Wednesday, July 25, 2012

Candie

Nguyễn Xuân Tường Vy



                                         Nụ cười. Tranh Ann Phong

   Nguyệt Ánh trao vội chiếc xách tay cho Trâm:
   "Tới giờ lên máy bay rồi kìa Trâm. Về bình an nhé! Cho Ánh gửi..."
   Tiếng phi cơ cất cánh, tiếng loa phóng thanh, tiếng chào, hỏi, gọi nhau ơi ới làm mất đi đoạn cuối của câu nói. Trâm gật gật đầu vì Trâm biết Nguyệt Ánh muốn nói gì. Lặng lẽ, Trâm bước theo đoàn hành khách tiến về phía cửa. Thế là Trâm lại trở về, trở về với những người thân thuộc thương yêu của Trâm. Cô chiêu đãi viên xinh xắn tìm hộ Trâm chỗ ngồi bên cửa sổ. Đường còn xa, Trâm có thể ngủ một giấc thật dài cho tới khi đến phi trường San Jose. Trâm đưa mắt nhìn lại lần cuối thành phố biển. Xa xa là đại dương xanh lơ bát ngát. Đâu đó phía bên tả của Trâm là khu bệnh viện của thành phố. Mắt Trâm dừng lại thật lâu như cố tìm kiếm một hình ảnh sống động, quen thuộc. Căn phòng cuối cùng ở tầng lầu thứ ba của bệnh viện, Trâm nhận ra ô cửa sổ vuông vắn khép hờ để lộ tấm màn cửa xanh. Màu xanh nước biển dễ thương của Candie. Candie! Candie! Dường như Trâm thấy bóng dáng nhỏ nhắn của cô bé Candie hồn nhiên bên khung cửa sổ...

*

   Trâm càng cố bước nhẹ bao nhiêu thì hình như tiếng guốc của Trâm càng gõ mạnh bấy nhiêu. Hành lang bệnh viện trắng toát, dài hun hút làm Trâm chùn chân. Hay là... chọn việc khác vậy? Không biết Trâm có đủ can đảm để chú tâm vào công việc khi chính Trâm đang cần sự giúp đỡ hơn ai hết? Trâm cắn môi, cắm cúi bước. Hôm qua, khi Trâm đến nhận việc, vị bác sĩ trưởng đã ngập ngừng.
   "Cô có thể chọn việc khác dễ dàng hơn! Những người tự nguyện đều có quyền lựa chọn."
   Trâm cương quyết:
   "Tôi sẽ cố gắng."
   "Thôi được, nếu cô thích. Đây là một trường hợp đặc biệt, công việc đòi hỏi sự tế nhị, chịu đựng, kiên nhẫn. Bệnh nhân là một em bé..."
   Lời vị bác sĩ vang bên tai Trâm. Tội nghiệp! Một cô bé mồ côi. Cô bé có cô độc, lạc lõng như Trâm không nhỉ? Trâm cũng đang nhớ nhà, nhớ bố mẹ, nhớ... Ô, phòng của cô bé đây rồi! Một chú hề nhồi bông treo lủng lẳng trước cửa làm Trâm bật cười. Trâm gõ nhẹ. Cánh cửa xịch mở.  Trâm hoa mắt lên vì những đồ đạc ngổn ngang trong phòng. Đằng này một cô búp bê gãy tay nằm chơ vơ trên nền nhà, đằng kia vài trang giấy nhầu nát vất bừa bãi. Cô bé nắm tay Trâm, giọng nhẹ như hơi thở:
   "Chị vào đây."
   Cô bé kéo Trâm vào phòng, liến thoắng:
   "Cô y tá Helen mới cho biết em sẽ có một người bạn mới."
    Vẻ thân thiện của cô bé làm Trâm đỡ lo. Trâm ngồi xuống mé giường, ngắm cô bé kỹ hơn. Cô bé có đôi mắt to, sáng rỡ nổi bật trên khuôn mặt gầy ốm, trắng xanh xao. Trâm vuốt má cô bé, dịu dàng:
   "Chào em. Em tên gì?"
   "Candie. Em là Candie Hendrix."
   Lại Candie! Tim Trâm chợt nhói lên. Trâm tưởng tất cả đã xa xôi, mù mờ lắm rồi.  Ừ, Trâm đã đi thật xa rồi mà!
   Candie kéo tay Trâm:
   "Còn chị, tên chị là gì?"
   "Trâm."
   Candie nhìn Trâm, ngơ ngác. Trâm biết nó ngạc nhiên vì cái tên Việt Nam xa lạ.
   "Em nói theo chị nè... Trâm, ... Trâm, không T r â m... cơ... được rồi. Đó, chị nói là em sẽ tập được mà."
   Candie đụng nhẹ vào mái tóc dài đen nhánh của Trâm. Có lẽ nó chưa bao giờ gặp người Á đông nào cả. Trâm nhìn cô bé, chờ đợi một câu hỏi.
   "Tại sao tóc chị lại màu đen?"
   "Vì... chị là người Á đông, người Á đông thường có mái tóc đen, mắt nâu... giống như chị."
   Candie hỏi Trâm hết chuyện này đến chuyện khác. Sợ Candie mệt, Trâm ôm cô bé đặt trên giường, dỗ dành:
   "Em nghỉ một chút đi. Ngoan nhé, để chị dọn dẹp phòng."
   Candie nằm im, chịu đựng. Lâu lắm, cô bé mới lên tiếng:
   "Chị ơi, bên ngoài đẹp lắm phải không chị?"
   "Ờ, nắng và nóng lắm!"
   Trâm nhìn thấy ánh mắt mơ màng của Candie. Tội nghiệp! Trâm sẽ dẫn cô bé đi chơi cho thỏa thích. Buổi chiều Chủ nhật trôi qua thật mau. Cứ khoảng vài giờ, cô Helen lại ghé qua thăm Trâm và Candie một lần. Qua lời kể của cô Helen thì Candie đã vào bệnh viện này từ năm bốn tuổi khi cha mẹ em qua đời trong một tai nạn lưu thông. Bốn năm dài, căn bệnh tuyệt chứng của em lúc tăng lúc giảm. Candie trở thành "người nhà” của bệnh viện, nhưng bệnh viện đâu phải là "nhà”.  Cô bé thiếu thốn mọi thứ, từ tí ánh nắng mặt trời đến tình thương yêu của những người thân. Một niềm thương cảm dâng lên trong lòng Trâm. Trâm có thể làm gì cho cô bé không nhỉ? Cô bé đang cần một người bạn, một người chị. Ừ, thì vậy nhé, Candie hãy là niềm an ủi cho Trâm nơi vùng đất xa lạ với một cuộc sống không phải của chính mình.

