Saturday, January 21, 2012


mai nở đầu Đông

nguyễn thị thảo an




   Một ngày cuối năm, người bạn mới quen gửi tặng một cây mai đón Tết. Bạn nói, mai bứng từ vườn ươm ở vùng đất ấm Lousiana, phải vượt cả ngàn dặm mới đến được đây, quý lắm. Trời lạnh, thấy bạn co ro đưa mai tới, tôi hứa bừa, “Ờ, ờ... Đừng lo. Yên chí lớn. Tôi chăm mai thì phải biết.” 
   Biết cái gì? Ngắm mai thì tôi đã, chứ chăm mai thì chưa từng. Nhìn chậu mai, cành nhánh khô khốc như mấy que củi mà phát rầu, không sớm thì muộn chắc mai sẽ chết. 

   Cuối năm gió thốc, tôi cuộn mình trong chăn nằm nghe. Những cơn gió trên cao lồng lộng, lấn quấn đuổi nhau khua động cả đất trời. Chồm mình ngó qua khe cửa sổ. Bên ngoài cây cối ngả nghiêng, con đường bụi lốc mịt mờ, những cột đèn vàng cũng lao chao muốn đổ.
  Sáng hôm sau, trời im. Mai để góc nhà vẫn giơ dăm ba cái cành khô khốc. Tội nghiệp cái cây đang khát đây. Tôi cho nó uống hai ly nước. Mấy ngày sau, trên cành lấm tấm một vài chấm xanh. Rồi những dấu chấm lan nhanh như nấm. Một buổi sáng, chồi con vỡ òa, một cái lá búng ra, với một mầu nâu non nõn nà, mướt rịn. Những ngày tiếp theo, mắt tôi rộn rã vì đếm nụ. Những cái nụ tròn tròn, nho nhỏ treo mình trên cành dễ thương như hoa tai thiếu nữ. Chờ một hai tuần, nụ cứ là nụ, mai vẫn chưa ra hoa, mặc tôi tưới tiêu rất chu đáo.
   Hai tuần có mai, trí nhớ lôi tôi trôi tuột về tuổi thơ. Ngắm mai, tôi thoắt đi thoắt về giữa những kỷ niệm. Hồi ấy, suốt ngày tôi lang thang trong hoang tưởng. Cứ ngờ rằng, mỗi loài cây đều có linh hồn, có tim óc, biết đói khát và biết khóc than. Tôi đâm ra thương cây như thương người. Coi chúng là bạn, sớm hôm chăm sóc tưới tắm cho cây mà hạnh phúc. Lơ mơ với đám hoa cỏ, tôi hầu như bỏ nhà ra ở ngoài vườn. Có những đêm tôi nằm im để mong rình nghe được những lời than van của cây, của gió. Ước mơ nữa lớn, sẽ có dịp thả mình theo gió để bay đi biền biệt không về.  

   Mấy ngày đầu năm, tiết lạnh căm căm. Mây xuống thấp liên tiếp cả tuần lễ. Trời u ám lạ. Không gian dường như sắc lại. Bên ngoài, nhiệt độ xuống tới 100F. Cỏ cây đông đá trong ngần. Mấy nụ mai lần lượt chúc đầu xuống đất. Tôi cuống lên. Vào Google gõ về bệnh trạng của mai và hỏi người mách giúp. Hàng loạt căn bệnh của mai, có cả những hình chụp của những loài sâu bệnh, vi khuẩn li ti, nhưng chưa có ai chỉ về bệnh chúc đầu. Tôi nghi, mai thiếu nắng, nụ chúc xuống đất có thể vì tìm chút hơi hướm ấm áp từ đất chăng? Tôi kiếm ra một góc bếp, đặt chậu mai. Đây là chỗ đắc địa nhất nhà, cạnh cửa sổ hình lục giác, nơi có cả nắng sáng lẫn nắng chiều xuyên qua.
  Nhưng chờ hơn mươi ngày vẫn chưa có nắng. Bây giờ thì người cũng thèm nắng chứ đừng nói chi cây. Có bữa, tuyết còn lắc rắc rơi. Nhiều đêm, chân ló ngoài mền phát lạnh làm tôi tỉnh giấc. Sực nhớ cây mai một mình trong góc bếp, tôi tức tốc tung chăn chụp lấy máy sấy tóc. Trời lạnh, hình như mai cũng thu mình lại, dáng dấp co ro như yên phận. Tôi quơ quơ cái máy sấy, sấy nóng không khí rồi lùa nhiệt quanh mai. Chưa yên tâm, trước khi ngủ lại tôi treo một cái đèn tỏa ngọn gần đó cho ấm.
  Sáng hôm sau, trời trắng xóa. Mai nở. Năm cánh vàng hoe xòe ra rực rỡ. Một cái hoa đơn độc đầu tiên. Tôi sững sờ vì cái màu vàng của mai. Ngẩn ngơ cả ngày tự hỏi, cái màu tươi rói ấy tự đâu ra? Không lẽ màu sắc ẩn trong thân cây khô khốc hay do trời đất tuồn vào? Tôi cứ đăm đăm ngó những nụ mai, muốn được nhìn thấu bên trong những chuyển động biến hóa của một mầm sống lẻ loi.

