Tuesday, February 15, 2022

VIỄN CẢNH 2022: TUNG HOÀNH VỚI SÔNG CỜ ĐỎ: TRUNG QUỐC ĐANG VẮT KIỆT NGUỒN NƯỚC CỦA CHÂU Á

NGÔ THẾ VINH
 
Dẫn Nhập _ Các dân tộc sống trên lục địa Châu Á ở hạ lưu các dòng sông từ Tây Tạng và Trung Quốc chảy xuống, trên 1,6 tỉ người này đã phải gánh chịu hết cả thiệt hại kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp và môi trường các hạ vực đã bị thoái hóa dần dần suốt nhiều thập niên qua trong khi Trung Quốc hưởng hết ích lợi nhờ thủy điện vì trên thượng nguồn họ xây hàng trăm con đập, tàng trữ hàng trăm tỉ mét khối nước, giam hãm 90% phù sa và thay đổi toàn diện dòng chảy môi sinh trên toàn lưu vực. Nhưng tham vọng Trung Quốc chưa dừng lại, Trung Quốc đã bắt đầu xây một đại công trình mang tên Sông Cờ Đỏ, dài trên 6.180 km để hàng năm chuyển dòng lấy 60 tỉ mét khối nước ngay từ nguồn không cho xuống hạ lưu sông Mekong, Salween và Brahmaputra. Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc là một mối đe doạ tiềm tàng to lớn, với khả năng gây ra tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  Việt Ecology Foundation
*
Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]
 
Hình 1: Quốc gia Tây Tạng, nơi phát xuất những con sông lớn
của Châu Á: (1) Dương Tử, (2) Hoàng Hà, (3) Indus, (4) Sutlej, (5) Yarlung Tsangpo
– Brahmaputra, (6) Irrawaddy, (7) Salween, (8) Mekong.
[nguồn: Bản đồ cập nhật của Michael Buckley, Meltdown in Tibet, Palgrave MacMillan 2014] [3]
 
CƠ THỂ HỌC CÁC CON SÔNG LỚN CHÂU Á
 
Các con sông lớn như mạch sống của toàn Châu Á đều bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng, còn được mệnh danh là Cực Thứ Ba của Trái Đất.
_ Đông Tây Tạng: phía đông là khởi nguồn của hai con sông lớn hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc: (1) sông Dương Tử 6.500 km dài nhất Châu Á chảy về hướng đông theo suốt chiều ngang lãnh thổ Trung Hoa tới Thượng Hải – Shanghai, (2) sông Hoàng Hà thì chảy về hướng bắc rồi chuyển sang hướng đông tới Thiên Tân – Tianjin, và cả hai cùng đổ ra biển Trung Hoa.
  
_ Tây Tây Tạng: phía tây bắc, là (3) sông Indus và (4) sông Sutlej chảy về hướng tây nam và giao thoa với ba con sông khác để hình thành vùng châu thổ Punjab giữa hai nước Ấn và Hồi. Phía tây nam là (5) sông Yarlung Tsangpo là “con sông cao nhất thế giới”, với các ghềnh thác xuyên dãy Hy Mã Lạp Sơn, rồi chảy qua Ấn độ, Bhutan và Bangladesh, con sông đổi tên là sông Brahmaputra trước khi đổ vào Vịnh Bengal, Ấn Độ Dương. 
 
_ Nam Tây Tạng: phía nam là ba con sông (6) sông Irrawaddy và (7) sông Salween chảy xuống Miến Điện theo hướng bắc nam trước khi đổ vào Biển Andaman. Riêng con (8) sông Mekong chảy qua nhiều quốc gia  với nhiều tên khác nhau, từ Tây Tạng: có tên Dza-Chu có nghĩa “nguồn nước của đá”, tiếp tục chảy về hướng nam băng qua những hẻm núi sâu của tỉnh Vân Nam với tên Trung Hoa là Lan Thương Giang / Lancang Jiang “con sông xanh cuộn sóng”, qua đến biên giới Lào Thái mang một tên khác Mae Nam Khong “con sông mẹ”, xuống Cam Bốt lại mang một tên khác nữa Tonle Thom “con sông lớn”, cuối cùng chảy qua Việt Nam mang tên Cửu Long với hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu đổ ra Biển Đông trước kia bằng chín cửa sông, nhưng nay chỉ còn bảy. [Hình 1] 
 
TÂY TẠNG KHÔ HẠN CHÂU Á CHẾT
Và cũng dễ hiểu tại sao, bằng mọi giá Trung Quốc phải chiếm cho bằng được Tây Tạng – vùng cao nguyên chiến lược vô cùng quan trọng, giàu có về nguồn nước, phong phú về tài nguyên thiên nhiên – đó cũng là “định mệnh sinh học – biological destiny” của Tây Tạng, một quốc gia nhỏ bé với chưa tới 1,5 triệu dân bản địa (thống kê 1965, dân số gốc Tây Tạng 1,321,500; Leo A. Orleans, The China Quarterly Jul-Sep, 1966) và đang bị Hán hoá, người Tây Tạng nay đã trở thành thiểu số ngay trên đất nước mình.
 
Phải chứng kiến tốc độ tàn phá sinh cảnh Tây Tạng, ngay nơi đầu nguồn,  các con sông lớn Châu Á đang bị Trung Quốc khai thác một cách triệt để với những đập thuỷ điện, cùng với nạn phá rừng tự sát / suicidal deforestation, tới các kế hoạch khai thác hầm mỏ đại quy mô, gây ô nhiễm nguồn nước. Hiện tượng biến đổi khí hậu với khí thải từ các nhà máy đốt nhiên liệu hoá thạch đang gây hiệu ứng nhà kính khiến khối băng tuyết tưởng như vô tận nơi cực thứ ba trái đất đang nhanh chóng bị đẩy lùi và tan rã.
Cũng để thấy rằng, những con sông Châu Á từng nguyên sinh trong thế kỷ trước thì nay đã biến dạng suy thoái và không còn như xưa nữa.
Cảnh tượng ấy khiến Đức Dalai Lama đang lưu vong phải thốt lên lời kêu cứu và ông đã chọn ưu tiên bảo vệ môi sinh thay vì những vấn đề chính trị nóng bỏng. Trong một lần gặp gỡ với Đại sứ Hoa Kỳ Timothy Roemer ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ vào tháng 8/2009, Đức Dalai Lama nói rằng:  
"Lịch trình chính trị có thể hoãn lại 5 -10 năm nhưng cộng đồng quốc tế cần tập trung quan tâm tới biến đổi khí hậu trên Cao nguyên Tây Tạng: khối băng tuyết đang tan rã, nạn phá rừng, và ô nhiễm nguồn nước do những dự án khai thác hầm mỏ, là những vấn đề cấp thiết, không thể chờ đợi." [nguồn: Wikileaks Cables, the Guardian 10 Aug. 2009]
Bắc Kinh xác nhận là sẽ xây thêm các con đập thuỷ điện lớn trên thượng nguồn sông Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, trước khi con sông xuyên quốc gia ấy chảy sang Ấn Độ, Bhutan và Bangladesh. Brahmaputra là dòng sông huyết mạch của ba quốc gia này. 
Khi các công trình hoàn tất, tổng công suất / total capacity của những con đập thủy điện trên Cao nguyên Tây Tạng sẽ “nhiều lần lớn hơn” công suất con đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam): 22.500 megawatts, lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử.

Hình 2: Bích chương của Hội Phụ nữ Tây Tạng: Hâm Nóng Toàn Cầu
trên Cao nguyên Tây Tạng; Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết. [3]
 
Cho dù đang có những mối lo âu về sự tồn vong của quê hương Tây Tạng nhưng Đức Dalai Lama rất quan tâm tới những vấn đề chung của nhân loại. Ông nói tới vấn đề môi sinh rất sớm với tầm nhìn xa và trong mối tương quan toàn cầu và “phải làm sao giữ xanh hành tinh” này, qua thông điệp nhân Ngày Môi Sinh Thế Giới / World Environment Day [ngày 05.06.1986]:
“Hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa bởi những hoạt động của con người thiếu quan tâm tới những giá trị nhân bản. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là do hậu quả của lòng tham lam và thiếu tôn kính đối với sự sống trên hành tinh này... Chúng ta dễ dàng tha thứ cho những gì đã xảy ra trong quá khứ do bởi u minh. Nhưng ngày nay do hiểu biết hơn, chúng ta phải duyệt xét lại với tiêu chuẩn đạo đức là phần gia tài nào mà chúng ta thừa hưởng, phần nào chúng ta có trách nhiệm sẽ truyền lại cho thế hệ mai sau." [3]
 
SÔNG CỜ ĐỎ / HỒNG KỲ HÀ 红旗河
MỘT KHỦNG LONG CỦA BẮC KINH
 
Từ mấy thập niên qua, ai cũng đã biết Trung Quốc đã và đang xây thêm hàng trăm đập thủy điện trên khắp các dòng sông với những hồ chứa nước khổng lồ, ngăn chặn phù sa làm đảo lộn toàn hệ sinh thái, tác động đến sinh kế của bao nhiêu triệu cư dân dưới nguồn.
Nay tiến thêm một bước đột phá nữa, Trung Quốc đang có thêm một kế hoạch vĩ mô / mega project, vô cùng táo bạo – khai mở một con sông nhân tạo: Sông Cờ Đỏ / Red Flag River, lớn nhất thế giới xuyên lưu vực, kết nối với mạng lưới sông thiên nhiên của Châu Á, nhằm chuyển nước về hướng Bắc củng cố nền an ninh nguồn nước – cũng là nguồn an ninh lương thực của Trung Quốc. Với dự án Sông Cờ Đỏ dài 6.180 km này, Trung Quốc hàng năm sẽ giành thêm được 60 tỉ mét khối nước – có nghĩa là các quốc gia khác sẽ mất đi lượng nước sinh hoạt thiết yếu này.
 Không tham khảo với các quốc gia láng giềng, có thể nói Trung Quốc với hơn 1.4 tỉ dân đã đơn phương khai mào một trận chiến môi sinh không tiếng súng và sẽ gieo hoạ cho 1,6 tỉ người thuộc các dân tộc lân bang chung sống với họ trên lục địa Châu Á.
 