*

   Trâm đã trổ hết tài ăn nói, thêm vào lời nói giúp của cô Helen, bác sĩ mới đồng ý để Trâm dẫn Candie đi "bát phố” một ngày. Trâm sung sướng đứng nhìn Candie tíu tít chuẩn bị.
   "Em mặc áo gì bây giờ? Màu xanh nhé?"
   "Ừ, để chị giúp em."
   Loáng một tí, Candie và Trâm đã sẵn sàng. Trời cao và nắng chói chang. Trâm dẫn cô bé đến nhà thờ. Ngôi thánh đường cao vút, lồng lộng gió biển như hòa chung lời nguyện của hai chị em.
   "Lúc nãy em cầu nguyện gì vậy?"
   Cô bé nghiêm trang:
   "Em xin Chúa cho chị mạnh khoẻ. Em xin Chúa ban xuống một vị bác sĩ thật giỏi để chữa bệnh cho em.  Em ngoan thế này, chắc chắn Chúa sẽ nhận lời em, chị nhỉ?"
   Chúa ơi! Con biết trả lời cho Candie thế nào đây? Chính con cũng chưa vững niềm trông cậy nơi Ngài. Trâm xiết nhẹ tay Candie, thành thật:
   "Chị không biết, Candie ạ!"
   Hình như câu trả lời của Trâm làm cho Candie buồn. Hai chị em cứ yên lặng bước cho đến khi ra tới bãi biển. Cảnh tượng náo nhiệt, ồn ào trên bãi biển làm Candie quên bẵng đi vị bác sĩ tài giỏi:
   "Vui quá! Mình tắm biển được không chị?"
   Trâm ngập ngừng:
   "Nước biển lạnh lắm..."
   Cô bé năn nỉ:
   "Không lạnh đâu. Em tắm một tí thôi, nhé?"
   "Chúng mình còn phải đi phố nữa mà. Hay là... chị cho em nghịch nước... mười phút, chịu không?"
   Candie cười to, chạy ngay xuống bờ nước. Trâm vui lây với sự hồn nhiên của cô bé. Bệnh viện như một nhà tù lớn đang giam cầm đời sống của Candie. Ước gì Candie mạnh khoẻ, Trâm sẽ xin cho cô bé về ở với mình.
   Hôm ấy về nhà, Candie nằm liệt giường suốt hai tuần lễ. Cô bé bị đưa vào cấp cứu liên tục. Ngày nào, sau khi đi làm về, Trâm cũng đến thăm Candie và ở lại săn sóc cô bé cho đến khuya. Trâm tự hứa lần sau sẽ không dại dột để Candie "nghịch" nước nữa. Sau những ngày bệnh nặng, tánh tình Candie thay đổi khác thường. Cô bé không còn hay cười, hay hỏi như trước. Candie thường nằm im lặng hàng giờ, nhìn mông lung ra cửa sổ.   Chỉ có những khi Trâm đến, cô bé mới vui vẻ, tươi tắn được chút ít. Nơi đây, Trâm không có bà con, bạn bè thân thiết nên bao nhiêu thời giờ Trâm đều dành hết cho Candie. Bận bịu chăm sóc cho cô bé, Trâm không còn những giây phút trống để nghĩ đến bản thân mình nữa. Trách nhiệm giúp Trâm tránh được những lúc phải đối diện với thực tế, với những ray rứt luôn vây quanh ám ảnh, đè nặng tâm hồn Trâm;  Trâm mặc những vết cắt còn tươi máu để tự nó phải khô lấy một mình. Tất cả như là một tòa lâu đài lộng lẫy được trải thảm bằng hàng ngàn, hàng vạn mảnh thủy tinh vỡ sắc nhọn mà Trâm không đủ can đảm bước vào. Trâm luôn cố gắng tạo chút hạnh phúc cho những người chung quanh để quên mình đi. Thương yêu người cũng là thương yêu chính mình.

*

   Trâm không biết mình đã đứng bên cửa sổ này bao lâu rồi. Đầu óc Trâm trống rỗng. Mắt Trâm thẫn thờ dõi theo từng đợt sóng trắng xóa tung mạnh vào bờ rồi vỡ vụn, tan theo dòng nước xanh lơ. Những chú chim rái cá bay sà sà trên mặt biển, thỉnh thoảng lại thình lình chúi đầu vào con sóng bắt mồi rồi bay vút lên không. Candie đi thăm bạn chưa về. Bạn của Candie là cô bé bệnh ung thư trên lầu năm của bệnh viện. Trâm nóng lòng chờ Candie nhưng trong thâm tâm, có lẽ Trâm sợ phải nhìn thấy cô bé trong lúc này.  Candie ơi, em... Có tiếng xoay cửa, Candie hiện ra, xúng xính trong chiếc áo đầm xanh mới. Cô bé chạy vụt về phía Trâm:
   "Chị ơi, chị chờ em có lâu không?"
   "Một tí thôi. Candie đi thăm Michelle phải không?"
   "Dạ... Ai cũng khen áo đầm của em đẹp cả. Đẹp không chị?"
Candie xoay vòng. Màu xanh nước biển tung bay. Màu xanh của hy vọng dâng đầy trong mắt cô bé. Trâm rướm nước mắt. Candie ơi, chị phải nói với em như thế nào đây? Đôi mắt Candie mở to, nhìn Trâm ngơ ngác. Nếu người ta nói được bằng mắt, Trâm sẽ muốn nhắn nhủ với Candie thật nhiều. Hãy cười lên, hãy vui thật nhiều đi Candie. Em sẽ không còn phải sống trên thế gian này bao lâu nữa đâu. Sáng nay, bác sĩ đã gọi Trâm vào văn phòng. Bệnh của Candie đã đến thời kỳ trầm trọng rồi, chỉ nay mai thôi. Nếu có thể làm cho cô bé vui thì cô cứ chiều nó nhé! Trâm biết "thông báo" cho Candie sao bây giờ? Dù sao Candie cũng chỉ là một đứa trẻ. Có lẽ Trâm đừng nên cho Candie biết gì cả. Những ngày tháng cuối cùng sẽ đến với em tự nhiên và vui vẻ hơn. Quyết định xong, Trâm tươi ngay nét mặt:
   "Hôm nay Candie mệt lắm rồi!  Đi nghỉ nhé, ngày mai chị sẽ dẫn Candie đến chỗ làm của chị."
   Cô bé reo lên:
   "Ồ, thích quá! Vậy em đi ngủ bây giờ nha?
   Từ hôm ấy, Candie quấn quít bên Trâm suốt ngày. Sức khoẻ của cô bé yếu hơn, nhưng tinh thần vui vẻ. Trâm muốn Candie sống những ngày tháng ý nghĩa nhất trong cuộc đời. Buổi sáng, Trâm thường đến bệnh viện thật sớm, hai chị em ra phía sau vườn cắt hoa tươi. Những gốc hoa hồng, những khóm cúc dại, những cây tường vi không ai chăm sóc mà vẫn mơn mởn nở rộ. Candie và Trâm hì hục kết lại thành những bó hoa lớn đem cho những bà cụ ở viện dưỡng lão kế bên. Mỗi lần đem hoa cho các bà về, Candie vui tươi, ríu rít cả ngày vì cô bé đã được tặng biết bao lời khen. Nếu Candie cứ sống mãi thế này thì hạnh phúc đến là dường nào!

