Wednesday, October 12, 2011




Nghe


Lưu Na



                                                      Tranh Nguyen Trung

Biết tôi buông sách tiếng Việt, ông bạn gầm gừ nho nhỏ đọc đi.  Tôi chỉ cười cười.  Sợ tôi ngu quá không hiểu, ông dẫn giải, phải đọc_mà có biết đọc mới có thể viết.  Tôi bướng bỉnh cái điều mình không phải nhà văn nhà “viết”.  Ông dỗ dành, thì cũng phải đọc để biết, để làm giầu tâm hồn.  Cho chắc ăn, ông lại dúi vào tay tôi, lần này là 3 dĩa thu thanh, nhẹ nhàng rằng cứ nghe mà không nên nhớ mới viết được.  Tôi ra xe cười thầm:
-Chú mày không đọc thì ông bắt phải nghe
-Nhưng thưa bác, xe cháu hư loa, nhà nghèo không máy 

Không nghe.  Nhưng cái ân cần bắt mình phải nghe.  Mà lạ, mình cứ đi xem ca nhạc, xem văn nghệ và nghe đọc truyện, sách, bài viết.  Vậy là sao?  Tôi vẫn là đứa nhà quê, lên YouTube hay xem video ca nhạc tôi vẫn nhắm mắt để lắng nghe.  Ngồi trước máy computer tôi chỉ liếc sơ qua những bài dài, và chỉ tháu đọc những bài ngắn.  Cái tôi cần đọc muốn đọc, tôi đọc bản in ra giấy, lúc nằm trên giường.  Tôi vẫn muốn nghe âm thanh và đọc con chữ, nên vẫn lạc hậu.  Nhưng khi túng cùng thì tôi cũng nghe đọc truyện, như truyện Hồ biểu Chánh, biết tìm đâu ra để cầm đọc trên tay.  Hay Thư Sài gòn, có ai gửi cho đâu mà đọc.  Thôi, cũng liều nghe mấy cái dĩa ông bạn dúi vào tay. 

Giọng nam trầm ấm, bình thản tự in.  Giọng nữ thanh, trong, đúng âm sắc và đầy hơi.  Bài đọc là  những bài điểm sách, giới thiệu sách, những bài viết về sự kiện, nhân vật…  Ở cái tương xứng của 2 giọng đọc tôi nghe ra được một điều tế nhị: đọc có hồn  cũng chưa bằng đọc bằng tâm hồn.  Giọng hay, biết cách đọc, có trình độ hiểu biết để ngắt đúng câu dặm đúng chữ thì bài đọc có hồn, nhưng chưa đủ.  Ở đây, giọng nam tỏ ra một người đọc bằng tâm hồn.  Những đoạn trích dịch thơ, văn, thường là ông đọc.  Có episode nghe được cái mệt mỏi chán chường.  Có episode nghe được giọng yếu ớt như muốn nằm xuống bên đường.  Ông đọc, chầm chậm và tự tại.  Nghe ẩn ức chỗ đau, sâu lắng chỗ buồn, và ngập ngừng ngưng một khoảnh khắc những chỗ suy tư.  Không có giọng kịch.  Chỉ có giọng chậm rãi vững vàng và thật như đang nói to một mình, nói với chính mình.  Ở cái thật và tự tại đó, ông đã đọc một bài viết có lời cám cảnh cho bạn mà cũng là cảnh của mình, có một lời chào giã biệt bạn nhẹ như gửi một làn hơi vào gió thoảng.  Thêm một lần nữa tôi nghe được lời ai điếu tự đọc, trong cái nhẹ nhàng như nói chuyện nắng mưa mà thấm vào lòng một nỗi ngậm ngùi.

Đọc truyền thanh (thực tôi không biết dùng chữ gì để chỉ điều này) không chỉ có những đòi hỏi mà còn mang lại những ảnh hưởng khó lường.  Giọng đọc dở thì kể như bài/truyện vất đi.  Giọng đọc hay, người nghe nghe ra một nội dung có phảng phất cá tính hay một cái gì đó của xướng ngôn viên.  Nghĩa là dù sao, bài viết cũng đã thêm một chút mầu, thêm một lớp áo, không còn là nguyên thủy.  Có tác giả sẽ cám ơn người đọc mang sinh khí cho bài mình viết, e đó là những bài viết còn hơi thiếu…  Có tác giả gẫm buồn bài bị phá mất cái quan yếu, đó là những bài đòi hỏi suy tư mà lời đọc khi thoát ra âm thanh là tan theo gió.  Còn những tác giả viết như đưa một bức hình dầy đặc chi tiết, dù ẩn hay hiện cũng đều cùng một chiều sâu thì sao?  Mỗi người đọc sẽ tùy chọn một chủ điểm một khía cạnh mình chú ý để hiểu.  Vậy thì đọc bằng giọng nào cũng ổn, phải vậy không?  Mà không phải.  Đến loại bài/truyện có một giọng văn riêng đó thì cứ giọng đọc càng kịch tính càng giết tác phẩm, e là giọng đọc càng hay càng “có hồn” càng phủ nhận hồn của bài.  Có thể nào giọng đọc bằng cả tâm hồn như giọng nam tôi nghe làm lệch đi cái điều người viết muốn gửi gấm?  Tôi nghĩ nên thỏa hiệp với chính mình.  Cũng tạm như đọc sách, hễ có chữ hay thì cứ hưởng, sao phải băn khoăn.  Đời sống bận rộn, không thể mãi nằm trên giường mà ôm quyển sách hay trang giấy được thì sao không cứ nghe cho đã, lúc ở chỗ làm, lúc lái xe (hay cả những lúc muốn lờ bà mẹ vợ.)  Nhất là bài được đọc lên bằng một tâm hồn?  Tựa như khi đọc bài điểm sách là đọc cả người viết lẫn người điểm, khi nghe là nghe được cả tâm hồn người viết lẫn người xướng.  

Nhưng đôi chút ngập ngừng, tôi nghĩ mình gàn.  Vẫn buồn lòng chỗ không cầm được chữ trên tay.  Tôi vẫn muốn dừng lại những khi đọc một con chữ hay, lui lại một câu thấm thía, tôi vẫn muốn ngẫm nghĩ bằng đầu óc của mình.  Tôi không dám hơn người, nhưng vẫn muốn tự tìm ra một ý nghĩa hơn là được người khác tìm dùm.  Và vẫn tự hỏi, nếu đọc bài điểm sách của ai khác, không phải của chính ông viết ra, như của Võ Phiến chả hạn, tôi nghe có ra Võ Phiến không hay sẽ nghe ra người cất giọng?  Rách việc.

L.N.

Monday, October 3, 2011


thơ nguyễn xuân thiệp

Trăng hạ tuần


                                                              Trang ha tuan. Tienve


đã hai giờ sáng
ở đồi twelve oaks. chắc em đã ngủ
còn anh. nơi đây. vẫn thức
sóng bờ xa cũng đang thức
có bao giờ sóng biển ngủ đâu em

và anh
tự hỏi
sao anh còn ngồi đây
im lặng. tuyệt im lặng
trong khu vườn sau nhà
trong bóng tối từ những cành cây
những chiếc lá. đong đưa. chờ về cõi chết

im lặng
hỡi. những chiếc lá
ngươi nghe chăng
số phận
hồi chuông. báo. giờ chia tay khu vườn
hồi chuông
đến từ
mặt trăng. trên cao

ôi. số phận
vẫn trăng hạ tuần
con mắt nhìn ta
hỏi
bao giờ nhà ngươi sẽ ra đi
về phía ngôi đến thờ
nhớ nhé. ta chờ nhau. trên đỉnh ngọn đồi
như ước nguyện
vĩnh viễn không còn buồn. không còn  khổ
chỉ có gió. của trời
mãi mãi. hát ca... 

