Thursday, December 17, 2020

MAI HƯƠNG. NGỌT NGÀO TÌNH CHỊ

Quỳnh Giao
 
Quỳnh Giao và Mai Hương
 
* Đăng lại để tưởng niệm Mai Hương-Quỳnh Giao
 
Ngẫm lại, có lẽ người bạn đồng hành với người viết vì gắn bó và ca hát với nhau lâu dài nhất chính là chị Mai Hương. Chị lớn hơn người viết năm tuổi, cùng sinh vào cuối năm và lại cùng ngày, nên năm nào cũng nhớ chúc sinh nhật nhau.
 
Ngày xưa Mai Hương hát ban nhi đồng do Minh Trang sáng lập. Thời ấy chị 12 tuổi, và Quỳnh Giao mới lên 7 – mà cũng chưa có tên là Quỳnh Giao. Lũ nhi đồng như Quốc Thắng, Kim Chi, Tuấn Ngọc, Tuấn Tùng và… Đoan Trang, là tên người viết, nhìn chị và nghe chị hát với sự say mê. Vì chị hát vững vàng và điêu luyện như người lớn.
 
Lớp ca sĩ thiếu nhi đó còn có cả Bích Chiêu (chị lớn của Tuấn Ngọc), Mai Hân, Bạch Tuyết (em gái của Mai Hương) và Anh Minh (anh lớn của người viết) nữa. Nhưng đều thua đàn chị Mai Hương. Từ các ca khúc về lịch sử như “Ngày Xưa” của Hoàng Phú, hay “Hồ Lãng Bạc” của Xuân Tùng, tới những bài thật khó về kỹ thuật như “Bình Minh Ca Khúc” của Võ Đức Thu hay “Chú Cuội” của Phạm Duy, chị diễn tả ngọt ngào và ý nhị.
 
Ngày ấy chị thường song ca với Anh Minh, còn mình nhỏ hơn năm tuổi thì hay song ca với Bạch Tuyết. Sau đó thì thân mẫu người viết nhường ban nhi đồng cho cặp nghệ sĩ Phạm Đình Sĩ và Kiều Hạnh làm trưởng ban và đổi tên ban là Tuổi Xanh. Hai nghệ sĩ này là song thân của Mai Hương, bác Phạm Đình Sĩ là anh của Hoài Trung Phạm Đình Viêm, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và hai cô Thái Hằng, Thái Thanh.
 
Thời kỳ này bác Kiều Hạnh cho trình diễn những vở nhạc kịch thật nghệ thuật như “Thỏ Ngọc” của Thế Lữ và Phạm Đình Chương. Cho đến giờ người viết vẫn không quên được giọng ca trong vắt ngọt ngào và đầy tình cảm của chị trong vai thỏ ngọc:
 
Đây là đâu, đây là đâu?
Cung tiên hay địa ngục?
Vui vẻ hay âu sầu…
 
Quỳnh Giao không có chị, chỉ có anh trai, em trai và một bầy bốn đứa em gái. Thường bắt gặp cảnh hai chị em Mai Hương và Bạch Tuyết quây quần, quấn quít, tỉ tê nói chuyện với nhau, mình thèm có người chị. Và đã từ lâu, xem Mai Hương như chị ruột của mình.
 
Thời gian trôi qua, cả hai chúng tôi lớn dần. Năm chị 19 và mình thì mới 14, cả hai được mời hát hợp xướng với dàn nhạc đại hòa tấu của trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn với phần hòa âm và cây đũa điều khiển của nhạc trưởng người Đức, ông Otto Solhner. Tác phẩm là bản Trường ca “Con Đường Cái Quan” vừa được Phạm Duy hoàn tất.
 
Một buổi trình diễn thật trang trọng diễn ra tại rạp hát Norodom tức là rạp Thống Nhất. Sau đó là một chuyến viễn du bằng xe lửa đi Đà Lạt hát một tuần lễ liền. Hai chị em có hai bà mẹ nổi danh đi kèm. Bác Kiều Hạnh và mẹ Minh Trang!
 
Chúng tôi không bao giờ quên được kỷ niệm đẹp của chuyến đi xe lửa có toa couchette. Lần đầu được đi Đà Lạt, nhìn ngắm phong cảnh xinh đẹp hữu tình của đất nước, được nghe chú Phạm Duy kể chuyện thật lôi cuốn cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp (vì nói với ông Solhner). Được mặc áo đẹp đi ăn nơi nhà hàng sang trọng và thịnh soạn ở khách sạn Lâm Viên. Khung trời Đà Lạt nên thơ quá, mơ mộng quá, khiến hai chị em ngẩn ngơ…
 
Bây giờ nhớ lại thì tiếc nhất là khung cảnh thanh bình của thời xa xưa.
 
Mai Hương bắt đầu hát ban “người lớn” khi 18 tuổi. Người viết thì vẫn còn hát ban… nhi đồng. Nhưng tới 15 tuổi, là sau chuyến đi hát ở Đà Lạt về, thân mẫu bỗng mất giọng và từ đó người viết bắt đầu lên “ban người lớn” với Mai Hương. Tuy là hai nhóc ít tuổi nhất đài phát thanh, nhưng lại được cộng tác với hầu hết các ban nhạc trong cả hai đài phát thanh Quốc Gia và Quân Đội.
 