Sông Cờ Đỏ có tham vọng chuyển 60 tỉ mét khối nước hàng năm tương đương với 21% lượng nước đầu nguồn hàng năm tại ba con sông xuyên quốc gia / transnational rivers: Mekong, Salween và Brahmaputra. Lượng nước quý giá này chính là nguồn sống, sinh kế của các dân tộc Nam Á, và Đông Nam Á vẫn phải dựa vào số nước ấy sẽ được chuyển tới vùng Tân Cương – Xinjiang phía bắc và tây bắc Trung Quốc.
Dự án Sông Cờ Đỏ xuyên lưu vực này sẽ gây chấn động dư luận nơi các quốc gia lân bang – đặc biệt là Ấn Độ, quốc gia có dân số đông thứ hai chỉ sau Trung Quốc.
Những nước dưới hạ nguồn sẽ phải rất quan tâm trước một viễn tượng có thể khó lường. Do Tây Tạng có nước chảy xuống là nhờ mưa và tuyết tan khi trời ấm, mức nước và lưu lượng sẽ cao nhất từ tháng hai cho đến tháng bảy, cho 70% tổng số nước cả năm, khi đó là thời gian tối ưu cho con Sông Cờ Đỏ dựa vào thế năng và động năng cao để chuyển dòng và chiếm đoạt nhiều nước nhất. Các nước hạ lưu cùng lúc đó lại đang vào mùa khô, vì thế sau khi Sông Cờ Đỏ hoạt động, hạn hán giáng xuống hạ lưu chắc chắn sẽ khắc nghiệt hơn nữa. Lúc đó họ chỉ còn biết dựa vào lòng tử tế của Trung Quốc, điều mà người Tây Tạng, Ngô Duy Nhĩ, Việt Nam đã từng được nếm trải.
Vì thế Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc đã tiềm tàng một mối đe doạ to lớn, gần như tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc đã tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ không bị ràng buộc có thể đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  
Riêng Việt Nam thì sao?  Vẫn là sự im ắng “truyền thống” cho dù Sông Cờ Đỏ sẽ lấy nước sông Mekong từ ngay nơi đầu nguồn.
Trung Quốc “vĩ đại” theo nhiều ý nghĩa, thể hiện cho tinh thần Đại Hán ấy trong quá khứ đã có Vạn Lý Trường Thành, là một trong bảy kỳ quan của thế giới. Nay với tiến bộ khoa học kỹ thuật, Trung Quốc còn thực hiện thêm những công trình mới có tầm vóc thế giới: đập thuỷ điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử lớn nhất thế giới, và nay Sông Cờ Đỏ sẽ là con sông nhân tạo chuyển dòng lấy nước cũng lớn nhất thế giới với chi phí tốn kém nhất thế giới. Đây là một đại công trình làm thay đổi cả diện mạo của lục địa Châu Á. Với sẵn nguồn nhân lực, với quyết tâm và có khả năng kỹ thuật cao, Bắc Kinh có thể dư sức thực hiện Dự án Sông Cờ Đỏ này. Nhưng với cái giá nào phải trả của các quốc gia lân bang thì không được Bắc Kinh quan tâm tới.
 
Hình 3a: Sông Cờ Đỏ với Dự án chuyển nước vĩ mô
“tam tung, tứ hoành / ba dọc, bốn ngang”; (a) đường đen mỏng: các dòng sông lớn;
(b) đường đen đậm: Sông Cờ Đỏ và hai nhánh chính nối với các con sông thiên nhiên trong dự án
chuyển nước nối lưu vực nam-bắc của Trung Quốc; (c) đường đen đậm đứt quãng gần:
đường dẫn nước nam-bắc trong Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North
Water Transfer Project; (d) đường đen đậm đứt quãng xa: trong kế hoạch thực hiện.
[nguồn: Bản đồ của Genevieve Donnellon-May và Mark Wang trên The Diplomat Oct. 7, 2021,
với thêm ghi chú tiếng Việt của người viết] 
 
Hình 3b:  GS Vương Hạo (Wang Hao), Chủ tịch Nhóm Chuyên gia trong cuộc Hội thoại
về “Sông Cờ Đỏ” – một dự án vĩ đại của Trung Quốc – đã ngạo mạn phát biểu:
“Ít nhất trên quy mô ngàn năm / thiên niên kỷ, Dự án Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại
những lợi ích vượt xa hơn là những tác hại.”
 
LỊCH SỬ SÔNG CỜ ĐỎ VỚI “TAM TUNG TỨ HOÀNH”
Dự án này được soạn thảo bởi “nhóm nghiên cứu S4679” của Đại học Thanh Hoa / Tsinghua ở Bắc Kinh – được so sánh như một Harvard của Đông phương; do giáo sư Vương Hạo / Wang Hao là kỹ sư trưởng của Viện Nghiên Cứu Tài nguyên Nước và Thuỷ điện của Trung Quốc.
Sông Cờ Đỏ là một hệ thống thuỷ lợi với dòng chảy trọng lực / gravity flow water diversion system, lấy nước từ các con sông trên cao nguyên Tây Tạng [được mệnh danh là “nóc của thế giới” với độ cao trung bình 4.500 m trên mặt biển], dẫn vào một đường kênh chính / main channel đưa nước tới vùng Tân Cương / Xinjiang khô cằn – có khả năng “biến Tân Cương thành một California Made in China xanh tươi trù phú”, đồng thời cũng dùng con sông nhánh Chunfeng dẫn một lượng nước khổng lồ vào lưu vực Turpan tới vùng bắc Tân Cương. [Hình 3a,b]
Công trình thuỷ lợi Sông Cờ Đỏ còn đem nước tới Tân Cương và các tỉnh phía tây bắc như Cam Túc / Gansu, Ninh Hạ / Ningxia. Các tỉnh này nếu có nguồn nước sẽ trở thành một vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước. Ước tính là lượng nước cung cấp cho các tỉnh tây bắc sẽ nhiều hơn lưu lượng nước hàng năm của con sông Hoàng Hà / Yellow River đổ ra biển. Dự án này sẽ tạo thêm được 13,3 triệu hectares diện tích canh tác ở Tân Cương và thêm 130.000 km2 các ốc đảo / oasis xanh tươi ở vùng tây bắc Trung Quốc.
Ngoài những lợi ích về canh nông kể trên, Sông Cờ Đỏ còn bảo đảm an toàn nguồn nước cho Trung Quốc. Với Kế hoạch Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North Water Transfer Project, Trung Quốc tạo được một mạng lưới nước / water grid system có tên là “tam tung tứ hoành / 三纵四横 / ba dọc bốn ngang”:
_ Tam tung / sanzhong / ba dọc: là 3 tuyến dẫn nước từ nam lên bắc; 2 tuyến trung và đông đã hoàn thành, tuyến tây đang triển khai. Khi tuyến phía tây này hoàn tất, sẽ có 17 tỉ mét khối nước được chuyển từ thượng nguồn sông Dương Tử sang sông Hoàng Hà ngay từ trên cao nguyên Tây Tạng, có khả năng phục sinh con sông Hoàng (Hà) đang bị cạn kiệt.  
_ Tứ hoành / siheng / bốn ngang: là 4 dòng sông chảy từ tây sang đông là: Hoàng Hà (Yellow river), Hoài Hà (Huai river), Dương Tử (Yangtze river) và Hải Hà (Haihe river)
Hệ thống “Tam Tung Tứ Hoành” này sẽ bảo đảm cung cấp nguồn nước cho thủ đô Bắc Kinh và các thị trấn lớn vùng bình nguyên phía bắc Trung Quốc.
Ngoài ra, Sông Cờ Đỏ còn có thêm hai kênh sông Hồng Duyên / Hongyan Hà dẫn nước đến Diên An / Yan’an phía bắc tỉnh Thiểm Tây / Shaanxi, và sông Mạc Bắc / Mobei dẫn nước vào Nội Mông và cả Bắc Kinh. Cũng qua kênh sông Mạc Bắc, Sông Cờ Đỏ cung cấp nguồn nước cho vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc, và qua nhánh sông Hồng Duyên cung cấp nước cho lưu vực Tứ Xuyên / Sichuan Basin. [Hình 3a,b]
Đây là một bức tranh quy hoạch thuỷ lợi cực lớn – không chỉ tạo ra một hệ thống cấp nước mới cho vùng tây bắc Trung Quốc mà còn kết nối với hệ thống mạng lưới nước quốc gia để có "bảo đảm kép" về mặt chiến lược cung cấp nguồn nước cho Bắc Kinh và vùng bắc Trung Quốc. [1]
 
VẪN BIỆN HỘ CHO TRUNG QUỐC
Rồi ra, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu vẫn có một số vị tiến sĩ hay trí thức khoa bảng trong và cả ngoài nước – sẽ hành xử như những luật sư tự nguyện bào chữa cho Bắc Kinh rằng: Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc. Họ vẫn chỉ biết dựa vào một con số đơn giản, cho rằng chỉ có 16% số lưu lượng sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc. Và nay, Sông Cờ Đỏ có lấy thêm đi mấy phần trăm % của con số 16% ấy thì nạn hạn hán nếu có xảy ra cũng không phải lỗi Trung Quốc.
 
Thực tế vào mùa khô khi nước khan hiếm nhất, lượng nước từ Trung Quốc xuống Mekong lên tới 40% và 70%, gấp hai tới bốn lần hơn con số họ cố ý trích dẫn. [nguồn: https://www.lowyinstitute.org/the-interpreter/china-eyes-its-next-prize-mekong]
 
Và người ta vẫn có thể tự ru ngủ mà bảo rằng: tranh chấp nước “trên nguồn – dưới nguồn / upstream – downstream” bấy lâu vẫn là chuyện bình thường, ngay cả giữa các địa phương trong cùng một quốc gia.
Có cần nhắc với họ không là năm 2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam đã phải lên tiếng cầu cứu xin Trung Quốc xả nước từ con đập Cảnh Hồng / Jinhong để cứu đại hạn nơi ĐBSCL lúc đó, và cuối cùng cũng không đạt hiệu quả nào!
 
Hình 4: trái, Hạn hán khắc nghiệt nơi ĐBSCL năm 2016, khiến Thủ Tướng
Nguyễn Tấn Dũng lúc đó phải lên tiếng cầu cứu Trung Quốc cho xả nước từ hồ chứa
đập thuỷ điện Cảnh Hồng nhưng không đạt hiệu quả nào; phải, Cái bắt tay “hữu nghị” của
Tập Cận Bình – lúc đó là Phó Chủ tịch TQ và TT  Nguyễn Tấn Dũng tháng 12/2011.
[nguồn: trái, VN Express 3/11/2016]
 
SÔNG CỜ ĐỎ VỚI TRÁI TIM BIỂN HỒ VÀ ĐBSCL
 
Tuy dự án Sông Cờ Đỏ S4678 không được công bố chính thức nhưng chắc chắn sẽ gây ra sự quan tâm rộng rãi. Cao nguyên Tây Tạng vốn được coi là một vùng sinh thái trù phú nhưng cũng rất mong manh và dễ bị tổn thương.
Sông Cờ Đỏ chắc chắn làm giảm thêm nguồn nước của các con sông xuyên quốc gia – trong đó có sông Mekong.
Rõ ràng, Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại cho Trung Quốc một thứ “siêu quyền lực” bá chủ về nguồn nước  / hydro-hegemony trên toàn Châu Á, với “quyền sinh sát tắt mở vòi nước” theo ý mình – nhất là khi Bắc Kinh muốn cho các nước nhỏ “một bài học” – vẫn nói theo ngôn từ của Đặng Tiểu Bình.
Ngoài nước lớn là Ấn Độ, có đủ sức đối trọng với Trung Quốc, hầu như chưa có các quốc gia hạ nguồn nào khác chính thức lên tiếng – Riêng với Uỷ Ban Mekong Việt Nam – 23 phố Hàng Tre Hà Nội, cách ĐBSCL hơn 1.600 km, thì vẫn là sự im lặng hay hoàn toàn bị động.
Vẫn với một khuôn mẫu hành xử bấy lâu, chưa bao giờ Bắc Kinh muốn chia sẻ thông tin / hay muốn thực lòng tham khảo với các quốc gia hạ nguồn về dự án Sông Cờ Đỏ S4679, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng huỷ hoại lâu dài đối các dòng sông xuyên quốc gia này.
Theo ước tính của hai tác giả Genevieve Donnellon-May / Đại Học  Singapore và Mark Wang / Đại học Melbourne, thì Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]
_ Tình trạng “đói lũ” ở ĐBSCL đã xảy ra thường xuyên hơn trong những năm gần đây. Lũ – mùa nước nổi xuống ĐBSCL, phụ thuộc chính vào lượng nước mưa từ thượng nguồn sông Mekong. Nếu mưa ít ở lưu vực trên / upper basin, kéo theo nạn thiếu nước trong hàng trăm các hồ chứa thuỷ điện, thì khi tới mùa mưa nước sẽ bị chặn lại trong các hồ chứa – thay vì lượng nước mưa ấy ồ ạt theo dòng sông xuôi chảy xuống hạ lưu. Hậu quả là sông Mekong sẽ thiếu nước, gây tình trạng hạn hán trên toàn hệ thống sông rạch.
 
