Wednesday, October 26, 2011


Tản mạn bên tách cà phê

Từ mùi dạ lý hương nồng nàn…
đến nắng khét tóc trên quảng trường thời đại


Nguyễn Xuân Thiệp




                                                                Chieu Anh Nguyen

Con phố gầy
Những bóng cây xô nghiêng
Mùi dạ lý xoáy vào giác quan
đòi chết
đòi tẩm liệm một ngày khô hạn
không hình hài

căn phòng lơ lửng tổ chim
treo bấp bênh mùi dạ hương cồn cào
thả dốc
con phố lặng mùa mưa chưa hiện thực
nhớ một người
nằm ốm chênh vênh

                                (thơ Chiêu Anh Nguyễn)

   Chiêu Anh Nguyễn… Tôi không biết cô, không quen cô. Chỉ thấy hình cô trên các trang web với mấy dòng ghi chú sơ sài. Tên thật Nguyễn Chiêu Anh Phượng, sinh năm 1978 tại Sài Gòn. Hiện đang làm việc và sinh sống trong thành phố. Phải nói rằng cô đẹp, giàu cảm xúc, tinh tế. Không làm dáng, thơ cô có những nét bạo, đôi khi thô mộc nhưng  đẹp. Tôi yêu mùi dạ lý hương của căn gác cô và những hàng cây nghiêng bóng. Tôi yêu cả con hẻm hè phố nơi cô nhớ một người về trong tiếng mưa hãy còn rất xa và mơ hồ. Mùi dạ lý có giúp gì cho chuyện này không, có đuổi kịp hơi thở hồi xuân của người nữ ngoài ba mươi tuổi. Còn nữa, mùi khói thuốc trên những ngón tay vàng lùa vào mái tóc khuya, im. Lúc đầu mới đọc…  mùi thuốc lá đượm mười ngón tay / vàng đến tận đêm khuya / ướp luôn vào tóc / ướp tuổi ngoài ba mươi rạo rực… tôi cứ ngỡ là mười ngón tay của chàng lùa mùi khói thuốc vào tóc cô gợi lên những đam mê cháy bỏng. Nhưng không, đó là những ngón tay của cô vàng và nồng khói thuốc. Cô từng qua những buổi sáng ở quán cá phê, nhìn vệt nắng loang trên mặt bàn và lấp lánh trên những chùm bông giấy, và rồi chấm dứt một buổi sáng với điếu thuốc mild seven và ly café đắng. Với cô, tình yêu cũng cuồng nhiệt như mưa nắng Sài Gòn:    

Đặt tay lên ngực
anh
em muốn nghe hơi thở
nóng rực từ tim
áp sát hơn nguồn sống qua em
mùi đàn ông trong anh (có lẽ)
ướp em đến vài ngàn năm trước
nồng nàn mật ngọt
(em liên tưởng những chú ong cần mẫn)




                                                             Biểu tình trong mưa

   Như thế đó, Chiêu Anh Nguyễn với tất cả đam mê và tấm lòng trong trắng, cũng là người yêu nước nồng nàn  như bao người trẻ tuổi khác ở Sài Gòn hiện nay. Và cô làm thơ, những bài ca cho đất nước, chất vấn những tên khốn kiếp lãnh đạo hiện nay. Không phải là loại thơ thời thượng như từng đọc thấy trên các trang web. Đúng như nhận định của Thận Nhiên, “Đây không phải là những bài thơ yêu nước theo kiểu phong trào, để cổ vũ hời hợt, mà là những tâm tình, đau đớn rất thật của những người trẻ trước thực trạng đất nước. Họ đang làm văn chương ư? Không, không chỉ có vậy. Họ đang định nghĩa lại và nhận diện thực trạng của đất nước hôm nay.”  Trong bài “Đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước”, Chiêu Anh Nguyễn đã tự vấn “Mi có đủ can đảm để cầm súng khi đất nước lâm nguy / Mi có đủ gan dạ để bước đi không do dự khi lãnh thổ VIỆT NAM bị đe doạ bởi lũ ngoại xâm tham lam hèn hạ”. Và cô tự trả lời:

Tối thấy mình mỉm cười gật đầu thanh thản
Có lẽ đó là lòng yêu nước
Tôi tạm an tâm với mình

   Rồi cô cho biết:

Hôm xuống đường
Những người bạn tôi
Những người quen sơ
Và cả những người chưa hề biết mặt
Tất cả đều chung một khí phách
hừng hực
Tôi gọi đó là lòng yêu nước

   Thế nhưng khi đối diện với rào chắn, dùi cui, bạo lực bẻ tay bẻ cổ, đạp vào mặt người, đe dọa, khủng bố… thực tế lại không hoàn toàn như mộng tưởng khiến cô phải tự hỏi:

Tôi đang thể hiện lòng yêu nước
Trên lãnh thổ mình
Hay tôi là kẻ di dân
Nhận lấy phần của quê hương kẻ khác

   Cô tự hỏi mình mà chính là thống trách lũ cầm quyền cúi đầu khiếp nhược trước kẻ thù mà tàn bạo đối với dân mình. Cuối cùng cô phải bật lên một câu xé lòng:

Bây giờ
Xin đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước
Có lẽ
Tôi sẽ phải cúi đầu bật khóc

   Những ý nghĩ và tình cảm trên là có thật. Chiêu Anh Nguyễn đã tham dự, đã có mặt trên quảng trường nắng cháy da cháy tóc và cô cất lên tiếng nói chân thực của mình, tiếng nói của những người trẻ hôm nay, hướng về đất nước. Đó là tiếng nói nhận diện, tiếng nói tố cáo. Nhận diện bộ mặt của kẻ thù, tố cáo sự vong ân bội tình của chúng. Như trong bài “Điều chúng tôi muốn biết”

ngả giá cho tư tưởng buôn thần bán thánh
thắp nhang bàn thờ một hình nộm
nực cười
dẹp thượng đế vào xó bếp
đặt lên đầu một kẻ ăn tươi nuốt sống sự thật
con dân phải trả giá thay cho những điều ấy?
và tai ương và lầm than và những lời nguyền trút xuống
đất nước này chưa một ngày bình an

   Tới đây, có lẽ phải đổi lại đôi chút ca từ của TCS, “gia tài của mẹ một bọn du côn, gia tài của mẹ một lũ bội tình”.  Và xin hãy cùng nghe tiếp

những linh thiêng ngàn năm
bỗng chốc thành khói bụi
thế kỉ đã sản sinh cho giống nòi một lũ bội vong
phá đền đài
đập bia ca ngợi anh hùng
có nơi nào đắng cay hơn


   Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca yêu nước, là tiếng nói không thể dập tắt. Làm sao dập tắt được tiếng nói của hàng triệu người tóc xanh long đầy nhiệt huyết. Làm sao dập tắt được cơn giông phẫn nộ kéo qua bầu trời và mặt đất từng thấm đẫm máu cha ông. Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca đất nước, có thể khiến cô phải mang lụy. Nhưng cô đã chấp nhận từ khi bước xuống quảng trường nắng cháy cùng với bạn bè của cô.

   Cuối cùng, điều khiến chúng ta yêu Chiêu Anh Nguyễn là từ mùi dạ lý hương của một ngõ phố chật hẹp khuya khoắt tới quảng trường nắng cháy tóc cháy da, cô vẫn chỉ là một người, sống tới tận cùng giọt máu trong tim, nồng nàn và mãnh liệt. 

NXT

Tuesday, October 25, 2011


Lưu Na 

Thu nhớ người xa



                                                     Về nơi phố xưa. Tranh Đinh Cường

Thăm đại ca,
Vậy là anh rời khỏi nơi này đã một năm.  Một năm mà như một ngày, như ngàn ngày.  Cây phượng hồng trước sân nhà em đang rực rỡ những cánh hoa mùa hè.  Năm nay được mùa nóng (!), đất trời rực lửa, bên chỗ em hoa rộ nở thì Texas lửa đốt tơi bời mái Tây, hoặc đổ lửa 110 độ ở Wichita, ở Arizona.  Qua ngày thu phân trời bỗng nặng buồn ươn ướt.  Cái ngày phân ly năm ngoái lại thấp thoáng trong đầu dầu cũng chưa thực rời xa.  Rồi đây chẳng chóng thì chầy, bạn bè anh em thân hữu của anh sẽ lại gom lời góp tiếng mà nhắc đến anh.  Nghĩ tới đó thì em ái ngại, lại thoáng đôi chút muộn phiền.  Chúng ta chỉ có tình bạn đơn sơ, em không biết và cũng không có kỷ niệm gì nhiều để nói về anh.  Và với em, dở tấm băng nhìn vào vết thương chưa kịp lành có thể sẽ đau lại nỗi đau rách buốt.  Vậy em vào một góc của riêng mình mà nhớ đến anh.