Sở dĩ được chiếu cố như thế là nhờ vững nhạc lý, cầm bài là hát ngay, không phải tập dượt trước. Chúng tôi hát đơn ca cũng được, mà hợp ca hay hát bè phụ họa, là việc khó hơn, cũng đều được, cho nên mới “đắt hàng” như vậy. Và có lẽ cũng còn do tính tình hòa nhã, lễ phép, có kỷ luật nên các trưởng ban mới yêu mến.
 
Mai Hương và Quỳnh Giao thường nhắc chuyện xưa và tự hào là bước vào nghề dễ dàng. Suốt ba thập niên 50, 60 rồi 70, hai chị em gặp nhau hàng ngày. Có khi ba lần trong ngày, từ đài Sài Gòn qua đài Quân Đội. Cuối thập niên 60 lại có thêm đài Tiếng Nói Tự Do (phát ra Bắc) và đài vô tuyền truyền hình nữa.
 
Tháng 4, 1975 cả nước nhốn nháo. Chúng tôi lại may mắn gặp nhau trên xứ người. Lại được hát với nhau, không nhiều như xưa nhưng vẫn còn được hát. Thời gian đầu thì song ca, sau đó có thêm Kim Tước thành ban tam ca “Tiếng Tơ Đồng,” để nhớ tới nhạc sĩ Hoàng Trọng ở nhà. Đầy ắp những kỷ niệm khó quên về nghệ thuật và tình bạn.
 
Người đời có câu “văn là người” để nói về các nhà văn. Trong âm nhạc, trường hợp Mai Hương cũng đúng như vậy. Tiếng hát là người. Nếu ai hỏi người viết nghĩ gì về giọng ca Mai Hương. Câu trả lời là “giọng hát ngọt ngào hiền dịu nhất của tân nhạc Việt Nam.” Có nhiều cách thưởng thức giọng hát Mai Hương. Nếu thích ngọt thì giọng chị là dòng suối ngọt êm. Cứ nghe Mai Hương hát “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu, hay “Xuân Tha Hương” của Phạm Đình Chương thì rõ. Nếu thích một chút lẳng lơ, mơn trớn, thì giọng Mai Hương như rượu nồng vừa nhấp. Hãy nghe chị hát “Cùng Một Kiếp Hoa” hay “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” thì ngất ngây ngay đấy.
 
Nếu Kim Tước là giọng hát đẹp trang trọng, quý phái vẻ kiêu sa, thì giọng Mai Hương đẹp thùy mị dịu dàng, vẻ đẹp gần gũi mà gia đình nào cũng thích nghe thấy trong nhà.
 
Mai Hương có lối nhả chữ rất tròn. Các tác giả khó tính cũng phải hài lòng về cách phát âm rõ ràng của chị. Rõ mà êm chứ không cứng. Có lần người viết hỏi Hoàng Trọng là theo ông, ai là người hát bè “quyện” nhất. Người nhạc sĩ ngẫm nghĩ giây lát rồi trả lời thật gọn: Mai Hương. Hoàng Trọng là “vua” viết bè và phụ họa. Ngoài tài sáng tác, ông từng viết cho ban tam ca Mộc Kim Châu (Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà) thập niên 50. Từ lúc có ban Tiếng Tơ Đồng thì nghệ thuật viết hợp ca của ông lên tột đỉnh. Nhận định của ông thì không thể sai.
 
Quả thật vậy, Mai Hương có thể hát với Thái Thanh, với Kim Tước, với Hà Thanh, với Khánh Ly và dĩ nhiên là hát với Quỳnh Giao nữa chứ! Mà hát với ai cũng quyện mới hay. Giờ này, mình vẫn còn có thể tìm nghe Mai Hương hát 10 bài “Đạo Ca” với Thái Thanh thì thấy thế nào là quyện. Nhờ chất giọng rất êm nên khi đi bè không lộ giọng của mình. Đó là kỹ thuật thượng thừa mà trong nghề mới biết rõ.
 
Biết bao lần đặt bút xuống để viết về chị, Quỳnh Giao chỉ sợ mối giao tình với Mai Hương làm mình sẽ khó vô tư khách quan như một người nghe nhạc bình thường. Có những nghệ sĩ cuộc đời lớn hơn sự nghiệp, hoặc ngược lại. Với Quỳnh Giao, giọng hát và cuộc đời Mai Hương là một.
 
