộc đời, nó có mang thần khí của ai không?  Của người dân của đất nước, của con sông dòng nước theo dưới chân?  Bước chân Mây lạo xạo trên đất khô và đá sỏi vặt vãnh.  Nơi đây dù là văn minh rất mực người ta cũng không tráng nhựa con đê, Mây tẩn mẩn ngẫm nghĩ và cười vu vơ.  Anh Tư liếc Mây nhưng làm thinh.  Anh Tư đã quen cái sự vơ vẩn ấy, nhưng Mây vẫn thấy hơi ngượng, Mây bàn với anh Tư chuyến đi sắp tới.  Bên cái nôn nao được về thăm quê còn là cái nôn nao được ra Bắc.  Ở ngay trong nước Mây còn chưa biết hết quận 3 Sài Gòn.  Bây giờ được đi thì bao nhiêu ít nhiều gì cũng đều là chuyện đáng bàn !!!  Những năm tháng cũ khi Ba còn sống Mây thăm nhà mỗi năm, và mỗi lần đi là mỗi lần thấy lạc.  Sài Gòn, quê hương, quả nó chỉ còn là bóng dáng héo mòn, lắt lay trong hồn…  lại cứ mãi thấy nợ nần. 

2.

Phi cơ xuống Hà Nội cỡ 8 giờ tối.  Xếp hàng lần lượt đến trình giấy thông hành thì Mây tưởng như mình đã thở ngay bầu không khí cũ dầu đã 8 năm qua rồi mới trở lại Việt Nam.  Công ty du lịch làm việc rất cẩn thận.  Vài ngày trước khi lên đường có một buổi gặp mặt để dặn dò.  Những gì cần làm khi xuống phi trường, lịch trình chi tiết, giới thiệu hướng dẫn viên, đề nghị hành lý v.v…  Ngày ra phi trường nhân viên công ty cũng ra phi trường để giúp chuyện check-in và tiễn khách lên đường.  Bây giờ chưa ra khỏi khu kiểm soát thì chưa có hướng dẫn viên, mọi người chỉ có nhau và tự động ai nấy im lặng chăm chú với những khuôn mặt lạnh như tiền của nhân viên hải quan. 

Qua một cửa, thoát một ải.  Bên ngoài, anh Hiển tour guide đã chờ sẵn.  Anh rất khôn ngoan lanh lẹ, mọi người yên lòng.  Gió đêm của trời Hà nội cuối tháng Mười nhè nhẹ và hơi khô, Mây không thấy chút hơi Thu hay chút gì gọi là se lạnh của mùa màng nơi cái xứ huyền mơ mà mấy mươi năm nay thường nghe thiên hạ nhắc.  Xe lăn êm trong ánh đèn vàng vọt và lặng im của phố phường đi vào giấc ngủ.  Chỉ đến khi về lại Sài Gòn Mây mới nhận ra cái khác biệt của lúc 10 giờ tối giữa hai nơi.  Trước khi vào phòng thì mọi người đã mau mắn dồn hết vào tay Hiển những cái phone của mình: người cần unlock người cần sim Việt Nam để gọi.  Mây cười thầm tội nghiệp anh chàng phải ở đợ cho mọi người. 

5 giờ sáng, chuông điện thoại gọi mọi người thức dậy.  Xuống phòng ăn Mây mới có dịp nhìn rõ mọi người trong đoàn.  Bắt đầu thăm hỏi.  Cô luật sư này nói tiếng Việt không rành, hóa ra ở New York bay thẳng về đây gặp Bố Mẹ bay từ Los Angeles sang, để cùng đi một chuyến vacation với nhau.  Cặp Hùng Thảo mới cưới, Bố Mẹ dắt về chào họ hàng; một nhóm nhỏ vài người Việt gốc Hoa đi chơi chung; Thư và Tiếu lấy nhau mấy năm nhưng còn muốn đi chơi cho đã trước khi có con; và còn 2 cặp nữa mà Mây chưa có dịp làm quen.  Mây và anh Tư đi cùng vợ chồng Châu Donn.  Đây là một kỳ công của Châu.  Anh Tư không chịu đi đâu bao giờ.  Một ngày, Châu nói sẽ đi với Donn 2 tuần, rủ Mây và anh Tư cùng đi.  Vậy, mà anh Tư ừ cái rụp.  Mây đóng tiền vé ngay sợ anh Tư đổi ý thối lui.   