Vì không thể không nhớ đến đại ca.
Ngày anh đi rồi cũng lu bu lắm.  Ngày ấy, bạn bè quyến thuộc cũng như những người thương mến đã trang trọng và quyến luyến giã từ.  Mới hay người thân của anh không bao nhiêu nhưng thật nặng tình; người thương anh nhiều lắm, không chỉ quen biết mà còn cả những người xa lạ, biết bao lời ngậm ngùi tiếc nhớ.  Còn những đứa ghét anh thì nó đã ghét tự ngàn xưa, không đứa nào lên giọng.  Vậy nên em thấy thật đặc biệt có thầy tư mắt kiếng, khi anh còn đây thì gieo khốn đốn cho anh mà khi anh đi rồi thì đến thăm hỏi như là tình nghĩa lắm.  Bạn thân của anh lườm cho thầy tư mắt kiếng một phát rất cẩn thận, nhưng em sắp bị anh vỗ vai bảo “dẹp cái thằng đó đi!!!”  Em nhắc vì nghĩ đến một tính cách đặc biệt của anh: hình như anh không hay tranh cãi, không thích phân bua.  Phải thì chơi, không phải thì cười khẩy.  Còn thì, anh luôn gieo tiếng cười vang trong gió.  Cười và không nói.  Riêng với em, thật khó quên những nụ cười không âm vang trước lúc lên đường.  Những ngày tháng võ vàng ấy nếu có nặng không chỉ trên vai người thân, vì giữ cho mình một nụ cười chan chứa thắm tươi lúc đó không phải dễ, mà phải hết sức hết lòng.  Cười thật tươi, bất chấp.  Nhưng lấn quấn chuyện giã từ còn ai thấy được gì đâu, nghĩ lại, em tin rằng đó là điều quyết ý, chẳng phải hồn nhiên. 

Rồi cũng qua đi những ngày xao xác.  Tháng mười hai về, nhạt nhẽo.  Em thường xuống chùa dưới Long Beach ăn cơm chay ngồi trong chánh điện ngắm những vòng đèn hào quang chung quanh tượng phật im ắng.  Khi về sẽ qua phố phường lổn nhổn mỗi nhà một kiểu mỗi sân một loại cây một cách xếp đặt, cổng rào gập gềnh, rồi em nhớ Việt Nam nhớ một cái gì đã xưa đã cũ mà vẫn xao xác như chưa bao giờ thực xa.  Như anh chưa thực xa nơi này… 

Cuối tháng này
cuối năm này
Cũng chỉ vài ngày nữa thôi
Anh sẽ qua kiếp khác
Em sẽ qua lối khác
Khi màn đêm lấp lánh
không còn thấy cánh sao côi
Khi bình minh rực tím chân trời
không còn hạt bụi trong
chập chờn trước gió 

Không còn đại ca nơi này, em lại quen được một vòng thân hữu mới, mà toàn là lớp trên hơn em rất nhiều tuổi.  Mỗi ngày tan sở em qua bên gác ông chú này ngồi nói bá láp trước khi về nhà. Lâu lâu, buổi tối em vào net gửi thư thăm ông chú nọ bên Texas, thăm đại ca kia bên Wichita chuyện viết lách tào lao.  Rồi thôi.  Một ngày như ngàn ngày.  Có khi xem phim tài liệu trên TV, thấy thế sự, cuộc sống, khắp năm châu bốn bể; những sinh vật kỳ diệu trên không dưới đáy vực sâu của trăm năm ngàn năm trước, mà rồi tất cả trước sau đều sẽ tan ra như bụi, em cảm như mình từ từ nhỏ lại và trong đi, như hạt bụi lửng lơ vô duyên lãng nhách không biết sao mình đứng ở nơi này.  Chúng ta chỉ là những hạt bụi?

Vũ trụ bao la muôn vàn tinh tú và những chuyện không giải thích được thì đành.  Nhưng em ngồi nhìn những giọt nước mắt những kiếp khổ đau ghi lại trên phim trong sách mà thấy như mình đã thành vô cảm, vì khổ đau và tiếng cười hay những điều kỳ diệu cũng chỉ như bóng mây.  Mà rồi khi nhìn chiếc ghế trống nơi bàn ăn, khi thấy thiếu một làn khói bên bàn cà phê, thiếu một tiếng cười trên bàn dóc lác những giọt nước mắt sao vẫn mặn và ấm nóng.  Tại sao?  Những bức ảnh vàng úa ngơ ngác buồn, em tìm em, tìm đại ca, xem chúng ta là ai ở nơi nào 100 năm trước.  Và một trăm năm sau ai sẽ nhìn những bức ảnh thắm tươi bây giờ để tìm em, tìm đại ca?  Chúng ta cứ lấn quấn với nhau vì lẽ gì?  Cuộc đời còn lại những gì và chúng ta để lại được gì?

Cái anh để lại nơi này không nhiều, chỉ 2 cuốn sách mỏng, và một cái gạch nối.  Anh không biết mình đã nối những người lính phiêu bạt những người dân tầm thường của một cơn binh lửa lại với nhau.  Bây giờ em có những người bạn bề bề chữ nghĩa!!!  Em chắc nếu có mặt nơi đây đại ca sẽ cười rộ, chú mày nói cứ như thật.  Mà thật đó.  Những đứa không biết gì thường được tổ đãi anh không biết sao.  Ông Trên Bàn Viết chả quen anh nhưng chắc lòng quí mến nên vừa hay tin anh ra đi ông tri hô “Ông gẫy súng đã lên tàu,” đọc mà rưng rưng.  Ông bạn thượng dân của anh thì chửi đổng trên báo, mà nghe lại thấy ngọt.  Phải ở gần em thay mặt đại ca mang tới một xâu bia một gói ba số mời bạn hiền.  Cô Thùy Dương cũ còn độc đáo hơn, chỉ một câu thơ gọi ra đúng con người và sự nghiệp (bé tí !!!) của anh: một Tháng Ba buồn bước lẻ loi.  Viết tay trái viết không chuyên nhiều khi viết rất chân tình cảm động. 

Quả thật, hình ảnh của anh là một hình ảnh lẻ loi, không biết sao em cứ thấy vậy trong đầu dù biết anh rất nhiều bạn.  Cô đơn là một khối vô hình bao quanh mình, trong tim óc mình, chỉ mình biết được.  Anh có cô đơn?  Em tin, dẫu bạn cùng khắp anh vẫn là một kẻ cô đơn, anh vẫn bước những bước lẻ loi của riêng mình.  Như em, mỗi ngày đều qua ngồi trên gác hẹp uống nửa chung rượu nói muôn chuyện từ biển trời đến lòng mình với ông bạn già.  Mà em vẫn phải communicate với ông qua trang chữ.  Tựa như khi xưa mình là bạn của nhau mà em vẫn dấu tên khi viết bài gửi đại ca.  Có lẽ em chỉ thấy an tâm trong cõi riêng buồn. 

Nên em cũng không gặp lại những khuôn mặt cũ của ngày giã từ ấy.  Chỉ có một lần gặp lại nhị ca chủ báo uống ly cà phê.  Hai đứa ngồi đồng ngoài quán hết 3 tiếng, nói muôn vạn chuyện tào lao, chỉ nhắc anh chút chút mà thôi.  Trong đáy mắt mỗi đứa như có nỗi buồn nhỏ nhoi, lấp lánh như vỏ ốc xa cừ trên biển cát mênh mông.  Vui chung nhưng ai cũng phải sầu riêng.  Mà cái tình càng thật thì nhiều khi lại thấy như càng hờ hững.
Em cũng nói cho đại ca hay, từ bấy đến nay em không một lần ghé qua căn nhà cũ, không một lần thăm hỏi M.  Em đã đưa mấy lời từ tạ, và em tin chắc anh không cần em giải thích.  Nhưng em muốn nói với đại ca, rằng em tin có những niềm đau những nỗi mất mát quí giá và linh thiêng với riêng người gánh chịu, như một thứ đặc quyền mà người chung quanh không nên đòi san sẻ.  Cũng như có những lúc người ta cần được một mình để nghiền ngẫm nỗi đau, đừng ai đòi đau chung.  

