Sunday, June 18, 2023

VESUVIO CAFE

Nguyễn Xuân Hoàng
 

 
   Đang mùa lễ hội, nói đến quán cà phê và các quán rượu chắc không đến nõi lạc điệu. Kỳ này xin được nói về quán Vesuvio Café ở San Francisco.
   Quán Vesuvio được Henri Lenoir dựng lên năm 1948. Đây là nơi lui tới của các nhà thơ Beat Generation. Như Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Lawrence Ferlinghetti, và Neal Cassady.
   Người một thời từng Ià chủ quán kiêm quản lý danh tiếng là Leo Riegler cũng đã qua đời năm 2017.
   Ngõ phố chung với tiệm sách City Lights ngày xưa được gọi là "Adler" bây giờ có tên là  "Jack Kerouac Alley". Từ năm 2007 con phố này được chỉnh trang lại và chỉ dành cho người đi bộ.
   Nguyễn này vốn mê những tiệm sách và quán rượu mang tính văn học nay được đọc bài của Nguyễn Xuân Hoàng viết về Vesuvio Café lòng chợt vui hớn hở bèn ghi lại sau đây. Bài viết từ năm 2011, nay Nguyễn Xuân Hoàng không còn nữa (hỡi ơi), biết ai đưa mình tới quán rượu/cà phê mang không khí của thơ Beat. Đành nương theo tưởng tượng mà tìm đi vậy. NGUYỄN & BẠN HỮU
 
Đây nghe Nguyễn Xuân Hoàng kể.
 
Đó là một thành phố của nhiều thành phố.
Một chút "phố núi" Pleiku.
Một chút mù sương Đà Lạt. 
Một chút gió biển Nha Trang.
Một chút phố Tàu trái cây Chợ Lớn.
Một chút vỉa hè Paris...
Một thành phố không ngủ....
Đêm sáng rực ánh đèn của đường Tự Do Sài Gòn những ngày trước 75. Những quán cà phê như nhà lồng ngó xuống mặt đường. Những tiệm ăn đặc biệt đủ mọi sắc tộc. Thành phố lúc nào cũng thở, đầy âm thanh, màu sắc, mùi vị,... rộn rã trong một trái tim cuồng nhiệt. Tôi cứ bước theo chân những người bạn trẻ, những người đã từng sống và trưởng thành trong thành phố này, những người biết rõ từng ngã tư đường, từng quán cà phê, từng góc phố, hiểu rõ cái bất thường thấm thía của thời tiết, cái nắng sáng, mưa trưa; cái lạnh chiều, buốt tối. Phố dốc ngược. Những bực cấp bắt ta "phải rướn người lên mới vươn tới được".
 
Những con dốc ấy gợi lại trong trí nhớ tôi hình ảnh một Đà Lạt
Quán cà phê ở San Fran mà hôm đó chúng tôi ngồi bên nhau tên gì nhỉ? Tôi đã gọi ngược lại Nguyễn Quý Đức để nhờ anh nhắc lại tên quán, con đường đã đi, cả cái câu ghi trên vách của nhà sách City Lights Books, nơi tôi đã dừng lại khá lâu để thở lại hơi thở của Allen Ginsberg, một trong những thi sĩ lớn, đương đại của Hoa Kỳ. Hình như, Đức nói, quán mang tên Vesuvio thì phải. Và con đường Columbus, có nhà sách City Lights Books, nơi tôi đã mua cuốn truyện Lồng Đèn Đỏ Treo Cao với hình bìa nữ tài tử Củng Lợi, sắc nước hương trời.
 
Có phải chính nơi đây, ngày 13 tháng 10 năm 1955, Ginsberg đã đọc bài thơ dài có tựa là  Howl tại Gallery Six trước một cử tọa cuồng nhiệt? Bài thơ lập đi lập lại nhiều lần câu I' m with you in Rockland...
 
I' m with you in Rockland
where we hug and kiss the United States under
our bedsheets the United States that coughs all
night and won' t let us sleep
....
 
I' m with you in Rockland
in my dreams you walk dripping from a sea-
journey on the highway across America in tears
to the door of my cottage in the Western night
 
Bài thơ được Hiệu sách City Lights của Lawrence Ferlinghetti xuất bản năm 1956 dưới tựa Howl and Other Poems, khiến Ferlinghetti sau đó phải bị ra tòa với tội "văn hóa phẩm bẩn thỉu". Ngày 3 tháng 10, 1957, quan toà Clayton W. Horn phán bài thơ không phải sản phẩm khiêu dâm đồi trụy. Howl và Những bài thơ khác sau đó của Ginsberg trở thành bài thơ lừng danh của Beat Generation cùng với On The Road của Jack Kerouac (1957), và Naked Lunch của William S. Burroughs (1959). 
 