*

   Chiều nay, Trâm phải xin phép sếp nghỉ việc sớm hơn thường lệ vì Candie nằng nặc đòi ra biển chơi. Bãi biển về chiều tĩnh mịch, vắng vẻ. Trâm yên lặng dẫn Candie chậm rãi dọc theo bờ cát. Mặt trời ngả dần về phía chân trời. Những tia nắng yếu ớt chợt bùng lên sáng rực, gay gắt như quyến luyến nuối tiếc, như cố níu kéo thời gian của một ngày tươi đẹp sắp tàn. Trâm nắm chặt bàn tay bé bỏng của Candie.  Hôm nay cô bé có vẻ là lạ. Trâm chợt lo lắng:
   "Candie ơi, em mỏi chân chưa?"
   "Chưa đâu chị."
   Ngập ngừng một tí, Candie tiếp:
"Gia đình chị ở đâu?"
   "Xa lắm em ạ. Tận ở đầu kia của nước Mỹ lận."
   "Sao chị không về nhà?"
   "Về chứ! Mai mốt nhớ nhà, chị sẽ về."
   Candie di di những ngón chân trên cát. Cô bé buồn buồn nhìn Trâm:
   "Có phải em sắp chết rồi phải không? Nhưng em không sợ chết đâu. Em chết sẽ được gặp ba má em, nhưng em sẽ nhớ chị lắm."
   Mắt Trâm nhòa đi. Không muốn để Candie thấy Trâm khóc, Trâm nắm tay Candie chạy xuống mé biển:
   "Xuống đây tìm vỏ ốc với chị, nhanh lên Candie."
   Chẳng mấy tí, Candie đã lượm được vô khối những con sò, con ốc đủ kiểu, đủ mầu, óng ánh vân xanh tuyệt đẹp. Candie cố ráng hết sức cũng chỉ dồn được khoảng tám, chín con ốc vào hai túi áo tí xíu của cô bé. Candie phân vân chẳng biết chọn con ốc nào. Cô bé đứng sững nhìn mãi một con ốc nằm yên dưới làn nước.
   "Candie thích con ốc này không? Mình đem nó về nha?"
   "Không, không, đừng đụng tới nó. Chị ơi, tại sao sóng lớn vậy mà nó không bị... gãy hở chị?"
   Câu hỏi của Candie làm Trâm ngẩn người ra. Trâm để con ốc lên bàn tay, ngắm thật kỹ. Một con ốc bình thường với lớp vỏ mỏng manh tưởng chừng như Trâm chỉ cần bóp nhẹ, lớp vỏ sẽ vỡ ra nát vụn. Ừ nhỉ. Tại sao nó không bị... gãy. Trâm cũng thừ người ra suy nghĩ. Dưới những lớp sóng cuồn cuộn ngày đêm, con ốc nhỏ ấy vẫn giữ được nguyên vẹn vẻ đẹp mong manh. Trâm đã gặp rất nhiều lần những con ốc như thế này nằm chơ vơ trên bãi; có bao giờ Trâm thắc mắc đến nó đâu. Định luật của thiên nhiên đã tạo ra động vật với cấu trúc đặc biệt để thích ứng với môi trường sống riêng của từng loại. Loài người đã dùng trí thông minh và sức lực để khai triển đồi núi hoang vu thành những ruộng đồng trù phú, phì nhiêu, thì con ốc nhỏ này cũng đã được Đấng Tối Cao ban cho một đặc điểm riêng để sinh tồn dưới những cơn sóng như vũ bão. Trâm muốn giải thích đại khái như thế cho Candie hiểu, nhưng Trâm sực nhớ tới lời căn dặn của Candy ngày xưa: với một câu hỏi mà ta không chắc chắn về câu trả lời thì hãy suy nghĩ thật kỹ. Trâm đặt con ốc nhỏ xuống dòng nước, và mặc dù còn đầy thắc mắc, Trâm "trấn an" Candie:
   "Chị về nghĩ lại, ngày mai sẽ trả lời cho em."
   Đưa Candie về phòng, cho cô bé uống thuốc xong, Trâm trở lại bãi biển một mình. Trâm bước lang thang trên bãi mà không biết bắt đầu suy nghĩ từ đâu để giải thích thắc mắc của mình. Con ốc nhỏ vẫn nằm ở chỗ cũ. Trâm đặt nó vào lòng bàn tay rồi ngồi xuống trên một ghành đá. Bóng chiều chập chùng quanh Trâm. Tiếng sóng rì rào, vỗ êm êm vào triền đá. Những con hải âu lạc đàn xúm xít gọi nhau. Chúng bay là đà trên mặt biển tím ngắt. Mùi mặn mặn, ngai ngái của nước biển làm Trâm nhớ da diết bãi biển Hoàng Hôn của Trâm ngày nào. Đầu Trâm lại quay quắt với những hình ảnh quá khứ. Trâm ôm lấy đầu. Lỗi tại Trâm tất cả mà. Candy đã không chịu nổi Trâm. Trâm hối hận đã... Có tiếng đàn ông vang lên sau lưng Trâm. Trâm giật mình, hốt hoảng. Candy, Candy đó phải không? Không. Không phải Candy của Trâm mà là một người đàn ông lạ mặt. Dưới bóng chiều chập choạng, Trâm thấy đôi mắt xanh của ông ta sáng lên như mắt mèo.
   "Sắp tối rồi. Về nhà đi cô bé. Cô đang suy nghĩ chuyện gì à?"
   Trâm xòe bàn tay với con ốc nhỏ:
   "Tôi đang thắc mắc tại sao con ốc nhỏ này lại có thể chịu đựng bao cơn sóng dồn dập mà không vỡ nát. Ông có biết không?"
   "Con ốc bị sóng cuốn trôi tứ phía nhưng nó không vùng lên chống cự với những làn sóng tàn bạo kia, trái lại nó vẫn bình thản chấp nhận như cuộc sống dưới đáy biển yên tĩnh, vì vậy mà nó tồn tại."

