Saturday, July 8, 2023

KÝ ỨC CỦA LOÀI BÒ SÁT. PHÂN ĐOẠN 8-9

Trịnh Y Thư
 
Bản vẽ của Duy Thanh.
 
8.
Chiến trận ngày mỗi lan rộng, mức độ tàn phá cũng gia tăng khủng khiếp. Mỗi lần quân Pháp vào làng càn quét, dân chúng lại bồng bế nhau tản cư, chỉ còn dân quân tự vệ ở lại bảo vệ nhưng cũng yếu ớt lắm. Khi quân Pháp rút, để lại hàng chục xác chết, dân lại trở về chôn cất người chết, dựng lại gian nhà tranh bị thiêu rụi rồi tiếp tục cày cuốc kiếm sống. Cuộc sống đã nghèo khổ nay càng nghèo khổ hơn.
 
    Nhiều lúc tôi cảm thấy mình may mắn vì vẫn được yên ổn ăn học. Mùa hè năm đó, đáng lẽ tôi phải về Yên Bái gặp gia đình đang tạm cư tại ấp bác Phán Đương vì thư của mẹ tôi tới tấp giục tôi về. Nhưng thay vì đi lên mạn ngược, tôi theo anh Mẫn và Toại xuôi nam về Liên khu Ba. Anh Mẫn về thăm nhà, tôi và Toại ham vui đi theo thôi vì nghe nói ở Chợ Đại, Cống Thần vui lắm chứ không như Phú Thọ buồn như chấu cắn này.
 
    Có ba anh em làm bạn đồng hành nên chuyến đi rất vui, mặc dù cực nhọc vì chúng tôi phần nhiều đi bộ chứ làm gì có xe cộ. Đường nhựa ô-tô chạy đều bị phá hủy, xẻ ngang xắt khúc để cản đường tiến của quân Pháp. Tàu hỏa cũng không chạy vì đường rầy bị tháo tung cả. Ngoại trừ một lần, lúc đến bến sông Hưng Hóa, chúng tôi được một người chủ thuyền tốt bụng cho quá giang, không lấy tiền, từ đó xuống Sơn Tây, vì ông ta đang có mối chở hàng xuống miền xuôi. Thuyền đi ban đêm, sợ ban ngày máy bay Pháp bắn phá. Ông chủ thuyền bảo cách đây mấy hôm máy bay Pháp bắn chìm một chiếc thuyền trên chở toàn người tản cư gần Việt Trì.
 
    Lần đầu tiên tôi được đi thuyền xuôi dòng sông mà lại đi vào ban đêm. Quả chẳng có cái thú nào bằng. Đêm trong vắt, bầu trời đầy sao lấp lánh, không một tiếng động nào ngoài tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền oàm oạp nghe như một điệu hát ru em. Thuyền trôi êm. Ban ngày đi mệt, nên tôi ngủ say sưa, chẳng biết trời trăng mây nước gì nữa. Sáng sớm, trời còn ửng hồng, chúng tôi đã thức giấc, vốc nước sông lên súc miệng rửa mặt, ăn vội củ khoai lang nguội lạnh của ông chủ thuyền rồi khoác ba-lô lên vai tiếp tục đi về hướng đông nam. Trước khi đi, anh Mẫn giúi ít tiền vào tay ông chủ thuyền, nhưng ông nhất định không chịu nhận. Lại đi ven những bờ ruộng, hay dọc theo đường tàu hỏa chỉ còn lại vết tích đường rầy năm xưa. Xóm làng hiu quạnh lắm. Vết xích xe tăng còn in hằn trên bờ đê, những ngôi đình bị bom cháy rụi đổ nát, những thân cây lỗ chỗ vết đạn. Cả một dải đất dài ngút mắt tới tận chân trời không hề có dấu vết của cuộc sống. Sự hoang vu như phả lên mặt mũi ba anh em lúc chúng tôi xắn quần, tháo xăng-đan, lội qua một con sông nhỏ cạn nước. Cái nóng nung người rung rinh trời đất của mùa hè càng làm cho cảnh vật xung quanh mất hết mọi sinh khí, thêm thảm thiết. Anh Mẫn có vẻ bồn chồn lo lắng nên rảo bước. Tôi và Toại cũng cắm cúi bước nhanh theo anh.
 
    Đến Bài Trượng, anh Mẫn bảo hai chúng tôi theo anh vào làng cho anh hỏi thăm người quen. Đến nhà thấy cửa ngõ trước sau đều đóng kín, có lẽ người nhà đã tản cư hết rồi. Anh ra vườn sau gặp một anh dân quân tự vệ đang nằm trên võng thiu thiu ngủ. Anh lại gần, nói to như quát:
    “Huân! Dậy! Canh với gác thế này thì Tây nó vào đốt cả bàn thờ ông bà cũng chả biết!”
    Anh dân quân tên Huân vùng dậy, vơ vội khẩu pạc-khoọc đặt ngang trên bụng, mở bừng mắt chống hai chân xuống võng đứng thẳng dậy. Khi nhận ra Mẫn, anh chàng kêu to mừng rỡ:
    “Ơ kìa! Anh Mẫn! Thế mà em cứ tưởng là ai. Anh về lúc nào thế?”
    “Anh vừa về đến đây. Chú thím có việc gì không?”
    “Không, anh ạ. Thầy mẹ em vẫn khỏe, nhưng tản cư cả rồi, sang làng Giá ở nhờ nhà bác Cả Cẩn, chắc chỉ vài hôm lại về. Em xung phong ở lại làm dân quân tự vệ. Gia đình chị Yến cũng tản cư cùng lượt với thầy mẹ em. Chị Yến cũng xung phong ở lại trong đội cứu thương. Hôm kia Tây nó vào làng càn quét, nhưng chẳng làm được gì. Đội dân quân bọn em có được trên hai mươi tay súng…”
 
    Hình như anh Mẫn xúc động mạnh. Trong lúc anh chàng Huân lẻo mép vẫn tiếp tục khoe khoang thành tích của đội dân quân nhà, anh Mẫn hạ giọng hỏi:
    “Yến có hỏi gì về anh không?”
    “Có chứ sao lại không. Ngày nào chị ấy cũng sang đây hỏi han em đủ thứ về anh.” Huân vừa nói vừa cười, nụ cười có nhiều ý nghĩa.
    “Em cho anh và hai cậu em này tạm trú ở đây. Sáng mai bọn anh đi tiếp xuống Vân Đình cho anh thăm bố mẹ anh.” Nói đến đây anh quay sang hai thằng chúng tôi, nãy giờ vẫn đứng sau lưng anh theo dõi câu chuyện.
    “Đây là Toại, học sinh gương mẫu nhất của Bưởi và bây giờ là Chu Văn An. Còn cái thằng mặt ngố như mán rừng kia là Minh. Cả hai đều là Tự vệ thành, bây giờ học cùng trường với anh ở Đào Giã. Em vào nhà thổi cơm, đừng chờ anh, anh sang nhà chị Yến đây.”
 
    Nói xong anh quay sang dặn dò hai đứa chúng tôi vài việc rồi xốc lại ba-lô quày quả đi sâu vào làng. Chẳng phải thánh, tôi cũng đoán được cái cô Yến nào đó là người yêu của anh Mẫn. Tôi cười thầm trong bụng. Hóa ra ông anh của mình nôn nả từ mấy hôm nay nhất quyết ra tận đây chẳng phải vì bố mẹ đang chờ mà vì người yêu đang đợi. Cũng vui thôi. Chả biết cái cô Yến này ra sao, chắc phải đẹp người đẹp nết lắm mới lọt vào mắt xanh của anh.
 
    Đêm đó anh Mẫn ngủ bên nhà cô Yến. Tôi và Toại được anh Huân thổi cơm độn khoai ăn với muối vừng và rau lang luộc chấm tương Cự Đà. Tôi quất hết năm bát cơm, bát nào bát nấy đầy ụ mà vẫn thấy đoi đói. Sáng ra, anh Mẫn quay lại, nhưng không thấy chiếc ba-lô trên vai. Trông anh tươi tỉnh, đỡ mệt mỏi hơn một chút, nhưng tôi không thấy nét phấn chấn nào trên gương mặt anh, ngược lại là đằng khác, mặt anh như vương vấn nỗi lo buồn gì đó. Chẳng lẽ vừa ngủ một đêm với người yêu mà chẳng phấn khởi yêu đời thêm tí nào ư? Hay là bị người yêu cự tuyệt? Anh nói bọn mình ở lại Bài Trượng thêm ba hôm nữa mới đi Vân Đình.
 