Lên xe bus ra hồ.  Hồ gì ngẫm nghĩ mãi mà không nhớ tên được, có cầu Thê Húc màu đỏ, vào đền Ngọc Sơn?  Anh Tư hỏi sao Mây biết nhiều tên thế, nhưng Mây chỉ là con vẹt lập lại những gì đã đọc, Mây không dám chắc mình đúng.  Châu luôn phải dẫn giải cùng Donn những gì xảy ra chung quanh.  Lạng qua bên đường, hình như đi vào chợ.  Mây loay hoay chụp hình loạn xạ, hướng dẫn viên nói gì cũng không nghe, để anh Tư nghe rồi lát hỏi lại cũng đâu có sao.  Nhưng hóa ra anh Tư phải coi chừng Mây chậy lung tung không theo đoàn sẽ bị lạc nên cũng chả nghe được gì.  Mây đứng giữa lòng phố cổ, lắng nghe trong lòng mình một nhịp cảm thông tìm trong óc mình chút thân quen của cái gọi là quê hương mà dường như vô vọng.  Mây ngơ ngác, người cũng người, phố cũng phố… không thấy mừng như mấy mươi năm trước lên Kuala Lumpur bên Mã Lai.  Đường đi từ trại tỵ nạn lên thủ đô phải qua một cái hầm dài cả nửa tiếng đồng hồ, băng qua nhiều ruộng nương nhà sàn.  Những cái nhà sàn mái lá không giống nhà sàn của Việt Nam, nhưng sao cái hương quê như cảm hoài, cái khó nghèo như quấn quyện.  Vào thủ đô, thấy một góc phố giống hệt Chợ Lớn_lúc đó Mây muốn khóc, Mây tưởng mình ngộ cố tri…  Anh Tư lại phải lôi Mây đi cho kịp đoàn, cứ ngớ ngẩn như vầy thì ô hô. 

Lăn lóc đến 2 giờ trưa thì về lại khách sạn để ăn trưa và lấy hành lý đi vịnh Hạ Long.  Có phải em mùa Thu Hà Nội, phải, mùa Thu Hà Nội nóng xém chết.  Mây thấy má mình cứ đỏ bừng lên và phấn son cứ trôi đi tuồn tuột người cứ rã ra vì mồ hôi.  Anh Tư bình chân như vại.  Anh thấy thường làm Mây càng ấm ức.  Thư cười khanh khách, dậy cho Mây một chiêu mới: mỗi sáng xếp sẵn 2 bộ để có dịp tắm là thay, tối về khách sạn thay tiếp.  Tiếu chỉ biết tiếng Hoa nên phải nói chuyện với vợ bằng tiếng Anh vì Thư cũng chỉ biết tiếng Việt.  Tiếu đứng đó, nghe lỗ mỗ mà không cần dịch lại vẫn biết “nó” đang nói cái gì, tình quê? 

Xe gập ghềnh đi xa Hà Nội.  Mây đâu ngờ Hạ Long ở xa Hà Nội đến vậy.  Mãi tối mới check in và ăn tối.  Cả bọn rủ nhau ra phố mua bóp cầm tay, sắc đeo vai về làm quà tặng.  Thư rất sành sõi giá cả, giỏi trả giá.  Cái bằng dược sĩ không làm hoen mờ khả năng của “cô gái Việt” !!!  Trên đường về, cả lũ đi xe giống như xe lôi về khách sạn.  Mây há hốc khi thấy một chiếc xe đạp bán hàng rong rao hàng bằng loa.  Nhưng không thấy loa, Mây hỏi anh Tư nhìn cho rõ.  Thì ra có cái máy như radio casette hay CD gì đó, thâu sẵn lời rao hàng treo ở ghi đông.  Cả bọn cười vui với sáng kiến đó.  

Sáng dậy lên tàu ra Hạ Long.  Mây sung sướng hít cái trong lành của buổi sáng, nhìn cái mờ sương của biển đảo.  Vịnh Hạ Long quả là đẹp, quả là bao la.  Mây cảm động nghĩ mình đang được biết quê hương.  Quê hương, cái tiếng mơ hồ đó không mang một hình ảnh gì cụ thể cố định trong óc Mây.  Mây thường tra gạn tìm tòi trong lòng mình trong ký ức mình mà phải đành nhập nhằng trộn nó vào với kỷ niệm với quá khứ của bản thân.  Quê hương của những người khác chắc rồi cũng có lúc chung với quê hương của Mây một góc nào đó, như cái ngõ hàng quà chả hạn.  Nhưng như vậy phải chăng chúng ta chạy vòng quanh đi tìm một quê hương không thật?  Vịnh Hạ Long đang được thu nạp vào óc Mây để thành quê hương dĩ vãng.  Chỉ hiềm bên trong hang động lắp đầy những đèn màu sắc.  Mây bắt đầu thấy hoang mang không rõ mình bất mãn điều gì với màu sắc mà cứ thấy như nó tước đi cái cần được bảo tồn. 