Trang Wikipedia viết Ginsberg đã làm thay đổi giọng thơ Mỹ và trở thành bộ mặt trung tâm của trào lưu phản văn hóa thập niên 1960. Allen Ginsberg cũng tham gia những cuộc phản đối chính trị và đưa tinh thần ấy vào thơ (đòi quyền tự do, quyền của những kẻ yếu - nhất là những người đồng tính luyến ái, chống nhà nước, chống Chiến tranh Việt Nam và chống bom hạt nhân).
 
Chính ở đây tôi đã tìm thấy những cuốn sách có bài viết và những bản dịch sang tiếng Anh của Nguyễn Quý Đức. Sách làm tôi ngợp mắt. Căn phòng nhỏ chứa những cuốn sách lớn làm thành một thế giới kỳ lạ mà lòng tôi không bao giờ ngừng say mê. Chúng tôi leo lên căn gác nhỏ như cái chuồng chim bồ câu. Ghế cao, cửa sổ ngó xuống con hẻm mang tên Jack Kerouac. (Kerouac, nhà viết tiểu thuyết, gốc Canada-Pháp, cùng với thi sĩ Allen Ginsberg, là phát ngôn viên của phong trào tự phát của nhóm Beatnik vào những năm 50, nhằm chống lại những khuôn sáo của xã hội và lối sống Mỹ. Phong trào này thể hiện trong văn hóa bằng những tác phẩm vô chính phủ và cá nhân chủ nghĩa. J. Kerouac sống lang thang khắp nước Mỹ, làm đủ thứ nghề, từ lính thủy đến thợ đầu máy xe lửa, và cuộc sống của ông được phản ánh trong những tiểu thuyết nổi tiếng của ông như On The Road, The Dharma Bums...). Hẻm nhỏ, bức ảnh Jack Kerouac vẽ trên tường với dòng chữ "On January 25, 1988, the City of San Francisco approved by City Lights Books to rename 12 streets of San Francisco writers and artists, including this alley." Nhưng tôi cũng lấy làm lạ tại sao trên vách nhà sách của con hẻm mang tên Jack Kerouac lại có vẽ thêm ảnh nhà thơ Pháp Charles Baudelaire lớn hơn ảnh J. Kerouac nhiều. Điều này tôi sẽ phải hỏi lại Đức mới được.
San Francisco, cũng như Paris, thật ra đối với tôi cũng chỉ là một thành phố tôi thấy thoáng qua. Tôi chưa kịp ghi nhận trong trí nhớ về con người và thời tiết, da thịt chưa đủ ngấm hết cái lạnh lẽo của gió biển Vịnh Cựu Kim Sơn, miệng chưa nếm hết những thức ăn quốc tế trên đường có "phố núi cao, phố núi mù sương", tai chưa nghe hết cái âm thanh của xe cộ và con người trên đại lộ Columbus, mắt chưa nhìn thấy được cái vùng bóng tối của thành phố mà một người nhạc sĩ nào đó đã viết ca khúc "trái tim tôi bỏ lại ở Cựu Kim Sơn..."
Thế nhưng tôi biết chắc chắn một điều là mặc dù chỉ mới thoáng qua, San Francisco sẽ cùng với Sài Gòn, Nha Trang, Paris là những thành phố đã để lại trong tôi nhiều dấu ấn. Khi Đức hỏi tôi thế Chủ nhật tới có định trở lại San Fran không, tôi đáp không do dự rằng, trước sau gì tôi cũng sẽ trở lại thôi.  Bởi vì tôi nghĩ chắc chắn là tôi sẽ còn tới đó nhiều lần nữa. Bởi vì tôi biết là quãng đường từ San Jose đến San Fran xa có là bao. Ấy vậy mà, từ ngày trả lời câu hỏi của Đức đến nay đã trên 10 năm, tôi vẫn chưa một lần trở lại San Fran. Tại sao?
NXH
 
 

NHỚ CHA

 Nguyễn Thị Khánh Minh
 
Father and Daughter
 
1.
Đêm. Con nhìn lên trời
Những vì sao rất nhỏ…
Những vì sao rất xa…
Xin một vì sao tỏ
Thắp mừng sinh nhật cha
 
Đêm. Con nhìn lên trời
Trời quen mà thăm thẳm
Muốn quay về, một nơi
Bên lòng cha đầm ấm…
 