NXT

tùy bút



Dã Quỳ Trầm Lặng


Ban Mai


                                                                     tranh Dinh Cuong

                                                                                  Tặng họa sĩ Đinh Cường
   Máy bay hạ cánh ở phi trường Liên Khương, trời Đà Lạt mát lạnh với buổi sáng sớm còn mờ hơi sương. Người đàn ông ngồi bên cạnh trên máy bay hẹn tôi sẽ lấy vé. Rồi anh biến mất trong dòng người. Tôi điện thoại cho Hà đến đón, xe honda 100 phân khối Hà phóng như bay trên con đường lộng gió, hai bên đồi thông bạt ngàn, hoa dã quỳ vàng rực rỡ.           

   Chợ Đà Lạt nhộn nhịp ngày cuối tuần, thành phố của các loài hoa nên tôi tha hồ lựa chọn. Phân vân một lúc, tôi quyết định đặt bó hồng vàng đến dự buổi khai mạc phòng tranh. Gian tiền sảnh khách sạn Đà Lạt-Hoàng Gia đã đông khách. Tôi không biết những người bạn mà tôi sắp gặp là ai, lao xao bóng người qua màn mưa sau lớp cửa kính, Đà Lạt se lạnh, mưa rắc nhẹ nhưng thấm nắng vàng. Tôi thật mừng khi nhận ra vợ chồng anh Trương Văn Dân - Elena trong một góc phòng, tôi đang tìm những họa sĩ tác giả phòng tranh thì anh Nguyên Minh kéo họa sĩ Đinh Cường đến, tôi xin lỗi vì đã đến trễ.

   Từ ngày nghiên cứu về Trịnh Công Sơn tôi quen biết nhiều người bạn của ông và được họ ưu ái, giúp đỡ; đó là những hạnh ngộ mà mỗi người trong cuộc đời thật may mắn gặp được. Họ là những bậc đàn anh, lớn hơn tôi rất nhiều, tài hoa, đầy trải nghiệm. Và tôi đã học hỏi được rất nhiều từ họ.
   Giữa buổi anh Lữ Quỳnh từ Cali gọi điện về thăm, hỏi tôi buổi triễn lãm ra sao, bạn bè đến nhiều không, anh Phạm Văn Đỉnh đang từ Toulouse qua Mỹ chơi. Tôi nói em thật kỳ cục đứng trước mặt họa sĩ Thân Trọng Minh, em hỏi ông Lữ Kiều là ai, làm mọi người  bật cười.
   Bửu Ý dòng dõi hoàng tộc, dịch giả tiếng Pháp, lần đầu tiên tôi gặp cách đây 8 năm, ngày cô Lợi còn sống ông tiếp tôi ở căn nhà đường Phạm Ngũ Lão,  phòng khách nhỏ ấm áp chung quanh đầy tranh. Cô Lợi đoan trang áo dài thướt tha đi làm về, ông giới thiệu với cô tôi từ Quy Nhơn đến hỏi thăm tư liệu về người bạn nhạc sĩ thân thiết của mình. Ông khuyên tôi nên đi sâu vào mảng ca từ nói về tình yêu, đừng nghiên cứu rộng sẽ không sâu. Thời đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đang bệnh, ông tiếp tôi ở phòng khách trên chiếc xe lăn, thỉnh thoảng có một thanh niên ra chăm sóc ông. Tuy giọng nói còn khó khăn, ông vẫn vui vẻ tiếp chuyện tôi cả buổi chiều và khuyên tôi nếu nghiên cứu Trịnh Công Sơn đừng nên bỏ dòng nhạc phản chiến, tôi cũng đồng ý với ông như vậy. Hoàng Phủ Ngọc Tường với những bài tùy bút tài hoa, ngôn từ diễm ảo, trước mặt tôi là một Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khác. 

   Tranh họa sĩ Đinh Cường với mảng màu tối sáng mạnh mẽ, chủ đạo là sắc xanh lam huyền bí. Các bức tranh triễn lãm lần này gồm chân dung những người bạn, phong cảnh  Đà Lạt,  các thiếu nữ thanh thoát vai gầy, áo dài bay với chiếc cổ vươn cao, làm tôi nhớ đến các bức tranh vẽ thiếu nữ của Ngô trong “Mùa biển động”; nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã cho Diễm phê bình như vầy “Anh cứ vẽ cái cổ dài ngoằng, cái thân ốm tong teo, đến kỳ!”, Diễm cho rằng Ngô chịu ảnh hưởng của người họa sĩ gốc Ý Modigliani. Tôi không biết họa sĩ Đinh Cường có chịu ảnh hưởng ai không, nhưng hình ảnh các thiếu nữ vai gầy, với chiếc cổ vươn dài làm tôi liên tưởng đến bài hát Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn.

   Đà Lạt tháng 8 thật đẹp, không gian mát lạnh làm con người tự nhiên thư thái hơn, đường gập ghềnh đèo dốc, đổ xuống một thung lũng rộng vây quanh hồ Tuyền Lâm, làng biệt thự của Đào Nguyên Dạ Thảo đang xây ôm bên sườn đồi ven hồ thật tuyệt, Mimosa đang mùa hoa nở vàng mơ cả một dải rừng. Anh Dân tình tứ ngắt nhành Mimosa tặng Elena, chị reo lên thích thú nhớ nước Ý của chị cũng Mimosa đầy ngõ như vậy. Dạ Thảo năng động. Vợ chồng anh Nguyên Minh - chị Lan bình dị chân chất. Họa sĩ Hoàng Trọng Bân giản dị. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng phong trần kiểu cao bồi miền Tây với áo choàng, mũ phớt. Vợ chồng nhà văn Lữ Kiều tài tử, chị vợ duyên dáng trẻ trung, mọi người trèo lên dốc cao đến quán Thỏ rừng nằm cheo leo trên đỉnh đồi hực nắng.
   Mùi thịt thỏ nướng thơm lừng bên bếp than hồng, chúng tôi ăn xuýt xoa vì nóng, vì lạnh. Anh Đinh Cường hiền lành ít nói,  Anh Bửu Ý kín đáo nhẹ nhàng. 

     Tôi không biết ngày xưa Đà Lạt đã gắn bó với họ thế nào, nhưng qua cách nói, ánh nhìn xa vắng tôi nghĩ họ đang hồi tưởng về thời thanh niên trong một đất nước  đầy chinh chiến cùng những người bạn đã xa. Chắc hẳn thời trai trẻ nơi này đã lưu giữ trong họ bao kỷ niệm với những nỗi niềm thầm kín. 

    Buổi chiều cả đoàn đến thăm gia đình anh chị Lê Kim Ngữ - Bích Ngọc giáo sư dạy Pháp văn trước năm 1975. Ngôi biệt thự thật đẹp chung quanh hoa chuông đỏ rực, vườn rộng với nhiều giàn hoa sắc thắm. Chị vợ mến khách cười luôn miệng khoe bức tranh của họa sĩ Bé Ký tặng treo ngay phòng khách, chủ nhà vui mừng giới thiệu tủ sách đầy ắp, lấy ra bộ sách cổ nguyên bản tiếng Pháp từ  thế kỷ thứ 19 khoe với Bửu Ý. Trà thật ngon ấm từng hơi thở, tôi chiêu từng ngụm nhỏ cảm nhận vị ngọt nơi đầu lưỡi.
   Nhưng cuộc đời không phải bao giờ cũng là vị ngọt, vị đắng tôi trãi đã nhiều. Nghiên cứu Trịnh Công Sơn tôi gặp biết bao vị đắng. Đắng đến sững sờ, đắng tê đầu lưỡi. Có lẽ ông Trịnh Công Sơn cũng không ngờ cô gái ngồi sau lưng ông trong đêm văn nghệ năm 98 ông về thăm Trường sẽ là người nghiên cứu cuộc đời và sáng tác của ông. Cô gái mà ông cứ quay xuống nhờ liên tục, “bé tìm giúp tụi anh một ít đá đi, không có đá tụi anh không uống rượu được”. Như để tìm thêm cảm xúc, ông và nhạc sĩ Thanh Tùng cụng ly liên tục. Hội trường lúc ấy nghẹt kín sinh viên, trên hành lang, trên cửa sổ, ngồi cả dưới đất gần sát sân khấu. Tôi không thể nào tìm được lối ra, cuối cùng đành leo lên sân khấu ra phía cánh gà có cửa ra vào dành cho diễn viên, tôi nhờ các sinh viên đang trực cửa tìm mua đá đem vào cho ông. Ngày ấy, tôi ở trong ban tổ chức nhà trường tiếp đón đoàn của ông, nhóm “Những người bạn” gồm Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Hiên... Đó là một đêm đầy cảm động, sinh viên Quy Nhơn đón ông như đón một người anh trai lâu ngày trở về, các bạn cứ gọi sư huynh, sư huynh vì ông là khóa sinh đầu tiên của Trường. Khi Trịnh Công Sơn lên sân khấu tiếng vỗ tay không dứt, ông xúc động khi đứng trên sân khấu nhớ lại thời đi học những năm 60, kể cho chúng tôi nghe những năm tháng ấy và ông hát liên tục. Tụi sinh viên ngồi dưới hát theo như một dàn đồng ca đã được tập dượt trước. Đêm đã khuya chương trình như không muốn dứt.