   Trâm gật gù, ông ta nói có lý đấy chứ! Trâm chợt nghĩ đến mình. Nếu Trâm bình thản chấp nhận mọi điều, chắc Trâm sẽ đỡ quay quắt hơn, đỡ đau đớn hơn. Rồi bỗng dưng Trâm thấy mình vô lý hết sức! Tại sao Trâm lại vô lý chống lại, đòi thay đổi những việc mà đáng lý ra Trâm phải bình tĩnh và vui vẻ chấp nhận nó. Nếu Trâm giống như con ốc kia... Không, Trâm không muốn để mặc những con sóng cuốn trôi đi. Trâm thở dài. Có lẽ Trâm nên bắt chước ông Kalidasa để nguyện xin Chúa cho Trâm một tâm hồn bình tĩnh để cam nhận những sự việc không thể thay đổi được; một lòng can đảm để thay đổi những gì có thể thay đổi được; và một tinh thần sáng suốt để phân biệt sự việc nào có thể thay đổi được, sự việc nào không thay đổi được. Gió biển lạnh làm Trâm chợt rùng mình. Trâm phải về giải thích cho Candie. Có lẽ cô bé chưa hiểu nổi đâu. Trâm quay lại tìm người đàn ông. Chung quanh Trâm vắng lặng. Người đàn ông biến mất đột ngột như khi ông ta đến. Trời đã tối hẳn, vầng trăng hạ tuần treo lơ lửng chiếu xuống mặt biển đen những tia sáng huyền ảo.

   Bệnh viện vào giờ thăm viếng nên thang máy đầy người đợi. Trâm đành leo cầu thang. Phòng Candie mở toang, trống trơn. Candie đâu rồi?  Trâm hốt hoảng quay chạy về phía phòng y tá. Cô Helen đụng Trâm ở đầu hành lang.
   "Candie... phòng cấp cứu!"
   Cô Helen và Trâm chạy đến phòng cấp cứu vừa lúc chiếc xe đẩy Candie ra. Một tấm vải trắng che lấp hết thân hình cô bé. Cô Helen òa lên. Trâm run tay mở nhẹ tấm vải. Khuôn mặt cô bé trắng bệch, đôi mắt nhắm hờ, và đôi môi vẫn chúm chím như sắp cười. Trâm muốn đưa tay xoa mạnh vào bụng để cô bé bật cười dòn dã như mọi lần. Nhưng Candie nằm im bất động. Candie không giữ lời hứa với Trâm. Cô bé đã ngủ kỹ trước khi Trâm về. Trâm bàng hoàng. Đầu Trâm quay cuồng, tim đập mạnh - những nhịp đập không đều, rối loạn. Thành phố, biển, phòng cấp cứu, Candy, Candie... từng vật, từng người nhảy múa, xoáy thẳng vào tim Trâm. Những bóng đèn trên trần xoay tròn, vỡ tung toé trên nền gạch lẫn lộn với những phần to, nhỏ của thân thể Trâm. Trâm không cảm thấy đau đớn vì Trâm không còn biết gì nữa...

   Máy bay rời phi đạo nhấc bổng lên không. Trâm quệt vội giọt nước mắt lăn tròn trên má. Thành phố biển Myrtle thu nhỏ dần dưới mắt Trâm. Cuối cùng chỉ còn một chấm trắng nhỏ, nhỏ như ngôi mộ của Candie hôm nào. Máy bay lên cao nữa. Thành phố biển giờ là một màu xanh mênh mông của mây trời. Trâm nhìn thấy trong đám mây trắng muốt một màu xanh quen thuộc. Màu xanh lơ của bầu trời, màu xanh thân thương của tà áo Candie, màu xanh ngan ngát của nước biển. Và đâu đó lẫn lộn, Trâm mơ hồ thấy những tia sáng xanh hy vọng. Trâm nhắm mắt để giữ thật chặt trong tâm tưởng những sợi mây xanh và màu áo của Candie. Vĩnh biệt em nhé Candie, Candie yêu dấu của Trâm.

NXTV


Tuesday, July 24, 2012


thơ trần phù thế 

UỐNG RƯỢU VỚI LÊĐÌNHBÌ Ở SAN JOSE



                                                      tranh Trịnh Công Sơn 

ly rượu này ta rót cho ngươi
thằng trời đánh mười năm vẫn vậy
đã mười năm giọng cười vẫn thấy
ấm lòng người bạn cũ phương xa

ta nhớ ngươi nên bất kể tuổi già
từ phía đông đến phía tây nước mỹ
thăm thằng bạn vong niên tri kỷ
mấy mươi năm nín thở ở quê nhà

ta rời quê dễ chừng hai mươi năm
nỗi buồn gãy súng vẫn căm căm
còn ngươi múa bút như gươm nhọn
dấu kín đường chiêu quá tuyệt trần 

cầm ly uống cạn nghe bạn cũ
uống hết chiều đi trong mắt ngươi
uống cạn ân tình trong đáy cốc
uống đầy kỷ niệm tuổi sáu mươi

này bì. ngươi hãy rót nữa đi
hãy say một bữa có sá gì
ta biết lòng ngươi đầy uẩn khúc
lòng ngươi đau đáu nỗi phân ly 

này bì. ta biết ngươi cảm khái
khi ta có mặt buổi chiều nay
ân tình bạn cũ trăm năm nữa
rượu vẫn tràn ly. rượu vẫn đầy

không biết bao năm ngươi còn nhớ
những đêm say khướt bến ninhkiều
những ngày rượu đế quên trời đất
hai đứa dìu nhau bóng ngã theo 

thời đó hai thằng nghèo kiết xác
tù về. không có nổi áo che thân
chợ trời kiếm sống ngày cơm cháo
tối ngủ không yên dạ phập phòng 

rồi cũng qua đi. rồi cũng qua
ta thương ngươi thương thật thương thà
ngươi thương ta tánh hiền chơn chất
ngươi miền trung. ta nam bộ...và 

từ đó ta. ngươi tình thân thuộc
ngươi tên lang bạt đến miền tây
giọt nước cầnthơ ngươi uống mãi
cả đời ngươi uống mãi không say.