Đêm. Con nhìn xuống đất
Đất lạ. Níu con đi
Bóng quen chừng đã khác
Đường xa chừng như lạc
 
Đêm. Con nhìn quẩn quanh
Gió phương này rất lạnh
Nhớ lòng mẹ đêm xanh
Thương cha chiều xế nắng
 
Tìm trong đêm, mây trắng
Hỏi xem nhà ta đâu
Đêm cúi nhìn im lặng
Cả ba buồn như nhau…
    23.5.2010 (viết trong ngày sinh nhật cha)
 
2.
Đêm. Con nhìn lên trời
Niệm một lời. Cô quạnh
Phương nào cha thăm thẳm
 
Đêm. Con nhìn lên trời
Một hạt sương trông vời
Một vì sao tử biệt
 
Đêm con ngồi với gió
Tưởng cha về trước ngõ
Đầy một hồn tơ giăng
 
Đêm con ngồi với bóng
Quạ lao xao tàn cây
Bước cha về lá rụng
 
Đêm. Con nhìn quẩn quanh
Đường xa một bóng lặng
Áo cha đầy mây trắng
 
Đêm. Con ngồi nhớ nhà
Đêm. Con ngồi khóc cha
Trời gần. Và. Đất xa…
   Đêm 6 tháng 10, 2010 nghe tin cha mất.
 
3.
Cha đi vào giấc mộng
Trời mở cõi thong dong
Nhẹ rồi phương này bóng
Tàn tro một hư không
 
Vĩnh hằng hay dâu bể
Trong câu kinh hạt lệ
Cha nương. Một bóng gầy
Tàn tro chiều nắng xế
 
Thôi con về. Khép cửa
Chùa yên. Một tĩnh ở
Tro tàn rồi bụi lạnh
Rồi quen dần. Nỗi nhớ…
   8 Tháng 10.2010 (ngày hỏa táng cha)
 
 
4. Cha ơi buổi mai ngày ấy trôi đi đâu
 
Giữa hai bờ thời gian
Ngực cha và nải chuối xanh
Vạt nắng khô u hoài cột mốc
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu
 
Mầu áo mỡ gà chập chờn
Cầu thang gỗ im bặt
Chiếc gậy treo lửng lơ tiếng mõ
Ai đã mở cánh cửa khói sương
 
Mùa thu về trước ngõ
 
Con đường ấy về đâu
Đêm qua rụng cánh hoa sứ đầu cổng
Mầu hoa trắng về đâu
Mưa rung huyệt mộ
 
Gió âm âm tiếng cửa
Nắng buổi sáng tối dưới hàng mi
Tháng 10 chĩu nặng
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu
 
Cha im lặng. Hơn tất cả những im lặng
Nải chuối xanh trên ngực cha ngưng đọng thời gian không chín
Buổi mai ngày ấy. Tiếng xé buồn những dải khăn
Trắng xô áo mẹ
Trắng xô áo em. Áo anh. Áo chị
Trắng lạnh phương trời con xa
Lạnh nắp quan còn để mở…
 
Cha ơi
Buổi mai ngày ấy trôi đi đâu…
 
NTKM
10.2014
(Ngày giỗ cha lần thứ 4, xem lại hình ngày cha mất)

Thursday, June 15, 2023

VỀ BỨC TRANH ‘EM THÚY’ CỦA TRẦN VĂN CẨN

Thu Hằng
 

Bức tranh em Thúy và hình người mẫu.
 
“Em Thúy” là tên bức sơn dầu (60x45cm) của họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910-1994) sáng tác năm 1943 vẽ cô cháu gái Nguyễn Minh Thúy lên 8 của ông.
Nguyễn cũng như bao người khác từng mê bức tranh này. Nhà văn Thu Hằng của Hà Nội cũng là người rất thích bức tranh và cất công tìm hiểu. Thu Hằng viết trong bài ‘Em Thúy - Ngày ấy, bây giờ...’ NGUYỄN&BẠH HỮU
 
Tôi đã nhiều lần đến Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chỉ để ngắm tuyệt tác ‘Em Thúy” của danh họa Trần Văn Cẩn. 75 năm đã trôi qua kể từ ngày bước chân vào thế giới hội họa, mọi vật đều thay đổi nhưng “em Thúy” vẫn ngồi đó, mãi hồn nhiên, tươi trẻ, như dòng suối tinh khiết trong đời sống quá nhiều trần tục. Một vẻ đẹp Hà thành thật bình yên.
 
