Tuesday, November 15, 2022

NHẶT TRÁI THÔNG KHÔ

nguyễnxuânthiệp

Trái thông khô
 
anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín rụng
 
trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày hồng trăng
 
đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn
 
em. và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
 
anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua
anh chết. hồn dã quỳ
chắc bây giờ thấy nhớ
và như là bao giờ
anh nhặt trái thông khô
bàn tay khum ngọn lửa
tiếng gà. tiếng gà trưa
thế kỷ tàn. tàn rụng
anh về. tiếng gà trưa
 
NXT
tháng 12.1999
 
Tranh Marc Chagall

Monday, November 14, 2022

THU VIẾT CHO MÌNH

Phan Thị Như Ngọc
 
Hoa ngọc lan
 
Do một cơ duyên ẩn mật, tôi đã đến kính cẩn cúi đầu ở một góc thiêng liêng trong chùa Già Lam- Gò Vấp. Khi bước ra vườn chùa, dạo chậm rãi giữa những chậu kiểng xanh tươi rồi vòng ra phía sau, thay chàng chào những bông Ngọc Lan trắng thơm tinh khiết…tôi đã chạm tay vào Mùa Thu trong ngày Rằm tháng Bảy.
Rất đơn độc, nhưng không hề quạnh quẽ...
Cúi nhìn xuống mảnh hồ nhỏ trồng sen trước sân chùa, tôi thấy mây trắng mềm mại cuộn tròn. Và mái tóc tôi. Cả hai, trong đáy hồ chật hẹp.
Giữa những cánh sen, lung linh hiện ra Vườn nhà anh nhiều cây, nhiều hoa, yên tĩnh và bình dị. Vườn ngoài đó là vậy em à. Có cả ao nữa… Cha mẹ ngồi uống trà… Anh nhớ khói trà mỏng manh, tan dần trong ánh sáng đầu ngày…Tôi nghe giọng chàng kể về song thân, về ấu thời, về những cơn mưa quấn mình trong áo tơi lá đi học…thấy thèm quá một tuổi thơ như vậy.
Rời chùa Già Lam, Mùa Thu lững thững theo chân tôi, im lặng. Con đường Lê Quang Định dẫn ra Bà Chiểu như bị nén chặt, sôi lên, nóng rực. Lướt qua những dòng người xuôi ngược tất tả, lòng cứ thấy tiếc vẩn vơ- biết đâu trong đó chả có một tâm hồn nào, một tiền kiếp nào, một mùa xuân nào đang vẫy gọi thiết tha mà mình không kịp biết… Chiếc xe hơi phía trước thắng gấp, vài tiếng chửi tục rộ lên từ đống xe gắn máy dồn cục. Nói dại, nếu bị nghiến nát giữa rừng xe này, phần xương thịt đã đành, còn Mùa Thu và ý nghĩ của tôi, liệu có thoát bay kịp cùng với linh hồn?
Mùa Thu cười rộ. Nó chế diễu tôi. Tiếng cười trong như thủy tinh.
Chiếc lá bồ đề xanh tốt hái trên chùa Già Lam, tôi để trên tập thơ của chàng, cạnh những hạt đá- gọi là giọt lệ của đá thì đúng hơn- đã bắt đầu khô và trở màu vàng xám. Mùa Thu an ủi tôi. Nó gọi ra chiếc lá khác- chiếc lá trong ký ức thiếu nữ xa xưa- lá ngô đồng.
Ngày ấy, sính cổ thi, đọc câu Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu giữa lòng Đà Lạt không có ngô đồng, tôi đã sửa câu thơ nọ thành Anh đào nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu. Chẳng phải sao, nhìn những cây anh đào úa vàng, trút lá mùa thu dọc hồ Xuân Hương ai cũng biết mùa hạ đã tàn, thu trở mình và đông chực chờ đâu đó trên thung lũng xa xa. Chỉ một chiếc lá đào rơi là đủ bắc cầu cho con gái Đà Lạt bước vào mùa thu với mắt "ai kia" lặng thầm góc phố, với mưa phùn giăng màn thê thiết trong nhạc Đặng Thế Phong, Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn…
Mùa thu, tôi đã giữ trong cặp nhiều lá đào của thiên thai Đà Lạt. Ép khô, đề thơ lên đó, quét sơn bóng, buộc nơ rồi tung lên tặng gió thu. Cầu kỳ hơn, có lần còn lấy tóc dài làm chỉ, thêu thơ. Bài thơ chưa thêu xong, người định tặng đã bước đi. Bỏ lại con đường, và núi đồi. Tôi không đọc cổ thi Trung Quốc nữa, mân mê trên tay bài thơ thêu dở. Apollinaire lại gần, đặt xuống bên tôi đóa thạch thảo, thì thầm Mùa Thu chết rồi…Mộng trùng lai không có được.Hương thời gian, mùi thạch thảo bốc hơi…Đừng đợi nữa!
PTNN
  

