Thursday, May 10, 2012


                                      Thơ Trần Phù Thế
  



Nhà thơ Trần Phù Thế sinh năm 1943 tại Hậu Thạnh (Sóc Trăng). Hiện định cư ở Hoa Kỳ.
Đã xuất bản:
"Giỡn Bóng Chiêm Bao".Thơ Tác giả XB 2003. Hoa Kỳ.
(Thư Ấn Quán tái bản 2006)
" Gọi Khan Giọng Tình". Thơ. Tác giả XB. Tháng 4/2009.Hoa Kỳ.
( Thư Ấn Quán tái bản mùa Hạ 2009)

Thời nhỏ, tuổi đi học, Trần Phù Thế sống ở Đại Ngãi – Sóc Trăng. Làm thơ từ thời đó, ký Mặc Huyền Thương. Về bút hiệu này, Trần Phù Thế thổ lộ với nhà văn Lương Thư Trung như sau: “Với tôi, Mặc là im lặng không nói (hay không dám nói). Chuyện này nói ra thiệt là mắc cỡ quá chừng. Lúc mà ta mười lăm đã lòng say bậu rồi. Tôi khoái một cô bé tên Thương Huyền. Gia đình cô bé rất giàu có, nên cô ấy vô cùng kiêu ngạo. Hơn nữa ba cô bé mặt lạnh như tiền. Tôi đành nhốt hình bóng kiều diễm của bé vào trái tim. Tôi bắt đầu làm thơ. Nghĩ tới nghĩ lui cả tháng không tìm được bút hiệu nào vừa ý. Trực nhớ tới Thương Huyền. Tôi đi tới đi lui trong phòng. Miệng lẩm bẩm đọc tên nàng ngược xuôi, xuôi ngược như lên đồng. Thương Huyền… Huyền Thương… Thương Huyền… Cuối cùng tôi quyết định chọn tên Huyền Thương để tránh nàng hiểu lầm là tôi mê nàng. Tôi đọc lần nữa thấy chỉ cần thông minh một chút là khám phá ra ý đồ của tên cà chớn liền. Tôi lại đi tìm cuốn từ điển tiếng Việt, coi đồng nghĩa với im lặng là gì. Bắt gặp chữ “Mặc”. Tôi mừng như bắt được vàng. Tôi đọc to lên Mặc Huyền Thương… Mặc Huyền Thương nghe cũng êm tai ra phết.”
Với bút hiệu Mặc Huyền Thương, Trần Phù Thế làm nhiều thơ tình cho nàng. Một chuyện kỳ diệu xảy ra: Năm 2004, Võ Đức Trung của nhóm Văn Hóa Pháp Việt tại Paris, mời TPT góp mặt trong một tuyển tập thơ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt Nam Hải Ngoại 3. Sách phát hành thì một tháng sau, TPT nhận được một phong thư gởi từ nước Đức với tên Thương Huyền trên góc trái bì thư. Dễ chừng hơn bốn mươi năm không gặp, bây giờ bộng nhận được thư người xưa, TPT vội vàng mở ra đọc với niềm xúc động. TPT kể: “Thì ra con sáo nhỏ của tôi ngày xưa (dù nàng chưa biết tôi mê nàng), bây giờ đã con đàn cháu đống. Gia đình nàng vượt biên năm 1980 và hiện định cư tại Đức. Nàng cho biết ngày xưa có biết tôi làm thơ và đã từng thích thơ Mặc Huyền Thương nhưng không biết là bút hiệu của tôi. Trời ạ, trời hại tôi rồi. Nếu lúc đó tôi học thuộc hai chữ “can đảm”, bây giờ có thể nàng là bà Nội, bà Ngoại của đàn cháu tôi rồi.” Và nàng cho biết khi đọc bài thơ Tuổi Thơ Đại Ngãi đăng trong tuyển tập, nàng đã bần thần suốt ngày nên dò hỏi địa chỉ để viết thư cho tác giả TPT. Sau đó, TPT ngồi xuống viết bài “Bậu Về”, rồi tiếp theo là bài “Tình bậu nhẹ hều” để trách nhẹ nàng. Ngoài ra, trong sự nghiệp văn thơ của mình, TPT còn có bài khóc vợ tựa đề là “Bậu đi” được nhà thơ Hạ Đình Thao và Lê Văn Trung cho rằng “không có bài thơ khóc vợ nào tự cổ chí kim mà hay hơn được”.
(theo “14 Tác Giả Mỗi Người Mỗi Vẻ” của Lương Thư Trung - Trẻ xuất bản 2012)