Từng tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937, từng được đồng nghiệp ngưỡng mộ suy tôn trong "bộ tứ họa sĩ" lừng danh thời ấy là "nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn", dù có nhiều tác phẩm nổi tiếng, song “Em Thúy” vẫn được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của danh họa Trần Văn Cẩn. Không chỉ vậy, “Em Thúy” còn được coi là một trong những tác phẩm tranh chân dung thành công nhất của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Trong tranh, em Thúy với mái tóc ngắn, nét mặt thơ ngây, đáng yêu ngồi khép nép trên chiếc ghế mây, đôi vai gầy nhỏ bé, gương mặt hướng về phía trước bằng đôi mắt mở to tròn. Bức tranh gây xúc động bởi chính thông điệp giản dị về sự trong sáng, thánh thiện. Xem tranh ta như thấy được yên ả, thanh bình, như thấy được yêu thương… những tình cảm giúp con người muốn xa lánh, trút bỏ những điều ác để hướng về cái thiện.
 
Năm 2003, nhạc sĩ người Anh Paul Zetter đã viết bản “Little Thúy Minuet” (Điệu minuet cho em Thúy) khi ông ngắm nhìn bức tranh. Bản nhạc là cảm xúc mãnh liệt mà như ông chia sẻ: Ánh mắt của “em Thúy” đã chạm vào và tạo nên những xáo động nội tâm để mỗi người như được gặp lại tuổi thơ của chính mình…
 
Quá khứ chưa xa
Năm nay đã bước vào tuổi 83 nhưng bà Nguyễn Minh Thúy – nguyên mẫu bức tranh “Em Thúy” vẫn giữ được hồn cốt của bé gái năm xưa, một vẻ đẹp trong sáng, thanh lịch của một người Hà Nội, thuần túy Hà Nội, không pha trộn. Có khác chăng chỉ là dấu vết của thời gian đã hằn lên làn da và mái tóc trắng màu mây.
Nói về bức tranh, ánh mắt bà Thúy ánh lên niềm vui. Cuộc đời bà thật hạnh phúc khi có được một cái “duyên” đặc biệt với hội họa. Nhờ “bác Cẩn”, bà đã bước vào một thế giới đẹp như mộng và tràn đầy cảm xúc. Chính người bác tài năng đã mở ra những cảm nhận đặc biệt trong tâm hồn bà về nghệ thuật.
Ngày ấy, khi ngồi làm mẫu cho bác Cẩn vẽ tranh, bé Thúy mới lên 8 (1943), đang theo học trường nữ sinh tiểu học Ecole Brieux (nay là trường THCS Thanh Quan) ở 29 Hàng Cót. Việc hằng ngày đi học về phải ngồi làm mẫu cho bác Cẩn vẽ một đến hai tiếng đồng hồ đối với bé Thúy thật là khó khăn. Vì thế mà bác Cẩn cứ phải dỗ dành, đôi lúc lại mắng yêu: “Sao cứ chạy lăng xăng thế!”. Phải mất đến mấy tháng, bác Cẩn mới hoàn thành bức họa và đặt cho nó cái tên giản dị “Em Thúy”. Khi ấy, chẳng ai trong gia đình ý thức được giá trị nghệ thuật của bức tranh. Chỉ nhớ là tại cuộc triển lãm mỹ thuật ở Hội Khai Trí Tiến Đức năm đó, bác Cẩn được nhận giải Nhất với hai tác phẩm "Em Thúy" (sơn dầu) và "Gội đầu" (điêu khắc).
 
Khi người Pháp quay lại Hà Nội, gia đình bé Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi quay về thì tranh đã bị lấy trộm, phải bỏ tiền chuộc lại từ một người buôn tranh. Bức tranh được treo lại trang trọng trong ngôi nhà 23 Hàng Cót cho đến khi bác Cẩn tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Đó cũng là bức duy nhất, độc bản.
Ngoài bức chân dung “Em Thúy”, họa sĩ Trần Văn Cẩn còn có một bức tranh khác vẽ cô thiếu nữ Minh Thúy năm 24 tuổi (1959). Khác với nét hồn nhiên trong trẻo của bức Thúy 8 tuổi, bức Thúy 24 tuổi phảng phất nỗi buồn thiếu nữ. Bà Thúy nói bức này ông Cẩn vẽ rất nhanh, chỉ một ngày là xong.
 