Còn ta mãi mãi... tên thua trận
ôm cả niềm đau tận đến giờ
bao năm chìm nổi đời cơm áo
biết đến bao giờ có giấc mơ 

giấc mơ về lại cầnthơ đó
về lại thăm trường phan thuở xưa
về lại rờ từng viên gạch cũ
ngắm chùm hoa phượng gió đong đưa...
tpt

Chiếc cầu trên sông Drina 

Nguyễn An




Chiếc Cầu Trên Sông Drina là tác phẩm của  nhà văn Nam Tư  Ivo Andric. Andric viết cuốn truyện này khi sống bình lặng ở Belgrade trong thời gian Thế Chiến II, và xuất bản nó năm 1945. Ông được trao giải Nobel năm 1961. Những năm đầu 1970 sống ở Đà Lạt, làm nhà in và nhà sách Nhân Văn chúng tôi đặc biệt mê Chiếc Cầu Trên Sông Drina, tìm thấy trong đó nhiều tư tưởng và hình ảnh nhân sinh.
Bài viết dưới đây là của Nguyễn An, tức bạn Nguyễn Minh Diễm, nguyên giám đốc Đài RFA, Nguyễn chỉ tra cứu Wikipedia thêm một số chi tiết. 

    Câu chuyện về chiếc cầu trên sông Drina xoay quanh thị trấn Viýegrad và chiếc cầu  Mehmed Paýa Sokolovic bắc ngang sông Drina. Dàn trải qua bốn thế kỷ dưới triều đại Ottoman, cuốn sách miêu tả cuộc sống, định mệnh và những mối liên hệ giữa những người cùng thời cư ngụ cùng trên một mảnh đất. đặc biệt xoáy sâu vào cuộc sống của những người Hồi giáo và Thiên Chúa Giáo Chính Thống sống ở  Bosnia và Herzegovina.

   Cuối thế kỷ thứ 4, vua cuối của đế quốc La mã là Theodosius đệ nhất chia lãnh thổ làm hai phần Đông và Tây, giao mỗi phần cho một hoàng tử cai trị, với ranh giới là dòng sông Drina, nay thuộc lãnh thổ Bosnia trên bán đảo Balkans. Dòng sông không chỉ là một biên giới địa lý, mà còn là đường phân thủy của hai dòng văn hóa đông tây nữa. Trên bờ phía đông dòng sông, có một tỉnh nhỏ tên là Visegrad. Đây là nơi đa dạng về văn hóa, chủng tộc và tôn giáo. Trong khi giới quý tộc theo đạo Hồi, thì giới nghèo theo Thiên chúa giáo La Mã, dân quê theo Chính Thống giáo còn thương buôn là Do Thái.

   Đế quốc Hồi giáo Ottoman lúc thịnh thời có một quy định đối với các vùng xa, gọi là cống vật bằng máu -huyết cống: thỉnh thoảng quân lính tràn vào phía bờ tây, bắt trẻ trai đưa về làm nô lệ cho giới quý tộc ở thủ đô Istanbul. Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh cậu bé người Serbia bị cướp khỏi bàn tay của người mẹ. Bờ sông Drina chính là điểm chia tay giữa mẹ và con, trước khi đoàn quân lôi đứa trẻ lên yên, quất ngựa phi nhanh, rồi xuống phà qua sông, như đi vào cõi vô tận... Trong tác phẩm “Chiếc Cầu Trên Sông Drina”, Andric tả lại cảnh những bà mẹ chia tay con mình: "Những bà mẹ này chạy theo các con, vừa chạy vừa kêu khóc, cho tới khi tới bờ sông và đứa nhỏ được đưa xuống phà. Tới đây thì họ kiệt lực và cũng không thể theo qua bên kia sông." Vĩnh viễn mẹ con chia cách nhau. Những đứa trẻ sẽ trở thành người Hồi giáo và mang tên Thổ.  Tại thủ đô, những đứa thông minh, mặt mũi sáng sủa cũng có khi đựơc chọn lựa và huấn luyện để trở thành quân nhân. Vào cuối thế kỷ 16, một trường hợp vô tiền khoáng hậu xẩy ra, là một trong các trẻ ấy trở thành tể tướng của đế quốc Ottoman. Vị đại quan ấy dù đã lên đến tột đỉnh danh vọng, vẫn mang trong lòng một vết thương không kín miệng, đó chính là dòng sông Drina ngăn cách ông mãi mãi với người mẹ thân yêu. Chỉ có một cách để hàn gắn vết thương là cho xây một cây cầu nối liền hai bên bờ ngay tại tỉnh Viýegrad. Đó là chiếc cầu bằng đá trên dòng sông Drina xanh ngắt, trung tâm của cuốn tiểu thuyết đem đến cho nhà văn và cũng là nhà ngọai giao Ivo Andric giải Nobel Văn chương năm 1961.

    Cuốn tiểu thuyết lấy chiếc cầu như một sân khấu, mà cũng là một chứng nhân, một sợi chỉ xuyên suốt thời gian hơn 300 năm của một trong những khu vực đa dạng nhất trên thế giới, vào thời điểm mà những mâu thuẫn đến lúc không thể dung hợp nhau rồi sẽ đưa đến sự bùng nổ của thế chiến thứ nhất, cũng là khi cây cầu bị phá hủy.

   Việc xây dựng cây cầu khởi sự vào năm 1566 và năm năm sau thì hoàn thành, thay thế cho chiếc phà cũ kỹ đưa người qua sông. Nhà văn Ivo Andic miêu tả dòng song Drina chảy siết như sau: "Phần lớn dòng chảy của con sông lao qua những hẻm núi hẹp giữa những sườn núi chớn chở hay qua những vực sông thăm thẳm với những tường đá dựng. Chỉ ở một vài nơi, bờ sông trải ra hình thành những thung lũng với bờ thoải thoải, một nơi như thế nằm ngay tại tỉnh Viýegrad, ở đó dòng sông bung vỡ thành một dòng uốn cong." (Andric 1977, 13). Thị trấn Viýegrad nằm hai bên bờ sông và câu chuyện của tôi kể về những mảnh đời ở thành phố này và cây cầu bắc ngang sông Drina."
   Lúc cây cầu bắt đầu đựơc xây dựng, nỗi uất ức của những con người đói khát bị đánh đập, hành hạ và lao động khổ sai đã đưa đến tin đồn là thần linh không muốn cây cầu đựơc hoàn thành. Radisav, người tung tin đồn đó bị bắt, và bị kết tội chết bằng cách đóng nọc. Hình ảnh kinh hoàng của một con người giống như ngồi trên một cái sào cao ngất dựng bên cầu đã là động lực thúc đẩy những con người bất hạnh lao động nhanh hơn, mạnh hơn và chăm chỉ hơn.