    Gốc gác anh vốn ở làng này. Bố mẹ anh dọn lên Hà Nội thuở anh còn học tiểu học vì bố anh được nhận vào làm việc cho Sở Công Chánh. Cái anh chàng Huân lắm mồm đã khai báo đầy đủ lý lịch của anh cho chúng tôi nghe trong lúc ngồi ăn cơm trên chiếc chõng tre ngoài sân gạch chiều hôm qua. Anh với anh Mẫn là anh em con chú con bác. Còn cuộc tình giữa anh Mẫn với cô Yến nào đó thì được miêu tả như là một thiên tình sử lâm ly kỳ hận. Cô Yến đẹp nhất làng, con gái út cụ Cử họ Chu. Nhưng cụ ông cụ bà theo nhau mất sớm, cô ở với gia đình người anh cả và bà u già. Cô và anh Mẫn thân thiết nhau từ nhỏ, và khi dậy thì thì yêu nhau, anh Mẫn tuy ăn học ở Hà Nội nhưng có dịp nghỉ là về làng thăm người yêu. Nhưng cuộc tình của họ bị cả gia đình người anh cả của cô Yến lẫn bố mẹ anh Mẫn kịch liệt chống đối. Lý do chỉ vì hai dòng họ có mối thù từ thuở kiếp nào không biết. Bố mẹ anh Mẫn bỏ lên Hà Nội sinh sống vì không muốn anh gần cô Yến. Ôi, chỉ có cái chuyện cỏn con như thế thôi mà anh chàng Huân nói mãi suốt bữa cơm không hết chuyện. “Nhưng hai cậu biết gì không?” Ăn cơm xong, anh Huân chiêu một ngụm nước vối, súc súc trong miệng vài cái rồi nuốt đánh ực, tiếp tục kể. “Cái cô Yến này ghê gớm lắm chứ chẳng vừa või gì đâu. Cô ấy bất chấp gia đình ông anh cả, bất chấp lời ong tiếng ve của người làng, công khai tuyên bố sẽ lấy anh Mẫn, và nếu không có chiến tranh thì chắc năm nay hai người làm đám cưới rồi đưa nhau lên Hà Nội hay nơi nào khác sinh sống, không cần biết gia đình hai bên có đồng ý hay không. Con gái thời nay có khác, chẳng xem lễ nghi phong tục ra cái quái gì nữa.”
 
    Tôi và Toại theo anh Mẫn sang nhà cô Yến, cùng đi có cả Huân. Anh chàng không quên vác theo khẩu pạc-khoọc đeo kè kè sau lưng. Khẩu súng dài chĩa mũi lên trời, trông anh cũng oai vệ lắm, dù trên người chỉ mặc bộ quần áo vải cũ kỹ xộc xệch, quần ống thấp ống cao, chân đi đất như bất cứ anh nông dân nào ở đây. Với khẩu súng bắn một viên lại phải nạp đạn, không hiểu làm sao anh và các dân quân khác chống cự được bầy lính Lê dương với xe bọc sắt, súng liên thanh như thú dữ ngoài kia?
 
    Sang đến nhà cô Yến, tôi cảm thấy vô cùng ân hận vì đã nghi oan cho anh Mẫn đêm qua bỏ chúng tôi đi hú hí với người yêu. Ngôi nhà ngói năm gian với sân gạch đằng trước bây giờ biến thành trạm cứu thương. Trong nhà, ngoại trừ bàn thờ ở gian giữa và cái phản gỗ bên trái, còn tất cả bàn ghế đồ đạc khác bị ném ra sân để nhường chỗ cho khoảng trên chục người bị thương nằm la liệt dưới nền nhà. Chắc là kết quả thảm hại của trận càn quét xảy ra hôm kia, theo lời anh Huân. Đa số nằm thiêm thiếp chẳng biết sống chết ra sao, nhưng có người ngồi dậy và tôi thấy ba chị đang đút cháo cho họ. Cô Yến (tôi đoán là cô vì quả thật trông cô đẹp lắm) bỏ bát cháo đang đút dở, chạy ra gặp anh Mẫn, nước mắt rơm rớm:
    “Anh vừa đi được một chốc thì cậu Tính và chú Năm Phùng tắt thở. Suốt đêm máu ra nhiều quá. Chú Khoát bây giờ cũng yếu lắm, em sợ không qua nổi.”
 
    Anh Mẫn lại ngồi bệt xuống nền nhà bên cạnh người đàn ông tên Khoát. Có lẽ chú bị thương nơi bụng vì băng cứu thương quấn ngang bụng máu tươm đỏ loét. Anh sờ tay lên trán chú, chép miệng:
    “Sốt già thế này thì chắc vết thương làm độc rồi.”
    “Phải làm thế nào bây giờ, anh?” Cô Yến hỏi, giọng lo lắng.
    “Chỉ có cách gắp lấy viên đạn ra thôi. Hôm qua anh xem xét vết thương của chú, viên đạn vào bụng tuy không sâu, không chạm vào chỗ hiểm chết người, nhưng nếu không lấy ra thì vết thương sẽ làm độc. Hiện chú đang lên cơn sốt, chắc nó đã bắt đầu làm độc rồi.”
 
    Người đàn ông bỗng mở mắt, thấy anh Mẫn và mọi người ngồi xúm xít xung quanh, ông ta rên lên rồi thều thào cất tiếng:
    “Khát nước quá…”
    “Em lấy nước cho chú uống.” Anh bảo cô Yến đoạn quay ra phân công cho chúng tôi chuẩn bị các thứ cần thiết để thi hành ca phẫu thuật gắp viên đạn trong bụng chú nông dân tên Khoát. Cô Yến vừa cho chú uống nước vừa nói gì đó với chú, có lẽ trấn an chú để chú bớt lo sợ. Tôi nghe tiếng chú đứt quãng:
    “Tôi chịu đau được… Cô Yến, anh Mẫn cứ yên tâm…”
    Đó là một ca phẫu thuật có một không hai trên đời.
 
    Bác sĩ Mẫn và y tá Yến ngồi xổm hai bên bệnh nhân, trợ tá Huân giữ hai chân, trợ tá Toại giữ hai tay, trợ tá Minh ngồi bên cạnh cầm chiếc đũa cả chặn ngang miệng bệnh nhân đề phòng trường hợp bệnh nhân cắn lưỡi. Bác sĩ Mẫn từ từ mở lớp băng quấn bụng. Quả thật, vết thương đã làm độc. Máu trộn với một thứ nước trắng đục từ cái lỗ sâu hoắm bầy nhầy da thịt nằm gần mạng mỡ phía bên trái tươm ra không ngớt. Bác sĩ Mẫn cầm con dao nhíp đã được khử trùng, miệng hô to “Chuẩn bị!” và khi hai anh trợ tá đè chặt tay chân bệnh nhân thì anh thọc con dao vào vết thương. Tôi giật mình xuýt ngã ngửa ra đằng sau vì tiếng thét của con người mà sinh mạng đang làm thời gian như ngưng đọng trong ngôi nhà ngói cổ. Bác sĩ Mẫn ngoáy con dao mãi vẫn không tìm thấy viên đạn. Tiếng thét hãi hùng vang lên từng chặp. Có lẽ cả làng, ai cũng nghe thấy tiếng thét, đúng ra, nó là tiếng thét vang vọng suốt thế kỷ khổ đau, trầm thống này. Nó xoáy vào màng nhĩ tôi, nằm sâu trong đó suốt cuộc đời tôi, chẳng bao giờ buông tha. Con dao thọc vào sâu thêm, tiếng thét trở thành tiếng rú như con vật bị chọc tiết. Có lẽ con vật bị chọc tiết, phản ứng cũng không dữ dội như thế. Cứ thế từng hồi, từng chặp. Nhưng bác sĩ Mẫn gan lì lắm, anh vẫn tiếp tục chọc ngoáy con dao nhíp nhỏ xíu tìm kiếm viên đạn. Trợ tá Huân bặm môi ngồi hẳn lên đôi chân bệnh nhân, hai tay giữ chặt hai ống quyển mà có lúc xuýt bị hất văng. Y tá Yến lết hai chân ngồi lùi lại vì hãi sợ. Hai chị khác trong đội cứu thương bỏ mặc bệnh nhân, ôm mặt chạy ra ngoài. Vài người đang nằm bẹp cũng cố nghển cổ lên nhìn sang. Cuối cùng bác sĩ Mẫn nhìn thấy viên đạn, anh nói “Kìm!” Y tá Yến đưa anh cây kìm, loại kìm thợ mộc dùng để nhổ đinh. Nó to quá, anh loay hoay mãi vẫn không sao kẹp được viên đạn. Anh đưa lại cây kìm cho y tá Yến rồi tiếp tục rạch miệng vết thương cho rộng thêm. Đến đây thì chú nông dân tên Khoát đã ngất đi vì đau quá mức chịu đựng. Tốt thôi. Khi viên đạn nhú lên khỏi cái lỗ sâu hoắm chừng hai milli-mét, anh Mẫn lách cây kìm vào lẹ làng gắp viên đạn ra. Y tá Yến chùi sạch vết thương xong rắc thuốc bột khử trùng lên và lấy một nắm bông gòn to ụp lại. Băng bó. Xong.
 