Chính em cũng phải bước những bước riêng trên một lối của mình.  Một ngày, em đạp gai chảy máu.  Em thôi không bước qua lối đó nữa.  Tuổi đời dậy cho em biết, không nên cãi cọ với số phận, và thời gian sẽ xóa nhòa mọi thứ.  Đâu có thứ gì điều gì trải được với sương nặng mùa Thu, với thời gian nhẹ như mây mà trường tồn hơn cả sự sống.  Em muốn hỏi đại ca rằng trời cuối thu rồi anh ở đâu, nhưng ngại, rủi anh trả lời thực thì “chết liền”, chết đứ đừ_cái kiểu Bắc kỳ các anh hay nói.  Bắc kỳ, em thường cười cái tiếng ồm oàm nhà quê đặc khói thuốc lào của ông Đại tá hưu đập bàn mắng cô Phượng ca ve “bố náo,” trong những buổi phát thanh Thư Sài Gòn.  Không biết bây giờ ai diễn đọc những lá thư đó, hay tứ sắc thiếu tay đành phải dẹp luôn?

Tứ sắc thiếu tay thì phải dẹp, nhưng sáng cà phê Factory vẫn rộn tiếng cười và mịt mù khói thuốc.  Trưa, Bolsa vẫn nóng vẫn rộn ràng ở những đài phát thanh.  Chiều, em vẫn đi về qua phố cũ.  Đại ca, cuộc sống dẫu muốn hay không cũng lăn chảy.  Và dường như biết là hão huyền người ta vẫn mơ, biết là ảo mộng mà cứ cố tin cho đời bớt tẻ nhạt.  Năm ngoái khi đại ca rời khỏi nơi này em bèn tự ra một project chụp hình, mơ rằng mình có xúc động sẽ chụp được những bức hình có giá trị.  Thì em cũng ra được một lố hình lá thu, và đặc biệt em có một chiếc lá rơi hững hờ trong không trung, vàng dòn với những đốm nâu như tàn nhang trên má xuân thì.  Cái chủ ý chụp cũng lại không bằng cái vô tình vồ được, nhưng phải nói, em hài lòng với project thu ấy.  Có lẽ em sẽ làm một chuyến đi ngắn 2, 3 ngày để tìm ảnh cho thu này.  Anh có cầu cho em chụp được hình như ý không.  Cầu chung có hiệu lực mạnh!!!
Mà, đại ca, đang nói với anh nửa chừng thì nghe tin anh tài quá vãng: Steve Jobs của Apple.  Anh tài đó không liên quan gì đến em, nhưng sao thấy tiếc.  Người ấy cống hiến quá lớn cho nhân loại, đem đến cho quốc gia mình một biểu-tượng-Mỹ-quốc: trái táo cắn dở.   Em ngẩn ngơ, dẫu em biết, cả thế giới biết cái ngày này rất gần.  Và những ngày tháng cuối của một anh tài tỷ phú hình như cũng không khác những ngày tháng cuối của một thường dân. Một lần nữa, có vẻ như lẽ vô thường là điều vĩnh cửu duy nhất, và là điều chúng ta không thể vượt qua.  Nhưng dẫu hết lòng mến tiếc và thán phục anh tài ấy, dẫu cuộc sống chung quanh ít nhiều (nhiều hơn là ít !) chịu ảnh hưởng và đổi thay vì những cống hiến của người ấy, em vẫn muốn và thèm viết cho anh một lá thư tay !!! 
Đêm nằm đọc truyện, cầm quyển sách to dầy bìa cứng ngắc trên cánh tay khô héo, dưng không em nhớ thương những dòng chữ, những lá thư viết bút mực bút chì người mình thường gửi cho nhau một thuở nào.  Một thời thơ dại đã qua. Một thuở nghèo thắm đượm đã mất.  Mình đã héo khô và lòng cũng cằn cỗi theo với tiện nghi vật chất của những cái tức thì.  Không còn cái nôn nao gửi một lá thư một chút tâm tình và hồi hộp chờ hồi âm.  Khi xưa không có điện thoại điện thư, nhiều khi đạp xe qua biết bao chặng đường về nơi cũ, đến một xóm quen, chỉ mong nhìn gặp được người muốn gặp mà nhiều thuở phải ra về không.  Người muốn gặp biết được cớ sự thì cũng đã qua đi một cơ hội, nhưng cái tình như thêm quyến luyến và cái ý như thêm thắm thiết mặn nồng.  Giờ đây, dù có ở Việt Nam thì cũng không còn cái ân tình nhạt nhòa mà bao trùm không gian ấy nữa.  Trong đêm vắng em chợt nao lòng thương nhớ.  Không chỉ Seattle mới có cô Rơm Trần mộng Tú.  Nơi đây em chắc cũng có vài chú Mạ thầm lặng, lưu luyến một thuở quê nhà.
Mà thương nhớ người ta không chỉ nhớ những hình ảnh, những kỷ niệm, mà còn thương nhớ cả những mùi hương, tiếng động.  Lẩm cẩm nhất là có lúc em phát giác ra mình nhớ mùi khói đốt lá ở quê nhà, nhớ làn khói -lúc cuộn tròn dầy đặc cay cả mắt lúc váng vất xa xa ở cuối xóm bên, và nhớ cái nóng gay gắt đè trên giấc ngủ trưa mệt nhọc đẫm mồ hôi.  Có lần về đứng bên hông chùa Vĩnh Nghiêm chợt thấy trên giòng sông nhỏ lặng lờ một chiếc xuồng đang trôi ngang đều đều chậm chậm với người thanh niên mình trần đứng chống sào nhẹ nhàng thản nhiên da bóng hồng trong nắng, em chợt thương người thanh niên ấy nao lòng và hoảng hốt tưởng mình là Từ Thức.  Những thứ đó không mang hình ảnh một người thân hay một kỷ niệm gì, chỉ là khi nhận diện được nỗi nhớ của mình em thấy đau thắt lòng, đau, không biết vì đã xa quê hương hay vì mình đã xa mình.  Đại ca, buồn cười và dở hơi quá phải không.  Cũng như những khi bước chân trên thảm lá vàng tìm góc cạnh chụp ảnh, một lúc nào đó em nghe mơ hồ tiếng cành khô gầy gẫy vụn dưới bước chân, âm thanh thật mỏng manh lạc lõng mà vang dội trong lòng nỗi cảm hoài đất trời quạnh quẽ.  Đâm ra chụp được hình ảnh chứ không chụp được mùi lá ải chung quanh, không chụp được những âm thanh xao xác, những rung động bất chợt mà đậm sâu.
Đại ca sắp vỗ vai bảo chú mày vẽ chuyện.  Nhưng ghê gớm hơn những thương nhớ vẩn vơ, là những phút lặng im khi bên nhau.  Những buổi chiều đàn đúm, trên căn gác hẹp thường đầy ắp tiếng cười và những lời chọc ghẹo, hoặc những lời trao đổi san sẻ với nhau.  Em luôn chìm ngập trong âm thanh, lời nói, dẫn đến những suy tưởng.  Một lúc nào đó bất chợt, không ai nói với ai một câu gì_không có gì còn gì để nói_mà cũng không có chút gì để nghĩ suy.  Cái im lặng bao trùm cũng trong suốt như nắng, như nỗi cô đơn mà em tưởng tượng nơi con người anh, trong lòng anh.  Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi thấy như mình và người chung quanh là những nhân vật trong một cuốn phim câm đã cũ đang được chiếu lại thật chậm.  Em hốt hoảng ra về, lòng hoang mang không biết phải nghĩ gì.  Chúng ta thực có mặt trên cõi đời này?  Nếu không, sao người ta phải đớn đau hoài một nỗi cách chia? 
Ấy vậy, chứ đừng có lừng lững xuất hiện mà anh em hết hồn nha bác.  Trước sau gì chúng ta cũng sẽ gặp lại nhau.  Mong sao em sẽ không quá lấn cấn lúc lên đường để còn nhớ mà nhắn tin cho đại ca.  Có người quen đứng đón ở trạm mình phải xuống thì cũng bớt ngại nỗi đường xa xứ lạ, phải không.  Em thuộc loại hơi hèn một tí, nghĩ đến lúc phải đi xa thì lo sợ lùng bùng, nhưng khi nghĩ đến vóc dáng lẻ loi buồn kia sẽ đón chờ ở sân ga thì thấy đời cũng không đến nỗi vắng tanh như chẳng còn ai.  Đại ca, anh sẽ đón em chứ?  Chúng ta sẽ gặp lại nhau, phải vậy không, anh Huy? 