Friday, November 11, 2022

13 BÀI HOKKU: GIỌT THU

Trịnh Y Thư 

Tranh Nguyên Khai.
 
1.
Cành táo oằn oài ngả
     Sẻ nghiêng đầu
          Giọt Thu lặng lẽ rơi.
 
2.
Sân nhà cũ
     Gió bạt – lá phong đỏ hiên sau
          Lặng im bờ tường rêu phủ.
 
3.
Mưa xóa nhòa ô kính
     Cẩm chướng và thược dược
          Căm căm trong màn đêm.
 
4.
Gió mùa Thu
     Lẻn qua khung cửa hẹp
          Dừng lại chân giường.
 
5.
Mây đùn bia mộ xám
     Lũ nhạn bay đã xa
          Mưa trong chiều ảo vọng.
 
6.
Tiếng mưa gõ đều đặn
     Lên mặt kính cửa sổ
          Thi thoảng có tiếng – chíp.
 
7.
Mưa nơi này
     Mưa Hà Nội
          Một ngàn năm – mùa Thu
 
8.
Tảng đá vườn sau nhà
     Vì sao mi khóc?
          Ôi mưa Thu.
 
9.
Cây ổi sau nhà
     Ra hoa ra trái
          Mưa Thu ưu ái vỗ về.
 
10.
Băng thảo ủ dột
     Cựa mình bên phiến đá
          Ẩn nhẫn đợi chờ.
 
11.
Vần vũ đám mây dị hình
     Xao động góc trời
          Trận bão lá.
 
12.
Hãy kêu lên thật to
     Chú ếch bạn tôi
          Mưa trong lòng trần thế.
 
13.
Duềnh nước tràn về
     Cơn lũ một đời
          Nước nước nước.
 
TRỊNH Y THƯ 

CHIẾN TUYẾN

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Trừu tượng Bernice Bing
 
lịch sử nhiều khi cũng thủy chung như máu
đã phân chia nỗi ám ảnh tận cùng
khi bên kia căn nhà có hầm tránh đạn
và tiếng còi báo động
em đi tìm anh
làm tình yêu giữa thời chiến
 
không sao
anh hiểu
sau cánh cửa một lũ người nhốn nháo
lương khô của hạm đội 7
trôi lềnh bềnh giữa biển
mẹ anh chửi lên trời
tiếng ầm vang pháo kích
anh về cầm tay mẹ
nước mắt không thể chảy mãi được
 
vẫn còn tiếng la hét
nửa đêm đạn bay vào đầu
em thơ khóc
rúc vào nách
mẹ phơi vú cho con khát sữa
chiến tranh ở ngoài biên giới
chiến tranh ở trên rừng trên núi
không ở ngực mẹ
 
đừng sợ cơn cuồng điên dã thú
khi hỏa châu soi sáng
con cứ lớn
làm chứng nhân cho mặt trời
để lịch sử khỏi nổi loạn
và thay tên
cách mạng xuống lên
rồi cũng đâu vào đấy
chỉ mình em thay da đổi thịt
nỗi dại khờ bưng mặt khóc
thời đại nhiều ánh sao
 
rồi cánh hoa già đi
em chết khô giữa mùa dịch bùng phát
anh về
ngồi nghe lịch sử thở than
sao muộn thế
không cầm tay em
để kết thúc chiến tuyến
mà từ lâu
nỗi hãnh diện thay trời
làm mưa.
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
28.12.2021 

