Sunday, November 6, 2022

VÁ SƯƠNG TỪNG MỤN NHỌT

Hoàng Xuân Sơn
 
Hình. Tác giả gởi
 
Rạn vỡ với hình hài đau
Ồ
Không
Nhật nguyệt
Đã nhàu phương lên
Rớt xuống. rớt sao
Xuống thềm
Màu rêu đã mục
Màu đêm bội tình
Người nằm một cõi điêu linh
Cùng kim loại thoát xác
Hình hài
Như
Trẻ thơ
Buồng sữa chín nhừ
Trái au mặt đỏ
Vườn thư thái mùa
Trễ đường lời mật năm xưa
Ngõ con thin thít
Tuổi vừa lớn khôn
 
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
2.8.2022
 

Saturday, November 5, 2022

ĐÊM

Vương Ngọc Minh
 
 Owl in starry night. By Peggy Wilson

theo tiếng việt
thì - cách con cú
phóng lên tôi
đấy
cái cách giận dữ của tay cách mạng bị cho ra rìa
hưu non
 
nguyễn phú trọng đến bắc kinh
hôm qua/ những ngày tới
diện kiến hoàng đế tập cận bình
ký các văn kiện- để rồi
chỉ đau đớn thêm cho dân tộc
 
trở lại
cách con cú phóng lên tôi
chẳng những khứng cú
phóng
còn khứng cả sự cà khịa của bụi
lão làng/ bầu khí
đang thở trở nên thâm u
đất trời nát bấy
 
cây anh túc
mọc tự khi nào(!) trong đám tóc
cứng- tợ rễ tre
giờ
trổ lá mới
xanh mơn mởn
 
tôi nhức đầu
ghê gớm
những chiếc lá vừa xanh
đã vàng/ rụng
xuống miệng lũ cá hương (lũ cá hương
ai nuôi
cũng cho- rồi chúng hóa rồng!)
 
và rằng
người đời
chả ăn thịt cá hương- ôi
trái tim tôi chìa ra tuyền cành
nhánh
trụi lá/ hẩm hiu
từng cọng gân máu hóa khẩu súng lục
 
giề tri thức - ôi
không thuộc
thời đại này/ muốn hiểu
phải thường xuyên dắt chó đi tuần đêm
yah
nắm đấm bọc nhung
từ bọn bá quyền- tàu cộng
cực mềm
tuy nhiên- khắp nẻo đường đất
việt/ đau điếng
 
không lẽ quy toàn bộ trách nhiệm
lên quá khứ/ lũ hậu duệ
yah- đàn bà việt nam
là điều gì đấy kỳ bí
với tính lịch sử
cận đại
tôi canh tiếng xe lửa chạy trên đường ray
mỗi ngày
hòng tăng thêm sự bí ẩn nơi tôi
 
và này
.. cái ngày
tôi tượng hình/ chả hiểu
sao
cứ tồn tại miết!
..
VƯƠNG NGỌC MINH.
  

Friday, November 4, 2022

THƯ GỬI BẠN HIỀN ĐỖ TIẾN ĐỨC NHÂN ĐỌC ‘TẬP TRUYỆN NGUYỆT THỰC’