                                           Thiếu nữ. Nguyễn Trung

BẬU VỀ

bậu về mắt liếc đong đưa
gió xuân đầy mặt như vừa chín cây
bậu về má đỏ hây hây
ta mười lăm đã lòng say bậu rồi

bậu còn chơi ác nói cười
những câu dí dỏm chết đời ta chưa
bậu về nhớ nắng thương mưa
hình như cây cỏ cũng ưa bậu về

như là có chút nắng hè
như là có cả chùm me chua lừng
như là xoài tượng thơm dòn
bỏ vào nước mắm chút đường khó quên

bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bỏ quên là tại bậu mà
tại sao lại bắt đền ta một đời
tội nầy không chịu bậu ơi!


TÌNH BẬU NHẸ HỀU

rất nhẹ nhàng
hình như không lay động
bậu nhẹ về
như hơi thở dòng sông
ta ngây ngất
thèm đôi môi đỏ mộng
bởi mê tình nên nuôi mãi tình không

bậu biết đó
tình nào không mê mệt
những thiết tha
cùng nhịp đập con tim
nên một bữa
dạt dào tình dậy sóng
khi tóc thơm phảng phất một mùi quen

như bữa đó
bậu về trong cơn gió
gió thênh thang
bay khắp nẻo vô chừng
bậu lại nữa
lượn lờ không biết mỏi
chỉ riêng ta khan tiếng gọi người dưng

mong đêm nay
bậu về trong giấc ngủ
trong mùi thơm
 hoa sứ trước hiên nhà
con bướm nhỏ
quạt hoài chùm hoa sứ
cũng như ta đuổi mệt tình càng xa

ta rất nhẹ
nâng niu tình hai đứa
cất trong tim
không dám chạm vào tim
ta chỉ sợ
một giây hay phút nữa
tình biệt luôn trốn mất biết đâu tìm

bậu coi nhẹ, nhẹ hều tình hai đứa
ta nặng tình, dẫu chết chẳng hề quên


BẬU ĐI

bậu đi biệt dạng hôm nào
ta trông mút mắt nhớ đau từng hồi
nhớ từ giọng nói tiếng cười
nhớ se tóc bạc cột đời hai ta

bậu đi hình như hôm qua
mà sao cứ tưởng như là nhiều năm
bậu đi lạnh gối ta nằm
hình như cái lạnh, lạnh ngầm trong xương

bước qua ngưỡng cửa âm dương
bậu đi mình bậu chẳng vương vấn gì
còn ta ở lại sống lì
một thân, một bóng, cu ky một mình

bậu ơi, sao bậu làm thinh
nén nhang, cơm lạt bóng hình là đây
phất phơ hồn gió theo mây
mỗi đêm giỡn bóng trăng gầy tàn đêm

bậu về ta thấy lòng êm
như trăng thuở nọ bên thềm thanh xuân
như là tiếng hát bậu ngân
xuống câu vọng cổ tình quân phụ phàng

bậu về trăng sáng ngút làng
hương thơm phảng phất bàng hoàng hồn ta
ngất ngây ôm bóng trăng, và
tưởng đâu ôm bậu thịt da vẫn nồng

bậu đi hồn có về không
nhắn tin theo gió cho lòng ta yên
dầu cho bậu ở cõi trên
hay đang cõi dưới trong miền u minh

ngày mai ta quyết dọn mình
quyết theo chân bậu lênh đênh cõi nào
dầu cho đất thấp trời cao
tử sinh là mới bắt đầu cuộc chơi

ngày mai bậu trở lại đời
và ta trở lại làm người bậu ưng
giọt mừng nước mắt rưng rưng
hai tay ôm bậu mà rung dậy tình