Wednesday, November 9, 2022

THƠ NGU YÊN

Hoa mộc lan. Photo NQuỳnh

Trên cành mộc lan
 
Cây Mộc Lan hoa trắng trước nhà nở ra tổ chim, một bầy nhụy kêu ríu rít.
Cha bay mây sớm, mẹ bay nắng trưa, thay nhau mang mồi về xây dựng phiền hà hạnh phúc.
Tất cả thực tế đều giống huyền thoại khi không thể đến gần.
Dù những chiều mưa không như nhau, nhưng nỗi buồn sẽ ướt cánh chim nhỏ.
Sao hoa Mộc Lan không đỏ?
Lớn gấp chục lần hoa ổi mẹ trồng
nhưng không có trái ăn.
 
Mẹ rỉa lông mỗi ngày mỗi rụng, dành dụm thành giường êm cho con nằm.
Cha nhìn trứng chưa nở có bao giờ tự hỏi mai này mưa hay nắng?
Hương Mộc Lan thơm nồng nàn.
Mẹ đẹp nhăn dần theo hoa rụng.
Ai chẳng muốn con mau lớn khôn?
Rồi thương xót khi con khôn lớn.
Đó là một buổi xế chiều:
Mặt trời thường xuyên cô độc cảm thấy cô đơn.
Chim già trở về tổ
mồi dở dang
không còn nhụy nào mừng rỡ.
Nắng tàn vốn đã buồn
sao trời lại thêm mưa?
 
Cây Mộc Lan lại nở hoa trắng.
Thời gian đục tổ chim những lỗ hổng tả tơi.
Những lỗ trống nhìn thấy trời xanh
mà bên trong chồng chất nhiều thương khó.
 
Bóng chiều chết
 
Căn phòng nghẹt thở màu âm u
trên mặt quầy rượu vân gỗ phơi dĩ vãng nứt
vết xước, bàn tay say mang nhẫn cạ nỗi niềm
thời gian vô hình lưu lại nhiều thương tích
và không gian
mờ như hôm nay
xô đẩy thời gian hấp hối trong bóng chiều.
 
Ai đang buồn
đến uống với tôi vài ly rượu
nếu tâm tư lớn đủ
thế giới là tù ngục.
 
Ai đang cần yêu
đến ôm tôi một buổi
nếu tình không đủ vui
yêu luôn luôn tạm thời.
 
Trong bóng chiều chết
Quầy rượu và tôi nhập vào nhau
tăng thêm vết nứt vết xước
giá trị quầy rượu là đồ cổ
còn tôi,
không cách nào sống lâu hơn quầy rượu.
NY
 
 

