Wednesday, January 6, 2021

KHÔNG GẶP NỮA

Huỳnh Liễu Ngạn
 
Nửa khuya. Tranh Đinh Trường Chinh
 
không gặp nữa từng sớm chiều qua vội
tháng năm dài cơn mộng cũ trôi đi
từng ngõ ngách đã vờn sông núi lại
con đường về hoài vọng cũng lâm ly
 
bóng mẹ đổ đường ghềnh bên xóm chợ
hai chân nghèo níu vai nặng qua truông
sông với nước cùng đời người trôi mãi
bóng mẹ gầy níu vũ trụ qua mương
 
không gặp nữa mà cần chi gặp nữa
một mối tình đã hẹn biển thề non
cứ như thế để đau thương cho trọn
rồi ra về cùng mặt đất héo hon
 
cứ như thế nhìn mưa bay gió bão
một cuộc đời lỗi đạo với trầm luân
lạy mẹ già sớm chiều ra ngõ đợi
cùng với tình xin lỗi một thanh xuân..
 
HUỲNH LIỄU NGẠN
 

Tuesday, January 5, 2021

NGƯỜI YÊU CỦA KẺ NGHÈO

Tố Nghi
 
Nguyên tác "Hinja no koibito" của Kawabata Yasunari
Người dịch: DTTM Quỳnh Chi
 
 
https://www.rongmotamhon.net/static/chi ... engheo.htm
 
Hồi còn nhỏ xíu như cục kẹo, tui được má dạy đọc, viết và chút đỉnh toán vỡ lòng.Vì hoàn cảnh, má hổng được đi học nhiều như dì hai, nhưng cách nào đó bà đã tìm ra phương pháp sư phạm riêng, thích hạp với đứa con sanh vào giờ thứ 25 ấy : Không học bảng mẫu tự rồi đánh vần con chữ, nhưng đọc thẳng. Má chỉ vào chữ đọc trước để con gái đọc theo. Đọc chữ xong thi đọc tới câu, những câu ngắn dễ hiểu. Rồi thì chữ biến mất, chỉ còn câu thôi, và câu ngày càng dài thêm theo khả năng hấp thụ. Chi chớ khả năng của qúi nữ vốn tiềm tàng, chỉ 6 tháng phù du, nó đã có thể mở sách đọc ron rót, tuy thường khi hổng hiểu sách muốn nói gì. Tới đây thì đọc sách không còn thuần sư phạm nữa, nhưng là giải trí : Đọc truyện cho má nghe.
 