_ Do đó sẽ rất ngây thơ để bảo rằng 16% lưu lượng nước từ Trung Quốc là không đáng kể, và cho rằng các hồ thuỷ điện không tiêu thụ nước. Nhưng khi các hồ thuỷ điện thiếu nước, phải cần thời gian lâu để tích trữ lại lượng nước thiếu vào chuỗi các hồ chứa, những hồ chứa đập thuỷ điện đã “phá vỡ cả một chu kỳ điều hợp thiên nhiên kỳ diệu” của con sông Mekong. Không còn lũ cao / hay đỉnh lũ trong mùa mưa để con sông Tonle Sap có thể chảy ngược dòng vào Biển Hồ, tăng diện tích Biển Hồ lên gấp 5 lần (từ 2.700 km2 mùa khô tới 16.000 km2 mùa mưa). Biển Hồ được ví như một biển dự trữ nước ngọt thiên nhiên khổng lồ tiếp nước cho cả hai vùng châu thổ Tonle Sap / Cam Bốt và ĐBSCL / Việt Nam trong cả hai mùa mưa nắng.  
 
_ Một con sông sinh thái / river ecosystem không đơn giản chỉ có nước mà phải là một dòng chảy bao gồm các sinh vật / biotic (như cây cỏ, rong tảo, sò ốc tôm cá), những vi sinh vật / microorganisms cùng với những vật thể phi sinh khác / abiotic (như cát sỏi phù sa), tất cả cùng tương tác với nhau như một cơ thể sống.  
 
Tác hại của chuỗi đập thủy điện và nay với thêm Con Sông Cờ Đỏ không chỉ cướp nguồn nước mà còn huỷ hoại hệ sinh thái của con sông: chặn nguồn phù sa trong các hồ chứa – mà phù sa là yếu tố bấy lâu bồi đắp tạo dựng nên vùng đồng bằng châu thổ từ hàng bao ngàn năm. Nay cũng nguồn nước ấy khi xuống tới ĐBSCL do “bị đói phù sa”, đã dẫn tới một tiến trình đảo nghịch: thay vì bồi đắp, thì nay lại “ăn đất” gây sạt lở không chỉ các bờ sông mà cả suốt chiều dài 800km vùng ven biển.  
 
_ Rồi còn phải kể tới nạn đất lún do lạm dụng khai thác tầng nước ngầm, cùng với ảnh hưởng của “biến đổi khí hậu” hâm nóng toàn cầu, nước biển dâng, với các hiện tượng El Niño và La Niña khiến các vùng châu thổ là dễ bị tổn thương nhất – trong đó có ĐBSCL, và tất cả đã làm đảo lộn mọi dự đoán về thời tiết thuỷ văn để có thể kịp thời đối phó!
 
 
TRUNG QUỐC VẪN LỐI HÀNH XỬ CÔN ĐỒ
Tháng 2 năm 1972, khi TT Nixon viếng thăm Bắc Kinh, bắt tay với Mao Trạch Đông dọn đường cho một Trung Quốc mở cửa; rồi tiếp theo đó với chính sách “Đổi Mới” của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng vươn lên như một siêu cường, theo cái nghĩa “nước lớn bá quyền”, và chính Đặng Tiểu Bình đã từng giáng cho Việt Nam một bài học bằng trận chiến tranh đẫm máu nơi biên giới phía bắc (1979).
Và rồi như một chính sách nhất quán, Bắc Kinh đã có một lối hành xử rất côn đồ từ Biển Đông (với Hoàng Sa Trường Sa và với Đường Lưỡi Bò), vào tới đất liền chiếm đoạt nguồn nước, luôn luôn hăm doạ và bắt nạt các “tiểu quốc / nước bé”, bất chấp mọi trật tự và luật pháp quốc tế.  
Bằng chứng là mới đây vào tháng 10/2021 Trung Quốc đã ngang nhiên từ chối ký một “hiệp ước chia sẻ nước / water sharing treaty” với các quốc gia hạ nguồn. [1]
Chia sẻ thông tin, chấp nhận đối thoại chân thành, điều mà các chuyên gia thuỷ học Trung Quốc có thể dễ dàng làm nhưng đối lại vẫn là sự vô cảm.  Không đối thoại, không có tham khảo, trên mọi dự án lớn liên quan tới toàn vùng, cho dù Bắc Kinh biết rằng cách hành xử ấy sẽ tạo nên những mối quan hệ căng thẳng nhưng họ vẫn bất chấp. Với Trung Quốc ngày nay, chỉ có một tiếng nói của sức mạnh. Cuộc đấu tranh để sinh tồn có thể dẫn tới cuộc chiến tranh vì nước ngay trong thế kỷ 21 này.
 
NGÔ THẾ VINH
Mekong Delta 1995 – 2022
 
 
 
1/ _ What’s Behind China’s Latest Mega Hydro-Engineering Project. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 07, 2021.
   _ Red Flag River and China Downstream Neighbors. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 23, 2021.  
 
2/ Đồng Bằng Sông Cửu Long và Những Bước Phát Triển Tự Huỷ Hoại. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation May 01, 2018
vietecology.org/article/article/299
 
3/ Mùa Xuân Tây Tạng và Câu Chuyện Những Dòng Sông. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Jan 20, 2017
vietecology.org/article/article/197
 
4/ Thoi Thóp Trái Tim Biển Hồ, Miền Tây Đau Thắt Ngực. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Nov 7, 2015
vietecology.org/article/article/122

 



 

 

 

 

 

  

Friday, February 11, 2022

GIỚI THIỆU SÁCH. TUYỂN TẬP HUY PHƯƠNG



Tác phẩm của Huy Phương
 
Tuyển Tập Huy Phương tập hợp những bài viết của cây bút Tạp ghi được khán giả trong và ngoài nước yêu mến vào hàng đầu, nhà văn Huy Phương. Tuyển tập được in xong vào những ngày cuối năm 2020 và đã được Nhà xuất bản Nam Việt phát hành.
Tuyển tập dày hơn 700 trang tuyển lựa những bài viết ưng ý nhất của Huy Phương trong 50 năm cầm bút.  Trong Lời Tựa ông đã viết "Như Một Lời Chia Tay", nói đúng hơn là như những lời trăn trối, và ông chia sẻ: "Theo luật đời, ở tuổi ngoài 80, chúng tôi đi vào giai đoạn già yếu , bệnh tật, và mang một chứng bệnh nan y, chắc sắp cũng phải đến lúc "xuống tàu", giã từ đời sống, chúng tôi không có của cải tài sản gì để lại , ngoài "HUY PHƯƠNG TUYỂN TẬP" tuyển chọn trong 14 tác phẩm, văn thơ qua 50 năm, để gửi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay"
Bạn đọc yêu mến Tạp ghi của Huy Phương hoặc chưa bao giờ đọc văn thơ của Huy Phương thì TUYỂN TẬP HUY PHƯƠNG" gói ghém những tâm huyết và tâm tình vui buồn của một người cầm bút nổi trôi với vận nước, tình nhà. Và trong tâm tình đó mỗi người chúng ta cũng có thể tìm thấy một mảnh đời của chính mình.
Muốn mua TUYỂN TẬP HUY PHƯƠNG XIN LIÊN LẠC VỚI: Nam Việt Publisher. Điện thoại số: (949) 241-0488. Email:<xbnamviet@gmail.com>. P.O. Box: 6246. Anaheim, CA. 92816. Giá bán $40/cuốn.
 
  

Tuesday, February 8, 2022

Q U Á N T Ư Ở N G. C H I Ề U

Hoàng Xuân Sơn
 
Modern art.

Nhấp nháy vàng
nhấp nháng hương
thả rơi tờ lịch
xuống đường nguyên tiêu
năm trên sân đẹp quán chiều
nét kỳ văn muộn
còn thêu sắc nồng
tám mươi rồi có phải không
thiều quang ôi thiều quang lòng son kia
với nồng nàn
nhóm sương khuya
với giấc ban sớm
hoa kề tịnh đông 
 
)(
 
Ta làm thơ bát ngát đồng
ôm tâm mạch lúa dưng không của trời
khung mùa bạn
lên tranh tôi
chân dung mỗi mỗi
ý
lời
hạnh nguyên
ban sơ từ một thức tuyền
như mang hồn trắng
vào thiêng liêng  đời
chảy đi.  sông, chảy
suối
mời
chị em.  và những đẹp ngời phong lưu
 
H O À N G  X U Â N  S Ơ N
ba. tháng hai, năm hai hai

 

  

Friday, February 4, 2022

SÁCH MỚI

Văn Học Press

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press
 
 Trân trọng giới thiệu:
 

LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM
 
Tập truyện
VŨ THƯ HIÊN
 
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2022
 
Tranh & Thiết kế bìa:
ĐINH TRƯỜNG CHINH
 
@@@
 
 
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
 
Vũ Thư Hiên là tác giả của bộ sách được nhiều người biết đến, Đêm giữa ban ngày, trong đó ông thuật lại chuỗi ngày dài đằng đẵng chín năm tù tại các trại lao động khổ sai cưỡng bách tại Bắc Việt Nam, lý do vì ông dính líu – hay bị xem là dính líu – đến vụ “xét lại chống Đảng”.
 
Thực chất đây không phải một vụ án hiểu theo nghĩa luật pháp thông thường. Nó chỉ đơn thuần là một vụ bắt bớ do “Đảng cầm quyền bất chấp luật pháp do chính mình đặt ra đã xuống tay hạ ngục, giam cầm và lưu đày nhiều năm không xét xử những người có tư tưởng bất đồng”, như chính tác giả tự bạch.
 
Chín năm chịu đựng bao nỗi tân khổ trong những trại giam khắc nghiệt có lẽ đã cho ông sự nhìn lại đời mình. Ông thú nhận là sau khi quan sát số phận của những tù nhân trong những nhà tù ông đi qua, đã mang lại cho ông “cái nhìn tỉnh táo không riêng đối với những hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình”.
 
Vì là hồi ký nên ông nhấn mạnh “trong cuốn sách chỉ có sự thật. Hình thức văn học mà tác giả sử dụng trong cuốn sách chỉ vừa đủ cho bức tranh sự kiện không thành quá tẻ nhạt. Văn học đích thực không có chỗ nơi đây”.
 
Tính văn học, người đọc có thể tìm thấy trong cuốn sách bạn đang cầm trên tay đây, tập truyện Lời xưng tội lúc nửa đêm, gồm 17 truyện ngắn, Văn Học Press hân hạnh xuất bản lần đầu năm 2022.
 
Đây là tập hợp những truyện ngắn nhà văn Vũ Thư Hiên viết rải rác trong suốt năm, sáu mươi năm cuộc đời ông, từ những năm đầu thập kỷ ’60 cho đến gần đây. Bởi thế, người đọc dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa các truyện trong bút pháp, chủ đề và suy nghiệm của tác giả. Thế nhưng, sự khác biệt ấy xem ra không quan hệ, bởi những câu chữ ông viết ra, trước kia hay sau này, đều quy nguyên về thân phận con người, một thân phận điên đảo, quay cuồng trong lốc xoáy lịch sử.
 