    Ca phẫu thuật kéo dài chắc không quá mười phút đồng hồ mà tôi thấy như mười thế kỷ. Mồ hôi tôi toát ra như tắm. Chú nông dân tên Khoát đã ngất đi, nhưng chú mới ở lứa tuổi ba mươi, còn sức lực lắm, chắc chú không chết đâu. Tôi ngồi thở dốc mặc dù so với Toại và anh Huân tôi chẳng phải làm gì nhiều. Anh Mẫn bỏ ra ngoài, cô Yến đi theo, đem cho anh một cốc nước.
 
9.
Chúng tôi ở lại Bài Trượng một tuần lễ mới lên đường đi Vân Đình. Chú nông dân Khoát đã tỉnh lại. Ngày thứ ba sau ca mổ khủng khiếp, chú đã ngồi dậy ăn được chút cháo. Đúng như anh Mẫn đoán, viên đạn không chạm phải chỗ phạm trong người, chú sẽ thoát chết. Vợ chú và mấy đứa con đã đến đón chú về săn sóc. Những người bị thương khác cũng lần lượt xin phép về nhà mình. Ngôi nhà của cô Yến trở nên yên ắng, trống trải. Lúc đó cô mới có thời gian tỉ tê tâm sự với anh Mẫn. Hai người quấn lấy nhau suốt ngày đêm. Hình như khi cận kề với cái chết, người ta chẳng còn gì để giữ lại nữa. Anh Mẫn bỏ mặc tôi và Toại bên nhà anh Huân, nhưng chúng tôi chẳng buồn tí nào, ngày ngày ra ao sau nhà tắm rồi vào thổi cơm ăn. Có hôm anh Huân câu được con cá, đem vào nấu canh cà chua thì là, húp soàm soạp. Tính tình anh Huân tuy nói nhiều nhưng xởi lởi, tốt bụng. Chúng tôi tạm quên những cực nhọc đang trải qua để tận hưởng vài ngày hè vui, thoải mái.
 
    Anh Mẫn bịn rịn chia tay với cô Yến mãi rồi cũng phải ra đi. Từ Bài Trượng chúng tôi lội qua một con sông mùa này có nhiều chỗ cạn nước, đi về phía đê Cao Bộ, lên tới mặt đê, nhắm hướng Ngã Ba Thá đi một thôi đường nữa là sắp đến Vân Đình. Thế mà cũng hết gần một ngày đi bộ.
 
    Thị trấn Vân Đình vui thật. Từ đây ra Hà Nội chỉ cách ba mươi cây số đường chim bay. Dân tản cư từ Hà Nội kéo về đông đúc, thi nhau mở hàng quán buôn bán dọc hai bên đường, người đi lại tấp nập, hàng hóa thứ gì cũng có. Ngày đầu tiên đến, ba chúng tôi ra chợ, tôi mua được chiếc bút máy hiệu Pác-ke từng mơ ước, anh Mẫn mua được chiếc đồng hồ Uy-le cũ, đeo vào tay trông oách ra phết. Toại không mua gì, anh có vẻ không thích trò mua sắm của mấy thằng “tạch-tạch-sè” đầu óc còn nặng mùi tư hữu này. Nhưng mặc dù không thích, anh vẫn lẽo đẽo theo chúng tôi la cà hết con phố.
 
    Hôm sau chúng tôi sang Chợ Đại-Cống Thần. Nơi đây còn nhộn nhịp hơn cả Vân Đình. Thật ra, nó là cái chợ trời nằm dọc trên bờ một nhánh sông con đổ ra sông Đáy. Từ đầu chợ, làng Đại, đến cuối chợ, làng Thần, dễ thường có đến năm cây số, mọc lên không biết cơ man nào mà kể những gian nhà tranh cột tre hay nhà gỗ xiêu vẹo nhếch nhác, chắp vá tạm bợ. Mỗi nhà là một cái tiệm hay quán bán thứ gì đó. Các mặt hàng thuộc loại “quốc cấm” như rượu Pháp, tơ lụa, sữa hộp, thuốc lá thơm Cotab, Philip Morris, Camel này nọ đều có vì là nơi giáp ranh với vùng Tề, hàng do các tay “bờ lờ” từ Hà Nội hay các làng Tề tuồn sang. Dĩ nhiên chúng tôi nào dám tơ tưởng đến các thứ hàng ấy, muốn cũng không có tiền mua. Xế chiều chúng tôi đi ngược về phía Chợ Đại. Nam thanh nữ tú dập dìu chẳng kém gì chiều thứ bẩy bát phố Tràng Thi Hà Nội. Về trang phục, các cô cậu ăn mặc giản dị hơn. Tôi thấy các cô gái thường mặc áo cánh trắng hoặc nâu cổ vuông, tóc thắt bím buông thõng xuống bên vai. Các chàng trai thì áo bà-ba nâu, quần ka-ki, chân đi dép Con Hổ. Hàng quán la liệt bán đủ thứ thức ăn, thức uống, có cả quán cà-phê, tiếng hát theo điệu nhạc xập xình từ xa đã nghe văng vẳng. Một tiểu đô thị để “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” nay đã không còn.
 
    Đang đi lang thang ngắm cái chợ trời ngộ nghĩnh giữa một vùng sông nước đồng ruộng hoang sơ, ngắm người qua lại, anh Mẫn bỗng kéo hai đứa chúng tôi vào một quán ăn. Đúng hơn, một quán phở. Phở Thăng Long. Tôi thấy biển hiệu bên ngoài ghi như thế. Quán đông khách lắm. Quang cảnh nhộn nhịp người ăn, kẻ uống, người nói chuyện rôm rả, tiếng gọi phở, tiếng chén bát khua vào nhau lanh canh, cùng mùi phở thơm ngào ngạt bốc lên mũi khiến chúng tôi chợt nhớ ra là cả ngày chưa ăn gì. Lâu lắm rồi, dễ thường đến cả hơn năm nay, tôi chưa ăn bát phở nào. Không ngờ đến vùng đất này lại được nếm lại hương vị của món ăn khoái khẩu vừa ngon vừa rẻ mà ngày trước tôi hay ăn của ông lão bán phở gánh ở Phố Hàng Kèn, giá sáu xu một bát, chỉ có bánh và nước mà sao ngon tuyệt.
 
    Cuối cùng chúng tôi có bàn, mà lại bàn tốt, ngay gần chỗ thu tiền, khá rộng rãi. Quán có cả phở xào, phở áp chảo, và không thiếu cà-phê. Trong lúc chờ nhà bếp đem phở lên, anh Mẫn cúi đầu nói nhỏ với chúng tôi:
    “Hai em thấy bốn ông ngồi bàn bên kia sát chỗ thu tiền không?” Anh đưa mắt về phía trong, tôi và Toại cùng liếc theo, thấy bốn người đàn ông chắc đã ăn phở xong, đang ngồi uống trà, nói chuyện oang oang. Anh Mẫn nói tiếp: “Cái ông nước da tai tái, hai mắt sắc lạnh là nhạc sĩ Văn Cao. Ngồi cạnh ông Văn Cao, người đô con to lớn là họa sĩ Tạ Tỵ. Ngồi đối diện, cái ông tóc tai bù xù, vai so cổ rụt, môi thâm xì thuốc phiện là thi sĩ Đinh Hùng. Ngồi cạnh ông Đinh Hùng, đeo kính cận thị chính là nhạc sĩ Phạm Duy.”
 