Nguyễn Đắc Điều

Tác phẩm Nguyệt Thực
 
Ông,
Tôi mới vừa đọc xong tập truyện ngắn Nguyệt thực của ông. Nói một cách công tâm, ông chọn truyện và xếp thứ tự các truyện trong tuyển tập này rất tinh tế, khá “bài bản”.
Truyện Hậu Trường như là kéo cánh màn nhung một rạp hát để giới thiệu tổng quát cuộc đời mà mỗi người được thủ một vai diễn trong hý trường. Ông viết ra những cuộc đời tiêu biểu qua đời sống thực của các nhân vật, có nhiều sự thực mà chính tôi cũng không tưởng tượng là có thể xẩy ra trên cõi đời này. Nhưng ông lại cho đó chỉ mới là một phần của sự thật và tất cả các sự thật trên đời này đã bị che phủ bởi nguyệt thực. Không biết có phải đó là lý do mà ông đã xếp truyện Nguyệt Thực vào phần chót để “đóng màn nhung” cho tập truyện, và cũng để nhấn mạnh những sự kiện độc giả đã đọc qua các truyện trước, cho dù có “ghê gớm ngoài luồng” đến đâu thì mới chỉ là một phần của sự thật Hậu Trường đời thường.
Cho nên thú thật với ông, khi đọc tôi thấy tình đời sao mà thảm quá!!!, Tuy nhiên nhiều  lúc cũng thấy “đã quá” ấy chứ!!!
Hậu Trường là câu chuyện vượt biên và định cư của diễn viên cải lương Vĩnh Hảo đã “có duyên” sống chung tại trại tỵ nạn Bidong cùng với bà Hòa và người con gái 14 tuổi tên Tâm. Bà Hòa chết vì đẻ khó trong điều kiện thiếu phương tiện y tế của trại tỵ nạn, nhưng nguyên nhân chính là tham nhũng. Trong khi chung sống tại trại tỵ nạn một tình cảm luyến ái đã xẩy ra giữa kép Vĩnh Hảo và bà Hòa và sau đó là tình phụ tử của diễn viên cải lương Vĩnh Hảo với cô Tâm. Trên đất tạm dung, ban ngày kép Vĩnh Hảo và cô Tâm sống trên danh nghĩa là bố con cùng nhau đi hát cải lương để kiếm sống đồng thời có cơ hội bộc lộ tình cảm luyến ái qua các trích đoạn cải lương Lương Sơn Bá –Chúc Anh Đài hay Chuyện tình Lan và Điệp; nhưng ban đêm, cô Tâm đã chủ động thủ vai người tình “quậy phá” kép Vĩnh Hảo. Ngược lại, kép Vĩnh Hảo cũng phải đóng vai “người hùng” nửa đường phải quay ngựa trở về để giữ được lời hứa với bà Hòa là sẽ săn sóc cô Tâm như con. Rồi… án mạng xẩy ra. Cô Tâm mang tội giết chồng Mỹ, kép Vĩnh Hảo quay trở về trại Bidong để sống lại với quá khứ và tự tìm lấy cái chết để mong hai linh hồn Vĩnh Hảo và Hòa chung sống an lành trong cuộc đời khác. Nhưng, thay vì đến với cái chết, tình đời cũng lắm chuyện trớ trêu, kép Vĩnh Hảo lại khám phá ra được tình yêu đích thực mà khi mải mê “đóng tuồng” ông đã không phân biệt được giữa Hậu Trường và cuộc đời. Một câu nói của bà Monique Nguyễn: “Cái con ngựa cái đó… à à… em xin lỗi, cái cô con gái đó không ngờ nó chơi ngon quá, phải không anh” đã đưa kép Vĩnh Hảo ngộ ra và tính chuyện quay trở về lại Mỹ.
Đoạn ông viết về cuộc đối thoại giữa ông Thầy sư, bà Monique Nguyễn và ông Vĩnh Hảo về việc trả giá cầu an cho bà Hòa thật tuyệt vời. Không biết ông Thầy đang đóng vai nhà sư hay kép Vĩnh Hảo từ bỏ vai Điệp để đóng vai người thường. Ai là Sư thật, ai là người đóng vai Sư. Thật đúng là Hậu Trường của cuộc đời!!!. Những đoạn đối thoại giữa bà Monique Nguyễn với kép Vĩnh Hỏa rất dí dỏm hài hước.
Gia đình ông vượt biện và đã tạm trú tại trại tỵ nạn Bidong, bà Phương Nga đã sinh cháu gái Phương Đông, mà tôi thường gọi cháu bằng cái tên thân mật Bi-đông, tại đây nên chắc hẳn ông có nhiều kỷ niệm và có lẽ ông đã xử dụng kinh nghiệm sống để làm chất liệu diễn tả mọi góc cạnh sinh hoạt của trại.
Tôi cứ thắc mắc một chi tiết nhỏ ông viết là người ta đã đem các xác chết cuộn trong poncho để dưới sân cờ trong trại gia binh, rồi gọi vợ con tử sĩ ra nhận xác. Thật sự có chuyện thê thảm đến thế sao!!! Trước cảnh tượng đó, làm sao con người còn có tinh thần để mà chiến đấu trong khi hàng ngày phải trông thấy xác chết của tử sĩ, của đồng đội của mình.  Nếu đó là sự thật thì không biết các cơ quan Chiến tranh chính trị, Tâm lý chiến làm những công tác gì và ở đâu?