   Những ngày tháng báo chí liên tục đưa tin về tập sách Trịnh Công Sơn, tôi như người đi trên mây, sống không trọng lượng. Người ta bôi nhọ, phủ lên tôi những điều tôi không thể tin nổi: "phỉ báng xương máu của bao thế hệ cha anh đã ngã xuống tô thắm nền hòa bình của đất Việt".  Ngày ấy, tôi vô cùng khổ sở, hàng đêm tôi tự hỏi tại sao lại như vậy, ông Trịnh Công Sơn có linh thiêng hãy phù hộ tôi. Ngày làm luận văn khi đến nhà ông ở 47C Phạm Ngọc Thạch, chị Vĩnh Thúy em gái đầu của ông dắt tôi lên gác đến thăm phòng ông, tôi có cảm giác như ông đang đứng bên cạnh. Khi xuống cầu thang giày của tôi tự nhiên bị đứt, tôi không thể đi về bằng chân trần, chị Vĩnh Thúy phải cho tôi mượn giày của chị và nói vui, anh Sơn giữ chân em lại đó. Buối tối, tôi đến gửi lại giày cho chị và thắp hương viếng ông. Chụp với ông một tấm hình bên bức tượng. Có lẽ ông đã linh thiêng thật, nên đem những người bạn của ông về giúp tôi. Nghĩ lại, tôi thấy cuộc đời thật buồn, tại sao có những người ưa nhân danh những điều đại tự sự rồi tự cho mình cái quyền rao giảng, chụp mũ người khác. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng đã từng căn dặn tôi cẩn thận khi tham gia văn đàn. “Văn trường là chiến trường” người ta giết nhau chỉ vì chút hư danh. 

    Cuối chiều tôi tạm biệt những người bạn về lại Sài Gòn, những người bạn mà tôi biết rất khó gặp lại trong cuộc đời này, thời gian là những khoảnh khắc, và hãy sống hết mình cho những khoảnh khắc ấy
   Phi trường Liên Khương im vắng, tôi có ý tìm người đàn ông trên máy bay để cảm ơn, nhưng không thấy anh đâu. Anh có một khu rừng 5 hecta trồng hoa Lys ở Đà Lạt, hàng tuần đều từ Sài Gòn lên đây thăm nom, sáng đi chiều về nên quen thân các cô bán vé, nhìn anh có vẻ thân thiện nên tôi tin tưởng, người đàn ông đã lấy vé giùm tôi trở về Sài Gòn cùng chuyến. Giấc chiều vùng đồi núi hoang vắng thật buồn, có cái gì đó thật lạnh xuyên qua tâm hồn.
   Đêm dần buông, hành khách cuối cùng vào sân bay, tôi nghe tiếng gọi của anh, bên khung cửa anh lao vào rên rỉ, tôi gọi cô đến cháy máy luôn sao không nhấc điện thoại, đợi cô ngoài hành lang cả tiếng rồi tưởng cô không đi. Anh lắc đầu và tự nhiên bực bõ, cô làm tôi mất một buổi chiều. Thật tức cười, tôi đi thật sớm mà, ai biểu anh chờ tôi ngoài cửa làm gì. Anh nói chưa bao giờ anh chờ đợi ai lâu, nóng lòng và gọi điện thoại liên tục như vậy, cô coi nè 20 cuộc gọi, sao cô không bắt máy. Trời ạ, máy tôi hết pin rồi làm sao nghe được. Chỉ  mới gặp tôi 1 tiếng trên máy bay lúc sáng sao anh bức rức quá vậy… Chuyến về người đàn ông ngồi hàng ghế sau, anh cứ nhìn tôi vẻ trách móc. Sài Gòn về đêm mưa nặng hạt, tôi chạy ra ngoài phi trường đón taxi anh hỏi tôi ở đâu có thể đi cùng xe không, anh có xe. Anh tần ngần muốn nói điều gì đó nhưng cứ đứng im. Tôi vội vã làm như đang bận rộn lắm, cảm ơn người đàn ông và bước vội ra ngoài làm anh ngơ ngác. 
   Ngơ ngác như buổi chiều tôi nhận quà của họa sĩ Đinh Cường, người đưa thư trao tôi một bưu phẩm lớn. Bưu phẩm được gói cẩn thận hai lớp, tôi không nghĩ anh lại chu đáo gửi cho tôi bức tranh lồng sẵn trong khung gỗ có cả móc treo như vậy. Bức tranh đề tặng vẽ cảnh Đà Lạt trong trí nhớ năm 95 tại Virginia. Khung cảnh buồn, hồ Xuân Hương sắc xanh thăm thẳm làm chủ đạo khuôn hình. Xa xa nhà Thủy Tạ, khách sạn Palace, nhà thờ con Gà, tháp Trường Yersin màu trắng tương phản trên nền rêu phong cảnh rừng thông, đồi núi ẩn hiện. Phía trên cao ngọn LangBian màu lam sẫm bừng nhẹ một nét viền trắng, cả bức tranh toát lên không khí trầm mặc, lạnh, u hoài. 

   Tôi không biết giá trị của bức tranh anh như thế nào vì tôi là người ngoại đạo. Bức tranh anh tặng tôi trân trọng để nơi làm việc, mỗi lần mệt mõi tôi có thể thư giãn chìm trong cõi tĩnh lặng của rừng thông, của không khí mát lạnh huyền bí từ hồ Xuân Hương, để mỗi lần nhìn lên ngọn LangBian lại thấy bừng lên một chút tươi sáng.

   Có phải những người bạn tốt là những người đem cho ta sự yên bình và tin tưởng.  

23/9/2011 

BAN MAI


---------------

Ghi chú của tác giả:

(*) Đà lạt trong trí nhớ, tranh Đinh Cường, Virginia 95.
(*) Họa sĩ Thân Trọng Minh còn có bút hiệu Lữ Kiều khi viết văn, làm thơ.
(*) Chữ bạn in nghiêng để nói đến những người bạn là bậc đàn anh, không phải bạn ngang hàng.
(*) Dã quỳ là loài hoa có sắc vàng rực rỡ, đến mùa hoa nở, dã quỳ  tràn ngập trên các sườn đồi, loài hoa đặc trưng của cao nguyên Đà Lạt – Lâm Đồng. Phi trường Liên Khương mới xây được thiết kế theo hình ảnh hoa dã quỳ.



thơ thận nhiên

Ý tưởng chiều tà 



                                          La Jolla sunset by Spence Munsinger

nằm xuống, nằm xuống, nằm xuống
sương từ mặt đất sương lên
chút chi la đà miên viễn
rồi cũng rã mục vô danh

nằm xuống, nằm xuống, nằm xuống
ven hồ thiêm thiếp chiêm bao
dường như phập phồng đất thở
bóng ngày lung linh lung linh
nắng chiều thu hết tàn lực
nhuốm vàng đồng nước mông mênh

em không thấy sao, trái đất
nó quay, nó quay, quay mau...
em không nghe sao, còi rúc
đồng rền triệu triệu năm sau

nằm xuống, nằm xuống, nằm xuống
ngủ đi giữa cỏ và rêu
tất cả chiều tà còn lại
hư vô và anh bay cao

nằm xuống, nằm xuống, nằm xuống...