Đọc truyện Vũ Thư Hiên, ta có thể ngạc nhiên tự đặt câu hỏi: “Tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại? Nhân tính ở đâu? Làm sao người ta biện minh, thực chứng được hành vi gây khổ ải cho kẻ khác?”
 
Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn – một người từng trải nghiệm ngục tù chẳng kém gì Vũ Thư Hiên – hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.
 
Theo Solzhenitsyn, nguyên ủy của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi một lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên bàn thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Ý thức hệ đứng đằng sau phương châm “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Đó là lý do vì sao không biết bao nhiêu người vô tội đã chết oan trên giàn hỏa thiêu của tòa xử dị giáo (nhân danh ý thức hệ Thiên Chúa giáo); vì sao cả trăm nghìn dân bản xứ da đen, da vàng bị thực dân da trắng giết vứt xác xuống sông (nhân danh ý thức hệ văn minh); vì sao sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc xã giết thảm trong Lò Thiêu (nhân danh ý thức hệ chủng tộc thượng đẳng), v.v…
 
Ở bình diện này, con người không va chạm với con người khác mà với những thế lực điên khùng, những thế lực vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ. Con người cảm thấy như tê cứng, bất lực trước những thế lực đó. Chúng chế ngự, kiểm soát, tỏa chiết mọi hành vi và tư tưởng của hắn.
 
Những truyện ngắn của Vũ Thư Hiên đã được viết trong một tâm thế như thế.
 
Nhưng bên dưới những sự thật tàn bạo trần trụi được phơi bày qua chữ nghĩa, là tính nhân bản và cái “human spirit”. Đấy chính là tính văn học đích thực trong truyện Vũ Thư Hiên. Cái “human spirit”, hiển lộ trong những truyện ngắn của ông, không hẳn chỉ đơn thuần là tinh thần, khí thế hay sự can trường của con người trước nghịch cảnh theo cách hiểu bình thường, nó còn là biểu hiệu cho “lòng khao khát muốn sống và được sống như con người”. Và, như chúng ta đều biết, muốn sống và được sống như con người là một điều cực khó.
 
Dân tộc Nga có một câu ngạn ngữ nói rằng, “Đào xới quá khứ, bạn có thể mất một con mắt đấy, nhưng nếu lãng quên quá khứ, bạn sẽ mất cả hai con”. Với tâm niệm đó, một cách khiêm tốn, chúng tôi ước mong cuốn sách này của nhà văn Vũ Thư Hiên được bạn đọc trong và ngoài nước nồng nhiệt đón nhận. Đọc để chiêm nghiệm quá khứ, và quan trọng hơn, để hiểu thêm con đường nào đã dẫn đến hiện trạng đất nước Việt Nam ngày nay.
 
– Trịnh Y Thư/ Văn Học Press
(2022)
 
@@@
 
Sách đã có bán trên BARNES & NOBLE
410 trang, bìa mềm, ấn phí: US$22.00
 
Xin bấm vào đường dẫn sau:
Loi xung toi luc nua dem by Vu Thu Hien, Paperback | Barnes & Noble® (barnesandnoble.com)
 
Search Keyword: Loi xung toi luc nua dem, vu thu hien
 
 

Thursday, February 3, 2022

BÀI THƠ. TUYẾT PHỦ

nguyễnxuânthiệp
 
Ngọn nến cháy trên bàn
một ngọn nến cháy.

Tuyết rơi
như tuyết ngày xưa
ở oklahoma
đâu rồi. chung trà tuyết sơn
không một ngọn nến cháy trên bàn
như trong thơ pasternak. viết cho lara
em. đâu rồi
còn đây. bài trà ca
mùa đông. mình anh
và bầu trời. tuyết phủ
wuthering heights
người đi trong mưa tuyết
mơ về một cánh chim
bên lều cây chuối
ôi basho
và câu thơ haiku. ngày nào
 
khi ở garland 3.2.2022
NXT 

 
Sáng nay, viết bài thơ Tuyết Phủ, bỗng nhớ tới nhiều điều. Xin ghi lại đây…
 
Sáng thứ Hai 23 tháng 2. 2015. Tuyết đầu mùa phủ trắng thành phố Dallas, Texas. Tuyết cũng đã tràn ngập Atlanta, Annandale và khắp các thành phố Miền Đông nước Mỹ. Trong cảnh tuyết phủ mênh mông ấy, lòng kẻ làm thơ này nghĩ tới nhiều thứ, mơ tới nhiều điều trong sách vở và trong cuộc nhân sinh buồn vui trộn lẫn này.
 
Trước hết, nhìn cảnh tuyết phủ im lặng chung quanh, Nguyễn nghĩ tới tiếng quạ trong thơ hài cú của Basho. Ờ nhỉ, thời khắc này được nhìn thấy một bóng quạ đen trên cành phong du cất lên vài tiếng quạ quạ phải chăng lòng mình cũng bớt đi nỗi quạnh hiu. Nhưng điều Nguyễn nghĩ tới nhiều hơn cả vẫn là tiếng ấm nước reo trên bếp lửa. Như sáng nào cùng Dung lần đầu tiên nhìn thấy cảnh tuyết rơi trên thành Oklahoma. Đây là đoạn văn đã viết hồi mới tới Mỹ nhìn thấy cảnh tuyết rơi: Đầu xuân, một bạn văn ở Los Angeles gửi cho gói trà. Trà mang nhãn hiệu Tuyết Sơn, mở ra thơm ngát. Lúc bấy giờ, tuyết phủ trắng thành Oklahoma, nơi tôi ở. Chỉ trong một đêm, phong cảnh đã đổi khác, như trong truyện thần tiên của Hans Christian Andersen. Buổi sáng mở cửa nhìn ra vườn, ngạc nhiên đến sững sờ, vừa cảm động vừa hân hoan. Tuyết, lần đầu tiên nhìn thấy trong đời. Vội vàng vào bếp đun ấm nước. Tiếng nước reo như tiếng gió qua lũng thông vàng. Hương trà bốc lên trong tĩnh lặng sớm mai khi tuyết đã trắng mái nhà, cây cối, bờ rào và những con đường hiu quạnh. Nâng chung trà lên, nóng ấm trong lòng bàn tay. Uống vào một ngụm, nhìn ra tuyết bay, thấy mình là người hạnh phúc trên đời. Thì ra, hạnh phúc vẫn có đấy, dẫu hiếm hoi và nhỏ bé so với những nỗi khổ vô cùng tận của kiếp người…
Và cũng như sáng nào tuyết rơi ở thành Oklahoma, Nguyễn vội vàng đi đun ấm nước. Sẵn có cà phê Starbucks mua từ trước Tết, Nguyễn pha một ly cho mình, hương thơm tỏa trong không khí sáng mai. Chợt nghĩ tới người thơ bên phương trời xa bèn nâng ly cà phê lên mời cùng uống với mình. Ôi, cà phê uống trong cảnh tuyết phủ sớm mai ngon cực kỳ ngon. Nhìn ra ngoài trời tuyết phủ kẻ này mơ tới những ngọn nến cháy trong thơ Boris Pasternak. Cũng như nhớ tới những ngọn nến được thắp lên một đêm tuyết rơi trong câu chuyện của nhà văn Nga nổi tiếng Konstantin Paustovsky. Chuyện kể như sau: Trong Thế Chiến II, một phụ nữ trẻ người Moscow tên là Tatyana Petrovna cùng với con gái Varvara, tản cư về một thành phố nhỏ và ngụ tại nhà một người đàn ông già tên Potapov. Một tháng sau khi Tayana đến, ông Potavov qua đời. Lúc đầu cô không ưa cái thị trấn này, và cảm thấy hối tiếc đã rời bỏ nhà hát ở Moscow để về đây. Nhất là vào những sáng những chiều, lúc thời tiết xấu, lũ quạ kêu quang quác, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trụi lá. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, cô dần quen với ngọn đồi bạch dương và dòng sông uốn lượn bên đồi. Cô cũng đã bắt đầu đi trình diễn ở các trạm quân y trong vùng. Cuối cùng thì cô đâm ra thích cái thị trấn nhỏ bé và êm đềm này, nhất là khi tuyết phủ. Và cô bắt đầu quen sống trong ngôi nhà của một người lạ với những đồ vật lạ. Potapov có một người con trai hiện đang phục vụ trên một chiến hạm trong vùng Hắc Hải. Tayana ngắm nhìn tấm ảnh của anh treo trên tường, cảm thấy đã gặp chàng trai này ở đâu, dường như đã lâu lắm trước cuộc hôn nhân thất bại của cô, nhưng cô không thể nào nhớ ra được.
 
Những bức thư tiếp tục gởi về cho Potapov, tất cả đều cùng một người viết. Tatyana xếp những cái thư ấy trên bàn viết của gia chủ. Một đêm, khi trời đổ tuyết, Tatyana không thể nào ngủ được. Tò mò, cô mở một cái thư ra xem. Người con trai của Potapov là Nikolai cho biết rằng anh vừa hồi phục sức khỏe trong bệnh viện sau khi bị thương nhẹ. Anh ta hy vọng rằng khi rời khỏi bệnh viện anh sẽ có thể xin nghỉ phép về thăm cha già. Người con hình dung ra cảnh vật lúc anh trở về: Tuyết rơi trên những con đường đi tới vườn cây chỗ đình phong ngày nào sẽ được dọn sạch. Anh mơ về lại nhà, lau bụi cây dương cầm và lên dây lại. Anh mơ thấy trên giá đàn vẫn còn khúc mở đầu (ouverture) của tác phẩm “The Queen of the Spades” của Tchaikovsky, và những ngọn nến cháy dở vẫn còn trong giá nến. Thế là sáng hôm sau Tatyana ra dọn sạch tuyết trên lối đi tới vườn cây. Cô cũng sửa lại cái chuông treo ở cửa và mướn người đến lên dây đàn. Cô tìm lại những mẩu nến cháy dở và đem cắm vào giá nến. Và rồi Nikholai được xuất viện. Anh đã về đến ga xe lửa và anh buồn biết mấy khi người trưởng ga báo cho anh biết cha anh đã qua đời. Nikholai trở về đứng trong vườn nhà dưới trời tuyết phủ. Thế rồi anh gặp Tatyana. Cô thân ái mời anh vào nhà.
 
Trong nhà, chuông cửa vẫn hoạt động, những ngọn nến và cây đàn dương cầm vẫn ở đó – mọi vật trước mắt đúng như anh tưởng tượng. Nikholai thắp nến, dạo đàn và cùng ngồi dùng trà với Tatyana. Cô nói dường như cô đã có gặp anh ở đâu đó một lần. 
Đêm hôm ấy, Nikholai nằm ở sopha không chợp mắt. Anh cố thức tận hưởng từng phút giây trong ngôi nhà xưa.
Sáng hôm sau, Tatyana đưa anh ra ga xe lửa. Trước khi anh bước lên tàu, cô bảo anh là hãy viết thư về. Sau cùng, cô nói, cô và anh đã là người một nhà. (Đoạn này viết theo bản dịch của Vũ Thư Hiên)
 
Ôi, những ngọn nến trong đêm tuyết rơi. Và chúng ta có nên nhắc lại những ngọn nến ở sự kiện âm nhạc Woodstock cách đây ngoài năm mươi năm và trong ca khúc Candles In The Rain Melanie đã hát:
Chúng tôi quá gần nhau, không còn khoảng cách / Máu chúng tôi cùng hòa chung trong một vết thương / Chúng tôi cùng đau chung một nỗi đau / Và chúng tôi cất tiếng hát hòa bình thân ái
Vậy xin người hãy cùng nhau đưa cao ngọn nến. trong mưa / Bởi vì nếu không. bóng tối sẽ dâng đầy lòng đêm. Ôi, xin hãy đưa cao những ngọn nến sáng / cho mưa ngừng rơi trên vai áo chúng ta dần khô…
Chúng ta quá gần nhau. không còn khoảng cách / Người thì đến đây ca hát. người đến để nguyện cầu xua tan bóng đêm.
 