Giai nhân phố cổ Hà thành
Bà Minh Thúy chưa bao giờ cho rằng mình là một người đàn bà đẹp, vì thế bà cũng không ý thức quá về cái đẹp của mình, dù bất cứ ai, khi gặp bà cũng nhận ra gương mặt của một nhan sắc Hà thành thuần khiết, tự nhiên. Bước vào tuổi xưa nay hiếm nhưng bà vẫn giữ cốt cách thanh tao, lịch thiệp, nhẹ nhàng của người phụ nữ sinh trưởng trong những gia đình nền nếp của Hà Nội xưa.
Là chị gái cả trong một gia đình công chức có 4 chị em ở 23 phố Hàng Cót, Hà Nội, cũng như những thiếu nữ Hà thành thời đó, cô bé Minh Thúy được nuôi dưỡng trong môi trường nền nếp. Nhắc về những nét đẹp xưa cũ, bà Thúy nói: “Người Hà Nội xưa chu đáo lắm, nền nã lắm. Trong gia đình thì bố mẹ dạy con cái rất nghiêm. Khi các con còn nhỏ, ngồi vào bàn ăn được mẹ chú ý sửa cách ngồi, cách cầm bát, cầm đũa, cách múc canh, cả cách nói chuyện trong bữa ăn... Hà Nội xưa cũng yên bình lắm, không ồn ào náo nhiệt như bây giờ đâu”.
Rời trường Ecole Brieux, Minh Thúy trở thành cô nữ sinh Trưng Vương hằng ngày mặc áo dài, đi guốc cao gót, cùng vú em đến trường. Nếp sống bình lặng và đều đặn đó, tạo nên tính cách bình yên của người con gái Hà Nội.
Theo nền nếp gia đình, Minh Thúy học sư phạm và trở thành nhà giáo. Bà đã trải qua một cuộc đời dạy học khá êm đềm nhưng cũng không ít khó khăn vì đất nước những năm tháng đó đang có chiến tranh, ai ai cũng phải thắt lưng buộc bụng, chồng bà hay phải đi công tác xa, 3 con thì nhỏ dại. Cô giáo Thúy lúc dạy ở trường ngoại thành lúc chuyển về dạy ở nội thành. Hết dạy môn văn - sử - địa ở trường phổ thông, cô lại dạy nữ công gia chánh ở trường sư phạm, môn học vốn là sở trường của những người phụ nữ Hà thành khéo tay, tinh tế. Những năm đi sơ tán theo chồng trong những ngày cả đất nước chiến tranh, khốn khó, cô Thúy đã gánh trên vai gánh nặng của một người vợ hiền đảm đang, quên mình vì chồng vì con.
Với bà Minh Thúy, thành quả lớn nhất mà bà nhận được cho đến giờ phút này có lẽ chính là cuộc sống yên bình, thảnh thơi bên con cháu lúc tuổi già. Ngẫm lại, sống cuộc đời lặng lẽ, ẩn danh cũng là một cách bà Minh Thúy chọn cho mình sự bình an và không phủ nhận mối lương duyên kỳ lạ với nghệ thuật đã đem đến cho cuộc đời bà những gam nóng của hạnh phúc. Nhiều nhà báo đã đi tìm cô gái nhỏ trong tranh của danh họa năm nào.
Bà Thúy lưu giữ tất cả những bài báo nói về mình và mỗi khi được ôn lại kỷ niệm về “bác Cẩn” yêu quý là một lần bà trở về với những ngày tháng tuyệt vời nhất của tuổi thơ.
THU HẰNG
(theo Nhịp sống Hà Nội)

  