Lưu Na
10/31/2011

Friday, October 21, 2011


Thơ nguyễn xuân thiệp




Những cây đại hồ cầm mùa thu

những cây. đại hồ cầm. của khu rừng
tấu khúc. mùa đi. thức cánh chim
động. nắng. dong buồm qua biển xa
tôi. lui về
khi những vì sao trên bầu trời. tắt
em. chúng ta đã nói. lời chia tay

chia tay. với bông dã quỳ. đỏ
mùa hè
chiều của cánh diều. và trăng
cô bé đi vớt mặt trời
không về nữa
ngọn đèn. mở mắt. xóm vườn lài
gọi giùm tôi
chiều. đã chia tay
ơi mén

chia tay. những bông lau tím. bên đường
freeway 75. vọng tiếng
từ quán cà phê khuya. mơ. trôi
ai hát. gió của một thời. gone with the wind

chia tay. những cây đại hồ cầm. rừng tà dương
khóc. lời của vầng trăng. biển
dội. âm u. trên mái nhà linh hồn. như mây
bay qua. chúng ta không về nữa
quán cà phê. ly thơ
bùn. mưa. trăng. và ánh đèn
trên lối đi. của lá
và loài hoa cúc dại

bây giờ. anh đi trong mùa thu
với áo em cho
vàng. trong cây
tiếng đại hồ cầm
buồn. như người. tự tử
mùa thu
mùa thu


Tiếng sấm

Đêm nay
anh lại nghe tiếng sấm
từ xa dội về
chuyến xe lửa. chở anh tới ga sài gòn. cách đây ngoài năm mươi năm. đã rời bến chưa. mà sao anh còn nghe còi hụ
và căn nhà ở xóm nguyễn ngọc sương. phú nhuận. nơi anh trọ học đầu tiên. còn không
còn không. chiếc xe phở. với đốm lửa khuya đầu ngõ
hình như
nhiều thập kỷ. đã trôi qua
những đám mây
thế kỷ hai mươi tàn rụng
thiên niên kỷ thứ ba đã qua cầu. với đàn chim thiên di
và tiếng sấm
đêm nay. lại dội âm u trên mái ngói
để anh nhìn thấy
mưa
những chiếc khăn. vẫy. vẫy
trên bờ sông. cạnh quán lau thưa. cây hoa gạo thả rơi từng chum bông đỏ ối
phát ra tiếng kêu
cậu học trò năm xưa. để đầu trần lộng gió. chiều chiều đạp xe qua ngõ âm hồn
tìm nhặt những câu thơ
về đâu. về đâu
ô. những câu thơ
đã đưa anh qua chiến tranh
và tù rạc
để tới đây
đêm nay. ngồi nghe tiếng sấm
vầng trăng. nhúng đầu. trong vũng nước
cỗ xe hư nằm hoen rỉ. và mơ
cô bé chiều nào. hái cỏ. về cho con mèo ốm

này em
tiếng sấm
và người mặc áo tím
vẫn đi. trong mưa
hai giờ sáng
tháng 10. 2011

NXT

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến  

Thái Độ & Chế Độ


                                                     Tranh Đỗ Quang Em
   

    Xem như thế, ngó bộ, còn rất lâu chúng ta mới có thể tìm lại được nụ cười. Và điều cần để “khôi phục” lại con người bình thường nơi dân tộc Việt không chỉ là sự thay đổi thái độ mà còn là chế độ. Cứ tiếp tục mô hình XHCN hiện nay thì sẽ Xuống Hố Cả Nút, về mọi mặt chứ không riêng gì nhân cách.

  Bữa trước, tôi nghe ông Nguyễn Hưng Quốc cằn nhằn:
 "Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi truờng tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nuớc khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cuời. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.”
   Qua bữa sau, ông Nguyễn Văn Tuấn cũng càm ràm (y chang) như vậy: “Phong cách phục vụ của tiếp viên, của cơ trưởng, và vệ sinh trên máy bay có lẽ nói lên một thực tế rằng Vietnam Airlines còn kém rất xa so vói các hãng hàng không nước láng giềng...”“Nhìn qua cách họ đưa cái khăn, đến cách nói, hành khách cũng có thể cảm nhận rằng những người tiếp viên này không yêu nghề, hoặc yêu nghề mà không nói đuợc tiếng Việt (chứ chưa nói đến tiếng Anh). Họ làm một cách miễn cưỡng, làm cho có làm. Và, chả bao giờ thấy nàng cuời.” 
    Lần cuối, tôi có dịp đi máy bay – ở đất nước mình – vào cuối năm 1974, trên một chiếc DC-6, cất cánh từ Tân Sơn Nhất. Hôm đó, cận Giáng Sinh – trời nhiều gió – lao đao mãi chiếc máy bay 4 cánh quạt mới đáp xuống được phi trường Liên Khương, Đà Lạt.
    Tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh của những bụi quỳ vàng man dại bên phi đạo, và mấy tà áo xanh quấn quýt trong gió lộng của mấy cô tiếp viên nhỏ nhắn, dưới cánh bay. Họ đứng tiễn khách với nét mặt hơi mỏi mệt nhưng vẫn giữ được nụ cười tươi tắn.
   Rồi đời, chẳng may, phải lâm vào cảnh phải tha phương cầu thực. Tôi phiêu bạt trên nhiều chuyến bay khác, qua vô số những phi trường khác, ở khắp mọi nơi nhưng nơi đâu cũng cảm thấy là mình (hơi) lạc lõng. Tôi vẫn cứ thương hoài nụ cười xinh tươi của những cô hôtesse de l’air Việt Nam, giữa núi đồi Tây Nguyên, vào buổi chiều hôm đó. 

   Từ buổi chiều đã xa lắc xa lơ đó, cho tới chiều nay – tính rẻ ra – cũng cỡ bốn mươi năm. Biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước mắt, nước mưa... đã (ào ạt) chẩy qua cầu, và qua cống. Thời gian qua, điều gì đã biến cảnh phi trường ở đất nước tôi thành những nơi chỉ có ánh mắt và khuôn mặt “lạnh tanh” như thế?
    Và nụ cười của người dân Việt, theo tường thuật của ký giả Quảng Hạnh (Phụ Nữ Today, 07/03/ 2011) đã trở nên hiếm hoi ở khắp mọi nơi: Các chuyên gia kinh tế dạy, DN muốn thành công, nụ cười phải được lập trình sẵn trong mọi công đoạn, từ tiếp thị, bán hàng, đến hậu mãi. Và để có nụ cười ấy, thiện ý tôn trọng khách hàng phải xuất phát từ trái tim, trở thành nguyên tắc sống còn trong kinh doanh.”
    “Người Trung Hoa thì đúc kết:’Người nào không biết mỉm cười, chớ nên mở tiệm’. Còn Hải quan Malaysia, luôn gắn trên ve áo khẩu hiệu ‘Phục vụ khách với nụ cười’. Và Kuala Lumpur đón tới 25 triệu lượt khách du lịch mỗi năm.”
   “Nụ cười là phong cách kinh doanh của những doanh nhân giỏi, những thương hiệu lớn. Buồn nỗi bán - mua ở Việt Nam, sao hiếm thấy nụ cười...”
   Nỗi buồn này, ở Việt Nam, có nhiều nguyên nhân đặc thù nhưng dường như không được mấy ai chia sẻ và thông cảm. Coi:
    - Làm ăn ở một xã hội mà kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thì nụ cười không hẳn đã cần cho “phong cách kinh doanh của những doanh nhân giỏi.”
     - Ở một đất nước hoàn toàn Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc thì chuyện cười đùa e không thích hợp, rất dễ bị hiểu (lầm) là có ý xỏ xiên, hoặc mỉa mai chi đó. Tù tội như không, chớ đâu phải giỡn, mấy cha.  
     Tự bản chất, dân Việt (chắc) không hà tiện nụ cười đâu. Họ chỉ cười không được (hay không nổi) nữa mà thôi. Câu hỏi (thật sự) cần phải đặt ra là người Việt đã đổi tính, và thôi cười tự lúc nào cà?
    Sự kiện này được nhà văn Phùng Cung ghi nhận (rất sớm) qua một nhân vật trong truyện của ông:
   “Bà Khuê từ một nguời nhanh nhảu, vui tính, hiền dịu, dần dần trở nên kí cảu, có lúc nặng lời, thậm chí tục tỉu, nghĩ lại và tự thấy nguợng ngùng. Cái môi truờng sinh sống nó quan trọng thật! Nó nhẹ nhàng vần đi, vần lại, biến đổi, phân hóa, nó kiểm dấu chìm, dấu nổi giai cấp lên chỗ dễ tìm thấy, lên mặt từ già lão đến trẻ thơ!”
    Truyện ngắn Mộ Phách viết về cuộc đời của một đôi vợ chồng (Kép Chản và Đào Khuê) trong giai đoạn mà người Việt bị cấm cản ca trù, phải đập đàn và chôn phách. Nhà phê bình văn học Thụy Khuê nhận xét rằng: Mộ Phách là tiếng khóc tiễn đưa thi ca, âm nhạc về bên kia thế giới trong một thời mà nghệ thuật đích thực bị xử lý như một phạm nhân, qua đó là sự tàn phá nền văn hoá cổ dân gian, thời Cách mạng tháng Tám.”
   Tôi trộm nghĩ thêm rằng Mộ Phách không chỉ là ”tiếng khóc tiễn đưa thi ca, âm nhạc về bên kia thế giới” mà còn là tiếng cú báo hiệu sự mất mát của những nụ cười bình dị, trong đời sống bình thường, của người dân Việt.
    Cùng với Chiến Dịch Bài Trừ Văn Hóa Phong Kiến là Chương Trình Cải Cách Ruộng Đất. Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ông Hồ Chí Minh cho biết: "Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ.”

