Tuesday, May 2, 2017

BÃO ĐÊM


Lữ Quỳnh

Tranh Nguyễn Quang Chơn

        Lúc mở mắt, hình ảnh ghi nhận đầu tiên trong căn phòng lờ mờ ánh sáng là ngọn đèn ngủ trên mặt bàn. Bóng đèn tròn đục, vàng ửng như một trái chanh chín nằm dưới cái chụp đèn không lớn quá một bàn tay. Anh lắng nghe tiếng gió hú bên ngoài cửa kính. Tiếng một cánh cửa mà ai đó quên gài, thỉnh thoảng đánh ầm vào tường từ xa nghe thật rõ. Ngoài khung cửa kính trước mặt, vẫn từ chỗ nằm, anh có thể nhìn thấy hành lang bệnh viện chạy dài dưới ánh đèn mờ và xa hơn một chút, những thân dương liễu như những vệt thẩm oằn mình trong bóng tối. Chợt anh buột miệng: Đêm nay trời bão chăng?
Không thể dỗ lại giấc ngủ, anh mở mắt thao láo nhìn trần nhà, tai lắng nghe và cố ý phân biệt các tiếng động đang có. Lúc đầu anh còn cảm thấy khó chịu với tiếng dương liễu vi vút từ xa, tiếng reo tưởng như không ngừng lại không thay đổi cường độ, làm có lúc anh đã so sánh nó với tiếng hú kinh hoàng của gió trên mái ngói. Tiếng cánh cửa đập vào tường khô và chát, anh có thể tưởng tượng ra được hình ảnh cánh cửa xanh bật ra đập vào ở một trại ngoại thương nào đó. Rồi gần hơn nữa, tiếng rên nho nhỏ từ phòng trước vọng vào. Tiếng rên nhắc anh nhớ tới những người thương binh vừa được trực thăng chở về lúc sáu giờ chiều. Những người lính  áo quần trận rách bươm im lặng nằm trên băng ca với vũng máu dưới đùi hay dưới lưng. Những người lính với ánh mắt đờ đẫn  khi biết mình đã về được quân y viện, chỉ thều thào hỏi một câu duy nhất: em có nặng lắm không? Và anh trả lời họ, những người bị nhẹ, cả những người bị nặng một câu không mấy khi thay đổi: Nhẹ mà, chịu khó đau một chút nhé...Trong khi bàn tay anh vẫn nhanh nhẹn rửa hoặc may kín vết thương của họ.

