Tuesday, November 25, 2014

NHỮNG ĐỐM NẮNG



Đinh Cường


 Những đốm nắng. Sơn dầu Đinh Cường

Mùa này những đốm nắng rất quý
và khi gió im ra cào lá ngoài sân
ngày cuối tuần toàn nghe tiếng máy
thổi lá tung hay cắt cỏ đều đều

một ngày sáng có Thành Tôn gọi
người bạn chân tình hiếm có làm sao
chiều có Phùng Nguyễn gọi mời
trưa mai gặp. lâu cũng nhớ anh em

loanh quanh vậy mà hết năm rồi bạn
và lại đi vào những tháng mùa đông
ôi mùa đông không biết sao mà nói
khi tuyết nhiều khi bão tuyết thổi qua

những đốm nắng nên chi là óng ánh
trên áo trên khăn những thiếu nữ kia
có một nụ hồng từ đâu rơi xuống
giữa trời xanh như mùa thu sắp qua …

Virginia, November 22, 2014
Đinh Cường

THẦY GIÁO VỠ LÒNG CỦA TÔI



viết ngắn Khuất Đẩu



Bình trà Basho. Tranh Casey Shannon

Cho đến giờ tôi cũng chẳng biết thầy tên gì, chỉ nghe trong làng gọi là ông giáo Ba. Ở quê, người ta thường tránh gọi nhau bằng tên thật, chỉ gọi theo thứ hay tên của đứa con đầu.
Sau lễ cúng khai tâm mà tôi được ăn nguyên một cái đầu gà cho sáng óc ra, tôi được cha đặt ngồi trên vai, cõng tới trường. Lúc ấy tôi năm tuổi. Khi ngang qua bụi tre trước nhà, mẹ tôi dặn theo: coi chừng đụng đầu thằng nhỏ.
Mẹ không dẫn tôi đi, vì mẹ đang cho em bé bú và sợ rằng để đàn bà dẫn đi thì cái học của tôi không được tấn tới lắm. Vậy nên không có cảnh “mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Cũng không có cảnh “lá rơi từng chiếc một trên đôi vai những pho tượng trắng” trong vườn Luxembourg.
Nhưng dẫu sao tôi cũng được ngồi trên vai của cha mình để từ trên cao nhìn xuống thấy cái gì cũng lạ. Thấy mình bỗng dưng cao hơn cha một cái đầu. Thấy những đứa bé khác bị người lớn kéo đi lệch bệch, theo sau còn có người cầm roi!
Khi gặp thầy, cha tôi để tôi xuống đất, một tay vẫn đặt trên đầu tôi, một tay vỗ vai thầy, bảo: dạy giùm thằng nhỏ. Thầy nhìn xuống, ngửa cằm tôi ra, nói, trông nó sáng đấy. Rồi thầy bảo anh trưởng tràng, hơn tôi đến mười tuổi, đưa tôi vào ngồi đầu một cái bàn dài như nắp hòm.
Sau này tôi biết, thầy từng là bạn học của cha tôi. Nhà thầy ở cuối làng, ngày hai buổi thầy đi dạy bằng ngựa. Con ngựa của thầy màu trắng, đẹp và mập hơn những con ngựa kéo xe. Nó được tắm rửa và chải chuốt cẩn thận, nên khi thầy ngồi lên với quần tây và áo sơ mi trắng, trông thầy thật phong nhã. Khi đọc Kiều, nhờ vậy mà tôi hiểu được cảnh “lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng” của chàng Kim. Và sau lưng thầy không chỉ “một vài thằng con con” mà cả lớp, chạy theo mỗi khi tan trường.
Mặc dù thầy vẫn thường ngăn cấm nhưng cái thú được chạy sau đuôi ngựa không đứa nào chịu bỏ. Cũng như thích chạy theo sau những chiếc xe ô tô, hiếm hoi lắm mới ngang qua làng, mặc dù chỉ để hít bụi và khói xăng.
Tôi không nhớ rõ thầy đã dạy cho tôi những gì ở năm học đầu tiên. Dường như thầy chỉ phóng vào vở mỗi ngày vài chữ, dạy đọc ê a, rồi tập kẻ hàng trên lá chuối cho quen tay trước khi cầm bút có ngòi lá tre chấm vào hũ mực tím. Đứa nào cũng khổ sở vì cái hũ mực ấy, vì nhét bằng cùi bắp nên mực đổ ra nhòe nhoẹt cả trên áo, trên vở.
Chẳng đứa nào mà không ít nhất một lần bị thầy cầm thước khẽ tay hay nhéo tai đau điếng. Những lỗi nặng hơn như phá phách, đánh lộn và nhất là trốn học, bị thầy bắt nằm dài trên bàn, phơi mông ra cho thầy quất năm roi. Cũng có khi thầy bắt quì trên xơ mít vì không thuộc bài!