Tuyết vẫn còn phủ khắp thành phố. Ngồi một mình, Nguyễn lại nghĩ đến bài thơ Tuyết Xưa của Nguyễn Phan Thịnh (Ôi, bạn Thịnh ra đi cũng đã mươi mười lăm năm rồi!). Bài thơ viết ở Lawton cũng thuộc tiểu bang Oklahoma. Thịnh ơi, đâu rồi những áng tuyết xưa… 
xưa lắm rồi, điệu a-go-go trẻ trung
tíếng đàn guitar bập bùng suốt đêm
chúng ta nâng ly vang đỏ, bên ngọn lửa
đón mừng tuyết rơi trắng hiên
 
Ôi, tuyết rơi tuyết phủ như trong phim Dr. Zhivago. Xin cùng nghe lại khúc nhạc Chanson de Lara (Lara’s Theme). Và thấy lại hình ảnh Yuri và Lara trong ngôi nhà tuyết phủ. Một đêm, Yuri đang ngồi làm thơ bên ánh nến trong khi những con chó sói xuất hiện và ngước mõm tru rân quanh những gốc thông già bên hiên nhà. Một buổi sáng, Yuri và Lara thức dậy, đứng tựa vai nhau vén rèm cửa nhìn ra,thì, ô kìa, như trong thơ William Wordsworth, hoa thủy tiên vàng (yellow daffodils) nở rập rờn trong gió.
 
Nguyễn xin dùng đoạn văn này để kết thúc bài viết với hy vọng chẳng bao lâu nữa thủy tiên vàng sẽ nở khắp vùng đồng cỏ Texas và nắng ấm tràn ngập những ngọn đồi, những con đường của thành phố.
NXT

HẠNH NGỘ BÊN TRỜI ĐẠI LÝ

Nguyên Giác
 
Minh họa. Ann Phong
 
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào. Thêm nữa, có một số độc giả có thành kiến với người Tàu — làm ơn, xin sửa lại, gọi là người Hoa mới đúng, và lịch sự hơn – nếu thành kiến, khi đọc, có thể mất vui. Do vậy, trong truyện này, chúng ta đồng ý rằng địa danh Chợ Lớn sẽ được mã hóa thành Đại Lý, một vương quốc cổ trong truyện Kim Dung. Các độc giả không ưa cường quốc phương Bắc xin tưởng tượng rằng Đại Lý chỉ có trong truyện, chớ đừng nhớ rằng nơi này đã bị nhà Minh thâu tóm từ thế kỷ 14. Thêm nữa, tìm đâu ra một vương quốc thơ mộng như Đại Lý, nơi vua hiền, dân thảo, và là nơi một thời sinh ra các hoàng tử đều là các chàng khờ rất mực si tình. Dù vậy, cũng phải cảnh giác độc giả rằng, truyện này không gay cấn, vì kiểu ông anh tôi là thế. Truyện cũng có thể gọi là hơi buồn, một vài bạn sẽ thấy rất buồn, nhưng ai mà có thước đo chính xác nào cho nỗi buồn, hay bất kỳ cảm thọ nào. Nói theo kiểu ông anh thường nói là, đã bảo, đời là khổ mà.
 
Còn nhân vật nữ nữa. Dĩ nhiên không thể nói thực rằng ngoài đời nàng tên gì. Bởi vì có những cái đẹp không thể gọi tên được. Chữ luôn luôn gợi tới hình ảnh theo thành kiến, làm mất cái hồn của sự thật. Chữ nào cũng thế, cũng đầy gánh nặng quá khứ. Thí dụ, trong đại danh từ, nếu gọi nàng là “tiểu thư” thì độc giả nghĩ ra hình ảnh khác, nếu gọi đúng kiểu truyền thống bình dân là “cô xẩm nhỏ” thì độc giả nghĩ ra hình ảnh khác nữa. Bởi vậy, từ thời rất lâu xa, khi mới viết truyện và làm thơ, tôi đã nghĩ “vô ngôn” là gần sự thật nhất. Nhưng nơi đây, gọi cho đơn giản đi, theo kiểu ông anh tôi gọi nàng, rằng nàng là A Châu, mượn tên một nhân vật trong truyện xưa. Nghĩa là, đơn sơ, hồn nhiên. Tôi đã từng vài lần chứng kiến anh tôi đứng sững sờ khi gặp nàng trên các hè phố Học Lạc, Phùng Hưng, Hải Thượng Lãn Ông… Tới khi tôi giựt tay, anh mới tỉnh lại. Thời gian đó là vài năm sau 1975, khi nhà nước mới tịch thu nhà của ba tôi trong cư xá Hỏa xa, đã đẩy cả nhà chúng tôi vào một căn chung cư quận 5.
 
Nàng A Châu nói được cả tiếng Hoa, lẫn tiếng Việt. Anh em tôi không hiểu tiếng Hoa (riêng tôi, một năm học với Giáo sư Lưu Khôn chẳng tới đâu, tôi khá tối dạ, xin thú thật), nhưng tôi đoán tiếng Việt của nàng giỏi hơn tiếng Hoa của nàng, cũng y hệt trẻ em Việt sinh tại Hoa Kỳ, tiếng Việt sẽ kém và tiếng Anh sẽ giỏi. Thêm nữa, nàng bán vải ở chợ, giao thiệp cả tiếng Hoa và Việt, nhưng hẳn nhiên là nói tiếng Việt nhiều hơn. Nói rằng nàng bán vải, nhưng chớ nên nghĩ rằng nàng lanh lợi kiểu giang hồ phim bộ. Thực sự, bạn nào đã từng vào Chợ Lớn (xin nhắc lại, trong truyện này sẽ đổi thành Đại Lý) đi tìm mua vải ở Chợ Soái Kình Lâm hay Chợ Đại Quang Minh đều sẽ thấy các chị bán vải gốc Hoa thời bốn thập niên trước đều xinh đẹp, nói chuyện nhã nhặn, thái độ cực phẩm – y hệt như các nữ diễn viên Thượng Hải trong phim Hồng Kông, chứ chẳng hề như các nữ diễn viên đằng đằng sát khí trong phim Bắc Triều Tiên.
 
Do vậy, từ rất lâu rồi, mỗi khi nhớ tới nàng, tôi luôn luôn nghĩ tới một A Châu trong chợ vải Hàng Châu, cũng là một địa danh thơ mộng trong thơ Đường. Và hiểu là vì sao anh tôi cứ ngẩn ngơ khi gặp nàng. Thực tế, nàng đẹp hơn tất cả những gì trong phim, trong thơ và trong truyện (kể cả truyện các bạn đang đọc). Tại sao như thế, có một thời, anh tôi kể rằng hình ảnh nàng cứ hiện ra trong tâm và trước mắt hoài. Thế là anh khờ dại (anh nói thế), dùng pháp quán bất tịnh để lìa xa, để xóa sổ ký ức về nàng, để đẩy nàng lùi vào hư vô quá khứ. Pháp quán bất tịnh là pháp Phật dạy, vậy mà xua hình ảnh này ra khỏi trí nhớ cũng không nổi, lại hỏng thêm, cứ nhớ hoài. Thế rồi anh tôi quán vô thường, tất cả thế gian đều trôi theo ngọn gió vô thường, lá khô rụng mấy mùa, hết mấy mùa nắng rồi qua mấy mùa mưa, vẫn thấy như dường hình ảnh nàng đã khắc sâu vào tâm khảm. Làm thế nào nhỉ, phải quên đi chớ. Chỉ có cách tỉnh thức thường trực, rằng cái được thấy là không có thực tướng, rằng nụ cười khúc khích của nàng bay theo ngọn gió chiều là không có thực tướng, rằng dáng cô xẩm nhỏ bên chợ vải được nhớ tới là không có thực tướng, rằng cái phảng phất trong tâm là không có thực tướng… Anh tôi thỉnh thoảng tâm sự như thế, chỉ vì anh từng có một năm vào làm công quả và học kinh kệ trong một ngôi chùa Đồng Nai — chính điều này đã đưa anh tôi vào một ám ảnh mới, anh kể là như dường anh không thể tới gần các thiếu nữ được.
 
Hai anh em tôi cũng quen với người anh của nàng A Châu; anh này trong truyện sẽ được đặt tên là Vô Kỵ. Anh này hơn anh tôi có lẽ một hay hai tuổi, lanh lợi, làm nghề sửa đồng hồ trên phố Phùng Hưng, phía nhìn qua bên hông Chùa Ông Bổn, nơi này đúng ra là miếu, vì thờ vị thần người Hoa tên là Ông Bổn, một loại thần thổ địa cát cứ, trị an một khu vực nào đó. Anh tôi ưa thích đánh cờ với ông anh này (tôi đoán, anh tôi có khi giả vờ để có thể thân với nàng A Châu hơn). Sau 1975, người Hoa dè dặt đối với người Việt, thường không thố lộ tâm tư. Nhưng thân nhau qua bàn cờ tướng thì tuyệt vời. Bạn hãy hình dung rằng hai anh thanh niên ngồi dán mắt xuống bàn cờ tướng, nhâm nhi cà phê (cà phê vợt nhé, hải ngoại không thấy đâu), không gì hạnh phúc hơn (nói cường điệu, thực sự mỗi người đều có mối lo riêng; trong khi anh tôi lo nhiều hơn anh Vô Kỵ gấp nhiều lần, vì không rõ anh Vô Kỵ có biết rằng anh tôi thích cô em A Châu của anh hay không).
 
Tôi nhận ra là, anh Vô Kỵ thường nhường cho anh tôi đi cờ trước. Hầu hết, anh tôi đánh cờ thua anh Vô Kỵ (tôi đoán, thua cờ cũng là âm mưu?). Thường, có dịp thì tôi đứng nhìn, đóng vai thầy bàn. Đặt tên anh là Vô Kỵ có khi không chính xác, vì theo tôi nhớ, Vô Kỵ trong truyện Kim Dung tuy giỏi võ nhưng rất là khù khờ. Còn anh này rất là lanh lợi. Tuy ngồi đối diện anh tôi, đôi khi với tôi, với bàn cờ bên hông đường Phùng Hưng, mắt anh ngó thấu cả hai đầu đường, hình như cũng ngó được xuyên qua các bờ tường để thấy hết mấy khu phố chung quanh. Cũng có thể tai anh Vô Kỵ thính, có thể nghe xa vài khu phố, vì thỉnh thoảng anh ngẩn người ra, như dường lắng nghe gì đó rồi như sực tỉnh lại. Sau này tôi nghĩ, có lẽ anh tự hình dung như đang nghe tiếng gió Đài Loan đang lay động các tấm bạt che nắng chiều ở trước các tiệm nơi góc đường Hải Thượng Lãn Ông. Chỉ đoán thôi, có trời mà biết. Phải hiểu rằng anh mơ tới Đài Loan.
 
Còn nhân vật “anh tôi” thì, ngưng chút nhé, tôi do dự. Phải đặt tên gì nhỉ? Thôi thì, đặt tên anh là Các vậy. Nói Các, tức là trích từ nhan đề truyện Kim Các Tự của một nhà văn Nhật Bản. Tôi không nghĩ anh tôi mê tác phẩm tiểu thuyết này, nhưng anh Các có một phần hao hao như nhà sư trẻ trong truyện: một khi tới gần một thiếu nữ anh ưa thích thì tự nhiên thấy có một ngôi chùa lạ hiện ra trước mặt, ngăn cách giữa anh và các nàng. Anh Các kể lại cho tôi như thế, và bảo đó là bí mật khó hiểu. Thôi thì, bây giờ, khi viết thành truyện thì phải kể ra. Tôi từng nói giỡn với anh Các, nếu thế, anh Các sẽ không bao giờ ôm hôn cô nào được. Kiểu của anh Các nói, và tôi thấy rõ, anh say mê nàng A Châu và thấy rằng anh đã hân hạnh được gặp nàng giữa các chân trời vương quốc Đại Lý này.
 
Chỗ này cần nói, không hẳn là anh Các bị truyện Kim Các Tự ám ảnh, vì nhiều độc giả khác, như tôi chẳng hạn, đọc xong là quên liền. Nói thế, không phải anh Các với tôi là chân trời đối nghịch, vì hai anh em vẫn chia sẻ nhiều kỷ niệm, nhiều suy nghĩ chung. Thí dụ, một lần, anh Các dẫn tôi tới thăm một nhà sư tên là Đồng Nguyên (mà anh tôi quen gọi là anh Thịnh, bây giờ nhà sư này tịch lâu lắm rồi, nơi một cái chùa nào ở Long Thành hơn hai thập niên trước), khi nhà sư này về ngụ một thời gian tại nhà ba mẹ anh Thịnh ở trong một hẻm ở khu xóm đường Trương Tấn Bửu. Lần đó, trong khi ngồi uống cà phê hè phố, nhà sư dạy anh Các và tôi rằng, nè ngó thử xem, cái “tôi” ở đâu, không ở tay, không ở chân, không ở đầu, không ở cảm thọ, không ở ý nghĩ, không ở hôm qua, không ở ngày mai, tìm hoài không ra, đúng không… Còn nhớ, lần đầu nghe thầy Đồng Nguyên nói thế trong khi ba anh em ngồi ở một quán cà phê đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, người tôi như bay bổng mất vài ngày, dứt bặt mọi nghĩ ngợi, người cứ lâng lâng. Về nhà, tôi hỏi anh tôi, thì anh Các cũng cùng cảm giác như thế. Cơ hội gần nhà sư này không nhiều, vì thầy vào Đại Tùng Lâm, rồi vào sâu trong rừng Long Thành để khai hoang dựng am, dựng cốc. Có một lần tôi nói với anh Các, này nhé, nói kiểu nhà chùa, về chị A Châu nhé, rằng không hề có chỗ nào trên người chị, dù là tóc, là mắt, là tay, là chân…. gọi được là chị. Biết tôi đùa giỡn, anh Các cười lặng lẽ, xa xăm. Nhưng đó, theo tôi, chính là sự thật, theo những gì đã đọc, đã nghe, đã học, và thực tập. Nhưng thôi, hơi đâu mà cãi với anh mình.
 
Còn một nhân vật nữa liên hệ tới truyện này. Đặt tên gì cho thích hợp nhỉ? Gọi tạm là chú Phong vậy. Tức là mượn tên nhân vật Trương Tam Phong từ truyện xưa. Nhưng cụ Trương râu dài ba chòm, còn chú Phong mày râu nhẵn nhụi, hai anh em tôi gặp ở khu phố Đại Lý này lúc đó là khoảng gần 60 tuổi, nghe nói là từng là nhà giáo và cũng từng viết cho báo Đài Loan, hay báo Sài Gòn. Mấy chuyện này dè dặt lắm, chẳng ai nói với ai, nhưng dần dà, hai anh em tôi gặp là đi cùng anh Vô Kỵ vào thăm Miếu Nhị Phủ, tức Chùa Ông Bổn, thường thấy chú ngồi nơi ghế đá. Cần nói rằng, Chùa Ông Bổn không thờ Phật, chỉ thờ Ông Bổn, thờ Bát Tiên và những ai trong thần thoại Trung Hoa mà tôi chẳng biết tới. Hiển nhiên, anh Các cũng chẳng biết tới các vị thần đó. Nói kiểu Việt Nam, lẽ ra gọi là đình thì đúng hơn, nhưng họ gọi chùa thì cũng chẳng sao, rồi nghe cũng quen. Chú Phong điềm đạm, mang mắt kính, làm gì cũng chậm, kể cả khi đi quân cờ. Một số người trong bếp đi ngang qua là chào chú Phong. Tôi đoán, nhà giáo hay nhà báo lúc nào cũng được tôn trọng. Những lúc đó, tôi nghĩ nếu gọi là Thầy Phong thì đúng hơn, thầy giáo mà. Nhưng rồi tôi cứ gọi là chú, theo anh Vô Kỵ. Nhưng anh Các gọi chú là Thầy Phong.
 
Có thêm một số nhân vật khác liên hệ trong truyện, nhưng sẽ lược đi. Bởi vì, nếu kể nhiều quá sẽ thành truyện dài, hay truyện vừa. Thời đó, ngày đi rất chậm, đêm đi rất buồn, gió gần như chẳng muốn lay động, bởi vì đất nước vừa mới thống nhất cho nên trái đất lười biếng xoay quanh mặt trời. Một vài người khác cũng trong chợ vải, họ nói với nhau bằng tiếng Hoa, thế thì tôi biết gì mà kể. Thời đó, hai anh em tôi sống qua ngày bằng cách khiêng đồ — đủ thứ nhé, chung quanh là nhiều chợ, Chợ Kim Biên, Chợ Thiếc, mấy chợ vải, Chợ Bình Tây… Thường khi chẳng cần ra chợ, chỉ cần giúp khiêng vài xe gắn máy từ hè phố lên mấy tầng lầu giúp vài người nhờ vả trong chung cư để cuối tuần, cuối tháng nhận ít tiền, là kể như tạm đủ tiền qua ngày. Công việc thực sự không nhiều lắm, vì kinh tế thời đó ai cũng dè dặt, nhiều năm trước thời kỳ mà sau này gọi là Đổi Mới. Hễ làm vừa đủ là kiếm cớ nghỉ. Lúc đó tôi ưa đọc sách Phật học, đọc ngày đêm. Nằm trên căn chung cư lầu 5 đọc sách là tuyệt vời. Đất nước đã qua mấy đợt đốt sách, cho nên đọc sách còn là một cách, tôi nghĩ, tự biến mình trở thành bảo tàng văn hóa cho đất nước. Anh Các không đọc siêng như thế, anh ưa la cà (tôi đoán, chỉ vì nàng A Châu). Kể thêm nhiều nhân vật cũng không thích hợp, vì có ai nhìn thấy như anh em tôi rằng Quận 5 nơi Chợ Lớn này đã thành một cổ trấn có tên là Đại Lý đâu.
 
Thường sáng sớm, có một lớp võ của môn phái gì đó, hình như Đường Lang, học nơi sân của Chùa Ông Bổn. Tôi có cảm giác chú Phong cũng là một thầy võ (tôi chỉ đoán sảng thôi, vì tôi có vào sân ngó họ luyện tập gì đâu). Đoán như thế, vì chú Phong có vẻ như cái gì cũng biết, kiểu văn võ song toàn. Thực ra, trong những ngày lễ hội, tôi tránh vào các ngôi chùa nơi đây, vì những ngày đó đông quá, một phần vì người Hoa thấy mình không biết nói tiếng Hoa là dè dặt, phần vì nhang khói mù mịt. Trong khi các chùa Việt đốt nhang chỉ cầm một cây, hay ba cây nhang là đủ, nơi đây nhiều người cầm cả bó nhang. Không hiểu nghĩa là gì. Trong khi đó, chỉ có anh Các đã tập thêm một thói quen mới: ưa đi chùa trong cổ trấn Đại Lý.
 
Có lần, trong một lễ gì đó, hình như là Đông Chí, gần Tết Nguyên Đán, anh Vô Kỵ và nàng A Châu rủ hai anh em tôi vào Chùa Ông Bổn chơi. Tại sao rủ cả tôi? Tôi nghĩ, nếu chỉ rủ riêng anh Các, thì nàng A Châu sẽ mắc cỡ. Thêm nữa, có tôi đi theo, cần gì thì sai vặt cũng được. Nhìn anh tôi như người trên mây thôi. Nhang khói có lúc làm tôi ngộp thở, nhưng thấy rõ anh tôi rạng rỡ khi nhìn khuôn mặt nàng A Châu qua các làn khói hương bay lên, hiển nhiên anh Các đã quên hết cả đất trời. Kể lại cái gì bây giờ? Kể theo lời anh Các sau này kể lại. Đúng là khuôn mặt người Hoa, một thiếu nữ trong phim Thượng Hải, Hồng Kông xa xưa. Nàng mặc áo bà ba, nút gài bên trước vai, quần và áo cùng loại vải màu xanh chấm hoa. Thời đó, xứ Đại Lý này không ai mặc xường xám, vì đất nước đang tiến lên xã hội chủ nghĩa (may quá, tiến chậm lắm, rồi tiến cũng không nổi). Nếu nàng A Châu mặc xường xám, hiển nhiên là không thể có nữ diễn viên nào đẹp hơn. Dĩ nhiên, tôi xem nàng như bà chị mình rồi. Quy ước là thế. Tôi không biết nàng cầm nhang khấn gì, nhưng tôi không dính gì tới ngôi Chùa Ông Bổn, đúng ra là Miếu Nhị Phủ, vì, tôi tự nhủ, mình đã tự hứa sẽ không quy y chư thiên hay chư thần nào. Còn anh Các thì mặt cứ như khờ ra.
 
Khi tôi có cơ duyên ngồi đánh cờ với chú Phong, thường là những buổi trưa nắng vàng, không bao nhiêu người trong miếu. Nơi sân rộng, nhìn dưới màu nắng hệt như không có thật. Mọi chuyện y như trong sách cổ, im, vắng. Chú Phong gầy, tóc bạc lưa thưa, đôi mắt lộ ra tinh anh sau cặp kính. Chú gầy thì dễ hiểu, cũng như tôi, chỉ anh Vô Kỵ là to con một chút. Thời đó, cả nước Việt Nam mình thiếu ăn. Nhưng tôi nghĩ, gầy là đẹp. Vì hình ảnh nàng A Châu như dường không bao giờ có da, có thịt – nói thế, không có nghĩa là toàn xương, chỉ muốn nói rằng nàng y hệt như thiếu nữ trong tranh cổ Trung Hoa. Có lúc tôi nghĩ, chỉ cần nàng A Châu ngồi khảy đàn tỳ bà, anh Các có thể vỡ tim mà chết. Nhưng, trời ạ, mỗi lần nàng mỉm cười là tôi thấy anh Các muốn đứng tim rồi. Chỗ này xin nói thiệt giữa chúng ta: bạn chớ nên nghĩ rằng nàng đẹp thướt tha như cô Điêu Thuyền bên cạnh Lữ Bố được vẽ trên mặt kính các xe hủ tiếu, cũng không phải đẹp kiểu một vài nhà báo bây giờ ưa gọi là “nhan sắc bom tấn”; thực ra, nàng không có đủ ba vòng tiêu chuẩn, gọi đúng phải là mình hạc, xương mai. Nghĩa là, chạm tay vào bất kỳ chỗ nào cũng đều thấy xương. Không chỉ như thế, để nói riêng cho các bạn biết, nàng còn hơi cải lương, không phải kiểu Nam Bộ mình, mà là kiểu cải lương Đại Lý, kiểu như “mùa thu lá bay” hay tương tự. Nói thẳng thì anh Các sẽ buồn: nàng A Châu xứ Đại Lý không hề có thần thái vương giả. Tôi nghĩ và không dám nói với anh Các, rằng nàng A Châu của anh có thể chưa từng đọc thơ Lý Bạch hay Đỗ Phủ.
 