   Cây cầu khi đã hoàn thành với cái kapia, giống như cái bốt gác ở giữa một bên cầu, liền trở thành trung tâm sinh hoạt của Viýegrad, và cuốn truyện trở thành tập họp của một số chuyện ngắn đa dạng và vô thường như chính đời sống và lịch sử.       

   Dòng sông Drina vẫn trôi đi và cây cầu vẫn đứng đó, ghi nhận bao chuyện buồn vui của kiếp người...
   Cô thiếu nữ Fatah quyết không chấp nhận lấy người mình không yêu đã thản nhiên tiếp đón nhà trai, mặc áo cô dâu, trang điểm đẹp đẽ bước lên xe hoa về nhà chồng, nhưng khi đến giữa cầu thì tung mình nhẩy xuống sông. Anh chột Cachot cầu bơ cầu bất bị cả tỉnh khinh khi nhưng đã tỏ ra tư cách hơn người khi đứng ra bảo vệ thi thể trinh trắng của người thiếu nữ bất hạnh. Một người lính vì thiếu cảnh giác phạm lỗi khi đứng gác cầu đã tự giác trả giá bằng chính sinh mạng mình. Một tay mê đỏ đen từng đánh bạc với quỷ ngay trên cầu. Một ông già luôn luôn nói những điều nghịch lại với cộng đồng bị đóng tai vào Kapia...Và còn những gì nữa? Đời sống cứ trôi đi, cứ đổi thay, thế hệ này tiếp theo thế hệ khác như dòng nước chẩy qua chân cầu. Nhưng chính cây cầu thì vẫn còn đó, với mây bay  trên cao và nước xanh chẩy xiết bên dưới. Cây cầu không nói, không phản ứng mà chỉ ghi nhận... Những chú bé vẫn ra bờ sông ngồi câu cá nơi mà cha anh đã từng ngồi câu trứơc đây. Rồi chú lớn lên, đi qua cầu để bước vào một cuộc sống khác. Có khi không bao giờ trở về, cũng có khi lê bước mỏi trở lại cây cầu với gánh nặng của đời sống và tuổi tác trên vai, nhưng cây cầu thì vẫn thế, đá vẫn lên nứơc sáng bóng và nước sông vẫn cứ sủi bọt khi đụng vào chân cầu.

   Hình ảnh của "Chiếc cầu trên sông Drina" khiến không thể không ngậm ngùi nghĩ đến những vần thơ của Ôn Như Hầu:
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.
(theo Nguyễn An) 


Monday, July 23, 2012


TẢN MẠN
bên tách cà phê 

Nguyễn Xuân Thiệp


                                        
                                                                       Phượng



                                                                     ... và ve

Nói với các chú ve nhỏ

Một buổi trưa đã lâu lắm rồi. Không gian đầy nắng. Những cây hải đào nở đỏ. Tôi buông bút, bước ra khu lùm cây cạnh con suối cạn lòng, phía sau tòa soạn báo Vietnasm Weekly News của Trần Lộc. Hồn tôi không tĩnh lặng mà say lảo đảo như biển chập chờn. Chợt tôi nghe tiếng ve ran trong bóng mát khu lùm cây. Tiếng ve? Có thật không? Ở xứ này mà cũng có ve sao? Tôi vẫn biết trong từ điển có tiếng cicada chỉ con ve. Nhưng có tiếng không có nghĩa là có trong hiện thực chung quanh. Từ lotus, hoa sen, cũng có trong sách vở đấy, nhưng mắt tôi chưa từng nhìn thấy cây bông sen mọc trên nước Mỹ.  

   Tiếng ve mùa hạ. Đây rồi hồn ta. Một hôm có nắng bỗng nhớ tiếng hát em, hỡi chú ve nhỏ. Nắng bâng khuâng hoài...* Tôi nhớ lắm chứ. Thảo nào, hồi nãy nhìn thấy màu nắng và hoa trúc đào, à không, hoa hải đào màu đỏ, tôi bỗng thấy nhớ một cái gì đó mà chưa định tiếng, định hình được. Thì ra là tiếng ve và màu hoa phượng. Những thực thể tầm thường như vậy trong đời sống mà tôi và bạn và em đã vĩnh viễn mất đi. Muốn lại được nghe thấy, nhìn thấy nó, ta phải vượt trùng dương, băng qua nhiều ngàn dặm trở về. Có hy vọng nào làm được như thế không? Cho nên, buổi trưa nghe tiếng ve, dù không bừng cháy da diết như tiếng ve trong những vườn nhãn ấu thời ở Huế, trên những hàng cây bên trường Lê Ngọc Hân ngày nọ hay trong công viên Tao Đàn Sài Gòn, nhưng thứ tiếng đầy âm vang đó đủ khiến tôi bồi hồi suốt một buổi. Thật là nhảm, đại nhảm. Nhưng biết làm sao. Rằng quen mất nết đi rồi... Trong nỗi xúc động ấy, buổi chiều, tôi báo tin vui cho người bạn thơ, rằng tôi vừa nghe tiếng ve kêu trong bóng mát lùm cây ở Dallas.
    Tiếng ve. Có lần, tôi đã viết về tiếng ve ở những khu vườn rợp nắng buổi đầu đời. Nó vang dậy, như một dàn đại hợp xướng, chỗ này vừa lặng tiếng, chỗ khác đã rộ lên, cứ thế không dứt. Và Trần Dạ Từ đã viết như thế này, hơn bốn mươi năm về trước, khi cùng bà Trần Thy Nhã Ca ngồi trong một khu vườn chùa tĩnh lặng ở Huế: Lần đầu ta ghé môi hôn, Trăm con ve nhỏ hết hồn kêu vang... Cái ông Trần Dạ Từ này sao tỉnh đến thế? Ông hôn người yêu mà còn nghe được tiếng những con ve nhỏ kêu thì thật là siêu. Lúc đó chỉ có mê đi mà thôi, cho dù triều biển tím có dậy ầm ầm chung quanh. Nói đến biển và ve, lại nhớ câu thơ tuyệt vời của Tô Thùy Yên: Ve kêu như biển lâng lâng dậy, Xô giạt hồn ta mộng chập chờn...