    Sự thực, xem ra, khác xa với lời tuyên bố “chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình” của ông Hồ. Cách “chiếu cố” của Nhà Nước và Đảng của ông đã giết chết hàng vạn lương dân và làm tan nát nông thôn miền Bắc. 
   Rồi tiếp theo ngay sau đó là cuộc chiến giải phóng miền Nam:

Trại lính, trại tù người đi không ngớt
Người về thưa thớt dăm ba...
Trẻ con đói, xanh như tàu lá.
Cày bừa phụ nữ đảm đang.
Chốn thôn trang vắng bóng trai làng.
Giấy báo tử rơi đầy mái rạ.
Buồn tất cả. Chỉ cái loa là vui!
(N.C.T)

   Và sau khi cái loa hân hoan thông báo miền Nam đã được hoàn toàn giải phóng thì nụ cười cũng dần biến mất ở nửa phần quê hương còn lại: “…  không biết từ lúc nào, chị quên tuốt luốt những câu đùa duyên dáng tạo niềm vui cho chồng con, chị cũng quên luôn những công việc nho nhỏ tạo niềm vui cho chính mình, dậy cho con Thành làm toán, dậy thằng Công đánh vần chẳng hạn. Mà chỉ mình chị vậy thôi sao, anh Được càng lúc càng lầm lì, đã ít nói còn sanh thêm gắt gỏng” (Võ Hoàng. Trong Lòng Cách Mạng. Nhân Văn: California, 1983).
   Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản Nhân văn, tập truyện Trong Lòng Cách Mạng sẽ “dẫn người đọc vào một thế giới rất Việt Nam, một Việt Nam cùng quẫn sau 1975 trong vòng cây của bạo lực, kể từ cuộc đổi đời bi thảm.”
   Vấn đề không ngừng ở chỗ xã hội thiếu vắng nụ cười, hay thái độ lạnh lùng và vô cảm. Với thời gian, theo cách nói của đạo diễn Song Chi, người Việt còn bị “tàn phá về mặt tâm hồn và nhân cách”: “Ngày càng nhiều những vụ xô xát, án mạng với tính chất ngày càng man rợ mà nguyên nhân nhiều khi chỉ vì va chạm nhau trên đường, vì nạn nhân lỡ ‘nhìn đểu’ nên bị đâm cho bõ ghét hay một câu nói, một món nợ tiền bạc rất nhỏ…Chứng tỏ sự bức xúc, tức tối xã hội bị dồn nén bên trong, không biết làm cách nào để giải quyết, gặp dịp thế là bùng phát thành tội ác.”
   “Tất cả những điều này cho thấy tâm hồn con người VN nói chung không được bình yên, không thư thái, thậm chí bất mãn đối với cái xã hội mà họ đang sống. Nó cũng cho thấy đạo đức, nhân cách, những phẩm chất tốt đẹp của con người VN đang bị hủy hoại một cách đáng ngại.”
    “Xây dựng lại một đất nước bị tàn phá về kinh tế đã khó, nhưng xây dựng lại một xã hội trong đó con người bị méo mó, lệch lạc,tàn phá về mặt nhân cách, tâm hồn, sẽ khó hơn rất nhiều."
    Xem như thế, ngó bộ, còn rất lâu chúng ta mới có thể tìm lại được nụ cười. Và điều cần để “khôi phục” lại con người bình thường nơi dân tộc Việt không chỉ là sự thay đổi thái độ mà còn là chế độ. Cứ tiếp tục mô hình XHCN hiện nay thì sẽ Xuống Hố Cả Nút, về mọi mặt chứ không riêng gì nhân cách.

TNT

Tuesday, October 18, 2011


thơ thận nhiên


                                                                   Cafe Van Gogh

Tạm trú 

tôi rất cà chớn
tôi có hai quê hương
nơi nào tôi cũng ghét
nơi nào tôi cũng thương

tôi có nơi để đi
có nơi để về
tôi có “quê” trên mặt đất

anh nhân viên nhập cảnh hỏi
“Anh đi đâu trước khi về lại Mỹ?”
“Tôi đi Việt Nam.”
“Anh ở bển bao lâu?”
“Chỉ chừng bốn năm à.”
“Khá lâu ha. Welcome home.”

“Cám ơn. Về quê đã quá xá!”
ở đây tôi không phải ra phường khai tạm trú với công an
tôi trình báo với Chúa cho phải phép
“Cho tới khi Người cất con đi
Chúa ơi, cho con tạm trú trên mặt đất này”
Chúa nói
“Được, hãy cầu nguyện với ta khi khó khăn
và chớ hư hỏng quá. Giờ thì đọc kinh, rồi ngủ đi.”

“Dạ. Sáng danh Đức Chúa Cha...”
tôi ngủ bình an một giấc dài
như hằng có


TN



Phan 

Đi hay ở?