Đôi khi, sự dè dặt của chú Phong có lúc làm tôi nghi ngờ, có thể chú là gián điệp Đài Loan. Nếu thế, có thể tuần sau, hay tháng sau là chú sẽ biến hẳn vào sương mù của các truyện tiểu thuyết Z-28. Các bạn biết rồi, cổ trấn Đại Lý này không hề có tuyết rơi như trong truyện Kim Dung. Nóng kinh khủng. Hai anh em tôi ở lầu 5 của một chung cư nơi đa số là người Hoa. Do vậy, thỉnh thoảng, tôi cầm vài cuốn kinh vào Chùa Ông Bổn, tìm một góc cho mát để ngồi đọc sách, phần lớn là nghiền ngẫm các sách của Thầy Thích Thanh Từ. Không thuần túy là vào những năm đó, cầm sách Phật học đi ngoài phố không bị chú ý. Chỉ đơn giản với tôi, tôi luôn luôn nghĩ rằng mình có thể sẽ tắt thở đêm nay, do vậy cần đọc rất nhiều Kinh Phật và tu dưỡng rất nhiều để không bao giờ hối tiếc. Lúc đó, có lúc tôi nghĩ là sẽ tìm một góc núi để về ngồi cho tới cuối đời. Sau này nghiệm ra, tôi mê đọc nhiều hơn mê tu, xin thú thật như thế. Có lúc tôi cầm cuốn Thiền Quan Sách Tấn, có lúc cầm cuốn Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận, và nhiều sách khác. Nghĩa là, cần nghiền ngẫm cuốn nào là cầm theo cuốn đó, hễ tiện là đọc. Anh Các khác hẳn, anh ưa niệm Phật hơn là đọc sách Thiền. Tôi từng nói với anh, rằng tôi đang tập Thiền theo sách Tiểu Chỉ Quán. Anh Các chẳng để ý gì, anh nói anh niệm Phật là đủ.
 
Điều tôi ngạc nhiên là nàng A Châu không để ý tôi đọc gì, chỉ có anh Vô Kỵ và chú Phong thỉnh thoảng gật gù, nhìn tôi rồi nhìn các sách tôi cầm theo. Có khi thấy chú Phong gật gù ngó cuốn sách tôi cầm, tôi cười nói, rằng cháu quen rồi, có khi đọc một cuốn sách cả chục lần, có khi đọc một đoạn văn khó tới cả trăm lần, không cầm tới sách là tự thấy có lỗi. Chú Phong luôn luôn ra dạng ông giáo già, cứ gật gù. Tôi cứ nghĩ chú Phong là một kiểu thiên về Nho gia, hay Lão Giáo, vì tôi không nghĩ ngôi đình thờ thần có gì liên hệ tới nhà Phật. Vậy mà, chú Phong rất mực uyên thâm, hình như gì cũng biết. Nhiều thập niên sau, vào nghề báo ở California, tôi biết rằng nhà báo thường đọc nhiều hơn bất kỳ ai, vì nghề buộc như thế, và đọc trở thành thói quen. Do vậy, chú Phong biết nhiều là dễ hiểu.
 
Có một lần, hai anh em tôi ghé chợ vải thăm nàng A Châu. Tôi đứng xớ rớ một chặp, tự nhiên thấy như dư thừa. Tôi nói với chị rằng tôi cứ phải cầm một cuốn sách thì đi đứng nằm ngồi mới vững. Nhưng nàng A Châu không chú ý gì tới lời tôi nói, hiển nhiên là không nghe gì rồi. Bởi vì, tôi đoán, trong mắt chị lúc đó chỉ có anh Các. Thế rồi, tôi đứng ra hè phố, ngó qua lại, để mặc cho anh Các nói chuyện với chị. Khi về, tôi thấy anh Các bước đi như say nắng, nhưng khuôn mặt rất vui. Tôi hỏi, có sao không, anh bước cẩn trọng, coi chừng té. Anh Các nói chẳng sao. Tôi hỏi, giọng kiểu như giỡn, hồi nãy em bước ra hè phố, là để anh nắm tay chị A Châu, nắm tay chưa, liều mạng đi chớ. Anh Các nói chưa, nhưng anh luôn luôn thấy như có một ngôi chùa hiện ra lơ lửng giữa anh và nàng, như màn sương ngăn cách, như có sức mạnh nào xô anh đứng xa ra. Tôi nói với anh Các, ảo giác đó là nghiệp đấy. Tôi nói đại thôi, chớ mình biết gì mà nói. Nhưng tôi tự thấy lỗi mình, lẽ ra không nên nói giỡn, vì cần giữ chánh niệm, phải cẩn trọng từng chữ, phải luôn luôn tỉnh thức.
 
Tôi thấy, với anh em tôi, chú Phong đánh cờ không có ý tranh thắng. Tôi nghiệm ra, luôn luôn chú muốn giữ tới nước cờ hòa. Hễ tới lúc nào, hết cờ, tôi nói, “Chú ơi, huề nhe,” là chú Phong cười, lộ ra niềm vui, nơi cằm có nốt ruồi có sợi lông rung rinh. Tôi nghĩ, nhiều ván, lẽ ra chú phải thắng cờ, sao lại muốn giữ nước cờ hòa. Không biết anh Các có thấy như thế không. Có lúc, tôi hỏi. Chú Phong ngẩng đầu lên, nhìn vào mắt tôi, cười cười, đáp, “Ông Phật dạy rồi, hãy buông bỏ ý muốn hơn thua, vì người thấy được thiện pháp thì họ chẳng muốn nói năng gì, chẳng muốn tranh biện gì, chẳng muốn hơn thua gì.” Tôi giựt mình. Đó là ngôn phong nhà Thiền. Tôi không mong đợi nghe ngôn phong này trong ngôi miếu thờ vị Thần Ông Bổn. Một niềm hạnh phúc ngấm trong tôi. Đó là những lời rất ít nghe ngoài đời thực. Tôi nghĩ, chú Phong đó, đang hiện thân ra một ông già xứ Đại Lý để nói lời nhà Thiền cho tôi. Không biết anh Các có thấy như thế không.
 
Một ngày dịp Tết Nguyên Đán, không nhớ là mùng mấy, chợ vải chưa mở ra bán, nghe anh Vô Kỵ và chị A Châu rủ anh em tôi ra phố Hải Thượng Lãn Ông xem múa lân của đội Nhơn Nghĩa Đường. Chính xác, tôi không biết nên gọi là múa lân hay múa rồng, lúc đó nghe là múa lân sư rồng, vì nhìn thì thấy là có lân, có sư tử, có rồng, có trèo cột pháo, và vân vân. Tiếng trống thôi thúc nơi các đầu ngả đường, trong khi các hè phố đều đông người. Khi đoàn lân di chuyển, bất chợt tôi thấy nàng A Châu nắm tay anh Các kéo chạy theo đoàn lân. Đó là lần đầu tiên tôi thấy họ nắm tay. Có vẻ như anh Các để yên, không giựt tay ra theo kiểu anh nói là anh thường bị ám ảnh như có gì ngăn cản. Tôi và anh Vô Kỵ tà tà đi bộ phía sau, chẳng vội gì, thêm nữa, múa lân năm nào chẳng có, đâu có gì lạ đâu.
 
Chiều về, tôi hỏi anh Các, anh nắm tay chị A Châu có thấy mềm mại không. Anh gật gù, im lặng. Tôi nói thêm, anh có siết chặt tay chị không. Anh Các im lặng. Tôi nói thêm, anh Các thử đưa tay lên mũi ngửi xem, tay anh có mùi hương con gái đó. Anh cũng im lặng, quay mặt nhìn ra phố. Tôi không biết là chiều và tối hôm đó, anh có nghe lời tôi đưa tay lên để ngửi xem có mùi hương giai nhân hay không. Nhưng trọn hôm đó, không thấy anh rửa tay, rửa mặt gì. Tôi nghĩ, nếu sáng hôm đó, anh bất chợt liều mạng ôm chặt nàng A Châu ngay trên hè phố, kiểu như tình nhân che chở cho nhau khi nghe tiếng pháo làm chị sợ, có thể nàng A Châu đêm hôm đó sẽ ôm khăn gói vào căn chung cư của anh em chúng tôi, và nói sẽ không rời anh Các nữa. Chuyện đó dĩ nhiên không xảy ra, tội nghiệp anh Các.
 
Đêm hôm đó, lúc nửa khuya, tôi tỉnh ngủ, nhìn quanh không thấy anh Các đâu. Len lén bước tới cửa, nhìn hé ra ngoài, thấy anh đang đứng ngoài lan can, nhìn trời xa. Trời đêm, gió lạnh… nhưng tôi không gọi anh vào làm chi, chỉ lặng lẽ vào ngủ lại, không ngờ chỉ một cái nắm tay kéo chạy theo đoàn lân lại làm anh mất ngủ.
 
Một buổi sáng, tôi không thấy anh Vô Kỵ dọn bàn đồ nghề ra làm việc. Tôi đoán, có thể anh bệnh. Thêm nữa, cũng có thể công việc sửa đồng hồ lúc đó không nhiều. Nhưng không khí trên đường phố đã khác rồi. Từ một nơi góc đường (xin nhớ, vẫn là một góc phố của cổ trấn Đại Lý), tôi thấy chị A Châu và anh Các nơi đầu hẻm nhỏ, lối vào chợ vải, phía đối diện Soái Kình Lâm. Rồi chị nắm tay anh Các kéo vào phố vải. Hôm đó, không nhiều việc, cũng không ai nhờ tôi khiêng xe lên lầu hay khiêng xuống phố. Tôi nghĩ, thôi để tới chiều sẽ rủ anh Các qua thăm chú Phong, cũng cả tuần rồi chưa gặp.
 