QUỲNH GIAO
*Nguồn: Người Việt 15-12-2010
 
 

Sunday, December 13, 2020

GẶP GỠ NHÂN VẬT HƯ CẤU

Ngô Nguyên Dũng
 
Khoảnh khắc. Tranh Ngô Nguyên Dũng

mời em vào đây
cùng anh! cửa nhà anh lúc nào cũng rộng mở
như trời đêm nứt ra
những mùa trăng. nhà trọ anh tuy chật nhưng ngập tràn ánh sáng
từ hai khung cửa lập loè
đường sấm sét trời đông phương
trong tâm hồn anh đầy ắp
những giông bão nhiệt đới. ngày giao hoan cùng đêm
sản sinh vạn nhánh sông
và muôn cánh đồng
no nê sức sống.
 
ngồi xuống đây đi em!
bên kệ sách này.
hãy chọn lấy một quyển! đọc và chờ anh
 
sửa soạn một ấm trà.
hãy thắp giùm anh ngọn nến
đã từ lâu khao khát
tay người và hơi ấm hiển linh chữ.
tưởng chừng đã không còn mơ hoang
phó mặc những câu chuyện bụi ám
đầy nghi vấn và những vai trò văn chương
trong đố kỵ đêm.
 
em có cảm nhận không?
hương trà thơm tho thời tiết
nồng nàn đất. đậm đà nắng. đam mê tình yêu độ lượng
và khắc khoải những chia lìa.
em có nghe ra lời réo gọi
của thác ghềnh ẩn dụ trong mưu toan chữ
về cái chết và một đoạn kết
không nhắm mắt?
 
em hãy ở lại đây
cùng anh!
chỉ một đêm nay thôi!
anh sẽ kể em nghe nốt câu chuyện người thợ săn
mải miết tìm bắn những tinh tú
bất hạnh và vô cùng lẻ loi trong trời đêm. như anh
đã có lần nhặt được
một cánh sao già nua
rơi rụng bên kia rừng. thầm thì chớp tắt lời cứu rỗi
thời dịch tả. tiểu thuyết và thi ca
đeo mặt nạ nặc danh
phỉ báng mùa trăng nạ dòng lang chạ cùng chiếc bóng
cường tráng của mặt trời
lúc chia tay địa cầu
bên kia lũng tối.
 
cho anh ôm em
lần cuối! thay cho lời từ biệt
cùng em. một nhân vật hư cấu. trước khi
nến lụn tắt.
 
NGÔ NGUYÊN DŨNG
(12.2020)

CỬA MỞ

Hoàng Xuân Sơn
 
 
Picasso
 
Toang ra
              cho gió ập vào 
cửa mình mình mở
xôn xao
            nói
                 cười
 
HOÀNG XUÂN SƠN
hxs@12.12.20
 

Saturday, December 12, 2020

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 Văn Hc Press
 

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press
PR 12/10/2020
 
Trân trọng giới thiệu:
 
Thiên Lý Độc Hành
Thơ TUỆ SỸ
  


 
Văn Học Press liên kết với
Culture Art Education Exchange Resource xuất bản, tháng 12 năm 2020
150 trang, 7.5” x 9.25”, sách in màu
 
Tìm mua trên BARNES & NOBLE (Key word: TUE SY)
Hoặc bấm vào đường dẫn sau:
Hardcover: $US35.00 (free shipping)
https://www.barnesandnoble.com/w/books/1138442836?ean=9781666210781
Paperback: $US19.00
https://www.barnesandnoble.com/w/books/1138442836?ean=9781666218169
13 bài thơ với thủ bút chữ Thảo của Thầy Tuệ Sỹ
Được dịch sang bốn ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nhật, và Hán-Nôm.
Dịch giả:
Nguyễn Phước Nguyên (Anh ngữ)
Dominique de Miscault (Pháp ngữ)
Bùi Chí Trung (Nhật ngữ và Hán Nôm)
Biên tập, thiết kế sách & bìa: Đào Nguyên Dạ Thảo
 
Nối Gót Thiên Lý Độc Hành
 
Hạnh Viên

Một buổi sáng cuối thu năm 2011, đang ngồi trong quán cà-phê sách ở Đà Lạt tôi nhận được mẩu tin của thầy gởi qua email, chỉ ngắn gọn mấy dòng:
…Tôi đi lang thang theo đám mây trôi, phương trời vô định. Bờ sông, hốc núi, đâu cũng là chỗ vùi thây. Một chút duyên còn ràng buộc thì còn có cơ hội ngộ, đời này hoặc đời sau.
Thị ngạn am vô trụ xứ.
 
Thư được gởi đi từ chiều hôm trước, nghĩa là tối đó ông đã lang thang đâu đó ngoài bến xe, tìm một chuyến xe nào bất cứ, đi đến một nơi nào khả dĩ, không hẹn trước. Chuyến đi của ông thầy tu không chùa, không đệ tử, không cần nơi đến. Ra đi như vậy, ngoài những ẩn tình riêng chung, nhưng kỳ cùng nó là một thôi thúc, một bó buộc đã sẵn có tự bao giờ. Và trở về, cũng là một thôi thúc, bó buộc khác.
 
Gởi lại tình yêu ngọn cỏ rừng
Ta về phố thị bởi tình chung
Trao đời hương nhụy phơi hồn đá
Thăm thẳm mù khơi sương mấy tầng
 
Thiên Lý Độc Hành, chuỗi thơ 13 bài, hình thành sau chuyến đi ấy. Nó mở đầu bằng sự trở về, và kết thúc bằng lời gởi gắm một bước chân khác lên đường. Đi cho hết con đường thăm thẳm nhân sinh trường mộng. Hai câu kết để ta đóng lại tập thơ mà không đóng lại được những tâm tình khắc khoải, tương điệu trước một vệt nắng chiều hay một ánh sao xa lay lắt cuối trời. Lời nhắn nhủ ân cần không phải là sự êm đềm khép lại cánh cổng vườn nhà sau khi người con đã trở về, nó mở ra lối sau chỉ về một phương trời miên man cô tịch…
 
Mưa lạnh
đèo cao
không cõi người.
 
