Saturday, March 29, 2025

BÓNG CHIỀU CHẾT

Ngu Yên
 
Quầy rượu. Hình Internet
 
Căn phòng nghẹt thở màu âm u
trên mặt quầy rượu vân gỗ phơi dĩ vãng nứt
vết xước, bàn tay say mang nhẫn cạ nỗi niềm
thời gian vô hình lưu lại nhiều thương tích
và không gian
mờ như hôm nay
xô đẩy thời gian hấp hối trong bóng chiều.
 
Ai đang buồn
đến uống với tôi vài ly rượu
nếu tâm tư lớn đủ
thế giới là tù ngục.
 
Ai đang cần yêu
đến ôm tôi một buổi
nếu tình không đủ vui
yêu luôn luôn tạm thời.
 
Trong bóng chiều chết
Quầy rượu và tôi nhập vào nhau
tăng thêm vết nứt vết xước
giá trị quầy rượu là đồ cổ
còn tôi,
không cách nào sống lâu hơn quầy rượu.
 
NGU YÊN

Thursday, March 27, 2025

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH. BẰNG HỮU VÀ CON MÃNH ĐIÊU TRÊN DÒNG CẢM XÚC

Tô Đăng Khoa
 
Một vài ghi chép & suy niệm sau buổi ra mắt sách “Bằng Hữu và Văn Chương”
 
Diễn giả Tô Đăng Khoa

Tác giả NT Khánh Minh
 
Tôi đến buổi ra mắt sách của Nguyễn Thị Khánh Minh với tâm thế lặng lẽ, chỉ định lắng nghe và chung vui cùng chị và tác phẩm mới. Nhưng rồi, không khí hôm ấy đã chạm vào tôi một cách không ngờ. Đặc biệt là khi nghe Trịnh Y Thư “hoàn nhạc” – sau lời tạm biệt cây đàn suốt 15 năm – rồi đến Lại Tôn Dũng phiêu lãng trong những bản nhạc do chính anh sáng tác. Âm nhạc vang lên trong một không gian thấm đẫm tình bằng hữu, nơi mà văn chương không chỉ được đọc mà còn được sống. Trong bầu không khí ấy, tôi buộc lòng phải đứng lên, chia sẻ đôi lời – dù vốn chỉ định im lặng.
 
Hôm sau, chị Khánh Minh nhắn tin, mong tôi ghi lại lời phát biểu hôm ấy. Nhưng vì những gì tôi nói hôm đó là bộc phát, nên hôm nay tôi xin được ghi lại một vài suy niệm – như một cách lắng đọng lại trải nghiệm của mình về buổi ra mắt sách Bằng Hữu và Văn Chương.
 
Với tôi, cuốn sách này không chỉ đơn thuần là một tuyển tập bài viết. Nó là một hóa thân sống động của tình bằng hữu – và đồng thời là tấm gương soi chiếu cách một con người có thể sống trọn vẹn cùng chữ nghĩa.
 
Nguyễn Thị Khánh Minh không chỉ là một người làm thơ hay viết văn – chị sống cùng với văn chương, như sống cùng hơi thở. Và hơn thế nữa, chị sống trọn với bằng hữu. Những ai từng đồng hành cùng chị, dù trong văn chương hay đời thường, đều cảm nhận được nơi chị một thứ ánh sáng rất riêng – dịu dàng, từ tốn, mà sâu lắng. Trong số đó, tôi có duyên được chứng kiến và cảm nhận mối gắn kết sâu xa giữa chị và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ – một tình bạn văn chương hiếm hoi giữa hai tâm hồn đồng điệu. Nếu trong thơ của Nguyễn Lương Vỵ, chất liệu chủ đạo là âm thanh, thì với Khánh Minh, đó là ánh sáng. Âm thanh và ánh sáng – hai yếu tố nền tảng của mọi tri giác – đã trở thành biểu tượng cho sự hỗ tương sáng tạo giữa họ. Một người nghe thấy tiếng vọng của thế giới. Một người nhìn ra đường đi của cảm xúc.
 
Chính từ mối giao cảm ấy, tôi bắt đầu nhìn kỹ hơn vào văn chương của chị. Và tôi nhận ra rằng: Khánh Minh viết bằng một loại cảm xúc rất đặc biệt – đã được tôi luyện qua thời gian, vừa tinh khôi, vừa tỉnh táo. Chị gọi đó là “theo cảm xúc mà đi”, nhưng trên thực tế, đó là một hành trình nội tâm sâu sắc. Chị không để cảm xúc cuốn mình đi, cũng không cố gắng kiểm soát hay lý tưởng hóa nó. Chị chỉ đơn giản là lắng nghe – như một người thiền giả lắng nghe từng hơi thở, sống trọn vẹn với “cái đang là” trong từng khoảnh khắc.
 
Và từ hình ảnh ấy, tôi liên tưởng đến một biểu tượng rất rõ ràng: Khánh Minh như một con mãnh điêu – một con ó biển đang lượn cao trên dòng cảm xúc. Con ó ấy không bay để thoát ly, mà để nhìn rõ. Khi thời điểm đến, nó lao xuống – chuẩn xác, dứt khoát – để chụp lấy con cá đang bơi dưới mặt nước. Cũng như vậy, Khánh Minh quan sát cảm xúc của mình từ trên cao, bằng ánh mắt sáng suốt. Và khi cần, chị “chụp” lấy những cảm xúc sâu kín nhất và chuyển hóa chúng thành ngôn ngữ – thứ ngôn ngữ không đơn thuần là chữ nghĩa, mà là ánh sáng – tinh khiết, sắc sảo và đầy nhân tính.
 
Với tôi, “con mãnh điêu trên dòng cảm xúc” không chỉ là một hình ảnh đẹp, mà là biểu hiện trung thực của bản thể thi sĩ nơi Khánh Minh. Chị không né tránh nỗi đau. Cũng không cường điệu sự mong manh. Chị chỉ lặng lẽ soi chiếu cảm xúc của mình vào gương ngôn ngữ – để cho thơ tỏa hương, như một đóa hoa đang nở. Chị không vội. Và chính vì thế, mỗi bài viết của chị đều mang một chiều sâu lắng đọng, khiến người đọc cảm thấy như mình đang lắng nghe chính tâm hồn mình – qua giọng nói của một người khác.
 
Tôi rời buổi ra mắt hôm đó với lòng biết ơn và cảm kích. Biết ơn vì được chứng kiến một tâm hồn trung thực đến mức tinh khiết. Và cảm kích vì thấy giữa thời đại ồn ào, vội vã này, vẫn còn những người dám đi chậm, dám viết thành thật, và dám sống hết mình với một chữ rất cũ mà rất cần: chữ “bạn”.
 
Với Khánh Minh, văn chương không chỉ là nơi để viết, mà là một “nhà quê chung” – nơi mọi người có thể trở về, ngồi lại bên nhau, suy nghĩ và cảm nhận. Và chị, như một người giữ lửa thầm lặng, đang mời chúng ta quay về với phần trong sáng nhất của mình: nơi cảm xúc vẫn còn nguyên sơ, nơi chữ nghĩa chưa bị lãng quên.
TĐK 

B Ư Ớ C X U Ố N G

Hoàng Xuân Sơn
 
Tranh Salvador Dali
 
Khi anh bước xuống sườn đồi
con mắt tiếp thu lời kinh dẫn độ
buổi sáng [trong nắng trong gió] loài chim hót căng mặt trời
bình minh nức lòng ngọn cỏ
 
Anh bước xuống cuộc đời trống trải
bốn phía mênh mông là rừng
bàn chân tê một thời phố hẹp
vĩnh biệt chiều quán trọ rưng rưng
 
Anh bước xuống đồi phất phơ hình cọ
ngả rạp phía nào cũng gió ngất ngư
một đóa kim tiền làm sao định hướng
túi rỗng trăng sao một gã lừ đừ
 
Anh bước xuống bước xuống
con thuyền tách bến ngọn triều dâng nhanh
sóng xõa tóc em tình ta hiếm muộn
bão trắng mưa mau buồn đã thập thành
 
Lá chắn vòng tay ôm dông bão
con mắt lim dim thán khí mịt mù
anh bước xuống một ngày huyên náo
điệu sinh cuồng hí lộng trùng tu
 
HOÀNG XUÂN SƠN
juin 2006
 

 


Wednesday, March 26, 2025

THẾ GIỚI SÁNG TẠO MIỀN NAM VIỆT NAM 1954-1975 ĐẾN NAY

 
TÁC GIẢ: NGÔ THẾ VINH
ERIC HENRY CHUYỂN NGỮ VÀ GIỚI THIỆU
 

Cuốn sách này là bản dịch của một tập hợp bài viết về các nhân vật, văn học và báo chí của các cá nhân người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn thông tin phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Miền Nam Việt Nam, cũng như sự nghiệp cá nhân trong lãnh vực nhân văn.
 
Những nhân vật được mô tả phần lớn đã nổi tiếng trong thời kỳ 1954 – 1975. Sau khi Miền Nam sụp đổ vào tay Bắc quân năm 1975, hầu hết trong số họ đã bị giam cầm một số năm trong các trại cải tạo cộng sản. Sau đó, vào những năm 1980, một số đã đến Hoa Kỳ và hầu hết vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.
 
Võ Phiến (1925 – 2015), nhà tiểu luận, tiểu thuyết gia và sử gia văn học, đã mô tả nền văn học phát sinh dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như sau: “Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954-75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những nụ cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa riễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả, râm ran khắp cùng trên mặt sách báo… Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh, mọi tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá. Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.”
Chế độ cộng sản vào tiếp quản năm 1975 đã tìm cách xóa bỏ di sản này bằng cách hình sự hóa nó và phá hủy vật lý mọi tàn tích có thể thu thập được. Do đó, những bộ sưu tập đầy đủ nhất về văn học Việt Nam trong giai đoạn này không phải ở Việt Nam mà ở một số thư viện học thuật tại Hoa Kỳ, như thư viện của Đại học Cornell, Đại học Yale và Đại học Hawaii.
 
Tác giả của cuốn sách này, Bác sĩ Ngô Thế Vinh, là một trong những nhân vật hàng đầu trong đời sống văn học ở Nam Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, và đã từng quen biết với tất cả những nhân vật mà ông phác thảo. Bác sĩ Vinh là bác sĩ chuyên ngành nội khoa tại một Trung Tâm Y Khoa Long Beach, Nam California. Ông cũng là một tác giả không biết mỏi mệt, với các tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, các sách bình luận văn hóa (như cuốn này) và các bài tường trình khảo sát. Đặc biệt, ông đã đích thân thực hiện chuyến đi điền dã theo suốt chiều dài 4.800 km của sông Mekong và đã viết hai cuốn sách nói về sự tồn vong của con sông này, một con sông lớn của thế giới và là mạch sống của hơn 70 triệu người sống dọc theo hai bờ con sông và nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai cuốn sách này và một cuốn sách khác của ông đã được trao các giải thưởng và đã thu hút được nhiều đánh giá tích cực. Ông vẫn là một nhà bảo vệ môi trường tận tụy và kiên trì. Ngoài ra, tôi thấy ông là một nhà báo cực kỳ tài năng với khả năng gần như kỳ diệu trong việc truy tìm các tài liệu và sự kiện khó hiểu.
 
Tác giả có tình bạn thân thiết với tất cả những cá nhân mà ông thảo luận trong cuốn sách này, vì vậy chân dung của ông thường bao gồm các đoạn trích từ thư từ của họ. Là một bác sĩ, ông cũng quan tâm đến tình hình sức khỏe của họ, vì vậy cũng tạo nên một phần của nhiều bức chân dung này. Những cá nhân mà ông miêu tả trong tập sách này là:
 
Mặc Đỗ (1917 – 2015)
Là một nhà báo, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn và dịch giả, ông sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình thấm nhuần Nho giáo, nhưng cũng dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Ông di cư vào miền Nam năm 1954 và thành lập một nhóm văn học có tên là Quan Điểm và tờ báo Tự Do. Ngoài các tiểu thuyết và truyện ngắn của riêng mình, ông còn dịch các tác phẩm của Hemingway, Fitzgerald, Mauriac, Tolstoy, Pasternak và những người khác.
 
Như Phong (1923 – 2001)
Được tác giả mô tả là “nhà báo của các nhà báo”, Như Phong là một tiểu thuyết gia, một chuyên gia về các vấn đề cộng sản ở Bắc Việt Nam và là một chiến lược gia thường làm việc trong hậu trường với tư cách là cố vấn chính trị cho những nhân vật trong đời sống cộng đồng. Ở Hoa Kỳ, ông đã kết bạn với nhiều người trẻ tuổi và ông đã trình bày những kế hoạch lớn liên quan đến vai trò của báo chí trong tương lai của Việt Nam.
 
Võ Phiến (1925 – 2015)
Là một nhà tiểu luận, nhà văn truyện, nhà sử học văn học và biên tập viên, ông là một trong những tác giả chính gắn bó với tạp chí Bách Khoa tại Sài Gòn. Sau năm 1975, căn nhà của ông ở Los Angeles đã trở thành trung tâm văn học lưu vong. Ông đã viết nhiều cuốn sách nghiên cứu sâu sắc về lịch sử văn học của Nam Việt Nam. Ông cũng là chủ đề một sách nghiên cứu của John Schafer: The Sadness of Exile.
 
Linh Bảo (1926 – 2024)
Là một trong những nhà văn nữ đầu tiên của Việt Nam, Linh Bảo đã dành phần lớn cuộc đời mình sống ở các quốc gia khác, bao gồm một số năm ở Quảng Châu và Hồng Kông. Là một tiểu thuyết gia, nhà văn tài năng, nhà báo tự do, nhà hoạt động nữ quyền, các tác phẩm của bà sử dụng sự chế giễu để phơi bày những khía cạnh tiêu cực của cuộc sống. Phong cách của bà là sự tàn nhẫn, nghịch lý, tinh quái và bất chấp, nhưng đồng thời cũng đầy đau khổ.
 
Mai Thảo (1927 – 1998)
Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà thơ và là người sáng lập kiêm biên tập của tạp chí tiên phong Sáng Tạo. Sau khi di cư sang Hoa Kỳ, ông sống một cuộc sống giản dị như tu sĩ trong căn hộ một phòng, đó cũng là văn phòng làm việc của ông – nơi ông chuẩn bị từng số tạp chí Văn lưu vong. Ông là một trong số ít nhân vật được đề cập trong cuốn sách này không bị giam cầm trong trại cải tạo. Thay vào đó, là hai năm tuyệt vọng sống ẩn náu ở Sài Gòn trước khi trốn thoát bằng thuyền đến Malaysia và sau đó đến Hoa Kỳ.
 
Dương Nghiễm Mậu (1936 – 2016)
Là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận, ông sinh ra tại Hà Nội và di cư cùng gia đình vào Nam vào năm 1954. Tiểu thuyết đầu tay của ông, Gia Tài Người Mẹ, đã giành được Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1966. Ông nhập ngũ năm đó và làm phóng viên chiến trường. Sau khi bị giam cầm trong trại cải tạo từ năm 1975 đến năm 1977, ông làm nghề sơn mài để kiếm sống. Ông là một trong số ít tác giả được đề cập trong cuốn sách này đã chọn ở lại Việt Nam thay vì di cư.
 
Nhật Tiến (1936 – 2020)
Là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà viết kịch sung mãn và đa dạng, Nhật Tiến là một Hướng đạo sinh của phong trào Hướng đạo Việt Nam, và luôn trung thành với truyền thống của phong trào này trong suốt cuộc đời. Với hơn hai mươi cuốn sách mang tên mình, những sáng tác của ông đặc biệt gắn liền với tuổi thơ và thường đề cập đến nỗi đau khổ của trẻ em.
 
Nguyễn Đình Toàn (1936 – 2023)
Ông là một nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhạc sĩ và người dẫn chương trình phát thanh có ảnh hưởng mang tên “Nhạc Chủ Đề”. Hầu hết các tiểu thuyết của ông đều xuất hiện từng phần trên nhiều tạp chí khác nhau trước khi xuất bản thành sách và chú trọng nhiều hơn vào khung cảnh hơn là cốt truyện. Ông đã viết lời bài hát “Tình Khúc Thứ Nhất” của nhạc sĩ Vũ Thành An, mơ hồ nhưng đầy gợi cảm: “Tình vui theo gió mây trôi, ý sầu mưa xuống đời.”
 
Thanh Tâm Tuyền (1936 – 2006)
Ông sinh ra tại thành phố Vinh, Nghệ An, đầu tiên ra Hà Nội, nhưng sau đó di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ông là một trong những người đóng góp chính cho tạp chí Sáng Tạo. Ông đã nổi tiếng từ sớm với thể loại thơ tự do ít người biết đến và hoàn toàn mới lạ, nhưng sau này đã chuyển sang các hình thức thơ truyền thống. Từ năm 1975 đến năm 1982, ông bị giam cầm trong các trại cải tạo rất khắc nghiệt ở miền Bắc Việt Nam. Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn hư cấu và nhà viết kịch, và cũng là một nhà thơ.
 
Nguyễn-Xuân Hoàng (1937 – 2014)
Ông là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận và biên tập viên. Ông hoạt động ở Sài Gòn trước năm 1975 và di cư sang Hoa Kỳ sau những năm trong các trại cải tạo và làm chủ biên cho một số tạp chí văn học Việt Nam lưu vong.
 
Hoàng Ngọc Biên (1938 – 2019)
Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ, tiểu thuyết gia, học giả về Proust, dịch giả và nhạc sĩ, ông là một trong những người đa năng và năng động nhất được thảo luận trong tập này. Các tác phẩm của ông trên nhiều phương tiện truyền thông rất đa dạng và mang tính thử nghiệm cao.
 
Đinh Cường (1939 – 2016)
Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ và giảng viên hội họa. Đến năm 2005, ông đã có hơn hai mươi bốn triển lãm cá nhân và hai mươi mốt triển lãm với các nghệ sĩ khác. Ông cũng là tác giả của ba cuốn sách, một cuốn gồm các bài tiểu luận về nghệ thuật và hai cuốn gồm các bài thơ.
 
Nghiêu Đề (1939 – 1998)
Là một nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ, xuất thân từ tỉnh Quảng Ngãi. Là bạn thân thiết của tác giả, ông rất được săn đón với tư cách là nhà thiết kế bìa cho các tác phẩm văn học. Với tính cách thất thường và lập dị, ông không bao giờ bận tâm ghi chép về các hoạt động sáng tạo của mình. Ông sang định cư tại Hoa Kỳ cùng gia đình và mất năm 1998 trước khi bước sang tuổi sáu mươi.
 
Nguyên Khai (1940 –)
Một nghệ sĩ mà hầu hết các tác phẩm của ông đều là tranh sơn dầu. Bản chất kín đáo và trầm tĩnh. Ông đã từng nói trong một cuộc phỏng vấn, “Hội họa không quay lưng lại thực tại, nhưng cũng không minh họa thực tại. Hội họa cho chúng ta cái nhìn khác; cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mỹ được biểu đạt.”
 
Cao Xuân Huy (1947 – 2010)
Một sĩ quan thủy quân lục chiến và nhà văn, nổi tiếng nhất với cuốn hồi ký chiến tranh: Tháng Ba Gãy Súng, một cuốn sách độc đáo, sống động và giàu cảm xúc. Tác giả có nhiều điều muốn nói về cuộc chiến đấu can trường của Cao Xuân Huy chống lại căn bệnh ung thư sắc tố mắt trong những năm cuối đời.
 
Phùng Nguyễn (1950 – 2015)
Một chuyên gia IT, đồng thời là một nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận và blogger. Tác giả dành nhiều sự quan tâm cho một giai đoạn trong cuộc đời mà Phùng Nguyễn chưa bao giờ nói đến nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sau này của ông: quá trình hồi phục kéo dài sau một vết thương nghiêm trọng ở chân mà ông phải chịu trong một cuộc hành quân. Ngoài việc viết Blog có tựa đề “Rừng & Cây”, ông đã xuất bản hai tập truyện ngắn: Tháp Ký Ức (1988) và Đêm Oakland và Những Truyện Khác (2001).
 
Phạm Duy (1921 – 2013)
Là một nhạc sĩ, nhà viết lời, nhà nghiên cứu âm nhạc và người viết hồi ký, ông là nhạc sĩ Việt Nam sáng tác nhiều nhất và xuất sắc nhất trong thế kỷ trước, trong số rất nhiều nhạc sĩ Việt Nam. Bức chân dung trong tập sách này sẽ xem xét các hoạt động của ông trong nhiều giai đoạn sự nghiệp và xem xét bản chất phát triển của mối quan hệ của ông với nhiều bạn bè và cộng sự.
 