  Những ngày có mai, mặt mày tôi hớn hở hẳn, tự nhiên cảm thấy lòng ăm ắp những niềm vui. Nhìn quanh không khí cái bếp cũng tươi tắn lạ. Ngẫm nghĩ. Chịu! Không sao hiểu. Chẳng lẽ chỉ có cái hoa mà trời đất lại thay đổi vậy à?
  Ngày mai, hoa lại nở. Mai không nở rộ, mỗi ngày chỉ một vài cánh lai rai. Sáng sáng, tôi bắt đầu có thói quen đếm hoa. Nắng sớm xuyên qua, cắt năm cánh mai thành những mảnh đời sáng tối. Buổi tối, nhắp từng ngụm trà, thưởng mai trong thinh lặng.
 Tàn đêm thì mai rụng. Từng cánh, từng cánh,...Lẫy mình một cái, nhẹ hơn hơi gió, nằm im dưới gốc. 

    Những ngày cuối năm tôi liên tiếp nhận được nhiều tin buồn. Của người quen và những người chưa quen. Không quen nhưng biết. Biết qua tác phẩm, qua chữ nghĩa mà dường như đã quen nhau lắm. Bạn bè thân thiết nhưng không cần gặp. Đọc một bài thơ hay, không nhịn được, nhấc điện thoại lên. Đang viết, nảy ra một ý tưởng lạ, cũng chụp cái cell bấm, bấm bấm,...

    Tôi mắc một chứng bệnh, có thể do bẩm sinh, không chữa được. Hễ chơi với bạn thường hay có cái hoang tưởng. Cứ tưởng tượng những người bạn mình một ngày nào đó sẽ thuộc về cái thế giới bên kia. Cái chỗ vô hình mà mắt không thấy, tai không nghe, nhưng tôi tin linh hồn vẫn biết. Không có cái gì biến mất trong vũ trụ cả. Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Giống như cái chết của mai, những cánh vàng tàn rơi dưới gốc. Xác mai chỉ nội ngày sau là không còn tìm ra dấu vết. Nó không mất. Nó vẫn nằm đó. Cái màu vàng hôm nao đã biến thành mầu đất.
    Nghĩ vậy mà thương mai quá đỗi.
    Có một lần, họa sĩ Võ Đình viết về một cây chanh vô tình được tặng. Ông là người yêu hoa cỏ chí tình. Ông chăm sóc cây, một chiếc lá rơi cũng khiến ông tỉnh giấc.  Cưng cây chanh như con mọn. Tả này tả nọ cũng chưa đủ, ông viết chỉ còn “Thiếu điều ‘hun’ nó một cái.*
 Tôi cũng bắt chước ông, “hun” mai một cái. 

    Bây giờ Tết đến mà mai không còn. Nhưng tôi biết mùa Xuân vẫn đó. Nó chỉ tiềm ẩn trong cành, trong lá dáng dấp cả một mùa Xuân sau.
“Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết.
  Đêm qua, sân trước, một nhành mai.”
(Thích Mãn Giác)

Jan 20/2012


•Bài Cây Chanh trong tác phẩm Huyệt Tuyết của họa sĩ Võ Đình do nhà xuất bản Văn Nghệ 2002


Saturday, January 14, 2012


TÌNH XUÂN ĐÃ ÚA 

Lưu Na



Năm mười bảy được nghe cô bạn hát một bài thật lạ: tình Xuân chớm nở đêm qua  Âm điệu nhẹ nhàng man mác buồn, tôi nhớ mãi câu yêu người năm trước khiến cho ta giận hờn, không phải vì ý nghĩa cao cả hay ca từ lãng mạn.  Câu hát đó có âm điệu như tủi hờn mà lại hoài niệm một điều đã mất.  Gương mặt cô bạn cũng là một cái lạ gieo vào lòng mình.  Bạn không đẹp nhưng dễ nhìn.  Mặt của cô hơi phẳng, có những nét như thánh mẫu hay Phật bà Quan Âm của Tàu.  Đôi mắt bạn dài và ướt, trong xanh như có một lớp nước bao phủ.  Mi dưới rất đều và dài làm rõ đôi mắt, một điều đặc biệt vì thông thường mọi người có mi trên rõ hơn mi dưới.