Phương trời mờ ảo với ánh sao đêm làm đèn soi lối, lấy ánh trăng trên cỏ làm chiếu mà nằm, để sáng ra tiếp tục cuộc đi mà không biết đêm nay sẽ ở đâu, có “may mắn” tìm được một chỗ ngủ kín gió không. Có khi chỗ đó là cái miếu cô hồn bên đèo vắng, có khi là phía sau cái bệ con sư tử đá khổng lồ trước cổng tam quan một ngôi chùa, nơi có một hốc nhỏ đủ cho một người nằm khuất tầm nhìn khách qua đường. Nghỉ chân và chợp mắt, để ba giờ sáng thức dậy thu vén đi tiếp trước khi nhịp sống đô thị trở lại nơi này cho một ngày mới.
 
Thân tiếp theo thân ngày tiếp ngày
Mù trong dư ảnh lá rừng bay…
 
Cái mùi hoang liêu dặm trường nó huyễn hoặc, hấp dẫn như mùi trái cây chín dại ven đường khi đói, như mấy gói lạc rang của một thanh niên tốt bụng đưa cho, để chiều lên đèo, “vì ở đó trong tầm bán kính mười cây số không có nhà ai”, anh ta nói. Mấy gói lạc rang, đủ cho một ngày đi qua cái đèo hoang vu này.
 
Sau này họa hoằn được nghe kể về chuyến đi, tôi thấy thật khó viết được gì chân xác về những bài thơ này; đó là những con đường nắng chát, bụi bặm, những bầu trời tối sầm trĩu nặng mây đen, những chiều bụng đói, những đêm hun hút ngó về một quê hương nào đã mất. Đó không phải là trang giấy trắng để ta cặm cụi ghi chú vài ý tưởng mộng mơ. Tập thơ này với tôi không phải để đọc, để hiểu hay để viết về; chỉ cần nhìn, cảm, và tưởng tượng. Tôi không lo khi đọc mà không hiểu thơ nói gì, nhưng đáng buồn nếu không tưởng tượng được khung trời nào trong những câu
 
 Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không
 
Mưa, nắng, gió, bụi, những bước chân miệt mài đi qua rừng, qua phố, để làm gì, để tìm gì? Tìm gì trong màu hoàng hôn phơi trên hồn đá, cái bóng người xiêu đổ bên bờ lau sậy phất phơ nỗi buồn viễn xứ? Xứ sở nào của người, của đá, của những bông lau theo gió bay trắng bốn phương ngàn …
 
Nắng, bụi, gió, mưa. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo(*). Cuối trời vạn nẻo nơi nào mà không có cỏ thơm. Một đứa bé chạy theo dúi vào tay ông một cái bánh ngọt, chỉ tay về ngôi nhà lụp xụp bên vệ đường: má con biểu đưa cho ông. Cái tình người nó tự nhiên như cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ xanh và hoa lau trắng, màu trắng hoang mang cả trời cô lữ. Giữa dòng ngựa xe phố thị hay trước thảo nguyên xanh ngút ngàn, ở đâu cũng có lúc bất chợt cảm thấy lạc loài, thấy tháng ngày hư ảo, ta muốn đi tìm một cái gì đó khác, đo đếm xem khoảng cách bao xa giữa hai bờ mộng thực; có người đi trong chiều nắng quái, kẻ khác đi trong những giấc mộng khẽ khàng. Nhìn đám bụi mờ dưới bước chân đi, ta không biết đó là tha hương hay là cố quận.
 
Rồi ngã xuống nghe suối tràn ngập máu
Thân là thân cỏ lá gập ghềnh xuôi
Chờ mưa tạnh ta trải trăng làm chiếu
Nghìn năm sau hoa trắng trổ trên đồi
 
Ánh trăng sau cơn mưa hiện ra lấp lánh trên cỏ, như trải ra tấm chiếu hoa gấm ngọc ngà.
 
Nghìn năm sau… kể chuyện Thiên Lý Độc Hành, có người ngay thẳng và thực tế sẽ hỏi: Đi như vậy, tự đọa đày như vậy để làm gì? Những bước chân vô định kia có để lại chút dấu vết nào nơi đá cuội ven đường? Có lẽ không, hoặc có để lại một giấc mơ bên hiên nhà tạm trú đêm qua, không biết mưa lũ cao nguyên rồi sẽ cuốn phăng nó về đâu. Mà Thiên Lý Độc Hành là gì? Đâu phải chỉ là một chuyến đi. Cuộc đi không có lúc khởi hành, không có nơi đến thì làm sao có sự kết thúc trở về.
 