        Gió mỗi lúc càng tăng cường độ bên ngoài. Anh nghe thật rõ tiếng gió đập ào ào vào cửa kính và thổi hút từng cơn trên mái tưởng có thể làm trốc bay những lớp ngói. Anh cũng nghe thật rõ từ ngoài kia tiếng răng rắc của một thân dương sắp gãy. Cùng nỗi ái ngại về cơn bão đêm đã đến anh cảm thấy lạnh len vào cơ thể, vội đưa tay kéo chiếc chăn từ dưới chân giường tung ra phủ kín người tận cổ. Anh cảm thấy dễ chịu nhưng cảm giác ấy không đậu lâu trong anh, khi cái cảnh hiu hắt buồn bã của phòng cấp cứu phía trước  hiện ra trong trí. Dưới ánh đèn vàng võ, những người thương binh giờ này đang thiêm thiếp ngủ. Có lẽ họ ngủ được nhờ những viên thuốc an thần hoặc những ống morphine buổi chiều. Những chai nước biển trong vắt treo ở mỗi đầu giường nhỏ giọt, từng tăm nước sủi lên đều đặn. Những khuôn mặt xanh xám bất động trên dãy băng ca màu cứt ngựa càng làm tăng thêm sự yên tĩnh của đêm.
        Không thể chợp mắt được nữa, anh tung chăn bước xuống giường đi lại cửa sổ dán mũi vào ô kính. Bên ngoài trời tối đen ngoài chút ánh sáng hiu hắt ở dãy hành lang trước mặt và xa hơn,vô tình anh bắt gặp một ngọn hỏa châu bay vun vút trong gió, trông chẳng khác gì nhánh củi mục đang trôi phăng trên dòng nước lũ. Ánh sáng ngọn hỏa châu soi thật nhanh sườn đồi trọc với rất nhiều tảng đá xám. Anh nghĩ giữa một đêm bão như thế này vẫn có những người lính ở đầu ngọn núi kia còn thức để thỉnh thoảng bắn lên trái hỏa châu soi vùng kiểm soát,vẫn có những toán lính đội mưa ngồi co ro dưới một giường ruộng hay bên bờ đất tròn xoe mắt chờ đợi...Trên những vùng đất bình yên hơn thì những người đàn bà nằm thao thức giữa đám con trong giấc ngủ buồn bả đầy mộng mị héo úa đã làm nhan sắc họ tàn phai nhanh như cánh đồng lúa mơn mởn bỗng cháy xám sau một ngày nhận thuốc khai quang. Đêm nay, đêm trên quê hương Việt nam...
        Tự nhiên anh nhớ Huế, quê hương anh. Nhớ đậm đà Huế của những ngày mưa dầm và lạnh cóng. Mưa lê thê, mưa như kéo dính những cuộc đời lại. Mưa ướt đẫm con đường dẫn xuống cầu Trường Tiền. Mưa làm tê cóng những ngón tay vuốt lên thành cầu sắt.Mưa làm buồn những con đò cắm sát bờ sông và làm thấp những hàng cây trước trường Đồng Khánh. Huế trong ký ức anh là một Huế mưa dầm dề, một Huế mịt mùng hơi nước. Kỷ niệm về Huế của anh, một kỷ niệm ướt sũng mùa đông thật buồn. Nhưng nỗi buồn đó bây giờ anh mới nhận ra. Nó chỉ có trong những ngày đất nước thanh bình hay tạm yên ổn. Nhớ về những mùa đông đêm nay là nhớ về những ngày thanh bình cũ. Những ngày bây giờ không thể nào có được.
        Mưa bây giờ làm nhạt nhòa thêm đôi mắt thiếu phụ, làm trở ngại con đường nhặt tìm xác chết mỗi ngày, làm gợi nhớ những khổ đau tan nát của cuộc đời. Và gần gũi nhất bên anh lúc này là những thương binh đang đau đớn vì vết thương, đang khắc khỏai khi nghĩ đến ngày mai của họ.
        Anh bỏ khung kính trở lại chân giường lấy chiếc áo lạnh khoác vào người rồi mở cửa bước ra khỏi phòng. Một làn gió thổi thốc vào hiên làm anh ngừng lại, đầu hơi cúi và một tay đưa lên mắt che hơi nước. Chờ cho đợt gió qua, anh bước nhanh khỏi thềm cửa, rồi rẽ về phía trái để vào dãy hành lang dài hun hút. Những bóng đèn vàng vỏ lác đác trong hơi nước. Những bóng đèn trước mỗi trại bệnh trông thật hiu quạnh. Anh dừng lại vén tay xem đồng hồ dưới chút ánh sáng đầu trại Tê liệt chiếu hắt ra. Những bụi nước bám nhanh vào mặt kính, kim đồng hồ chỉ hai giờ kém năm. Giờ của nửa đêm về sáng. Giờ của những giấc ngủ nồng, những cơn mộng đẹp. Giờ của những thao thức không còn những xót xa không có. Giờ của ý thức ngủ yên. Giờ này trong giấc ngủ say có thể người thương binh đang mơ thấy mình là một cầu thủ đang giao banh thật đẹp trên sân cỏ,dìu người yêu đi dưới bóng cây, hay lái xe đưa tình nhân ra ngoại ô thành phố...Có thể họ đã có những giấc mơ như thế,nhưng anh không bao giờ muốn những giấc mơ đó còn lại với họ khi ngày bắt đầu. Vì họ thuộc cấp độ tàn phế cao. Họ không thể, không bao giờ còn có nữa trong đời sống hình ảnh trong các giấc mơ kia.