Monday, November 7, 2022

KHÁNH TRƯỜNG VÀ HỢP LƯU

Trương Vũ
 
Chân dung Khánh Trường. Đinh Cường vẽ
 
Tác phẩm của Khánh Trường
 
Năm 2002, tạp chí Hợp Lưu tổ chức kỷ niệm 12 năm ngày chào đời của tạp chí này, tại Santa Ana. Bùi Bảo Trúc, Nguyễn Hữu Liêm và tôi được mời đọc bài phát biểu. Trong bài của mình, tôi nhấn mạnh đến sự thành tựu của “những suy nghĩ bình thường”. Xin tóm tắt nội dung như sau.
Thời gian đó, tôi đã rời Việt Nam được hơn 25 năm, trong một chuyến vượt biển đầy gian nan. Tôi lần lượt chứng kiến những đổi thay kinh hoàng của thế giới, nói chung, và của Việt Nam, nói riêng. Cũng như cảm nhận biết bao thay đổi ngay chính trong tôi.  Sáu tháng trước, tôi có trở về thăm quê hương.  Thoạt tiên, tôi không nhận ra những con đường cũ, không nhận ra bất cứ một khuôn mặt quen thuộc nào trên những con đường đó.  Tôi có cái cảm giác của một anh Rip Van Winkle, một buổi đẹp trời xách súng đi săn, khi mệt nằm lăn ra ngủ, lúc tỉnh dậy thấy râu dài tới rún, tóc bạc phơ, cỏ dại phủ kín nòng súng đã rỉ sét. Nhìn quanh, chẳng còn thấy làng mạc thân quen. Cuối cùng thì anh thợ săn cũng hiểu, thực ra làng mạc của anh vẫn còn đó, nó chỉ khác đi theo thời gian thôi.  Và, cuối cùng rồi, tôi cũng gặp lại rất nhiều người thân yêu cũ.  Tôi gặp lại dì tôi, các chị tôi, các cháu tôi, các thầy giáo, bạn bè, và những học trò cũ. Trong khung cảnh ấy, cái anh Rip Van Winkle, là tôi, dĩ nhiên vô vàn xúc động. Có rất nhiều điều để nói với nhau, có những phút cùng nhau im lặng, cũng như, có không ít câu hỏi đã được đặt ra.
Trong dịp về thăm quê hương đó, tôi đi nhiều nơi, từ Nam ra Bắc. Tôi gặp nhiều bạn bè mới trong giới cầm bút. Rất nhiều người trong số này có bài vở đăng tải trên Hợp Lưu, hoặc tích cực ủng hộ sự hình thành của tạp chí Hợp Lưu.  Tôi có nêu lên một câu hỏi. Câu hỏi thật ra rất tầm thường, vô duyên nữa là khác. Đó là, tại sao ở trong nước không có một tạp chí như tạp chí Hợp Lưu ở hải ngoại?  Ý tôi muốn nói đến một tạp chí văn học đăng tải những sáng tác, những tiểu luận bằng tiếng Việt thuần túy dựa trên giá trị văn chương và trí thức, mà không coi trọng cái địa chỉ hay nghề nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại của người viết. Tôi nhận được nhiều câu trả lời tế nhị, hầu hết là để giúp tôi tự tìm ra lời giải. Cái lời giải mà mãi đến lúc ấy, qua nhiều lần tự vấn, tôi vẫn không mảy may hài lòng. Tôi từng nghĩ, một câu hỏi đơn giản như thế, dựa trên những suy nghĩ bình thường như thế, nhưng để tìm được câu trả lời, sao mà gian nan và phức tạp đến vậy! Tôi nhắc lại câu chuyện trên chỉ để nhân đó trình bày một số suy nghĩ tản mạn xung quanh sự ra đời, cùng bao nhiêu rắc rối, thăng trầm, và những thành tựu của tạp chí Hợp Lưu ở hải ngoại.
Vào lúc đó, Hợp Lưu bước sang năm thứ mười hai, số ra mắt phát hành đầu tháng 10, 1991.  Đây là khoảng thời gian mà không một người Việt Nam nào có thể quên được, kể từ sau biến cố 1975. Cái dấu ấn của 1975 đang trở thành mờ nhạt so với bao biến cố mới. Thế giới đang rung chuyển. Rung chuyển đến độ có những quyền lực tưởng chừng như bất tận, vụt chốc tan biến. Có những đổi thay chính trị và xã hội tưởng chừng chỉ có trong mơ bỗng trở thành hiện thực, cũng như, có những cái từ hiện thực trở về lại trong mơ. Và, dĩ nhiên, cũng có những ước mơ thay đổi, đặc biệt đối với người Việt, vẫn luôn luôn chỉ có trong mơ.