Khi về anh nhớ cài quai nón
Mưa lạnh đèo cao không cõi người…
 
HẠNH VIÊN
Mùa Hạ Canh Tý, P.L. 2564
 
––––––––––
 
(*)天涯何處無芳草Thơ Tô Đông Pha.
 

Friday, December 11, 2020

TƯỞNG TƯỢNG. NƠI QUÁN CÀ PHÊ BÔNG GIẤY ẤY

nguyễnxuânthiệp

 
Những cánh dầu bay
 
…. tưởng tượng. anh. và quán cà phê bông giấy ấy
nơi đầu con hẻm. bức tường. với tranh graffiti
và tiếng đàn thùng
giọng hát. rất mâle
của lê uyên phương
rơi
mưa hạ ly hương*
gọi tên một sân ga
và ngọn đèn vàng
chờ ai**
anh ngồi trên chiếc ghế. cũ. dựa lưng vào tường
mùa đi qua. rơi. trên vai áo
chùm bông giấy. thời gian
những giọt nắng. trên thềm đá. hương cà phê
nhớ về
sinh nhật. chim
khúc k. ngày của phố
chúng ta vào công viên. gần trường. em nhé
cùng đuổi bắt những cánh dầu bay
và những cơn mơ
NXT
 
*Thơ của Phạm Công Thiện, ca từ Lê Uyên Phương
** Lê Uyên Phương: Nhưng trên thềm ga, chờ tới trăng tà…


Tuesday, December 8, 2020

ĐIỂM TRANG

Ngô Nguyên Dũng
 
Tranh Edward B. Gordon
 
Mỗi thứ năm, bà Lê dậy sớm hơn thường lệ. Bảy giờ sáng, chuông đồng hồ réo thức.
Vọng qua ô kính khép, hồi chuông nhà thờ gióng lễ.
Giờ giấc này, vào những ngày đông, trời vẫn còn tối ám. Sang tháng tám, giữa hè, luồng sáng những ngày nắng đẹp đã lách qua rèm cửa sổ voan mỏng, suồng sã soi bói diện tích phòng ngủ hai mươi thước vuông. Lên phiến vách dán giấy màu vỏ trứng treo bức tranh hoa mẫu đơn hồng nhạt. Lên tủ quần áo bốn cửa sơn trắng gắn gương soi. Lên mặt giường đôi để trống một nửa, nhưng gối chăn vẫn được phủ gấp thẳng nếp.
Cứ vậy, từ nhiều năm nay. Như để cất giữ một hơi ấm, một vòng ôm, một dư hương chưa phai. 
Bà Lê ngồi dậy, thẳng lưng, khép mắt tĩnh tâm, kiểm soát nhịp thở, cố gắng bôi xoá mọi ý nghĩ nội tâm và dập tắt âm thanh ngoại giới. Không được lâu. Cứ mỗi mười phút, thính giác bà lại bắt được từ bên dưới vọng lên tiếng xe điện nghiến đường sắt. Khe khẽ. Rầm rì. Và, cứ mỗi phần tư giờ, văng vẳng từ phòng khách tiếng đồng hồ quả lắc gióng chuông. Đôi khi, bà bất chợt thấy ra trong vùng tối thị giác một đốm sáng vàng loé, từ từ loang rộng. Rồi chuyển sang xanh lam, sẫm dần, và cuối cùng tan lẫn vào vũng tối mù tăm.   
Bây giờ là cuối tháng mười, thời tiết còn đọng hơi ấm những ngày hè. Bà Lê tới cạnh cửa sổ trông ra một công viên nhỏ, kéo màn, mở toang khung kính, nhẩn nha hít vào thở ra. Nơi này, tầng mười hai trên cùng một chúng cư, bà có thể phóng tầm mắt quan sát một vùng không gian rộng thoáng. Xa xa, những cao ốc thuộc phố chính. Gần hơn, đỉnh tháp chuông ngôi giáo đường cổ kính. Gần hơn nữa, sát cạnh hai dãy đường sắt xe điện, những tán lá một công viên nhỏ. Trong luồng nắng chuyển mùa, những vòm cây thay sắc, bịn rịn chia tay mùa hè.
Thứ năm của bà Lê là ngày duy nhất trong tuần có giờ giấc nhất định. Chín giờ rưỡi, Alina tới lau chùi dọn dẹp ba tiếng. Một giờ trưa, bà ngồi vào bàn điểm trang. Thoa một lớp kem lót và phấn hồng lên mặt. Kẻ hai hàng chân mày. Viền mi mắt. Dặm mí và đánh nền xanh phớt. Vuốt hai hàng lông mi cong rậm. Tô lên môi lớp son đỏ và sơn bóng. Kẻ vành môi. Chải tóc và xịt keo. Bôi lên cổ và phía sau hai vành tai một ít nước hoa. Xong xuôi, bà nghiêng mặt qua lại, ngắm nhìn bóng mình trong gương. Rực rỡ và lạ lẫm cùng lúc. Như của một ai khác. Rồi bà đứng lên, nhẩn nha thay quần áo.
Trong lớp y phục tề chỉnh, thay đổi theo mùa màng và thời tiết, bà đón xe điện ra phố chính, tìm tới quán cà-phê bánh ngọt quen thuộc nằm trong một trung tâm thương mại nhỏ, ngồi vào chỗ đã được hầu bàn dành riêng cho bà từ nhiều năm qua. Bàn hai chỗ kê cạnh cửa kính, trong một góc khuất.
Bà Lê đặc biệt yêu thích quán cà-phê này vì nhiều lẽ: không gian nhỏ, ấm cúng và ít ồn ào, hầu bàn thân thiện và biết chiều chuộng khách. Nơi đây có món bánh nướng nhân kem va-ni và mặt bánh được tráng một lớp hạt hạnh nhân nướng bào mỏng sên đường, và loại cà-phê tại đây hợp với khẩu vị bà. Nhưng quan trọng hơn cả, bà thích lặp lại những thói quen đã thành nếp, thích nhìn lại những khuôn mặt quen mắt, nghe lại những mẩu chuyện quen tai. Của ông ấy. Không hề chán.
Những hôm có mặt ông Krüger, ông tới ngồi đối diện bà, ăn bánh, uống cà-phê. Hai người vẩn vơ trao đổi chuyện mưa nắng và thời sự. Cho tới khi bà đi tới chỗ hẹn mỗi tuần.
 