2/2001

TN


 “Ý tưởng chiều tà” là nhan đề một truyện ngắn của Nguyễn Đức Sơn. Cảm hứng để viết bài thơ này có từ truyện ngắn đó.

Phan

Thuyền lá


 
   Cứ lo trốn nóng trong nhà, một hôm khung cửa mở ra thu về. Những giọt mưa trong veo trên lá úa, mùa thu đã về tự đêm qua, không gian còn dư hương mùa hạ trên đoá hồng ướt lạnh sương khuya. Mùa thu đáp xuống thảm cỏ làm màu xanh héo hon; vương trên cành lá thâm kim muộn phiền. Mùa của hoài niệm nhiều hơn nghĩ tới tương lai nên mây thấp trời gần; nắng cũng chóng phai bên hiên thu vàng võ con sóc ngẩn ngơ đi tìm dĩ vãng…… Thầy nhạc ngồi đếm tuổi thơ đi của cô học trò năm xưa, người gọi ông vô tình như những bước chân bước vào đời ông năm xưa. Cô bé có mái tóc thắt bím, gương mặt thiên thần. Đôi mắt đen láy, cứ lom lom nhìn vào trong cái thùng đàn ghita. Ông hỏi: “Trò định tìm cái gì trong thùng đàn mà không lơi mắt?...” Cô bé trả lời: “Em sợ con gián trong đó chui ra.”…
   Tiếng cười ngây thơ như nắng lụa Sài gòn của cô bé đậu trên áo mẹ, ông thầy nhớ thiết tha đôi mắt thật buồn của người mẹ dẫn cô đi phố hôm xưa, họ là vợ con của người bạn ông; người bạn hào sảng nhất đời ông; người bạn không may đã thành thiên cổ trên đường vượt biển; để lại vợ con như bản cáo trạng một chế độ áp bức người dân đi tìm con đường sống trong cõi chết. Thực ra thuở ấy, ông bất tài, không tiền, cũng là cái dở trong cái may; không tiền nên không mất mạng trong những cuộc vượt biển như bạn bè giỏi giang. Đương nhiên cũng có người vượt qua được biển cả để thành công; cũng có người thất bại khi định cư trên nước thứ ba.

   Thời gian coi vậy đã mấy chục năm dài, lần gặp mẹ con cô bé trên phố bất chợt, nhưng đã như một định mệnh dài lâu. Những gì còn lại của tình bạn hôm ấy đã gian lận tình yêu thầm kín trong thầy nhạc, ông bảo vợ người bạn đưa con gái đếp lớp dạy đàn của ông, ông sẽ dạy nó miễn phí, còn bé quá thì cho học mandolin trước. Việc nó có học được gì không, xin đừng trách ông… Ông thầy nói rồi hối hận mãi về lời lẽ ích kỷ nhưng mặc áo bao dung của mình khi nghe người thiếu phụ kia ta thán: thời thế đã đổi thay nhưng anh vẫn như ngày nào! Ông không phủ nhận cũng không công nhận vì chính sự khiêm tốn, nhường nhịn mà ông cho là cần thiết trong quan hệ bạn bè đã trở thành lỡ dở hôm xưa. Nếu ngày ấy ông không nhường nhịn thì đã mất một người bạn, hạnh phúc mở ra không trọn vẹn với những gì có được từ giành giật với bạn bè, không thể là điều có thật trong tâm tư ông thầy mê mẩn tiếng hát với lời ca... Lần gặp tình cờ rồi chia tay trên phố như bao chuyện thì thầm của Sài gòn huyên náo trong sâu thẳm tĩnh lặng của thành phố đặc biệt với riêng mang từng người. Hôm ấy, ông thầy trở lại nơi từng uống cà phê với mẹ cô bé thời còn đi học. Góc quán bơ vơ sợi nắng chiều như chính ông từ ngày cô ấy lập gia đình. Hơi hướm bàn tay con gái còn đọng trong tay ông những ngọt mềm xưa cũ như cổ tích. Ông cũng không biết mình có tật ưa đưa bàn tay lên ngửi khi đến quán này; khi nhớ thoáng qua mau rồi tự trách sao cứ mang nặng hình bóng cũ.
   Những đôi lần ông trở lại quán quen, ngồi nhìn những cuộc tình dẫn bước vào khuôn viên đại học; những hai người sóng bước vào khổ đau của lớp lớp đàn em đang đi bên nhau như không có gì có thể ngăn cách nên chính họ ngăn cách nhau như ông và cuộc tình đã chết trong đáy cốc từ hôm cô ấy ra về một mình; còn ông ngồi tới quán đóng cửa. Hôm ấy như hôm qua, hôm ấy như mai sau, mãi mãi… sẽ không có người về tìm lại cuộc tình học trò để siêu độ cho một lần yêu nhau, tình yêu ấy trọn vẹn vì chưa kịp tráo trở như Sài gòn đổi chủ; chưa kịp khổ đau với đời thường, những đau khổ diệu dàng của tình yêu đầu tiên không làm cho người ta oán hận mà thương thầm một dĩ vãng đêm đêm……

   Nghĩ đến người bạn, ông không có lỗi gì với việc anh ta mất đi sinh mạng do sự đánh đổi với biển cả, là tự nguyện của mỗi người. Nhưng trước mắt ông giờ đây là ý thức trách nhiệm với một phần đời; hậu quả của sự khiêm tốn, nhường nhịn bạn bè. Ánh mắt cô đơn như vì sao lạc của thiếu phụ tròn xoe trong ly cà phê đen quánh một trưa hè mang tin người chết biển đến cho ông hay. Con bé vô tội -có cái tang cha trên ngực áo, nó ý thức hết đời cũng không rõ nguyên do… Thầy nhạc không nói đến sự thiếu tin tưởng vào hai bàn tay thô ráp của cô bé xinh đẹp. Sao con bé lại giống được mẹ sự xinh đẹp mà không giống luôn đôi bàn tay cho hoàn hảo một giai nhân. Sao con bé lại giống cha hai bàn tay hộ pháp, hai bàn tay của thằng đánh bóng chuyền có tiếng ngày xưa……
   Những suy nghĩ chắp vá như sóng chiều gọi sao, biển đêm thinh lặng khúc tự tình, sóng rồi tan khi xô vào bờ cát; sao rồi phai khi ánh dương quang… cuộc hội ngộ chỉ thêm buồn giữa không gian còn đó của Sài gòn thiên thu. Ông thầy biết mình vẫn không thay đổi gì so với xa xưa; đúng như nhận xét của người thiếu phụ chiều xưa trên phố, anh vẫn thế! Đúng. Anh vẫn vô duyên với những bảo thủ miễn bàn nên đã làm cho cuộc gặp bất ngờ mất hứng. Người thiếu phụ cáo từ, bảo con chào thày nhạc đi con, bác là bạn của ba mẹ đó. Cô bé ngoan vâng lời làm thầy nhạc xác quyết ý định đã nói dù tin là gian lận, “Em cứ đưa nó đến lớp nhạc của anh. Anh đích thân dạy nó. Không được gì thì cũng được việc là trông nom nó cho em yên tâm làm ăn…”
   Có lẽ chân tình của thầy nhạc làm người thiếu phụ kia xúc động. Đó là lý do thầy có cô học trò dốt nhạc nhưng giỏi leo trèo, phá phách như con trai… Thầy nhạc vốn cô đơn, ít nói nên không nhiều bạn. Ngày tháng với lớp nhạc để quên đi hơn là kiếm sống. Rồi thời gian cô bé đến với thầy nhiều hơn về nhà với mẹ. Sáng học trường, trưa, bác xích lô chạy mối đưa cô bé đến lớp nhạc. Bữa trưa của cô bé thường là ổ bánh mì thịt. Kể ra đã sang lắm thời đó vì chính thầy có khi cả tuần không nghe mùi thịt. Tới bữa chiều, nói là về nhà ăn với mẹ. Nhưng mẹ còn bươn trải đâu đâu! Thầy nhạc đưa con bé về ăn cơm với mẹ con thầy nhạc. Bé con thì chóng thân, nó gọi tiếng bà làm mẹ thầy xúc động. Mẹ thầy cũng ít nói nhưng biết hết, một hôm mẹ bé đến đón quá trễ, mẹ thầy bảo: “Cơ khổ cho đời, dạo này làm ăn khó quá hả cháu, sáng nay đi chợ, bác thấy họ bắt bớ, gây rối cả một đoạn đường bán thuốc tây của cháu… Hay cháu đưa vài bộ quần áo của con bé sang đây. Chiều tối, bác cho nó cơm nước, tắm rửa rồi học bài… Hôm nào cháu phải đi giao hàng, nhận hàng, khuya quá thì đừng đến đón, thân cháu một mình trên phố khuya làm bác cũng chẳng yên tâm, lại phá giấc con bé. Cứ để nó ngủ đây, sáng ra, bác đưa nó đi học cũng được…”…”