Bạn rất vui tính và hiền lành.  Bạn cười khanh khách, nhận mình là thị Mầu.  Nhưng lạ, sau mỗi tràng cười mình cứ nghe như có tiếng ly vỡ, dẫu rất âm thầm.  Ra khỏi trung học thì mỗi mảnh đời trôi một phía.  Lâu lâu đạp xe ghé nhà nhau nói đôi câu.  Thị Mầu thỉnh thoảng đạp xe ghé nhà tôi sau buổi học, ngồi trên xe đạp dựa hàng rào tán dóc.  Trong lúc tôi loay hoay vượt biên, Thị Mầu loay hoay đi học, giúp mẹ buôn bán, giúp em trông con… cái cam chịu nhẫn nhục như dầy lên như trong lên trong mắt.  Cái cô đơn như kéo cặp mắt dài thêm ra.  Rồi tôi đi xa, rồi bạn lấy chồng.  Tôi sống loay hoay ở Mỹ, lâu lắm mới viết một lá thư thăm nhau.  Không nhờ vả kể khổ bao giờ, bạn viết thư nói học Anh văn bằng B (?), mong có cơ hội kiếm sống trên mảnh đất  chết.  Bạn viết thư, nói đã có thêm một đứa con dẫu hai vợ chồng bấy lâu không gắn bó: anh đi buôn chuyến luôn xa nhà, đồng tiền cho sự sống có hệ lụy của nó.  Bạn nói, không muốn nghĩ suy giằng co gì nữa.  Chính cái thật tình bộc bạch đó làm xúc động lòng mình, làm mình nghĩ lại muôn điều của cuộc sống và soi lại mình trong gương.  Tôi về, chỉ gặp một vài người bạn thân quí trong đó có Thị Mầu, dẫu lúc còn trung học không phải là bạn cặp kè.  Gặp lại, mắt bạn vẫn ướt răng vẫn trắng đều phô nụ cười hiền lành.  Bạn chở đi vòng vèo ngõ hẹp cười khanh khách: cho mày nhớ lối xưa.  Chúng tôi vẫn xưng hô mày tao dù nay đã hơi già.  Ra đầu đường Hai bà Trưng cũ ăn đu đủ bò khô.  Bạn bảo mày chờ đây rồi vòng xuống lề đường gửi xe.  Sau vài phút lóng ngóng, một cô mặc đồ bộ tới, dúi vào tay hai miếng vinyl vuông 1 square-foot, loại bên Mỹ dùng lót sàn nhà.  Cô bạn cầm đặt xuống gờ xi măng quanh bồn cây gần sát đất và chễm chệ ngồi xuống.  Thị Mầu cười, vẫn trong trẻo khanh khách, và gọi 2 dĩa.  Chúng tôi ngồi ăn quà rong như thuở học trò, trong xì dầu ớt cay đu đủ dòn vẫn còn nguyên cái tình đơn sơ như chớm nở đêm qua.  Tôi nhớ tha thiết câu hát đó, giọng hát đó.  Tôi muốn nói bạn hát cho mình nghe, như hồi đó chúng tôi vẫn ném vào nhau những yêu cầu ngắn ngủi mày hát bài này coi !!!  Nhưng câu hát thầm có âm vang dội hơn nơi tim mình.  Tôi ngẫm nghĩ trong lúc ăn.  Và cái ẩn nhẫn trong đáy mắt vẫn theo qua hàng bột chiên bên hông trường Gia Long trước cửa chùa Xá lợi. Không có tiếng kinh cầu, nhưng tôi vẫn nghe chiều trên dương thế dâng sầu mênh mang.  Có phải ăn quà rong giữ tâm hồn người ta đơn sơ chân thật dẫu qua nhiều gian nan?  Xì dầu ớt có làm trong thêm màu mắt?  Bạn tiếp tục cười, tôi tiếp tục suy nghĩ và húp.   

Khi lên máy bay về lại Mỹ tôi vẫn tưởng như mình đi giữa độ xuân nồng.  Khi về thăm quê thăm bạn, chúng tôi vẫn nhìn nhau bỡ ngỡ rưng rưng lòng nhớ thương.  Phải chăng Phạm Duy viết bài Xuân thì cho bạn của tôi, cho thế hệ của chúng tôi? 

LN





Tản mạn
BÊN TÁCH CÀ PHÊ 

Nguyễn Xuân Thiệp



                                 Từ trái qua: hàng đứng, Đinh Cường - Lữ Quỳnh
                    hàng ngồi, Nguyễn Đình Toàn - Khánh Trường- Phạm Phú Minh
                                                 (Café Factory, California 2004)


Trăng thiền

Có không, trăng thiền? Hay chỉ do trí óc đầy huyễn hoặc của một con người đang bước xiêu xiêu giữa cõi đời tưởng tượng ra và nghĩ là mình nhìn thấy thật?
Vâng. Quả là đêm nay, một đêm cuối năm, người viết ngồi nhìn qua khung cửa sổ thấy một mảnh trăng treo lơ lửng trên định cây phong trụi lá. Và do ảnh hưởng  những bức tranh thiền của Khánh Trường vừa gởi tới, trong đó có những bức vẽ vầng trăng khuyết, nên Nguyễn đã nghĩ ra như vậy. Một phần nữa cũng là vì mình vừa trải qua một mất mát quá lớn trong đời nên muốn tìm tới ý nghĩa cốt lõi, dung dị mà thâm sâu của đời sống này. Vì vậy nên Nguyễn mượn hình ảnh mảnh trăng nghiêng kia (mà trong bài thơ viết tặng Dung đã gọi là một nét phác thảo  của bức tranh siêu thực Salvador Dali) để nói về những bức tranh Thiền của Khánh Trường. Ôi, cũng thật là đầy mộng và ảo, nên xin bạn đọc tha thứ giùm cho.  