Nói thật lòng khi thấy ông dọn nhà từ Los Angeles xuống Nam Cali tôi cứ thắc mắc làm sao ông bỏ được căn nhà mà ông đã gắn bó có biết bao nhiêu là kỷ niệm của hơn 30 năm qua khi ông từ trại Bidong qua Mỹ: này là khóm hồng, này là dàn hoa thiên lý cho tới hồ sen do chính ông xây “cho nàng rửa chân”, đó chính là nơi ông chụp hình bà Phương Nga để làm bìa cho cuốn truyện “Vầng trăng trong mưa” do Thời Luận ấn hành năm 1993. Căn nhà đó là nơi phát hành Giai phẩm Xuân Thời Luận đầu tiên, mấy năm sau mới tổ chức tại nhà hàng, và cũng là nơi phát giải thưởng thi Viết về nước Mỹ do sáng kiến của ông bố vợ tôi là cụ Đỗ Cường Duy, và cụ đã đưa tặng ông một ngàn mỹ kim để làm giải thưởng. (Sau cách mạng 1963, nhà văn Chu Tử ra báo nào thì bị đóng cửa báo đó nên ông bố vợ tôi đã bỏ tiền để nhà văn Chu Tử ra báo Tiến sau khi báo Tiền bị đóng cửa. Báo quán đặt tại tư gia số 80 đường Trần Quý Cáp). Nhạc gia cố luật sư Phạm Nam Sách là người trúng giải thưởng cuộc thi viết này. Báo Thời Luận đi tiên phong đặt giải thưởng thi viết về nước Mỹ, nhưng có lẽ vì khởi xướng quá sớm nên chưa “lôi cuốn” được nhiều độc giả hưởng ứng; Việt Báo tổ chức giải thưởng sau lại “thành công”, âu cũng là…”số trời”, ông nhỉ!!!
Làm sao tôi quên được căn nhà đó đã là nơi tụ họp của các bạn Quốc gia Hành chánh khóa 6 và khóa 7, là nơi ông đã giới thiệu thi sĩ Nguyễn Chí Thiện với báo giới Nam Cali, là nơi ông từng tiếp các chính khách, nghệ sĩ quá nhiều nhưng tôi chỉ còn nhớ các cụ Trần Văn Ân, cụ Phạm Đình Liệu, cụ Minh Lý Đỗ Vạn Lý, Luật sư Nguyễn Hữu Thống và Nhà báo Bùi Tín, Đạo diễn Hoàng Thi Thơ, Tài tử Trần Quang lần đầu tới Mỹ, tổ chức ra mắt sách của Nhà văn Duy Lam, của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng… cho tới các giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, giáo sư Steve Young mỗi khi tới Nam Cali sinh hoạt.
Ngôi nhà không bao giờ ngớt tiếng cười của đồng môn, tiếng bàn thảo sang sảng của các yếu nhân về những vấn nạn quan trọng của đất nước. Bây giờ ông đã tái định cự tại một nơi được ông mô tả là “hoa chăm cỏ xén lối thẳng cây trồng” nhưng sao có được cái không khí thâm tình của căn nhà West 31 Avenue Los Angeles xưa kia. Nhưng chắc ông hẳn chưa quên lúc Phương Đông và Mai Ly bắt đầu biết đi biết nói cho tới lúc theo ông đi phát báo, rồi đánh máy bài viết của các bác Phạm Nam Sách, Nguyễn Sỹ Hưng, Nguyễn Hữu Thống, Trần Văn Sơn, Nguyễn Huy Hân,…Hồi đó tôi cũng còn làm đại diện báo Thời Luận để giúp ông ra một ấn bản tại San Diego, dễ thường cũng sống được vài năm, ông nhỉ.
Cho nên có những lúc ông ”nhớ nhà châm điếu thuốc” lái xe về thăm lại nơi xưa chốn cũ, còn tôi thì “ Đôi khi khoảnh khắc cũng là thiên thu”, ông ạ.
Nguyệt Thực là một truyện đóng vai “hạ màn” cho tuyển tập có cốt truyện hết sức ly kỳ. Ông kể chuyện của nhân vật Phạm Thắng từ khi di cư vào Nam đi bán báo lấy hoa hồng kiếm sống cho đến khi đi cải tạo, trốn trại rồi sang định cư ở Mỹ. Truyện rất nhiều tình tiết éo le như một cuốn phim trinh thám và cốt truyện rất lạ lùng. Có thể coi Nguyệt Thực như là một loại “Ngàn lẻ một đêm của người Việt tỵ nạn”, nên rất “huyền thoại”. Tôi đọc mà cứ như đọc truyện hoang đường và cứ mơ tưởng mình là nhân vật Phạm Thắng, được ông kể ở ngôi thứ nhất. Ông Hoàng đi trốn trại tù cải tạo cứ như là đi đóng phim kiếm hiệp, không những thế khi đến bến bờ tự do còn được ân ái với cô lái tầu vượt biên.