Thời gian này tui đọc các tác phẩm của Tự Lực văn Đoàn. Sau bữa ăn tối, cả nhà quây quần tại bàn ăn có ngọn đèn măng-sông chiếu sáng. Góc bên này tía làm sổ sách cho hãng, các anh chị học bài, góc bên kia má khâu vá và nghe tui đọc truyện. Chỗ nào con ấm ớ đoán không ra âm, thì má ngừng tay kim, ngó vào trang sách mà dạy tiếp. Hai nhà văn hàng đầu của má là Nhất Linh với Đoạn Tuyệt và Khái Hưng với Gánh Hàng Hoa, hai truyện dài xã hội kinh điển, theo đúng ý hướng chủ trương đả phá hủ tục và khai phóng con người trong nghĩa nhơn bản dân tộc. Nhưng những điều này to tát quá, má hổng hiểu tới, chỉ thấy đây là hai truyện rất thực, rất hay, tình tiết cảm động và kết thúc có hậu. Truyện đọc tới đọc lui dám đã rành rẽ tới thuộc lòng, nhưng cách chi không hiểu nổi, má vẫn tiếp tục nhỏ lệ thổn thức vì ngang trái thương tâm. Từ đầu bàn bên kia, đám con bà không để ý, nhưng tía lắc đầu tủm tỉm cười. Có hỏi tới thì ông nhún vai trả lời "Ờ, đờn bà". Má khóc vậy miết rồi hổng ai thắc mắc nữa !
Sau Tự Lực Văn Đoàn, quý nữ cắp sách vô trường, học ít chơi nhiều vì chương trình tiểu học hổng có chi để học ráo. Lúc này nhà đã dọn về căn phố mặt tiền đường Bến Vân Đồn day mặt ra mé sông Cầu Ông Lãnh, tía má mở tiệm đồ gỗ. Đồ gỗ thô chưa đánh verni, được khuân vác từ tiệm xuống ghe thuyền đậu bên bãi, chở thẳng về lục tỉnh. Buôn bán bận rộn nên việc văn hóa giáo dục qúi nữ được tía má giao lợi cho anh Hai. Anh Hai có uy nên nó sợ khiếp vía, dù không bị quở phạt bao giờ. Khi này anh còn phải kèm hai đứa anh họ theo lời yêu cầu của dì hai - vì học bạ của chúng từ từ tuột dốc - Con qúi nữ nghe anh giảng bài mà chán nản quá trời, rồi nó bắt đầu ngọ ngoạy tới chia trí nhị vị huynh đài đang căn me chờ giờ "ra chơi". Anh hai canh chừng miết hổng xong bèn lôi sách ra cho em bận rộn đọc mà đừng phá bỉnh nữa.
Sách là những tạp chí nguyệt san bán nguyệt san mua thẳng từ tiệm hay qua đường bưu điện. Chuyện anh hai, một chuyên gia khoa học, thinh không bỏ đám phương trình định luật, giữa giờ nhảy sang đọc văn chương, là vì... anh đang yêu một em gái văn khoa - giả như cô học luật, chắc giờ tui dám cũng có bằng cấp luật, hổng dỡn - Đây là thời gian tui day sang đọc Bách Khoa, Sáng Tạo, Văn, Phổ Thông và cả Tin Văn. Khổ giấy của Bách Khoa và Sáng Tạo nhỉnh hơn các tạp chí khác  Sáng Tạo, Văn nghiêng hẳn về văn chương nghệ thuật. Tin Văn đậm mùi văn học xã hội (y hình thiên tả nữa không chừng). Bách Khoa, Phổ Thông là tạp chí thường thức y chang Reader's Digest. Sau này thỉnh thoảng còn thấy cả Giao Điểm. Rồi đọc cái chi trong trỏng ha ? Thưa coi hình bên ngoài và đọc đối thoại bên trong
Bìa của Văn mới có hình vẽ hay hình chụp tùy chủ đề, các tạp chí còn lợi tuyền những tựa đề truyện và tên tác giả thành hổng bắt mắt lắm. Nội dung bên trong thì... có đọc cũng hổng hiểu chi, ngay cả đối thoại là phần dễ nhứt.
Vậy chớ... có hai truyện tuy hổng hiểu nhưng nhớ miết tựa: Thác Đổ Sau Nhà và Ngàn Cánh Hạc. Cả hai đâng trong báo Văn, và cả hai đều đoạt giải thưởng văn học.
Thác Đổ Sau Nhà của Võ Phiến, nghe nói được giải văn học tổng thống, kể chuyện săn bắn đâu đó ở cao nguyên, săn cái chi và bắn được cái chi thì độc giả ngó hổng ra, đọc đối thoại cũng hổng biết thêm chi tiết, một chập sau nàn chí anh hùng, nó bèn đóng sách lợi đi bắn bi với lối xóm.
Ngàn Cánh Hạc của nhà văn Nhựt bổn có cái tên đọc hổng ra nên nhớ hổng ra. Truyện này đoạt giải Nobel, và Nobel là văn học thế giới, danh giá lắm lận, tới nỗi Việt nam mình, ngay cả Nhất Linh Khái Hưng của má, chưa ai đủ khả năng để vào danh sách đề cử, nói chi tới nhận lãnh.
Dĩ nhiên Ngàn Cánh Hạc là truyện dài thòng, y hình chiếm gần hết cuốn tạp chí, lê thê những chữ là chữ, đối thoại cũng dài y chang thành hổng hiểu người ta đang nói với nhau về chuyện gì. Nhưng nhớ là nhớ cái bìa báo, có hình vẽ 2-3 con ngỗng bay, thành yên trí con hạc chính là con ngỗng. Chừ vẫn không rõ, chưa rõ, chữ Cánh Hạc tự nó đã có nhạc tánh, hay nhạc tánh này được liên tưởng từ câu hát "cánh hạc bay lên vút tận trời" nghe hoài trong nhạc Phạm Duy phổ thơ khi ấy. Mà rồi hổng một cánh à nha, nhưng tới ngàn cánh lận, nghĩa là ngỗng bay ngợp trời, hào hứng tới phấn kích luôn !.
Mấy chục năm sau, nơi đất khách, tui mới đọc Thác Đổ Sau Nhà, biết thêm được bác thợ săn là ông Huyện Toàn, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu rõ câu chuyện. Tác giả Võ Phiền dẫn độc giả lòng vòng tới chóng mặt luôn, mà rồi... hổng biết có bắn được con mồi nào không nữa lận. Còn truyện Ngàn Cánh Hạc thì nằm đóng bụi trong tủ sách, ngó nó một chập xong đóng tủ lợi.  Nó y chang một kỷ niệm ấu thời, ngây thơ hồn nhiên chưa tì vết, thành qúi giá lắm lận, nên cứ để ngắm thôi mà đừng chạm vào, lỡ “bể” rồi lại tiếc !
 