Văn học Việt Nam hải ngoại được hình thành và nuôi dưỡng bởi những nhà văn lưu vong và những người yêu văn học, ngay từ những năm đầu tiên người tỵ nạn Việt Nam định cư trên đất nước này. Nó trải qua rất nhiều khó khăn trong những năm đầu, và dần dà đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Những thành tựu ấy, phần lớn, do sự đam mê của người viết, và dĩ nhiên, do tài năng của họ. Tạp chí Văn Học Nghệ Thuật do Võ Phiến chủ biên và sau đó, tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác phụ trách (những chủ biên sau cùng là Hoàng Khởi Phong, Trịnh Y Thư, Cao Xuân Huy), đã có những cống hiến đáng kể cho những thành tựu đầu tiên này. Sau biến cố Đông Âu 1989, nhiều nhà văn Việt Nam, trong hay ngoài nước, qua tác phẩm, biểu lộ sự nhạy cảm của họ về những đổi thay chắc chắn phải có của nhân loại trong những ngày sắp tới. Trong giới cầm bút hải ngoại, bắt đầu có những nỗ lực nhằm tạo một môi trường sinh hoạt văn học và nghệ thuật vượt trên những mâu thuẫn chính trị giữa nhà văn trong và ngoài nước. Một môi trường để mọi người có thể đón nhận tác phẩm của người khác chỉ dựa trên giá trị văn chương và tầm nhìn của tác giả. Cần nhắc lại là dù ở thời điểm 1989, ở hải ngoại, các khuynh hướng bảo thủ vẫn còn nhiều, và luôn tạo những lực đối kháng mạnh đối với thành phần cấp tiến. Thế nhưng, không đầy một năm sau, tạp chí Hợp Lưu (TCHL) ra đời. Chủ biên là nhà văn/họa sĩ Khánh Trường, với sự cộng tác tích cực của nhiều nhà văn, trí thức nổi tiếng như Trần Vũ, Phan Tấn Hải, Phạm Việt Cường, Thụy Khuê, Đặng Tiến, Võ Đình, v.v...
TCHL phát hành mỗi hai tháng một số. Bài vở được lựa chọn dựa trên giá trị văn học nghệ thuật, không phụ thuộc vào địa chỉ cư trú của tác giả trong quá khứ cũng như hiện tại. TCHL đã trải qua rất nhiều khó khăn, do thiếu hụt tài chánh, nhân sự cùng phương tiện, nhưng hình thức và nội dung của HL vẫn luôn luôn được chăm sóc tối đa. Nhìn trọn 72 số báo của 12 năm qua, rất khó ai biết được số nào đã thành hình vào những lúc khủng hoảng nhất của tạp chí. TCHL đã chịu nhiều áp lực chính trị và dư luận từ nhiều thành phần khác nhau trong cộng đồng, về nội dung hay chủ trương được gọi là giao lưu văn hóa” của tạp chí này. Những áp lực đó không nhỏ. Tuy nhiên, HL vẫn biểu lộ được tinh thần đa nguyên của một sinh hoạt văn học có khuynh hướng tiếp thu những ý thức khác nhau về nghệ thuật, và, đã tập trung được nhiều nhất về bài vở của những tác giả được đánh giá cao của văn học VN hiện đại, kể cả trong lẫn ngoài nước.
Những thành tựu của TCHL kể trên, thật ra chỉ là thành tựu của những người yêu văn học nghệ thuật, muốn làm văn học nghệ thuật bằng sự đam mê, bằng tinh thần sáng tạo, nhưng đồng thời cũng bằng những suy nghĩ rất bình thường của con người, cho đời sống cá nhân, và đời sống cộng đồng. Yêu văn học nghệ thuật thì cố làm cho được những tác phẩm tốt, làm cho tới nơi, làm một cách bền bỉ. Yêu tác phẩm của mình thì cũng phải biết tôn trọng tác phẩm của người khác. Muốn dành cho mình cái tự do được suy nghĩ theo cách của mình, được làm văn học theo cách của mình, thì cũng phải biết tôn trọng tự do của người khác, được suy nghĩ theo cách của họ, và làm văn học nghệ thuật theo cách của họ. HL chỉ có nghĩa là hợp lại một cách bình đẳng những giá trị khác nhau và để người đọc, người thưởng ngoạn phê phán hay chọn lựa từng công trình riêng lẻ. Và, văn hóa thì phải giao lưu. Không có thứ “văn hóa ao tù”.