Monday, June 12, 2023

BÙI GIÁNG-HƠN MỘT ĐỜI THƠ

Nguyễn Thị Tịnh Thy
 
Bùi Giáng. Một Đời Thơ 

Nguyễn Thị Tịnh Thy, Bứu Ý
và Nguyễn Khoa Diệu Hà
 
   Tác giả Bửu Ý đặt nhan đề cho cuốn sách là BÙI GIÁNG, MỘT ĐỜI THƠ. Tuy nhiên, những gì mà cuốn sách thể hiện còn hơn cả thế. Bởi vì, qua trang viết của Bửu Ý, Bùi Giáng không chỉ là một nhà thơ, một đời thơ; mà còn là một dịch giả, nhà phê bình văn học, một triết gia.
   Viết về Bùi Giáng, nói về Bùi Giáng, kể về Bùi Giáng, thêu dệt về Bùi Giáng thì đã quá nhiều. Vì thế, làm thế nào để thể hiện sự riêng biệt, mới lạ là một thử thách đối với người cầm bút.
   Nhà văn Bửu Ý đã chọn hồi ức và tư liệu để vượt qua thử thách ấy và làm thế mạnh cho mình.
   Là người có cơ duyên ở gần Bùi Giáng trong những tháng năm tuổi trẻ, Bửu Ý đã kể cho bạn đọc nghe câu chuyện về một chàng thanh niên Bùi Giáng trong cuộc sống đời thường: gần gũi, hiền lành, nhân hậu, trong sáng, liều lĩnh và đa tình nhưng nhút nhát đến mức “yêu trần gian mà chưa dám cầm tay”*.
   BÙI GIÁNG, MỘT ĐỜI THƠ là bộ sưu tập tư liệu phong phú và công phu về Bùi Giáng từ báo chí, sách vở. Nếu bạn muốn thực hiện một công trình nghiên cứu về Bùi Giáng, cuốn sách là một tài liệu quan trọng, cần thiết cho phần “lịch sử vấn đề” của bạn.
   Qua tư liệu, Bửu Ý đã xây dựng nên một chân dung Bùi Giáng sống động: đi đứng, ăn ở, nói năng, viết vẽ, buồn vui, điên tỉnh… Bùi Giáng có những bình luận rất sắc sảo về thơ Nguyễn Du, Quang Dũng, Hồ Dếnh; có những quan tâm đến thời cuộc và phản ứng chính trị đầy trách nhiệm công dân. Và, bên cạnh một Bùi Giáng trào lộng, tưng tửng, còn là một Bùi Giáng có khi da diết đằm sâu:
“Đi về làng xóm năm xưa
Viếng thăm người cũ, người chưa quên người”.
 
   Qua cách xử lý tư liệu, lựa chọn và trích dẫn quan điểm, bình luận cũng như sáng tác của Bùi Giáng, về Bùi Giáng, nhà văn Bửu Ý đã làm sống dậy một Bùi Giáng đa tài đa tình, trí tuệ và minh triết. Đồng thời, từ chân dung và cuộc đời nhân vật, người đọc có thể hình dung được một thời kỳ hoạt động báo chí và học thuật sôi nổi của miền Nam trước 1975.
   Cuốn sách mạnh về tư liệu, ít nhận định. Nhưng nhận định nào của tác giả Bửu Ý cũng hay, rất sắc; nó mang lại cho người đọc những kiến thức và kinh nghiệm học thuật, kinh nghiệm văn chương quý báu.
Văn phong của Bửu Ý giản dị nhưng tinh tế, dùng từ rất “đắt”. Ông cũng “vọc chữ”, “cưỡng ngôn”, cà rỡn, tung hứng, tung tẩy không kém gì Bùi Giáng. Mà, một khi văn phong của người nghiên cứu, khảo cứu bắt nhịp được với văn phong của đối tượng được nghiên cứu là tác phẩm đã đạt đến sự thành công.
Có lẽ do quan điểm hoặc do khó khăn riêng, cuốn sách còn thiếu mảng tư liệu học thuật về Bùi Giáng. Dĩ nhiên, nếu chạm đến mảng này, tác giả sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức hơn, mà với một người cầm bút U90, đó là điều bất khả.
 
   Với tôi, cuốn sách này gây ấn tượng mạnh ở hai điều:
   1/ Khai thác ký ức, viết về kỷ niệm riêng với một người nổi tiếng, nhưng tác giả Bửu Ý đã không phô bày cái tôi của mình – cái tôi đặc quyền sở hữu ký ức. Đó là sự “lịch lãm” của một quý ông trong văn chương. Tuy nhiên, sự đời là vậy, khi bạn biết đặt mình lui sau thì mình sẽ đứng trước, đặt mình ở ngoài thì mình sẽ được vào trong. Tự nhiên nhi nhiên, trong cuốn sách về Bùi Giáng, ta vẫn thấy được một   Bửu Ý có tâm, có tài, có công, có trách nhiệm, nghiêm túc mà hóm hỉnh khi mang đến cho người đọc một Bùi Giáng khác lạ, mới mẻ.
   2/ Trong tiểu sử Bùi Giáng, nhà văn Bửu Ý đã có một lối viết đúng kiểu Bùi Giáng, mà cũng đúng kiểu “hiện nguỵ” của Bửu Ý:
- 1941: Về Quảng Nam chăn dê
- 1941-1945: Trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế
   Tôi thích kiểu viết, câu viết tiểu sử “hiện nguỵ” này: “Trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế”.
   Ui chao! Vì câu viết trên, gái Huế này xin lạy các ông ba lạy!
NTTT

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI. ‘BÙI GIÁNG MỘT ĐỜI THƠ’