    Nhưng trước hết xin thưa cùng bạn đọc: Người viết và Khánh Trường quen nhau cũng đã hơn mười lăm năm nay, từ hồi Khánh Trường còn khỏe mạnh tươi vui và còn làm tờ Hợp Lưu. Còn nhớ trong lần giới thiệu thơ của Nguyễn Nam An và Phan Ni Tấn tại hội trường báo Người Việt vào năm 1996 có sự hiện diện của Mai Thảo, Phạm Duy, Thái Thanh, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Nghiêu Đề, Lê Uyên Phương, Thảo Trường,…, Khánh Trường đã mời Nguyễn đi dự tiệc chung với mọi người. Đây là lần đầu tiên Nguyễn tiếp xúc với anh em văn nghệ Cali.
   Tiếp đến những tháng năm sau, Khánh Trường lâm trọng bệnh phải vô ra nhà thương nhiều lần. Do ảnh hưởng của bệnh, Khánh Trường nói rất khó khăn và phải đi xe lăn. Chúng ta hãy nghe Đinh Cường:”Đời sống tâm linh đã cứu rỗi con người, một con người tuởng như đã chết đi và sống lại, sống lại lẫm liệt để Qua Bờ.” Thật vậy, Khánh Trường đã phấn đấu ngày đêm để có thể làm việc và vẽ trở lại. Bây giờ, với 30 bức tranh Thiền sẽ trưng bày ở 11561 Magnolia Street, Garden Grove, CA, vào dịp Tết này Khánh Trường đã cho thấy sự bình an tĩnh lặng trong anh. Thật vậy, Khánh Trường bộc bạch: “Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình. Với cá nhân tôi, Thiền chỉ giản dị thế thôi. Nên khi vẽ những bức tranh liên quan đến chủ đề Thiền, tôi luôn tự nhủ sẽ tuyệt đối trung thành với ý niệm trên. Vì vậy 30 bức tranh trong lần triển lãm này đều được gạn lọc, hạn chế tối đa từ đường nét, màu sắc đến đề tài; cũng như không để mình bị cuốn vào những lãnh địa mới, lạ mà hầu hết họa sĩ đều mong thử nghiệm, khai phá. Cũng có nghĩa tôi dùng một bút pháp rất chân phương, mộc mạc để chuyển tải những giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo với mong ước ai cũng có thể tiếp cận và hiểu dễ dàng “.


    
    “Lời bộc bạch trên của tác giả -vẫn theo Đinh Cường- như dẫn chúng ta đi vào tranh anh, một thế giới khác so với những thập niên truớc, một con người năng động, đầy sắc màu trong văn chương nghệ thuật, cũng phải kể đến thời sung mãn khi anh đứng mũi chịu sào  làm tờ Hợp Lưu, một tờ nguyệt san đẹp về hình thức lẫn nội dung, cho đến nay Đặng Hiền vẫn tiếp tục, trong tình hình kinh tế khó khăn, hai ba tháng ra một số…”
     Vâng, mười năm trước Khánh Trường bị tai biến mạch máu não. Đôi chân hần như bất khiển dụng, phải ngồi xe lăn, hai tay lọng cọng, cầm đũa rớt lên rớt xuống, viết, vẽ không được Mắt mờ, nhìn một thành hai. Nói năng ngọng nghịu khó khăn. Một năm sau bị thêm 2 bạo bệnh, ung thư thanh quản và loét bao tử …Thế mà Khánh Trường vẫn tiếp tục sáng tác được, dù vô cùng khó khăn . Anh đã hoàn thành đến gần 100 tác phẩm. Đây là lần triển lãm thứ 3 sau cơn bệnh.
   Đinh Cường nhận định tiếp: “Xem qua 30 bức tranh trên internet không bằng đứng truớc những tấm toile nhưng sự xúc động đã đến với tôi, tôi bắt gặp ở đó sự chân thật của xúc cảm và sáng tạo, vẫn Khánh Trường với màu xanh trong mênh mông, vẫn vầng trăng, núi đồi, vẫn tĩnh vật mấy quả táo, vẫn chiếc khăn phơi, vẫn những kỷ niệm từ một thời niên thiếu bên triền cát trắng, đến thời thanh niên với những lần hành quân qua Khe Sanh miền địa đầu giới tuyến trùng điệp núi rừng, bom đạn … để bây giờ là Bầu Rượu Bể, là Tịch Lặng, là Khổ Hải, là Vô Thường … để đi đến Hành Trình Giác Ngộ như trong  Thập Mục Ngưu Đồ..Khánh Trường đã thõng tay vào chợ, chỉ còn một vòng trống không …người trâu đều quên .Và thật sự Khánh Trường, người họa sĩ tài hoa, nhiều nghị lực ấy đã quên chưa Nghiệp Chướng?”

   Với Nguyễn, như đã nói từ đầu, tranh Thiền của Khánh Trường gợi ra trong trí óc Nguyễn một vầng trăng khuyết. Như Nguyễn đã nhìn thấy nó ở buổi ấu thời, nơi Vương Phủ, hay sau này trong những bước trắc trở của cuộc đòi, hay như mới đây khi Dung bỏ Nguyễn ra đi. Nó không hẳn là vầng trăng tật nguyền nổi trên biển khổ như Khánh Trường miêu tả. Mà là những mảnh trăng trong Hành Trình Giác Ngộ của bạn. Nó vẫn là hình ảnh đẹp  của cõi huyễn này nhưng nó bất toàn, bị rơi rụng đâu mắt một phần. Và Nguyễn gọi nó là Trăng Thiền để chứng cho cái mà mình có giữa đời này -hạnh phúc chăng- có thể là thế nhưng đôi khi rưng rưng lệ.