Hôm nay trở lại Hà Nội, Mây được đi Văn Miếu, đi coi bia tiến sĩ.  Mây thấy hú vía không có ai đục bia xóa bỏ tàn tích của bọn phong kiến!  Bên trong có một vở hát chèo (?), các cô gái mặc áo tứ thân xòe quạt múa hát trông thật đẹp, nhưng dường như màu sắc hơi quá rực rỡ hơi quá thắm tươi?  Khi xưa người mình có rực rỡ chói chang vậy không?  Tấm áo nâu và cái thắt lưng màu hoa thiên lý ra sao, có sặc sỡ như tấm áo 7, 8 màu mà các cô đang mặc?  Cái quê hương mà Mây đang thấy có thực là quê hương?  Mây thấy như mình lạc, ra ngoài đứng.  Bên ngoài là một sân vuông thật rộng, rộng đã con mắt.  Sân trường dù rộng cũng vướng víu bờ cỏ cội cây lối đi  băng đá.  Đây chỉ một cái sân gạch vuông, bát ngát.  Mây nghĩ ngay đến bức hình Thiên An Môn.  Nhưng một cái gì như thân mật đầm ấm đến với Mây, như thể hồn đất có chỗ vươn lên tỏa ra bao bọc những con người nhỏ nhoi lúc nhúc đi lại trên mình đất.  Mây loay hoay chụp hình, không biết làm sao để thu vào ống kính cái bao la cái âm thầm. 

Trước khi về lại khách sạn cả bọn được vào tiệm ăn cơm gia đình.  Mây chan húp liền liền món canh cua rau gì không rõ.  Món ốc nữa, cái gì anh Tư không dám ăn Mây đều ăn luôn phần của anh.  Riêng Donn thì xơi tuốt luốt mọi thứ.  Donn ăn món cuốn rất thành thạo, chấm mắm nêm mắm tôm đúng điệu và dùng đũa rất nhuyễn.  Còn Mây, có lẽ quê hương của Mây lấp ló nơi bàn ăn, Mây đang xơi quê hương.   

Về đến khách sạn thấy còn sáng và mát, Mây rủ anh Tư đi chơi một vòng.  Quẩn quanh mấy góc đường thì Mây quành về vì bắt đầu sẩm tối.  Ngang mấy chỗ bán hoa Mây còn muốn lấn quấn chụp hình nhưng anh Tư lắc đầu.  Hoa thì có gì mà chụp (!!!)  Đêm Hà Nội, Mây không có thổ công dẫn đường nên không biết đêm Hà Nội thực ra sao.  Trong lòng đêm, Mây đứng trên đỉnh hotel nhìn xuống chỉ thấy một giấc ngủ êm đềm im lắng.  Đằng sau những cao ốc dịch vụ, những căn nhà mái tròn kiểu ngàn lẻ một đêm của Ba tư hay của Nga, đằng sau những góc nhà Tây phương màu tường đậm có một thành phố chầm chậm buồn buồn, tựa như dòng nước sông Hồng vẫn lặng lờ trôi dưới cầu dẫu có muôn ngàn bánh xe và bước chân hối hả đi bên trên.  Cái chầm chậm hững hờ đó như vẫn đều đều bền bỉ ngày qua ngày, đã chạm vào tà áo Mây khi đặt chân xuống lòng phố mà rồi bợt bạt trôi đi theo nhịp chân của du khách, và  cư dân thành phố lại âm thầm mang về cất vào sau cánh cửa khép lúc về đêm.  Chỉ về đêm, lúc này, Mây mới mơ hồ nghe tiếng âm thầm chầm chậm ấy khẽ cựa quậy, khẽ kêu vang.  Hà Nội, đâu là Hà Nội? 

Sớm tinh sương Mây chạy vội lên sân thượng khi ánh mặt trời mới ló.  Trên cao nhìn xuống, Mây chụp được phân nửa hồ Tây viền quanh nhà cửa phố xá đủ màu sắc thành nửa cánh sao trong sương mờ.  Bên kia là một tháp màu đỏ nằm chen với lùm cây xanh bên một kiểng chùa.  Chạy vội xuống lầu ăn sáng, Mây hối hả kéo anh Tư ra đường tìm nếp chùa thấy từ trên cao.  Băng ngang đường Mây bắt gặp một cái hồ mênh mông, xa xa là building hay hotel nhà hàng gì đó trên biển nước xanh và mây trắng lóa.  Bên kia là hồ, bên này cũng là hồ, đi tới cũng là một cái hồ nhỏ với một cảnh chùa.  Mây ngửa cổ, chùa Trấn Quốc.  Vậy ra, cái hồ mênh mông đó là hồ Trúc Bạch, với bên kia đường chỗ Sofitel là hồ Tây.  Và như vậy con đường Mây đang đi là đê Yên Phụ thuở xưa.  Mây lần dò tìm hồn thiêng sông núi, cảm nghĩ “nó” đang bị hotel và dịch vụ du lịch lấn đè!  Chỉ có bia đá ghi kỳ công của “bộ đội ta anh hùng bắn hạ máy bay Mỹ nơi này” là còn nguyên sừng sững.  Quay trở lại đi dọc theo bờ hồ Tây Mây phải vờ như không thấy những ông mặc xà lỏn tập thể dục bên bờ hồ, loại xà lỏn tựa như boxer mà đàn ông Việt Nam vẫn mặc khi Mây còn bé tí.  Anh Tư xà xuống một gánh hàng.  Bà bán rau cười hỉ hả có một người khách tuy không mua nhưng gieo chút thân tình.  Anh Tư thích thú hỏi thăm, bà hân hoan đáp chuyện, chút êm đềm len vào lòng Mây, Mây tưởng như nặn bài cào được chín nút.  A ha, quê hương không rõ dáng hình của Mây vẫn chưa mất bóng!  