*
 
Vậy chớ có ôn kia giới thiệu truyện "Người yêu của kẻ nghèo" kèm theo chú thích, rằng tác giả của nó đã lãnh Nobel văn chương với Ngàn Cánh Hạc, thành tui đọc liền, coi ông nhà văn viết lách ra sao thế nào mà qua mặt luôn được Nhất Linh Khái Hưng của má.
Hồi đọc xong mật mũi táo bón nghệt ra, hỏi vậy chớ truyện ni nó là sao hở ôn, thì ôn ấy mới mần màn khai trí sáng cho đứa tuy thông minh nhưng hay tối hù đột xuất như vầy:
… Có hai loại đờn bà, loại là người yêu của kẻ nghèo, và loại là người yêu của kẻ giàu. Cô gái ấy nghèo thanh bạch, chọn người tài để chung thân, nhưng vì nghèo nên chỉ cặp được người nghèo chưa danh vọng. Họ đến với cô, được tẩy hóa, được thăng hoa trong hương chanh tinh khiết - nhưng đòi cam sau đó - Chịu ơn cô thì nhiều, nương tựa tinh thần hưởng lộc thân xác cô thì nhiều, nhưng không ai nắm tay để cùng cô đi lên, hoặc cùng cô ở lại trong hương chanh. Cô cam lòng, không đòi hỏi gì mặc dầu trong thâm tâm vẫn mong người ở lại, chịu nghèo cho dù cái nghèo được mỉa mai là "tươi rói như quả chanh”. Cô chỉ là bậc thang cho họ đạp lên và bỏ lại. Trong xã hội Nhật thời hậu chiến, cho dù thương quí sự thanh bạch, nhưng người ta sẵn sàng dẵm lên nó để mưu cầu danh vọng ... bla bla bla...
Con quý nữ ngu đột xuất mới vỡ lẽ cái bài học vỡ lòng sơ đẩng về hương chanh, rồi ngẫm nghĩ một chập đậng ra kết luận rằng : Thực tế cuộc đời luôn luôn đấng cay chua chát. Không rõ mỗi bận học xong một bài, cô gái yêu người người nghèo ấy có hiểu thêm chút nào không nữa lận, mà cứ lại vấp vào, bổn cũ soạn lợi y chang. Cô gái có hương chanh vì bôi chanh mỗi bữa, nhưng cô nghèo nên còn phải cắt trái chanh làm tư. Người tình nghèo của cô tuy thích hương thơm của chanh, nhưng phàn nàn vị chanh chua quá, không thể ngọt như vị cam. Cam mắc hơn, nhưng cô cũng ép lòng mua cam bôi cho anh hạp... khẩu vị.
Không rõ cô gái bôi loại chanh gì, chắc là chanh vàng citron rồi, vì truyện có nói tới lồng đèn vàng rực ánh chanh. Thực tế thì mình còn có một loại chanh khác, chanh xanh tức lime.
Chanh xanh thơm hơn chanh vàng, vỏ mỏng mọng nước hơn. Và sau này nhờ lai giống nên có loại thiếu hẳn hột. Mà thiếu hột vậy thì khó có màn ươm hột trồng chanh xanh.
Chanh vàng bự, vỏ dày, hột bự, mùi không thơm bằng. Ươm hột chanh vàng, trồng có lên thì lá chanh vàng dày và thiếu hương so với lá chanh xanh. Hồi nớ tía mua từ vườn ươm mang về cây chanh xanh, lâu lâu ăn gà luộc chấm nước mắm chanh gừng thì không quên rắc lá chanh vào cho dậy vị. 
Chẳng phải chỉ xã hội nhựt truyền thống nề nếp đã xáo trộn đâu, mà y hình toàn thế giới lận. Phụ khó là màn nhan nhản trước mắt thấy hoài hà, cũng bởi lòng dạ chúng sanh là đèn cầy trước gió, chừng gió mạnh cái tắt ngúm ngay. Rồi người ta đổ thừa đèn tắt vì yếu, mà thiếu ánh sáng nên mới phải kiếm cây đèn cầy khác, bự hơn, rực rỡ hơn và sáp có tẩm hương bắt mũi cho thêm xôm tụ. Có thể nào giải thích như vầy : Rằng tấm lòng ngay thẳng thiệt thà, cho dù cuộc dâu bể thế nào thì hương vẫn giữ lại và toả rộng xung quanh ? Đọc những chuyện phải suy nghĩ kiểu vầy thiệt là positive quá xá. Nó làm mình hướng thượng, rồi nhìn lại con người chính mình mà cố gắng sửa đổi, được nhiêu hay nhiêu cho xứng với tấm tình của "cố nhơn" chẳng may đã bị mình bội bạc.
Cái positive (hay ảo tưởng positive) tui tìm thấy trong phần kết truyện là... Người được yêu sau khi thành công, lương tâm động vọng nên - có lẽ tất cả hổng chừng - đã mang chanh tới mộ nàng, rồi anh ta thấy ở đó cả một vườn lồng đèn vàng rực ánh chanh, xong thốt lên : Ở đây đã có một rừng chanh rồi ư !
Thiệt là một hình ảnh toàn mỹ !
TN
 

Sunday, January 3, 2021

CỘI NGUỒN THƠ: NƠI VÔ CÙNG TỊCH LẶNG

Nguyên Giác
 
Matsuo Basho. (Wikipedia)
 
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.
 
Chúng ta có thể kinh nghiệm được cái tịch lặng. Nó không phải là âm thanh, cũng không phải là cái vô thanh. Khi chúng ta gõ lên một tiếng chuông, tịch lặng là cái bao trùm cả ba thời của tiếng chuông, hiển lộ trước, trong khi và sau khi tiếng chuông tắt. Cho nên, cái tịch lặng tận cùng, vẫn nằm sẵn trong âm thanh và xuyên suốt qua ba thời quá-hiện-vị-lai của âm thanh. Đó là cái tịch lặng không dựa vào đâu hết, và là tận cùng hạnh phúc. Do vậy, trong bài Kệ 134 của Kinh Pháp Cú, Đức Phật nói rằng nếu bạn giữ tịch lặng như một cái chiêng (cồng) bể, bạn sẽ chứng Niết Bàn.
 