NXT

Đêm Đọc Thơ Nh. Tay Ngàn

Hồ Ngạc Ngữ



Tôi chưa đến Trà Vinh
Nơi Nh. Tay Ngàn cùng đi dạo với người yêu thời mới lớn
Nơi xứ sở của tình yêu và thơ ca nuôi dưỡng tâm hồn chàng
Nơi không thể không sinh ra người lãng mạn cuối cùng
Đã sống như một con người cô đơn
Giữa bầy ốc bươu vàng ngổn ngang mùa nước nổi
Đã chết như một nhà thơ
Trên hoang đảo lòng mình 

Tôi lớn lên
Trong tiếng kèn trống xập xèng của vần điệu ngữ ngôn
Những câu thơ du dương ru ngủ
Những câu thơ không thấy con người
Không thấy nỗi buồn
Không thấy niềm đau
Nghe cay đắng một mùi thù hận
Không có yêu thương
Những câu thơ rơi vào quên lãng

Tôi đọc thơ Nh. Tay Ngàn nghe như có tiếng dội trong lòng mình
Không ai buộc cánh chim ở lại khi chưa tìm thấy bầu trời                                                  
'Un jour sans toi'
Thơ ca không dành cho cơm áo 
Thơ ca là của nỗi đau

Tình yêu
Và niềm hy vọng
Khi mùa thu về ở Trà Vinh
Nh. Tay Ngàn đã mang tiếng hát bay vào vô tận

HỒ NGẠC NGỮ


Friday, January 13, 2012


đêm thắp nến

nguyễn thị thảo an




  Chiều cuối năm, chúng tôi hẹn nhau trong một bữa tiệc trà tất niên ở Việt Family Center.
  Bạn cũ lâu ngày chuyện trò rôm rả. Chúng tôi lan man bàn về sách vở, về những công tác từ thiện, rồi sa đà qua chuyện cộng đồng. Chuyện này thì gay go đây. Năm nào cũng vậy, cứ trước bầu cử vài tuần, hai bên Cộng Đồng đều khủng hoảng nhân sự. Không phải Atlanta có những trái tim nhiệt thành, nhưng ở một nơi có hai tổ chức Cộng Đồng mới thấy khó xử. Sinh hoạt bên này thì lập tức bị bên kia coi như thù nghịch. Như thể, người Việt ở đây chỉ thấy được hai màu: không trắng thì đen. Người ta không biết đến sự tồn tại của vàng cam hồng tím,... Có lẽ cái đặc tính chia rẽ đã bắt rễ trong tận cùng xương cốt của người Việt lâu ngày?
  Mãi đến khi chúng tôi ra về, câu chuyện cũng chưa kết thúc. Anh bạn tôi nói, cộng đồng ở đây ví như một sân  banh không có đồng đội - mạnh ai nấy đá. Đôi khi tôi cũng nghĩ đùa, “Người ta nói, cứ mười ông đánh giày thì bằng một ông Khổng Minh. Mà Cộng Đồng ở đây thì chắc cần tới mười ông Khổng Minh lận.” Nhưng điều này tôi không nói với hai người bạn. Hai anh này có hai trái tim vàng, nói thật quá sẽ “nhụt chí” họ chăng? Tôi không muốn thổi tắt ngọn lửa nhiệt tình đang có mòi tàn lụi.
   Nghĩ vậy thôi, chứ tôi không “ke”. Nước Mỹ chẳng có hai đảng đó sao? Cộng Hòa hay Dân Chủ, đường lối có khác nhưng mục tiêu vẫn là phục vụ cho nước Mỹ.  