    Tôi sững sờ. Toàn những người danh tiếng lừng lẫy tôi chỉ nghe qua hay đọc trên báo chí sách vở. Dạo trước tôi nghe bố tôi khen thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Tôi cũng thấy thơ ông hay đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, tập thơ Mê hồn ca của ông được nhiều người khen ngợi. Chị Lan nhà tôi, lúc đó mới mười ba mười bốn gì đó, đã mê thơ Đinh Hùng rồi. Có lần tôi bắt gặp chị ngồi chép thơ Đinh Hùng vào một cuốn vở học trò. Ông Văn Cao thì nổi danh như cồn nhờ những bài hát mới, người ta gọi là nhạc cải cách. Bài Buồn tàn thu của ông đi đâu cũng nghe hát. Sau đó ông tung ra những bài như Thiên Thai, Trương Chi, dân Hà Nội mê đến nỗi có người mở một phòng trà ca nhạc lấy tên là Thiên Thai. Ông Phạm Duy nổi danh sau Văn Cao nhưng hiện thời ông là chiến sĩ trong đoàn Văn Nghệ Giải Phóng, có mặt khắp các miền trung du và thượng du, hát cho chiến sĩ nghe để khích động tinh thần chiến đấu của họ. Những bài hùng ca của ông hay lắm. Chính tôi cũng thuộc nhiều bài nhờ hát chung trong các buổi sinh hoạt tại trường. Riêng ông Tạ Tỵ, người anh Mẫn bảo là một họa sĩ, tôi chưa từng nghe bao giờ, có lẽ hội họa là ngành tôi không mấy hiểu và không quan tâm. Ông tên Tỵ nhưng người ông to lớn lạ thường. Đoạn tôi nghĩ đến các ông kia. Ông tên Cao thì người thấp bé. Ông tên Hùng thì vai so cổ rụt. Thế còn ông tên Duy? Chẳng lẽ ông chỉ có duy nhất một người yêu suốt đời ư? Nhưng nếu ông cùng mẫu số chung với ba ông kia, tức là tên và người không đi đôi với nhau, thì ông phải có hàng tá nhân tình cùng một lúc. Bởi trông ông phong độ lắm, thoáng nhìn đã biết ngay là một nghệ sĩ. Sau cặp kính trắng, đôi mắt ông như được chiếu giọi bởi luồng ánh sáng dị kỳ. Mái tóc có vài đốm bạc, mặc dù tuổi tác ông chắc không quá hăm lăm, hăm sáu, càng làm ông khác người. Tôi đang miên man với những ý nghĩ trẻ con của mình thì nghe ông Tạ Tỵ nói to với những người trong bàn:
    “Hôm qua tôi sang Cống Thần mua được mấy tuýp mầu. Thích lắm. Chuyến này về tha hồ vẽ sơn dầu cho sướng tay.”
    “Vẽ gì thì vẽ, nhưng đừng quên là trên trung ương dặn dò anh em mình làm gì cũng phải nhớ đến kháng chiến đấy.” Ông Văn Cao ngắt lời ông Tạ Tỵ.
    “Ừ, biết rồi. Nhưng nghệ thuật đôi lúc cũng phải cho nó bay bổng lên trời xanh một tí, chứ bắt nó nằm bẹp mãi dưới đất thì biết bao giờ mới khá.” Ông Tạ Tỵ đáp lời.
    “Này, ông Tỵ ạ,” thi sĩ Đinh Hùng chen vào. “Tôi biết ông thích vẽ tranh lập thể, nhưng ông đừng vẽ con chó rồi bắt tôi nhìn ra con nai nhé.” Giọng ông đầy vẻ xỏ lá kềnh, đúng kiểu dân Hà Nội.
    “Các ông còn bảo thủ lắm.” Biết bị nói xỏ, ông Tạ Tỵ hơi nóng mặt. “Ngay cả lập thể của Picasso và Braque bây giờ cũng hết thời rồi. Thế giới họ đã tiến sâu vào các trào lưu mới như trừu tượng, dã thú, siêu thực này nọ, trong khi ở ta, vẫn là các thiếu nữ mĩ miều ẻo lả đứng ngồi bên cành hoa. Chán không thể tưởng được!”
    “Nhưng chủ đích của nghệ thuật là thổi sự sống lên sự vật. Vẽ một thiếu nữ mà thấy cái gì lấp lánh như có linh hồn thì là nghệ thuật đích thực, chứ còn gì nữa. Chữ nghĩa cũng thế. Làm thơ tức là sử dụng chữ nghĩa, mà chữ nghĩa chúng ta nói hằng ngày thì có gì mới lạ đâu. Cái tài tình của người làm thơ là biến mớ chữ nghĩa cũ mòn đó thành mới, như có chiếc đũa thần gõ vào sự vật và khiến ý nghĩa của nó bay bổng lên cao.” Ông Đinh Hùng phản bác.
    “Đồng ý với bác Đinh Hùng là như thế. Nhưng hội họa hay bất cứ ngành nghệ thuật nào khác đều phải mở cánh cửa cho tâm hồn con người nhìn thấy cái gì cao hơn hiện thực thường ngày. Bác biết trường phái surréalisme chứ gì, ta dịch là siêu thực, siêu dịch từ chữ sur là trên, surréalisme là trên hiện thực, cao hơn hiện thực. Nó có mục đích cân bằng nhãn quan duy lý của hiện thực với sức mạnh của tiềm thức, vô thức trong giấc mơ. Thơ của André Breton, tranh của Salvador Dalí, Max Ernst đều nằm trong xu hướng mới này. Nó cho ta cái đẹp lạ lùng đến độ không ngờ, bất chấp mọi cảm quan thông thường…”
 
    Hình như cảm thấy cuộc tranh luận giữa họa sĩ và thi sĩ chẳng dính dáng gì đến lời dặn dò của trung ương, hơn nữa, nó chẳng đi đến đâu, ông Văn Cao quay sang ông Phạm Duy, hỏi:
    “Phạm Duy! Dạo này ông bận đi hát cho các chiến sĩ nghe, nhưng có sáng tác thêm được bài hát nào mới không? Hát cho anh em nghe thử.”
    Bây giờ tôi mới nghe ông Phạm Duy lên tiếng, giọng ông ấm áp, chắc nình nịch, chữ nào ra chữ nấy, như đọc diễn văn:
    “Tôi đã làm được cả thảy trên dưới bốn mươi ca khúc nói về cuộc chiến đấu này của toàn dân. Nhiều bài được trung ương khen ngợi và được đồng bào hưởng ứng. Đi đến đâu tôi cũng nghe hát Xuất quân, Chiến sĩ vô danh. Nhưng tôi xem đấy chỉ là một đoạn đường ngắn trong cuộc đời sáng tác của tôi thôi. Gần đây tôi có ý nghĩ mình phải sáng tác dân ca mới. Dân ca của Việt Nam ta hay lắm, nó thấm nhập vào tâm hồn tôi từ khi tôi ở Nhã Nam làm ruộng. Rồi thời gian theo gánh hát Đức Huy của vợ chồng Charlot Miều, tôi được đi khắp ba miền đất nước, đến đâu tôi cũng tìm tòi học hỏi, nghe kỹ những hơi điệu của dân gian, từ điệu hò mái đẩy xứ Huế cho đến vọng cổ của dân Nam bộ. Nhất là vọng cổ. Tôi yêu điệu hát ấy vô cùng. Tôi luôn luôn nhủ thầm dân ca phải là một phần quan trọng trong sáng tác của tôi. Mới đây vì làm việc trong đoàn Văn Nghệ Giải Phóng, tôi có dịp tiếp xúc với nhà đạo diễn Trung quốc làm cố vấn cho đoàn. Từ ông ta, tôi biết thêm về nhạc sĩ Nhiếp Nhĩ, người soạn quốc ca cho Trung quốc. Khúc Hoàng Hà đại hợp xướng, cũng của ông Nhiếp, theo tôi, là một đại tác phẩm âm nhạc. Thế rồi tôi tìm hiểu thêm về một loại dân ca mới của họ, gọi là ương ca. Tôi say mê nghiên cứu, và tôi quyết định sẽ tung ra loại dân ca mới của tôi, khởi đầu với bài Nhớ người thương binh. Khúc Hoàng Hà đại hợp xướng còn cho tôi hứng khởi để viết những khúc trường ca mà tôi đang thai nghén…”
 