Đó là những hình phạt dành cho những anh lớp tư, những anh mà chỉ vài năm sau đã lớn phồng được cha mẹ dẫn đi hỏi vợ. Đám cưới nào thầy cũng được mời ngồi trịnh trọng ở phản giữa và được cả hai họ nhà trai nhà gái cung kính vái chào.
Cái oai của thầy khiến ông cha bà mẹ nào cũng bảo: “thầy cứ đánh giùm tôi, thằng này nó hư lắm!”, mỗi khi thầy có việc đến nhà. Còn học trò thì khỏi nói, chỉ mới nghe tiếng lục lạc ngựa leng keng của thầy là đã đứng nép bên đường, run rẩy cúi đầu chào. Ngay cả khi lấy vợ sinh con mà thấy thầy từ xa cũng phải đứng vòng tay lại như lúc còn đi học.
Nhà thầy đủ ăn đủ mặc, dạy lấy tiếng chứ không phải để lãnh lương. Cho nên, Tết là dịp để học trò đền ơn thầy. Cũng chẳng có chi nhiều, chỉ gói trà, bịch thuôc, sang thì một tấm lịch. Đi Tết cho thầy, gọi là đi mừng tuổi, đứa nào cũng sợ run, cứ thò thụt ngoài cửa ngõ, phải đợi thầy gọi đôi ba lượt mới dám vào.
Thầy ân cần đem bánh mứt ra mời nhưng chẳng đứa nào dám động đến. Thầy khen đứa này có áo mới, đứa khác có quần đẹp, dặn năm mới phải ngoan ngoãn vâng lời ông bà cha mẹ. Rồi khi nghe thầy nói:” cho thầy gửi lời cảm ơn, thôi các trò đi chơi Tết!”, là chỉ mới ra khỏi ngõ đã ù té chạy.
Chả bù với ngày Nhà Giáo bây giờ. Thầy cô chẳng những đã được lãnh lương, được thưởng mà còn được phụ huynh tặng quà cáp nhiều hơn mức bình thường. Thời bao cấp thì bột ngọt, gạo, đường, sữa. Thời hiện đại hóa thì son phấn vải lụa đắt tiền, điện thoại di động hay iphone cả chục triệu. Vậy nên cuối năm lớp nào cũng đạt học sinh giỏi, gần như trăm phần trăm. Học trò đến nhà thầy không còn khép nép run sợ nữa mà cười nói tự nhiên, có đứa bảo nóng quá sao không mở quạt máy, thầy!
Thầy thì chỉ đậu Pờrime thôi, nhưng em trai thầy năm đó đã là ông Tú một. Khi toàn quốc kháng chiến, trường collège Qui Nhơn bị phá sập, thầy cất trường tại nhà cho ông em dạy học. Ông ấy được dượng tôi, dù đã có vợ sinh con vẫn theo học, gọi là thầy giáo Cảnh. Ông thầy này còn oai hơn thầy tôi vì dạy đến cả những người đậu Pờrime để thi lấy bằng Thành Chung. Ông luôn đeo kính trắng, ngồi chấm bài hay đọc sách bên bàn, trông rất trí thức.
Nhưng chỉ một năm thì trường đóng cửa vì học sinh, nếu không đi bộ đội cũng phải tham gia công tác diệt giặc dốt, tức là đi dạy bình dân học vụ. Thầy cũng nghỉ dạy luôn vì bọn trẻ đều được vào học ở trường cơ bản, từ lớp một cho đến lớp năm. Rồi nghe đâu em thầy bị bệnh lao, thầy phải đưa em ra vùng bị tạm chiếm. Anh em chia tay nhau ở một bến sông nào đó ngoài Hội An, rồi tuyệt tin luôn, chẳng biết còn sống hay đã chết.
Năm tôi học lớp Đồng ấu của thầy, cha tôi bị bệnh thương hàn, mất. Mẹ tôi để em ở nhà, bồng tôi theo sau quan tài, khóc tấm tức. Thầy có đến tiễn đưa, bảo anh ấy mất sớm quá, chị ráng nuôi cháu học.
Từ đó tôi không còn gặp thầy nữa. Tôi cũng không biết thầy làm gì sau khi không dạy học. Chỉ biết, sau khi anh em ông Diệm bị bắn chết thì thầy cũng bị bắn trên bến sông sau nhà. Không phải quân đảo chánh mà là Việt cộng. Bản án nổi dật dờ trên sông ghi là tay sai của Mỹ. Sau 75, người bắn thầy làm trưởng ban quân quản thôn. Chính ông ấy kể ra cái công lớn đó trong lý lịch của mình. Té ra hai người ở sát cạnh nhà nhau, là anh em nhà chú nhà bác, cùng một ông nội và bà nội.
Điều ân hận của tôi là không biết mộ thầy ở đâu để thắp cho thầy một nén nhang. Thôi thì con viết những dòng này, gửi lên cái mạng ảo, biết đâu trong cõi hư vô Thầy đọc được. Nay con bảy mươi lăm tuổi, vẫn nhớ đến Thầy.
Khuất Đẩu
(Nguồn: T.Vấn & Bạn hữu)