Nguyễn & bạn hữu
 

Bìa sách và tác giả Bửu Ý
 
Đây là cuốn sách của nhà văn, dịch giả Bửu Ý, viết về Bùi Giáng, một giọng thơ được coi là vô tiền khoáng hậu của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Dù viết bao nhiêu về Bùi Giáng, có lẽ cũng là không chính xác hoàn toàn vì ông đã trở thành một hiện tượng, một tượng đài ngôn ngữ, vậy mà qua ngòi bút của Bửu Ý, chúng ta không chỉ thấy Bùi Giáng mà còn thấy cả hơi thở, không khí thời đại mà hai người đã dự phần vào… Bửu Ý viết: thử tưởng tượng bạn quẳng đến cho Bùi Giáng một bó câu, hay trời cao mưa móc xuống một hộc chữ cái, hay nàng thơ cung tặng sa số vần điệu, Bùi Giáng từ đó sẽ sắp xếp lại thành thơ, những câu thơ không ai ngờ, những vần điệu đầy tung hứng.
Mời bạn khám phá cõi thơ của Bùi Giáng, qua những nét vẽ bằng ngôn ngữ của Bửu Ý.
 
Được biết, chiều 22/3, Tạp chí Sông Hương ở Huế đã phối hợp với một số hội đoàn, cơ quan tổ chức chương trình giới thiệu tác phẩm ‘Bùi Giáng-Một Đời Thơ’ của Dịch giả, nhà văn Bửu Ý.
Tác phẩm ‘Bùi Giáng - Một Đời Thơ’ của dịch giả, nhà văn Bửu Ý dày hơn 200 trang do Nhà xuất bản Dân Trí và công ty sách Thiện Tri Thức ấn hành.
Đây là một công trình tâm huyết của dịch giả Bửu Ý về một người bạn quen thân – cố thi sĩ Bùi Giáng qua những câu chuyện về thi ca và cuộc sống, giúp người đọc biết thêm về cuộc đời và thơ của thi sĩ Bùi Giáng.
Trong tác phẩm, nhà văn Bửu Ý viết: "Thơ của Bùi Giáng là “tái tân thanh” mở ra một kỷ nguyên mới. Sẽ có chăng trong tương lai những tiếng thơ đồng điệu? Hay ngược lại sẽ chịu phận lẻ loi…”
Tại buổi ra mắt sách, Nhà văn Bửu Ý cũng đã chia sẻ đến câu chuyện mà nhà văn có duyên phận san sẻ và mắt thấy tai nghe những hoàn cảnh của thi sĩ Bùi Giáng. Đó là trận hoả hoạn khổng lồ thiêu rụi hàng ngàn cuốn sách và nhiều bản thảo chưa được in ra với bao tâm tư, lời giải thích, giải bày chất chứa trong vô vàn tác phẩm khiến Bùi Giáng không thể gượng dậy nổi. Suốt nửa đời còn lại, để khuây khoang một đôi phần, Bùi Giáng đem lòng tơ tưởng đến những hình bóng phụ nữ để cứu rỗi mình. Nhà văn Bửu Ý cũng đã đề cập đến cách đọc độc đáo về truyện võ hiệp và đoán trước diễn biến câu chuyện đúng theo cách vận hành sáng tác của một tác giả ngoại hạng, Bùi Giáng dầm mình vào sách, đọc sách, in sách, dịch thuật và làm thơ suốt năm suốt tháng nhưng không dng dưng với thiên hạ sự, với thời cuộc..
 
Ở những trang sau mời các bạn đọc bài của nhà văn Nguyễn Thị Tịnh Thy về cuốn sách.
NGUYỄN & BẠN HỮU

*Đặt mua cuốn sách tại: https://tinyurl.com/bui-giang-mot-doi-tho

  

Thursday, June 8, 2023

ĐÃ LÂU RỒI

Khê Kinh Kha
 
Phượng đỏ. Hình Internet
 
đã lâu rồi hồn mình quên xao động
như cánh diều không còn gió thoảng bay
như lá vàng im lìm trong mưa lạnh
chết âm thầm trên thảm cỏ xác xơ
như mùa đông về đây không hẹn trước
tuyết vô tình phủ kín lòng quạnh hiu
và cô đơn giăng đầy trên cánh gió
dưới hiên đời nhìn tuổi mộng ra đi
như mặt trời tủi hờn trong mắt lạnh
như vòng ôm chưa trọn đủ ước mơ
như kỷ niệm xa mờ trong trí nhớ
những dại khờ bao lần ướt bờ môi
những mặn nồng của hai đứa mình thôi
 