   Hỡi các chú ve nhỏ... Tôi yêu các chú biết bao. Vậy mà thuở ấu niên bé xíu, tôi đã có lần phạm lỗi đối với chú. Thật là ngu xuẩn. Chuyện như thế này: Hồi đó, cũng mùa hè nắng cháy vàng hoe tóc khét da, tôi theo mấy đứa bạn rắn mắt, đi chơi khắp làng khắp xóm. Nghe tiếng ve kêu ran đầu cành, một thằng hỏi: tụi bây có muốn bắt ve không? Rồi cả lũ kéo nhau đi chặt ống tre và mấy cành trúc. Tôi được phân công trèo lên cây bông sứ, chặt đọt cho chất mủ trắng chảy ra rồi hứng vào ống tre nhỏ. Một thằng khác có phận sự đem ống tre ấy nung vào lửa cho cháy khét lên. Mủ bông sứ đổi ra màu sô la, biến thành một thứ nhựa thơm, rất dính, đem bôi vào đầu ngọn trúc để bắt ve thì hết sẩy. Chú ve nhỏ đang hồn nhiên ca hát trên cành nhãn thì bỗng dính nhựa ở đầu ngọn trúc, hết đập được cánh để bay đi. Chú không hát nữa, mà vùng vẫy cố thoát khỏi lòng bàn tay tôi. Tất nhiên rồi tôi cũng thả chú ra, sau khi đã chùi chất nhựa dính trên đôi cánh mỏng manh. Chú ve bay lên, loạng quạng trong nắng, rồi lẩn vào cây lá. Không biết chú sẽ bay xa đến đâu, qua được mùa hè không? Chú ve của tôi ơi, tôi viết những dòng này cũng là để tạ tội với chú cũng như với ấu thơ tôi. Tôi biết tôi có nhiều lỗi lầm với chú cũng như với chú cu cườm trong vườn cây Vương Phủ ngày nọ. Tuổi nhỏ u mê và nghịch ngợm, khiến tôi nghĩ lại mà chẳng an tâm chút nào.
   Thật lòng thì tôi yêu các chú ve nhỏ lắm lắm. Các chú là những nghệ sĩ giữa cõi đời bụi bặm này. Kẻ nào ghét chú, hay không yêu chú, thì đúng là kẻ đáng thương. Cho nên tôi chẳng ưa bài ngụ ngôn Con Ve Và Con Kiến của ông La Fontaine chút nào. Ông này, gọi là khôn thì cũng khôn đấy, nhưng thực dụng một cách thô thiển. Tôi chẳng thể nào yêu được những con người thực dụng kiểu như thế. Nghĩ cho cùng, những ông thi sĩ nhạc sĩ chúng tôi cũng là đồng hội đồng thuyền với các chú ve mà thôi. Chú ca hát suốt một mùa hè. Cho hoa lá, cho đất trời, cho tuổi nhỏ rong chơi, và cho những đôi lứa hôn nhau dưới bóng cây mùa hạ nọ. Chú không mang đến cho lời ca buổi tôi còn nhỏ nhít ấy một nét ưu phiền nào cả, cũng như chú đã không mang đến cho tình yêu của thời thanh xuân con người một giọt lệ buồn nào. Lệ chỉ rỏ sau đó khi cuộc đời chia cách... et la vie nous sépare... và  cuộc đời chia cách chúng ta **
   Xin các chú ve hãy cứ ca hát trong những mùa hè ở đất nước tôi. Dù xa dưới ngàn mây trắng, khi nhìn về ấu thơ, tôi vẫn thấy vô cùng thân thiết với các chú, và hết lòng tạ lỗi cũng như biết ơn. Bởi không có các chú, tuổi thơ tôi mất đi vẻ đẹp, vẻ sáng. Cũng như không có các thi sĩ, nhạc sĩ thì trái đất này sẽ trần trụi và khô khan biết mấy. Nó sẽ không còn là quả cam màu xanh, nơi cư ngụ bình an của con người.

   Viết thêm, sau khi đọc lại vào một ngày đầu hè của năm 2010: Bài này, cũng như bài Mộng Hái Sen, Nguyễn viết đã lâu, nay nhân buổi hè sang bèn lục ra đưa lên báo để những bạn yêu ve, yêu phượng, yêu sen và mơ theo mây trắng, có dịp cùng chia sẻ. Riêng về các chú ve sầu, Nguyễn sẽ có dịp trở lại trong một bài khác.

 NXT

*Lời nhạc Trần Tiến
**Thơ Apollinaire


Saturday, July 21, 2012


thơ hoàng ngọc biên 

biên thư thăm sức khỏe ông bạn già ở london




ngày hôm qua nổi hứng
ta vác cái già đi coi hát bóng ở san jose
trời lạnh cắt da
lạnh như lần ta vừa đi vừa chạy
trên đường phố tokyo
rồi tạt vào một rạp hát coi
    the exorcist với mark
lạnh như lần bên nhà
ta đi o cangaceiro với bạn
lần thứ n –
ở lê lợi sau chợ bến thành
như lần ta ghé coi swalk melody 
(sealed with a loving kiss)
ở tân phố với cô che
mò mẩm trong tối rồi thả mình xuống ghế
thở phào
“hơi con người thế mới biết ấm làm sao...”

la valse dans l'ombre
những năm năm mươi
chuyến xe buýt saigon-nancy-cholon
buổi cuối ngày
lúc nào chẳng đầy khách
ôi những năm năm mươi
đồng bạc xé làm đôi...
phim lãng mạn
lăn lóc bên phim linh tinh
thiên địa
nuôi thằng bé nhà quê tập ăn tập nói
những âm thanh nam bộ lao xao
như tiếng chim buổi sáng
trên các lùm cây
thành phố thời ấy như một bầu máu nóng
chảy khắp các ngả đường
luân lưu tự nhiên
chẳng cần đến
những bình thông nhau

saigon 1953 –
kỷ niệm của ta
giàu không có chi để gọi giàu
nghèo cũng chẳng có chi để gọi nghèo
chen trong tiếng leng keng tàu điện
đỗ ở trạm nancy
những chiếc xích lô máy trên đường galliéni
đánh thức
cả đại lộ trần hưng đạo giữa giờ khuya
chỉ vì trong chỗ xăng pha nhớt rẻ tiền
có lẫn chút hạt bụi vô duyên quá đáng

la symphonie inachevée
la chanson de souvenir
nàylão bạn già
bao nhiêu năm cùng ta đi vào đi ra
chờ đợi một lão godot đồng bóng
mãi không thấy đến:
mấy câu viết nhăng viết nhít
chẳng thể là kiệt tác để đời
(câu nào thơ thẩn quá đọc không dô
cứ thoải mái bỏ băng đọc câu tiếp)

chút xinê xưa
để làm tăng sức khoẻ
bây giờ 

HNB
(Nguồn: Tiền Vệ)

Thursday, July 19, 2012


TẢn mẠn
Bên tách cà phê

Nguyễn Xuân Thiệp


Những vẻ đẹp dị thường



                                                   tranh Hoàng Đăng Nhuận

Trăng lên trên khu rừng cháy. Những bông xương rồng nở đỏ trong cát bụi và nắng của miền sa mạc. Hoàng hôn rực rỡ sau cơn bão tàn khốc… Tất cả là những vẻ đẹp dữ dội, thường ít thấy trong đời sống
Riêng tôi, tôi nhớ có lần mình đã viết về hoa quỳnh nở trong đêm chiến tranh ở Pleiku -một vẻ đẹp nằm kề sự bất hạnh và bi kịch.