Cả bọn ra phi trường vào Huế.  Lên được máy bay dường như cũng là một kỳ công ngoại giao dịch vụ của tour guide Hiển.  Hình như nếu không có “quan hệ” nào đó thì khó có thể đi trót lọt cả một nhóm, cho dù vé có đặt trước, cho dù đã confirm.  Hình như, hình như.  Tôi đi từ ải Nam Quan sau vài  ngàn năm lẻ, cái đó có vẻ chắc hơn tất cả mọi thứ bây giờ…  Mây là ngáo ộp, là ngố, là Cai lậy.  Mây là đồ ngu chả biết gì.  Hình như vậy. 

Vào đến Huế cả bọn đổ xuống thăm lăng Khải định, rồi đi ăn trưa.  Về khách sạn tắm rửa xong, lại vào hoàng thành.  Mây có cảm nghĩ như người ta tô đậm thêm những sắc màu có sẵn của thành nội xưa.  Ngoại trừ màu vàng là cố hữu, là đương nhiên, những mầu ngũ sắc khác hình như là thêm thắt cho vui mắt du khách.  Một góc tường thành nội đang phá sập để xây lại, Mây tự hỏi, gạch xưa tường cũ đập rồi sao giữ lại được hồn, và cái mới chắc gì hơn…  Anh Tư hỏi Mây, sao mấy cái đầu mái hay trên nóc thường có chạm hình con dơi.  Mây thày lay trả lời: con dơi chữ là Phức, đọc lên đồng âm với phúc đức nên trổ hình dơi tượng trưng chữ Phúc.  Thấy anh Tư gật gù Mây hả hê cái điều mình giỏi, nhưng hơi chột dạ, biết đâu?  Đến tối về khách sạn, cả bọn sửa soạn ăn cơm vua !!!  Bước chân ra ngoài, trẻ em bắt chuyện tán dóc, xích lô mời chào đi dạo cầu Tràng Tiền.  Nghe nói ăn cơm vua, các em nói ngay_đi bộ hả, gần đây thôi, còn một loại ăn cơm vua trên thuyền theo sông Hương nữa nha.  Tự dưng thấy ngượng, cả lũ xúng xính tưởng điều mới lạ, hóa ra phường tuồng.  Thôi, cho qua lúc khó khăn.

Sáng ngày lên đường vào Hội An, anh Hiển tour guide thả cho ra chợ Đông Ba chơi.  Cả lũ hí hửng mua trái cây về phòng ăn.  Thư kể chuyện, hồi nãy em đi một vòng, gặp quầy bán một trái gì ngộ lắm em không biết.  Tiếu hỏi em what’s that, em nói I don’t know.  Tự dưng bà bán hàng cao giọng: ai đông nô ai đông nô, người Việt thì nói tiếng Việt, còn bầy đặt.  Tiếu không hiểu tiếng Việt nhưng biết bà đang mắng tụi em, anh cười lôi em đi chỗ khác.  Cả bọn được một dịp cười thỏa thích.

Vào tới Hội An, cả bọn gặp một đám cưới.  Mây lăn quay ra chụp hình_chả ai mướn mà mình cũng chả quen ai, rõ điên.  Đứng ở chợ Hội An với phố đèn lồng với con đường đất vàng ệch tự dưng Mây thương phố thương người.  Chẳng phải là nghèo khổ, chẳng phải là thô sơ, nhưng chính cái im vắng của con đường đất, cái màu vàng nguyên sơ của đất, mang cho Mây cảm nghĩ mình đang đứng trên quê hương với những nét đơn sơ trơ trụi.  Mây tự hỏi, lẽ nào quê hương chỉ hiện ra  trên những tiêu điều quạnh quẽ?

Rồi lại lên đường.  Thật dài_con đường từ ải Nam Quan, nhưng cả lũ không được qua đèo Hải Vân vì mất thì giờ mà phải chui qua hầm xuyên núi.  Trên xe, cặp Hùng Thảo vẫn thu mình trầm lặng, hiếm thấy nói chuyện vui đùa lộ liễu.  Thì ra Thảo bị say xe, Bố luôn chú ý chăm sóc Thảo làm Mây cứ tưởng con gái rượu nhưng khi vào đến Nha Trang thì Mây mới biết ra Thảo là dâu!!!

Vào đến mũi Né cả bọn mừng rơn thấy biển xanh.  Mây và anh Tư rủ rê, vậy là cùng Thư Tiếu Châu Donn 6 đứa hè nhau thuê thuyền thúng ra tàu đánh cá dạo một vòng.  Chủ thuyền nói chứa được 6 người 1 thúng, nhưng ngắm nghía lũ Mây xong anh ta nói đi 2 chuyến cho chắc.  Mỗi chuyến có 3 khách thì 2 tay chèo (một lũ lớ quớ, không khéo thì lật chứ chơi sao !!!)  Mây cười hể hả dù Mây chả biết bơi.  Cả lũ đi biển quanh mình, lo gì nó không cứu.  Anh Tư thì lộ vẻ lo ngay ngáy, anh biết bơi nhưng nhỏ con ốm yếu vậy thì đâu cứu nổi Mây mập ù, anh cứ dòm chừng lom lom sợ Mây thò đầu lộn cổ xuống ao.