    Nói đến đây ông Phạm Duy rút trong ba-lô ra một xấp giấy chi chít nốt nhạc và chữ, đưa cho ông Văn Cao xem. Ông Văn Cao vừa xem vừa đánh nhịp, miệng hát nho nhỏ. Gật gù. Anh Mẫn lại thì thào nói tiếp với hai đứa chúng tôi:
    “Hai em có thấy cô ngồi ở quầy thu tiền không? Mấy ông tướng này si tình cô ấy, ngày nào cũng vào quán chiếm cái bàn sát chỗ cô ấy, ngồi lì cả ngày không chịu về. Nãy giờ các tướng nói rõ to là cốt để cô ấy nghe với hy vọng biết đâu cô ấy cảm phục mình rồi đem lòng yêu. Ông nào cũng khoe khoang thành tích vẻ vang vĩ đại của mình. Anh còn nghe đồn ông Đinh Hùng có lần nèo cô ấy xin một lọn tóc đem về bỏ trong bì thư nhét dưới đáy ba-lô, lâu lâu đem ra ngửi.”
 
    Quả thật đó là một trang thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, đẹp thanh nhã, đài các, nhưng nét đẹp sao u buồn đến não nùng, chẳng bút mực nào tả xiết, như thể cô có tâm sự gì u uất lắm trong lòng. Có lẽ nhờ thế trông cô quyến rũ vô cùng. Tôi chỉ dám liếc nhìn cô thôi đã thấy rúng động cả cõi lòng.
    “Anh biết tên cô ấy không?” Tôi hỏi anh Mẫn.
    “Cô ấy tên Thái. Nhưng có thời gian trước đây đi theo ban kịch của ông Thế Lữ và bà Song Kim nên có tên sân khấu là Thái Hằng.”
    “Ồ, cô ấy là kịch sĩ à?”
    “Chẳng những đóng kịch, cô ấy còn hát hay và biết đàn ghi-ta nữa.”
    “Thảo nào các ông kia mê…”
    “Nhiều người mê lắm, chẳng riêng gì mấy ông đang ngồi đây. Ông họa sĩ Bùi Xuân Phái cũng mê cô ấy lắm, ông ấy vào ngồi từ sáng đến tối chỉ ngắm cô ấy, không nói chuyện với ai. Không hiểu sao hôm nay không thấy ông Phái.”
 
    Đến đây chúng tôi tạm ngưng theo dõi buổi bàn luận văn học nghệ thuật đầy thú vị của bốn nhà thi nhạc họa danh thơm lẫy lừng vì ba bát phở hương thơm lẫy lừng không kém đã được bưng lên. Ôi, vào lúc này, chẳng có gì quan trọng đáng lưu tâm hơn ba bát phở. Người bưng phở là một cô gái tôi áng chừng mười ba, mười bốn, tức là còn nhỏ tuổi hơn tôi. Cô mặc áo cánh trắng, tóc kẹp buông sau lưng, khuôn mặt sáng láng như trăng rằm. Cả ba chúng tôi ngẩn người ra nhìn cô. Cô nhanh nhẹn đặt ba bát phở trước mặt chúng tôi, nhoẻn miệng cười:
    “Mời các anh dùng phở cho nóng, ạ.” Giọng cô ngọt, trong văn vắt.
    Anh Mẫn nghiêng đầu hỏi cô:
    “Em tên gì? Anh vào đây ăn nhiều lần mà sao không thấy em bao giờ.”
    “Dạ, em mới nghỉ học, vào làm được mấy hôm nay thôi. Em tên Băng Thanh. Em là em ruột của chị Thái Hằng ngồi đằng kia.”
    Cái tên Băng Thanh, giọng nói, khuôn mặt, cử chỉ, hình dáng ấy theo tôi trên đường về. Nó vẫn ở lại, ngọt ngào trong trí nhớ, tâm khảm tôi suốt quãng đời còn lại.
– TRỊNH Y THƯ
 
(Trích đoạn tiểu thuyết Đường về thủy phủ).

TÀO ĐỘNG

Hoàng Xuân Sơn
 
Hoa dưới lòng đất. Tranh Đinh Cường
 
      *tặng Nguyên Giác Phan Tấn Hải
 
lắng tàn
sương nội xuống không
trên vùng hoang tượng
mặt đồng
lãnh trơ
mùa đi
từ thuở đến giờ
không ai biết được
huyền cơ bến nào
lội biển về
dạ
nao nao
hỏi sông
có lạc tuyến vào man phương
nghi sao gầy guộc phố phường
con chim rồng rộc bán thương não phiền
neo tề
chợ hết ngày phiên
vãn mình em. đứng, nghe miền
thở than
bao lâu nữa
cuộc trăng tàn
thói nhà lay động
tình dang dở
còn
 
HXS
 

Friday, July 7, 2023

THÁI LAN: HỌA SĨ, NHÀ THƠ ĐI ĐẦU VÌ DÂN CHỦ

Phan Tấn Hải
 
Tranh của Baphoboy giễu cả chính phủ quân đội Thái Lan,
chỉ trích cả Tập Cận Bình và Putin và bênh vực Ukraine. (Hình Instagram)
 
Cuộc cách mạng không tiếng súng của phong trào dân chủ Thái Lan đã thành công trong cuộc bầu cử giữa tháng 5/2023, với phiếu của giới trẻ và những người có tinh thần dân chủ đã vượt xa phiếu của những người thân chính quyên quân sự. Một trong những người dẫn đầu phong trào đòi thay đổi thể chế, đòi giảm vai trò chính trị của quân đội, đòi xét lại một đạo luật gây tranh cãi chống lại việc xúc phạm chế độ quân chủ… là doanh nhân trẻ Pita Limjaroenrat (sinh năm 1980), từng du học tại Hoa Kỳ và bây giờ là lãnh đạo Đảng Move Forward (Đảng Tiến Lên). Với liên minh nhiều đảng, Pita dự kiến sẽ là Thủ Tướng tương lai, nếu chính quyền quân đội Thái Lan không tìm được cớ gì để cản trở nữa.
 
Nhưng bây giờ, Pita đang bị điều tra về thủ tục. Ủy ban bầu cử Thái Lan đang xem xét liệu Pita có cố ý không đủ tư cách để ghi danh ứng cử viên quốc hội hay không, bởi vì Pita có sở hữu cổ phần trong một công ty truyền thông, vốn là bị cấm theo quy tắc bầu cử. Pita cho biết anh được thừa kế cổ phần của đài truyền hình ITV, và đài truyền hình này (may quá) đã ngừng phát sóng từ năm 2007, từ cha mình. Thêm nữa, Pita nói, cổ phần của công ty, ITV, đã được chuyển nhượng. Pita nói không làm gì sai trái. Nếu bị phán quyết là sai thủ tục, Pita cơ nguy bị loại, và nếu phạm luật thì có thể lãnh án 10 năm tù và 20 năm bị cấm hoạt động chính trị. Pita nói anh tự tin là không sai phạm gì.
 
Nên thấy rằng, cuộc chiến đòi dân chủ của Thái Lan không đơn giản là rủ nhau bầu phiếu là xong. Đó là tiến trình nhiều thập niên. Và là đấu tranh của hầu hết là giới trẻ, trong đó đi đầu là giới sinh viên trường mỹ thuật, các họa sĩ, các nhà thơ, và các kịch sĩ – trong đó, các tác phẩm vì dân chủ được bày ra khắp đường phố để mời gọi người dân cùng đòi hỏi dân chủ, bất kể bị quân đội đàn áp bằng bạo lực và đôi khi là án tù.
 