   Các bạn của tôi ơi, hãy tưởng tượng trong khi hỏa châu thắp sáng thành Pleime và tiếng trọng pháo từ xa ì ầm dội về, giữa lúc có những người lính chong mắt canh chừng từng lùm cây bụi cỏ để kịp thời phát hiện dấu vết của địch, và đâu đó trên những vùng đồi xa chuyến trực thăng tải thương cuối cùng cất cánh bay lên...., đúng vào giây phút đó hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh nở như niềm vui trong cõi đá vàng, khiến người ta thấy hết lẽ vô thường của trời đất. Chợt trong giây phút ấy, kẻ này nghĩ tới Lê Thị Nguyệt Hạnh -cô học trò diễm lệ ngày xưa đã chết trên chiếc vận tải cơ C130 bốc cháy trên vùng đồi núi Pleiku-Kontum…

   Và tôi cũng đã viết về vẻ đẹp dữ dội của hoa vông:
   Trong tôi, màu đỏ hoa vông mãi mãi là một ám ảnh khốc liệt. Tại sao vẻ đẹp như thế lại nhuốm màu bi kịch. Hay có mùi hương trong cơn bão tố, vẻ lộng lẫy trong cái dẫy chết của chiều tà. Những bức Sunflowers của Van Gogh còn làm đớn đau tê dại trí óc con người…

   Do một liên tưởng ngoài văn bản, nên đọc một đoạn văn dịch của Nguyễn Thị Hải Hà tựa đề Mùa Hoa Anh Đào và Những Cơn Động Đất, đăng trên Da Màu, tôi vô cùng cảm xúc. Ôi, nhà văn Nguyễn Thị Hải Hà, tôi đã thích từ lâu, từ khi đọc bài về chim thiên di của cô  và truyện ngắn gần đây trên Thư Quán Bản Thảo -Màu Mắt Chưa Quên. Sau đây là đoạn văn mở đầu bài Mùa Hoa Anh Đào và Những Cơn Động Đất, xin mời các bạn cùng thưởng thức .
   “Đêm trước khi cơn động đất bắt đầu tấn công, tôi đang đi bộ dọc theo con đường chính trong khu phố của tôi, ở trung tâm của Tokyo, với một người bạn khi một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: “Bạn biết không, đã khá lâu chúng ta không có cơn động đất nào, có lẽ cũng đã hai hay ba tháng. Ở Nhật bản, đây không phải là dấu hiệu tốt. Cơn im lặng của quả đất càng kéo dài, thì cơn chấn động nó gửi đến sau đó càng mạnh. Tôi sắp sửa đi nghỉ mát vài ngày và chúng tôi đang cùng đi mua sắm quà cho gia đình tôi. Buổi tối ấm áp hơn thường lệ trong tháng Ba, tôi sung sướng vì sắp được về thăm gia đình, và mùi hương Anh đào có mặt trong không khí. Chúng tôi ghé ngang Starbucks để mua một thức uống mới – Frappucino có vị hoa Anh đào – và nói về cái cảm giác buồn lâng lâng người ta thường cảm thấy khi ngày hội hoa Anh đào sắp đến. Người Nhật gọi đó là wabi-sabi, một thứ cảm giác trộn lẫn giữa niềm vui và nỗi buồn trước sự khiếm khuyết của cuộc đời và thiên nhiên. “Cuộc đời trôi qua nhanh chóng quá,” bạn tôi thở dài buồn bã. Rồi với một cử chỉ mỉa mai, cô ấy nói, “Đừng lo buồn, tôi tin chắc là động đất chỉ đến sau khi máy bay bạn đã cất cánh.” Cũng gần đúng, tuy nhiên tôi đã không đến kịp giờ máy bay cất cánh.”

   Wabi-sabi, có vẻ đẹp như thế ư? Nó có cái gì gần với những vẻ đẹp tôi từng nhìn thấy. Như bạn Black Raccoon miêu tả trong phản hồi bài viết Nguyễn Thị Hải Hà:… một vẻ đẹp bất toàn , phù du và thiếu sót.

   Xin cám ơn các bạn.  

Tháng 3. 2011
NXT


Monday, July 16, 2012





thơ chiêu anh nguyễn 
những hồ nghi …

                                       
                                                            Chiêu Anh Nguyễn

Tán bồ đề phủ  buổi chiều sũng nước
tiếng gà gáy muộn
trái trời
khoảng rêu thẫm cơ hồ nhức buốt
cánh cửa mờ xuyên đục bóng người
lặng lẽ
thinh không
gió trở mùa giữa tháng
mưa giông
giọng người thấp như mái vòm xiêu đổ
quặn thắt miệng cười
giả dại
giả điên
giả ngây ngô đến tận cùng tuyệt vọng
áp tai xuống bờ cỏ mọc
trên nền thời cuộc nghe rì rầm
nhức buốt..

yêu trên đòn gánh mưu sinh
và li rượu tê nơi đầu lữơi
…quên gì ?
…nhớ gì ?

một buổi xuống đường
vơi tình yêu đâu đó dõi theo
chắp tay cầu nguyện
cơn giận như thác
cuốn sự sợ hãi giấu vào đôi giày cao gót
phồng rộp những ngón chân
thời tình yêu trộn  nỗi lo mất mát
cúi đầu hay hiên ngang ? !
thời thi sĩ này nọ bày trò chơi ô quan
chia đều văn chương chữ nghĩa
giấy làm từ những thân cây
in một bài thơ cũng thấy mình chua xót
ích gì những câu từ sướt mướt

khốn nạn thời cuộc !
có mưa, có gió, có cây con mọc lãng mạn trước thềm
rượu chạm môi có hơi ấm kề bên
vẫn bải hoải với nỗi đau lơ lửng
thơ tình thời hư thực
yêu cũng phải  rụt rè
trả cho thế hệ này và thế hệ sau những điều hèn nhục
những sự thật đau lòng
thấy thẹn với chữ nghĩa
thẹn với người tình

yêu đương thời chó má
không dám nhìn đến cả bóng mình
trong vũng nước đọng trước sân 
C.A.N
7-2012