Friday, November 21, 2014

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN



mới xin
 

Thiếu nữ. Tranh Ái Lan

naolòngnaolòng                       ôi
nao lòng
người em đẹp gái khiến lòng mình tra lão
cũng thấy xôn xao diệu kỳ
không phải lời tán nhảm từng li ông cụ
trời cho nhan sắc.  cái đẹp
[ không biết tụng ca e thành một lũ ngu phu tùng đảng ]
ôi ta.                          không
cục mịch cuống cuồng
lăng xăng
bên đóa dung vàng nghịch ngợm
năm ngón mềm khỏa nước tung tăng
ối giời.  bày ra chi tên với tuổi
tháng cùng ngày
xin được âm thầm
trái lụng
tàn
nhang

17 nov. 2014


nghe trên đồi

một ngày tôi nghe bạn gõ
leng keng tiếng nhạc trên đồi
hóa ra con đường sắt dại
cụng đầu một lẵng rong chơi

chao ơi tiếng rừng tiếng núi
tiếng xanh sóc mọi vang rền
tiếng của bàn chân rất trắng
trùng trình đổ suối qua khe

in hình nghe tôi được mất
thoắt hiện đó rồi đi đâu
núp xem nơi tàn lá mục
mắt ai.  và nỗi buồn rầu

21 nov. 2014

hoàng xuân sơn


PHÚ XÍCH LÔ



Ban Mai

 Trên phố nghèo

Sự đời như thế phù vân
Can qua cũng chỉ dăm ba tiếng cười (1)

Tôi có một người thầy chủ nhiệm từ năm lớp 9, thời gian đã lâu, nhưng đến nay tôi vẫn thường xuyên đến thăm. Có chuyện gì tôi cũng đến tâm sự và nghe những lời khuyên. Mới đây, thầy gọi, em rảnh đến nhà thầy, thầy có vài bạn già nghe tin về quyển sách của em, muốn gặp. Ngạc nhiên, tôi đến. Thầy giới thiệu, đây là những thầy giáo ngày xưa trước 75, có người là thầy của thầy nữa, lâu ngày họ về miền Trung thăm. Tôi là học trò của thầy, mà họ lại là thầy của thầy mình, vậy họ là bậc kính nhi viễn chi  của tôi. Những giọng cười hào sảng lâu rồi tôi mới nghe, trong tiếng cười làm như còn vang vọng âm hao của một thời kỳ đã mất.