  Lúc tôi lái xe ra về, chiều cuối năm úa vàng, tàn tạ. Trên cao, một chiếc lá khô còn chấp chới trôi mình trong nắng. Bật radio, giọng ca khàn đục trữ tình của Ray Charles mượt mà cất cao. Georgia On My Mind, bài ca đẹp như một bài ca dao.
“Georgia,.. Georgia...
The whole day through... Just an old sweet song... Keep Georgia on my mind...
Georgia,... A song of you... Come as sweet and clear... as moonlight through the pines...
Other arms reach out to me... Other eyes smile tenderly...”
   Làn hơi quyện theo lời ca vút cao như những cánh diều lồng lộng rồi bất chợt là đà xuống thấp. Lãng đãng như trời đất còn vướng hơi Thu. Ca từ nồng nàn, trong sáng như bóng trăng xuyên qua những hàng thông. Georgia, đất dang tay rộng mở... Ôi, những mắt cười êm dịu ngọt ngào...
   Người của Georgia, không ai là không yêu bài này. Mà phải nghe với chính giọng Ray Charles của ngày xưa mới thấm. Người ta không chỉ yêu giọng ca tuyệt vời mà còn ngưỡng mộ nghệ thuật sáng tác của người nhạc sĩ da đen mù lòa này. Bởi, ông có khả năng biến những câu chuyện đời thường thành âm nhạc. Đời sống là âm nhạc, âm nhạc là đời sống. Khi có người yêu, ông viết I got a woman. Người yêu bỏ đi, ông hát I can’t stop loving you. Có khi cao hứng, ông vừa sáng tác vừa trình diễn. Tài năng như thế, lẫy lừng như thế, lưu diễn khắp thế giới nhưng ông lại bị cấm hát trên chính quê hương mình. Chì vì có lần vào năm 1961, ông đã từ chối hát trên sân khấu kỳ thị màu da ở Georgia. Thời đó sàn nhảy chỉ ưu tiên cho người da trắng. Khu vực khán giả cũng bị phân chia theo mỗi màu da. Người Georgia lúc đó chỉ thấy được có hai màu đen trắng. Trong khoảng 17 năm Georgia cũng đã từng hất hủi đứa con thiên tài của họ. Mãi đến năm 1979, chính quyền mới công nhận bài hát là bài ca biểu tượng của tiểu bang và bãi bỏ lệnh cấm. Mười bảy năm, thời gian quá dài cho một đời người.
  Khi bản nhạc dứt, một người bạn gọi rủ tham dự Đêm Thắp Nến Cho Thái Hà. Mấy tuần nay trên internet tràn ngập tin tức Thái Hà. Tôi sực nhớ hình ảnh đoàn biểu tình mới đây tuần hành quanh công viên Hà Nội. Một cuộc biểu tình mà làm mọi người thót tim. Người ta sợ cho các ông Cha trẻ bị bắt bớ, bị nhục hình. Ở hải ngoại, từ California, Texas, đến Canada, đến Úc,... đều tổ chức những đêm thắp nến hiệp thông với Thái Hà. Chỉ riêng Atlanta, tiếng là có hai Cộng Đồng nhưng cái gì cũng chậm hơn thiên hạ. Thôi thì an ủi, có còn hơn không. Trong nước, ngoài nước, phải đồng thanh lên tiếng. Mặc dù ai cũng biết chính sách của Đảng là triệt tiêu tôn giáo. Điều ngạc nhiên là lúc này họ dùng những phương cách thô bạo công khai hơn, nhất là đối với Công giáo. Bởi có lần, sau ngày 30 tháng 4, chính quyền đã phổ biến những chính sách về tôn giáo tới tận tổ dân phố. Điều làm tôi nhớ nhất là trong buổi họp tổ, một ông đảng viên chi bộ phường tuyên bố rằng, “Tôn giáo chính là thuốc phiện ru ngủ con người,... Đức Phật Thích Ca thật ra chính là kẻ phản động Số Một của nhân loại,...”
  Nghe tới đây thì cả tổ dân phố đều tái mặt.
  Chưa hết, ông đắc ý, hỏi đố. “Trong ba tôn giáo lớn, đạo nào nguy hiểm nhất?”
  Buổi họp đột nhiên im lặng như tờ. Thời khắc lúc đó trôi qua rất chậm. Tôi mường tượng như nghe được những tiếng nuốt trỏng khó khăn trong cổ họng của người hàng xóm.
  Thấy không ai trả lời, ông cán bộ đảo mắt nhìn quanh. Nhìn tới ai, người đó cúi mặt... né.
  Cán bộ nghiêm giọng, “Đạo Công Giáo có tổ chức, có lãnh đạo, có nhà thờ,... Chúng ta bắt linh mục, tịch thu nhà thờ, tổ chức tan ngay. Triệt Công Giáo: dễ. Còn Lương giáo, thờ cúng ông bà, tổ tiên, đúng ra là một tập tục –Lương giáo cũng không nguy hiểm.” Tới đây, đột nhiên ông cao giọng, “Đạo nguy hiểm nhất chính là đạo Phật. Phật dạy rằng, Phật tại tâm. Có tâm thì có Phật.”
  Thấy mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Ông cán bộ ngưng lại một chút để gây sự chú ý, rồi vội vàng giải thích.
  “Cái câu này là phản động nhất đây. Vì Phật tại tâm nên người phật tử không đến cần chùa, không cần đọc kinh, không cần tăng lữ,... Cứ hai tay chắp lại thì người ta có Phật. Phật ở đâu? Phật tại tâm. Chúng ta tịch thu chùa chiền, bắt nhốt tăng lữ: cũng không sao. Vì Phật tại tâm nên tâm người ta thành chùa. Phật tại tâm nên chỉ cần chắp tay, người ta biến thành tăng lữ. Phật dạy con người diệt Tham Sân Si, từ bỏ Thất Tình Lục Dục,... Thế thì lấy đâu ra động cơ đấu tranh? Động cơ thi đua? Thiếu động cơ thì làm sao để phê bình kiểm điểm?... Phật dạy con người an nhiên tự tại, chấp nhận hiện thực để hóa giải những đau khổ, bất công,... Đó là thái độ tiêu cực với cuộc đời. Mà tiêu cực lả kẻ thù nguy hiểm nhất của chế độ. Đó là hình thức chống đối, bất hợp tác với chế độ mà ta không thể vin vào đó để bắt bớ, giam cầm được.”
  Từ đó về sau thì hình ảnh Đức Phật và Tên Phản Động Số Một Không Có Mặt Mũi cứ bám chặt tâm trí tôi không rời, kể cả những lúc tôi vượt biên, lôi trôi trên biển cả hay đã thu mình yên phận trong một góc nhỏ nhoi nào đó nơi xứ người. Ôi, cơ khổ cho Đấng Từ Bi!