“Khuya qua thời tiết nóng bất chợt, bà ngủ ngon chứ?”, ông Krüger cất tiếng.
“Cám ơn ông, tôi có tật xấu, hay thức giấc giữa khuya”, bà Lê nhìn thẳng vào hai mắt ông Krüger. Màu mắt ông xanh biếc. “Nhiều khi không phải một mà nhiều lần.”
“Tôi phải cần thuốc trợ lực mới ngủ được thẳng giấc.”
“Hình như ông có viết sách thì phải?”, bà Lê đổi đề tài.
Ông Krüger cười mỉm:
“Chỉ là những ghi chép vụn vặt của tôi mỗi khi nội tâm bất an, về đời sống và con người.”
“Nói vậy, có lẽ ông cũng viết văn và làm thơ?”
“Thơ nhiều hơn văn, thưa bà.” Khuôn mặt người đàn ông bất chợt đăm chiêu.
Ông Krüger ngần ngừ như muốn tỏ bày điều gì, nhưng nín lặng, nâng tách cà phê lên miệng. Ông có nét mặt ưa nhìn, thiện cảm, thường nhoẻn cười trước khi cất lời. Giọng nói ông nhỏ nhẻ, chậm rãi, như thể đãi lọc chữ nghĩa từ đáy tâm tư thầm kín. Khuôn mặt, giọng nói và cử chỉ ấy khiến bà Lê nhớ tới một bóng hình đã đi qua và lưu lại nhiều ấn tượng đậm nét trong đời sống bà. Tới dáng dấp người đàn ông qua những buổi hẹn hò mỗi thứ năm. Trong một chỗ trọ khiêm tốn nằm dưới mái ngói một ngôi nhà nhỏ bốn tầng. Ba gian phòng hẹp, thấp, lắp những ô cửa sổ nhỏ, nằm nghiêng, nhìn ra mảnh trời hẹp.
“Làm thơ, theo ý tôi, khó hơn viết văn”, ông Krüger lên tiếng. “Thơ có thể được ví như một bức tranh ấn tượng, gợi ra trong trí người đọc những hình ảnh và cảm xúc. Thậm chí, đôi lúc, cũng có thể là những đường nét trừu tượng phóng đãng, độc giả mặc tình xét đoán.”
“Ông có thể đưa ra một thí dụ được không?”, bà Lê hỏi khẽ.
Người đàn ông đưa mắt nhìn quanh một thoáng. Ánh mắt dò xét. Màu xanh đáy mắt ông, thoáng chốc, rực lên. Như nguồn sáng ngọn đèn cao thế soi thẳng người nghệ sĩ đang đứng trên sân khấu. Im lặng phủ trùm. Thính giả và tĩnh vật như thể đông cứng, chết đứng bất chợt trước luồng thị lực thôi miên của người nghệ sĩ sắp sửa diễn đọc.
Ông Krüger buông tiếng:
“Flüchte vor der tropischen Mittagshitze
und dem Verkehrslärm
in ein Café im dritten Stock.
im chinesischen Viertel
Saigons. atme die Spuren
und trinke die Stille der Zeit.” (*)
Rồi ngưng lời.
Bà Lê soi mắt nhìn người đàn ông. Không chớp. Ông hiểu ý, cười khẽ:
“Tôi ghi lại bài thơ này, xem như dư âm những cảm xúc trong một chuyến du lịch vùng đông nam Á, sau lần ghé lại Sài gòn. Chỉ một cuối tuần. Vậy mà, không hiểu sao, cái không gian và những tĩnh vật trong quán cà-phê nơi ấy cứ bám lấy tôi. Và, vào một đêm khó ngủ, chúng chợt lên tiếng, bật thành ngữ cảnh và âm điệu thi ca. Rực rỡ như một giấc chiêm bao lạ lùng.”
“Tôi xa quê nhà đã lâu …”, bà Lê ngập ngừng, rồi tiếp lời: “Vậy mà, mấy câu thơ của ông vừa đọc làm tôi xúc động. Từ lâu rồi, tôi không trở lại chốn ấy.”
“Những cảm tình của cá nhân tôi dành cho quê hương bà, tôi nghĩ, không phải đến từ những liên hệ sinh quán giữa đất và người, mà có lẽ …”, ông Krüger ngần ngừ gạn lọc ý nghĩ, “phát xuất từ sức hấp dẫn của một xứ nhiệt đới. Và từ những nguyên do siêu hình không thể giải thích.”
Ông Krüger còn tìm cách lý giải nhiều điều khác nữa. Bà Lê chăm chú lắng nghe mà tâm tư bay lượn những nơi đâu.
 