Các bạn có thể nhớ rằng, trong năm 2020 Thái Lan bùng nổ đại dịch COVID-19, nhưng giới trí thức trẻ vẫn không quên kêu gọi dân chủ. Thái Lan là quốc gia đầu tiên báo cáo một trường hợp bên ngoài Trung Quốc, vào ngày 13/1/2020. Và chỉ trong vòng ba tháng, tính đến ngày 2 tháng 4/2022, Thái Lan đã báo cáo tổng cộng 3.684.755 trường hợp được xác nhận mắc bệnh. Kinh tế Thái Lan dĩ nhiên thê thảm. LHQ công bố một báo cáo vào tháng 6/2020 cho biết 90% doanh nghiệp trở lên dự đoán doanh thu sẽ giảm hơn 50% so với năm ngoái. Vào tháng 9/2020, Ngân hàng Thế giới dự báo nền kinh tế Thái Lan sẽ giảm 8,9% vào cuối năm. Tuổi trẻ trong vòng vây dịch bệnh nguy hiểm, kinh tế bức bách… nghĩ liền tới một cuộc biểu tình lớn để đòi dân chủ. Hiển nhiên, chính quyền quân sự cũng lúng túng.
 
Theo báo The Art Newspaper, bản tin ngày 24/9/2020 của phóng viên Lisa Movius ghi nhận hiện tượng sinh viên Thái Lan biểu tình theo hình thức flash mob, nghĩa là hẹn nhau qua điện thoại di động là một một giờ nào, một ngày nào, tới một góc phố nào đó để đòi dân chủ. Những cuộc biểu tình bất ngờ trong tháng 9/2020 có nơi lên tới cả trăm ngàn người tham dự.
 
Và khi hình ảnh sinh viên học sinh biểu tình trở thành quen thuộc, thì các cấm kỵ từ từ lung lay. Các cuộc biểu tình trong năm 2020 đã phá vỡ một điều cấm kỵ từ lâu – sự chỉ trích đối với chế độ quân chủ Thái Lan, một thể chế mà những người biểu tình tin là cản trở chính đối với nền dân chủ. Các văn nghệ sĩ và sinh viên mỹ thuật Thái Lan đang đi đầu trong phong trào ủng hộ dân chủ đang lan rộng, kêu gọi cải cách chính phủ quân sự, thậm chí có cả biểu ngữ chỉ trích chế độ quân chủ Thái Lan.
 
Các đám đông chớp nhoáng gần như diễn ra hàng ngày với số lượng lên tới hàng ngàn người, chủ yếu là học sinh trung học vẫy dải ruy băng trắng và giơ ba ngón tay chào từ bộ phim The Hunger Games, đã đạt đến cao điểm vào ngày 19 và 20 tháng 9/2020, khi có tới 100.000 người thuộc tất cả các nhóm tuổi bước ra đường phố tưởng niệm cuộc đảo chính quân sự năm 2006 (lúc đó phế truất Thủ tướng dân túy Thaksin Shinawatra).
 
Báo The Guardian trong bản tin ngày 19/11/2020 ghi nhận rằng trên tuyến đầu của các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Thái Lan, một linh vật mới đã xuất hiện: một con vịt bơm hơi khổng lồ.

Những con vịt bơm hơi cũng biểu tình vì dân chủ Thái Lan
 
Khi những người biểu tình cố gắng vượt qua hàng rào bê tông và tập trung bên ngoài quốc hội, họ đã phải đối mặt với phản ứng của cảnh sát đàn áp dữ dội, không cần thiết và quá mức. Những người biểu tình, những người đang kêu gọi cải cách dân chủ đã liên tục bị bắn bằng hơi cay và vòi rồng.
 
Giữa sự hỗn loạn, một bộ sưu tập những con vịt khổng lồ, ban đầu được mang ra biểu tình như một trò đùa, đã nhanh chóng được tái sử dụng làm lá chắn. Kể từ đó, các con vịt bơm hơi đã được tôn vinh là anh hùng của phong trào. Hình ảnh về cuộc đối đầu được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội. Những bức ảnh được chụp sau đó về những con vịt trông có vẻ bầm dập, chảy xệ và phủ một lớp thuốc nhuộm màu tím được bắn ra từ vòi rồng cũng vậy. The Guardian ghi nhận: theo dịch vụ y tế khẩn cấp của Bangkok, ít nhất 55 người bị thương, hầu hết do hít phải hơi cay. Các cuộc đụng độ cũng nổ ra giữa các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ và những người bảo hoàng. Sáu người biểu tình ủng hộ dân chủ đã được điều trị vết thương do đạn bắn.
 
Tracy Beattie, một nhà nghiên cứu tại Australian Strategic Policy Institute, chuyên về chính trị Thái Lan, cho biết các nhà hoạt động trẻ tuổi ở Thái Lan thường sử dụng sự hài hước và sáng tạo. “Lần này, những con vịt cao su bơm hơi màu vàng đã trở thành một biểu tượng mới cho phong trào ủng hộ dân chủ, không chỉ vì chúng dễ thương mà còn vì chúng làm nổi bật sự phi lý và bất cân xứng tuyệt đối của tình hình,” cô nói.
 
Không tự nhiên có biểu tình đông như thế. Tất cả là từ nhiều cuộc biểu tình nhỏ nhiều tháng trước. Vào ngày 12 tháng 9/2020, theo họa sĩ và là nhà hoạt động Mit Jai Inn, khoảng 2.000 sinh viên trường mỹ thuật đã tổ chức một cuộc chiếm đóng chớp nhoáng tại Trung tâm Văn hóa và Nghệ thuật Bangkok nơi do nhà nước hậu thuẫn để phản đối giới nghệ sĩ đàn anh. Họa sĩ Mit Jai Inn nói với phóng viên Movius: “Trong khoảng 5 đến 7 năm qua, các nghệ sĩ [đã thành danh] hầu hết đều liên kết với quân đội và chế độ quân chủ vì sợ lập trường cấp tiến từ phe đối kháng— hầu hết là người nghèo, áo đỏ — nên họ liên kết với những người bảo thủ da vàng và quân đội.”
 
Mit Jai Inn, nhà hoạt động và là một họa sĩ đương đại, trong xưởng vẽ.
 
Mit Jai Inn sinh ra ở Chiang Mai, Thái Lan, vào năm 1960, sống và làm việc tại Chiang Mai. Mit Jai Inn học nghệ thuật tại Đại học Silpakorn từ 1983 đến 1986, và tại University of Applied Arts Vienna từ 1988 đến 1992. Khi trở về Thái Lan vào năm 1992, Mit đồng sáng lập Chiang Mai Social Installation (Cơ sở Xã hội Chiang Mai) với một nhóm nghệ sĩ, học giả và các nhà hoạt động xã hội.
 
Mit Jai Inn kể rằng: “Ở Thái Lan, nền nghệ thuật được điều hành bởi những ông già ưu tú, gần như tất cả đều bảo thủ. Trước đây tôi là một thiểu số đơn độc, nhưng bây giờ tất cả các nghệ sĩ trẻ đều trở nên cấp tiến. Tôi và các họa sĩ tham gia biểu tình, làm nghệ thuật, biểu diễn âm nhạc, vẽ bích chương….”
 
Cũng có thêm một biểu tượng mới cho dân chủ Thái Lan: Chào ba ngón tay, một cử chỉ của bàn tay được thực hiện bằng cách giơ ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn, đồng thời giữ ngón cái ở ngón út và giơ tay với lòng bàn tay hướng ra ngoài để chào. Cử chỉ này đã được phổ biến vào những năm 2010 sau khi nó được sử dụng trong The Hunger Games (loạt sách và phim viễn tưởng của Suzanne Collins). Cử chỉ này đã được những người biểu tình áp dụng, đặc biệt là đối với các phong trào biểu tình ủng hộ dân chủ ở Đông Nam Á, chủ yếu ở Thái Lan và Myanmar, cũng như ở các quốc gia khác, bao gồm cả Hồng Kông.
 
Kiểu chào đã được sử dụng một thời gian trong Phong trào Ô dù Hồng Kông năm 2014 trước khi được hồi sinh trong các cuộc biểu tình ở Hồng Kông 2019–2020, rồi thường xuyên sử dụng ở Thái Lan, và tiếp tục được sử dụng để tượng trưng cho sự phản kháng chống lại các chính sách đàn áp của chính phủ.
 
Kiểu chào này có ý nói rằng ba ngón tay tượng trưng cho lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng Pháp. Cử chỉ này đã được hồi sinh phổ biến bởi những người biểu tình trong cuộc khủng hoảng chính trị Thái Lan năm 2020.
 
Kiểu chào của người dân chủ Thái Lan.
 
Cũng từ nhiều năm trước, một nhà thơ nữ đã nêu lên ước mơ dân chủ từ khi là sinh viên. Đó là Chiranan Pitpreecha (sinh năm 1955) là một nhà thơ và là nhà nữ quyền người Thái Lan. Cô từng được trao giải thưởng văn học S.E.A. Write Award (Southeast Asian Writers Award, giải văn học thường niên có từ năm 1979 để trao cho các nhà thơ, nhà văn trong vùng Đông Nam Á).
 
Là con gái của một chủ hiệu sách, cô sinh ra ở Tỉnh Trang. Pitpreecha là một nhà hoạt động sinh viên nổi bật trong cuộc nổi dậy của quần chúng Thái Lan năm 1973; sau vụ thảm sát Đại học Thammasat vào tháng 10/1976, cô trốn vào rừng và gia nhập Đảng Cộng sản Thái Lan. Pitpreecha trở lại Bangkok vào năm 1981. Cùng với chồng, Seksan Prasertkul, cô đến Hoa Kỳ, nơi cô lấy bằng Cử nhân và Cao học lịch sử tại Đại học Cornell. Sau khi trở về Thái Lan, cô ly thân với chồng. Dĩ nhiên, cô không còn là người cộng sản.
 
Bài thơ “Cracked Pebble” của Pitpreecha đã nhận được giải thưởng cho bài thơ hay nhất năm 1981 từ PEN International Thái Lan. Cô đã viết nhiều tác phẩm, bao gồm thơ ca, lịch sử, các bài báo du lịch và bình luận xã hội, cho nhiều ấn phẩm khác nhau ở Thái Lan. Tập thơ đầu tiên của cô, Bai Mai Ti Hai Pai (The Missing Leaf) đã nhận được Giải thưởng S.E.A. Write Award năm 1989. Năm 1992, bài thơ “First Rains” (“Những trận mưa đầu tiên”) của cô được PEN International Thái Lan vinh danh là bài thơ hay nhất trong năm. Năm 2011, cô được vinh danh là một trong 65 phụ nữ có ảnh hưởng nhất ở Thái Lan. Tác phẩm của cô đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật và Mã Lai.
 
Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh “Những trận mưa đầu tiên”… Bài thơ ngắn, chỉ có 5 đoạn.
 
NHỮNG TRẬN MƯA ĐẦU TIÊN
 
Những trận mưa đầu trong tháng năm
chảy xuôi dòng, màu đỏ.
Những trận mưa thép, bạo lực,
cắt vào da thịt, làm đổ máu.
 
Một dòng máu
bao phủ các đường phố.
Có bao nhiêu vì sao rơi thành từng mảnh?
bao nhiêu trái tim đã bị chà nát?
 
Vết thương ở đất nước chúng ta
bao giờ sẽ lành?
Sức mạnh ma quỷ nào
dám giết người sao?
 
Trận chiến tiếp tục
cái chết làm người dân nổi dậy.
Hồn linh vẫn tồn tại
và bảo vệ quyền người dân.
 
Những trận mưa đầu mùa ngấm vào đất
để lại cảm giác và ký ức.
Chúng bón phân cho trái đất
và nuôi dưỡng mùa gặt cho dân chủ.
                          —– Thơ Chiranan Pitpreecha
 
Nhà thơ và là nhà hoạt động nữ quyền Chiranan Pitpreecha.
 
Nói tới nghệ sĩ hoạt động dân chủ, cũng nổi bật là họa sĩ Baphoboy. Theo báo VICE News, Baphoboy có hơn 32.500 người theo dõi trên mạng xã hội Instagram. Họa sĩ Thái Lan này có kiểu vẽ thích hợp với tranh tường để tuyên truyền trên hè phố. “Trong thời đại biểu tình, nghệ thuật giúp người dân tiếp cận chính trị,” Baphoboy nói với VICE News. Họa sĩ Baphoboy nổi bật trong những cuộc biểu tình năm 2020, lúc đó anh 24 tuổi. Anh có tên là Sippakorn “Ken” Khiaosanthia, chàng trai 24 tuổi này là thành viên của một nhóm nghệ sĩ Thái Lan mới sử dụng tất cả phương tiện có được, từ đường phố tới mạng xã hội, và hình ảnh phần lớn theo phong cách graffiti (sơn xịt) để vượt qua các ranh giới mang tính thời sự.
 
Năm 2020 còn rất nhiều cấm kỵ, nhưng may mắn đã vào thời điểm mà các chủ đề từng được coi là cấm kỵ ở Thái Lan đang được tranh luận công khai, bao gồm cả cuộc thảo luận chưa từng có về các thể chế toàn quyền như chế độ quân chủ của đất nước, được bảo vệ bởi luật khi quân. Lúc đó, mới tốt nghiệp Đại học Silapakorn ở Bangkok, Baphoboy cho biết những người bạn cùng thế hệ với anh muốn “xem và nếm trải nền dân chủ” và tin rằng nghệ thuật của anh có thể đóng một vai trò nào đó.
 
Các bài đăng của Baphoboy trên tài khoản Instagram đã nhận được hàng nghìn lượt thích và bình luận. Các hình vẽ, nhiều hình được thực hiện bằng màu đỏ, trắng và xanh của quốc kỳ Thái Lan, thể hiện sự phẫn nộ với chính quyền do các tướng lãnh lãnh đạo, những người đã nắm quyền trong cuộc đảo chính năm 2014 tới cả thập niên sau. Nhiều người trong tranh Baphoboy còn có khuôn mặt cười toe toét như trong phim hoạt hình, một lời quảng bá du lịch của Thái Lan là “Xứ sở của những nụ cười”.
 
“Phần lớn công việc của tôi đề cập đến sự bất công do chính phủ gây ra. Các cuộc bầu cử thay đổi rất ít trong hệ thống hiện tại,” Baphoboy giải thích với báo VICE News. “Trong các bức vẽ của mình, tôi thể hiện mình là một cậu bé dám đặt câu hỏi – ngay cả ở một đất nước có nhiều vấn đề [nhạy cảm] mà chúng ta không thể nói ra. Những khuôn mặt tươi cười mà bạn thường thấy trong ảnh của tôi không ngây thơ như vậy. Họ đại diện cho tiếng nói của trẻ em và những người đã khuất, những thường dân không có tiếng nói hoặc đã đánh mất tiếng nói của mình trong cuộc đấu tranh cho công lý và cải cách chính trị.”
 
Họa sĩ Baphoboy lấy cảm hứng từ mạng xã hội, tin tức và phong trào phản đối ôn hòa đã nở rộ tại Thái Lan. Họa phẩm của anh các năm gần đây đã được trưng bày cùng với hàng trăm nghệ sĩ địa phương khác như một phần của cuộc triển lãm công cộng ở Bangkok đề cập đến chủ đề “nghệ thuật đang biến mất dưới chế độ độc tài”.
 
Họa sĩ Baphoboy (trái) và hình ảnh tuổi trẻ sẽ chiến thắng quân phiệt.
(Hình Instagram)
 
Hội họa phục vụ cho chính trị đang phát triển táo bạo hơn cùng với tình cảm của công chúng. Làn sóng biểu tình trong năm 2020 được mô tả là những cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất kể từ cuộc đảo chính năm 2014. Charlie Thame, giảng viên khoa học chính trị tại Đại học Thammasat, cho biết: “Nó đã được ủ từ khá lâu. Có rất nhiều sự thất vọng về tình trạng của đất nước, đặc biệt là trong giới trẻ Thái Lan, nhiều người cảm thấy rằng tương lai của họ đã bị cướp khỏi tay họ – đây là điều họ đang đấu tranh và tại sao họ lại quyết tâm như vậy.”
 
Giới trẻ, giới nghệ sĩ… trải qua nhiều năm hoạt động, đấu tranh, sáng tác để nêu lên ước mơ… rồi đã thuyết phục được đa số người dân trong cuộc bầu phiếu giữa tháng 5/2023 rằng, đã tới lúc chính phủ quân phiệt phải trao quyền cho giới trẻ, những người mang đầy những tư tưởng cấp tiến và dân chủ. Dân tộc Thái Lan, giới trẻ Thái Lan còn may mắn vì còn được biểu tình, được sáng tác, và được bầu phiếu.
 