  Tôi đến hội trường Đêm Thắp Nến khá sớm. Buổi lễ được tổ chức vào chiều thứ Sáu cuối năm. Lễ đài được chuẩn bị chu đáo và trang trọng. Số người tham dự khoảng 200. Tôi đi loanh hoanh tìm kiếm. Không thấy bạn bè và những khuôn mặt thuộc phía Cộng Đồng bên kia. Điều đáng buồn là đứng trước vấn nạn lớn của đồng bào trong nước mà người Việt ở đây vẫn còn chia rẽ. Không lẽ người ta coi cái tự ái riêng lớn hơn cái áp lực đang đè nặng lên cả một dân tộc của mình? Với cái đà này, giả sử nếu phải đứng chung trong một hội trường, có lẽ người ta phải vẽ một lằn ranh phân chia, người Việt của Cộng Đồng này và người Việt của Cộng Đồng kia. Sự chia rẽ làm người Việt bao giờ cũng mất đi một nửa sức mạnh. Giống như người lực sĩ cử tạ chỉ có thể dùng được một tay. Nhưng với một tay thì chẳng bao giờ người ta cử nổi tạ. Sự chia rẽ làm chúng ta lúc nào cũng ở thế yếu, thế thua. Lần trước, Đêm Thắp Nến Cho Cồn Dầu được khoảng 300. Suốt buổi hôm đó, đầu óc tôi lẩn quẩn nghĩ tới con số 300. Không biết ba trăm người đã từng cầu nguyện thắp nến cho Cồn Dầu đêm đó, họ đang làm gì?
   Vào phần lễ chính, tôi không thể không chú ý tới hai vị diễn giả chính: Linh mục Đinh Xuân Long và Mục sư Lê Trung Hậu. Cả hai vị đều là những vị diễn thuyết hay, hùng hồn và truyền cảm. Theo các vị, vấn nạn không phải ở chỗ đất đai. Bởi nhiều năm qua, Thái Hà đã nhượng hết lần này đến lần khác. Hiện 75% đã nằm trong tay nhà nước. Tu viện, chủng viện thành nhà thương, thành địa điểm kinh doanh, thành chỗ ăn chơi trụy lạc. Vấn đề không còn là sự nhường nhịn, mà là khả năng sẽ nhịn tới khi nào? Mà không phải chỉ có ở Thái Hà, vụ chính quyền ủi nhà giáo dân ở Cồn Dầu, ở Con Cuông vẫn còn đó. Hình như họ muốn dồn giáo dân tới sát chân tường? Hay bắt buộc họ phải tử thủ dưới chân thánh giá?
  Điều tôi thấy lạ là sự vắng mặt của các Cha địa phương và phần đông giáo dân của hai giáo xứ lớn hai phía Nam Bắc của Atlanta. Không lẽ đứng trước vấn nạn của Công giáo mà các Cha không hiệp thông? Lẽ nào người ta lại ngoảnh mặt quay lưng trước tội ác để mưu cầu  sự bình an cho riêng mình? Điều này làm tôi nhớ đến cuốn phim The Passion Of The Christ quá đỗi. Những khúc phim ngày xưa lại quay về trong ký ức.

  Các bạn nào đã từng xem phim The Passion of The Christ của tài tử Mel Gibson trước đây có nhớ. Cuốn phim thành công ở chỗ nhà làm phim đã dựng được những đoạn rất thực với cảnh Chúa chịu nhục hình. Cảnh tra tấn. Cảnh đánh bằng roi, quất bằng xích. Những lằn roi quất xuống, da tróc, thịt rơi. Những xích sắt tung lên tứa máu... Tôi hồi tưởng lại đoạn Chúa đội mũ gai, mặc áo điều, vác cây thập tự, lê lết trên đoạn đường đi lên đồi Golgotha. Thân thể Ngài tiều tụy. Cây thập tự nặng nề đè ngang làm Ngài lảo đảo rồi khụy xuống. Chúa đi chân trần. Bàn chân tím tái, lýnh quýnh lật đật để bấu đất đứng lên. Một ngón bị bật móng, máu rỉ ra từ bên khóe. Chúa lại đứng lên. Rồi lại ngã. Rồi lại đứng lên. Rồi đi. Đi ráo riết để lên tới ngọn đồi khô khốc.
  Từ dưới dốc đồi, người ta đứng đầy hai bên con đường thập tự. Có người cười khoái trá. Có người trêu. Có người quăng đá, có người chọi vu vơ. Người ta lãnh đạm như người đi xem xiếc. Cũng có một hai người khóc. Nhưng những giọt nước mắt lẻ loi không đủ để tiếc thương cho cái chết của loài người.
  Đoạn phim này đã làm tôi rơi nước mắt.
  Ngồi ở hội trường đêm hôm đó nhưng tâm trí tôi lại để đâu đâu.
  Muôn ngàn câu hỏi vu vơ cứ quyện lấy tôi không rời.
  Ai trong chúng ta xem khúc đó mà không tự hỏi mình. Nếu có dịp tình cờ trông thấy Chúa trên con đường thập tự ngày xưa, thì ai sẽ là người ghé vai để chung sức với Chúa?
 Tôi sực nhớ câu truyện trong dụ ngôn ngày xưa.
 Truyện rằng, có một người thương buôn giàu có đi tới kinh thành. Khi ngang qua một thị trấn nọ, ông ta tìm gặp một người họa sĩ tài danh. Người lái buôn dừng lại và thuê người họa sĩ vẽ một bức tượng Chúa Jesus để ông thờ phượng.
 Nửa năm sau, người lái buôn trở về. Khi đi ngang qua thị trấn nọ, ông ghé nhà ông họa sĩ.
 Khi người họa sĩ đem tranh ra, ông liền mở ra xem. Xem xong, đột nhiên người lái buôn đùng đùng nổi giận, mắng.
“Bớ ông họa sĩ kia. Sao ông dám vẽ mặt mày Chúa giống như một tên hung bạo thế hả?”
Người họa sĩ ôn tồn đáp, “Này, trên đời có ai thấy mặt Chúa đâu? Ông thờ phượng Chúa, nên tôi cứ dựa vào con cái Chúa mà vẽ nên Ngài.”

  Tôi là một người ngoại đạo. Và tôi biết Chúa cũng chỉ qua những con cái của Ngài.n
  ntta
  Atlanta, Jan. 2/2012                                           
   

Monday, January 9, 2012


Serenade

Franz. Schubert
Ian Bùi


1. Chìm trong chiều vắng
một hồi chuông trầm. Lắng
từng tiếng, ngân ngân. Chiêu hồn ai?
Còn đâu mùa gió bên
rừng thu. Ngày đó
nắng hoa, tay ôm bàn tay.

Chiều nay nhớ tiếng ai hát, sau đồi
đêm tình yêu hé, môi mời.
(đêm người nằm xuống bên người)
Chiều nay, có tiếng ta hát say trời.
Mơ ngày xanh đã xa rồi,
chỉ còn chiếc bóng mà thôi.

2. Chiều sa vào mây.
Những vần thơ ngày ấy
người hãy mang theo. Cho đời sau.
Kỷ niệm là đoá hoa
Phù Dung ngày đó.
Nhắn cho chuyến gió: xin chờ nhau!

Chiều nay, có ai lau cơn mê đời
khi bàn tay ấm buông xuôi.
Khi bờ mi khép. Khô lời.
Chiều nay, có con tim vẫn yêu người
cho dù lệ đẫm trên môi,
dẫu thời gian có ngừng trôi.

3. Còn lại đây màu nắng úa trên đồi,
hoàng hôn tím chân trời.
Hãy cho nhau thêm một chiều
bên phiếm đời.
Một lần nghe tiếng ai cười
để rồi mãi mãi im hơi.

Tiễn người đi
chiều
rơi 

-ianbui
2012'01 

Lời ghi của NXT
Hồi mới cưới nhau, Nguyễn có mua tặng vợ mình là Dung một cuốn nhạc có tựa đề là ‘14 Tình Ca Bất Tử’ do Phạm Duy tuyển chọn và soạn lời Việt, Trần Dạ Từ giới thiệu. Hình bìa là một bức tranh tuyệt đẹp của Chagall. Bài đầu tiên là bản Dạ Khúc (Serenade) của Franz Schubert.
Trải qua gần nửa thế kỷ cuốn nhạc đó vẫn còn và Dung giữ nó, mang theo trên suốt hành trình của đời mình. Những năm sau này, Dung học chơi piano và thường đàn vào buổi tối, cả trong những lúc bệnh, cùng với những bản nhạc khác. Tiếng đàn vang lên lúc Nguyễn làm việc trước computer hay nằm lơ mơ trên ghế recliner.
Vừa qua, trong tang lễ của Dung, Nguyễn đã nhờ Ian Bùi hát bài này trong tiếng đàn orgue của Tony Tâm Đặng trước lúc Nguyễn đọc bài thơ Khúc Gió Đông viết tặng Dung. Khi mọi việc đã xong, Ian Bùi trở về nhà viết lại lời Việt cho bản Serenade. Ca từ của Ian Bùi hợp với khung cảnh và tâm cảnh Dung và Nguyễn bây giờ, trong đó có dùng lại vài hình ảnh của bài thơ.  Nay xin ghi lại ở đây như một kỷ niệm.

NXT

Saturday, January 7, 2012


Thành kính phân ưu với nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp và gia quyến.

Nguyễn Thị Hải Hà

                                  
                                           Tinh vat Nguyen Trong Khoi

After Someone’s Death
Tomas Transtromer

Once there was a shock
that left behind a long pale glimmering comet’s tail.
It contain us. It blurs TV images.
It deposits itself as cold drops on the aerials.

You can still shuffle along on skis in the winter sun
among groves where last year’s leaves still hang.
They are like pages torn from old telephone directories -
the names are eaten up by the cold.

It is still beautiful to feel your heart throbbing.
But often the shadow feels more real than the body.
The samurai looks insignificant
beside his armor of black dragon scales.

Sau Tang Lễ 

Cơn bàng hoàng rúng động
để lại cái đuôi sao chổi lóng lánh, dài và nhạt màu
Nó bao trùm chúng ta. Nó làm nhòe hình ảnh trên TV.
Nó đông lại thành những giọt lạnh ngắt trong không gian.

Anh có thể lê bước giày trượt tuyết trong nắng mùa đông
giữa cánh rừng nơi lá cây năm trước vẫn còn níu trên cành
Chúng giống như những trang giấy bị xé ra khỏi quyển niên giám điện thoại -
tên người bị mùa đông nuốt trửng.

Vẫn đẹp khi cảm nhận được trái tim anh thổn thức
Nhưng thường xuyên cảm thấy cái bóng có thật hơn là xác thân
Chàng hiệp sĩ có vẻ tầm thường
bên cạnh bộ áo giáp bằng vảy rồng đen

Elegy
Tomas Transtromer

I open the first door.
It’s a large sunlit room.
A heavy car passes in the street
and makes the porcelain tremble.

I open door number two.
Friends! You drank the darkness
and became visible.

Door number three. A narrow hotel room.
Outlook on a back street
A lamp sparking on the asphalt.
Beautiful slag of experiences


Khúc Bi Ca

Tôi mở cửa thứ nhất.
Căn phòng rộng nắng tràn
Một chiếc xe nặng nề chạy ngoài đường
Làm rung rinh những món đồ bằng sứ

Tôi mở cửa số hai
Bạn bè! Các bạn uống bóng tối
trở nên hữu hình.

Cửa số ba. Căn phòng khách sạn nhỏ hẹp.
Nhìn ra cửa sau
Ngọn đèn chiếu sáng lấp lánh mặt nhựa đen.
Cái vẩy sắt xinh đẹp của kinh nghiệm.

Tomas Transtromer sinh năm 1931 ở Stockholm.
Giải văn chương Nobel năm 2011.

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà