Tuesday, January 9, 2024

NGÀY QUỐC TẾ PHỞ

Phan Thanh Tâm
 
Tô phở nơi xứ người
 
Người Việt tị nạn đã có một đóng góp to lớn vào văn hóa ẩm thực nhân loại: một thức ăn mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Thức ăn dó là Phở. Mùi Phở thơm ngon hấp dẫn, nóng hổi, hợp với mọi khẩu vị đã chinh phục bao tử mọi người thuộc mọi tôn giáo. Hễ nơi nào có bước chân con dân xứ Việt ở thì nơi đấy có Phở.
 
Phở xứng đáng được thế giới vinh danh để phải có một Ngày Quốc Tế Phở như Ngày Quốc Tế Trà (21/5), Ngày Quốc Tế Cà Phê (1/10) và Ngày Quốc Tế Bia (8/2), Ngày Quốc Tế Hạnh Phúc (20/3) chỉ trọn vẹn, đầy đủ, khi có Ngày Quốc Tế Phở, vì sau khi ăn Phở đều có lệ uống Trà, Bia hay Cà Phê, mới đúng điệu. Từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á Phở đã là một món ăn quen thuộc với mọi sắc dân kể từ sau năm 1975.
 
Cuốn Người Việt Niên Gíám Thương Mại 2024 cho biết tại Little Saigon ở Nam California - nơi được mệnh danh là thủ đô của người Việt với khoảng 200 ngàn người Việt - có cả trên hai ngàn hàng quán cà phê và quán ăn trong đó có gần 200 tiệm chuyên bán phở. Câu nói muốn ăn đồ Việt Nam thì hãy đền Cali rất đúng.
 
Rời xứ nhưng người Việt xa quê mẹ vẫn mang theo quê hương các món ăn từ thuở đầu đời. Ở các tiệm này có bán hầu như không thiếu thứ gì hay món gì; ngay cả các đặc sản của từng vùng miền Nam Trung Bắc. Đặc biệt là Phở. Loanh quanh các con đường khu Westminter, Garden Grove, …đâu đâu cũng có bảng quảng cáo Phở. Phở ngon đây. Danh bất hư truyền.
 
Chẳng những ở Cali mà ở khắp các thành phố nước Mỹ ở các tiệm ăn trong thực đơn đều có Phở. Tên Phở hay Vietnamese Noodle Soup đã có vị trí không thua hay hơn cả Sushi của Nhật, Kim Chi của Đại Hàn, Pizza của Ý, Cari của Ấn Độ, Taco của Mexico, Bánh Bao của Tàu hay Poutine của vùng Quebec. Có nhiều người Mỹ đã đồng hóa Việt Nam là Phở hay Phở là Việt Nam.
 
Không sai khi nói muốn tìm hiểu lịch sử nước Mỹ thì nên tìm hiểu lịch sử các thức ăn ở xứ này qua các thời đại, các biến cố. Cũng như muốn tìm hiểu lịch sử cận đại Việt Nam thì nên tìm hiểu sự hình thành Phở từ cuối thế kỷ 19 tới nay. Phở đi từ Bắc vô Nam rồi Phở vượt biên sang các nước tự do như thế nào.
 
Ngày Của Phở
  
Phở khác với các thức ăn nêu trên vì Phở có tính toàn cầu, vượt mọi biên giới, chủng tộc hay tôn giáo và có thể ăn vào giờ giấc nào. Không bò thì có gà; không gà thì Phở chay hay Phở Biển. Các thức ăn kia chỉ phổ biến có giới hạn ở một vài quốc gia. Còn Phở đi đến đâu Phở cũng được dân xứ đó đón nhận cho là khoái khẩu và bổ dưỡng.
 
Phở ở Phi Châu. Phở ở Âu Châu. Phở ở Úc Châu. Phở ở Á Châu. Hiện Phở đã có nhiều phó bản: Phở Đại Hàn, Phở Nam Dưong, Phở Thái, Phở Lào, Phở Hmong có tên là Fawm. Hồi tháng 5/1995 tờ Washington Post cho biết ở thủ đô nước Cờ Hoa suýt xảy ra một cuộc chiến tranh Phở vì tiệm nào cũng xưng mình là Vua Phở.
 
Nhằm tôn vinh Phở tại xứ của Sushi  công ty Acecook Nhật  năm 2016  chọn ngày 4 tháng 4 hàng năm là Ngày Của Phở.  Hiệp hội những ngày kỷ niệm của con dân xứ mặt trời mọc đã công nhận đề nghị này. Tại sao là ngày 4/4? Ngày 4/4 được chọn bởi số 4 tiếng Anh là "four", phát âm giống với "Fō", cách gọi món Phở trong tiếng Nhật. Sau đó, Acecook còn đưa món Phở ăn liền vào hệ thống các cửa hàng tiện lợi ở Nhật.
Thấy nước Nhật có một Ngày Của Phở mà chính nước có nguồn gốc Phở không có Ngày Của Phở nên báo Tuổi Trẻ ở Việt Nam năm 2017 mới cùng với hãng nói trên khởi xướng ngày 12 tháng 12 là Ngày Của Phở. Từ đó tới nay năm nào ở Việt nam cũng có tổ chức hội thảo, triển lãm về Phở nhằm tôn vinh và góp phần giữ gìn, cùng phát huy món Phở Việt Nam.
Nấu Phở là một nghệ thuật tinh tế. Mỗi người mỗi cách có thể thêm thắt, chế biến, gia giảm nguyên liệu từ bún gạo, động vật bò, gà.., rau cải và gia vị miễn là nước Phở phải đậm đà thanh ngọt và có mùi Phở. Phở mà không mùi thì vô duyên tận mạng. Trăm tiệm Phở thì có trăm tô Phở có vị khác nhau; nhưng tô nào cũng phải có mùi Phở.  Cái mùi kỳ lạ khó giải thích nhưng đó là linh hồn của Phở.
Như một đời người, Phở cũng thăng trầm theo dòng lịch sử Việt Nam. Tiếng rao Phở qua các gánh hàng rong quanh các khu phố Hà nội hồi đầu thế kỷ 20 đươc giới văn nghệ sĩ đưa vào văn học. Chẳng bao lâu Phở lâm vào cảnh mạt vận. Đó là thời bao cấp ở miền Bắc từ năm 1954 và cả nước từ 1976 tới 1986 dưới chế độ xã hội chủ nghĩa của Cọng Sản. Trong các cửa hàng mậu dịch, Phở bị biến chất, sinh ra Phở không người lái: Phở không có thịt thà gì cả.
Phở chỉ nở rộ, phát triển mạnh sau khi có cả triệu người Bắc di cư vào Nam năm 1954. Tại đây, Phở có thêm ngò gai, rau quế, giá sống, giá chín, tương đen, tương đỏ. Biến cố 1975, người Việt tị nạn rời xứ đem theo quê hương trong đó có Phở. Không tuyên ngôn; không đòi xẻ núi, lấp sông; không đường mòn huyền thoại; không tôn sùng lãnh tụ; không bè đảng, hội hè, Phở chỉ qua đường thực quản đã thấm động lòng người khắp năm châu.
 
Di sản của đất nước 
 
Cuộc Nam Tiến của Phở giống như cuộc Nam Tiến của áo dài êm thắm, không gây chết chóc. Miền Nam vùng đất của thăng hoa, xuất hiện áo dài Trần Lệ Xuân (1958), áo dài với tay Raglan (1960), áo dài Mini Raglan (1971). Thời gian đó, ở miền Bắc Hồ Chí Minh năm 1947 qua bài Đời Sống Mới ký tên Tân Sinh đã khiến áo dài không còn là trang phục của phụ nữ Việt cho đến 1976. Cuộc Nam Tiến của bộ đội cụ Hồ khác hẳn với Phở và áo dài vì có cả triệu người chết trong “20 năm nội chiến từng ngày”.
Điều này cho thấy cái ăn, cái mặc không tồi tàn. Quí lắm. Nhất là đối với những người phải lâm cảnh đói rét quanh năm suốt tháng. Có thực mới vực được đạo. Trong tứ khoái của đời người cái ăn đứng đầu. Lê Hùng, ký giả của Việt Nam Thông Tấn Xã của VNCH, sau 1975 bị đi tù cải tạo, trong bài Lưu Đày Tận Miền Bắc, đăng trong tập VN Ký Sự cho thấy rõ về nhu cầu ăn uống .
Tâp san phát hành tại Minneapolis năm 1983, Ký giả Lê Hùng viết  "Khi các trại cải tạo ở miền Bắc chưa có chính sách thăm nuôi, hầu như mọi người chỉ nói với nhau về chuyện ăn uống, về các món thực phẩm. Mọi chuyện chính trị, xã hội, tình yêu, đạo lý, tôn giáo chẳng còn ai muốn nhắc tới”.
Tờ Star Tribune tháng 9 năm 1996 đăng bài của ký giả Judith Weinrauh kể lại chuyện các bà mẹ Do Thái trong cơn đói lạnh, xác xơ; tuy nằm chờ chết trong trại tập trung Terezin ở Đức năm 1944, các bà vẫn cố ghi chép lại các món ăn mà các bà ưa thích, hầu lưu lại hậu thế. Hơn 50 năm sau, con cháu các bà đã cho phổ biến tập thủ bút đó bằng hai thứ tiếng Anh và Đức.
Cuốn sách nấu ăn đó có tựa đề là ”Di Sản Của Các Bà Mẹ Trong Trại Tập Trung Terezin” (In Memory's Kitchen: A Legacy From The Women of Terezin) của nhà xuất bản Jason Aronson, Inc.  Nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường có lần đã viết “Lòng ái quốc là gì, nếu không là tình yêu những món ngon mà mình được ăn hồi nhỏ?".
Hàng năm kể từ 2013 Liên Hiệp Quốc đều có tổ chức Ngày Quốc Tế Hạnh Phúc. Ngày Quốc Tế Trà thì kể từ năm 2019; Ngày Quốc Tế  Cà Phê từ năm 2014; Ngày Quốc Tế Bia năm 2008.  Còn ngày Quốc Tế Phở chừng nào? Ngày Nào? Bài viết này chỉ nhằm đề nghị với các giới chức và đoàn thể có thẩm quyền nên tìm cách vận động để có một Ngày Quốc Tế Phờ.
 Mùi Phở từ một món thực phẩm đường phố không kích thích vùng lên hay kỳ thị chủng tộc mà chỉ mời gọi, gây khoái khẩu cho thực khách bốn phương. Mong sẽ có ngày cả thế giới nhà nhà cùng ăn Phở; như ăn gà Tây trong ngày lễ hội Tạ Ơn Thanksgiving ở Mỹ. Ngày đó toàn cầu sẽ ngào ngạt mùi  Phở: mùi của dân tộc Việt.
PHAN THANH TÂM 
12/2023, California.  

  

MAI KIA

Nguyễn Đức Sơn
 
Chân dung Nguyễn Đức Sơn. Đinh Cường vẽ
 
Mai kia tan biến hận thù
Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông
Cha về ôm cả biển sông
Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời
Cho con cha hứa một lời
Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày
Thu nào tóc bạc oà bay
Có con chỉ trỏ mới hay cái già
Cúi hôn trời đất đậm đà
Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên
NĐS 

Sunday, January 7, 2024

HÃY TU NHƯ ĐANG XEM ẢO THUẬT

Nguyên Giác

Hình ảnh năm mèo ra đi, năm rồng đang bước tới.
(Tranh: pth)
 
Những dòng chữ đầu tiên trong bài này được viết trong ngày đầu năm 2024, với lời chúc lành tới tất cả độc giả, để cầu nguyện cho một thế giới của yêu thương và hòa bình.
 
Trước tiên, mặc dù bản thân tác giả chữ nghĩa vụng về, nhưng cũng học theo truyền thống người xưa để làm vài câu đối trong ngày đầu năm dương lịch, và cũng là cận kề với ngày Tết Nguyên Đán. Tác giả không giữ bản quyền, do vậy bất kỳ ai cũng có thể sử dụng các câu đối nếu thấy khả dụng. Xin mời quý vị trong các phố ông đồ ở VN tự do sử dụng, và không cần ghi tên tác giả. Các câu đối này, khi cắt bớt cho ngắn hơn, vẫn có thể đủ nghĩa cho nhiều trường hợp.
 
Câu đối 1:
Ly là biệt, mèo đi, êm sóng gió, đâu cõi não phiền
Hỷ là vui, rồng tới, ngợp mưa hoa, khắp trời bi trí.
 
Câu đối 2:
Chia tay, tiễn mèo đi, nguyện pháp giới bớt tham sân si
Mở cửa, đưa rồng tới, hứa thân tâm tăng giới định huệ.
 
Câu đối 3:
Mèo đi lặng lẽ, cái được thấy, như người kiếp trước, có tức là không
Rồng tới lao xao, cái được nghe, như mộng đêm qua, không tức là có.
 
Câu đối 4:
Ngồi nghe thở, nghe hơi vào hơi ra, nghe vô thường luồn trong xương tủy
Ngó thấy tâm, thấy niệm khởi niệm diệt, thấy vô ngã lạnh khắp thịt da.
 
Có một câu hỏi, thường gặp nơi các bậc ba mẹ ở hải ngoại, rằng không biết nên dạy con tu học theo Phật giáo như thế nào. Đối với giới trẻ đã có tín tâm nơi Tam Bảo, chuyện này thì dễ hơn, vì tài liệu tiếng Anh có rất nhiều, đủ các khuynh hướng, bộ phái. Nhưng với các em chỉ “lưng chừng” đức tin, chuyện này sẽ thành vấn đề, vì ba mẹ không có thì giờ để nói chuyện với các con. Một khi các em vào đại học, có thể chỉ vài ngày trong năm mới có thể về thăm ba mẹ. Còn khi các em ở bậc trung học trở xuống, ba mẹ lại bận làm việc nhiều giờ trong ngày. Và cũng có khi, ba mẹ lại mơ hồ về Phật pháp. Do vậy, nơi đây, xin đề nghị các bậc ba mẹ nên dạy các em một phương pháp, có thể thích họp cho mọi truyền thống và tiện dụng trong mọi trường hợp. Dĩ nhiên, trước tiên, nên tìm sách căn bản về Phật học cho các em đọc để tin sâu nhân quả, để ưa thích thiện pháp và để xa lánh bất thiện pháp.
 
Phương pháp thiền này rất đơn giản, không cần ngồi, tiện dụng cho mọi tư thế đi đứng nằm ngồi. Nhưng sẽ tới một lúc người tập sẽ ưa thích ngồi, có thể ngồi trên ghế, không nhất thiết phải ngồi theo tư thế kiết già hay bán già, vào mỗi buổi sáng sớm là tiện nhất. Khi quen rồi, sẽ tập được trọn ngày trong mọi trường hợp.
 
Rất đơn giản, đó là: Hãy tu như đang xem ảo thuật.
 
Bởi vì tất cả các trẻ em (và cả rất nhiều người lớn) đều ưa thích xem ảo thuật. Và có lẽ, làm chúng ta chú tâm nhất trên đời này vẫn là khi xem ảo thuật. Chúng ta sẽ thấy rằng, khi xem ảo thuật, chúng ta không cần tư thế ngồi cụ thể nào. Trên các đường phố, chúng ta vẫn thường đứng xem ảo thuật. Hay là khi xem ảo thuật trên truyền hình, chúng ta vẫn ngồi (và thậm chí, có khi nằm). Khi “tu như đang xem ảo thuật” trong mọi trường hợp đi đứng nằm ngồi như thế, chúng ta sẽ hiểu lời kinh nói rằng Đức Phật luôn luôn ở trong định, sáng trưa chiều tối ở trong định, và đi đứng nằm ngồi ở trong định (Na-già thường tại định). Bạn hãy an tâm, khi tu như xem ảo thuật, nếu chưa phải là định, thì hẳn phải là cận định.
 
Thái độ khi xem ảo thuật là chúng ta tự động trở thành như trẻ thơ, vì không thể đoán nhà ảo thuật sắp hô biến những gì, hay sắp làm hiện ra những gì. Trong khi xem ảo thuật, chúng ta tự động tước bỏ hết những thành kiến xã hội thường có. Vì chúng ta luôn luôn kinh ngạc, bất kể ảo thuật gia là nam hay nữ, là người Pháp hay Mỹ, là người đang đeo thánh giá Cơ đốc trước ngực hay đang mang khăn Hồi giáo trên đầu, cũng không phân biệt phe ta người Việt hay phe của người nước khác, cũng không coi thường ảo thuật gia 90 tuổi hay thần đồng ảo thuật mới 10 tuổi. Nghĩa là, tất cả những gì trong thế gian đầy phân biệt nay đều biến mất trong tâm của người thực tập pháp tu như xem ảo thuật. Nghĩa là, người tu trong tâm thức này, theo kinh nói, tương tự như hình ảnh con tê giác đơn độc vào rừng, xa lìa tất cả các ràng buộc và thành kiến thế gian.
 
Thái độ khi xem ảo thuật cũng là sự chú tâm hiếm gặp trong ngày. Bởi vì, một niềm vui trong khi xem ảo thuật là thấy được những gì người khác không kịp thấy, và nghe được những gì người khác không kịp nghe, và đó là sự hỷ lạc: nếu mất sự chú tâm trong khoảnh khắc, chúng ta có thể không thấy bí ẩn của người làm ảo thuật. Do vậy, sự chú tâm này, tự động sẽ làm chúng ta thở rất đều và rất nhẹ, tự động sẽ làm toàn thân chúng ta có sự tỉnh thức rất hiếm hoi. Trong sự chú tâm và tỉnh thức đó, những giây phút thực tập pháp tu như xem ảo thuật sẽ là xa lìa tham sân si, vì trong tỉnh thức với chú tâm này, toàn bộ thân tâm chúng ta sẽ tự động ly dục, ly bất thiện pháp, và đó là vào sơ thiền. Tất cả các bạn ưa xem ảo thuật đều đã từng thấy những khoảnh khắc mát dịu, khi thân tâm tắm gội trong sự hỷ lạc của chú tâm, của tỉnh thức và của xa lìa tham sân si. Đó là cửa vào sơ thiền.
 
Thái độ khi xem ảo thuật cũng làm cho chúng ta hiểu Kinh Phật hơn. Đó là khi Đức Phật nói rằng giữ tâm vô sở trụ thì sẽ giải thoát. Xem ảo thuật là giữ tâm nơi không nương vào bất kỳ pháp nào. Bởi vì khi xem ảo thuật, nếu tâm bất chợt nương nào bất kỳ những gì, chúng ta có thể sẽ bị mất các khoảnh khắc phù phép của nhà ảo thuật. Đó là khi Đức Phật nói rằng người tu như bước trên dòng nước lũ, hễ đứng lại là bị chìm, hễ bước tới là bị chìm, hễ bước lui là bị chìm, và các kinh gọi là "vượt qua lũ mà không có điểm tựa hay chỗ đứng" (crossing the flood with no support or place to stand). Lời Đức Phật có hai nghĩa. Thứ nhất, đừng níu lấy quá khứ (bước lùi), đừng mơ tới tương lai (bước tới), đừng luyến tiếc hiện tại (đứng yên). Nghĩa thứ nhì, có nghĩa là, đừng trụ vào bất cứ những gì trong tâm mình. Khi đang xem ảo thuật, hễ tâm trụ vào bất cứ gì, thì mất cái nhận biết về thực tại.
 
Trong khi xem trò ảo thuật, chúng ta sẽ nhận ra cốt tủy của Bát Nhã Tâm Kinh, của những “sắc tức thị không, và không tức thị sắc” --- đó là nơi, do duyên, thì cái được thấy là Không, cái được nghe là Không, và từ cái Không cũng sẽ có thể xuất hiện ra những cái được thấy và những cái được nghe. Cũng khi hướng cái nhìn về nhà ảo thuật, chúng ta sẽ vào chỗ Đức Phật khuyến tấn là chớ rơi vào tà kiến của Hữu với Vô. Bởi vì tâm thức xem ảo thuật là cái nhìn của chánh kiến: không bị vướng vào thường kiến của Hữu, và không bị vướng vào đoạn kiến của Vô. Tất cả hiện ra trước mắt người tu như xem ảo thuật là Như Huyễn. Kinh Kim Cương nói rằng: Tất cả các pháp hữu vi / đều là như mộng, như không có thực, như bọt sóng trên sông, như ảnh hiện trong gương / như hạt sương buổi sớm, như tia chớp lóe trên bầu trời / hãy quán chiếu như thế. Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ Kinh SN 22.95 rằng, tất cả các pháp đều trống rỗng, không có gì là thực sự có   với không. Đức Phật dạy rằng hãy quán sát như thế cả ngày lẫn đêm thì sẽ giải thoát.
 
Trong khi chúng ta nhìn vào trò ảo thuật, thì mắt và tai và toàn thân chúng ta đều tự động tỉnh thức và không để cái được thấy và cái được nghe nào lôi kéo đi. Kinh AN 4.37 trong bản dịch của Thầy Minh Châu viết rằng: "Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn."
 
 Thái độ tu như xem ảo thuật là y hệt như Thiền Mặc Chiếu của Tào Động. Vì khi quan sát nhà ảo thuật, tâm người xem sẽ tịch lặng, không để vương chút bụi nào, để tỉnh thức nhìn trước mắt hiện ra như gương sáng hiện ra hình ảnh trong gương. Đó là sự tương ưng của định và huệ (tức là, mặc và chiếu). Kinh SN 35.204 ghi nhận về Mặc và Chiếu qua lời dạy của Đức Phật là hai vị sứ giả, tượng trưng bằng hai con chim mang theo sứ điệp giải thoát qua Bát Chính Đạo bay vào tòa thành của thân tâm. Như thế, Mặc và Chiếu là nơi xa lìa tham sân si, là tiếp cận cảnh giới của vô vi, không dựa vào thời gian, không dựa vào suy lường. Vì dựa vào thời gian hay dựa vào suy lường, là không còn trò ảo thuật nữa.
  
Tất cả những hành giả nào tu như đang xem, đang nghe, đang hít thở, đang đi đứng giữa một trò ảo thuật khổng lồ của pháp giới tất nhiên rồi sẽ chứng nghiệm các pháp ấn vô thường và vô ngã. Và đó là giải thoát.
NG
 
 
 

TƯỞNG NHỚ ĐINH CƯỜNG

 
THIẾU NỮ với hoa hồng
Tranh Đinh Cường

Saturday, January 6, 2024

TÍNH ĐA DẠNG VÀ HÒA NHẬP TRONG VĂN HỌC MỸ

Trịnh Y Thư


BỐI CẢNH VĂN HỌC MỸ THẾ KỶ XX
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước.
 
Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
 
Đặc điểm của thời kỳ này là sự hiện hữu của cái-gọi-là “Thế hệ Thất lạc.” Họ là các nhà văn vỡ mộng vì hậu quả đổ nát kinh hoàng của Thế chiến thứ nhất, do đó các tác phẩm của họ thường phản ánh cảm giác tuyệt vọng và vỡ mộng với cuộc sống và những quan điểm hay ý thức hệ quá khứ. Ngoài Ernest Hemingway và F. Scott Fitzgerald còn có John Dos Passos, là những nhà văn tiểu biểu cho “Thế hệ thất lạc.”
 
Trong khi đó, tại miền Nam nước Mỹ, vào khoảng thời gian những năm 1920-1940, dấy lên một phong trào có tên gọi là “Phục hưng miền Nam.” Trọng tâm của các nhà văn này là khám phá sự phức tạp của trải nghiệm trong cuộc sống miền Nam nước Mỹ, bao gồm các vấn đề chủng tộc, giai cấp và truyền thống. Các tác giả chính là William Faulkner, Carson McCullers và Eudora Welty.
 
Rồi đến “Thế hệ Beat” nổi đình đám suốt hai thập kỷ ‘40 và ‘50. Các nhà văn “Beat” bác bỏ các chuẩn mực xã hội lỗi thời, khước từ “cái cũ” để khám phá những “cái khác”. Họ thường chịu ảnh hưởng của triết học phương Đông và nhạc Jazz. Các tác giả chính là Jack Kerouac, Allen Ginsberg và William S. Burroughs. Thời kỳ này (lan sang thập kỷ ‘60 với chiến tranh Việt Nam đang đi vào giai đoạn khốc liệt), còn có các tác giả chú trọng đến các vấn đề dân quyền, bất bình đẳng chủng tộc và bất công xã hội, như James Baldwin, Ralph Ellison và Lorraine Hansberry.
 
Nửa sau thế kỷ XX chứng kiến sự ra đời của Chủ nghĩa Hậu Hiện đại. Nói chung, đặc điểm của văn học Hậu Hiện đại thường thách thức các quan niệm truyền thống về hiện thực, chấp nhận tính liên văn bản và đặt câu hỏi về văn chương tự sự cố hữu. Các tác giả tài danh gồm có: Thomas Pynchon, Don DeLillo và Kurt Vonnegut.
 
Tuy thế, không phải ai cũng viết với phong cách văn học Hậu Hiện đại, thực chất, đây là thời kỳ bùng phát của nền tiểu thuyết Mỹ với rất nhiều cây bút lừng lẫy tạo ảnh hưởng lên văn học thế giới, và thật thiếu sót nếu ta không nhắc đến các tiểu thuyết gia Philip Roth, Raymond Carver, John Updike, Saul Bellow, Joyce Carol Oates, trong số rất nhiều tên tuổi khác.
 
Văn học Mỹ, nhất là tiểu thuyết, trong thế kỷ XX được đặc trưng bởi sự tương tác năng động giữa các hình thức truyền thống và thể nghiệm, tiếng nói đa dạng và phản ánh những thay đổi xã hội, chính trị và văn hóa của thời đại. Nó tiếp tục được đánh giá cao vì những đóng góp cho bối cảnh văn học toàn cầu. Chính “tiếng nói đa dạng” đã làm tiền cảnh cho “tiếng nói đương đại” bao gồm nhiều tiếng nói đại diện hơn cho phụ nữ, dân tộc thiểu số và các nhà văn LGBTQ+ như Toni Morrison, Jhumpa Lahiri, Sandra Cisneros và Alice Walker. Bước sang thế kỷ XXI, điều này ngày càng rõ rệt hơn.
 
TÍNH ĐA DẠNG VÀ HÒA NHẬP
Tính đa dạng và hòa nhập trong văn học là sự thể hiện nhiều tiếng nói, quan điểm và kinh nghiệm khác nhau trong các tác phẩm viết. Đó là phản ứng trước sự kiện rất khó giải thiêng, mà ta có thể nói thẳng ra là, văn học kinh điển truyền thống thường bị thống trị bởi một nhóm tiếng nói hạn hẹp, chủ yếu là của các tác giả da trắng, dị tính (heterosexual), và thường là nam giới. Lời kêu gọi hãy cho văn học tính đa dạng nhằm chủ đích làm sao khắc phục được sự thiếu cân bằng đó bằng cách thúc đẩy sự tham gia của các nhà văn từ nhiều gốc gác khác nhau, bao gồm các chủng tộc, sắc tộc, giới tính, khuynh hướng tình dục, khả năng và bối cảnh văn hóa cũng như kinh tế-xã hội khác nhau. Nhu cầu thể hiện đa dạng liên quan đến việc mô tả nhân vật và phần tự sự phản ánh sự phong phú và phức tạp của thế giới thực.
 
Phong trào “Tiếng nói riêng/ Own Voices” khuyến khích các tác giả viết về các nhân vật và trải nghiệm phù hợp với bản sắc riêng của họ. Cách tiếp cận này được xem như một cách để đảm bảo tính xác thực và tránh sự rập khuôn trong phong cách thể hiện.
 
Tính giao thoa là một đặc tính quan trọng của khuynh hướng đa dạng và hòa nhập trong văn học. Tính giao thoa thừa nhận rằng các cá nhân có nhiều bản sắc giao nhau và hình thành nên trải nghiệm của họ. Văn học đề cao tính xen kẽ, thừa nhận và khám phá sự phức tạp của các nhân vật có thể thuộc nhiều nhóm trước đây bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nói chung, tiếng nói của những kẻ “thấp cổ bé miệng” được chú ý nhiều hơn.
 
Những thay đổi trong ngành xuất bản cũng đóng góp đáng kể vào sự phát triển này. Ngày càng có nhiều chú ý hơn về sự thiếu đa dạng trong bản thân ngành xuất bản. Những nỗ lực đang được thực hiện để giải quyết sự chênh lệch trong giao dịch xuất bản sách, vai trò biên tập và các khía cạnh khác của quá trình xuất bản. Các sáng kiến hỗ trợ các tác giả và tác phẩm đa dạng đã xuất hiện để mang lại nhiều cơ hội hơn cho những tiếng nói ít được đại diện.
 
Ngoài ra, những nỗ lực đang được thực hiện nhằm đa dạng hóa chương trình giảng dạy tại các trường trung / đại học để mở rộng chương trình học vấn khoa Văn bao gồm những tác giả thiểu số và chấp nhận cái nhìn của họ trong học đường. Điều này giúp học sinh, sinh viên nhìn thấy bản thân mình được phản ánh trong văn học mà họ nghiên cứu và giúp họ tiếp cận với một quy phạm văn học bao quát hơn.
 
Các giải thưởng, như giải Pulitzer cao quý, và danh hiệu văn học ngày càng công nhận những tác phẩm góp phần tạo nên sự đa dạng và hòa nhập. Các tác giả từ các cộng đồng thiểu số ngày càng nhận được nhiều sự công nhận hơn vì những đóng góp của họ cho văn học.
 
Và sau cùng, nhưng không kém quan trọng, là sự tham gia của độc giả. Độc giả ngày càng có tiếng nói hơn trong việc yêu cầu những cuốn sách đa dạng, và các mạng truyền thông xã hội đã đóng vai trò hữu ích trong việc khuếch đại những tiếng nói ấy. Các blogger, nhà phê bình và độc giả đang tích cực quảng bá văn học đa dạng và thách thức làm sao cho nó trở nên hòa nhập hơn.
 
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt được sự đa dạng và hòa nhập hơn trong văn học. Những diễn ngôn xung quanh những vấn đề này là điều cần thiết để thúc đẩy sự thay đổi tích cực và tạo ra một bối cảnh văn học thực sự thể hiện sự đa dạng trong trải nghiệm của con người.
 
CÁC TÁC PHẨM TIỂU THUYẾT MANG TÍNH ĐA DẠNG VÀ HÒA NHẬP
   Dưới đây là 10 cuốn sách đáng chú ý, xuất bản trong thời gian hai ba chục năm qua, có thể xem là đại diện cho xu hướng này. Sự bình chọn không phải của tôi. Tôi chỉ giản dị dựa trên những thông tin lấy từ nhãn quan của đa số trong giới phê bình cũng như đại chúng.
 
“The Hate U Give/ Sự thù ghét mi cho ta” của Angie Thomas
Cuốn tiểu thuyết này đề cập đến các vấn đề về chủng tộc và bạo lực của cảnh sát qua con mắt của một cô gái trẻ người Mỹ trở thành nhà hoạt động sau khi chứng kiến cảnh sát bắn chết bạn mình. 
Starr Carter, 16 tuổi, sống hai thế giới: khu dân cư nghèo nơi cô sinh sống và ngôi trường ở ngoại ô sang trọng mà cô theo học. Sự cân bằng khó giữ giữa hai thế giới bị phá vỡ khi Starr chứng kiến vụ bắn chết người bạn thân thời thơ ấu của cô là Khalil dưới bàn tay của một nhân viên cảnh sát. Khalil không có vũ khí.
Ngay sau đó, cái chết của Khalil đã trở thành tiêu đề trên báo chí truyền thông toàn quốc. Một số người gọi anh ta là một tên côn đồ, thậm chí có thể là một kẻ buôn ma túy và một tên băng đảng hè phố. Một vài cảnh sát và trùm ma túy địa phương tìm cách đe dọa Starr và gia đình cô. Điều mọi người muốn biết là: cái gì thực sự đã xảy ra đêm đó? Và người duy nhất còn sống có thể trả lời được câu hỏi đó chính là Starr.
Nhưng những gì Starr nói, hoặc không nói, có thể ảnh hưởng đến cộng đồng của cô. Nó cũng có thể gây nguy hiểm cho tính mạng cô.
 
“Americanah” của Chimamanda Ngozi Adichie
Cuốn tiểu thuyết này của Adichie khám phá trải nghiệm của một phụ nữ trẻ người Nigeria nhập cư vào Hoa Kỳ, va chạm đến các vấn đề chủng tộc, bản sắc và sự thích nghi văn hóa.
Ifemelu và Obinze còn trẻ và yêu nhau khi họ rời Nigeria dưới chế độ quân phiệt và di cư sang phương Tây tìm đất sống. Ifemelu là cô gái xinh đẹp, tự tin. Cô đến Mỹ, nơi mặc dù thành công trong học tập nhưng lần đầu tiên cô buộc phải vật lộn với ý nghĩa của việc cô là người da đen. Còn Obinze trầm lặng, chu đáo, hy vọng được cùng cô đoàn tụ, nhưng khi nước Mỹ hậu 11/9 đóng cửa với anh, thay vì được gặp lại người yêu, anh lao vào một cuộc sống nguy hiểm, một cư dân lậu ở London.
 
“There There / Đó! Đó” của Tommy Orange
Cuốn tiểu thuyết của Tommy Orange miêu tả mạnh mẽ trải nghiệm của người Mỹ da đỏ bản địa sinh sống ở thành thị. Jacquie Red Feather tỉnh ngộ và đang cố gắng quay trở lại với gia đình mà cô đã từ bỏ. Dene Oxendene cố gắng sống lại sau cái chết của chú mình. Orvil mười bốn tuổi. Họ cùng đến tham dự một buổi lễ hội truyền thống vào một ngày định mệnh tại Big Oakland Powwow và cùng nhau thuật về hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đỏ sống nơi đô thị, vật lộn với một lịch sử phức tạp và đau đớn, với di sản về cái đẹp và tâm linh, với sự hiệp thông và hy sinh, về chủ nghĩa anh hùng của dân tộc họ.
Nhật báo New York Times gọi đó là “một cuốn sách viết với rất nhiều năng lượng sôi nổi và mang đến rất nhiều thông tin từ một góc riêng biệt của cuộc sống Mỹ đến mức nó là một sự khám phá.”
 
“The Joy Luck Club / Câu lạc bộ Joy Luck” của Amy Tan
Cuốn tiểu thuyết của Amy Tan đi sâu vào cuộc sống của các gia đình người Mỹ gốc Hoa nhập cư, khám phá những khác biệt về thế hệ và văn hóa thông qua những câu chuyện liên kết với nhau.
Bốn người mẹ, bốn cô con gái, bốn gia đình mà lịch sử của họ thay đổi theo chiều gió tùy vào người “thuật” câu chuyện. Năm 1949, bốn phụ nữ Trung Hoa, những người mới nhập cư đến San Francisco, bắt đầu gặp nhau để ăn dim-sum, chơi mạt chược và trò chuyện. Gặp nhau trong sự mất mát, họ vui sướng tự gọi mình là Câu lạc bộ Joy Luck. Thay vì chìm vào bi kịch, họ tìm cách gặp gỡ nhau để nâng cao tinh thần và thậm chí kiếm tiền. “Tuyệt vọng là mong muốn quay lại một điều gì đó đã mất. Hoặc kéo dài những gì không thể chịu đựng nổi.” Bốn mươi năm sau những câu chuyện và lịch sử vẫn tiếp diễn.
Với sự minh triết và nhạy cảm, Amy Tan xem xét mối liên hệ đôi khi đau đớn, thường dịu dàng và luôn sâu sắc giữa những bà mẹ và con gái của họ. Khi mỗi người phụ nữ tiết lộ bí mật của mình, cố gắng làm sáng tỏ sự thật về cuộc đời mình, những sợi dây thắt buộc càng chặt hơn. Amy Tan là người kể chuyện sắc sảo, có cách lôi cuốn người đọc chìm đắm vào những cuộc sống phức tạp và bí ẩn.
Cuốn sách được Hollywood dựng thành một cuốn phim lớn. Nữ tài tử Kiều Chinh của Việt Nam được chọn thủ diễn vai một trong bốn bà mẹ Trung Hoa.
 
“Speak No Evil / Không nói điều ác” của Uzodinma Iweala
Cuốn tiểu thuyết này kể câu chuyện của một thiếu niên người Mỹ gốc Nigeria đối mặt với căn tính và giới tính của mình, giải quyết các vấn đề về chủng tộc, tôn giáo và gia đình.
Trong cuốn tiểu thuyết, một tiết lộ được chia sẻ giữa hai thiếu niên con nhà giàu có từ những hoàn cảnh rất khác nhau đã gây ra một chuỗi sự kiện với những hậu quả tàn khốc.
Bề ngoài, Niru có một cuộc sống đầy đủ. Được nuôi dưỡng tử tế, cậu là học sinh giỏi giang và là ngôi sao điền kinh tại một trường trung học tư thục danh tiếng. Cậu chuẩn bị nhập học trường Harvard với một triển vọng tươi sáng. Nhưng Niru có một bí mật đau đớn: Cậu là người đồng tính, một tội lỗi ghê tởm đối với cha mẹ người Nigeria bảo thủ. Không ai biết ngoại trừ Meredith, người bạn thân nhất của cậu, và cô gái dường như không phán xét cậu.
Khi cha cậu vô tình phát hiện ra Niru là người đồng tính, hậu quả ập đến thật tàn bạo và nhanh chóng. Tuy nhiên, khi đối mặt với những rắc rối của riêng mình, Meredith nhận ra rằng cô không còn nhiều cảm xúc để giúp đỡ Niru nữa. Khi hai người bạn đấu tranh để dung hòa ước muốn của mình với những kỳ vọng từ kẻ khác, họ thấy mình đang hướng tới một tương lai bạo lực và vô nghĩa hơn những gì họ có thể tưởng tượng. Cả hai đều không thoát khỏi sự tổn thương.
Tương tự như cuốn Americanah của Chimamanda Ngozi Adichie, Speak No Evil khám phá ý nghĩa của sự khác biệt trong một xã hội tuân thủ những gì được xem là cơ bản và sự khác biệt đó diễn ra như thế nào trong cuộc vật lộn nội tại và ngoại tại của chúng ta. Nó là một cuốn tiểu thuyết về sức mạnh của ngôn từ và sự tự nhận bản sắc, về ai có quyền lên tiếng và ai có quyền lên tiếng thay kẻ khác. Cuốn tiểu thuyết thứ hai của Uzodinma Iweala này đi sâu vào cốt lõi của con người chúng ta và khiến chúng ta đảo lộn theo nó.
 
“The Book Thief / Kẻ trộm sách” của Markus Zusak
Cuốn tiểu thuyết này thuật cuộc đời của một cô gái trẻ ở Đức dưới thời Quốc xã. Nó khám phá các chủ đề về nhân loại, tình yêu và tác động của chiến tranh.
Là cuốn sách “best-seller” bán chạy nhất của New York Times và được thực hiện thành một bộ phim lớn, câu chuyện khó quên của Markus Zusak là về khả năng sách có thể nuôi dưỡng tâm hồn. Được “The Great American Read” thuộc kênh truyền hình PBS đề cử là một trong những tiểu thuyết được yêu thích nhất nước Mỹ.
Khi Thần Chết có chuyện muốn kể, bạn hãy lắng nghe. Đó là năm 1939. Đức Quốc xã. Đất nước đang nín thở. Thần Chết chưa bao giờ bận rộn hơn thế và sẽ còn bận rộn hơn nữa. Liesel Meminger là một cô gái sinh sống bên ngoài Munich, cô tự kiếm sống bằng nghề ăn trộm khi gặp phải thứ mà cô không thể cưỡng lại – sách. Với sự giúp đỡ của người cha nuôi chơi đàn phong cầm, cô học cách đọc và chia sẻ những cuốn sách ăn trộm của mình với hàng xóm trong lúc nép mình dưới bom đạn, cũng như với người đàn ông Do Thái ẩn trốn dưới tầng hầm nhà cô.
Bằng lối viết tuyệt vời, cháy bỏng với cường độ cao, tác giả từng đoạt giải thưởng Markus Zusak, tác giả cuốn I Am The Messenger / Tôi là sứ giả đã mang đến cho chúng ta một trong những câu chuyện có sức sống trường tồn nhất trong kỷ nguyên hiện đại.
“Loại sách có thể thay đổi cuộc đời bạn.” New York Times phê bình như thế.
“Xứng đáng được đặt trên cùng kệ sách với cuốn ‘Nhật ký Anne Frank.’” Là lời bình của báo USA Today.
 
“The Kite Runner / Người thả diều” của Khaled Hosseini
Cuốn tiểu thuyết của Hosseini lấy bối cảnh là Afghanistan và khám phá các chủ đề về tình bạn, sự phản bội và sự cứu chuộc trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của đất nước này.
Afghanistan, từ những ngày cuối của chế độ quân chủ đến thời hiện tại, Người thả diều là câu chuyện được kể rất hay và khó quên về tình bạn giữa hai cậu bé lớn lên ở Kabul. Lớn lên trong cùng một gia đình và có cùng một vú nuôi, Amir và Hassan lớn lên ở hai thế giới khác nhau: Amir là con trai của một nhân vật nổi tiếng và giàu có, còn Hassan, con trai người hầu của cha Amir, là người Hazara – một sắc dân thiểu số bị ngược đãi, xa lánh. Cuộc sống đan xen và số phận của hai cậu trai phản ánh bi kịch cuối cùng của thế giới xung quanh. Khi cha con Amir trốn khỏi đất nước để có cuộc sống mới ở California, Amir nghĩ rằng mình đã thoát khỏi quá khứ. Tuy nhiên, cậu không thể bỏ lại ký ức về Hassan sau lưng mình.
Người thả diều là một cuốn tiểu thuyết về tình bạn và sự phản bội cũng như về cái giá của lòng trung thành. Nó nói về mối quan hệ giữa cha-con, cũng như quyền lực của cha đối với con – tình yêu thương, sự hy sinh và sự dối trá. Được viết trên bối cảnh lịch sử chưa từng được thuật bao giờ trong tiểu thuyết trước đây, cuốn sách mô tả nền văn hóa phong phú và vẻ đẹp của một vùng đất đang trong quá trình bị tàn phá. Nhưng qua sự tàn phá, Khaled Hosseini mang đến hy vọng được cứu chuộc.

“Little Fires Everywhere / Những ngọn lửa nhỏ ở mọi nơi” của Celeste Ng
Cuốn tiểu thuyết của Celeste Ng (Ngô trong tiếng Việt) khám phá sự phức tạp của chủng tộc, giai cấp và đặc quyền trong bối cảnh một cộng đồng ở ngoại ô thuộc bang Ohio. Shaker Heights là một vùng ngoại ô yên tĩnh, tiến bộ của thành phố Cleveland, nơi mọi thứ đều có kế hoạch quy định, từ cách bố trí những con đường quanh co, màu sắc của những ngôi nhà cho đến cuộc sống thành công mà cư dân nơi đây hướng tới. Và không ai thể hiện tinh thần này hơn Elena Richardson, người có nguyên tắc chỉ đạo là tuân thủ luật lệ.
Thế rồi một hôm Mia Warren – một nghệ sĩ có quá khứ bí ẩn, một bà mẹ đơn thân – cùng với cô con gái tuổi teen của mình, Pearl, đến thuê một căn nhà từ gia đình Richardson. Chẳng bao lâu Mia và Pearl trở thành cái gì khác hơn là người thuê nhà. Cả bốn người con của Richardson đều bị thu hút bởi cặp mẹ con nghệ sĩ. Nhưng Mia mang trong mình một quá khứ bí ẩn và sự coi thường hiện trạng đời sống của cô có nguy cơ đảo lộn cộng đồng nơi trật tự được gìn giữ thật cẩn thận.
Khi người bạn cũ của gia đình Richardson nhận một em bé người Mỹ gốc Hoa làm con nuôi, một cuộc chiến giành quyền nuôi con nổ ra khiến thị trấn bị chia cắt một cách trầm trọng. Mia và Elena ở vào hai phe đối lập. Nghi ngờ Mia và động cơ của cô, Elena quyết tâm khám phá những bí mật trong quá khứ của Mia. Nhưng với nỗi ám ảnh của mình, Elena đã phải trả những cái giá bất ngờ và tàn khốc.
 
“Purple Hibiscus / Hoa dâm bụt tím” của Chimamanda Ngozi Adichie
Một tác phẩm khác của Adichie, cuốn tiểu thuyết này kể về câu chuyện trưởng thành của một cô gái trẻ ở Nigeria thời hậu thuộc địa, đề cập đến các chủ đề về gia đình, tôn giáo và tình trạng bất ổn chính trị.
Chimamanda Ngozi Adichie là nhà văn đoạt giải O Henry năm 2003. Trong cuốn Purple Hibiscus bà thuật lại câu chuyện về một cô gái trẻ người Nigeria đi tìm tự do. Mặc dù cha cô rất được tôn trọng trong cộng đồng, nhưng Kambili, 15 tuổi, biết rõ khía cạnh nghiêm khắc và ngược đãi đáng sợ của người mình gọi là cha này. Về nhiều mặt, cô và gia đình có một cuộc sống đặc quyền, nhưng Kambili và anh trai cô, Jaja, thường bị trừng phạt vì không đáp ứng được kỳ vọng của người cha. Sau khi đến thăm dì và các anh chị em họ, Kambili mơ ước được trở thành thành viên của một gia đình yêu thương. Nhưng một cuộc đảo chính quân sự mang lại căng thẳng mới cho Nigeria và ngôi nhà của cô, Kambili tự hỏi liệu ước mơ của cô có bao giờ thành hiện thực.
Ngôn ngữ đầy chất thơ và ấn tượng của Adichie mở ra một vùng đất và một gia đình đầy xung đột nhưng phải đấu tranh để sinh tồn.
 
“The Sympathizer / Cảm tình viên” của Việt Thanh Nguyễn
Cuốn tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer này viết về trải nghiệm của một điệp viên cộng sản Việt Nam nằm vùng tại Mỹ. Nó mang đến một góc nhìn độc đáo về chiến tranh Việt Nam. Khi cuốn sách ra mắt đại chúng, và được tiếp đón một cách nồng nhiệt khắp nơi, tôi đã có một bài “điểm sách” bằng tiếng Việt nhằm giới thiệu đến độc giả Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Xin trích đoạn:
“Năm 2016, cuốn The Sympathizer đi vào lịch sử với giải thưởng Pulitzer bộ môn văn học, giải thưởng cao quý nhất của Hoa Kỳ, trao tặng hằng năm cho những tác giả xuất sắc nhất thuộc các ngành văn chương, báo chí. Trước đó cuốn sách đã được văn giới Bắc Mỹ không tiếc lời ca ngợi như một tác phẩm tiểu thuyết sâu sắc, có chiều kích lịch sử và chính trị cao rộng; là tiếng nói mới đầy khích động trong văn học Mỹ; là cuốn tiểu thuyết bắt người ta phải đánh giá lại chẳng những chiến tranh Việt Nam mà cả cặp phạm trù chính trị-văn hóa; là một tác phẩm văn học đúng nghĩa nhất bởi nó ‘mở rộng ý thức con người ra khỏi giới hạn của thân xác và những cảnh huống cá nhân.’”
Nhà văn Mỹ, ông Robert Olen Butler, một nhà văn viết nhiều về Việt Nam, cũng đoạt giải Pulitzer với cuốn A Good Scent from a Strange Mountain / Bửu Sơn Kỳ Hương, nói về Việt Thanh Nguyễn như sau:
“Việt Thanh Nguyễn chẳng những đã đem lại tiếng nói hiếm hoi và trung thực cho khối tác phẩm văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam, với cuốn sách, anh còn vượt qua những đường biên lịch sử, chính trị, quốc gia, và nói lên được chủ đề muôn thuở trong văn học: cuộc kiếm tìm bản ngã và bản nguyên ở tầm mức phổ quát. The Sympathizer là một tác phẩm đầu tay sáng chói của một nhà văn có chiều sâu và tài năng.”
Cuốn sách đang được kênh truyền hình HBO thực hiện một bộ phim nhiều tập, nữ tài tử Kiều Chinh thủ diễn vai bà mẹ trong truyện.
 
    Những cuốn sách liệt kê bên trên đại diện cho nhiều thể loại và chủ đề khác nhau, mang đến cho người đọc cơ hội khám phá những giọng điệu và tự sự đa dạng. Điều đáng chú ý là bối cảnh văn học đa dạng không ngừng phát triển và nhiều tiếng nói mới và thú vị tiếp tục đóng góp cho xu hướng quan trọng này. Cộng đồng người Việt hải ngoại hãnh diện có một Việt Thanh Nguyễn trong danh sách những tiểu thuyết gia Mỹ đương đại hàng đầu góp phần không nhỏ cho tính đa dạng và hòa nhập trong văn học. Chắc chắn đó là nguồn cảm hứng cho nhiều cây bút trẻ có tiềm năng và mơ ước.
TRỊNH Y THƯ
 
 

Friday, January 5, 2024

Ở PHÍA TƯỜNG RÊU

Hoàng Xuân Sơn
 
 Hình: phóng ảnh từ Facebook Nguyễn Việt Hồ
 
những cây bông sứ rụng hết mùa
tường thành còn đậm vết rêu xưa
ôi.  xanh hoang tái hồn gương mục
thềm gió miên miên cũng lạnh vừa
 
)(
H O À N G X U Â N S Ơ N
5 tháng giêng, 2024
 

XÓM CẦU CŨ

Tố Nghi
 
Cầu Ông Lãnh ngày xưa
 
Nhất Linh ở xóm cầu mới. Tui ở xóm cầu cũ. Xóm mới hổng biết có cầu không, nhưng xóm cũ có một cái to đùng mang tên ông lãnh. Ông lãnh có thể là lãnh binh Nguyễn Ngoc Thăng thời pháp thuộc một ngàn bảy trăm lâu lắm, ông lập một hơi 5 cái phòng, tên mỗi phòng được dùng đặt cho 5 ngôi chợ quê thời nẳm : bà Hạt, bà Chiểu, bà Điểm, bà Hom và bà Quẹo. Nhiều vợ nên chắc đông con, rồi vợ con đùm đề kiểu nớ thì giờ đâu ra để theo phong trào kháng chiến chống ngoại xâm, thành hổng hiểu tin tức nọ chánh xác được nhiêu phần. Mà rồi thiệt sự ông lãnh là ai, mần chi tới có tên đặt cho cây cầu thì tui hổng biết, và cũng hổng tò mò muốn biết. Tui xa xứ quá lâu rồi, quê nhà chừ mờ nhạt như giấc chiêm bao. Thỉnh thoảng nghe những chuyện quen quen, xong hổng chắc có biết thiệt hay chỉ nghe kể lợi. Vậy nhưng những kỷ niệm ấu thời lại cứ chờ dịp ló ra làm mình làm mẩy thốn tim hết biết !
Hình cầu ông lãnh trên kia chắc là chụp hổng lâu trước khi gia đình tui dọn tới… Tấm hình gợi lại cả một thời thơ ấu cũ.... Hồi đó cầu Ông Lãnh còn là chữ L. Nhánh trên bắc qua rạch Bến Nghé. Nhánh dưới đổ xuống ngay trước cửa nhà. Dưới chơn cầu ông lãnh là khoảnh đất công cộng, được dân chúng quanh vùng tuỳ nghi xử dụng. Hồi đầu đây là chỗ vui chơi của đám con nít bàn ngày. Quí nữ và thằng Việt (con ông Việt hùng lối xóm) hay ra đây chọi loong, úynh cù, hoặc xúm nhau chơi u với trẻ lối xóm. Bàn đêm dưới hầm cầu là chỗ hò hẹn của đám trai thanh gái lịch xóm trong - tuy giàu tình nhưng rất yếu địa -
Đám con nít chơi hoài một thứ rồi cũng chán, chúng bèn day sang sắm đứa một dàn ná. Cơm nước xong, thành phố vừa lên đèn, cả đám rủ nhau lòng dzòng quanh hai cái cột đèn mà thi nhau xạ tiển. Hai cái cột thoạt tiên là cột dẫn điện, sau trong chương trình đô thị hóa đường phố của chánh phủ, nhà đèn Sài Gòn mới cho gắn ở lưng chừng bên trên cột điện nớ những bóng đèn vàng. Và những bóng đèn đường ni đã biến thành đích nhắm của đám thiện xạ trẻ tuổi tài cao, trong đó có một thị mẹt.
Dần dà về sau, dân xóm đông lên… Đông vậy nên khoảnh đất công cộng chơn cầu từ từ biến thành nơi phóng uế và đổ rác. Chỗ chơi của trẻ nít thu hẹp lợi, chỉ còn xung quanh hai cây cột điện. Chỗ chơi của "trẻ lớn" tiêu luôn. Đèn đường bể bóng dữ dội hơn, rác rến dưới chơn cầu tăng nhanh theo cấp số nhơn, và đám phố mặt tiền sanh tật thích thưa gởi nhà chức trách sở tại. Dzồi để giải quyết vấn đề - và giải một cách cấp kỳ - cảnh sát buộc lòng phải đi tuần mỗi bữa. Giấy phạt được phát lia chia cho đám tội phạm kinh niên (xui xẻo có thể bị khiêng về bót 1-2 bữa hổng chừng) đã hổng ngó trước ngó sau nên bị bắt quả tang đang phạm tội ác. Bọn thiện xạ nhỏ dĩ nhiên thỉnh thoảng cũng dính. Thì lượm cục đá nhỏ tra vào ná, rồi đang... một mắt ngó lên bóng đèn, mắt kia nhắm tít đặng nhìn đích cho rõ thì... teng teng teng tèng... thinh không cảm thấy tai bị xoắn lợi, hai chơn có thể bị nhấc hỏng lên. Đứa tội đồ xanh mặt thiếu điều té đái.
Màn cảnh cáo thể lực nớ được coi là sương sương, bạo phát bạo tàn, sợ đó nhưng rồi bảo đảm sẽ quên ngay tắp lự. Nhưng cũng có thể nó bị áp tải dzìa nhà, giao cho tía má giáo huấn dùm. Màn này mới dễ sợ, bị vì cảnh sát cần quả tang, tía má thì không, và luật nhà vốn là... luật miệng ! Tui có bị hù một bận chớ không sao. Thì chưa kịp ra tay đã dính chấu. Rồi tui khóc bù lu bù loa tới nỗi ông cảnh sát hết hồn, phải dẫn sang bên kia đường trả lợi cho tía má kèm với lời... an ủi, rằng thôi nín đi, chú có la con đâu nào ! Dĩ nhiên bữa đó qúi nữ được tía thưởng một cây roi mây quắn đít, và má thì nước mắt lưng tròng thương đứa ngịch tặc. Cũng may là... con này ham vui nên chóng quên, bữa trước bữa sau là nó lại tỉnh bơ, ngựa quen đường cũ !
*
Trong tấm ảnh nọ, bên dưới phía trái có 3 mái ngói to đùng của 9 căn phố rộng rãi khang trang (3 căn chung một mái). Một trong số ấy là viện bảo sanh, cạnh bên phòng mạch BS Trần Minh Tùng, do cô thư ký trẻ đẹp phụ tá điều hành trông coi giấy tờ sổ sách. Phòng mạch đông khách, có má là bịnh nhơn  hầu như thường trực. Đây là thời còn hàn vi, hồi hoạn lộ hanh thông, BS Tùng trở thành đại tá cục trưởng quân y, tổng trưởng y tế rồi cả thượng nghị sĩ quốc hội, danh giá lắm lận !
9 căn phố mái ngói trung lưu được phân chia ranh giới cách biệt với 5 căn mái lá nghèo hèn bằng một đường mương nhỏ xíu, người lớn lách qua hổng lọt. Trẻ nít đi tè trong đường mương nọ, rồi xài nó như một shortcut để ra thẳng đường lộ Bến vân đồn, thay vì đi lòng vòng hai ba con hẻm. 5 căn mái lá trong hình chắc là hồi đó, lúc nhà tui dọn tới thì đám mái lá nọ đã thành mái tôn, mùa hè nóng đổ lửa. Hai căn đầu hổng nhớ của ai. Căn thứ ba là tiệm đồ gỗ Lưu-đô. Căn thứ tư nhà tui (mái sậm màu nhứt) Căn thứ năm là tiệm may Việt-hùng. Sau tiệm Việt hùng là con hẻm nhỏ dẫn vào xóm trong, nhà trong hẻm nọ có dấu suyệc thứ nhứt (số nhà có 1 gạch). Ngay sau nhà tui là một con hẻm khác, thẳng góc và đổ vô con hẻm suyệc-1  nọ. Trong con hẻm sau ấy, số nhà có tới hai dấu suyệc  (2 cái gạch). Nhà cửa được chia được ngăn thêm nữa cho hạp cung cầu, địa chỉ các căn nhà xóm trong tự động cơi tầng, 3-suyệc, 4-suyệc. Đại khái hẻm càng chằng chịt rắt rối, số nhà càng nhiều suyệc nhiều gạch cho... dễ kiếm ! Hổng hiểu rồi đám bưu điện làm cách nào để đưa thư tới đúng nơi đúng chỗ nữa lận !
Đất đai chiếm đóng bất hợp pháp, lâu dần được hạp thức hóa để trở thành cái xóm lao động nghèo, trong đó nhà tui là thành viên. Ông Lưu đô tướng ngũ đoản, chăm chỉ làm ăn. Vợ ông hiền lành y chang ông. Hy hữu cái là... cả ông lẫn bà đều có em sanh đôi, rồi họ giới thiệu nhau cái phiên bản của mình cho đủ bộ. Thình thoảng cặp kia tới thăm cặp này, rồi tiện dịp giúp một tay, vác đám đồ mộc xuống mấy chiếc ghe đậu bên kia đường chở về lục tỉnh. Hai cặp bốn người, in hệt nhau thong thả tới lui qua đường, một cảnh tượng lạ lùng vui mắt  Tiệm Việt hùng, VH, nhỏ và nông. Hồi đầu là tiệm may của một cặp bắc kỳ, có ông VH là thợ phụ. Rồi ông chủ thợ chánh rước phòng nhì dzìa ở chung, mới 1-2 tháng thì phải sang tiệm lợi cho thợ phụ vì... "3 company's" thiếu chỗ sanh hoạt.
 Hàng xóm hẻm 2-suyệc- sau nhà, lần lượt kể ra như sau :
- Phía bên này hẻm, có căn nhà nhỏ và nông sau lưng tiệm may VH nọ, rồi tới nhà tui. Kế đó là nhà năm sương sâm, một căn khác tới nay tui chưa nhớ ra, trong cùng là nhà ông hai đan rổ rá.
- Phía bên kia hẻm, là vựa ốc của ông năm, kế đó là nhà sáu vịt. Kế nhà sáu vịt là chú ba bò viên. Trong cùng và đối diện với ông hai đan rổ rá là chú tiều hủ tiếu, một chú ba khác có xe hủ tiếu bán rong.
Cùng con hẻm cụt mà một bên (bên tui) có tới 6 căn, bên kia chỉ có 4, bời vì nhà năm ốc và tiều hủ tiếu có bề ngang hơi rộng. Trong xóm tui, phần lớn người ta sống trên gác lầu, nhà dưới là chỗ làm ăn buôn bán, trừ những nhà có "kinh doanh" tiến hành nơi khác - như nhà ông sáu vịt chẳng hạn -
Gia đình ông bà Năm sương sâm, chuyên vò sương sâm cho bạn hàng tới lấy mối bán lẻ. Sớm tinh mơ các bà các cô đã thúng gánh tới lấy hàng đặng bán rong. Quang gánh sương sâm bao giờ một đầu cũng là cái thau nhôm chứa vật dụng (ly muỗng đường), đầu bên kia là cái thau nhôm khác chứa sương sâm, một trong hai cái thau có thể có nắp và trên nắp ấy là một sô nước nhỏ dùng "rửa" ly muỗng đã xài xong.
Sương sâm luôn luôn phải để trong nước, nên dzồi gánh sương sâm có thể nặng hổng chừng. Người yếu ớt khi bán xong thì vòng lợi lấy thêm và dĩ nhiên là đổi địa điểm vị trí buôn bán luôn thể. Cũng có những bạn hàng khoẻ sức, hoặc tính toán lợi hại đường xa, lấy 2-3 thau một lần, rồi kê hai thanh tre mà đặt thau nọ chồng lên thau kia, thùng nước rửa thì tới đâu hứng phông tên công cộng tới đó.
Sáng sớm qúi nữ thường thức dậy với tiếng huyên náo bán buôn ngay sau nhà, lúc ông bà năm giao hàng cho khách. Ông bà năm có hai con thị mẹt. Thị lớn lớn bộn dzồi, thị nhỏ đâu đó hơn qúi nữ nhà bên đây 1-2 tuổi. Cả hai thị đều nhu mì hiền lành ăn nói nhỏ nhẹ đoan trang. Mà chúng giỏi và siêng lắm cà, chớ đâu hoang đàng chi địa như nghịch nữ lối xóm. Trưa trưa đi học dzìa tới, hai thị mẹt nớ cơm nước bài vở xong mới xuống thang lầu, săn tay áo siêng năng phụ tía má chúng vò sương sâm.
Sương sâm là một loại lá cây, ngó giống giống như lá rau dấp cá bự, được ông năm xuống miệt Bà Quẹo bà Điểm chở dzìa. Ông chạy mô-bi-lết, phía yên sau, hai cần xé lá tổ chảng hai bên bánh, cần xé thứ ba cột ngay yên chính giữa. Cột cách nào thiệt hổng hiểu, nhưng hổng nghe có tai nạn bao giờ. Trung bình với ba cần xé nọ, ông bà bán được nguyên tuần. Cũng có khi thấy hàng được giao tới tận nhà bằng xe ngựa.
Y hình đám lá nớ khi hái ra đã được để héo bớt thì phải, mục đích tiết kiệm chổ chứa và gia tăng công suất chuyên chở. Tại nơi vò, chúng được bỏ vào những lu sành nhỏ cỡ 6-8 lít, có tên riêng là diệm. Mỗi diệm sương sâm hẳn có thể tích lá cố định sẳn (mà tui hổng biết cỡ bao nhiêu) Trước tiên người ta bỏ nước sấp sấp vô diệm rồi vò nhẹ vài cái, cốt để rửa đám lá cho sạch bụi cát, xong mới đổ nước ấy đi và bắt đầu vò thiệt. Tới giờ nghĩ lợi, tui vẫn chưa hết ngạc nhiên về tánh cần cù kiên nhẫn của người dân lao động dắt việt.
Nước đổ vào diệm sương sâm vẫn sấp sấp, rồi người thợ phải vò bằng hai tay theo kiểu nhồi bột, cứ vò miết vậy cho tới khi sương sâm ra hết nước, nước lúc này xậm màu y chang ly rau má, được chia ra đổ vào các diệm khác. Rồi thì lại có thể cho thêm nước, vò thêm nữa và chia nữa trong những diệm ấy, cốt sao cho các diệm sương sâm có phẩm chất y hệt nhau. 4 người tám cánh tay, 4 mạnh 4 yếu ấy, sau một buổi lao động cật lực hộc xì dầu thì ra thành quả cách mạng, đâu đó khoảng 2-3 chục diệm, được kê tre rồi chồng lên nhau thẳng tắp và cho ngủ yên giấc một đêm. Sáng sau... sâu hóa bướm, nuớc sương sâm đặc lợi thành tảng, xanh biếc một màu, chờ bạn hàng tới cất dzìa.
Lúc giao sương sâm, ông bà năm đổ vào diệm chút nước cho "trơn" rồi mới cầm dao cắt ra, y chang như mình cắt bánh vậy. Những "thỏi" sương sâm ấy có tên gọi là "con" (kỳ quá xá), rồi bạn hàng muốn mua mấy con thì cứ việc. Con sương sâm được "bắt" ra khỏi diệm, bỏ vào thau nhôm của bạn hàng, chút xíu nước được đổ vào thau, rồi một mảnh lá chuối được đặt gọn lên trên, cốt khi gánh đi, tránh sóng sánh để sương sâm hổng lắc hổng bể.
Ông năm sương sâm và hai thị mẹt hiền lành tới củ mỉ cù mì, trong khi ấy bà năm lanh lợi vui vẻ hết biết. Sáng sớm tiếng bà rộn rã liếng thoắng như tiếng chim, ghé bên này hỏi thăm, ghé bên kia chọc cười. Bạn hàng thích gặp bà nghe chuyện, nhưng bù lợi thích mua bán với ông, vì ông năm tánh tình sởi lởi, ai than phiền con (sương sâm) này nhỏ hơn con kia, hoặc diệm (sương sâm) này lỏng quá hổng đủ cứng là... a lê hấp, ông đổi liền cho họ chớ hổng cố nài cố ép như vợ. Chiều tối vò sương sâm xong, bà năm ngồi võng trên lầu, mở la dô nghe cổ nhạc, chồng bà dưới đất mở nước xịt rửa sàn và lau chùi quét dọn.
Vậy dzồi... thinh không lối xóm xầm xì, rằng bà năm sương sâm đang đi ngang về tắt với em trai bà sáu vịt. Nhà ông sáu là hàng xóm sát vách nhà năm ốc, đâu mặt với nhà năm sương sâm (và năm sương sâm sát vách nhà tui). Nghe "đâu" vậy tưởng là xa chớ thiệt sự quá xá gần, cũng bởi con hẻm 2-suyệc nớ bề rộng chưa đủ hai thước tây. Hồi cơi lầu cơi gác, nhà nào cũng cố gắng gia tăng diện tích bằng cách cho bao lơn (balcon)   de ra càng nhiều càng tốt. Nên dzồi... bao lơn nhà Sáu vịt và nhà Năm sương sâm bỗng sát gần lại với nhau.
Ông bà Sáu vịt có sạp bán buôn ngoài chợ cầu Ông Lãnh. Vịt được ông sáu chở thẳng từ nơi cung cấp tới lồng chợ giao cho bà Sáu, hết buổi chợ lại chở về hãng trả lại cho chủ rồi thanh toán tiền nong. Ông bà Sáu có con hay không tui thiệt sự hổng nhớ, chỉ biết bà có đứa em trai công tử vườn, lên sài gòn ở với chị đặng phụ việc nhà. Rồi hổng hiểu cách nào, nó và bà Năm sương sâm chớp đèn sáp lợi.
Nghe kể rằng mỗi bận ông Năm về Bà Quẹo Bà Điểm cất hàng thì ở nhà... thằng nọ leo bao lơn qua nhà bà Năm pha cà phê đãi người tri kỷ. Đi đêm hẳn có lúc phải gặp ma. Một bữa bà Năm ốc ể mình khó ngủ, ra hàng hiên hóng gió trời, thấy thằng nọ đang leo dzìa. Lối xóm xì xầm dị nghị mà ông Năm sương sâm vẫn đực ra hổng biết ất giáp chi. Cho tới một bữa... Bà sáu vịt kêu bà Năm sương sâm ra nói chuyện, xin bà Năm tha cho thằng em nhỏ của mình, thằng ni vốn tốt bụng nên rất... dại gái ! Bà Năm dãy đong đỏng, la làng chuyện oan ức, rồi bà khóc lóc làm mình làm mẩy với chồng, bắt ông phải sang nhà Sáu vịt phải quấy. Hổng biết đã xảy ra chuyện chi bên nhà Sáu vịt mà... Năm sương sâm dzìa nhà dáng cho vợ một bạt tai thiếu điều ngã chúi vô đám diệm sương sâm, diệm lớp bể lớp mẻ, sương sâm đổ linh láng ra đất.
Qua sáng bữa sau, bà Năm sương sâm lôi tổ tiên gia tộc tía má của "ai đó" ra nói trỏng, cho nếm đủ món ngon vật lạ hi hữu trên đời. Hàng xóm thất kinh hổng ai dám lên tiếng khuyên can, sợ mang họa. Bà Năm sương sâm chửi hết một buổi rồi bới đầu tóc cắp giỏ ra đi. Đâu mấy bữa sau thì... gương vỡ lại lành, bà được chồng chở mô bi lết dzìa nhà xum họp. Bà sáu vịt dẫn thằng em trai hiền lành dzìa xứ, đi coi mặt vợ cho nó và sửa soạn cưới xin luôn. Con hẻm nhỏ lại thanh bình như trước.
T.N