   Người mẹ trẻ biết ơn những chân tình của mẹ con thầy nhạc, biết ai sẽ là người đưa con mình đến trường, thương bà mẹ già không nói ra điều muốn nói của bà nên càng thương. Cũng có lúc nghĩ về thầy nhạc như một giấc mơ hoang về thời đi học, rồi thôi. Cũng có lúc người mẹ trẻ ngồi hàng giờ ngoài bờ hồ để trông lén thầy nhạc dạo chơi với con gái mình như hai cha con… Người mẹ trẻ chờ trong vô vọng nên quyết định ra đi. Sự quyết định làm đau lòng người đi bao nhiêu thì kẻ ở cũng dau ngần. Hôm tiễn chân không có nước mắt người lớn, nhưng con bé sướt mướt, những giọt nước mắt chảy ra ngoài sẽ mau khô theo xa xôi, thương cho nước mắt đôi bờ chảy vô mãi mãi……
   Thầy nhạc tắc dòng hoài niệm vì cái điện thoại làm phiền, cơn giận lặng lờ như nước tim sôi, cái điện thoại lại reo thêm lần nữa, lần nữa… thời buổi thật nhiều người rảnh rỗi và lắm chuyện tào lao… thời buổi lạm dụng điện thoại đến vô ý thức vì các hãng điện thoại chỉ biết cạnh tranh với nhau, bất chấp đạo đức xã hội suy đồi vì free phút; free longdistance… Thầy nhạc khoác áo ra Starbucks với cái laptop. Ngồi kể chuyện mình bằng giai điệu đã nhiều, hôm nay kể đôi lời đoạn cuối bằng những con chữ, nên không… tay thầy gõ đều như lá rơi ngoài cửa kính; những chiết lá của mùa thu xa bay trở lại, chiếc quấn kèn cho cô bé thổi inh tai, thổi thi với xác ve rơi đầy; chiếc lá thắt hình con cào cào, châu chấu, rồi thầy trò ngồi đá cào cào với nhau trên cỏ biếc; màu cỏ quê nhà như màu cappuccino hớp ngọt mùi hương. Nhớ thầy thua muôn năm, con cào cào trước sau cũng chết rục xuống thảm cỏ; nhưng phải chết anh dũng để tôn vinh ý nghĩa của chiến thắng, không được chết xoàng xĩnh như một con cào cào. Cô bé mấy tuổi đầu nhưng sâu xa…… báo hiệu một đời người không bình an như ý.

   Rồi chiết lá thu bay ngoài cửa kính Starbucks, những chiếc lá phong kia có thể ghép lại thành con thuyền; nhưng cho ai chơi. Thầy nhạc nhớ rưng rưng con thuyền lá trôi theo dòng đời, cô bé thả thuyền ngồi nhúng chân xuống nước, quẫy sóng cho thuyền đi… Bên kia bờ có ai thấp thoáng, đợi vớt con thuyền không bến dạt trôi. Hôm thầy lén bỏ mảnh giấy vô thuyền lá trước khi cô bé thả, mảnh giấy xin người cứ gian dối nhưng xin người đừng lìa xa tôi… thế là cuộc vượt biển diễn ra trong tuyệt vọng của đôi bờ. Chiếc thuyền lá đã mang đi linh hồn thầy nhạc, trong cung bậc từng ngày có tiếng hư hao, vụn vỡ của loài ăn năn……
   Thầy nhạc bỏ ra ngoài quán để đốt điếu thuốc, ước gì cơn mưa thu thôi làm khó người đi tìm hư không, chút không khí công viên, bờ hồ lăn tăn sóng biếc một thời đã qua… chiều nay là ngày cuối đến nhà dạy nhạc cho con của cô bé học trò năm xưa. Người phụ nữ ở tuổi chín mùi của nhan sắc, mang dáng dấp mẹ yêu của cô ấy, nhưng tính tình như cha; có phần ngổ ngáo, có phần ngang ngược, đánh phá nốt lặng của bản hoà tấu không lời; mẹ cô ấy là bản nhạc không lời hoàn mỹ nhất, đến cháu ngoại của bà thì hy vọng hơn là con gái bà; cô bé con hôm nay khác với mẹ cô thời thơ ấu; không tinh nghịch như con trai, không cắc cớ với những câu hỏi hơn tuổi đời, không nũng nịu bắt thầy bóp chân, rửa cẳng, mang giày sau những cuộc vui ngoài công viên, bờ hồ…
   Không biết bà ngoại của cháu có bình an như mẹ bé nói với thầy, cô học trò bé bỏng năm xưa, đã làm mẹ trẻ con nhưng vẫn không cho thầy cũ tin tưởng được vì tính tình cũng ngổ nghịch như xưa, ngang bướng có phần còn hơn thuở bé. Chính cá tính mạnh mẽ của cô học trò cũ đã làm thầy thôi dạy nhạc cho hai mẹ con cô nữa… Nếu chiều nay thầy đủ can đảm thì sẽ hỏi xin số điện thoại của bà ngoại, người có đôi mắt buồn; đã nhìn thầy như đốt cháy Sài gòn hôm cô ấy vượt biên; mang theo đứa con gái bé bỏng; đứa học trò đặc biệt của thầy giờ đây cũng đã là mẹ của cô học trò hàng cháu… tính ra thầy từng dạy nhạc đến ba đời, dạy bà ngoại với tư cách bạn bè, dạy con của bạn với tư cách cha nuôi hơn là thầy nhạc; dạy đến cháu ngoại của bạn với hết lòng của bậc tôi trung. Mai đời khép lại trên khung nhạc nốt gì chưa biết; nhưng sau buổi chiều nay thầy sẽ vĩnh viễn thôi dạy đàn. Đóng lại tập nhạc viết cả đời không xong bản tình ca cho người yêu dấu.
   Chiều về nghiêng dáng thu màu phong đỏ, quán Starbucks quen thuộc này như vắng ai quen. Chắc cô bé học luật đã thành tài nên từ nay đến văn phòng luật sư, đến toà án, chứ không đến Starbucks làm vài giờ kiếm tiền mua sách nữa. Bà cụ nọ chắc đã hết lái được xe nên cũng không đến ngồi góc kia đọc sách, thêu áo len; ông bạn người Ả Rập, đã vắng mặt từ lâu. Chắc ông không đang ở một trại huấn luyện khủng bố nào đó, chứ. Một người hiền lành như ông ấy, không thể đặt bom dưới gốc cây phong mà ông ấy đã từng yêu quý, không làm nổ tung Starbucks có người bạn Việt Nam này, chứ!
   Ông thầy thấy xa xa ngoài đồng cỏ, bóng chiều dâng ráng đỏ hoàng hôn như cuộc đời đã sắp sang đêm. Hãy rời bỏ cô học trò được thầy yêu thương nhất vì thời gian không mang đi những hệ lụy của nó. Chắc mẹ cô hay được cũng không trách ông vì sao. Cháu bé của hôm nay mang tính nết bà ngoại, sẽ là người hạnh phúc của tương lai; không khổ đau nhiều như bà ngoại; muộn phiền như mẹ quá thông minh… Mai cháu lớn, nhớ ông dạy nhạc này nhé! Cháu chưa gọi ông là thầy bao giờ. Và ông cũng chỉ muốn làm ông của cô bé cháu ngoại của bạn ông…
   Thầy cũng sẽ không trở lại Starbucks này nữa, nơi mất hồn vào ánh mắt giai nhân tội lỗi này. Thầy cũng không muốn trở về chỗ ở của người không quê hương bạn bè, chưa bao giờ có ngày mai mà chỉ toàn những hôm qua dằng dặc … Sau buổi dạy nhạc chiều nay, thầy sẽ cáo từ cô học trò cũ, cáo từ cháu bé mang hình hài tính nết của bà ngoại. Cáo từ cuộc đời đã ân sủng với thầy-bỏ bớt ước mơ gặp bà ngoại cháu, dù chỉ một lần thôi……