Định cư tại Mỹ lại được bạn cùng trốn tù, nay trở thành đại gia ở Việt Nam, mang sang Mỹ 3 cô gái trẻ đẹp để cho bạn được quyền lựa chọn 1 cô lấy làm vợ. Chuyện ông kể có nhiều chi tiết thật ly kỳ, lôi cuốn tôi đọc một mạch không ngừng nghỉ. Ông xếp loại những người đi xe hơi theo hiệu xe, như người làm thương mại phải đi xe W vì như vậy mới làm ăn khá theo chữ “Win”, còn những người chống cộng phải đi xe Audi vì có 4 vòng tròn chữ O tượng trưng cho 4 Không. Thương gia mà đi xe “L” thì chỉ có Loose hay Lost mà thôi. Tôi thấy mấy bô lão đều đi xe KIA, ông ạ!!! Vì các bô lão đó đều đã “chết trong khi hành động” (Kill In Action). Tôi nhớ lại vào đầu thập niên 70 ở Việt Nam, các cô gái thường đi xe Audi vì theo khẩu hiệu “Không học và Không sống ở Việt Nam, Không lấy chồng và Không sinh con”. Khi lấy chồng, các “nàng” đi xe Fiat, có người “diễu” là “For You All Time”, ông nghĩ sao?
Ông cũng nhận xét mấy bà mặc hàng Saint John khi cởi áo ra thì thân thể nhão nhoét, có nước vứt vào thùng rác chứ không như khi lột vỏ trái chuối còn có thể ăn ruột được. Sao ông tả “chân” vậy, và tôi thấy tội nghiệp cho mấy bà quá khi bị các đức ông chồng “vắt chanh bỏ vỏ”.
Ông còn cho mấy bà góa chồng thuộc loại pre-owned không thể đi thêm bước nữa nên phải giải quyết bằng cách “tự sướng”. Tôi có một ông bạn, một hôm được bà vợ cho biết sự thật là bà ta thuộc loại pre-owned rồi mới lấy anh bạn tôi. Bạn tôi chết điếng khi nghe vợ nói. Chắc bạn tôi không “lịch lãm” như thiếu úy Chuyên và có lẽ đã tiếc rẻ không giám dùng chiếc áo thung để xem vợ mình còn hay mất trinh. Cuối đời mà được vợ tiết lộ như vậy thì cũng phải “gậm nhấm dĩ vãng” mà “nín thở qua sông” nốt quãng đời còn lại, ông nhỉ. Cô Tuyết Hạnh nói trước khi cưới mà lại hóa ra hay đấy, ông còn phiền trách cái nỗi gì, để đến nỗi ông phải ly dị cô ấy.
Ông có nói với tôi khi mới tập tễnh viết văn hồi còn ở Hà Nội ông đã dùng bút danh Đằng Giao vì mê nhân vật kiếm hiệp này. Đằng Giao không những võ nghệ cao cường, nhưng ông thích nhân vật này nhất vì Đằng Giao… có nhiều vợ đẹp và nhiều người yêu. Sau này khi di cư vào Nam ông đã tặng bút danh này cho anh bạn họa sĩ dùng để ký tên trên những họa phẩm của anh ta. Bây giờ đọc xong tuyển tập Nguyệt Thực tôi mê nhân vật Đỗ Tiến Đức quá!!! Ông có thể cho tôi mượn tên Đỗ Tiến Đức làm bút danh như ông đã “cho” bút danh Đằng Giao, được không?
Có một chi tiết ông viết về “nhân vật tôi” đi bán báo Tự Quyết để có lời 6 xu cho một tờ báo, không ngờ đó là tờ báo chính quyền không ưa nên công an đã bắt giam vào bóp Catinat. Cùng bị bắt giam với ông có người băn văn thân thiết tên là Đặng Trí Hoàn, sau này là nhà thơ Hà Huyền Chi tên tuổi lừng lẫy. Công an đã cho “nhân vật tôi” nếm hết đòn “tầu thủy” lại đến đòn “tầu bay”. Sao công an lại dùng đòn hiểm với giới trẻ thế, tôi tự hỏi không biết những ông chủ báo “người lớn” thì được nếm đòn gì? Thế ra chính quyền Ngô Đình Diệm đã tàn ác với con trẻ từ những năm giữa thập niên 50 rồi, ông nhỉ!!!
Ông,
Bạn bè nhận xét ông thông minh, có đầu óc hài hước và có nhận xét rất tinh tế trong từng chi tiết về mọi việc. Đúng như “bắp”!!!
Tôi dùng chữ của Lôi Tam để gọi ông là “bạn hiền” đấy, ông Lôi Tam bảo, ngày ông trấn nhậm ở Phú Yên trong 4 món “tứ đổ tường”, ông không “chơi” một món nào cả. Nhưng ông đều tham gia với anh em trong mọi cuộc chơi với tư cách là “quan sát viên”. Nửa đêm bạn bè “đốt hết thuốc”, ông đều lái xe gắn máy một mình đi trong đêm lạnh mua thuốc cho anh em hút. Ông không tứ đổ tường, sao ông tả rất rành mạch tình trạng của người nghiện thuốc lá kinh niên đến thế, có phải là do óc quan sát chăng, còn những… chuyện khác thì theo tôi có lẽ ở cái tuổi trên dưới 8 bó ông viết để… “tự sướng” chăng? hay ông viết cũng do quan sát chứ đâu phải là do “kinh nghiệm bản thân”. Nhưng tôi lại “chịu” cách diễn tả của ông, vì đọc văn ông mà cứ như được thưởng thức những “xen diễn” sống động trên màn ảnh trước mặt làm tôi cũng “sướng lây” mà say mê đọc tiếp để theo dõi…”câu chuyện”. Còn các độc giả nam nữ thuộc các lớp tuổi khác thì tôi không biết họ có cùng một xúc cảm như tôi hay không?, hay họ cảm thấy hơi bị “nhột nhạt”?.
Ở truyện Hậu Trường ông cho các nhân vật đều phải đóng kịch những diễn tiến của sự việc, còn ở truyện Nguyệt Thực ông cho các nhân vật của ông thể hiện từ suy nghĩ ra hành động theo từng diễn biến tâm lý của mỗi nhân vật trong mỗi hoàn cảnh. Tất cả các truyện đều không có phần kết, ông để cho độc giả tự viết lấy kết luận cho mỗi truyện. Danh từ đương đại gọi là “kết luận mở”. Có lẽ đó là cách dàn dựng câu chuyện rất riêng của ông. Từ kết truyện của cuốn truyện dài được giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc Má Hồng cho đến những truyện trong tập truyện ngắn Nguyệt Thực tôi thấy không hề thay đổi, kể cả phim Yêu khi ông tự viết truyện phim :
-“Tôi bước xuống nhìn chiếc xe ngựa lọc cọc chậm chậm chạy vào thị trấn. Nắng chiều bàng bạc như ánh trăng. Một bụi sim dại bên đường phất phơ hai bông hoa tím tả tơi phơ phất. Tôi nhìn trời sẽ gọi: “Thanh Bình ơi, lại đây với chú” (đoạn kết của Má Hồng)
-“Diễm lảo đảo khuỵu chân. Ngồi ôm thành mộ ủ rũ, yếu đuối. Đạt lùi lại, bước ra con đường nhỏ. Máy di chuyển lên cao. Đạt dừng chân, quay nhìn Diễm một lần nữa. Máy lên cao nữa, Đạt lủi thủi đi giữa nghĩa trang. Máy lên cao khỏi giữa ngọn thông, Đạt chìm khuất dưới đó. Cảnh nghĩa trang mênh mông với những ngôi mộ im lìm” (40 giây chót của Phân cảnh phim truyện Yêu)
Nhiều người cho rằng ra hải ngoại ông làm báo nên văn ông là văn báo. Tôi thấy không hẳn đúng. Văn ông trước sau như một, từ trước 75 cho tới ra hải ngoại. Với cách đọc truyện của “người nhà”, tôi thấy ông không chủ ý muốn gọt rũa từng câu văn như bút pháp của Thạch Lam, mà ông muốn viết theo nguồn cảm hứng tự nhiên, và ông dẫn chuyện bằng những chi tiết cụ thể như những nhà viết phóng sự vì vậy giọng văn của ông có hơi hướm của văn báo. Tôi nghĩ ông không coi trọng nắn nót câu văn từ chương rỗng tếch, mà ông coi trọng thực chất nội dung câu chuyện, là những chi tiết để diễn tả tâm lý nhân vật. Ông viết truyện giống như Nhất Linh trong những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Chỉ có một điểm khác hẳn Nhất Linh là tất cả những truyện ngắn của ông đều có thể chuyển sang phim nhựa một cách dễ dàng mà nhà đạo diễn không cần phải viết phân cảnh. Tôi thấy không phải ông viết truyện ngắn mà ông viết phân cảnh phim truyện thì đúng hơn. Mà nói cho cùng, trong các bộ môn nghệ thuật ông mê làm… nhà đạo diễn nhất, hơn là làm nhà văn, làm nhà báo, làm nhà thơ, nhưng vì không có đủ điều kiện để thực hiện phim ảnh nên ông đành phải viết truyện ngắn để …“giải khuây”.
Nếu Má Hồng đã được giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc thì Nguyệt Thực sẽ được giải thưởng gì đây? Tôi nghĩ tập truyện ngắn Nguyệt Thực “trưởng thành về nội dung”, “đi xâu vào những tình tiết” hơn Má Hồng nhiều lắm, nên sẽ không có giải thưởng nào xứng với Nguyệt Thực cả. Nếu có giải, thì là  “Giải thưởng Đỗ Tiến Đức” cho tập “Truyện Ngắn Rất Đỗ Tiến Đức” là tập truyện ngắn Nguyệt Thực.
Thư đã rất dài nhưng vẫn chưa nói hết ý nên tôi sẽ text message thêm cho ông nhé. Chúc sức khỏe bà Phương Nga cùng 2 cháu Phương Đông và Mai Ly.
Nguyễn Đắc Điều