                                                                   Tranh Manuel Neri


Bạn hiền!
   Nhận được thơ bạn báo tin sắp được đi Mỹ. Lời đầu tiên của tôi là chúc bạn sớm lên thiên đàng hay đến thiên đàng cũng thế! Tôi từng mang tâm trạng của bạn lúc tôi cũng tính từng ngày còn ở Sài gòn. Tôi hiểu rõ tâm trạng người đi giữa phố thân quen nhưng chỉ thấy cái vòi nước cứu hỏa ở góc đài truyền hình xưa, góc đường Cường Để với Hồng Thập Tự. Tôi tưởng tượng ra bạn dừng chân lặng lẽ, nói lời “Tạm biệt, tạm biệt… cái vòi nước cứu hoả.” Có phải trong bạn nhớ như in về cái xe đạp đầu đời có được, nhưng đã tông vô cái vòi nước đó. Nhìn chiếc xe đạp cưng với cái bánh trước hình số 8 nên bạn nhớ hoài con đường tuổi nhỏ, nhớ cái vói nước cứu hỏa cho ai chứ bốc hỏa trong bạn. Không chừng bạn đã từng đá cho cái vòi nước một đá vì cái tội làm què con chiến mã của bạn. Nếu bạn quên thì tôi nhắc là cái giò của bạn bong gân, 3 ngày ngồi chong ngóc trong sân Hoa Lư, không đá banh được cũng vì cú sút cực kỳ tuổi nhỏ vô cái vòi nước.
   Bạn không thể đá vỡ tuổi nhỏ nghèo khổ; nhưng cũng không giữ được thơ ngây theo tháng ngày. Có phải hạnh phúc ngày đó của chúng ta là có tiền mua một ổ bánh mì thịt với chai xá xị hiệu con nai. Hai dư vị đó tẩm bổ sau buổi đá banh thì còn gì bằng. Nhất là khi ùm xuống hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm, nước hồ làm cho hơi xá xị trong bụng hự lên một cái, hơi xá xị xông lên mũi, hãy còn thèm vì thơm…
   Nói làm sao hết những con đường tuổi nhỏ, chiếc xe đạp, góc hẹn hò… những buổi chiều không nắng cũng không mưa/ chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhau, rời quán cóc ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nhớ biết bao nhiêu bạn bè. Hàng sao già còn thả cánh chuồn xoay xuống đầu ông cụ Võ Trường Toản nhưng mấy thằngbạn nhỏ hái me keo đã biệt tích giang hồ, đâu rồi Trưng Vương với khung cửa nhỏ, nhớ ai nghiêng nón thẹn thùng. nhưng gặp lại bảo đảm bạn quăng cục lơ với bà cụ trong văn phòng bác sĩ, cầm tờ báo đưa ra thật xa mới đọc được hai chữ Sài gòn; cái dáng cụ nghiêng nón ngày xưa làm chúng ta chết mê chết mệt thì dáng cụ đọc báo bây giờ làm chết hết chúng sanh hoài cổ. Nhưng dù sao cũng không quên được thành phố mà bạn đã chào đời, thành phố yêu thương bạn từng ngày; nhưng ruồng bỏ bạn cũng từng ngày, nơi thân phận của những đứa con mà người mẹ Sài gòn đã trao thân nhằm tướng cướp. Chúng ta được sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nào của Sài gòn thì nơi đó cũng là quê hương. Tuy đã có những Sài gòn rải rác trên hành tinh theo dấu chân tỵ nạn, dù văn minh và sạch đẹp cách mấy cũng chỉ mang hơi hướm của hoài niệm, linh hồn dị thảo của Sài gòn đã huyễn mộng trùng dương…
   Bạn ơi! Nói về sự gắn bó với Sài gòn thì tôi không mất ngủ hàng đêm như nhà văn nhà thơ giàu tưởng tượng. Tôi thật sự chỉ nghe gió heo may đã về nơi sân sau nhà; con đường đi bộ thể dục buổi chiều… tôi cúi mặt lặng thinh, lầm lũi bước để kéo dài tuổi thọ!  Nhưng đừng hỏi tôi để làm chi, vì tôi cũng không biết để làm chi. Ham sống bản năng đã được nâng khỏi tầm động vật để trở thành thước đo đạo đức trong xã hội văn minh. Nên tôi vẫn lê thê tuổi trời trên những con đường lá vàng, không bụi, không ăn mày, móc túi, bò vàng gì hết -không khí trong lành đến sợ mình thở sẽ làm ô nhiễm không khí nên tôi nín thở đi. Tôi vẫn đi bên cạnh một người, hai người bốn cẳng tuổi đôi mươi, sang thu sáu cẳng vì thêm hai cây gậy. Làm tôi nhớ câu đố hồi nhỏ: Con gì hồi nhỏ đi bốn chân, lớn lên đi hai chân, tới già đi ba chân? Tôi vẫn đi trên thiên đường của người đang sống trong địa ngục nhưng là con đường về lại âm ti trên cõi thiên đường, vì người đi bên bạn trên những con đường bụi mù của Sài gòn đã khác xưa nhiều lắm trên những con đường không bụi này. Bạn cũng nên dẫn một nửa của bạn sang đây, để có người cùng bạn thực hiện cuộc hành trần mỗi chiều cho tan nước béo. Còn nhớ tiếng Tàu ở Chợ lớn không, người Tàu gọi là súng thầu, mà bạn đã từng cãi tôi chí tử: Tôi nói súng là hành; thầu là dầu-mỡ. Hành trần nước béo gọi là súng thầu. Con nhỏ Tàu bán hủ tíu mì là Mã Thầu Dầu-Con Ngựa Mập. Chả hiểu sao nó lại cho tụi mình ăn hủ tíu chùa mà không đánh cho một trận với tiếng Tàu vô tự điển của bọn mình.

   Đi đi, sang đây cho biết đá biết vàng. Gần đây, tôi mới lái xe đi nghe nhạc đến 5 tiếng đồng hồ. Đi nghe, “Cùng nhau hai tuổi năm mươi, có nhau ta có chung nụ cười” là Nụ Cười Trăm Năm của ông nhà thơ “ mà chúng ta từng chép vào lưu bút ngày xanh của mấy bà cụ đang đọc báo tầm xa ngoài văn phòng bác sĩ. Nhà thơ của chúng ta còn phơi phới yêu đời, yêu bà Nhã thiết tha... Bạn đừng nghe lời tôi xuyên tạc mà nản nhé!
   Về việc bạn hỏi tôi nên định cư ở đâu? Câu trả lời thật nhất cho bạn bè là, “ngoài nước Mỹ”! Nghe mâu thuẫn với những người giàu có tới dư ăn ba đời nhưng vẫn tìm cách đến Mỹ. Huống chi người nghèo như chúng ta! Phải, nhưng phải một nửa thôi vì người giàu đến Mỹ sẽ dễ giàu hơn, nhờ cơ hội làm giàu luôn dễ dãi với người sẵn vốn;  tài sản được bảo đảm hơn với bọn cướp đêm là giặc cướp ngày là quan ở những nước AK 47 là chính quyền. Nhưng người nghèo đến Mỹ chỉ thêm nợ. Nghèo ở quê mình là nhà nhỏ, xe cũ, không trương mục, thì nghèo ở đây được mang thêm số nợ ngân hàng lớn-nhỏ tùy hảo ngọt khi nghe rót mật vào tai. Chung quanh tôi rất nhiều những người nô lệ da vàng, làm quản gia không công cho căn nhà lớn của mình nhưng kỳ thực là quản gia không công cho ngân hàng Mỹ. Người nô lệ da vàng chỉ ở ngoài garage đậu xe từ mặt trời mọc tới mặt trời lặn. Nấu ăn ngoài patio vì sợ nhà có mùi, ăn cơm trên bộ bàn ghế cũ vì bàn ghế mới còn trùm ny-lon. Vợ chồng tôi mới mua xe, xui ơi là xui vì mới lái ra ngõ đã gặp nhà bên tưới cỏ, làm ướt hết một quãng đường. Nếu khiêng nổi thì chúng tôi đã xuống xe, khiêng xe qua vũng lầy trọng của. Tôi tiếc đứt ruột mới nghĩ ra những chuyện vô lý trong hữu lý của tâm lý làm chủ giả, vì xe cũng của nhà băng. Tâm lý mà người nghèo dễ bị lừa trong xã hội Mỹ là tâm lý làm chủ, nhưng làm chủ những thứ không phải của mình. Người nô lệ da vàng cùng lắm cũng chỉ nắm vai trò quản gia không công trong ngôn từ văn minh, còn từ cổ gọi là lão bộc. Tôi sẽ phân tích kỹ hơn khi bạn đến đây. Để trở lại với những câu hỏi đời thường của bạn. Tôi kể sơ những chuyện trong nhà để bạn hình dung về đời sống bên Mỹ:

   Nói tới Bắc Mỹ, tôi có người quen ở Pennsylvania từ 1975. Tôi sang chơi nhà anh chị trong lo âu dữ lắm, vì thấy cửa sổ, cửa lớn nào cũng có dựng một cây súng, (có nạp đạn hẳn hoi). Tôi e ngại chuyện cướp bóc nhưng không dám hỏi. Tới sau bữa cơm chiều, “nhìn ra cửa sổ tuyết sương/ kéo cao cổ áo lên đường kiếm cơm” là câu thơ đúng y đời sống của người miền bắc. Anh bạn phải đi làm ca đêm, chị bạn kể: Tuần nào anh ấy đi làm ca đêm là dựng súng đầy nhà. Chị thì chỉ biết bóp cò! Hôm năm ngoái, anh B cũng đi làm ca tối. Nửa đêm, chị nghe động ngoài cửa sổ phòng ngủ của chị. Chị vén màn nhìn ra. Trời ơi! Tuyết thì tới thềm cửa sổ (cao hơn đầu gối tôi chút đỉnh), chị thấy thằng Mỹ đen cứ dí mũi vô kính cửa kính. Con cái thì không có đứa nào ở nhà. Chị không dám giết người nhưng nó cứ húc vô cửa sổ, tới gần vỡ tung cửa kính… chị bóp cò! Rồi kêu cảnh sát, kêu anh B đang trong hãng; kêu con, kêu hàng xóm… rồi ngồi khóc. Nhưng khi mọi người tới đây thì chỉ có con nai bự như thằng Mỹ đen, chết bên ngoài cửa sổ.
   Tới chuyện con cháu, là con gái lớn của anh chị. Nó đi học bên Ohio. Chiều cuối tuần thường về nhà nên chị bạn coi dự báo thời tiết để báo cho con nhỏ coi trời bằng vung đó! Nó trả lời chị là 2 tiếng nữa bão tuyết mới tới. Con chạy về nhà kịp mà. Chị bạn không cho nó lái về nhà nhưng thương con thèm thức ăn Việt nam, thèm không khí gia đình, thèm được giặt quần áo không phải trả tiền. Chị không cho nó về nhà vì lý do thời tiết, nhưng không cứng rắn đủ để ngăn chận một chuyện mạo hiểm. Thế là con nhỏ phóng lên xe, vọt lẹ để về nhà trước bão. Ai dè bão nhanh hơn nó. Con nhỏ kẹt ngoài xa lộ, còn cách nhà 30 phút lái. Nó vốn lì nhưng được cái sáng dạ. Nhắm lái không nổi nữa thì nó bỏ xe, (nhiều người không dám bỏ cái xe mới toanh như nó nên đã chết lạnh ngoài xa lộ vì đội cứu hộ cứu không kịp, cứu không hết người mắc kẹt ngoài xa lộ trong bão tuyết). Con cháu gái lanh trí và có phần may mắn nữa nên nó đã quá giang được xe vận tải lớn. Nó nhờ xe vận tải đưa nó tới trạm đổ xăng trên đường xe tải đi, chỉ còn cách nhà 15 phút lái. Vậy mà anh bạn tôi đi đón con ở cây xăng, mất 3 tiếng đồng hồ. Thay vì chỉ 30 phút lái. (Cái xe của con cháu ngoài xa lộ, sau bão thì tới hơn 10 chiếc húc vào sau xe nó, tạo thành hàng xe móp méo kéo dài).
   Còn ông bạn tôi thì làm hãng thép. Hãng có 3 ca để hoạt động 24/24. Khi thời tiết xấu vào ca làm nào thì ca đó phải ở lại hãng vì những lò luyện thép không thể ngưng hoạt động, trong khi công nhân ca kế đâu vô được hãng vì lý do thời tiết. Ông bạn tôi từng ở lại hãng liên tiếp 10 ngày đêm vì bão tuyết. Hãng có máy bay trực thăng để đi mua thức ăn, cà phê, thuốc lá cho công nhân mỗi ngày nhưng tuyệt đối không ai được ra về khi chưa có người thay ca.
   Đó là thời tiết miền bắc, và kinh tế Bắc Mỹ thì bạn có thể đọc trên các website. Nhà ở ở Detroit bây giờ có thể mua 1 dollar một căn nhà. Nếu bạn có thể ăn tuyết thay cơm thì quá khoẻ! Dĩ nhiên người anh vợ ở Detroit của bạn phải có cơ sở vững chắc ít nhất là một năm nên mới dám mời vợ chồng bạn đến định cư ở thành phố xe hơi đó chớ. Nói về Detroil làm tôi nhớ đến ông vừa ra tranh cử dân biểu thành phố Detroit với lời hứa: Nếu ông đắc cử, ông sẽ biến Detroit thành Amsterrdam II. Nghĩ là xì ke, ma túy, đĩ điếm hợp pháp để thu hút giới trẻ đến định cư ở Detroit. Vì từ khi suy thoái, người Detroit bỏ xứ mà đi như những làn sóng di dân kinh tế vậy.
   Còn người chị vợ của bạn ở Cali thì tùy bạn hiểu biết về khả năng giúp đỡ gia đình bạn lúc ban đầu. Có thể khả năng tài chánh của chị ấy khá thì không sao, nhưng nếu tính toán là tới Cali để dựa vào chính phủ thì đã muộn màng. Thiên đàng của phúc lợi xã hội bên Cali chỉ còn là cổ tích. Về khí hậu bên đó thì lý tưởng, người Cali chỉ vất vưởng khi động đất. Nhưng kinh khủng hơn cả động đất, sóng thần là bên đó đang bị cắt welfare, food stamps hàng loạt, chắc chắn là người nghèo khó sống. Tiểu bang đó lại khổ sở nhất với những nhà tù vĩ đại vì chi phí cho một người tù ở Cali lên tới 38,000 đô la/ năm. Kinh phí tiểu bang làm sao chịu nổi. Những biện pháp thả bớt tù nhẹ ra ngoài cho chính quyền tiểu bang giảm chi phí, thì lại phải tăng chi phí cảnh sát để họ đừng làm mất trật tự công cộng như giật đồ, ăn cắp vặt… Vòng kim cô của Cali không lối thoát trừ phi Phật bà Quan âm cứu độ. Nhưng nếu bà chị vợ của bạn làm chủ tiệm nail thì cũng còn OK; nếu chị ấy là bà chủ báo thì vô phương.

   Về phần tôi. Cảm ơn bạn có nhã ý nối lại tình xưa. Tình bạn và sự nghiệp là hai kẻ thù không đội trời chung. Người ta thường bỏ tình bạn trong sáng, cao quý, thiêng liêng của tuổi học trò để mỗi người theo đuổi sự nghiệp riêng. Có chín người không trở lại vì thất bại về sự nghiệp và một người thành công thì cũng không trở lại luôn vì giàu đổi bạn sang đổi vợ mà lị. Hãy để ngày ấy lụi tàn trong ký ức đẹp, hay hơn là trách cứ nhau không giống hồi xưa. Nhất là chúng ta đã sống xa nhau, khác biệt môi trường tới mấy chục năm. Chúng ta sống trong suy nghĩ về bạn bè với thời gian chết (lúc chia tay) trong khi thời gian bất tử. Tôi không dám hứa điều gì vì không lường được sự thay đồi của chính mình và của bạn. Tôi chỉ hứa tới mức: Nếu bạn chọn nơi đây làm quê hương thì tôi giúp gia đình bạn được 6 tháng ăn ở không tốn tiền, sau đó ra mướn apartment. Tôi giúp bạn tập lái xe, lấy bằng lái. Tặng bạn chiếc xe cũ của tôi làm chân đi. Tôi sẽ xin được việc làm cho hai vợ chồng bạn, xin được chỗ học cho con bạn. Xin được chút đỉnh phúc lợi xã hội - nếu bạn thực sự cần. (Nhưng tốt nhất là đừng nghĩ đến khoản này. Chúng ta đến đây để làm ăn sinh sống chứ không đến để ăn bám chính phủ Mỹ).
   Tôi cũng nói qua về thời tiết nơi tôi ở để bạn dễ từ chối sự giúp đỡ của tôi. Hồi tôi mới qua, một ngày nắng đẹp cuối tuần. Khi ấy tôi còn ở apartment nên sáng ra lo đi uống cà phê với bạn bè để khai man trí trá vì có ai nói thật đâu! Báo chí Việt ngữ khi ấy còn ít, internet thì chưa. Thường sau đó đi rửa xe, rồi về nhà. Vợ tôi lo nấu nướng những gì đã đi chợ từ chiều hôm qua để ăn cả tuần tới. Chúng tôi ăn trưa xong thì đi shopping vào giấc 12 giờ trưa. Hai vợ chồng và một đứa con đều mặc quần short; áo T shirt vì trời nóng. Nhưng sau 3 tiếng chúng tôi ở trong shopping ra thì parking mênh mông tuyết! Ở đây được mệnh danh là crazy weather (thời tiết khùng điên). Nhưng nổi tiếng ở Texas là gió xoáy, lốc, (tornado). Cũng hồi tôi mới qua, đi theo anh bạn Việt nam trong apartment tôi ở. Hai anh em đi câu cá ngoài hồ 30, rộng như biển. Tôi thấy vòi rồng ngoài xa nên khoái chí hoan hô, anh bạn thì chửi thề hết biết, quăng cần câu. Vì theo kinh nghiệm của anh ấy là không nên tiếc rẻ mấy cây cần câu, có thể mất mạng. Chúng tôi lên xe chạy trối chết! Cái dòng tornado ở xa thì coi vui mắt lắm, (nhất là trong phim) nhưng nó tới gần thì té đái trong quần! Anh bạn tôi lái, tôi càng rảnh nhìn lại đằng sau xe, càng sợ. Vòi rồng ở xa thì thấy nó đi có hướng nhưng lại gần thì má ơi! Nó đi hình chữ z thì biết đâu mà né! Anh bạn tôi đang lái ngoài xa lộ, thấy exit là vọt vô liền vì tính núp trong cây xăng. Ai dè, bà Mỹ đang đổ xăng la làng, chạy tuốt vô trạm xăng với người tính tiền, hai người chui trốn ở đâu không biết. Ngoài này, tornado bốc nguyên cái xe Ford bốn cửa đời xưa của bà ta, cái xe ấy nặng như xe tăng mà nó bốc lên không trung, quăng xa hơn 100 feet… Chúng tôi lái mau ra xa lộ lại vì tornado cứ lẩn quẩn với cây xăng…
   Đó là đặc trưng về thời tiết nơi tôi ở. Còn nóng thì nơi đây có phóng sự trên truyền hình: Người Mỹ đen nọ, đem cái trứng gà và chai dầu ăn ra mặt đường nhựa, trước nhà anh ta. Anh ta chế miếng dầu ăn xuống mặt đường, đập trứng chiên trên mặt đường nhựa trước nhà. Nóng Texas chỉ thua Phoenix, bên Arizona, nơi đó là xứ sa mạc. Nhưng cái nóng sa mạc nóng khô. Hôm tôi qua chơi, mướn cái xe mới toanh, tôi lái đi Sonoma city, cách Phoenix chừng 2 tiếng lái. Lên núi Sonoma cao tới 3500 feet nên đỡ nóng, nhưng chiều về lại Phoenix, tôi mở cửa xe để bước xuống, nhưng rút chân lại ngay vì tôi tưởng cái xe bị cháy! Nhìn lên đồng hồ điện tử của nhà bank, nhiệt độ bên ngoài đang là 121 độ F. Còn cái nóng Texas thì nóng như con gà mới đạp mái. Tôi không nói bậy đâu, đó là câu tục ngữ của người địa phuơng nói về cái nóng. Chắc bạn nhớ và thấy người Mỹ cũng so sánh hay đấy chứ. Cái nóng ẩm của con gà sau khi làm nghĩa vụ cồ thì y như khí hậu nơi đây! Là tôi cách biển, cách vịnh Mexico 6 tiếng lái đấy nhé. Bạn mà xuống Houston, Galveston thì đi tắm xong, chưa khô tóc, bạn lại muốn đi tắm nữa…
    Nhưng tất cả sự chó chết của thời tiết Mỹ được giải quyết gọn bằng cái máy điều hoà không khí. Bạn chỉ việc trả tiền điện và chấp nhận làn da máy lạnh quanh năm, nhìn như da người chết đuối ở quê mình.