Eric Henry (1943 –)
Henry là một học giả người Mỹ chuyên về văn hóa Trung Quốc và Việt Nam, và là dịch giả của tập sách này. Tác giả đặc biệt chú ý đến những trải nghiệm ban đầu của Henry ở Việt Nam và những nỗ lực gần đây của ông nhằm vượt qua sự từ chối của gia đình Phạm Duy trong việc cấp phép xuất bản bản dịch tiếng Anh bốn tập hồi ký của Phạm Duy.
 
Phạm Biểu Tâm (1913 – 1999)
Ông là một bác sĩ phẫu thuật, giáo sư y khoa lỗi lạc và là Khoa trưởng trường Đại học Y khoa Sài Gòn. Tác giả đề cập đến những đóng góp to lớn của nhân vật này cho việc thành lập một hệ thống y tế hiện đại tại Việt Nam, đặc biệt chú ý đến các hoạt động của ông với tư cách là một nhà giáo dục và lòng vị tha và sự quảng đại của cá nhân ông.
 
Phạm Hoàng Hộ (1929 – 2017)
Tiến sĩ Phạm Hoàng Hộ là một nhà khoa học – thực vật học, người sáng lập và cũng là Viện trưởng của Đại học Cần Thơ, là tác giả của bộ sách Minh họa Cây Cỏ Việt Nam, gồm nhiều tập hoàn chỉnh. Chân dung của ông trong tập sách này ghi nhận quá trình phát triển của ông với tư cách là một nhà khoa học, cùng với các hoạt động không ngừng nghỉ với tư cách là một nhà giáo dục và Viện trưởng trường đại học và những nỗ lực của ông để vượt qua những hạn chế mà chính phủ Việt Nam từ sau 1975 đã áp đặt lên ông.
Bác sĩ Ngô Thế Vinh cũng là tác giả cuốn sách thứ hai về Chân dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa đề cập đến 17 nhân vật khác (Nguyễn Tường Bách & Hứa Bảo Liên, Hoàng Tiến Bảo, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung, Dohamide, Lê Ngọc Huệ, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, Mai Chửng, Trần Hoài Thư & Ngọc Yến, Phan Nhật Nam, Võ Tòng Xuân, Trần Mộng Tú và John Steinbeck). Tập này kết thúc bằng một bức chân dung văn hóa, không phải của một con người, mà là Con Đường Sách, một khu bán sách được tổ chức độc đáo bên cạnh Bưu điện Trung tâm Sài Gòn. Tôi hy vọng có thể dịch và xuất bản cuốn sách này sớm với tên gọi “Thế giới sáng tạo miền Nam Việt Nam, Tập 2”.
 
Kết hợp hai tập chân dung này tạo thành một bức chân dung sống động về một nền văn hóa có nhiều điều để cống hiến cho thế giới, đồng thời đưa ra sự sửa sai và bác bỏ mạnh mẽ những nỗ lực của chính quyền cộng sản Việt Nam nhằm phủ nhận tầm quan trọng của nền văn hóa này.
 
ERIC HENRY
Đồi Chapel, Bắc Carolina.
Ngày 30 tháng 4 năm 2025
 

THƠ THANH TÂM TUYỀN

TÊN NGƯỜI YÊU DẤU
 
Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền
Đinh Cường vẽ
 
1.
Trên đỉnh đèo Hải Vân
Nếu nhớ quê hương
Muốn chết
Vũ đạo Ánh
Chiến tranh vẫn còn (đến khi nào)
Đồn đóng sườn núi
Ngó biển không
Chiều chẳng mặt trời
Một mình rừng
Mây loã thể
Vũ đạo Ánh
Đập cụt cổ chai bia
Lấy súng bắn lên không
Đạn chì sẽ ghim ngực tao lép
Vũ đạo Ánh
Chim én vẫn bay đầy đàn trên trời chiều đường phố ở Sài gòn
 
2.
Khóc đi Nguyễn
Mùa này gió biển thổi điên lên lục địa
Trời thành phố ngục tù
Mầu xanh thoảng tiếng cười của kỉ niệm bâng quơ
Canh bạc về khuya
Viên đạn lăn đã mỏi
Chiếc đĩa quay không ngừng
Rồi đó bệnh tật và nghèo đói
Trở về căn nhà
Chăn chiếu héo khô
Giống chiếc quan tài của Thoại
Khóc đi Nguyễn
Trong giấc mộng hằng đêm
Sân khấu lặng thinh
Mưa dột trên sàn gỗ
Mồ hôi giữa ngực và lưng
Những hàng ghế thầm muốn hỏi
Sao không một ánh nến
Không người nào mang một vòng hoa
Ném lên nhà mồ ấy
Khi tỉnh dậy
Chẳng một ai ôm mình
Đêm dài tiếng kèn thê thiết
Thổi trên môi ung độc người nhạc sĩ đen
Tội lỗi nhét đầy con mắt ngây ngô
Kể lể toàn truyện tình vô vọng
Với một mình cấu lấy tóc mình
Khóc đi Nguyễn
TTT

 


Monday, March 24, 2025

LÊ KÝ THƯƠNG. KHÉP LẠI NHỮNG HẸN HÒ...