        Bão vẫn tiếp tục hoành hành trong đêm. Những đợt mưa lạnh buốt thổi dạt qua hàng hiên trắng xóa hắt vào anh tê cóng. Anh đưa tay kéo cao cổ áo và tần ngần dừng lại giữa hành lang. Một lúc anh bước vào trại bệnh. Trước khi khuất vào cánh cửa anh còn kịp thấy những thân dương gãy đổ ngoài mặt đường, chỗ gãy phơi màu trắng nõn của ruột cây trong bóng tối. Anh bước qua chỗ người y tá trực ngủ thật nhẹ nhàng, cố giữ im lặng tuyệt đối. Khi đứng ở đầu phòng bệnh nhìn suốt hai dãy giường với những thương binh mặc áo quần xanh nằm bất động, anh yên tâm nghĩ tất cả họ đều ngủ yên. Anh đứng  ngắm họ, giờ đây ngủ trong những thế nằm thật thoải mái, ngoan ngoãn như trẻ thơ. Sau những đôi mi khép kia, hẳn đang dàn trải một cảnh đời tươi đẹp mà hằng ngày dưới ánh sáng mặt trời họ cảm thấy thiếu thốn thèm khát. Sự thèm khát tưởng như bị ngâm trong nỗi thất vọng tột cùng. Nỗi thất vọng như dấm chua và sự thèm khát kia, dù ê răng vẫn không thể nào không có.
        Cụt một cánh tay, bị cưa mất đôi chân hay tê liệt cả thân người, anh thương binh nào cũng sống lặng lẽ trong những ngày đầu với đêm đêm ướt sũng nước mắt,với nỗi tuyệt vọng lịm hồn, chỉ vì bấy giờ họ còn gần gũi với ngày hôm qua quá. Ngày qua và hôm nay thật vô cùng cách biệt với cuộc đời họ. Hôm qua với tháng ngày xanh mướt quá khứ, hôm qua với nguyên vẹn thân thể ngày chào đời. Nhưng từ bây giờ trở đi cho đến suốt cả tương lai ngun ngút của phần đời còn lại, họ sẽ sống với tấm thân dị hợm mà chiến tranh  tạo nên với không một tình cờ thích thú, không một hy vọng đổi thay.
        Hôm nay họ thấy suốt cả tháng năm cuối cùng của cuộc đời. Họ buồn khổ vì sự bất hạnh đó nhưng sự bất hạnh rồi cũng theo thời gian mà trở nên quen cũ. Vừa nghĩ ngợi vừa bước đi giữa hai dãy giường kê sát bỗng anh dừng lại, ngạc nhiên nhìn sững một cánh tay buông thõng ngòai chân mùng. Anh tiến lại gần.Trước mặt,sau lớp vải mùng thưa người thương binh đang mở mắt thao láo nhìn ngọn đèn trên trần nhà. Có lẽ hắn không biết sự có mặt của anh nãy giờ trong phòng này. Khuôn mặt hắn trông xanh mướt dưới ánh sáng. Đôi mắt tròn mà tròng trắng chiếm phần lớn nhìn lên bất động. Anh biết người thương binh còn thức và rất tỉnh không phải chỉ nhờ vào đôi mắt ấy mà còn vì những cái nhíu mày khổ sở khi tiếng gió rít trên mái,mang theo hơi lạnh dạt qua các khe cửa sổ. Bão bên ngoài còn tiếp tục, anh thầm nghĩ và cúi nhìn hắn qua lớp mùng. Đôi mắt người thương binh hạ xuống khi nhận ra anh bên cạnh giường. Anh đưa tay đặt lên mu bàn tay hắn, bàn tay lạnh ngắt,bàn tay chỉ còn da bọc xương ấy lạnh ngắt . Anh hỏi:
        - Sao em không ngủ?
        Người thương binh tê liệt nhìn anh không trả lời. Hắn đưa lưỡi ra liếm mép trong khi anh cầm lấy bàn tay hắn, bàn tay mềm nhủn và lạnh. Hắn còn trẻ quá.
        - Sao em chưa ngủ?
        Anh thấy đôi mắt hắn long lanh. Trong ánh mắt vừa lóe lên một tia sáng nhỏ nhưng anh chưa kịp nhận ra. Hắn tiếp tục cho lưỡi liếm vòng qua hai vành môi, một lúc sau mới thì thào:
        - Nhờ nhặt giùm em chiếc mền...
        Câu nói của hắn nhỏ và tắt nhanh như một hơi gió. Câu nói thốt ra từ đôi môi xanh mét đó, nghe rồi anh vẫn tưởng như không phải do nó thốt ra. Người thương binh đã không thể chợp mắt được vì lạnh quá, mà chiếc chăn lại quái ác rơi tuột khỏi giường. Anh xúc động đến lặng người khi nhận ra điều đó. Trời lạnh căm mà phải nhìn chiếc chăn trong tầm tay bất lực để thèm vô cùng một hơi ấm. Đó là sự xao xuyến trong đôi mắt buồn bả,nỗi nghẹn ngào trong câu nói thì thào như hơi gió kia cùng tâm trạng người thương binh suốt đầu đêm đến giờ. Hắn đã chịu đựng,sự chịu đựng có từ nguyên nhân hết sức vô nghĩa. Hắn như con ve sầu với đôi cánh bị dính chặt vào nhựa cây của đám trẻ nghịch ngợm nhìn vòm trời xanh mà tuyệt vọng. Anh đi vòng qua bên kia giường nhặt chiếc chăn lên đắp cho người thương binh. Anh nhìn xuống đôi mắt thiết tha bấy giờ đã có vẻ nồng ấm. Anh có cảm tưởng như mình vừa ũ rơm cho một con chim ướt. Không nén được thoáng vui lẫn với nổi bùi ngùi trong lòng, anh cúi xuống đôi mắt đang reo vui kia mỉm cười:
        - Nãy giờ không ngủ được vì lạnh quá phải không ?
        Hắn gật đầu. Anh nói tiếp:
        - Bây giờ thì ấm áp rồi đấy nhé, gắng ngủ đi.