Trở lại bờ, cả lũ lệt bệt lên đồi cát vàng.  Không quen leo không nổi.  Bất chợt ở đâu một lũ trẻ chạy ra đẩy phụ sau lưng.  Lên tới đỉnh đồi, mỗi đứa móc ra một tấm cao su cứng hình dạng như surfboards nhưng nhỏ hơn.  Mây còn đang ngắm nghía thì một con bé đến dạy Mây ngồi lên rồi nó sẽ kéo xuống dốc.  Mây biết nó là con gái trong đám 7 đứa trẻ này vì nó đeo bông tai chứ trông thì không khác lũ trai chung quanh.  Một trò vui của trẻ thơ, nhưng là cách kiếm sống của nhóc tì ở vùng gió cát này.  Anh Tư thương, cho Chúc anh Đài nhiều tiền hơn cho bọn Lương sơn Bá, chúng nó tị nạnh tùm lum.  Mây phải hăm he, đứa nào muốn thêm tiền thì đeo bông tai đi rồi sẽ được_bọn chúng im thít !!!

Mây quày quả về phòng, không ra ngoài khách sạn nữa.  Mây sợ gặp lại những đứa trẻ đó, thấy mình tội lỗi khi ăn một miếng ăn, uống một chén nước.  Ở khách sạn, ông Thời nói với vợ và bọn Mây, tôi rõ ràng là Việt Nam, mà mấy cô dọn phòng cứ nhìn mặt tôi rồi hỏi “you want a change?” làm tôi sợ quá phải chạy ra ngoài.  Anh Tư ngoác miệng cười tán vào, sao chú không ừ.  Ối giời, nó đè mình ra thay quần áo thì tiêu đời. 

Đường vào Nha Trang, cả đoàn như đà thấm mệt.  Bước chân không còn dồn dập náo nức như những ngày đầu.  Phụ tour guide là em Phước phải tách đoàn, nhảy xe khác qua tuyến Phan Thiết vì bên đó cần, xe thấy vắng đi dù chỉ vắng một người.  Mây đã lên được 4 pounds nhờ ăn ngày ba bữa buffet đính kèm bánh kẹo dọc đường.  Mây tròn ú, nước da ngăm ngăm nay thành đen mun, không khác dân địa phương mà còn thua nữa kia, vì rất nhiều cô da trắng hồng không ăn nắng như Mây.  Nhưng ba cái chuyện đó là vặt vãnh, anh Tư không hiểu sao Mây lại xăm soi?

Rồi Mây đã về đến Sài Gòn.  Sài gòn nắng đổ, Sài gòn mưa cuối mùa.  Trong làn gió mát cuối mùa mưa, Mây và anh Tư đã gặp lại anh chị em, cùng đi ăn với nhau mấy bữa cơm, ngồi trước hè tán dóc như cái thuở thanh bình xưa mỗi chiều nhà nhà ra trước sân hóng mát chuyện vãn.  Có lẽ phải nói rằng “chốn xó nhà là đẹp nhất.” 

Chị Ba cho Mây hay Tân đã gọi hỏi xem Mây về tới Sài Gòn chưa.  Mây gọi rủ Tân ghé chơi, nhưng chờ vài bữa anh Tư về lại Mỹ rồi Mây sẽ đi với Tân sau.  Mây lên lịch những ngày còn lại, dán tờ giấy ngay cửa phòng tắm!!! 

3.
Mây còn đi cùng gia đình lên Đà Lạt vài bữa, rồi trở về mới bắt đầu dang ca với Tân cho hết hai tuần còn lại.  Lúc Tân đi làm thì Mây đi tìm anh Do, đi lang thang vào các thương xá, vào siêu thị xem hàng hóa bán buôn.  Chiều mát Mây ghé Tân, hai đứa rủ rỉ ăn uống nói chuyện đến khuya.  Có hôm Mây ngủ lại, hai đứa chỉ nói chỉ toàn những chuyện trời ơi.