Người muốn gặp tôi là ông già này, tôi kinh ngạc – ba của T – cô bạn học cùng lớp cấp hai. Ba của T gầy như bộ xương khô, gương mặt ngang dọc những nếp nhăn cực khổ. Ông cười không còn răng, tôi nghe nói ông bị đánh trong nhà lao rụng hết. Tôi nhớ một mùa hè cả phố xôn xao khi hay tin ông đi cải tạo về không biết làm gì nên đạp xích lô. Ba của T là sĩ quan biệt phái dạy học ở trường Cường Để. Tôi nhớ một hôm trời bão, ông đạp xích lô chờ trước cổng trường. Tôi được “hưởng lây phúc xích lô” ngồi chung với T vì ở gần nhà. Trường tôi học phải đi qua eo biển hồi ấy gọi là “eo nín thở” vì đường cua ôm gắt và dốc trơn trợt. Eo biển lúc nào cũng lồng lộng gió phần phật, gió đến trĩu cả tàu dừa. Sợ con bay xuống biển, ông đạp xích lô đi đón. Đạp ngang eo biển, mưa xối xả, sóng lớn lớp lớp dập vào thành đá tràn lên đường, chiếc xe chổng càng, hai đứa tôi run cầm cập ngồi trong xe bịt kín, chỉ có ba của T còm cõi đứng trước càng xe hứng sóng và ráng kéo chiếc xích lô qua đoạn đường dốc đó. Tôi nhớ mãi tiếng sóng động và tiếng gió gào thét của đại dương, cả tiếng T khấn vái cho ba đừng bị cuốn trôi và tiếng kẽo kẹt của bánh xe ba T cố trụ mỗi khi sóng đánh tung lên bờ. Tôi nhớ ngày T khóc sưng mắt vì cha đạp xích lô ế khách, ngồi buồn ông làm thơ, bị cho là “phản động” cấu kết tuyên truyền cùng với nhóm bạn đạp xích lô như ông. Năm đó, cả thành phố rúng động vì khung án cao nhất dành cho người bị ghép tội là án chung thân. Chung thân ở vào lứa tuổi của họ là án chết, án tử đại hình vì còn gì nữa ngoài xà lim tăm tối, đã hết ánh mặt trời của cuộc đời.

Những phu xích lô giỏi Pháp văn, Anh văn, Quốc văn, Toán, Vật lý, Triết Tây đi cải tạo về thích làm thơ nên người dân thành phố lúc đó gọi vui là nhóm “Nhân văn giai phẩm Bình Định”. Một trong những bài “Phú xích lô” khiến ba của T bị đi tù là như vầy:

Góc chợ đầu đường – Bến xe hè phố
Chẳng qua là gạo là tiền – Nào bởi tại căn tại số
……………….…..
Xem ngài:
Con người thanh lịch hào hoa – Tư chất thông minh tài bộ
Đã nhiều năm quan cách xênh xang – Cũng lắm lúc tù đày khốn khổ
Nghiệp xích lô dù rõ nét cu li – Cốt tiên tử vẫn còn nguyên phong độ.
Cà phê thuốc lá mỗi ngày hai c giao duyên – Bằng hữu thi ca đôi tháng một lần hội ngộ.
Sớm nghêu ngao thấm giọng nhân tình – Khuya tỉnh tọa nhắp mùi thế cố.
Bốn giờ sáng ì è ì ạch kiếm mối mở hàng – Năm giờ chiều dạo quẩn dạo quanh đưa người l bộ.
Cuốc xe đêm trúng mánh vẫn xuề xòa – Con khách kẹo trật trìa không phẫn nộ.
Định mức hai mươi đủ dù cho mỏi gối chồn chân – Niên canh bốn mươi ngoài mặc kệ trầy khu rách khố.
Bánh xe lăn rổn rẻn xu hào – Cơn gió ngược lắc lư mông cổ.
………………… (…)….