        Người thương binh từ từ khép mắt. Anh chậm rãi bước ra khỏi phòng. Đến giữa hành lang một làn mưa quất vào mặt lạnh cóng,nhưng cảm giác đó lại làm anh cảm thấy dễ chịu. Anh đi dọc theo dãy đèn vàng hiu hắt, cố giữ thăng bằng trên mỗi bước chân vì gió và thềm hành lang trơn ướt. Hình ảnh người thương binh vẫn chưa rời tâm trí anh. Hôm hắn được chở từ mặt trận về với mảnh đạn xuyên vào đốt xương sống phía sau gáy, anh đã không có chút lạc quan nào về vết thương hiểm hóc ấy cả. Mảnh đạn thật nhỏ, nhưng tác dụng thật lớn trên một đời người.
        Những trại bệnh nằm im lìm dưới mưa. Một sự im lìm chứ không phải im lặng.Bởi trong nó anh còn nhận ra được những âm sắc mơ hồ buồn bả gợn lên sự sống. Anh dừng lại ở cuối hành lang, từ đó có thể nhìn thấy thềm hiên của phòng Cấp Cứu. Ngọn đèn đầu mái chiếu sáng một khoảng sân.Những chiếc băng ca xếp gọn dựng thẳng thành dãy. Ở đó thường xuyên rộn rịp những trực thăng tản thương lên xuống mỗi khi có sự sôi động từ mặt trận ngoài thành phố. Đêm nay cảnh đó không có nhưng không phải từ nay cảnh đó không có.
        Gió có phần nhẹ hơn. Cơn bão tưởng như cũng sắp tàn. Tuy thế khi quay trở về căn phòng của mình,anh vẫn phải chú ý dưới mỗi bước chân và đưa tay kéo cao cổ áo. Anh nghĩ người thương binh tê liệt giờ này đã ngủ ngon. Chiếc chăn mang hơi ấm cùng những giấc mơ an lành đã đến với hắn. Anh mỉm cười trong bóng tối. Anh nhìn ra bãi cỏ nơi dùng làm sân trực thăng đang trắng mù hơi nước. Đêm nay không có thương binh về. Cơn bão hình như cũng đã dứt. Ai mà chẳng mong hai cảnh ấy đừng xảy ra. Lúc nhỏ anh sợ bão vô cùng nhất là những trận bão đêm, cũng như bây giờ anh rất bồn chồn lo âu khi nhìn cảnh thương binh về tấp nập.
        Nhưng những cơn bão như đêm nay thế nào rồi cũng chấm dứt. Còn cảnh thương binh về, biết đến bao giờ?