Tới trưa, anh Các về, mặt mũi buồn hiu. Tôi hỏi, chuyện gì vậy. Anh kể, nàng A Châu kéo anh Các vào một góc hẻm phố vải. Chung quanh người Hoa như dường biến mất rất nhiều. Chị A Châu nắm tay anh Các, lật ngửa bàn tay phải của anh, ngó xem chỉ tay của anh Các (tôi đoán, có thể nàng mới đọc sách nào dạy về chỉ tay). Thời đó, con gái nắm tay con trai, đứng nơi hẻm nhỏ xứ Đại Lý, ngó qua ngó lại để xem chỉ tay, là kinh khủng lắm (tôi nghĩ, đó là ngôn ngữ rõ ràng lắm, nhưng tôi biết anh Các khờ lắm, chẳng bao giờ hiểu nổi). Anh Các kể, chặp sau, nàng A Châu nói để em vẽ bùa lên bàn tay anh, rồi chị lấy tay làm như vẽ trên không khí, rồi trên lòng bàn tay anh Các. Tôi hỏi, có vẽ bùa thiệt không. Anh nói, không biết, nghe sao kể vậy. Tôi hỏi, vẽ bùa gì. Anh Các kể cho tôi, rằng nghe nàng A Châu nói là bùa Lương Chúc. Tôi thắc mắc, mình chỉ nghe nói về bùa Ông (tức bùa của ngài Quan Công), bùa Lỗ Ban… nhưng chớ hề nghe tới bùa Lương Chúc. Tôi hỏi, tay anh có cảm giác gì không, có khi chị A Châu giỡn, vì em nghe nói vẽ bùa là phải cầm nhang vẽ lên không khí. Anh Các nói, không biết. Dĩ nhiên, tôi biết anh không biết, vì anh lên mây rồi.
 
Tôi hỏi, vậy rồi sao nữa. Anh Các kể thêm, tự nhiên trong đầu anh nảy ra ý nghĩ, “phải chi em hun anh một cái…” Thế rồi, bất chợt, anh Các kể tiếp, chị A Châu “hun một bên má của anh” làm người anh như nóng bỏng. Sau đó, nàng A Châu, anh kể, quay lưng, bước vội đi. Tôi nói với anh Các, sáng nay cũng không thấy anh Vô Kỵ làm việc, chắc là bận gì. Tôi hỏi anh Các, anh có thấy chị A Châu ứa nước mắt không. Anh nói, không để ý. Thiệt sự, anh có để ý gì đâu. Tôi nói giỡn, lẽ ra anh không nên khởi ước muốn như thế, mà phải ước muốn táo bạo hơn, thí dụ, “phải chi em hôn anh đắm đuối như xi nê…” thì may ra, oai lực của tâm ý anh có thể làm nàng A Châu hôn anh như trong phim. Anh Các nói, làm sao mà ý nghĩ mình trong đầu có thể làm chuyện xảy ra như ý được. Anh nói, anh chỉ nhớ nhất là màu áo của nàng A Châu sáng hôm đó màu xanh da trời, chấm hoa. Tôi đáp, người lành như anh chẳng bao giờ có ý nghĩ gì dễ gây nghiệp.
 
Đó là lần cuối anh Các gặp nàng A Châu. Hai anh em tôi không còn cơ hội gặp chú Phong, anh Vô Kỵ và nàng A Châu. Họ biến đi y hệt như ngọn gió chiều. Những con phố Đại Lý vắng hơn, các chợ không ồn ào nhiều như xưa, những trưa nắng đã buồn hơn, nỗi lo ngại bay lơ lửng trước mắt mọi người. Anh Các kể rằng anh đi xe đạp khắp Sài Gòn, Gia Định trong nhiều ngày, một cách bâng quơ, hy vọng nhìn thấy nàng A Châu, hay anh Vô Kỵ, chú Phong. Tuyệt vọng, họ đã tới và đi y hệt như các nhân vậy trong truyện cổ. Không cho anh biết, tôi cũng tự lặn lội tìm trong các chợ đồng hồ, các góc phố cờ tướng, nhưng anh Vô Kỵ đã biệt tăm. Trong Chùa Ông Bổn chẳng ai buồn trả lời những câu tôi hỏi về chú Phong. May ra, nếu tôi nói tiếng Hoa, may ra có ai biết sẽ nói. Thêm nữa, có lẽ nhiều ngàn người đã bỗng dưng biến mất, và chỉ có hai anh em tôi là chưa hiểu hết mọi chuyện.
 
Thời gian sau, tôi vượt biên được qua Indonesia, rồi sang Mỹ. Lúc đó được tin anh Các dọn về Pleiku làm rẫy trồng trà, hễ có tiền trong túi là về lại xứ Đại Lý của chúng tôi, dòm ngó rồi hỏi thăm, và rồi lại đi lang thang các nơi. Nhiều năm sau nữa, khi phương tiện Internet bắt đầu phổ biến, anh Các gửi email kể rằng, anh đã từng đi tour sang Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan… với hy vọng gặp nàng A Châu, hay anh Vô Kỵ. Tôi biết, tìm như thế là tuyệt vọng. Thế giới mênh mông. Tôi hỏi, anh Các có thấy chị A Châu vẽ bùa trên lòng bàn tay anh có linh thiêng gì hay không. Anh nói không biết, bây giờ chỉ niệm Phật cả ngày và đêm, cầu nguyện bình an cho anh, cho chị A Châu và cho khắp thế giới này — và cho tất cả mọi người cùng vào Tịnh Độ. Anh Các kể, anh tìm đủ thứ sách cũ và mới, gặp đủ thứ hạng người trên giang hồ, tại Việt Nam và tại những nơi anh đi theo tour sang chơi, rằng người Hoa có kiểu vẽ bùa trên lòng bàn tay hay không, rằng có thầy bùa nào thờ vị thần Lương Chúc hay không.
 
Tôi đã nghĩ ra một điều, nhưng không dám nói rõ với anh. Tôi đắn đo, nghĩ tới, nghĩ lui. Tôi muốn anh Các nên quên đi, những gì của quá khứ nên đẩy luôn vào quá khứ. Tuy nhiên, mình là phận em, không thể nói những gì như là dạy đời với anh mình. Tôi có lúc nghĩ rằng anh sẽ về lại ngôi chùa ở Đồng Nai, hay vào một góc núi nào để học Phật, để không bao giờ bị quá khứ ám ảnh nữa, nhưng anh vẫn lang thang bụi đời để tìm một hình ảnh đã biến mất. Quá khứ hiện ra trước mặt là không tốt, có thể gọi là bệnh hoạn, tôi do dự nghĩ như thế.
 
Có lúc, tôi dẫn Kinh Phật ra, viết trong email cho anh rằng, hãy nghĩ rằng tất cả những gì anh thấy và nghe về chị A Châu, về anh Vô Kỵ, về chú Phong, về cả cái cổ trấn Đại Lý của chúng ta, thực ra chỉ là những cái được thấy và được nghe, nghĩa là tất cả hình ảnh và âm thanh đó chỉ hiện ra trong khoảnh khắc trong tâm của anh Các, và anh sẽ không bao giờ gặp lại lần nữa vì từng khoảnh khắc sau xô đẩy khoảnh khắc trước. Nghĩa là, tất cả những gì anh Các nghĩ về chị A Châu không còn có thực nữa, vì chỉ là quá khứ tâm mờ nhạt. Nghĩa là, tất cả những gì được thấy và được nghe chỉ là bóng dáng của pháp trần, chỉ hiển lộ trong gương tâm có khoảnh khắc thôi, và thực tướng trong tự tánh là vắng lặng và rỗng rang, vì chỉ là những khoảnh khắc sao băng trong tâm.
 
Năm 2014, khi chính phủ Trung Quốc đưa tàu giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển Đông quậy phá, tìm dầu trên biển Việt Nam. Hàng chục tàu nhỏ của Việt Nam bao vây, không cho tàu kia tìm dầu. Nhiều cuộc biểu tình trong nước từ Nam ra Bắc phản đối chính phủ Trung Quốc. Tôi lo sợ là chiến tranh giữa hai nước sắp bùng nổ. Giấc ngủ của tôi không còn bình yên. Tôi lại ở trong nghề báo, nên hễ thức dậy bất kỳ giờ nào, dù là nửa khuya hay 2 giờ sáng, tôi đều mở Internet ra đọc tin, xem có thể đã có chiến tranh ở Biển Đông. Anh Các gửi email cho tôi, lúc đó anh ở Pleiku, cũng đầy lo ngại. Anh viết rằng, anh nghĩ nếu nàng A Châu còn sống (và một người hiền lành như nàng nhất định là phải sống thọ), có thể nàng đang ở Hồng Kông hay Hoa Lục, có thể đã có chồng con, và khi chiến tranh bùng nổ, con nàng sẽ bị động viên để gây chiến với Việt Nam. Tôi trả lời, anh đừng nghĩ ngợi gì, vì nghĩ nhiều chẳng tới đâu, chỉ loạn tâm. May mắn, rồi mọi chuyện Biển Đông cũng lặng sóng.
 
Bây giờ thì anh Các đã hơn tuổi cổ lai hy rồi, hẳn là phải chuẩn bị sẵn sàng để khuất núi. Anh cho tôi biết anh vẫn liên tục niệm Phật, niệm ngày đêm, nhưng vẫn thỉnh thoảng nhìn thấy hình ảnh nàng A Châu trong xứ Đại Lý của chúng tôi năm xưa hiện ra. Anh không thể quên được ngay cả màu áo xanh của nàng, huống gì tới nụ cười, tới cái nắm tay, tới lá bùa nàng đã dùng tay vẽ lên lòng bàn tay của anh. Lúc đó, tôi email về, viết cho anh rằng, anh hãy nên nghe những tiếng niệm Phật của anh vang trong tâm, cũng như tất cả những âm vang trong đời, và kể cả những âm vang trong lời nàng A Châu nói với anh năm xưa, giải thích theo sách Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán, bản dịch của Thầy Thanh Từ, cuốn sách mà anh biết là tôi gối đầu giường năm xưa, trích đoạn như sau: “Khi tai nghe tiếng tu Chỉ, Quán. Tùy khi nghe tiếng, nên xét tiếng như âm vang. Nếu nghe tiếng êm tai thích ý không khởi lòng yêu mến, nghe tiếng trái tai nghịch ý không sanh tâm giận hờn, nghe tiếng không thích, không trái chẳng khởi tâm phân biệt, ấy là tu Chỉ. Thế nào trong khi nghe tiếng tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này : Những tiếng nghe không thật có, chỉ do căn, trần hòa hợp sanh nhĩ thức, kế sanh ý thức gắng khởi phân biệt, nhân đây có tất cả pháp phiền não thiện, ác v.v… gọi là nghe tiếng. Phản quán tâm nghe tiếng không thấy tướng mạo, nên biết người nghe tiếng và tất cả pháp cứu kính không tịch, ấy là tu Quán.” Anh không trả lời email đó.
 
Còn chuyện cuối cùng nữa. Tôi nghĩ rằng lá bùa Lương Chúc được nàng A Châu vẽ trên lòng bàn tay anh Các năm xưa là ám chỉ tới mối tình Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài. Tôi không thể viết điều này trực tiếp về cho anh Các. Bởi vi đoạn kết mối tình của chàng Lương và nàng Chúc là cái chết và họ đã hóa thành đôi bướm. Tôi không hề mong anh Các và nàng A Châu trở thành bướm. Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Những gì đẹp nhất tôi học được, đều đã viết hết cho anh Các rồi.
 
Truyện này, nếu muốn viết ngắn hơn, có thể là nên xóa bỏ nhân vật chú Phong. Tuy nhiên, tôi nghĩ, nhân vật như chú cần riêng cho anh Vô Kỵ và nàng A Châu sau này có đi đâu cũng vào được Chánh Pháp, vì chú Phong tinh thông Phật học. Và nếu có ai, đọc xong truyện này, khi gấp trang sách lại, nhìn thấy một hay hai cánh bướm bay lên, xin hãy nhớ rằng tất cả những gì được thấy và được nghe, trong tận cùng là vắng lặng và rỗng rang.
 
NGUYÊN GIÁC