*
 
Trước buổi hẹn đầu tiên, vào một chiều cuối hè, người đàn ông có bí danh Harmonie đã dặn dò bà trong điện thư: Khi tới, bấm nút chuông điện không bảng tên ở trên cùng. Ba lần. Ông sẽ bấm chốt cho bà tự động đẩy cửa vào. Cầu thang hẹp, váng vất mùi cải chua. Những phiến nắng hè muộn rớt lạc lõng trên sàn dán thảm nhựa. Bà Lê nhấc chân từng bước một, mỗi bước là mỗi phân vân. Cánh cửa phòng trọ tầng trên cùng đã hé sẵn. Bà Lê gõ khẽ, cũng ba lần. Người đàn ông bước ra, vẻ mặt thản nhiên, kéo rộng cửa cho bà bước vào. Không một lời chào hỏi. Dường như không gian cũng ngại ngần, quánh lại yên nghỉ. Hai khuôn mặt đối diện nhau lặng lẽ. Gian phòng hẹp. Ánh sáng mỏng. Vách tường nghiêng một bên. Ông chỉ chỗ mời bà ngồi, rồi lui vào phòng bên. Sau đó, bà Lê nghe vọng ra tiếng nước sôi sục và âm thanh men sứ va chạm lách cách.
Khi người đàn ông rót trà ra tách, bàn tay ông rớt lại trên lưng tay bà duỗi trên mặt bàn. Như thể vỗ về. Khói trà bốc thoảng hương chanh. Bà Lê rút tay về, nâng tách, kề môi, hớp ngụm nhỏ. Người đàn ông đứng lên, bước qua chỗ bà ngồi, cầm bàn tay và tách trà, đặt xuống bàn. Rồi kéo bà đứng lên, vòng tay khép lại sau lưng, siết lại. Hai thân thể ghì sát nhau. Người đàn ông dúi mặt xuống ngấn cổ ấm, lướt đầu lưỡi lên làn da tái xanh. Cổ họng bà Lê khẽ rung tiếng nấc. Miệng, môi, lưỡi người đàn ông dò dẫm tìm lên gương mặt rướn nghiêng. Khứu giác người đàn bà bắt được mùi giống đực toát ra từ hơi thở và nước bọt của người đàn ông. Găng gắt. Man dại. Đẩy người đàn bà nằm xuống sàn nhà trải thảm, người đàn ông hấp tấp trút bỏ quần áo cho nhau. Ông cúi mặt lên trũng ngực phập phồng, ngậm lấy đầu vú săn sẻ, nghiến nhẹ giữa hai hàm răng. Vuông nắng ô cửa sổ đắp mảnh tái ngoét lên bả vai người đàn bà, trông như miếng vá. Người đàn ông luồn tay mơn trớn bụng dưới ưỡn cong của người đàn bà, ve vuốt mớ lông mịn, luồn vào. Bà Lê nghẹn tiếng chới với dưới bàn tay của người đàn ông chặn miệng. Hai cánh tay bà bấu chặt bờ vai người đàn ông, khi ông đẩy phần dương tính săn chắc vào khe bụng. Sâu lún. Ẩm ướt. Nhịp thở của người đàn ông nhanh dần. Đôi lúc bà Lê phải chặn tay lên phiến ngực nạm lông của người đàn ông, ngăn cơn động tình thao túng. Khi người đàn ông nhắm mắt, nét mặt biến dạng, nửa như hoan lạc nửa như đau đớn, lưng mông nhấp nhổm vật vã, và âm thanh rên rỉ thống khoái bật ra cửa miệng, bà Lê khép mắt. Hai hàng lệ ấm bất chợt trào ra, lăn xuống thái dương. Bà nghiêng mặt sang bên, tránh khuôn mặt người đàn ông rớt xuống, lẩy bẩy hụt hẫng úp lên mang tai bà loã xoã tóc rối.
Sau khi mặc lại quần áo, bà vào phòng tắm rửa mặt và bôi sạch dấu vết điểm trang, như thể phi tang vết tích tội lỗi.
Không dưng, bà liên tưởng cái chết.
 