LỮ QUỲNH
Quy Nhơn, 1971




Monday, May 1, 2017

GIẢ SỬ. MAI TA VỀ


nguyễn xuân thiệp

Những cánh sao khô

Giả sử. mai đây. ta về lại trên đường
gặp tuổi thơ ta. cười ròn tan trong nắng
đuổi bắt trái sao khô. bay tròn. khi gió vang
ai gọi ta. mà mùa vui rơi đỏ mộng

giả sử mai đây. ta về. trên con phố cũ
ai thắp lên cho ta. những ngọn đèn. trong sương
có đôi mắt nào. nhìn ta. qua khung cửa kính
đâu con gấu bông vàng. từng mơ. mùa chín
                                                          mật hương

a. cuộc đời. dẫu đã xa. còn y như ngày trước
với những bức tường nghiêng. và những khóm
                                                            tầm xuân
ai trèo lên cao. mà vừa nghe huýt sáo
mặt trời. bạn hiền ơi. chờ ta qua mấy ngọn
                                                     thùy dương

bởi chiếc roi bạo lực chẳng thể vung hoài
                                                     trong gió
chú ngựa non. reo tiếng lạc. sau đồi
các con ta. dưới vầng trăng tuổi nhỏ
với ước vọng xanh. thuở ngồi thổi bóng lên trời

và em nữa. tất nhiên. vẫn là em thời trẻ
của sài gòn. hằng mở cửa. những đêm vui
em và sài gòn. ăn ô mai. ngoài phố
em và sài gòn. trên một vệt son môi

đã lâu lắm. dường như. ta không còn trẻ nữa
con chim biếc bay rồi. vườn vắng. cây khô
chợt một buổi. nghe dòng sông. nước chảy
gọi ta về. thầm kể. những cơn mơ

ta bỗng thấy. em đi. giữa chiều áo lụa
dãy phố dài. thấp thoáng. bóng dù xưa
em tay dắt con. mắt nhìn trời. rộng mở
khi nắng reo hanh vàng. mùa mới sang thu

ôi. giả sử mai đây. ta về lại. bên đời
dẫu chẳng còn ai biết đến ta. chẳng còn ai đợi
                                                           cửa
thì trọn kiếp ta xin làm người nghệ sĩ. rong chơi
đi đọc thơ ta. giữa những vùng bụi đỏ

NXT

LÁ TÂM THƯ


Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng

Nhà thờ Đức Bà. Tháng 7. 1975. Hình Internet

Em thương mến,

Mấy ngày nay trời California trở nên nóng nực lạ thường.  Cái nóng nực của những ngày cuối tháng tư, như một sự gợi nhớ, đưa anh về vùng trời quê hương với những giọt nước mắt buồn tủi, khóc cho quê mẹ, khóc cho thân phận mình, và khóc cho số phận bi thương của cả một dân tộc.  Hai mươi ba năm về trước, những ngày cuối tháng tư là những chuỗi ngày bi thương nhất, trong lịch sử của chúng ta.  Vâng, ngày ấy, những ngày mà hàng triệu người Việt yêu Tự Do ở miền Nam đã phải bật khóc khi nhìn thấy từng thành thị, từng thôn xóm, từng mảnh vườn đã lần lượt rơi vào tay Cộng Quân Bắc Việt.

Những trái đạn đại pháo của chúng đã phóng bừa bãi vào những giòng người dân thường vô tội, lếch thếch mệt mỏi di tản trên quốc lộ 1  trong cái nắng chói chang, tránh xa những đơn vị thù địch bạo tàn, của một cố đô Huế trong Tết Mậu Thân, của một Quảng Trị với “khu phố buồn thiu” của “đại lộ kinh hoàng”, của Bình Long tan hoang, của Kontum ngập máu, và của một Pleiku-Phú Bổn với liên tỉnh lộ số 7 đầy ngập xác người. Những tràng liên thanh xối xả bắn theo đoàn người khốn khổ, tay xách nách mang, những đoàn người không một tấc sắt trong tay, nhưng một lòng son sắt, cương quyết tìm đủ mọi phương tiện xuôi về Nam theo chân đoàn chiến binh cộng hòa.
Từ trên cao nguyên “buồn muôn thuở”, quanh năm mây mù che phủ của một Ban Mê Thuột, đến thành phố hoa mộng Đà Lạt trên cao nguyên Lâm Viên, với  những rừng thông ngút ngàn, những người Việt yêu Tự Do cũng đã gạt nước mắt,  bỏ lại sau lưng tất cả những gì thân thương để chỉ đổi lấy một hơi thở của Tự Do.  Họ đã cương quyết chọn chế độ Miền Nam bằng đôi chân bé nhỏ trong giờ phút nguy nan nhất của lịch sử nước Việt Nam Cộng Hòa.  Những thôn ấp hoang tàn, những khu xóm trơ trọi, những nấm mồ đắp vội còn hăng mùi đất mới.  Những tấm khăn xô vội vã chít lên. Những tiếng khóc ai oán bi thương của một người cha hay người mẹ vừa mất con trong một trận cuồng sát.  Và có những người vợ trẻ khóc chồng, những em bé xụt xùi bên mẹ, khóc cho những người cha vừa nằm xuống, tất cả đã biến thành một suối lệ đầy thống hận và bi thương đổ xuống địa ngục trần gian.
Vinh quang của đảng Cộng Sản Việt Nam đấy. Vinh quang của những người lính Bắc Việt đấy. “Đường vinh quang xây xác quân thù”, lời ca sặc mùi khát máu của những người Cộng Sản Việt Nam. Dù cho có thay lời, đổi tựa, nhưng trước sau vẫn là thế.  Người ta xây vinh quang bằng xương, bằng máu, của chính đồng bào của mình. Người ta xây vinh quang bằng chính nỗi thống khổ của những người cùng chung huyết thống, nhưng không cùng một chí hướng với họ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày kết thúc một cuộc chiến bi thảm nhất trong lịch sử 30 năm chiến tranh tương tàn  Ngày phải đến đã đến. Cả miền Nam tràn ngập dưới dép râu và nón cối của những con người không mời mà đến, những con người “hăm hở đi giải phóng"những con người mà sự hiểu biết về thế giới bên ngoài chưa vượt qua khỏi lũy tre xanh, những con người cuồng tín, những con người được Đảng và Nhà nước Cộng Sản cấy vào người lá bùa sinh tử, lá bùa cuồng tín, làm theo tất cả những cái gì có lợi cho mục tiêu của Đảng Cộng Sản là luân lý, là lý tưởng.
     Ngày ấy, cũng như bao nhiêu người miền Nam khác, lòng anh tan nát, thể xác rã rời, trước những biến cố xẩy đến theo một nhịp độ dồn dập.  Một niềm chua xót dâng lên nghẹn ứ, khi thấy rằng mảnh đất hứa miền Nam, tương lai của một dân tộc hiếu hòa phút chốc đã sụp đổ trước đoàn quân xung kích hiếu chiến của Cộng Sản Quốc Tế. Niềm chua xót cho anh, cho em, cho con, và cho cả một dân tộc, cho bao nhiêu thế hệ rồi đây sẽ mãi mãi chìm ngập trong gông cùm của chủ nghĩa ngoại lai, chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa hận thù.

Saigòn, một ngày cuối tháng tư, một ngày mà tất cả những gì thân thương nhất đã vuột khỏi tầm tay của mình, một ngày mà tang tóc đã trùm phủ lên phần đất cuối cùng của Miền Nam Việt Nam. Những năm dài chiến đấu, những năm dài với những sự hy sinh vô bờ bến của quân dân miền Nam trong nỗ lực bảo vệ phần đất Tự Do trong đó có anh và có em, cuối cùng đã thúc thủ trước một bọn người cuồng tín, dưới sự lãnh đạo của một đảng Cộng Sản Mác xít tàn bạo kiểu Á châu thời trung cổ.

Nền đệ nhị cộng hòa bị bức tử vào sáng ngày 30 tháng tư với lời tuyên bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, vị Tổng thống ba ngày của chế độ miền Nam đang trong cơn hấp hối.  Uy quyền tối cao của quốc gia được biểu hiệu bằng Dinh Độc Lập đã không còn nữa, khi chiếc xe tăng T54 của bọn Cộng Quân Bắc Việt tiến vào, sau khi đã ủi sập cánh cổng chính đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ tuy còn nhiều khiếm khuyết trong cơ chế dân chủ, nhưng nếu đem so sánh với chế độ Cộng Sản phi nhân hiện nay, thì còn tốt hơn chúng đến cả ngàn lần.
Anh còn nhớ cái buổi sáng hôm ấy, nếu không vì tình đồng đội, nghĩa đơn vị anh đã cao chạy xa bay rồi, đâu còn phải ở lại để chuốc lấy sự ê chề ấy đến cả hàng bao nhiêu năm trời sống trong tù ngục.  Đêm hôm ấy, anh và em đã khóc thật nhiều. Khóc vì mủi lòng, khóc vì xót thương cho chính mình, khóc vì xót thương cho cả một dân tộc bị đọa đầy, và khóc cho những thế hệ trẻ Việt Nam rồi đây sẽ phải sống trong  cảnh tối tăm ngu muội vì sự nhồi nhét của một chủ nghĩa không tưởng, một chủ nghĩa lấy hận thù làm cứu cánh để biện minh cho hành động phi nhân của chúng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà lịch sử Việt Nam đã sang một trang mới, một trang sử nhục nhã, khi mà người bạn đồng minh đã phản bội, tìm đủ mọi cách để trói tay chúng ta, để rồi mảnh đất miền Nam bị rơi vào tay một bọn người ngông cuồng, và tự phụ.  Đã hai mươi ba năm rồi, bọn người ngông cuồng ấy đã làm gì cho đất nước Việt Nam, một đất nước đã xác xơ trong chiến tranh, giờ đây lại xác xơ vì những ông quan cán bộ, tham nhũng, hủ hóa, đủ mọi thói hư tật xấu, những con người xưa nay vẫn vỗ ngực xưng tên là thế này thế nọ, mà thực chất, chỉ là một bọn người vô tích sự, đập phá hơn là xây dựng, áp bức dân chúng còn hơn dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, đặt quyền lợi của phe nhóm trên quyền lợi của đất nước, lấy sự củng cố quyền lực làm cứu cánh, lấy súng đạn trấn áp làm phương tiện.
Bọn vô tích sự này nhắm mắt làm ngơ trước bao nhiêu cái khổ của của đồng bào cả nước, trong đó có em và có con của chúng ta.  Em và con bây giờ ở đâu.  Ở một thành thị, hay ở một thôn  xóm hẻo lánh nào xa xôi trên cái đất nước khốn khổ ấy? Em còn nhớ hay không?  Những ngày tháng trôi đi trong sự mong chờ mòn mỏi,.  Anh ngậm ngùi nghĩ đến cái buổi chia tay đầy nước mắt, lúc em và con tiễn chân anh đi trình diện “học tập cải tạo mười ngày” không? Mười ngày biến thành mười năm, và bây giờ đã là năm thứ hai mươi ba.

Ngày ấy cũng là ngày em dắt con về nương náu quê ngoại ở cái thị trấn nghèo nàn miền cao nguyên heo hút ấy, còn anh thì “được đi học tập cải tạo” để “được Đảng và cán bộ giáo dục”, để có dịp học được  những cái ngu xuẩn, thô thiển, đớn hèn của một lớp người,  đã lộ rõ cái bản chất tráo trở, láo khoét, và buồn cười thay kẻ đứng ra làm thầy dậy đời lại ngu hơn học viên gấp bao nhiêu lần.
Anh còn nhớ cái ngày em và con, từ miền cao nguyên xa xôi, đã vượt qua cả hàng ngàn cây số đến thăm anh ở một trại lao động khổ sai ở mãi ngoài miền Bắc Việt Nam.  Gặp nhau sau ba năm xa cách, tiếng khóc thay cho tiếng cười, và đôi mắt thơ ngây của đứa con gái sáu tuổi cũng rưng rưng theo mẹ.  Anh đã ôm con vào lòng, tưởng chừng như đứt từng khúc ruột. Định mệnh thật trớ trêu. Lần thăm ấy là lần đầu, và cũng là lần chót.  Em đã gửi cho anh một bức thư  ướp bằng những giọt nước mắt.  Lá thư nhầu nát ấy mang dấu bưu điện của một thị trấn miền cao, tới tay anh một năm sau ngày gửi.

Linh cảm cho anh thấy có lẽ đây là bức thư đầu và cũng là bức thư cuối. Trong thư em đã an ủi anh, khuyên anh hãy giữ gìn sức khỏe, can đảm nhẫn nhục, để chờ một ngày nào đó được đoàn tụ với em và con. Buổi chiều hôm nhận được thư, anh đã co mình trong chiếc chăn đơn, ôm lá thư vào lòng, khóc mùi mẫn.  Nhưng ngày ấy chẳng bao giờ có cả.  Anh đã bặt tin em và con, từ sau ngày nhận được bức thư ấy. Lá thư nhầu nát đã trở thành một di chúc, chấm dứt giấc mơ đoàn viên của chúng mình. Anh đã ấp ủ, trân quý nó như một báu vật, bất khả phân ly, bức di thư của một người vợ trẻ, một người phụ nữ miền Nam, mà hạnh phúc từng ngày từng giờ đã gắn liền với hạnh phúc chung của cả một đơn vị, một tập thể, nhưng mà là một hạnh phúc chẳng bao giờ trọn vẹn, một hạnh phúc xen lẫn những dư vị đắng cay của những năm tháng chất chồng trong ly loạn., lúc hợp lúc tan.

Hai mươi ba năm về trước em đã cho anh những lời an ủi thiết tha của một người vợ trẻ có tình có nghĩa, có thủy có chung., và bây giờ hai mươi ba năm về sau, với mái tóc bạc phong sương, anh thẫn thờ đi trong buổi hoàng hôn của một ngày có nắng, thả hồn mình về quê hương, ôn lại cái dĩ vãng của anh và của em, cái dĩ vãng ắp đầy hoa mộng của một cô thôn nữ hiền hòa, với một chàng quân nhân đa tình, đã đem tình yêu trai gái xây đắp thành một tình yêu cao cả, dâng hiến cho đơn vị, và cho Tổ Quốc, trong cuộc chiến giữ nước, vĩ đại và cao cả.  Em đã cho anh những giây phút ấm lòng, những dư vị ngọt ngào của tình yêu, sự thương yêu nồng nàn của một người vợ trẻ có tấm lòng vị tha và nhân hậu…Lá thư của em còn đây- lá thư với những nét chữ tròn trịa, nhưng nhạt nhòa, chữ được chữ mất. Chắc em đã viết bức thư này trong cơn xúc động nhất.  Cám ơn  em, người vợ thương yêu đã giữ lại cho anh một chút kỷ niệm khó phai, một chút gì an ủi còn lại trong cuộc đời xa xứ của anh, cũng như của bao nhiêu con người khác cùng cảnh ngộ.  Em và con bây giờ ở đâu?

VÂN HẢI NGUYỄN XUÂN HÙNG

Viết tại Nghênh Phong Các thuộc thành phố Santa Ana, California buổi tối của một ngày cuối tháng ba năm 1993.

GIỚI THIỆU TRANG VĂN HỌC BIỂN KHƠI


Phố Văn

Phố Văn trân trọng giới thiệu
BIỂN KHƠI SỐ 74
trang đặc san văn nghệ liên mạng, phát hành mỗi tam cá nguyệt
Chủ biên: nhà văn Vũ Hoàng Thư.
Xin mời các bạn vào xem.