Sự thành tựu của HL 12 năm qua chỉ là sự thành tựu của những suy nghĩ bình thường, của rất nhiều người yêu thương văn học nghệ thuật một cách bình thường. Nhưng sự thành tựu đó chắc chắn sẽ không có được như chúng ta đã chứng kiến, nếu nó thiếu vắng một người. Tôi muốn nói đến người chủ biên của tạp chí suốt 12 năm qua. Anh là một chủ biên tuyệt vời, một họa sĩ nhiều năng lực, một nhà văn có tài. Làm bất cứ công việc gì anh cũng hết lòng với công việc đó. Hết lòng với tạp chí của anh, hết lòng với hội họa, hết lòng với bạn bè. Rất nhiều cái để khen ngợi anh, cả cái hết lòng của anh với những chuyện không liên quan gì đến công việc anh đang làm... Người ta đã nghe nói rất nhiều về một Khánh Trường (KT) viết, vẽ, làm báo, người ta cũng đã nghe nói không ít về một KT giang hồ, bạt mạng trong ăn nhậu, trong giao du, trong những quan hệ...  - nói theo ngôn ngữ của anh - linh tinh... Nhưng ở đây, tôi muốn ngợi khen anh một điều: nhờ nỗ lực của KT suốt 12 năm qua mà chúng ta có được tạp chí Hợp Lưu, một thành tựu và là một trong những niềm kiêu hãnh của văn học Việt Nam Hải Ngoại.
Trên đây là nội dung bài phát biểu của tôi cách đây 20 năm. TCHL, sau KT đến một vài chủ biên khác mà lâu dài nhất là Trần Vũ, và sau cùng là Đặng Hiền đã không còn nữa. Không còn nữa như một tạp chí giấy với những thành tựu đã kể trên. Trong nước, đến nay cũng chẳng có một tạp chí giấy nào với tinh thần “hợp lưu” và với sự tham dự nồng nhiệt của giới văn học nghệ thuật, như TCHL đã từng có. Trong nước, Văn Đoàn Độc Lập có nỗ lực lớn, tạo tinh thần đó, nhưng vẫn còn bị giới hạn vào sự đóng góp chưa hoàn toàn tích cực của đông đảo giới cầm bút trong nước. Tôi chưa có được câu trả lời hoàn toàn thỏa đáng cho thắc mắc của mình đã nêu ra trước đây, là “tại sao trong nước không có một tạp chí như Hợp Lưu?”.
Hai mươi năm của thời đại này nhiều biến đổi lắm.  Biến đổi nhanh đến chóng mặt. Chuyện “giao lưu văn hóa” không còn là vấn đề nhạy cảm như trước. Nhưng, cũng có những biến đổi ngược chiều. Vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, vào những năm đầu của tỵ nạn có ba nhà sách bán sách báo tiếng Việt. Ngày nay, không còn nhà sách nào. California là tiểu bang có đông người tỵ nạn nhất, hình như chỉ còn một. Trong giới cầm bút hải ngoại, có câu nói đùa “ngày nay chỉ có nhà văn đọc sách lẫn nhau”. Câu nói đùa nhưng chắc không xa sự thật bao nhiêu.
Lâu nay, tôi biết Khánh Trường thường xuyên ra vào bệnh viện. Sau này, thỉnh thoảng ghé vào FaceBook của anh, cũng luôn nghe kể chuyện ngồi xe lăn ra vào bệnh viện. Tuy nhiên, cũng biết, trong điều kiện sức khỏe có như thế nào, anh vẫn tiếp tục vẽ, viết và nói năng rất thẳng tính. Sự thẳng tính này cùng với những đam mê cuồng nhiệt của anh khiến tôi luôn hoài niệm về một thời rất đẹp của TCHL. Đó là một diễn đàn cho những tranh cãi nhiệt tình và thẳng thắn về các vấn đề gay go nhất của văn hóa, văn học nghệ thuật VN. Những tranh cãi sôi nổi này đã tạo nên những nét sinh động cần thiết cho một nền văn học đang vươn tới những giá trị cao, trong một hoàn cảnh đặc biệt của một cộng đồng có khá nhiều va chạm phức tạp.
Sinh hoạt Văn học Việt Nam hiện nay rất cần những nỗ lực như của Khánh Trường hơn 30 năm trước.
 
Trương Vũ
Virginia, tháng 9.2022
 
 
  

Sunday, November 6, 2022

VÁ SƯƠNG TỪNG MỤN NHỌT

Hoàng Xuân Sơn
 
Hình. Tác giả gởi
 
Rạn vỡ với hình hài đau
Không
Nhật nguyệt
Đã nhàu phương lên
Rớt xuống. rớt sao
Xuống thềm
Màu rêu đã mục
Màu đêm bội tình
Người nằm một cõi điêu linh
Cùng kim loại thoát xác
Hình hài
Như
Trẻ thơ
Buồng sữa chín nhừ
Trái au mặt đỏ
Vườn thư thái mùa
Trễ đường lời mật năm xưa
Ngõ con thin thít
Tuổi vừa lớn khôn
 
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
2.8.2022