Rất ít nhà thơ viết về cái tịch lặng, cái tận cùng của ngôn ngữ. Thơ là lời nói, là chữ viết, do vậy không dễ viết lên được cái tận cùng và là cái bao trùm của ngôn ngữ. Một số nhà thơ đã viết lên cái kinh nghiệm về tịch lặng, trong đó có lẽ nổi tiếng nhất là Ba Tiêu (Basho), một nhà thơ Nhật Bản của thế kỷ 17. Một trong những bài thơ nổi tiếng của Ba Tiêu (1644–1694) là viết về sự tịch lặng sâu thẳm hiển lộ khi tiếng ve sầu kêu ngấm vào trong đá. Bài thơ Ba Tiêu viết theo thể thơ haiku, ba dòng, khi lên núi thăm Chùa Yama-dera vào năm 1689.
 
Xin dịch bài thơ “Chùa Núi” như sau:
 
Tịch lặng sâu thẳm
tiếng kêu của ve sầu
ngấm vào trong đá.
—Matsuo Basho (1644–1694)
 
Một bài thơ khác của Ba Tiêu, nhan đề là Gió Mùa Thu, cũng nói về cái đẹp của tịch lặng khi nhà thơ đứng giữa trận gió mùa thu. Bài thơ xin dịch như sau.
 
Tôi có nên nói một lời
môi tôi lạnh rồi
giữa trận gió thu.
 
Đọc lại cuộc đời của Ba Tiêu, chúng ta sẽ thấy rằng phải trải qua trăm cay nghìn đắng trong đời rồi mới tới lúc nhìn thấy cái tịch lặng sâu thẳm trong tiếng ve sầu ngấm vào đá núi. Không chỉ được xem như là nhà thơ nổi tiếng nhất thời kỳ Edo, ông còn là một thiền sư đã kiến tánh. Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng ông có tên đầy đủ là Matsuo Bashō (Tùng Vĩ Ba Tiêu), sinh trong một gia đình samurai, và nổi tiếng làm thơ hay từ thời niên thiếu. Năm 1666, ông đến Kyoto và sống ở đây 5 năm, tiếp tục đọc văn học Nhật Bản cổ đại, nghiên cứu văn học Trung Quốc và cả thư pháp. Mùa xuân năm 1672, sau một thời gian về quê chừng vài tháng, ông dời lên sống ở Edo (nơi bây giờ có tên là Tokyo).  Trong những năm này, ông đã thử làm nhiều nghề khác nhau nhưng dần dần cảm thấy mình chỉ hợp với văn học, ông bắt đầu mở lớp dạy thơ haikai, một thể loại thơ trào lộng, nhẹ nhàng và phóng túng, vốn rất thịnh hành trong thời Tokugawa.
 
Sau khi theo học Thiền Tông với nhà sư Phật Đỉnh (Butchō), một Thiền sư dòng Lâm Tế, Ba Tiêu trải qua một số kinh nghiệm kiến tánh. Những kinh nghiệm giác ngộ được ông ghi lại trong những bài thơ, đặc biệt là những tác phẩm được hình thành trong thập niên cuối đời của ông. Năm 1682 ông dời về Koshu và từ đó lấy bút hiệu là Bashō (Ba Tiêu). Năm sau ông trở lại Edo và dựng lại "Ba tiêu am". Ba Tiêu sáng tạo ra một phong cách mới là Shōfu (Tiêu Phong), ẩn ý về đời người nghệ sĩ như những tàu lá ba tiêu bị xé tan trong gió những đêm giông bão), và dần dần hoàn thiện một loại thơ ngắn 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5 từ những câu đầu (hokku) của thể thơ renga và thể thơ cực ngắn ấy về sau được mọi người biết đến với cái tên đã trở thành bất hủ haiku. Hai bài thơ vừa dịch trên là làm theo thể haiku.
 
Đọc thơ Ba Tiêu, chúng ta có thể cảm nhận được cái tịch lặng vô cùng tận đã nằm sẵn trong chữ và bên kia chữ. Bất kỳ ai sống được cái tịch lặng trong từng chữ và bên kia chữ, đó chính là giải thoát, vì từng khoảnh khắc đó đã là bờ kia, là xa lìa tham sân si. Bạn có thể thử nghiệm thế này: bạn ngồi làm thơ, với một tờ giấy và cây bút đặt trên bàn, nghĩ tới một ý thơ hiện ra ngoài cửa sổ, thí dụ gió ngoài vườn thổi bay nghiêng làn mưa bụi, hay ánh trăng ló ra ngoài cửa sổ. Nếu không thấy ý thơ nào, bạn có thể nghĩ tới viết xuống giấy vài câu trong Bát Nhã Tâm Kinh. Bạn viết từng chữ nghĩ tới, và cảm nhận rằng bạn đang chết đi theo dòng mực hiện ra lên trang giấy, bạn nghĩ rằng tim bạn sẽ ngừng đập ngay khi ngòi bút nhấc lên để ghi chữ khác. Như thế, bảo đảm rằng bạn sẽ kinh nghiệm được cái tịch lặng đang ngấm vào mắt tai mũi lưỡi thân ý và cũng ngấm trọn khắp ba cõi sáu đường. Đó cũng là Thiền.
 