   Thầy nhạc khép quyển sách dạy nhạc lại, chào cô học trò bé tí dễ thương. Thầy xuống lầu để chào mẹ cháu, người học trò cũ của thầy nhưng bàn tay đã không còn như xưa. Ngày xưa cô dúi bàn tay vào lòng bàn tay thầy để tìm che chở; bây giờ cô nắm bàn tay để truyền sinh lực của cô. Một người phụ nữ-single mom-mạnh mẽ về cá tính, quyền lực trong nghề nghiệp, hoạt bát trong giao tiếp, xinh đẹp hơn người, thành công, tự tin đến nỗi không cần người đàn ông đã cùng cô tạo ra một hạt ngọc của âm nhạc mai sau…   Thầy cần tránh xa, thật xa, vì tình yêu mẹ cô ấy đã ngự trị trong thầy. Ông thầy xuống hết cầu thang thì cô học trò cũ đã đón ở đó với nụ cười thật tươi… “Thầy. Em định mời thầy đi ăn tối với em một bữa trước khi thầy bỏ mẹ con em. Nhưng em nghĩ lại kịp là mời thầy đi chơi hồ với em bữa nay, gần nhà em có cái hồ cũng đẹp lắm, thầy đồng ý thì chúng ta có thể đi bộ.”
   Ông thầy thoáng gặp những nũng nịu xưa của cô bé học trò trên gương mặt người phụ nữ khó đoán trong ánh nhìn và phong cách hiện đại trong hiện tại từ hôm thầy trò gặp lại nhau. Ông nói: “Từ hôm gặp lại em, hôm nay thầy mới thấy con bé Nhiên ngày nào trong dĩ vãng, nơi có một khung trời nhỏ xíu của chúng ta; sự đói nghèo thanh bạch và tình yêu có thể sánh với Sài gòn muôn thuở…” Cô Nhiên nắm tay thầy, cố dùng tóc che đi xúc động, “Chúng ta đi. Thầy.”

    Con đường bộ hành xuyên qua rừng thu ảo diệu, kẽ lá rơi những giọt nắng cuối ngày lả lướt không gian, tí sương chiều lãng đãng bờ hồ xa… hai người đi bên nhau không nói, tiếng bước chân tìm về địa ngục trần gian, nơi có cô bé vòi vĩnh những ly kem hơn sức ông thầy; nơi có tình yêu rộng lớn nhốt trong khung cửa hẹp, tiếng đàn mandolin vọng tới ngàn sao - những đêm hè sang thu trong vắt sao trời… Ông thầy không cưỡng nổi bàn tay kéo cô học trò nép vào lòng mình, nước mắt ông chảy xuống mái đầu người phụ nữ đương xuân, mượt mà… Cô có tất cả những thứ không không cần thiết nhưng luôn thiếu một vòng tay khả kính. Người phụ nữ buông bỏ bộ mặt nạ của quyền uy để sống lại ngày nào đã mất. Nước mắt cô đong đầy, ngước lên ông thầy già đang run rẩy, họ tìm được những mùa thu đi, đã thật xa…
   Bóng họ dài trên lối vắng quanh co, đôi người Mỹ dửng dưng đi thể dục.  “Chúng ta đến hồ, đi tìm chiếc thuyền lá đi Nhiên.” Cô học trò nũng nịu ép đầu vào ngực thầy như ngày xưa còn bé, đôi tay gầy từng nâng đỡ cho cô thuở vào đời đã hết sức chống đỡ buổi chiều nắng mượn quê xa. Thầy hôn lên mái tóc người bạn gái ra về một mình hôm nào; quán quen từ đó vắng tiếng cười trong veo…
   Ông thầy ngồi ở kè đá xem cô học trò ngâm chân xuống nước, thổi kèn lá toe toe, tay ông thắt vụng về hai con cào cào xưa cũ. Trận đấu cuối cùng sẽ không ai thắng nữa, mỗi người thua theo cách riêng của mình. Ông thầy cố tìm chiếc lá dài để kết con thuyền không bến, con thuyền đưa ông về bến vắng chân mây……
  Chiếc xe ai đậu lại gần nơi họ đang vui vầy, một người Mỹ bước xuống xe với rổ thức ăn nóng hổi, có cả chai rượu vang với hai cái ly trong đến vô hồn. Bữa tiệc bên hồ sóng sánh nâng ly, có vầng trăng non làm chứng cho người đi lần cuối; người về không mong… Ông thầy dọn ly rượu xuống cỏ để lấy khăn trải của nhà hàng làm khăn lau, lau khô chân cô học trò như ngày xưa ông thường lau bằng áo ông. Mặc vớ mặc giày cho cô bé đã làm mẹ trẻ con, mặc đời xuôi ngược tháng năm dài… “Nhiên à!...” Rồi lại thôi, tính trời đã định cho ông thầy vẫn thế.
   Cô Nhiên cười chua chát như vang, “Em quyết định không nói nên mấy tháng nay chỉ mời thầy đi chơi; chỉ nói chuyện bây giờ. Chuyện ngày xưa đã xưa…”
    Đôi mắt già nua chìm trong sương thu bên bờ ảo vọng, ông thầy già hơn lúc xuống cầu thang đến mấy mùa thu đi… “Em nói phải. Chuyện ngày xưa đã xưa, còn nói đến làm gì! Nhưng em không phải là người trong cuộc nên em không thấy bên bờ ảo vọng kia, người yêu của thầy vẫn đợi một con thuyền… mang tình yêu đến.” Ông thầy nói xong, gục xuống ôm mặt khóc. Đôi tay gầy từ khi còn trẻ, đôi tay cô Nhiên đã từng ao ước là của mình vì tay cô giống cha, không phải mười ngón thuôn dài để rải đàn. Nhưng đôi tay rải đàn đang được dùng để bưng mặt khóc với bất lực. Đôi tay thô ráp của cô để đập phá cuộc đời; cô đã đập nát những giá trị cổ điển, tống cổ ra khỏi đời cô một gã đàn ông mà cô đã yêu thương, mãi yêu thương, chỉ vì ích kỷ, muốn chia chung với mẹ khổ đau không được gần người đàn ông của mình. Lòng từ bi bất ngờ chợt đến với người đàn bà khổ đau hơn tuổi đời mấy bậc. Cô đỡ tay ông thầy bưng bít những thương tâm… “Thầy nói cho em nghe hết chuyện của thầy với mẹ em ngày xưa đi. Em sẽ tha thứ cho thầy… (và cả chồng em nữa. Những người đáng thương nhất trên đời với cái lỗi duy nhất là đàn ông…) Cô không nói hết ý nghĩ với ông thầy, nhưng đôi mắt ông thầy sáng lên, “có được không?”
    “Em không biết, chỉ giận thầy không bao giờ nói ra điều gì về mình. Ngày ấy, em còn nhỏ quá! Cứ thấy thầy ngó về bên kia hồ như ngóng trông ai. Nhưng em mê chơi nên quên ngay đi… đến hôm em gặp trong phòng mẹ chiếc thuyền lá có mảnh giấy, trên đó chữ thầy ghi là: tôi xin người cứ gian dối nhưng xin người đừng lìa xa tôi… Sao thầy lại đối xử với mẹ em như thế!”
   Ông thầy cột giày xong cho cô học trò, cởi cái áo khoác khoác thêm cho cô bé nghịch nước vì sợ cô cảm lạnh. Đâu đó chỉnh chu như ngày xưa. Ông đưa cô con cào cào, chậm rãi, ngập ngừng, “Trận này thầy sẽ không chết dễ đâu! Em liệu mà giữ giò giữ cẳng…” Tiếng cười khanh khách làm vỡ ánh trăng xưa; ánh trăng nồng ấm đã lạt lẽo theo ngày tháng, hay trăng Mỹ nhỏ nhoi vì trời tự do cao rộng hơn trời cộng sản; Một góc sân tù đày, một bờ hồ rong rêu lại hiện về trong ký ức già nua… ông thầy chết dễ hơn lời hăm doạ chiến đấu tới cùng, con cào cào của ông bung xúc, gãy bể… Ông nghẹn ngào chịu chết, “Thầy có lỗi, lỗi tất cả thuộc về thầy, Nhiên ạ! Ngày xưa, thầy cũng có những người bạn đi lính. Người lính này, sau khi chôn cất người lính bạn kia đã dõng dạc tuyên bố trước bạn bè là anh ta sẽ cưới người vợ của người bạn tử trận, sau khi cô ấy mãn tang chồng. Đứa bé còn đang trong bụng thiếu phụ kia-là con anh.” Mọi người không phản đối, lại còn hoan hô. Thiếu phụ nọ cảm ơn bằng nước mắt, duyên số trên trời……”
   “Rồi sau khi mãn tang chồng, cô ấy có lấy ông lính hứa ấy không?”
   “Em vẫn chưa bỏ được tật háu táu. Cái gì cũng phải được ngay, có liền…”
   “Thì, em hỏi vậy thôi!””
   “Thì, họ như thế đó. Quý mến nhau một đời. Đứa bé sinh ra có cha nuôi…”
   “Như em với thầy…”
   “Khác.”
   “Em không hiểu!”
   “Thầy không phải là lính. Những người lính vào sanh ra tử với nhau nên họ có quyền phi dân sự.”
   “Chẳng lẽ mẹ em đã lén trông thầy trò mình chơi thả thuyền lá, chưa đủ cho thầy bước qua định kiến hẹp hòi của xã hội thời ấy.”
   “Em biết dùng câu: xã hội thời ấy, thì em phải biết mỗi thế hệ có những hay-dở riêng của thế hệ đó. Thầy không muốn trở lại chuyện đau buồn khi đã đi quá xa… chúng ta đi thả thuyền.”
    “Thầy không bỏ lén mảnh giấy nào vào thuyền chứ?””
     “Em, muôn đời là tình yêu đáng sợ của thầy. Thầy mong gặp em như hạn mong mưa suốt tháng năm dài. Nhưng gặp lại em là có ngay ý nghĩ không bao giờ gặp nữa…”
   “Vì em giống mẹ em…”
   “Hơn một chút, là em đoán biết hết ý nghĩ của thầy.”