Sá gì bọn đưa hơi đón gió một giọng hồ đồ - Bận chi thằng theo đóm ăn tàn mười phần béo bổ.
Bến khu hai khu một ấy mới cơ duyên – Trời tháng chín tháng mười thường hay bão tố.
Chị rỗi chợ xa khó tính, thích đạp nhanh hơn lá phủ cánh gà – Con buôn xe tải ngon xơi, ưa đậy kín lẫn đường quanh ngõ trổ.
Bực mình chú “bao căn” sinh sự bòn mót từng hào – Khốn kiếp tên điểm chỉ tham lam rình ôm nguyên vố.
Đồng tiền ướt đẵm giọt mồ hôi – Hạt gạo khô cằn hòn tủy đỏ.
Chân đạp đều lúc nhặt lúc khoan – Mắt quần đảo nơi này nơi nọ.
Cùng bạn cũ thường tựa lưng hè phố, luận việc đời câu “Tiết trực tâm hư” – Với đàn em hay gác cng thùng xe, bày lẽ sống chuyện “Tri tân ôn cố”.
Chợ Hoài âm Hàn Tín luồn trôn – Bờ Vị Thủy Tử Nha xách giỏ.
Ấn công hầu đâu chỉ để riêng ai – Cung vận mệnh vẫn còn chưa giũ sổ.
Cho hay: Bước đường cùng cũng có lúc nên danh –
Đừng thấy: đạp xích lô mà tưởng đồ bỏ xó.(2)

Ngày xưa Nguyễn Công Trứ cũng từng thao thức chí làm trai của người thất thế:

Ðã chắc rằng ai nhục, ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.(3)


Còn kẻ sĩ ngày nay?
Tôi không biết kẻ sĩ ngày nay nghĩ gì nhưng tôi thương những kẻ sĩ miền Nam thất thế, sau thời hậu chiến phải chịu bao điều cay đắng. Có những người tài giỏi nhưng không được lưu dụng, thất nghiệp họ ra đường bán sách cũ, đi xe thồ, đạp xích lô, bán bong bóng, về quê cày ruộng. Những người trí thức càng hiền lành thì càng thảm thương. Tôi yêu những người lính  dầm sương dãi nắng giữ an ninh làng mạc, giữ cuộc sống an bình cho chúng tôi đi học, cho cha mẹ tôi đi làm. Họ trả giá thay cho những người bây giờ sung sướng. Thời thế thay đổi, họ lây lất sống mà không ai đoái hoài rồi họ chết đi không một nghĩa trang liệt sĩ, không bia tưởng niệm. May mắn sang được Hoa Kỳ thì họ cũng cực nhọc trăm bề vì tuổi trẻ họ đã cống hiến hết cho miền Nam. Ngày xưa, khi còn trẻ chắc họ không nghĩ gì xa vời mà giản dị khi dân lành nguy biến thì họ phải bảo vệ, phải lấy sức mình ra che chắn như ba của T đã lấy tấm thân còm cõi của ông che chắn phong ba bão táp trên đoạn đường eo nhô ra biển để con gái đừng ướt mưa gió, đừng bị sóng cuốn xuống biển sâu, để T và tôi có thể lớn lên tìm hạnh phúc của mình. Họ đâu ngờ mình chỉ là con tốt trên bàn cờ chiến tranh của các nước lớn.

Ba T không chết, ông mang bộ xương còm trở về gặp tôi để trông thấy chút hình ảnh của con gái, nhưng nhiều người đã ở lại trong xà lim vĩnh viễn hay ở lại trong những bãi chôn sau trại cải tạo vĩnh viễn. Còn được phóng thích thì họ còn gì ngoài thân phận xích lô. Thân phận của những người lính bại trận là thứ thân phận còn sức, còn đạp, còn thồ. Đến khi hết sức là hết đạp, hết thồ và đành biến mất như xích lô đang dần biến mất trên đất nước tôi.

Cảm thông những người lính miền Nam là điều tôi muốn viết sau thời hậu chiến, người lính bên này hay người lính bên kia, với tôi họ là NGƯỜI VIỆT NAM.

10/2014
BM

(Tác gỉa chính sửa lại từ bài Tạp bút của tro tàn tháng 10/2010 nhân cái chết của Cao Xuân Huy)

----------
(1) Hai câu thơ này  Nguyễn Công Trứ lấy ý từ bài thơ Đại giang Tây khứ của Tô Thức đời Tống (Tô Thức còn gọi là Tô Đông Pha)

(2) Phú xích lô của TôTrần G.
Những đoạn để trống…….…..(…) …người viết không còn nhớ.

(3) Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ.