Sunday, May 1, 2016

CHIA TAY PHAN LẠC PHÚC



nguyễn xuân thiệp


Nhà văn Phan Lạc Phúc và tác phẩm

Bìa báo Phố Văn

Ở thế kỷ này, chia tay nhau đâu còn có trường đình, đoản đình hay ải tây nơi quan ngoại, hoặc giả một phù dung lâu. Và cũng không cần một bến sông, sân ga, cầu tàu, phi trường, trạm xe greyhound… hay một nơi nào đó gọi là funeral home. Chia tay nhau ngày hôm nay chỉ cần trên một trang web ảo, hay một trang báo giấy khiêm nhường.
Và theo cách thức như thế, chúng ta đã chia tay Phùng Nguyễn, Đinh Cường, Nguyễn Ngọc Bích, Hoài Khanh, Tạ Chí Đại Trường, và mới đây Phan Lạc Phúc. Theo các bạn văn cho biết Phan Lạc Phúc ra đi ngày 28 tháng 4. 2016 tại Úc sau một cơn đột quỵ. Ôi, chỉ trong vòng nửa năm thôi mà có quá nhiều anh em ra đi, lại toàn là người có tài, tử tế, có tấm lòng với đất nước. Một câu hỏi lờn vởn trong tâm trí những bạn bè còn ở lại: Sau Phan Lạc Phúc rồi sẽ là ai nữa đây.

Người viết những dòng này với Phan Lạc Phúc có mối liên hệ hơi đặc biệt. Ông và Hà Thượng Nhân thuộc lớp người đi trước. Khi bọn này (NXT, Huy Phương, Mai Trung Tĩnh…) ra trường với lon chuẩn úy thì các ông đã ở cấp bậc cao và nổi tiếng. Hà Thượng Nhân với những bài thơ Đàn Ngang Cung trên báo Tự Do, rồi làm giám đốc Đài Phát Thanh Sài Gòn và chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến của Quân Đội. Phan Lạc Phúc cũng từ báo Tiền Tuyến và lừng lẫy với mục Tạp Ghi dưới bút hiệu Ký Giả Lô Răng. Có thể nói Phan Lạc Phúc là người đầu tiên đưa Tạp Ghi lên thành một thể loại văn chương (như Tùy Bút vậy – Vũ Trung Tùy Bút). Sau này một số nhà văn dùng theo và nó trở thành phổ biến.

Sau ngày ở quân trường ra, Nguyễn là người mê đọc Tạp Ghi của ký giả Lô Răng. Với kiến thức quảng bác, tấm lòng nhân hậu, chữ nghĩa giàu có và giọng văn dí dỏm, Phan Lạc Phúc đã quyến rũ người đọc. Mê văn nhưng chưa bao giờ được quen với người. Nhiều lần ghé thăm bạn bè ở Đài Phát Thanh Quân Đội và Phòng Báo Chí, vậy mà Nguyễn chưa hề gặp mặt bắt tay Phan Lạc Phúc. Chỉ thấy ông loáng thoáng đâu đó, đang cười nói với Hà Thượng Nhân và Nguyễn Đạt Thịnh. Sau này đi tù trên đất Bắc Nguyễn cũng chỉ gặp và kết thân với Hà Thượng Nhân. Mãi tới mấy năm sau khi đi tù về, tới ăn ở tiệm phở Nguyễn Minh Diễm trong Chợ Lớn, Nguyễn mới được gặp và chuyện trò với Phan Lạc Phúc. Ông vẫn giữ được vóc dáng và phong cách của một quân nhân.

Ra hải ngoại, Nguyễn vẫn được đọc những bài tạp ghi của Phan Lạc Phúc. Ông định cư ở Úc và thỉnh thoảng viết cho các báo ở Mỹ này. Vẫn những bài tạp ghi đầy chất humour và trí tuệ. Văn phong của Phan Lạc Phúc luôn giữ được vẻ đẹp và sự hấp dẫn khiến Nguyễn đọc ông với sự thích thú và lòng ngưỡng mộ. Không riêng Nguyễn mà nhiều người nữa cũng rất quý Phan Lạc Phúc. Nhà báo Giao Chỉ Vũ Văn Lộc đã viết: “Tìm trên Internet với tên Phan Lạc Phúc các bạn sẽ thấy toàn là những bài bác viết đầy chuyện tử tế, nhân hậu để lại cho chúng ta. Tôi là độc giả của bác từ Việt Nam. Rồi khi ra tù qua Úc, bác Phúc tiếp tục viết Tạp Ghi chuyện xa gần quanh ta cho bạn bè. Sự nhân hậu tử tế thể hiện trong văn phong cả chuyện trong tù. Đối với bác Phúc có cả những tay cai tù và ngay cả trưởng trại tù cũng có người tử tế. Bác viết về chuyện người coi trại tù khi nói chuyện với những tù cải tạo gọi là các ông. Chuyện chưa từng có.”

Lưu Na, một cây bút trẻ, trong một bài viết tựa đề Tháng Tư Hoa Tím đã bày tỏ lòng tưởng nhớ Phan Lạc Phúc. Cô viết khi đọc Tuyển Tập Tạp Ghi của tác giả: “Bên cạnh những nhận định đơn giản mạch lạc và chắc chắn về thế cuộc, PLP còn có những thẩm nhận tinh tế về văn hóa, con người. Qua PLP, những bóng người đã một lần có mặt trong cuộc bể dâu hiện ra như phố đêm Sài gòn quanh co khuất nẻo, những uẩn khúc không ai biết đến nói lên can qua không chỉ trên đất nước mà còn trong nội tâm của tác giả, nơi hoàn cảnh mỗi gia đình, trong suy tư của người dân một đất nước.”

Bây giờ xin nói đến chút tình và kỷ niệm của Phan Lạc Phúc với Nguyễn và tạp chí Phố Văn. Hồi đó, năm 2000, khi chuẩn bị ra tờ Phố Văn, Nguyễn viết thư nhờ Phan Lạc Phúc viết cho vài lời giới thiệu. Phan Lạc Phúc bèn viết ngay một bài rất đặc sắc. Sau đây là một trích đoạn:

“Hôm nay mới gặp Tần Thủy Hoàng
Bạo chúa như ông sướng hay khổ
Trời đã sang thu lá đã vàng
Ông khóc hay cười trong nấm mộ...
-Chị buông ra em còn về viễn phố

“Hôm nay mấy câu thơ đầu tiên trong vở kịch Người Điên của Hoàng Cầm lại trở về trong ký ức tôi. Vở kịch này được công diễn lần đầu trước ít ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ (19 tháng 12-1946). Ngày thường thì tôi quên... nhưng vài bữa nay tôi nhớ sau 54 năm xa cách. Tôi vừa nhận được thư của bạn cũ, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp từ Texas (Hoa Kỳ) gửi sang. Ông bạn tôi đang có ý định “ra” một tờ báo thuần văn nghệ lấy tên là PHỐ VĂN. Từ chữ PHỐ lạ lẫm, bỗng nhiên tâm viên ý mã tôi nhớ lại “Chị buông ra em còn về viễn phố”. Chị ở đây là một người đàn bà điên đang đi tìm chồng và cũng muốn nhân đó xóa đi một chế độ độc tài hà khắc. Người mà người đàn bà điên (Kiều Loan) nắm lấy tay không phải là Tần Thủy Hoàng mà chỉ là một cô gái nhỏ. “Chị buông tay em ra (em đâu phải là Tần Thủy Hoàng) cho em đi về nhà -nhà em xa lắm ở một bến sông xa”. Viễn phố tức là bến sông xa -đầu mối của mọi sự liên tưởng và khơi gợi.
     “Trong tình yêu cũng như trong chữ nghĩa, có nhiều điều khó giải thích. “Trái tim có lý lẽ riêng của nó mà lý trí không hiểu được.” Có những chữ đối với tôi nó hoang đường huyền thoại, tôi vừa yêu vừa sợ nó -ví dụ như viễn-phố-bến-sông-xa. Sự yêu mến làm bật dậy một số câu thơ đã “yên nghỉ” trên nửa thế kỷ nay trong tiềm thức. Bến-sông-xa là một cuộc hành hương trở về kỷ niệm. Bến Trung Hà trên Quảng Oai nước sông Cái (Hồng Hà) đỏ lừ -ngày xưa gọi là ngã ba Hạc... đi sang bên kia là Việt Trì địa đầu trấn Sơn Hưng Tuyên (Sơn Tây-Hưng Hóa-Tuyên Quang) lịch sử. Hay là bến Ngọc Bài của nhánh sông Tích Giang nước chảy lặng lờ -lên Thạch Bích rồi ra sông Đáy qua Đồng Quan-Chợ Đại-Cống Thần đi vào Phát Diệm (Ninh Bình) rồi thẳng vô chợ Rừng Thông (Thanh Hóa) của một thời kháng chiến...
    “Chữ bến sông, bến đò bao giờ cũng gợi ra trong tôi một sự chia ly nào đó. Mình sợ cũng không làm sao tránh được. Ôi! ‘cảnh biệt ly sao mà buồn vậy’ cũng bắt đầu từ đấy. “Cơm nước xong, thầy mẹ tôi, anh chị em tôi, cả những kẻ ăn người ở trong nhà đều đưa tôi ra bến đò, chỗ thuyền đậu”. Bến đò là chỗ chia tay. Nó bắt đầu từ chữ PHỐ của ông đấy -thưa ông Nguyễn Xuân Thiệp.”
   Và rồi Phan Lạc Phúc đi tìm từ nguyên của chữ Phố bằng cách hỏi một anh bạn trẻ tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài Gòn ban Việt Hán. Chữ Phố viết với bộ thủy là bến sông còn viết với bộ kim có nghĩa nơi đổi trao mua bán như phố phường, phố thị. Rồi ông bạn của Nguyễn làm một cuộc hành hương ra Bắc vô Nam tìm xem con phố nào có thể gọi là Phố Văn. Trường Thi, Khâm Thiên đều không hợp. Tự Do, Phạm Ngũ Lão ở Sài Gòn ngày xưa cũng chưa trọn nghĩa. Cuối cùng Phan Lạc Phúc đi tới kết luận:  “Đi tìm một sự đồng thuận về Phố Văn thật khó. Chúng ta có lẽ phải bắt chước một nhà nghệ sĩ Âu Châu lưu vong khi ông nói đại ý rằng: “Nơi nào có Tự Do, nơi ấy là quê hương”. Chúng ta không đi tìm được một địa chỉ phố văn cụ thể; vậy tờ báo nào, tạp chí nào, cuốn sách nào có “văn” thì nơi ấy là Phố Văn. Không chừng ông bạn làm thơ của tôi ở Texas đang chủ trương như vậy. Nhưng ý hướng là một chuyện -có thực hiện được không là chuyện khác. Cho nên thưa ông Nguyễn Xuân Thiệp... tôi vừa mừng cho ông, vừa lo cho ông?”
   Phải nói là một bài văn xuất sắc. Các bạn của Nguyễn có thể vào mục Giới thiệu phovanblog trên Blog Phố Văn để đọc toàn bài và thưởng thức văn phong vừa trí tuệ uyên bác vừa nhân hậu lại đượm chút u mặc. Quả thật ít người viết được như thế. Phan Lạc Phúc vừa là người của văn chương vừa là người của những giao tình ấm áp. Mới năm ngoái đây khi Nguyễn chuẩn bị in Sài Gòn Nơi Tôi Đã Vui Chơi Và Nhỏ Lệ cho Nguyễn Quang Hiện, Phan Lạc Phúc từ bên Úc gọi điện hỏi thăm và chúc sức khỏe. Thời gian qua cũng nhiều khi Nguyễn được đọc những bài Tạp Ghi của Phan Lạc Phúc như khi ông viết về Phượng Tím (Jacaranda) ở Úc, viết về những kỷ niệm với Phạm Đình Chương hay tảo mộ những bạn tù xấu số. Và trong bài viết mới đây về Thanh Minh, Nguyễn cũng đã tìm đọc lại ông. Bây giờ thì ông đã về nơi viễn phố, nơi ước mong sẽ không có chiến tranh, trại tù và những nắng quái mưa hoang. Ông Phan Lạc Phúc ơi, văn chương và Tạp Ghi của ông sẽ còn mãi cũng như cái tình của người đối với nhau.
NXT



BÀI CA ‘BỎ LẠI QUÊ HƯƠNG’



Thơ: Nguyễn Thị Thanh Bình
Nhạc: Vĩnh Điện



Mời các bạn nghe qua tiếng hát Hoàng Anh Thư:


NHỮNG SUY NGHĨ VỀ NGÀY 30/4



Trương Vũ

                                                          Nghĩ về một linh hồn trên biển
tranh trương vũ
acrylic trên bố, 20" x 24" - thực hiện năm 2010

(Năm 2012, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình phỏng vấn nhiều văn nghệ sĩ về những suy nghĩ của họ đối với ngày 30.4.
Bài viết này là phần trả lời của Trương Vũ. PCH)


Nếu chỉ đọc trên báo chí, nghe lời hô hào, hay nhìn khẩu hiệu trong các cuộc tuần hành, quả thật chúng ta thường thấy xuất hiện những tên gọi như Quốc Hận, Tháng Tư Đen, ngày Giải Phóng, hay ngày Đại Thắng Mùa Xuân,... dành cho ngày 30 tháng Tư 75. Thế nhưng, ý nghĩa thật sự của nó với mỗi người Việt phức tạp hơn nhiều. Rất khó để tìm được một tên gọi chung. Cho mỗi người, ý nghĩa hay tâm trạng cá nhân về ngày này cũng thay đổi theo thời gian. Ở trong nước, cùng là đảng viên Cộng Sản, cùng phấn đấu chung trong chiến khu, cùng có chung một tâm trạng hồ hởi vào 37 năm trước, nhưng tâm trạng ngày nay của một chị cán bộ mặc đồ đầm ngồi trong chiếc xe hơi sang trọng với tài xế riêng chắc chắn phải khác với tâm trạng một bộ đội về già, tay trắng, chiều chiều ra ngồi quán bia chửi Đảng. Ngoài nước cũng thế, tâm trạng của những người mất cả tuối trẻ của họ trong chiến tranh, trong các trại “cải tạo”, hay mất cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em trong các chuyến vượt biên thảm khốc chắc chắn phải khác với tâm trạng của một số gia đình đánh cá trước đây rất nghèo khổ. Ngày xưa, những gia đình này cả làng họ không có lấy một y tá, ngày nay họ cật lực làm ăn trên đất Mỹ, nuôi con ăn học, có gia đình có đến 3, 4 đứa con hành nghề bác sĩ. Thỉnh thoảng, họ về thăm làng cũ, giúp xây nhà thương, trường học, xây lại mồ mả ông bà, xây lại nhà cửa của cha mẹ thành những biệt thự sang trọng mà nhiều người sống chỉ nhìn thấy trong mơ. Tôi không tin ngày 30 tháng Tư chiếm một vị trí đáng kể nào trong tâm tư, tình cảm của họ.Nếu có, khó bảo nó mang ý nghĩa của một thảm kịch. Với những trẻ em dưới 13 tuổi khi chiến tranh chấm dứt, có thể có ít nhiều dao động vào lúc đó, nhưng sau 37 năm vật lộn với cuộc sống, bây giờ đang chuẩn bị cho những ngày hưu trí không còn xa, 30 tháng 4 chắc chỉ còn là một dấu ấn mờ nhạt. Thành phần này chiếm đa số của dân tộc.

Tâm trạng của tôi vào những ngày đó của 37 năm xưa đơn giản chỉ là tâm trạng của một anh nhà giáo thuộc diện quân nhân biệt phái, mang nhiều mơ ước cho tương lai như bao con người bình thường khác. Bỗng dưng, thấy mình thuộc phe bại trận, và bao ước mơ tan thành mây khói. Tệ hơn, khi nhìn quanh không thấy một cấp lớn nào, quân sự hay dân sự. Cũng không thấy có bao nhiêu bạn bè cón lại. Những ngày tiếp theo đó được nghe kể về cái chết của tướng Nguyễn Khoa Nam. Thêm cảm giác hụt hẫng.Cho đến lúc đó, Vùng 4 vẫn là niềm hy vọng sau cùng, dù mỏng manh, cho cả nước.Miền Nam có một triệu quân.Cho đến ngày 30 tháng Tư, 1975, Vùng 4 gần như không có thiệt hại quân sự gì đáng kể.Dưới quyền tướng Nguyễn Khoa Nam, chắc chắn phải có ít nhất một trăm ngàn quân.Ông không cho phép quân nhân dưới quyền rời bỏ nhiệm sở.Thực tế như thế nào, chúng ta đã biết. Tôi cố hình dung tâm trạng ông vào những ngày đó, và cái vắng lặng kinh hoàng ông cảm nhận được. Tâm trạng của ông phải khác tôi nhiều lắm. Nỗi đau lớn gấp trăm ngàn lần. Ý nghĩa của ngày đó đối với ông thật sự như thế nào khó ai biết, nhưng chắc chắn nó không giống với bất cứ ai trong chúng ta.

Thời gian qua, bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu biến cố dồn dập đến trên thế giới, và bao nhiêu sự thật phơi bày trên đất nước, tôi không còn nhìn về ngày 30 tháng 4 như xưa nữa. Bây giờ, với tôi, “30 tháng Tư, 1975” là ngày khởi đầu cho một sự sụp đổ thê thảm, một hình thức khác của bại trận, của chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam, tại Đông Âu, tại các nước Liên Xô cũ, và tại nhiều nơi khác trên thế giới.

Tôi tin rằng nhiều người Việt khác cũng giống tôi, nhìn ý nghĩa của ngày 30 tháng Tư 75 không còn giống xưa. Tâm trạng của họ vào những ngày này mỗi năm cũng dần dần đổi khác. Ngày nay, những khẩu hiệu, những cờ quạt, những lời hô hào trên máy vi âm, cùng với những suy nghĩ phát đi từ vị trí những người trong một cuộc chiến đã chấm dứt lâu rồi, được nói ra cũng đã lâu rồi, có thể hay, có thể dở, có thể đúng, có thể sai. Tuy nhiên, tất cả những cái đó khó thể phản ảnh những suy nghĩ, những vui buồn, những lo âu, những phấn đấu thật sự của đại đa số dân tộc ngày hôm nay. Tôi muốn nghĩ nhiều hơn đến những vấn nạn, những cuộc chiến mới, không súng đạn nhưng đầy cam go đang xẩy ra và những gì sẽ xẩy tới cho dân tộc.

Ngày nay, chủ nghĩa Cộng Sản đã đại bại, đã tiêu ma ngay cả trong lòng những cán bộ mà cả tuổi trẻ họ đã sống chết cho lý tưởng Cộng Sản. Nhưng cái biến chứng phát sinh từ sự đại bại đó rất nhiều và khó lường. Vấn nạn lớn nhất là lối cai trị đi ngược hoàn toàn với sự tiến bộ và những xu hướng nhân bản của thời đại, vẫn tiếp tục tồn tại. Một vấn nạn khác của dân tộc là chữ “Cộng Sản” vẫn tiếp tục được dùng để sống dối trá với nhau.Trong nước, để vinh danh, xưng tụng, dạy dỗ, hô hào.Ngoài nước, để chụp mũ, đập phá. Rất khó để bảo rằng dân tộc Việt Nam, và đặc biệt giới trẻ Việt Nam, không có những khát vọng về dân chủ, tự do và khát vọng được sống một đời có phẩm cách, như rất nhiều dân tộc khác trên hoàn cầu. Giới trẻ Việt Nam ngày nay thực sự rất thông minh, có sức sống mãnh liệt, và biết khá rõ đời sống những người trẻ như họ ở ngoài nước. Thế nhưng, những bài học lạnh người về khả năng đàn áp của chính quyền, những kinh nghiệm sờ sờ về hậu quả bi thảm của nói thật, sống thật, cũng như kinh nghiệm để cá nhân tồn tại đã có từ thời thực dân và trải dài cho đến nay, đã khiên cả nước phát triển rất cao một khả năng ít thầy ở những nơi nào khác trên thế giới. Đó là loại khả năng chúng ta thấy hằng ngày trên các đường phố ở Sài Gòn hay Hà Nội, qua cách chạy xe của mọi người. Khả năng “Lách”. Người có quyền hành, lách theo cách của kẻ có quyền, kể cả nhân danh vô sản để sống như tư bản, để vẫn có thể vơ vét, hưởng thụ tận cùng, và vẫn tiếp tục có quyền. Người dân thường, lách để tồn tại, để có thu nhập cao hơn, để có cuộc sống tốt hơn mà không đụng chạm ai. Thế nhưng, vẫn không nên xem thường những khát vọng của từng con người nhỏ bé cùng với những nỗ lực dù rất khác nhau để làm đẹp đời sống. Cũng không nên coi nhẹ những bất mãn rất bình thường của họ mà nếu nhìn ở từng người trông chẳng có nghĩa lý gì.Khó ai dám nói là tất cả, vào một ngày nào đó, sẽ không cộng hưởng với nhau để tạo nên một đổi thay vô cùng lớn.Dĩ nhiên, đừng hy vọng đi tìm một đổi thay như ta muốn thấy ngay sau thời điểm 75. Con người ngày hôm nay, kể cả con người Việt Nam, về hiểu biết, về khát vọng, khác xưa nhiều lắm. Thê giới cũng đã hoàn toàn đổi thay và nhỏ đi.

Bây giờ, xin trở lại với vài câu hỏi khác của Nguyễn Thị Thanh Bình.

Về mấy câu nói của các ông lãnh tụ như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, tôi đề nghị chúng ta không nên phí thì giờ bàn cãi.Mấy ông lãnh tụ của đảng Cộng Sản, hay xuất thân từ đảng Cộng Sản, phần đông có khả năng lớn về hài kịch. Ở Nga, ông Putin trổ tài ở trân, cỡi ngựa, đấu kiếm, vật lộn,... Ở Việt Nam, ông chủ tịch nước đi qua Cuba nói cho dân Cuba biết “Việt Nam và Cuba thay phiên nhau canh giữ hòa bình thế giới, Việt Nam ngủ, Cuba thức...”. Tài hài kịch của họ biểu lộ rõ ngay cả khi họ cố đóng vai “đào thương” trong bi kịch, như cảnh đấm ngực nhận lỗi của ông “Trần Dân Tiên” sau Cải Cách Ruộng Đất chẳng hạn.