Trần Thị Nguyệt Mai
 
Lê Ký Thương và tranh
 
Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...
Nhớ anh Lê Ký Thương là nhớ tới một người rất tài hoa và rất hiền, có biệt danh là Cóc, mà lúc đầu tôi nghĩ có lẽ anh đặt vui do câu “Con Cóc là cậu Ông Trời”. Nhưng không phải vậy, mà sâu sắc hơn nhiều. “Bọn trẻ con chúng tôi ngày ấy có hôm bắt được một con cóc, cho cóc ngậm thuốc lá. Thế là cóc say thuốc, quay mòng mòng. Chúng tôi được một bữa cười thỏa thích. Ngẫm lại thấy có tội trong việc hành hạ một sinh vật. Hình ảnh ấy chẳng khác gì những kẻ thủ ác đối với con người… Năm nay tôi đã ngoài 60 mà vẫn ám ảnh đến chuyện đó. Tôi bày Họ nhà Cóc để xin được xá tội. Vả lại tôi cũng thích một câu dân gian ‘Cóc cắn ba năm trời gầm mới nhả’ – sự quyết liệt trong một hành động mà tôi luôn phải học tập…” [1]
Mở lại thư ngày cũ, tháng 4/2023, khi về Sài Gòn thăm gia đình, tôi có hẹn với anh chị LKT và những anh chị khác trong nhóm Ý Thức cùng với Hoàng Kim Oanh ở café Đường Sách. HKO đã giữ lại cho chúng tôi khoảnh khắc quý giá đó bằng những hình ảnh thật đẹp. Các anh Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh, Châu Văn Thuận, anh chị LKT, Hoàng Kim Oanh và tôi, như trẻ hơn. Ai có thể ngờ đây là những “cụ ông, cụ bà” trong khoảng tuổi U70 – U90, khiến tôi tự hỏi hạnh phúc có phải là liều thuốc tiên? Oanh và tôi còn có hình chụp riêng với anh chị LKT và tôi có mấy tấm đứng với anh Thương cười rất tươi nữa. Rồi tháng 9 cùng năm tôi lại về. Lần này anh Đỗ Hồng Ngọc ra mắt cuốn “Một ngày kia đến bờ” (mới lấy từ nhà in ra nên còn nóng hổi) ở quán chay Phương Mai trên đường Võ Thị Sáu (Hiền Vương cũ). Lại được dịp gặp anh chị LKT. Tôi rất cảm động khi thấy anh khá mỏi mệt do mới cùng con đi thăm sui gia ở tỉnh về, nhưng vẫn ráng đến dự để gặp bạn xa...
Năm ngoái, nghe tin anh bệnh nặng, nhưng bác sĩ cho về nhà và chị Kim Quy chăm sóc anh rất tận tình 24/7. Do đó, tháng 9/2024 khi trở lại Saigon, tôi hẹn đến thăm anh. Chị Kim Quy rất chu đáo đã mời các bạn đến chơi để cùng gặp nhau. Bữa đó có anh Vũ Trọng Quang, Hoàng Kim Oanh và những ai nữa tôi không nhớ rõ. May sao anh Thương khỏe hơn, rất tỉnh và vui, còn đùa với các bạn là chị Quy chỉ đứng thứ nhì, còn hạng nhất thì anh không chịu tiết lộ. Tuy nhiên, ai cũng thấu hiểu trong “tim đen” của anh, chị Quy luôn là số 1. Chẳng thế mà năm xưa anh cầu hôn cùng chị, cô giáo dạy Sử cấp 3 người Huế, bằng bài thơ:
 
ANH MONG
Anh mong trong mái nhà này
Cùng em san sẻ đắng cay ngọt bùi
Con mèo khe khẽ ngoắt đuôi
Vờn qua những quyển sách đời anh mê
Và tình bạn suốt bốn mùa
Thiếu bao thứ ấy hóa thừa đời anh.
(Lê Ký Thương phỏng dịch từ nguyên tác Le Chat của Guillaume Apollinaire)
Và càng xác tín sau này: “Anh đã chọn con đường gian khổ/ Đâu bằng em chọn anh san sẻ cuộc đời/ Những đêm trắng, trắng trang giấy trắng/ Anh hiểu rằng: Em can đảm lắm, em ơi”.
 