   …

   Họ lặng lẽ thả thuyền lá xuống mặt hồ thu đã sẫm đêm, ông thầy ngước nhìn sang bên bờ hư huyễn. Người vớt thuyền năm xưa đã ở trong viện dưỡng lão từ sau con gái có con, nhưng không chấp nhận chồng. Bà buông bỏ hết các thứ để để lên chiếc thuyền lá định mệnh, trải mảnh giấy: tôi xin người cứ gian dối nhưng xin người đừng lìa xa tôi… chiếu thuyền lá trôi theo định mệnh, nhưng người đàn bà vô viện dưỡng lão khi còn quá trẻ vì trầm cảm hết thuốc chữa, không phải người tình xưa của ông thầy dạy nhạc ở Sài gòn. Những nhá nhem chiều tàn lại ra bờ hồ trong khuôn viên viên viện dưỡng lão để hóng vớt hư không vì bà đang trôi trên con thuyền lá năm nào… 

PHAN







thơ hoàng xuân sơn



T h ử  n g h i ệ m  c h u y ể n  t h ể

b à i  C h ủ  N h ậ t  c ủ a  M a i N i n h 

( Văn số 88&89 – tháng 4&5, 2004 )


                ** mến tặng anh Tô Thẩm Huy sau khi đọc Nghĩ Về Thơ
                     trên Da Màu, tháng 9 năm 2011



                                                 Lovers with Half Moon. Marc Chagall 1926


N g u y ê n  t á c :


Một bàn đôi ghế
một quán sân ga ly trà đậm màu gỗ cũ
một bàn tay lạnh giá ủ bàn tay
hai bờ môi dụi sâu ngấn cổ
hơi thở ấm mùa đông
quà tặng những người tình vội vã
hôn nhau dưới bậc thang
nhịp đập
khẽ
dồn dập
khẽ
tim nhập con tàu
lung linh phiến kính phập phồng
hồi còi hối hả
khăn quàng em rời bến

Không có bàn tay xoè mở
xoay tìm
vỏ sần của thời gian
của làn da em
năm tháng
của tấm lá
của vết nứt rãnh hở
của lạch nguồn trào nước
cỏ bốc lửa
và đêm

Không tháo khuy cổ áo/chiếc khăn quàng
bàn tay ngoài bờ ngực
mấy gióng chân cách xa
không sát vào nhau
không quấn níu
sự gặp ở vô tận
như con đường tàu
song song là bất biến
là định luật
là mái tóc muộn màng
là chủ nhật
rời nhau

Con tàu chạy ngược hình bóng
ngược nhịp tim
đảo nghiêng cây cối
rạc vỗ cánh chim
mỏi
khép hai riềm mắt
bàn ghế ly trà vòng tay ấm
dù có hay không
gặp gỡ vụt đi ảo giác
dù có hay không
những người tình chiều chủ nhật cũng lùi lại đằng sau
con đường rầy
hun hút

MAI NINH 



C h u y ể n  t h ể : 

Bàn một mình
ghế một đôi
sân ga quán lạnh
màu đời
gỗ xưa
cầm tay ủ mấy cho vừa
vùi sâu ngấn cổ
ngạt bờ môi hôn
vội vã vội vã
dập
dồn
còi loang phiến kính
nhịp phồn hoa mê

Bàn tay . ôi bàn tay
xòe
níu đâu được ánh vàng hoe của làn
da mềm như tiếng thời gian
tháng năm
rãnh
hở
nước dầm
cỏ . đêm

Chiếc khăn quàng
hôn níu thêm
ngực, bờ mấy gióng
thân hiềm xưa sau
chủ nhật chủ nhật rời nhau
tóc không quấn níu đôi đầu
bến giang

Hình chạy ngược
bóng quay ngang
con tàu lỗi nhịp
cánh tàn chiều . chim
bay liều ảo giác . truy tìm
nơi khép mắt . sâu hút
chìm sinh ly .