   Tôi cũng trình bày bộ mặt thứ hai của đời sống Mỹ để bạn rõ!
   Ở xứ Mỹ cái gì cũng xịn nên cái gì cũng xẹp. Nhà là của nhà bank chứ không còn “cái nhà là nhà của ta, ông cố ông sơ làm ra…” Nên không gì khủng khiếp bằng mất việc làm, mà chuyện đó bây giờ thì thường hơn cơm bữa. Mất job là mất tất cả. Không tiền trả apartment, không tiền để trả tiền nhà hàng tháng (mortgage). Nhà bank câu nhà, câu xe từ dân bấm thẻ tới bác sĩ, giám đốc. Cái khốn nạn của đời sống không phải là bản chất của tư bản mà người ta ưa đổ thừa. Sự khốn nạn của đời sống bắt nguồn từ a dua. Bạn không độc lập trong đất nước tự do -có khốn nạn không? Xã hội văn minh chỉ đòi hỏi thi hành pháp luật, lịch sự trong giao tiếp, cộng đồng, đại khái là chào buổi sáng với người láng giềng thì ít ai làm như thế. Trong khi đi bấm thẻ thì đeo chi cái bóp bạc ngàn? A dua là thế. Vợ bạn đang là niền hạnh phúc của con bạn vì với bạn thì cô ấy đã bất hạnh từ lâu. Cô ấy sẽ lấy lại những gì đã mất từ khi đến Mỹ! Nếu bạn nhắm còn đủ sức trả hết cho người thì sang đây cho biết với người ta.
   Với người mới nhập cư, bạn cần biết! Trước hết là cần bỏ quan niệm liệu cơm gắp mắm. Chúng ta quen thói chẳng nợ nần ai cho khoẻ là không hoà nhập được xứ Mỹ. Tôi phải bỏ ba trăm đô la tiền mặt vô bank để họ ra cho tôi cái thẻ nhựa trị giá ba trăm. Tôi xài thẻ bằng tiền trả trước để mua cái credit cho mình. Khốn nạn không? Nhưng không còn cách khác để build-up credit lên trên 700 điểm thì làm sao mua nhà, mua xe… Khốn nạn là sau khi xài thẻ bằng tiền trả trước của mình thì bây giờ họ cho tôi thẻ nợ đến 50,000 đô la để dụ tôi nợ. Cái uy tín của công dân Mỹ là nhà bank cho mày nợ bao nhiêu? American way là thế đó!
   Khi tôi có nhà, có xe xong thì… tôi sợ mập! Sau thời gian ráng ăn để lấy sức đi cày thì cái bao tử giãn mẹ nó rồi! Bây giờ bảo bớt ăn cũng là cái khổ. Nhưng không bớt ăn thì tôi đã thấy những người bạn ôm lãnh hậu quả khôn lường. Khi tôi control được trọng lượng cơ thể mình thì tôi đã thành nô lệ mới. Người nô lệ xưa chết vì thiếu ăn và làm việc quá sức; người nô lệ mới chết vì dư ăn và thể dục quá nhiều….
   Về mặt tinh thần bạn chẳng bao giờ yên với đời sống và việc làm, nếu bạn còn dính vô stock (thị trường chứng khoán) thì tiền lời kiếm được không bao giờ đủ cho bác sĩ tim. Nhưng bạn không đầu tư chứng khoán thì qua Mỹ làm chi? Những người khôn ngoan thường nói thế, còn đúng hay sai thì tôi thường đi đám ma họ.
   Tôi mạn phép không nói đến những gì bạn có thể đọc trên mạng như: bất an về khủng bố ở nước Mỹ; phe đảng trong chính trường Mỹ; nợ trần đụng nóc la-phông (ceiling) của chính phủ Mỹ; người Mỹ qua đời để lại gia tài cho con chó 12 triện đô la; người đàn ông Việt nam ném bốc con nhỏ xuống sông Alabama; bà phi hành gia mặc tã để lái xe xuyên bang không ngừng nghỉ… đi bắt ghen.

   Điều cuối cùng trong tôi muốn nói với bạn, Chúng ta là những người còn sống sau cộng sản. Lịch sử tuyên dương những anh hùng. Nhưng với tôi, thế giới không có người hèn hơn chúng ta. Hèn thêm chút nữa cũng không sao để giải phóng đời sau là cúi mặt đi đi cho con bạn được làm người. Cái hèn đó cũng đỡ nhục hơn cái hèn  quá thương thân là ở yên với những gì đã quen. Việc hỏi thăm chi li của bạn về đời sống, mọi thứ ở Mỹ là tuổi tác đã khống chế bạn rồi đó!

PHAN

thơ ý nhi 

Trước chân dung Akhmatova


 
                                              Anna Akhmatova by Modigliani 1914


Người từng tìm đến bóng râm của vòm cây
trong một bức tranh
người một mình đi qua mưa nắng,
bão giông, băng giá  

Người từng ước ao có thể khóc dịu dàng
như trẻ nhỏ
Người một mình gánh chịu bao giày vò,
thóa mạ
Người từng khuỵu ngã trước tình yêu
người một mình đối mặt cùng bạo lực

Người từng chờ đợi mỗi chiều nơi
bậc thềm một bóng thân yêu
người một mình thét vang trong tù ngục

Ôi người đàn bà mảnh mai trong
tấm áo đen
người từng qua cõi này

Người từng bị đày ải
người từng được dâng tặng
người từng bị nhục mạ
người từng được tôn vinh
người không tàn lụi
trong oán hờn
không tan
trong nước mắt

Ôi người đàn bà mảnh mai trong
tấm áo đen
người từng qua cõi này chăng
 

Ý Nhi