Một nhà thơ Nhật Bản cũng ưa thích tịch lặng là Thiền sư Ryokan (1758 – 1831). Ryokan ra đời trong năm 1758, tại ngôi làng hẻo lánh ven biển Izumozaki, thuộc tỉnh Echigo, bây giờ gọi là Quận Niigata. Vùng này, Honshu phương bắc, còn đuợc gọi là “xứ tuyết,” nơi các trận tuyết mùa đông dày ngập tới nổi buộc cư dân phải rời nhà và vào lại nhà họ bằng tầng [lầu] thứ nhì. Quận cũng khét tiếng về một số trận động đất tệ hại nhất trong lịch sử Nhật Bản, và nổi tiếng với hòn đảo Sado dễ thương, nơi lưu đày loạn quân và là nơi có những mỏ vàng được các tướng quân khai thác. Cha của Ryokan, Inan (1738—95), là người được kế thừa cha truyền con nối làm trưởng làng, và là một tu sĩ Thần Đạo. Inan cũng là một nhà thơ mà vài người ghi nhận là có liên hệ xa với trường phái thơ hài cú Basho.
 
Thiền Sư Ryokan.(Wikipedia)
 
Ryokan làm sa di ở Kosho-ji, ngôi chùa Thiền Tào Động địa phương, trong nhiều năm. Khoảng năm 1780, thiền sư Kokusen (viên tịch 1791) viếng thăm Kosho-ji, và Ryokan, người cảm xúc thâm sâu vì cách sống nghiêm túc và chân thật của vị thầy, mới xin và được phép để chính thức trở thành môn đệ của Kokusen. Sau đó, họ cùng nhau trở về chùa Entsu-ji, ngôi tự viện của Kokusen tại Tamashima (bây giờ là Quận Okayama). Chùa Entsu-ji chỉ nhỏ thôi, dễ thương, gồm một hồ sen và rừng tre đẹp, nằm trên một ngọn đồi nhìn ra hải cảng Tamashima. (Hầu hết các khu nhà từ thời Ryokan bây giờ vẫn còn.) Tamashima là một trung tâm giao thương thịnh vượng, và chùa Entsu-ji đã lớn dậy dưới hướng dẫn của Kokusen, không bao giờ dưới 40 sư đang tu học. Cũng như vị thầy Kaso của Ikkyu, và vị thầy Shoju của Hakuin, Kokusen là một vị thầy có lối dạy cụ thể, người tuyên bố kiều Thiền của mình gồm cả việc “khiêng đá và đổ đất.” Nghĩa là, tu Thiền phải thực hiện ngay giữa các việc làm hàng ngày trong đời thường.
 
Với cương vị người nối pháp của Kokusen, một trong những vị Thiền sư Tào Động lớn nhất lúc đó, Ryokan có thể dễ dàng giữ chức trụ trì một chùa lớn, nhưng những năm tự nguyện sống khó nghèo và tự do trên các cánh đồng đã làm cho sư không thích bị ràng buộc với gánh nặng ngôi chùa. Không kế hoạch cụ thể nào trong đầu, Ryokan năm 40 tuổi về lại nơi mình ra đời, dọc đường vui với những nơi có cảnh đẹp và các nơi linh thiêng của Nhật Bản. Một lần, một tên trộm nhầm lẫn vào am Gogo-an, nhưng dĩ nhiên không thấy gì giá trị. Thất vọng, tên trộm mới lấy chiếc mền cũ và tả tơi và chiếc bồ đoàn thiền tọa của sư. Khi Ryokan về lại căn lều, thấy chuyện xảy ra mới viết bài thơ hài cú sau:
 
Tên trộm để lại phía sau—
mặt trăng
nơi cửa sổ.
 
Là một ẩn tu, Ryokan ngồi trên thiền sàng và sống nhiều phần hệt như các vị tổ sư Thiền xa xưa, tìm giác ngộ sâu trong các rặng núi. Sau đây là một bài thơ Ryokan tự ghi lại về nếp sống của ngài, ngồi tịch lặng, xài tiền của mục đồng (chăn trâu), làm bạn với ánh trăng.
 