Lê Ký Thương sinh năm 1946, quê quán làng Vĩnh Điềm Thượng, quận Vĩnh Xương, nay thuộc TP Nha Trang (cách Thành – Diên Khánh 6 cây số). Trong một lần trò chuyện với “người nhà quê già” Hai Trầu Lương Thư Trung, LKT cho biết đã “coi văn chương và nghệ thuật là NGHIỆP. Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa (ND). Và mê vẽ trước khi biết tập tễnh làm thơ.” [2] Anh chia sẻ với nhà thơ Phan Vũ về thuở ban đầu đến với hội họa do cha là một nhà nho, chữ đẹp. Nên khi có người nhờ cha viết sớ thì anh phải mài thỏi mực to và cứng cả tiếng đồng hồ rất mỏi tay và chán nản, bù lại được xem cha “múa bút và rất thích thú với đường nét bay lượn của những con chữ. Ý thức về hội họa có lẽ bắt nguồn từ những giờ phút mệt mỏi và thú vị ấy…” [1]  Lê Ký Thương có tranh trong các bộ sưu tập cá nhân ở các nước: Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore”. [2] Đã tham gia nhiều cuộc triển lãm. Có thể kể: triển lãm tranh sơn dầu tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp – Đà Lạt (1974). Sau 1975 là những cuộc triển lãm tại phòng tranh Tự Do (Sài Gòn), chung với Thân Trọng Minh (1998); triển lãm cá nhân loạt tranh sơn dầu “Ký Ức Tuổi Thơ” (?), triển lãm tranh và tượng gốm “Họ nhà Cóc” (2007), triển lãm loạt tranh “Lạy tạ” (2009). Đó cũng là lần triển lãm cuối cùng của anh, do năm 2010 bị tai biến, tưởng không qua khỏi. May mắn thay, anh tâm sự, “sau 21 ngày nằm điều trị tại BV 115 SG, tôi hồi phục một cách thần kỳ. Từ đó, tôi bị yếu cơ tay mặt, chỉ sử dụng tay trái gõ bàn phím, điều khiển chuột hay cầm cọ vẽ trên khổ giấy A4 tối đa.” [2]
Tác phẩm thơ: Bếp lửa còn thơm mùi bã mía, Ý Thức 1974 (phổ biến hạn chế, in những bài thơ đã đăng trên tạp chí Đất Nước, Đối Diện, Ý Thức); Trò chơi Trời cho: Hành Trình Nghiệp Thơ (Bản Thảo 2018); Góp Nắng Cho Cây, (dành cho lứa tuổi Nhi đồng 6 – 11, Nhà xb Kim Đồng 2023).
 Về dịch thuật, Lê Ký Thương đã chuyển ngữ ba tác phẩm lớn: Một nỗi đau riêng dịch từ bản tiếng Anh tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Kenzaburō Ōe, Nobel Văn chương 1994 (Nxb. Văn Nghệ, 1997); Phù thủy xứ Oz được dịch từ nguyên tác The Marvellous Land of Oz của nhà văn Mỹ L. Frank Baum (Nxb. Văn Nghệ, 1997) và Tchékhov – cuộc đời và tác phẩm dịch từ bản tiếng Pháp của Sophie Laffitte (Nxb. Thời Đại, 2009). Và bốn truyện thiếu nhi: Phép mầu – Mary Kay Roth, Con bướm cuối cùng – Michael Welzenbach, Kỷ niệm ngày mãn trường – Shirley Lord Bachelder, Nàng tiên cá – Selma  Lagerlöf.
Bên cạnh đó, anh có nhiều tạp văn và ký đi trên trang mạng Văn Chương Việt rất hay: Bài chòi quê ngoại, Bánh căn trên phố Saigon, Cơm cháy nồi đồng, Cơm mo cau giữa lòng thành phố, Dấu ấn từ một dòng sông, Hồn sách cũ, Hương vạn thọ, Lộc đầu năm, Như đường mía lau, Những người thiện tâm...
Chưa kể những tác phẩm còn trong dạng bản thảo dành cho những người thân trong gia đình và bạn thân:
– Nobel Văn chương Thế kỷ 20 (1901 – 2000) biên dịch theo tài liệu của Viện Hàn lâm Thụy Điển, S. 2004.
– 14 Họa sĩ Mỹ tiêu biểu (từ Gilert Stuart đến Jackson Pollock), S. 2004.
– Hành trình Nghiệp Vẽ – S.  2014
– Hành trình Nghiệp Văn [2]
Anh Hai Trầu chia sẻ, “Đọc hồi ức của Lê Ký Thương tôi dễ hòa nhập vào những trang đời mà tác giả đã từng trải… Chính cái “đức thành thật”, óc quan sát tỉ mỉ, với cách dùng chữ giản dị mà tinh xác và thuật miêu tả vừa phải mà tự nhiên trong những trang hồi ức của LKT, tác giả đã làm cho tôi thích thú và cảm động” [2]. Còn đối với nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy, “Chiêm ngắm chân dung Lê Ký Thương qua văn chương, tôi thật sự có ấn tượng với hình ảnh chàng trai tuổi đôi mươi trong một thời với Ý Thức và hình ảnh của “lão ngoan đồng” thích chơi với trẻ con trong độ bạc đầu. Tuổi thanh niên sôi nổi, dũng cảm chống chiến tranh, bất công, bạo quyền; tuổi lão niên đằm thắm, hiền lành góp từng tiếng lòng phụng sự lứa măng non. Vậy thì, xin mượn hai câu thơ của văn hào Lỗ Tấn để phác thảo chân dung văn học của Lê Ký Thương: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Trợn mắt hay cúi đầu đều là sự lựa chọn thái độ sống dấn thân, hết mình rất đáng trân trọng. Thái độ đó đã được lưu giữ trong hành trình sáng tác lắm chông gai, nhọc nhằn của đời “phu chữ” được Lê Ký Thương kín đáo gửi gắm trong bài thơ Nợ văn chương như sau:
 
“Suốt một đời
Tường dính mồ hôi
đậm dấu lưng người – máu rỉ
Nhòe mặt chữ
Tình bằng duyên nợ cái văn chương!” [3].
 
Họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, dịch giả Lê Ký Thương cuối cùng đã chọn ngày Lễ Tình Nhân để “dừng bước giang hồ”. Thôi thì, “Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây...” [4]. Anh thanh thản giã từ cõi tạm ở tuổi 80, để lại tiếc thương cho những người ở lại cùng bài thơ MƠ HOÀI NHỮNG GIẤC MƠ… ngọt ngào thấm đẫm thương yêu:
 
1.- Tháng mười, tiếng ễnh ương giục người gặt lúa. Cha lót ổ bên bụi chuối sau hè cho mẹ nằm. Con từ nơi đó sinh ra. Hương bưởi trong vườn phảng phất lưỡi dao tre. Bà mụ già run tay cắt rún. Giọt máu đầu đời con thấm sâu lòng đất ẩm. Biến thành những giấc mơ.
2.- Con lớn lên bằng nước cơm sôi và sữa mẹ thất thường. Ngày thôi nôi con cha mẹ nguyện cầu tám hướng bốn phương. Xin Ơn Trên cho con chọn một nghề nhàn hạ. Chiếc nia bày những mẫu vật tượng trưng. Con toét miệng cười sung sướng, giơ bàn tay nhỏ bé chụp vội nắm xôi. Nắm xôi tròn ôm trọn những giấc mơ con.
3.- Con thích rong chơi với những bạn chăn bò. Vô núi bẫy chim, ra đồng bắt dế. Chơi những trò chơi trời cho dân dã. Có lần con được làm vua. Ngồi trên chiếc ngai vàng làm bằng đôi cánh tay của hai “đô lực sĩ”. Nhưng con không mơ mình là thiên tử. Con chỉ mơ luôn là “hoàng tử bé” của người lớn thôi.
4.- Hoàng tử bé thì rất thảnh thơi. Khi chán học i tờ hay đồ tô theo nét chữ (bài học vỡ lòng Cha dạy với hy vọng con mình lớn lên thành thầy thông thầy ký), con chạy ra đường ngồi trên trụ cây số trước nhà. Ngóng chờ cha mẹ cày thuê gặt mướn đồng xa mau về. Thương cha mẹ con mơ mình thành họa sĩ.
5.- Con thả giấc mơ lên bất cứ nơi nào có thể được. Với cục than trên tay, con biến mái nhà tranh thành tòa lâu đài, bữa cơm độn bắp khoai thành cao lương mỹ vị, chiếc áo lành cho Cha, chiếc nón mới cho Mẹ, tán đường cho các em, những giọt nước miếng thèm thuồng thành những que kem… Con sung sướng thấy mình là ông Tiên… trong mơ.
6.- Con vẽ hoài, vẽ hoài những giấc mơ. Những giấc mơ không xa đời thực. Đầu đã bạc nhưng những giấc mơ của con chưa hề thành hiện thực. Nên con cứ mơ hoài mơ hoài những giấc mơ… (LKT)
 
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
Valentine’s Day 2025
 
Tham khảo:
(1) Lê Ký Thương – Tranh và Cóc
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2018/07/09/le-ky-thuong-tranh-va-coc/
(2)Trò chuyện với nhà văn Lê Ký Thương
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/06/22/tro-chuyen-voi-nha-van-le-ky-thuong/#more-39037
(3)Lê Ký Thương: “Tình bằng duyên nợ cái văn chương!”
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/l-k-thuong-tnh-bang-duyn-no-ci-van-chuong/
(4)Lời bài hát Như một lời chia tay – Trịnh Công Sơn.

 

  

Sunday, March 23, 2025

BÌNH TĨNH YÊU NHAU

Ngu Yên
 
Tuyết ở Houston
 
           *Thơ Ngu Yên.
            Viết lúc 3:30 sáng hôm nay,
            21 tháng 1 năm 2025.
 
Ba giờ sáng mở mắt.
Tuyết hóa thành phố mới tinh, tựa đêm qua ai lén sơn màu trắng.
Chuyện hiếm hoi Houston, nơi vương triều của nắng, trị vì những mồ hôi.
Mền dày ấm thua mền da.
Gối bông êm thua cánh tay.
Ba giờ sáng bắt đầu một ngày, khoan bàn chuyện lo lắng, vui trước đã.
Em mở nhạc.
Anh pha cà phê.
Quấn mền ngồi bên lề cuộc ngủ.
Quá đã. Hưởng chút thú tình già.
Em uống ly anh. Anh uống ly em. “Lòng cuồng điên vì nhớ,.. .”
“Chờ hoài nhau trong mơ …” dù cách nhau nửa gang tay.
Bài này mới hay: “Ta đi bằng một sợi tơ. Lung linh luồn trong khói mờ. Ta treo hồn vào tình thu. Thấy mình trôi loãng trăng loà.”
“Đêm đêm người mở lòng ra. Ôm ta trong cánh tay ngà …”
Em ôm tay anh. Anh ôm tay em. Có còn bao nhiêu ngày, ôm nhau mà không khóc?
Có còn bao nhiêu lần, không bận rộn đời ngu, được yêu nhau bình tĩnh? Cấm điện thoại reo.
Ba giờ sáng. Tuyết lạnh. Cà phê nóng. Nhạc hay.
Em nghe này:
“Người về tay ngà thương nhớ. Kêu ta bằng một lời ru"
NGU YÊN
 
Ghi:
- Ca khúc “Hoài Cảm” của Cung Tiến.
- Ca khúc “Mộng Du” của Phạm Duy.