TPT


Bài học từ vị nữ tu

Cao Hành Kin
Bản dịch Trà Nguyễn 




   Anh muốn kể cho nàng nghe chuyện ngụ ngôn bút-ký đời nhà Tấn. Chuyện nói về một vị đại tư mã uy quyền hách dịch và một ni-cô ăn mày đến dinh ông ta xin bố thí. Theo nghi lệ, người gác vào báo với quản gia; ông này ra lịnh cho vị ni-cô một chuỗi tiền; nhưng cô không nhận và nói muốn gặp người cho của. Người quản-gia báo lại ông tổng-quản, ông này ra lịnh cho kẻ hầu lấy một nén bạc cho vị sư-cô và đuổi đi bảo đừng bao giờ trở lại nhưng sư-cô cũng từ chối không nhận và nằng nặc đòi gặp quan tư mã, nói rằng ông ta đang gặp trở ngại và cô đến để giúp đỡ đặc-biệt cho ông. Vị tổng-quản hết đường chọn lựa đành phải trình lên thượng quan và được lịnh đưa ni-cô vào tiền sảnh.
   Vị đại tư mã nhìn thấy mặc dù áo quần bụi bặm dơ dáy, người nữ tu có phong-thái tao nhã không giống như phường đê-tiện đội lốt tôn-giáo giả hiệu đến để gạt gẫm. Ông hỏi lý do tại sao cô đến. Cô chấp tay chào rồi thối lui đáp:
   “Nghe tiếng đồn ông giàu lòng nhân-từ nên tôi đến từ xa, đặc-biệt để làm lễ thất tuần cho bà cụ vừa mới mất, đồng thời cầu-nguyện trời phật giúp ông may mắn”.
   Nghe nói vậy, quan tư mã sai tổng quản dọn một phòng trong nội-điện và bảo người làm chuẩn-bị một bàn hương án trong đại sảnh. Những ngày nối tiếp sau đó, trong nhà có tiếng đập gỗ liên hồi từ sáng đến tối. Vị đại quan cảm thấy thơ thới.
    
   Ngày qua ngày, lòng nể trọng của ông đối với ni-cô càng gia tăng. Tuy nhiên, truớc khi thay nhang vào mỗi buổi trưa, ni-cô nhấn mạnh cần phải tắm gội trong hai giờ đồng hồ cho người được thanh-khiết. Ông bắt đầu suy nghĩ: các cô vãi thường đầu trọc, cũng là những người đàn bà bình thường, tại sao phải tốn thì giờ chăm sóc tóc tai, trang-điểm mặt mày. Sự tắm rửa cốt để tẩy sạch cái tâm trước khi thay nhang, tại sao lại mất thời-gian quá lâu? Vả lại, khi cô tắm ông nghe tiếng vốc nước, phải chăng cô quậy nước đùa nghịch mà chẳng tắm rửa gì cả?
   Mối nghi hoặc lớn mạnh trong đầu ông ta.    
   Qua ngày hôm sau, trong lúc đi dạo trong sân ông nghe tiếng đập gỗ bỗng dưng dừng lại, thay thế bằng tiếng nước đổ. Ông biết ni-cô sẽ thay nhang sớm nên đi vào phòng chờ đợi. Tiếng vốc nước mỗi lúc một to hơn, kéo dài một lúc lâu và không dừng lại. Sự nghi ngờ đã vượt quá mức khiến ông bước xuống cầu thang và đi ngang qua cửa phòng cô vãi xem thật hư thế nào. Cánh cửa khép hờ có một chỗ nứt. Ôâng rón rén đến đặt mắt nhìn vào trong, thấy ni-cô ngồi quay mặt ra cửa, cởi hết quần áo, ngồi trần truồng, chân xếp bằng trong bể nước và đang dùng hai bàn tay vốc từng bụm nước đổ trên người. Mặt cô hoàn toàn biến đổi. Sắc diện cô rực sáng hơn mọi ngày với hàm răng trắng đều đặn, mà hồng, chiếc cổ như bạch ngọc, vai mịn màng và hai cánh tay tròn lẳn.     
   Thật là một sắc đẹp tuyệt vời! Ông vội vã trở về phòng với ý định họa lại chân dung người sư nữ. Nhưng ông nghe tiếng dội nước trong phòng cô vẫn tiếp tục. Tiếng nước lôi cuốn ông phải đến nhìn lại lần nữa. Ông trở lại hành lang, bò nhẹ đến cánh cửa nín thở dán mắt trên kẽ nứt nhìn vào. Những ngón tay thon dài của cô đang xoa nhẹ trên ngực trắng như tuyết và mỗi bên được điểm hồng với một nụ hoa đào. Vùng da thịt đó vun cao lên và một đường sống hấp dẫn chạy từ rốn cô đổ xuống. Quan tư mã quỵ xuống gối, lặng người. Ngay sau đó ông thấy ni-cô cầm một chiếc kéo đâm thật mạnh vào lổ rốn làm cho một tia máu đỏ bắn ra. Ông hết sức kinh-hoàng nhưng không dám hành động vội vã và nhắm mắt lại không dám nhìn tiếp. Một lúc sau, tiếng nước dội lại bắt đầu; ông tập-trung tinh-thần vào cặp mắt thì thấy đầu cô đẫm đầy máu, đôi tay cô cử-động nhanh nhẹn kéo ruột mình ra đặt trong bể nước. Xuất-thân con nhà tướng từng kinh-nghiệm chiến-trận, đâu dễ dàng gì quan tư mã ngất xỉu. Ông lấy bình tĩnh nhìn thật kỹ. Vào lúc này mặt nữ tu có những dòng máu chảy xuống, mắt cô sụp và hai hàng lông mi khép lại với nhau. Cặp môi trắng bệch run nhẹ như thể cô đang rên rỉ; nhưng khi lắng tai, ông chỉ nghe tiếng nước lách tách.    
   Cô kéo từng khúc ruột non mềm nhũn ra trong tay đầy máu ra rửa sạch, gỡ cho bớt rối rồi quấn chiều dài đoạn ruột trên cổ tay. Cô phải mất một thời-gian khá lâu để làm việc này và sau khi rửa ruột sạch sẽ, cô nhét lại ngăn nắp trong bụng. Sau đó cô dùng một chiếc vá múc nước rửa tay, rửa ngực, đầu cổ, bụng dưới, phần kín giữa chân, hai chân, bàn chân và rửa cả từng ngón chân. Công việc tắm rửa xong xuôi, cô trở lại một người toàn-diện. Đại tư mã rời gót, trở về đại sảnh đứng cạnh bàn thờ đợi cô. Một lúc sau, cánh cửa mở ra và ni-cô xuất hiện với tràng hạt bồ đề trên tay. Cô khép nép trong chiếc áo nữ tu tiến đến bàn thờ đúng vào lúc cây nhang trong lư hương vừa cháy tàn làm rớt tro xuống. Một lọn khói đen bốc lên rồi biến mất, cô bình tĩnh thay cây nhang mới.
    Vị đại quan như vừa ra khỏi cơn mê, hãy còn bị kích-động nên bắt buộc phải hỏi cô cho rõ lẽ. Cô không cử động, bình-thản trả lời: “Nếu tướng quân có ý nghĩ tiếm-đoạt triều đình thì tình-trạng sẽ như thế đó!” Nghe điều này vị thượng quan đầy tham-vọng đã sắp đặt kế-hoạch lật đổ ngôi vua không giữ được lòng bất mãn. Nhưng ông biết suy nghĩ  nên không dám hành-động sai lầm rồi vẫn giữ tư-cách của một vị quan trung-thành như cũ.
    
   Câu chuyện nầy là một lời cảnh cáo chính trị. Nếu đoạn cuối  được thay đổi, nó sẽ trở thành một chuyện ngụ ngôn đạo-đức chống lại sự si mê sắc dục. Câu chuyện cũng có thể trở thành một bài học tôn giáo để khuyến khích người đời trở về với Phật giáo.
   Câu chuyện cũng có thể được dùng như một triết-thuyết áp-dụng trong xã-hội để uốn nắn đạo-đức của những người quyền-hành cao-cấp và dạy họ rằng mỗi ngày họ nên xét lại phẩm-hạnh cá-nhân. Nó cũng dạy cho người đời hiểu rằng sống là đau khổ và chỉ cho họ biết sự đau khổ đó do tự họ tạo ra. Câu chuyện cũng có thể được khai-triển thành nhiều lý-thuyết tế-nhị, tùy theo người kể chuyện giải-thích nó.
    Người đề xướng câu chuyện về ngài đại tư mã cũng có họ, có tên nên các tài-liệu tham-khảo, sách cổ và các công trình nghiên-cứu lịch-sử mới được thực hiện ghi chép lại. Nhưng anh không phải là sử gia, không có tham vọng chính-trị, không ao ước trở thành chuyên-viên triết-lý phật-giáo, không đi giảng đạo cũng chẳng muốn trở thành một khuôn-mẫu toàn-thiện.
   Điều làm anh thán-phục là tính-chất thuần-khiết cao-siêu của câu chuyện. Mọi cách giải-thích đều không quan-trọng, anh chỉ muốn người ta kể đi kể lại câu chuyện đó bằng ngôn-ngữ của loài người.
 T.N.
 5/2001
   *Tựa do người dịch đặt
   *Trích chương 49 trong tác phẩm Linh Sơn gồm 81 chương của Cao Hành Kiện, Nobel văn chương 2000.

thơ đỗ trung quân       
không tin cứ hỏi sương mù & con sóc nhỏ




nói thật nhé
ai hỏi tôi nước Mỹ chỗ nào thú vị nhất?
tôi chọn cái garage không để xe
[chiếc xe màu vàng thì để ngoài đường]
chỗ ấy ngoài sách còn chứa tàn thuốc của một người đã bỏ thuốc
chiếc tẩu cũ đã đốt hết tuổi trẻ
để lại một ông già có giọng nói rất quyến rũ
thứ mà thời gian không lấy đi được
tôi chọn cái garage bên những gáy sách
là vỏ chai rượu của một người đã bỏ rượu từ lâu
tàn thuốc,vỏ chai của một gã từ nơi khác đến, chưa quen văn minh
nó thoải mái vứt linh tinh
nói thật nhé
tôi chả yêu gì nước Mỹ
nó cũng chưa chắc yêu tôi
nhưng nó đáng yêu ở chỗ: cho tôi một chỗ ngồi
nghe sương mù thở nhẹ ngoài đường
nghe con sóc vụt qua
với hạt sồi rụng xuống và một bóng dáng nhìn theo im lặng
của ẩn giả cô đơn
cười trong vài độ Richter động đất nhẹ
San Jose.
tôi về
tự bình chọn cái garage nho nhỏ ấy hơn cái cầu màu đỏ cam trên vịnh San Fran...
kệ cha tôi!
nếu ở Việt Nam tôi chả có quyền gì
thì ở đây
tôi toàn quyền bình chọn
chả thằng police nào cấm tôi điều ấy
không tin hãy hỏi con sóc vừa vụt qua
trong gió lạnh hình như nó vừa nói
hê! cha nội kia!
đúng vậy!

ĐTQ
(Nguồn: Tiền Vệ)