Trong vắng lặng, bên cửa sổ trống
Ta ngồi thiền tọa, mặc phẩm phục trang nghiêm,
rún và mũi thẳng đường, tai song song với vai
Ánh trăng ngập cả phòng;
mưa đã ngưng, nhưng mái hiên còn nhỏ giọt.
Toàn hảo giây phút này—
trong tánh không vô tận, hiểu biết ta thẳm sâu.
.
Vào đêm, sâu trong núi, ta ngồi thiền
chuyện nhân gian không bao giờ tới đây;
tất cả đều vắng lặng và rỗng rang,
nhang đã tàn trong đêm vô tận
áo ta đã đẫm sương.
Không ngủ được, ta bước vào rừng—
đột nhiên, trên đỉnh cao, trăng tròn hiện.
.
Đời ta nghèo, nhưng tâm ta sáng tỏ
khi ta qua, ngày lại ngày
trong lều cỏ này.
.
Như dòng suối nhỏ len lỏi qua
các vách núi rêu, ta cũng lặng lẽ
trở thành sáng tỏ và trong trẻo.
.
Khi các niệm đã vắng cả rồi
ta lẩn vào rừng pháp và gom nhặt
một xấp tiền của mục đồng.
.
Rách rưới và tả tơi, rách rưới và tả tơi
rách rưới và tả tơi là đời này.
Lương thực? Rau cỏ dại bên đường.
những bụi cây mọc quanh lều ta.
trăng và ta thường ngồi chung cả đêm,
Và hơn một lần, ta đi lạc giữa rừng hoa dại,
quên lối về nhà.
Không ngạc nhiên gì, ta rời khỏi chúng:
làm sao một ông sư khùng như thế sống trong chùa?
---- RYOKAN (1758 – 1831)
.
Làm thế nào bước vào cõi tịch lặng? Đọc kỹ Kinh Phật, chúng ta sẽ thấy rất nhiều khi, Đức Phật chỉ nói có một lời thôi. Không nói nhiều, tất cả pháp đều đưa về một chữ thôi. Thí dụ, như Kinh Bahiya, tất cả các pháp tóm gọn về một chữ Như. Trong một chữ Như đã có sẵn đủ giới, định, huệ. Thí dụ khác, như với một số kinh trong Kinh Tập, phẩm Qua Bờ Kia, tất cả các pháp tóm gọn về một chữ Không. Trong cái nhìn của rỗng rang vô tướng, tất cả giới, định, huệ đã sẵn đủ, tròn đầy. Ngay cả khi chúng ta đứng ở một góc rừng, với mưa gào, gió thét, chúng ta vẫn thấy cái tịch lặng bao trùm tất cả và thấy tâm mình là Như, là Không.
 
Lục Tổ Huệ Năng.
 
Trong tận cùng của Phật Giáo, tịch lặng là nơi không thấy có một pháp nào để nương tựa. Đó cũng là khi Huệ Năng (638-713) dạy Huệ Minh rằng khi tâm rời các duyên (tức là: không dựa vào những cái được thấy, được nghe…), khi tâm không sanh một niệm (tức là: không một chữ nào dấy lên trong tâm), khi tâm không nghĩ thiện hay ác (cũng là: không nghĩ có/không, lành/dữ, ta/người…), thì sẽ hiện ra cái bao trùm và xuyên suốt hết tất cả lời và không-lời, ngôn và vô-ngôn, thanh và vô-thanh, và đó là cái tịch lặng vô cùng sâu thẳm. Độc giả có thể kinh nghiệm được, hãy cứ thử đơn giản như thế.
Trong Kinh Pháp Bảo Đản, bản dịch của Thầy Duy Lực, trích:
 
“Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói:Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.
 
Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ.” (Phẩm Tựa Thứ Nhất)
 
Đối với Phật Giáo Tây Tạng, cửa vào tịch lặng là Sáu Lời Dạy của Đại sư Tilopa (988–1069) dạy cho Naropa. Còn gọi là sáu chữ của Mahamudra, Đại Thủ Ấn. Bản văn tiếng Sanskrit chỉ có 6 chữ, dịch sang tiếng Anh hay Việt cho rõ nghĩa sẽ là 6 câu ngắn.
 
Bản tiếng Anh của Ken McLeod là: “Don’t recall. Don’t imagine. Don’t think. Don’t examine. Don’t control. Rest.”
 
Có thể dịch ra tiếng Việt là: “Đừng gợi nhớ. Đừng tưởng tượng. Đừng suy nghĩ. Đừng khảo sát. Đừng kiểm soát. Hãy an nghỉ tự nhiên.”
 
Sáu lời dạy trên còn được dịch giả trên giải thích rõ hơn, có thể dịch ra tiếng Việt như sau: “Hãy buông bỏ những gì đã qua. Hãy buông bỏ những gì có thể sẽ tới. Hãy buông bỏ những gì đang xảy ra bây giờ. Đừng luận giải bất cứ gì. Đừng tìm cách làm bất cứ gì để xảy ra. Hãy buông thư, bây giờ, và an nghỉ.”
 
Và như thế, chúng ta sẽ thấy đúng là Kinh Nhật Tụng Sơ Thời, tức là các bản kinh chư tăng tụng hàng ngày trong các năm đầu Đức Phật hoằng pháp. Ngay khi nào bạn thực hiện 6 chữ như thế, cái tịch lặng vô ngôn sẽ hiện ra. Hãy giữ tâm như thế trọn ngày, sáng trưa chiều tối, không cần ngồi theo thời khóa nào.
 