 

  

Thursday, November 3, 2022

TIM TÔI...*

Duyên
 
Family reunion. Tấm ảnh cũ 42 năm
Tùng, Duyên, bé Thiên Di
 
gửi T
 
vẽ trái tim tôi
mầu đỏ nhạt, hay hồng...
đã từ lâu, tôi nghĩ
tim. chỉ để yêu thôi
thỉnh thoảng. để giận hờn...
nay. sao tim bối rối?*
thủa mới biết yêu
tim tung tăng
tim hờn giỗi
yêu chàng
yêu đời
yêu gia đình
yêu cả tha nhân...
chiến tranh xa...
chiến tranh gần...
cướp đi người thân yêu
tim biết khóc!
chiến tranh tàn
tim lìa xứ. tim đau...
tim vá khâu. nơi xứ lạ. quê người
lập lại cuộc đời
hai bàn tay trơ trọi
khóc. cười
ngậm đắng
với chia xa...
xa nhau...
tim mong mỏi. đợi chờ
một ngày mai, tươi sáng
năm năm...dài
tim nhắm mắt
tiếng thở dài
đêm tối. bấp bênh...
ngày cuối thu
một năm đã rất xa...
có chuyến bay đêm
mang người tỵ nạn đen gầy
về thành phố mới
 
từ một trại đường bộ. ranh giới Thái Lan, Cam Bốt, Việt Nam
có địa danh quân sự NW9
cư dân gọi tên: địa ngục trần gian
qua những bãi xương khô
the killing fields. những sọ người không tên tuổi...
bãi mìn chơ vơ
chờ những bàn chân vô tội
Khmer Rouge, lính rằn ri bắn giết từng ngày
khổ đau. chất ngất...
người khách cuối cùng
bước ra khỏi đêm dài
của chuyến bay đêm
hành lý trên tay
một bọc nhựa ICEM
áo khoác ngoài rộng, mỏng
chưa đủ ấm!
tuyết đã rơi vào cuối thu
ngày lập đông, giá lạnh
có hai đôi mắt bồi hồi
tìm nhau
hai trái tim mầu đỏ hồng
ngập ngừng. thủ thỉ
trong đám người lao xao...
thương yêu lẫn hiếu kỳ
mở vòng tay chờ đón...
và một đứa bé, bốn tuổi ngây thơ
từng ngày. đợi bố
hôm nay khóc, không muốn ra phi trường
em đang xem Charlie Brown, the great pumpkin 🎃
đặc biệt cho ngày Halloween
em chờ đợi mãi...
lạ lẫm. em nhìn
người đàn ông lạ
ai cũng bảo:
Bố con đây...
 
DUYÊN
10.31.2022
 
*pacemaker được cài cho tim vào tháng 8. trái tim nay đã biếng lười, không buồn đập nhịp.
 

TRANH TRƯƠNG VŨ


THẢNH THƠI TRONG CHIỀU THU
Sơn dầu trên bố, 30” x 40”
thực hiện tháng 10 năm 2022.

Wednesday, November 2, 2022

DỨT

Nguyên Yên
 
Đi. Tranh Ann Phong
 
đóng chặt cánh cửa,
để lại tất cả sau lưng
như thời nào đẩy mái ngược dòng
ra đi nhắm mắt hòng thoát
 
đóng chặt cánh cửa
nhốt từng giấc mơ sao trời
khóa trái mọi trối trăn
những hồn ma hệ lụy
 
đóng chặt cánh cửa và quăng đi chìa khóa
chiếc rương của một thời châu báu
bầu rượu tràn hớp say
căn nhà có huyễn tưởng bóng mát
 
đóng chặt cánh cửa
vứt bỏ mẩu quen thuộc cuối cùng nào sót lại
ngoài kia những chiếc lá ố vàng đang rụng
mùa thu cũng bỏ đi
 
đi như một linh hồn rút lui không định trở lại
đi chuyến nhẹ hẫng về mai sau
 
cầu cho trót lọt
 
NGUYÊN YÊN
 

Tuesday, November 1, 2022

CÁNH CHIM KHÔNG TRỞ LẠI

Lê Chiều Giang
 
Chim én ở San Juan Capistrano
 
     “…Một tiếng chim thôi cũng đủ làm phai
     Nhạt bớt sắc xuân trong vườn sớm mai
     … Làm sao giữ cho hương đừng bay?…”
                               [Nhạc Nguyễn Đình Toàn]
 
Nhớ lại những ngày tháng khi tôi chưa hết ngỡ ngàng với sự trống vắng, còn lao đao, và sợ hãi khi phải sống một mình. Một bạn rất thân với gia đình nhắn vài câu qua phone dặn tháng sau Anh sẽ ghé thăm mời tôi Cafe.
 
Lời mời mọc tuy nhiệt tình, nhưng lại hơi nghiêng nghiêng, và chẳng có gì cân xứng: Anh sẽ bỏ chuyến đi Âu Châu, bay xuống San Diego từ DC, để chúng tôi ngồi Cafe với khoảng 4,000 cánh chim bay trở về chốn cũ. Nơi hàng năm như một điểm hẹn sum vầy, của một loài chim không bao giờ quên nơi đã bay đi. Phố Capistrano, California.
 
Nếu Anh chỉ đơn giản nhắn tôi ra ngồi với, chắc tôi đã hăng hái lái xe 60 phút, chạy tới vùng Capistrano, cafe cùng Anh, tìm lại chút ấm áp của những thâm tình cũ.
 
Nhưng, có ai hủy bỏ nguyên cả chuyến Châu Âu thú vị chỉ vì California, nơi hàng năm vào cuối tháng ba , có những cánh chim trở về từ tứ xứ? Và lại càng không thể bỏ London, Vatican, Paris...Chỉ bởi vài ly cafe nhỏ cùng tôi. Sự nói năng quá đà, đã khiến tôi phải từ chối ly cafe chắc là cũng sẽ rất thú vị, mặc kệ Anh hụt hẫng với lời mời bổng bay, theo gió.
 
Cho đến 24 năm sau, tôi vẫn chưa có ý tới thăm thành phố với ngàn ngàn cánh chim, mà hàng năm chúng rủ nhau bay trở lại chốn xưa này. Tôi vẫn cứ thích lắng nghe tiếng hót lẻ loi của vài tiếng chim trong gió. Tôi dõi theo những cánh mỏng lượn bàng hoàng, trên bầu trời ảm đạm rét mướt, cuống cuồng trốn xa những bão bùng, hay những cơn chuyển mưa vần vũ... Chim bay tả tơi, chim bay bạt mạng không phương hướng trên trời cao, vẫn dễ làm tôi xúc động hơn nhìn một tỷ cánh chim, đúng ngày đúng tháng, chen chúc, lấn xô, bay trở lại nóc nhà thờ cổ ở phố Capistrano.
 
* * *
 
Nhưng cũng bởi đã có tiếng kêu bi thương của một đêm xưa, như vẫn còn vang vọng mãi cùng tôi trong rất nhiều đêm vắng. Tiếng kêu của chim mẹ, tiếng gào của chim cha khi biết ra, nơi chốn ấm êm chờ ngày chào đời của con mình đã bị nát tan, vãi vụn.
 
Một sáng làm vườn, khi cần tỉa bớt những lá cành cho gọn ghẽ, chẳng biết Anh vụng về ra sao, đã làm tổ chim rớt xuống. Những trái trứng mong manh, màu xanh lá cây đẹp óng ả, mượt mà bị dập dạp, rạn nứt nằm bơ vơ trên cỏ.
Tôi giận Anh vô ý đã đành, suốt cả buối chiều tôi ngồi im xót xa, buồn rầu thương hại những hồn chim chưa kịp ra đời đã biến mất, về đâu?
 
Đúng nửa đêm, tôi nghe tiếng bay chấp chới của đôi chim rạt rào trên mái ngói. Chúng chao lượn rất nhiều vòng quanh nhà chúng tôi với những khóc than, vừa dữ dội, vừa thê lương. Tiếng chim la khàn đục, rên siết lời tiếc thương trong đêm vắng. Như một ngụ ý chúng muốn nói cùng Anh, chúng biết ra ai đã làm cho tổ chim tan tác.
 
Chưa bao giờ tôi nghe chim khóc gào thảm thiết như thế. Tiếng chim luôn như một khúc nhạc, khi êm đềm, lúc trầm bổng, líu lo. Nhưng đêm nay, chim đang la hét hãi hùng…Tiếng gào xé giận dữ, đầy cuồng nộ như muốn bật tung mái nhà, trốc hết gốc rễ của cây lê xanh tươi, nơi mà chúng đã chắt chiu từng chút cỏ rơm, miệt mài xây cất, thu vén kết đan, trang hoàng cho một tổ ấm mới.
 
Tôi thấy rợn người cùng với niềm cảm thương và sợ hãi. Chỉ hai con chim nhỏ vẫy vùng, đập cánh rào rạt trên mái nhà, mà tôi tưởng như có hàng triệu cánh chim đang cùng nhau réo lời oán hờn, trách móc.
 
* * *
 
Tôi dậy rất sớm sau những chập chờn, nửa thức nửa ngủ đêm qua. Buổi sáng tinh khôi líu lo với nhiều tiếng chim hót, vẫn không làm tôi nguôi ngoai lời ai oán của đôi chim nhỏ suốt cả đêm dài. Ngồi café dưới gốc lê, tôi ráng kiếm tìm chiếc tổ chim rơi và những trái trứng vỡ. Nhưng chẳng có một dấu tích nào còn để lại, ngoài những chiếc lá vàng đẫm hơi sương nằm hững hờ trên cỏ ướt.
 
Chim bay ngàn phương, rồi chim bay đi mất.
 
Tôi sẽ giữ gìn,sẽ chăm sóc cẩn thận hơn cho gốc lê xanh tươi. Bởi tôi biết rằng, không chỉ mình tôi, cả cây lê cũng nhớ chiếc tổ chim, nhớ chiếc giường êm ái nhỏ đã từng nương nhờ, từng nằm gá ghép mỏng manh, bé xíu bên những cành lá đong đưa.
 
Cây lê cũng  như tôi, sẽ nhớ chút hạnh phúc của lứa đôi khi gom góp cỏ rơm về làm nên tổ ấm. Và sẽ rất nhớ những dập dìu, những mong đơi hân hoan cho một gia đình với những tiếng chim chíp kêu, bé bỏng và non nớt…
 
Một trăm năm nữa, chưa chắc tôi đã thiết tha tìm gặp ngàn ngàn cánh chim bay về phố nhỏ Capistrano
 
Nhưng mỗi sáng cùng với chút nắng sớm, tôi vẫn café, vẫn đợi chờ bên gốc lê xanh mướt,  tiếng hót nào thê thiết, chơi vơi… Dù biết rằng sẽ chẳng còn có bao giờ đôi chim quay trở lại.
 
LÊ CHIỀU GIANG
 
*Nguồn: từ trang Biển Khơi của Vũ Hoàng Thư