*
 
“Xin lỗi ông,” … bà Lê cao giọng bối rối, “Tôi lơ đễnh, mải suy nghĩ chuyện khác, nên không chú ý tới câu chuyện ông đang nói.”
“Thật ra cũng chẳng có gì quan trọng”, ông Krüger cười mỉm. “Mấy chuyện thơ văn vớ vẩn ấy mà.” Bà Lê xẻ một mẩu bánh đưa lên miệng, trộm nhìn lên mặt đồng hồ đeo tay.
“Tôi thích và thường làm thơ với ít nhiều ẩn dụ”, ông Krüger cất giọng kể. “Viết về chuyện  này để nói về chuyện khác. Không phải ai cũng hiểu. Nhưng chỉ cần đôi ba người đồng cảm, đủ rồi.”
“Tôi không am tường chuyện thơ văn, lại thêm thơ văn ngôn ngữ bản xứ”, bà Lê góp lời.
“Không sao cả.”
“Nhưng có lẽ …”, bà Lê ngập ngừng, “ông ấy sẽ hiểu thấu.”
“Ông ấy là ai?”
“Chồng tôi, thưa ông”, bà Lê buông nỉa, đáp khẽ. “Chúng tôi xa nhau hơn năm rồi.”
“Xa nhau? Ly dị hay là…?”
“Không, chồng tôi đã qua đời sau một cơn bạo bệnh.”
“Ô, xin có lời chia buồn cùng bà.”
“Cám ơn ông. Bây giờ tôi phải đi đây, vì sắp sửa tới giờ hẹn.”
Nói xong, bà Lê đứng lên, vuốt lại nếp áo, mặc áo khoác. Bà gật đầu chào ông Krüger, rồi bước lại quầy trả tiền.
Người đàn ông đứng lên theo, dõi mắt nhìn lưng áo người đàn bà Á đông mảnh khảnh bước chậm ra cửa, rồi khuất dạng sau một  đám người vừa ồn ào bước vào.
Ông ngồi xuống, đăm chiêu tự hỏi, có lẽ nào người đàn bà này cũng là một phép ẩn dụ của đời sống, mà ông chưa hiểu ra?
 
*
 
Sau mỗi lần hò hẹn tại nhà riêng với người đàn ông quen biết qua trang kết bạn trong tin mạng, bà Lê lại đón xe điện tới thăm chồng. Ông đang nằm yên nghỉ trong nghĩa trang thành phố. Để thắp cho ông một ngọn nến mới. Đặt lên bia đá khắc tên ông một nhánh hồng đỏ.
Và thì thầm lặp lại những điều đã thuộc nằm lòng:
“Mình ơi, em chắp tay xin mình tha lỗi cho em. Em là một con đàn bà hư đốn. Em đã không kiểm soát được những đòi hỏi của thân xác mình, mặc dù thâm tâm em vẫn yêu, vẫn trân quý mình như thuở nào. Em xin mình hiểu cho em. Cái con người trong giây lát hoan lạc đó không phải là em, mà của một giống cái thứ hai xấu xa tiềm ẩn trong em. Trước đó, em đã đắp lên khuôn mặt chiếc mặt nạ điểm trang, biến mình thành một con đàn bà khác. Trong suốt thời gian hoan lạc với gã đàn ông ấy, tâm trí em vẫn luôn luôn ở bên cạnh mình. Như thể em và mình đang gần gũi, chia sớt cho nhau những hoan lạc vợ chồng. Để rồi, sau đó, em bôi sạch son phấn hoá trang, trở lại với chính em. Và em tới thăm mình. Em đang đứng trước mặt mình đây, trong khoảnh khắc tự thú. Mình ơi, lúc nào em cũng là vợ, là người yêu, là kẻ đã chăm sóc cho mình suốt những năm dài phối ngẫu.”
 
NGÔ NGUYÊN DŨNG
(2.2020)
 
*aus "Allein in einem Café im chinesischen Viertel Saigons":
trốn cái nắng trưa nhiệt đới
và tiếng giao thông nhốn nháo
trong một quán cà phê ở tầng ba.
trong góc phố trung hoa
ở Sài gòn. hít thở những vết tích
và uống nỗi tĩnh lặng của thời gian.
 

Monday, December 7, 2020

BIẾT RỒI CÒN HỎI!

Đỗ Hồng Ngọc
 
Đỗ Hồng Ngọc trước tượng Phật
 
Tôi ngồi trước tượng Phật
Viết lăng nhăng mỗi ngày
Để khi nào bí thì hỏi
Phật tủm tỉm cười
“Biết rồi còn hỏi!”
 
Sáng ra đường phố
Từng bước như đi dạo
Không thấy nở hoa sen (*)
Ngước mắt nhìn lên
Một tấm biển to chữ đỏ
“Đồ ngu cao cấp”
Cửa hàng Fashion
Rơi dấu hỏi…
 
Đâu cần trốn ra khỏi cổng thành
Xóm nghèo nơi tôi ở
Bên phải là nhà bảo sanh
Bên trái là bệnh viện
Đằng kia lớp dưỡng sinh
Đằng nọ nhà quàn vô lượng thọ…
 
Hằng ngày nghe tiếng khóc trẻ con
Nghe tiếng rên người lớn
Tôi nhắc Phật đừng buồn
Không được quạu quọ, không được cau có
Không được nhăn nhó…
Phật cười
“Phải! Nó vậy đó”
 
ĐỖ HỒNG NGOC
(4.12.2020)
……………………………….
(*) Từng bước nở hoa sen, Nhất Hạnh