Đúng vậy, cái tịch lặng thực sự không ở đâu xa. Trong Tăng Nhất A Hàm, Kinh EA 31.6, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng, có lời Đức Phật dạy:
“Xóm vắng là sáu xứ bên trong. Thế nào là sáu? Đó là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Nếu người có trí tuệ, khi quán mắt, thấy thảy đều trống không, không chỗ gì, hư dối, vắng lặng, không bền chắc. Khi quán tai, mũi, miệng, thân, ý, thấy đều trống không, đều rỗng lặng, cũng không bền chắc."
.
Một nhà thơ Nhật Bản khác cũng ưa thích viết về tịch lặng là Jakushitsu Genkō (1290-1367). Jakushitsu là một nhà sư dòng Lâm Tế (Rinzai), cũng nổi tiếng là một nghệ sĩ với tài làm thơ, thổi sáo, và là trụ trì ngôi chùa Eigen-ji, nơi được xây lên để cúng cho sư làm nơi dạy Thiền. Sinh trong một gia đình quý tộc, xuất gia năm 12 tuổi tại tu viện Tofukuji ở Kyoto, nơi nổi tiếng về giáo dục; những năm đầu ở đây, nhà sư trẻ học về Nho Giáo và Thiên Thai Tông, một hệ thống lý luận của Phật Giáo. Trong một chuyến tới thăm Tanakami, một thị trấn trong tỉnh Go (bây giờ có tên là tỉnh Shiga), Jakushitsu nhìn thấy một nhà sư đang lặng lẽ ngồi thiền. Hình ảnh lặng lẽ ngồi thiền của nhà sư lạ kia có sức lôi cuốn bí mật. Ngồi thiền lặng lẽ không phải là một phần trong pháp tu hàng ngày tại ngôi chùa Jakushitsu đang theo học, nơi chủ yếu đào tạo các giảng sư và luận sư Phật Giáo.
 
Thiền Sư Jakushitsu Genko (Wikimedia)
 
Được giới thiệu từ một vị sư đồng học ở Tofukuji, Jakushitsu biết về Thiền sư Yakuo Kenko, người từng theo học với Lan-chi Tao-lung (tiếng Nhật là: Rankei Doryu) một Thiền sư Trung Hoa từ Szechuan tới Nhật Bản năm 1246 để truyền pháp Thiền Tông. Jakushitsu cùng với bạn đồng học lên đường tới Zenkoji, ngôi chùa tại Kamakura, nơi Yakuo lúc đó đang cư ngụ. Truyền thuyêt kể rằng vào đêm trước khi Jakushitsu tới Zenkoji, Thiền sư Yakuo có một giấc mơ, trong đó “nhiều vị thánh đáp xuống và một vùng ánh sáng hiện ra chiếu rọi khắp núi và sông.” Do vậy, Yahuo mới đặt tên cho Jakushitsu là Genko, tức là “Ánh sáng nguyên khởi.”
 
Jakushitsu thân cận với Thầy Yakuo cho tới khi Yakuo từ trần năm 1320. Jakushitsu sang Trung Quốc để tìm học Thiền trong thời gian từ 1320 tới 1326, với vị Thầy có hạnh ẩn tu nổi tiếng là Ming-pen. Khi về lại Nhật Bản, Jakushitsu vào núi, sống nhiều năm trong hạnh ẩn tu. Phong thái kỳ dị, và những bài thơ đầy sức mạnh của Thiền đã làm cho nhà sư Jakushitsu nổi tiếng. Một vị lãnh chúa địa phương mời sư ra dạy Thiền cho công chúng, xây ngôi chùa có tên là Eigen-ji và Jakushitsu là vị trụ trì đầu tiên nơi đây.
 
Mấy dòng thơ sau đây là Jakushitsu tự viết về bản thân:
 
Cô tịch
vui hỷ lạc
tóc trắng nhìn núi xanh.
Một bài thơ khác, cũng do Jakushitsu tự viết về hạnh sống trong các rặng núi. Dịch như sau.
Không tìm danh vọng
không màng khó nghèo
sống ẩn sâu trong núi
xa lìa bụi thế gian
năm hết rồi, bầu trời lạnh
ai sẽ làm bạn với ta?
Hoa đào nở trên cành mới
tắm trong ánh trăng.
.
Có những bài thơ rất cổ, có từ 2500 năm về trước, ngợi ca hạnh tịch lặng, một trong các phẩm chất của người ngộ đạo. Bài thơ của Trưởng lão ni Sona có ký số Thig 5.8, trích dịch như sau:
 
Tôi thiền tư về vô tướng
với nhất tâm và tịch lặng
tức khắc giải thoát thành tựu
Niết bàn, không gì nắm giữ
.
Hiểu trọn năm uẩn thấu suốt
tuy còn đây, rễ đã cắt
Bà già bất hạnh, thân tôi
chuyện tái sanh đã hết rồi.
.
Tuy nhiên. Tịch lặng không chỉ là ngồi thiền. Một bài thơ của Trưởng lão tăng Bhagu trong bài kệ có ký số Thag 4.2, ghi rằng đại sư Bhagu ngồi thiền, gặp cơn buồn ngủ, mới bước ra khỏi lều, đi kinh hành, khi bước đi, bị vấp té, rồi đứng dậy phủi bụi, rồi đi tiếp, niềm tịch lặng khởi lên trong khi đại sư bước tới bước lui, và rồi tâm đạt giải thoát, chứng tam minh. Bài thơ kể về niềm tịch lặng đạt được trong khi bước đi, trích như sau.
 
Buồn ngủ, tôi rời tịnh xá
bước thiền hành, chân vấp ngã
Phủi bụi xong, bước đi tiếp
lối thiền hành, tới rồi lui
tịch lặng sâu thẳm trong tôi.
Hốt nhiên chứng ngộ ngập tràn
thấy rõ ba cõi hiểm nguy
vững vàng với tâm viễn ly
Hiển lộ trong tâm giải thoát
thấy rõ tối thượng giáo pháp
Tam minh bây giờ hoàn tất
trọn vẹn như lời Đức Phật.
 
Tịch lặng, đẹp là như thế, hiện ra ngay ở nơi bạn đi đứng nằm ngồi, ngay ở nơi bạn chọn chữ làm thơ, ngay ở nơi sâu thẳm trong tâm và ngập tràn khắp thế giới này. Tịch lặng là Niết Bàn. Hãy lắng nghe tịch lặng, hãy tắm gội trong tịch lặng, hãy thấy tịch lặng đang ngấm vào núi đá, vào cây rừng, vào khắp không gian và khắp mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình.  Nó đó. Vô tướng, không hình dạng, không màu sắc. Tịch lặng không phải là cái được tạo ra, nhưng là cái có sẵn chưa hề rời chúng ta, ngay ở đây và bây giờ.
NG
 
 
 

Saturday, January 2, 2021

TRẺ THƠ

Duyên
 
tre tho. chalk on blackboard.
duyên. 12.25.2020.
 
                     *to my O, M, V and L.
 
L gọi bà lại gần
i have a secret to tell
bên tai bà. thật nhỏ:
bà, i love you the most, more than any ones!
(bà ơi, con yêu bà nhất, hơn tất cả mọi người)
con bé kéo tay bà
mắt trìu mến
em thì thầm:
don’t tell anyone…
(bà ơi, đừng cho ai biết nhé).
bên kia bàn
V ngưng vẽ, mắt nhìn về phía hai bà cháu
mỉm cười đồng loã, em nói:
I’ve heard your secret
(chị đã nghe điều bí mật của em)
chợt ngưng vẽ
môi điểm nụ cười
mắt long lanh. sáng
dường như V đang có điều bí mật
thì ra
“điều bí mật”
luôn ẩn nấp trong tim
đợi tiếng. thầm thì...
 
duyên
jan. 01. 2021
 
 

Friday, January 1, 2021

C H Ợ T V I Ế T. B Ư Ớ C L Ạ I G Ầ N

Hoàng Xuân Sơn
 

C H Ợ T  V I Ế T,
 
đ ầ u  n g à y  1.1  n ă m  2 1
 
Tự nhiên tràn ngập yêu thương
ngày sinh của một cõi thường tự nhiên
mình là xuân.  hát.  nỗi ghiền
mình là ngựa gõ huyên thiên mộng kề
là hồng của một mân mê
là xám rũ rượi bóng về xanh hư
một ngày diện kiến thanh thư
là ngày đã biết dự trù âm hao
tự nhiên tự nhiên dâng trào
hồi sinh cũ kỹ bỗng chao nghiêng mừng
hxs@12:10am
 
 
B Ư Ớ C   L Ạ I   G Ầ N
 
một bước nhỏ
vào tám mươi
mới hay trôi nhẹ quãng đời lông bông
 
một bước khẽ
như mây
hồng
nghe ra nắng sớm vẫn bồng sương khuya
 
một bước một bước                  cùng
chia
tuổi trời
và chút nọ kia
thuần
thành
 
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
giao lộ 20/21

THÊM MỘT NGÀY. HỌC VÔ CÙNG

Nguyên Giác
 
Good morning First Day

Thêm một ngày bạc râu tóc
nhẩm từng chữ gió vô thường
trang sách cũ mỏi gân cốt
nghe thiên cổ lạnh buốt xương.
.
Học vô cùng tâm như nắng
soi khắp cõi chiều rất vàng
đêm Niết bàn vui tịch lặng
ngày Bồ Tát hạnh cưu mang.
.
Thêm một ngày đi rất mỏi
từng bước tâm từng bước thiền
ngồi bên sông, xem mây nổi
thấy không ta, thấy không thuyền.
.
Học vô cùng hạnh như đá
không tham ái, không giận hờn
xây vô lượng cầu huyễn hóa
đưa khắp cõi người qua sông.
.
Thêm một ngày tai mắt yếu
tâm bất hoại sáng như gương
lời Thầy dạy năm xưa hiểu
không một pháp, tâm bình thường.
.
Học vô cùng hạnh như núi
tâm bất động, bão ngàn khơi
tận đỉnh cao khơi dòng suối
chở từ bi tắm muôn người.
.
Thêm một ngày thân cùng tử
muôn kiếp rồi lạc muôn nhà
ngay tâm này Kinh vô tự
Niết bàn tâm chưa từng xa.
.
Học vô cùng hạnh như gió
không từ đâu, không về đâu
nghe sinh diệt từng hơi thở
không hoan hỷ, không ưu sầu.
.
Thêm một ngày nhìn gió nghiệp
nhẫn nhẫn nhẫn tắm vô thường
bạn ghé hỏi chuyện muôn kiếp
có nụ cười, tớ vô ngôn.
.
Học vô cùng tâm chư Phật
trăng đầu núi, hạnh viễn ly
chứng vô ngã, như thị pháp
không một tâm, thế mới kỳ.
 
NGUYÊN GIÁC
1/1/2021