PHAN TẤN HẢI

  

CÓ KHI

Kc Nguyễn
 
Hoa redbuds và chim cardinal cô đơn. Hình: Internet
 
có khi mơ là triết gia
tìm căn nguyên đời người, vũ trụ
mặt trời mặt trăng sao mai sao hoả
có khi mơ làm trẻ nhỏ
con bọ dừa ngủ trên cỏ mong manh
 
có khi nặng trĩu nỗi niềm
ngồi yên chờ tia nắng đầu ngày ló dạng
có khi cười trong giấc ngủ
cũng với nụ cười chờ mưa sáng đổ
tay còn một mảng của giấc mơ
 
có khi biết ơn ngày tháng qua
vết bầm tan, trước đây tím ngắt
bài học chua lè, bắt đầu thấy ngọt
có khi rủa sả thời gian
và những điêu tàn bước trộm trong đêm
 
có khi lục ký ức, đường tình
những bước ngắn dài, tay trong tay chặt
có khi vuốt từng nếp một
cây dù tội nghiệp của buổi chiều hiu hắt
sầu đông đặc và tuyết lã chã rơi
 
có khi chẳng nghĩ ngợi gì
nhớ mùi thuốc lá đã bắt anh kiêng bỏ
tàn lửa dập trong hối hả
nhớ cách đo kỳ quặc của tình yêu
kc Nguyễn
 

Wednesday, July 5, 2023

NHỚ ĐÀ LẠT LÊ UYÊN PHƯƠNG

Đoàn Minh Đạo
 
Lê Uyên Phương
trên sân khấu giảng đường Spellman Viện Đại Học Đà Lạt .
 
Tháng Sáu qua lại nhớ người bạn một thời Đà Lạt, nhạc sĩ Lê Uyên Phương ra đi tháng Sáu cách nay đã 24 năm! Lần đầu gặp gỡ nghe anh và Lê Uyên hát là 1965 tại Quán sinh viên T2, tôi đặc biệt yêu qúy những nhạc khúc sáng tác của anh. Nhạc của Lê Uyên Phương có cấu trúc đặc biệt, nét riêng khác các ca khúc thời trang phổ thông. Tôi còn nhớ những ngày xa xưa ấy, Lê Uyên Phương thường xuất hiện trên bục gỗ nhỏ, dưới ánh đèn đơn sơ, khoác áo blazer dạ vai rộng che phủ phần nào dáng mong manh mái tóc nghệ sĩ của anh.
 
Đây cũng là thời kỳ nhạc Miền Nam xuất hiện lớp nhạc sĩ trẻ, chiều hướng sáng tác dần chuyển mình hình thành sự chia tay với lớp đàn anh, thể hiện những ưu tư, trằn trọc hay phản kháng của tuổi trẻ đối với chiến tranh, tình yêu và cuộc sống:

“Vì đâu mê say phồn hoa
Như áo gấm sáng lóng lánh
Ôm rách nát không tâm linh
Ôm tiếng hát không hơi rung nghèo nàn
Còn yêu chi hoa ngày xanh
Héo hon vì mong manh
Bỏ quên lại người sau ngỡ ngàng...”

Trong phong trào nhạc trẻ bùng phát vào giai đoạn này. những ca khúc sáng tác của Lê Uyên Phương chiếm một khoảng trời riêng, không chỉ mang tính trữ tình còn là cuồng nhiệt. Đôi khi lại êm đềm nối tiếp thôi thúc dồn dập. cũng như ca từ khi chau chuốt lúc thô phác đời thường đã lột tả sống động khuôn mặt tuổi trẻ không cấm kỵ và đầy nghi hoặc.

Nhiều sinh hoạt văn nghệ trên thành phố cao nguyên có dịp cho chúng tôi gặp gỡ trao đổi. Lộc là một người tài hoa, chân thành. Anh tâm sự với tôi nguyện ước âm nhạc nghệ thuật của mình. chuẩn bị cho cuộc du diễn. Sài Gòn với 19 lần đôi Lê Uyên Phương xuất hiện trước công chúng, khán giả thủ đô Miền Nam, đã chinh phục được trái tim và sự ngưỡng mộ của đông đảo giới trẻ thành phố. Khi trở lại Đà Lạt tôi thay mặt Nhóm Phi Delta ΦΔ (Nhóm Triết Đà Lạt) đã tổ chức một buổi ca nhạc tại Giảng đường Spellman và người thành phố có dịp chào mừng anh chị sau lưu diễn. 
Buổi ca nhạc của Lê Uyên Phương đã thu hút lượng khan giả đông đảo chật ních giảng đường, người tham dự tràn lên sân khấu, hành lang ra ngoài bãi cỏ (hình một góc trong giảng đuờng ) nồng nhit cổ vũ đôi song ca uyên ương đứa con thân yêu của thành phố.

Tháng Sáu hoài niệm Lê Uyên Phương, người nhạc sĩ với tiếng đàn và lời ca, đã để lại trần gian dấu tích yêu thương cũng như bi lụy đã bay xiên bờ nắng qua bên kia vĩnh cửu, anh hẳn đã hoàn tất giấc mơ viết một Tiểu nhạc kịch thơ mộng với trái tim cao nguyên “Thung lũng xanh bình yên”!
ĐMĐ
 
BAY XIÊN BỜ NẮNG DỰNG
   
      Tưởng niệm Lê Uyên Phương (2/1941- 6/1999).
 
Bay xiên bờ nắng dựng
Mộng đời xanh thiên thu
Biển âm vang bất tận
Mang mang thiên cổ sông
Có âm trải suốt ngàn lau trắng
Gió lựng triều mây
Ngõ hư không
Một triền hoa dại
Ngập đồng
Mênh mông thảo nguyên muốt nhạc
Thao thức hồn
Hạ mướt lá xanh
Hạnh hoa thanh tân muôn thủa
Xướng thơ buốt tận xương da
Hàm ca đất trời lệ ứa
Tụng ca ẩn mật giữa đời
Ẩn mật thu xưa thiềm trăng lá rụng
Ẩn mật bạn về bóng lạnh trà đêm
Ẩn mật đàn ai xanh thềm lạc quán
Ẩn mật tiếng hát tình nhân hơi rung đuối vực
Ẩn mật cây vỹ cầm của chàng rực nắng cao nguyên
Ẩn mật hòa âm trầm mình bát ngát
Ẩn mật tiếng hát khép lại đường về chất ngất mưa
Ẩn mật giăng ngang rừng thông ngún khói sương
mù đường tình ân ái
Ẩn mật căn phòng sát mái thời chàng mơ về một
tiểu nhạc kịch
Ẩn mật lòng còn trĩu nặng bi ca
Ẩn mật thảng thốt tình yêu là khổ nạn
Ẩn mật đẫm mặn ở Thành phố Diêm Hồ mênh mang hồ
muối chứng nghiệm tình yêu hóa tượng*
Ẩn mật xướng sầu khúc ái ân đừng phụ lòng chất ngất xót xa
Hắt hiu ngọn gió hồn nhiên
Từ biệt chàng đừng khoắng đục miền tịch lặng
Ôi chuyến xe đời chuyển khúc hành phương Nam bi tráng
Qua thung lũng Sacramento ngợp Modesto đầy trời hoa hạnh trắng
Cứ trắng ngút ngàn như màu tuyết giữa tháng Hai
Tháng Sáu tiếng lục huyền cầm bỏ lại trời không mây
Âm tinh huyết kết trong ngày ảo diệu
Ta lặng thinh nhĩ thuận
Trầm mặc nhân sinh
Tùng bách trong vườn nghinh chào mầm lá nhỏ
Lời tụng ca dung nhan hoa mộc lan bên đời nở rộ
Hòa giữa tiết xuân
Cỏ thơm ngợp thềm nắng trải
Những ngày trần gian vài lời ẩn ngữ
Như tiếng hát tan mây vần vũ
Xa lạ rồi mặt đất hoang vu
Cảm tạ xuân đời còn âm vọng tình thơ
Dù nghiệt ngã bóng hình
Đớn đau tiếng rền u mộng ngất ngư
Cứ gì ca hát
Tạ ơn đời
Cứ gì hú vang bất tuyệt
Khứng nhận làm người bên bờ tuế nguyệt huyết hoa...
Đoàn Minh Đạo,

*Theo Sáng thế ký 19:1–38: Lót, vợ và hai con gái của ông đã được thiên
thần đưa thoát khỏi thành phố Sô-đôm trước khi bị hủy diệt vì tội lỗi.
Nhưng vợ Lót còn lưu luyến ngó lại và bị biến thành một cột muối!