anh đã quên những con đường phượng nở
tuổi học trò em đã nói yêu tôi
anh quên luôn những đêm dài thơ thẩn
những trăng vàng chen giữa bước chân em
nhớ làm sao những sao trời sáng quá
những sao trời rơi rớt trong mắt đen
những lần hôn, vội vã dưới mưa dầm
và hơi ấm mình truyền nhau vụng dại
 
anh quên bẵng dòng sông xưa nước cuốn
những ngọn đồi mây gió vẫn luyến thương
những suối ngàn trọn đời thương mưa lại
lúa lên mầm như hạnh phúc lứa đôi
bởi vì em mái tóc quá dịu mềm
bởi vì em tình mộng như cánh sen
nên anh đã trăm ngàn lần ước vọng
 
đã lâu rồi anh như mây lạc hướng
đi giữa đêm sâu không ánh trăng vàng
không thấy được hiện tại trên đôi tay
cũng không biết về đâu một ngày mai
những buổi cơm anh cố ăn để sống
mà trong lòng nước mắt cứ như canh
và hồn mình thổn thức nỗi cô đơn
bao đêm dài không tìm ra giấc ngủ
bởi muộn phiền khô đắng cả tâm tư
 
đã lâu rồi anh không nhìn ra sự thật
bởi nơi đây sự thật quá tủi lòng
đến bao giờ anh tìm được niềm tin
cho anh được ngủ vùi trong mái tóc
của một thời tuổi mộng ngát tình em
KKK

  

NHƯ MẮT THỦY XANH RÊU TIỀN KIẾP

Huỳnh Liễu Ngạn 

Thủy của hai mươi. Tranh tác giả gởi
 
ngày tôi đưa cánh tay hỏi thủy ơi
sao thủy không cầm
cho tôi đỡ nhẹ ánh trăng rằm
của nửa tháng giêng
tôi về đúng ngày lễ cầu ngư ở làng thai dương hạ
mà bên kia biển một con vạt trắng bay ngang
cọng lá tra cổ tích tôi tìm hoài không thấy
biết vậy tôi không về làm chi
cho mắt thủy buồn bóng đêm hai giờ sáng
 
cũng đã ba chục năm đợi một lá thư
mà thủy chưa viết
ngày tôi bỏ làng đi xa
đứng trên gò cao tôi nhớ về độn cát trắng quê nhà
thấy áo thủy cài khuy
để cho gió lọt xuống đồng mùi hương trầm con gái
lúc thủy vừa tròn hai mươi
có mái tóc chải nghiêng bên mé trái
tôi ngồi ngắm thủy rửa chân
mà trên cành cây không còn giọng hát
 
rồi tôi cứ đi hoài đi mãi
qua tận bên xứ người để thấy tuyết bay rơi
thủy hỏi biển đời ngày ấy
ngày tôi vượt biển bằng chiếc ghe mua bãi
không ai biết tôi chết sống thế nào
đành cầu trời khấn phật
tôi vẫn nguyện đem lòng mình thả xuống vực sâu
để mẹ tôi bên kia nhà đừng đi cầu kinh nữa
và mắt thủy thôi buồn theo từng mùa gió chướng
tôi sẽ về làm tấm gương
cho thủy soi hoàng hôn bên khung cửa
 
tôi vẫn yêu thủy như ngày đầu
cùng ngọn lửa
khi bơi xuồng qua rú chá vớt rong
trên cánh đồng phơi đầy mùi trăng rạ
khói chiều hôm bay lên tóc thủy
gió thổi sâu vào lưng áo
khi thủy thấy đôi chim tha từng cọng rác
về làm tổ trên cây
 
tôi đã tha hương bên bờ sông nước chảy
một viên sỏi một nhánh rong
như mắt thủy xanh rêu tiền kiếp
tôi nỡ nào để thủy trôi đi làm giọt mưa tan
tan vào tiềm thức mịt mù của số phận
tôi nỡ nào để tay thủy lạnh giữa mùa đông
mà không choàng cho thủy một tấm khăn bông
trên ngấn cổ cao gầy
thủy biết tình tôi như trái chín rụng đầy
làm cho máu chảy tràn lên tim lên phổi
để thủy khỏi nghi ngờ tấm lòng tôi trôi nổi
khi thấy bầu trời như nhỏ hẹp trong tim
tôi vẫn kiếm tìm một ánh sao đêm
gọi bằng em
để thủy thấy cuộc đời
cũng chừng ấy ngày tháng và năm
mà tôi nào có giữ được thanh xuân
bên bụi gai lúc mới tơ tằm.
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
11.5.2023