Mỗi sáng Mây dậy sớm, đạp xe đạp một vòng, rồi tắm rửa đi chợ.  Không biết sao Mây ưa đi chợ.  Thoạt đầu Mây tưởng vì mình thích chụp hình.  Sau rồi Mây nhận ra chính vì cái gì thân quen nơi chợ búa.  Nói ra bảo đảm sẽ bị bêu riếu, Mây nghĩ thầm.  Chợ Vườn chuối, chợ Bến Thành, chợ Trương minh Giảng, Mây đi hết.  Đầu chợ vẫn là dẫy hàng trái cây, một vài sạp bán hoa.  Bên trong, qua hàng ăn quà sẽ tới hàng thịt.  Cuối chợ thường là những tiệm tạp phô tôm khô lạp xưởng của người Hoa.  Song song dãy hàng thịt là những cửa hàng xén của người Việt Nam, với đủ thứ hàng gia dụng.  Đồ nhôm sáng loáng, đồ đồng vàng cam, thau rổ xanh đỏ lòe loẹt, và bao ny lông đồ nhựa thì cứ là nhẩy vào mắt mình.  Mầu sắc tùm lum tóa lỏa, mà sao Mây không thấy rợ, mà sao Mây thấy yên tâm, chả như những sắc mầu tươi đẹp ở Hạ Long, ở Văn Miếu, ở Hoàng Thành, ở cầu Tràng tiền cứ làm Mây thấy ngượng ngùng lấn cấn.  Dường như Mây tìm được người cũ, tìm được hồn xưa nơi những nếp chợ.  Những gì đã buồn đã cũ thì cứ để nó buồn nó cũ, những gì lau nhau kịch cỡm rẻ tiền thì cứ để nó rẻ tiền kịch cỡm.  Sao người ta phải nâng cấp mọi thứ cho nó không còn là nó để hồn người phiêu bạt không tìm được nơi mồ cũ, mà kẻ giữ mồ cũng thất lạc mùi hương…  Mây nghĩ, còn về lại đất này Mây sẽ còn đi chợ. 

Tân rủ Mây lên Thủ Đức với Xuân Lan, rồi lại cùng Xuân Lan lên Kontum thăm quê của Tân, thăm Ba Má Tân.   

Những ngày êm đềm rồi phải hết.  Chiều Mây đến ngủ nhà Tân thêm một buổi.  Hai đứa ngồi trên lầu ngó xuống quán cơm dưới nhà, của chị em Tân.  

Mây hỏi
_Tân với Tạo sao rồi
_Cũng vậy thôi
_Có tính gì không?
_Gì là gì?
_Thì…
_Không đâu
_Không yêu nhau?
_Yêu

Câu trả lời dứt khoát và rõ ràng đó làm Mây chưng hửng và bâng khuâng.  Mây nhớ những năm tháng xưa kia, những khi Mây đang yêu một người thì hình như chưa bao giờ Mây có câu trả lời dứt khoát rằng mình có yêu người và người có yêu mình.  Chỉ khi đã thực xa, thực là chẳng có nhau, khi nhớ lại quãng đời đó thì Mây mới có thể minh định loại tình cảm quan hệ đó là gì, và có khi nó vẫn là một câu hỏi mở ngõ.  Tình yêu, nó giống như quê hương.  Những khi mình sống trong nó với nó mình không bao giờ ý thức được nó, ý thức nó trở thành mình như thế nào.  Xa rồi, khi nhớ về quê hương Mây thường nhớ về những cảm xúc kỷ niệm nơi chốn con người mà Mây có mặt tham dự hay Mây là nhân vật chính.  Rồi Mây trở thành người ấy, kẻ xa lạ ấy_là Mây bây giờ ở một nơi nào khác.  Và rồi Mây không thấy cái đất nước mà Mây đã sống 30 năm nay là quê hương.  Mây cho rằng quê hương là miền đất nơi tâm trí và thực thể người ta được hình thành, cho đến khi người ta phải xa nó, phải chuyển qua một tâm trí khác, một thực thể con người khác.  Còn sống trong nó thì nó chưa là quê hương, và xa nó rồi thì nó sẽ có bộ mặt của bất cứ cái gì bất cứ nơi nào mà tâm trí cõi lòng mình hòa nhập được khi đến nơi chốn ấy.  Như cái góc phố Chợ Lớn ở Mã Lai, như ruộng lúa Cao Bằng, như con bò nằm nhơi cỏ sau rào kẽm gai ở Kontum, như chậu nước rửa bát của người bán quà rong.  Quê hương, nó là chốn mình thương nhớ nghĩ về, và khi mình nghĩ đến hai chữ quê hương, nó luôn bao gồm một cái tôi quá khứ, rõ mặt hay chỉ là một bóng âm thầm quan sát chung quanh.  Quê hương phải chăng là dĩ vãng hình thành của một người? 

Và tình yêu, những năm tháng quấn quít bên Các, Mây có bao giờ biết bộ mặt của tình yêu.  Những đôi bông tai Các mua cho Mây_đầy một hộp, và Mây cuối cùng đã cho đi_chính là hơi thở tình yêu.  Bàn tay Các vo ống quần cho Mây, chính là ve vuốt của tình yêu.  Và những lúc nằm bên nhau, trở thành những ray rứt đau lòng dài lâu khi đã xa nhau, cuối cùng lại cho Mây biết điều gì quan trọng trong tình yêu.  Mây đã từng yêu trong mơ mộng.  Mây đã từng sống trong xúc chạm đê mê.  Nhưng thực ra với Mây bây giờ, nếu Mây không thể hôn ai và nếu người ấy không thể cho Mây một cảm xúc trong nụ hôn thì chắc chắn điều gì đó giữa Mây với người chưa là tình yêu.

Tân im lặng bên cái ngẩn ngơ của Mây.  Không nói với nhau, mà hai đứa cùng hiểu, cái gì đó giữa Tân và Tạo không hẳn là, chưa hẳn là tình yêu.  Nó là một thứ tình nào đó, khác với tình yêu.  Trước khi Mây kịp nói lời gì, Tân lên tiếng:

_Mây biết không, Tạo như sông lớn như nước lũ như thác đổ xuôi dòng.  Tân chỉ là con suối nhỏ tình cờ chẩy song song.  Nhưng sông hay thác hay nước đổ gềnh, tất cả cũng chỉ là nước, cũng chỉ bằng một giọt nước mà thôi.  Và rồi giọt nước ấy cũng sẽ đổ ra biển cả.  Có lúc dòng suối lẻ loi bị nhập vào sông lớn và Tân thấy mình mất hút, nhưng cũng có lúc sông lớn phải thu mình hẹp lại thành giọt nước nhỏ nhoi chứa trong dòng suối lẻ.  Những lúc đó, Tạo và Tân hòa với nhau, trên cả tình yêu, và nó đến mình không từ chối được, không chọn lựa được.  Nó đến, cho mình một ý niệm giao hòa bên ngoài thể xác.  Tân không thấy cần một vai trò rõ rệt, Tân không thấy thèm muốn một quan hệ xác thân, dù quan hệ xác thân là điều đẹp đẽ cần thiết cho tình yêu mà Tân không ngại bước vào. 

Giọng Tân đều đều, chợt Mây nhớ sông Cát Lái, nhớ thành Tuy Hạ.

Hồi nhỏ có một lần cả nhà cùng đi thành Tuy Hạ thăm Chú Dì.  Đi xích lô ra bến đò Thủ Thiêm, qua đò, rồi đi xe lam tới bến phà Cát Lái, rồi phải đi xe gì nữa quên rồi mới tới được trạm canh.  Ông lính đứng trên trạm canh phải gọi điện thoại vào trong trại gia binh.  Một lát sau sẽ có Chú, vóc cao cao đi hơi ngửa ra sau vì xuống dốc, ra đón cả nhà.  “Chị, anh chị và cháu xuống chơi…”  hình như Chú luôn chào như vậy.  Lớn hơn nữa, Má thường chỉ chở Mây đi bằng xe honda qua thăm Dì.  Bến đò Thủ Thiêm vui nhộn nhịp, đò như cái xe bus nổi trên sông.  Mỗi khi đò cập bến, anh tài công phụ nhẩy lên phao nổi quấn 2, 3 vòng dây vào trụ để neo đò.  Đò dập dềnh va vào phao nổi lại dội ra nhờ những bánh xe không dọc mạn đò.  Tấm bửng hạ xuống, xe đạp người đi bộ đổ ra.  Kẻ lên người xuống, mất hút mỗi chuyến mỗi ngày mỗi năm mỗi tháng.  Một lúc Mây nhìn anh tài công phụ đứng ngó dòng sông.  Mắt anh trong veo màu nâu buồn ngơ ngác, bắt gặp mắt của Mây dường như anh bối rối, dường như Mây bị chìm sâu vào đáy mắt trong.  Mây lúng túng quay đi.

Hình như chỉ có một con đường từ Thủ Thiêm đến sông Cát Lái?  Mây không biết được.  Những năm tháng đó ngồi sau xe honda của Má, Mây tha hồ sống với riêng mình.  Gió lùa tóc, lồng vào áo thật dễ chịu.  Những cánh lúa mạ cong rợp lui theo chiều xe qua.  Có chỗ sao chỉ thấy khô cằn lác đác vài cành khô trơ trụi.  Rồi sông hiện ra, sừng sững tràn trụa bao la.  Nơi bến phà, xe nhà binh xe hàng xe lam xe gắn máy…  Người đứng ngồi tha thẩn, kẻ úp báo lên mặt dựa đại vào một chỗ nào đó chờ phà.  Xe nhà binh ưu tiên xuống trước, rồi mới tới dân.  Phà, như cầu phao nổi trên mặt nước với một cái chòi làm buồng lái.  Mây đi phà không biết bao lần mà không biết máy nằm ở chỗ nào.  Những khi nhiều xe nhà binh, phà như muốn khẳm xuống mặt nước.  Những cánh lục bình bợt bạt băng băng trôi ngang.  Nó nhẹ nên nhanh, phà nặng nên chậm?  Trên con nước mênh mông lặng lờ đó Mây không biết đâu là sự sống.  Bờ xa bên kia không với tới được rặng dừa bên này.  Chỉ cách một con sông mà đôi trời xa lạ, con nước lạnh lùng như bất kể nắng mưa.  Mây tưởng chừng như nó xóa nhòa mọi lẽ sống, mọi kỷ niệm của cuộc đời.  Mây và lũ người lố nhố trên phà tựa như một đám lưu lạc theo ông Nô Ê đi tìm chân trời mới.  Đứng trên con nước bao la đó Mây chợt thấy màu da sậm của mình trong lại, nhờ nhờ nâu nâu, Mây tưởng nếm được chính mình, cái mùi lờ lợ tanh tanh, Mây cảm như không còn biên giới thịt da, cảm như Mây đang tan vào nước, chỉ còn bộ quần áo là thực, là hiện hữu dưới ánh chói lòa trên mặt sông, nơi xa xa không bến không bờ.  Mây thấy mình mất hút.

Mây nghe tiếng nguệch ngoạc trên bàn, Tân đang loay hoay vẽ một cái gì đó.  Mây kể cho Tân đã gặp Tạo ngoài quán cà phê với “bạn.”  Tân nhìn xuống trước mặt rồi ngửng lên nửa như cam chịu, nửa như muốn nói “mặc kệ.”  Trên nét mặt trong sáng thoáng chút bâng khuâng chút ngây ngô, ánh mắt hoang dại.

_Mày có biết  những quan hệ bao quanh Tạo?
_Có chứ
_Nhưng…
_Không những biết, tao còn tài khôn nhảy ra đón tiếp “ bạn” của Tạo nữa kìa.
_Rồi sao?
_Chả sao hết, thoạt tiên tao nghĩ Tạo cần tao giúp nên phụ đón tiếp, gạt cái cảm nghĩ lấn cấn qua một bên.  Khi thong thả nghĩ lại mới biết mình ngố.  Núi rừng chưa bao giờ gạt tao.  Mỗi khi thấy Tạo ân cần với ai đó, tao buồn biết rằng mình không là người quan trọng duy nhất trong lòng Tạo.  Tao buồn nghĩ trong tấm gương đời Tạo không có mình.  Tao thường tự hỏi tao đứng chỗ nào trong lòng Tạo, nhưng rồi cảm nghĩ hờn ghen qua đi.  Khi thấy “cái mình không là”  thì cũng rõ “cái mình là,” tao không hề muốn chiếm hữu Tạo cho riêng mình. 
_ Tân nghĩ mình thiếu khả năng?
_Có thể, nhưng tao nghĩ là Tạo không thể thấy đủ.  Khi mình luôn làm cho người đối diện nghĩ rằng họ là quan trọng nhất thì tức là không có ai quan trọng nhất.  Trong một cách thế nào đó, mình dối người và tự cô lập mình.  Sẽ có lúc không có ai nhớ nghĩ tới mình, so với những lúc có nhiều bóng người_quá nhiều bóng người, thì huyệt của mình quá lớn quá sâu…
_Nhưng sao mày biết chắc, vì biết đâu là Tạo quan tâm tới tất cả mọi người chung quanh một cách chân thành, vậy thôi?
_Tao biết.  Núi rừng dậy tao biết.  Tạo đâu có ân cần với người không yêu ái tôn vinh Tạo. 

_Lẽ thường tình?
_Ừ.  Dầu sao, sự thật đã làm tao tổn thương thì cũng đã giải thoát tao khỏi nỗi băn khoăn, tao biết mình không kham nổi vai trò là người quan trọng hơn cả trong đời Tạo vì Tạo là một tâm hồn quá lãng mạn quá tự do.  Nhu cầu của Tạo là được chú ý, được tôn vinh, và bao nhiêu cũng là thiếu.   

Mỗi khi Tân nói, cái mênh mang của núi rừng như hiển hiện như phô bày.  Trong cái đơn sơ của Tân có gì như khó hiểu như bí mật, như Tân lắng nghe tiếng thì thầm của suối của gió để tìm câu trả lời, như Tân nhìn cái huơ tay hay nụ cười của những người dân Thượng mà biết lòng thiên hạ.  Những suy nghĩ mạnh mẽ thẳng thắn thường đi kèm với những thái độ như hững hờ.  Ánh mắt Tân ngơ ngác như nai, đôi khi lại đưa ra suy nghĩ sắc bén như báo, lạ lẫm như những cánh hoa dại của núi rừng.  Và Tân còn như cọng cỏ rỗng bên đường…  Mây chịu, không thể hiểu hết tâm hồn Tân.  Mây chỉ biết, Mây và Tân như đã quí nhau từ cái buổi xa lạ ban đầu gặp mặt dù chưa kịp quen nhau.  Những năm tháng qua đi, tình bạn cũng chỉ đơn sơ mà lại như sâu đậm bứt không đứt không rời.  Tân luôn cho Mây cảm nghĩ tin cậy, rằng Tân có thể hiểu hết những điều tế nhị mà lòng Mây có thể có.  Nhưng Mây luôn ở cách xa Tân, và bây giờ Mây cũng lại sắp xa Tân, xa cái Sài Gòn mà Mây luôn tưởng nhớ.  Mây thấy thấm đọng buồn khi câu hỏi đến trong óc, rồi Mây có về thăm lại quê hương, gặp lại Tân?
(xem tiếp kỳ tới)
LN