HOÀNG XUÂN SƠN
St.Jean Baptise, 24 juin 2004

Tản mạn
bên tách cà phê

Nguyễn Xuân Thiệp 

Mùa thu &
tấm khăn lụa Hermès





Mùa thu. Trên cây phong đầu phố đã có những chiếc lá chuyển sang màu vàng và màu đỏ rực. Trời dường như nhiều mây hơn. "Mây năm xưa đã phiêu du trở về…, như lại vừa nghe ai đó đọc sáng nay khi thức dậy. Trời bắt đầu trở lạnh rồi đây. Và mỗi sáng mỗi chiều đi trong trời mát lạnh mùa thu, có phải đôi khi em cảm thấy khí thu dường như thấm vào đôi vai gầy. Và chợt nghĩ tới vòng tay vẫn thường khăng khít khi đi bên nhau dưới bóng chiếc ô tròn xoe. Và cũng có thể trong phút giây đó em chợt  nhớ tới một vuông khăn lụa của thời mới giã từ sân trường, bước vào đời.
Vậy thì, dưới bầu trời mùa thu chập chùng mây và thấm lạnh hôm nay, anh xin nói với em -như đã nói hôm nào khi trời mới chớm thu- về những vuông khăn lụa nổi tiếng của nhà Hermès. Có phải, từ bé dại đến giờ, em vẫn hằng yêu những chiếc khăn như thế không. Thì đây...

  


   Tất cả bắt đầu từ một tai nạn ở lâu đài hoàng gia xứ Monaco. Bà hoàng Grace Kelly -em biết rồi đấy, cả anh và em đều mê nhan sắc và đức hạnh của bà- bà hoàng bị gãy tay, đúng ngay hôm trước ngày hội hàng năm của Sporting Club. Hôm sau, bà xuất hiện trước công chúng trong chiếc áo dài trắng, một tay bị bó bột được nâng đỡ bằng chiếc khăn lụa, mà người ta có thể nhận ra những hình vẽ kiểu khăn "Les Brides de Gala", chiếc khăn của nhà Hermès. Lúc ấy là năm 1958, bức ảnh được gửi đi khắp thế giới: mảnh lụa vuông được truyền đến những đời sau.
   Cho đến lúc đó, tác phẩm Hermès bán chạy nhất này đã được tái xuất 12 lần, với 62 sắc màu và bán ra hơn 200.000 chiếc. Nó ra đời năm 1957, nhờ tài năng của Hugo Grygkar, là một tác phẩm nghệ thuật thật sự, có nhiều "tín đồ”, câu lạc bộ người yêu thích và được bán đấu giá.
   Thế nhưng, phải đợi cho đến lúc bà hoàng Grace Kelly "lancer" nó, thì tác phẩm của Hermès mới thật sự đạt tới đỉnh cao của cơn cuồng mê thời trang. 870 mẫu đã được đưa ra cho đến ngày nay, chiếc khăn vuông trọng lượng 75gram và kích thước 90cm mỗi cạnh, vẫn giữ tính đồng nhất, đã đi vào truyền thuyết. Qua năm tháng, khăn Hermès được xem như một gạch nối, một dấu hiệu nhận biết của một thế giới đài trang và thanh lịch.




   Nếu Hermès thành công trong lĩnh vực mà nhiều người khác thất bại, hẳn ông đã có một bí quyết, bí quyết đó được Jean-Louis Dumas Hermès định nghĩa như sau: "Làm việc không mệt mỏi, yêu nghề thủ công, say mê cái đẹp, nghĩ đến truyền thống, mãi mãi giữ óc sáng tạo và tính chính xác của một sản phẩm được xem như một tác phẩm nghệ thuật". Tới đây, thiết tưởng cần nói thêm những chi tiết như: 2,000 tấn chỉ tơ nhập cảng mỗi năm từ Trung Quốc hay Brazil, 300,000 tập hàng mẫu được lưu trữ, và khoảng 300 người, khi thì ở Paris khi thì ở Lyon chuyên thiết kế những mẫu khăn để đưa vào bộ sưu tập hàng năm. Người ta thấy một xu hướng bền vững là một bản khắc tỉ mỉ và gần như bách khoa, trình bày hệ động vật hay thực vật của một vùng (xích đạo 1988; Texas 1987…), phương tiện vận chuyển thời xưa (xe thư, 1953; Những kỳ công của hơi nước, 1958; Ghe và thuyền tam bản, 1990; xe biến thể 1965), y phục, đền đài…




   Điểm đặc biệt là chiếc khăn vuông đã cố gắng là nhân chứng của thời đại nó, khi trình bày những biến cố lớn của thế kỷ qua. Không có mảnh vải vuông vẽ con người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, nhưng có mẫu chuyện phiêu lưu trong không gian với chuyến bay đầu tiên của phi thuyền Hermès.
   Một mẫu phải tôn trọng tuyệt đối qui luật: Không dùng màu sắc sặc sỡ, không liên quan đến một sự mê tín dị đoan nào, không mang ý thức  tiên phong gây hấn, không quá thực dụng... Và nhất là không có những hình vẽ mà người ta không thể kiểm tra những biến dạng do những may rủi của nếp gấp.





    Nghe có ghê không em: Số sản xuất trung bình mỗi năm là 1 triệu chiếc, trong đó phải đốt đi 80.000 chiếc vì bị xem như không xứng đáng mang dấu ấn (signature) Hermès. Cuối cùng khi mảnh vải vuông đã vượt qua mọi cửa ải xét duyệt, thì chỉ còn việc cắt nó ra, viền cuốn mép bằng tay, xếp nếp, rồi đặt trong một chiếc hộp màu cam in hình chiếc xe ngựa trần bốn bánh màu hạt dẻ.
   Biết được như vậy, em sẽ hiểu hơn vì sao lại có sự hâm mộ của những người sưu tập đối với những tác phẩm nghệ thuật này. Paul Studler, chuyên chế tạo gan ngỗng vỗ béo ở Landes, bắt đầu sưu tập khăn Hermès khi mới 20 tuổi. Ông có khoảng hơn 200 chiếc khăn, cái ông thích hơn cả là mẫu "Mare aux Canards". Còn Alina Jones, một nữ diễn viên ở New York đã có được một niềm vui lớn lao. Cô đã thắng trong cuộc bán đấu giá, giành được chiếc khăn độc đáo Regina, với giá nhiều ngàn đôla... Ngoài ra, còn nhiều chiếc khăn nữa được trưng bày, mang những cái tên rất đẹp: Hoa hồng nước Anh, cúc gai xứ Ecosse, cỏ ba lá Irlande, tỏi tây xứ Galles trên nền đen, một bức vẽ sáng tác năm 1972, nhân dịp nữ hoàng Elizabeth sang thăm Pháp.



    Thi sĩ John Keats nói: A thing of beauty is a joy forever (vẻ đẹp là niềm vui vĩnh cửu, có phải thế không em?) Đêm nay, trong khí thu lành lạnh, anh lên net vào gian hàng Hermes Shawls với ý định táo tợn là tìm mua tặng em giữa mùa thu này một chiếc khăn lụa màu hoa lilac. Em nhớ không, anh đã nói đi Macy's mua cho em chiếc áo màu hoa hiên kiểu cắt ngắn rất trẻ và rắt đẹp, và sang nữa, với giá chỉ có 60 bucks (mình nghèo mà em!). Bây giờ có thêm chiếc khăn lụa Hermès nữa thì hơn cả tuyệt vời. Nhưng em ơi, khi nhìn tới giá tiền thì anh té ngửa: tới 399 bucks lận. Em nghĩ xem, thân viết mướn như anh, ngày đêm  ngồi vắt tim nặn óc gõ bàn phiếm viết cho báo người thì lấy mô ra mà mua khăn lụa Hermès tặng em . Vậy thì e phải chờ tới kiếp sau, em ạ. Này, khăn shawl ơi hỡi khăn shawl!Mùa thu ơi, mùa thu!  

NXT