Về câu hỏi “người cầm bút phải làm thế nào để có thể băng bó vết thương chung của dân tộc?” tôi xin mượn chuyện Nhật Bản để góp ý. Cuộc bại trận ê chề nhất trong lịch sử của Nhật Bản xẩy ra vào 1945. Sau đó, nước Nhật có nhiều nhà văn được thế giới biết tiếng và nể trọng, đáng kể nhất là Yasunari Kawabata (giải Nobel văn chương 1968), Yukio Mishima (tác giả tiểu thuyết Kim Các Tự), và Kenzaburo Oe (giải Nobel văn chương 1994).Cả ba có quan niệm xây dựng tác phẩm khác nhau.Ở ngoài đời, họ biểu lộ nhận thức về chính trị, xã hội cũng hoàn toàn khác nhau.Mishima và Oe khác nhau như nước với lửa. Thế nhưng, tác phẩm của họ đều lớn, làm lớn sự nghiệp riêng của họ, làm văn học Nhật Bản lớn hơn, và làm dân tộc Nhật lớn hơn. Nhưng, không thấy ai đề ra hay hô hào trách nhiệm băng bó vết thương chung của dân tộc. Kenzaburo Oe còn ngược lại, đâm xoáy vào những vết thương kinh hoàng mà người Nhật muốn quên, những vết thương mà nước Nhật gây ra cho thế giới, mà quân đội Nhật đã gây ra cho chính dân họ. Tôi nghĩ, khi xây dựng tác phẩm, nhà văn cứ sống hết lòng, sống thật với mình, nghĩ sao cũng được. Không có gì sai khi người đọc cãm được chất thép trong một bài thơ hay. Nhưng, hô hào hay chủ trương “trong thơ phải có thép”, hay trao truyền một trách nhiệm lịch sử cho nhà văn lại là chuyện rất khác.Chuyện này, các ông Hồ Chí Minh và Tố Hữu giỏi lắm.Và, đại họa cho văn học và cho cả dân tộc cũng phát sinh từ đó.

Trương Vũ
Maryland, tháng 5, 2012

THÁNG TƯ ĐAU



Duyên

Thích Nhất Hạnh's caligraphy. Sambhala Sun. Jan. 2016.

nhớ khuôn mặt những người thân yêu, ở lại... chiều 28. 4. 1975.

ngày ra đi, không biết sẽ về đâu.
chạy hoảng loạn, tâm hồn bất định.
theo dòng người. đời cuốn. cứ trôi...

41 năm? dường như mới hôm qua.
sáng nay đọc lại,
Mưa Sài Gòn, Mưa Seattle.*
tuyết rơi. rơi. không dứt...
tuyêt trắng ngời. trời xám nhẹ.
đã vào Xuân?
như  bức tranh kia. của "người hoạ sĩ ". **
gammes màu gì,
thật lạ.
có phẫn nộ, bi thương, tận cùng. niềm tuyệt vọng.
có đau thương. oằn oại. suốt đời người.
có thiết tha. buông...để sống.
chơt, nụ cười. hy vọng.
sẽ. sang. xuân.

tháng Tư. đau,
bao kỷ niệm. thật thà...
thương và nhớ. đến, xót xa.
vẫn đó...
có bao nhiêu chiếc quan tài, qua phà.
về, lại mái nhà xưa?
người lính buồn, đứng im như pho tượng.
giọt mưa rơi, phủ ướt một phận đời.
lá cờ vàng xô lệch. chiếc khăn sô.
mưa. dập tắt. nén hương.
vừa thắp.*

tháng Tư. đau,
người thân yêu, chia nhau cơ khổ.
những chia ly. sửng sốt. vội vàng.
có những bàn tay. vuột, bàn tay.
thế giới bên kia. bỗng là cứu rỗi...
nên, người lìa đời. vội vã...
dứt. ăn năn.

mưa Sài Gòn.
mưa hoài. trong nỗi nhớ.
giọt mưa rơi. rơi, suốt phận đời.
ngưởi ra đi. đến miền đất lạ.
bỏ người ở lại. buồn.
thọ nạn. tháng Tư đau.

tôi yêu mưa Sài gòn.
những ngày, xa xưa. cũ.
chiếc dù. che hạnh phúc.
quá mong manh.
ngày mai. lãng đãng...
ai. có ngày mai.
ai. là ai?

Seattle. quán cafe, ven hồ. góc phố.
hương cà phê.
nhả. hạnh phúc. 
mưa...
(the tears I shed yesterday have become rain.)***

duyên.
Apil 3, 2016.

* ý trong  bài Mưa Sài Gòn, Mưa Seattle, Trần Mộng Tú.
http://www.vietbang.com/index.php?c=article&p=1945
** người hoạ sĩ (Trời), Mưa Saigon, Mưa Seattle.
*** dòng chữ caligraphy, thầy Thích Nhất Hạnh.