Sunday, March 6, 2016

DÒNG SÔNG KỲ DIỆU. HAY CUỘC HỘI NGỘ GIỮA VĂN XUÔI Y UYÊN VÀ THƠ PHẠM CAO HOÀNG



tạp bút Nguyễn Âu Hồng

Sông Ba

Sông Ba là một dòng sông kỳ diệu. Nó vừa êm đềm thơ mộng vừa “gờn gợn trên sóng bạc những căm hờn”(Phạm Cao Hoàng), vừa đầy ắp trăng sao vừa “gầm lên cuồn cuộn máu”(Khuyết Danh).

Xuất phát từ đỉnh Ngọc Linh của Kontum, Sông Ba chảy “phía sau lưng” hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, xiên xiên từ bắc xuống nam qua Gia Lai, Phú Bổn thuộc Tây Nguyên. Khi vào lãnh địa Phú Yên, Sông Ba tiếp nhận thêm chi lưu Sông Hinh rồi đổi tên thành sông Đà Rằng khi chảy qua đồng bằng Tuy Hòa.

Thời chiến Sông Ba-Đà Rằng chảy qua những vùng giao tranh ác liệt, đã chứng kiến nhiều trận đánh đẫm máu và một cuộc “di tản chiến thuật” đầy bi thương. Trong dòng nước thấm đẫm phù sa của nó có cả nước mắt và máu. Mùa lũ, nước tuôn chảy dữ dội, lẫn trong củi mục cành khô có cả xác gia súc và xác người.

Dòng sông kỳ diệu này hưởng hai chế độ mưa: mưa Tây Nguyên và mưa đồng bằng ven biển miền Trung. Chính vì vậy mà lắm lúc vùng ven biển mưa không lớn nhưng “nước đã lên mênh mông” (Y Uyên). Nắm vững chu kỳ mùa khô-mùa lũ của dòng sông, cư dân sống ven bờ vùng hạ lưu đã khai thác những “gò cát pha” là những gò nổi ngay giữa dòng sông để trồng hoa màu và lúa ngắn ngày. Lúa bắp, hoa màu và cả hoa Tết trồng trên những gò nổi này (tiếng địa phương gọi là soi) ít khi dùng đến phân bón vì được phù sa bồi đắp hằng năm.
Ngoài những ruộng lúa, soi bắp, soi dưa rải rác dưới sông, hai bên bờ, dọc các lũy tre làng còn có những gò cát rộng lớn trải dài với hoa mầu đủ loại mà nhiều nhất là bí đỏ. Xã Hòa Bình có bãi bí rộng lớn nhất vùng nên bị một câu ca dao châm chọc, “Hòa Bình là Hòa Bình còi/ Có ba bông bí cũng đòi đi phiên”. Nhưng bông bí đâu phải là loại rau canh tầm thường, “Thương chồng nấu cháo le le/ nấu canh bông bí, nấu chè hạt sen”.

Dòng sông kỳ diệu hưởng hai chế độ mưa nên đồng bằng của nó có khi được phù sa bồi đắp đến hai lần trong một năm. Đây là yếu tố thiên nhiên thuận lợi giúp duy trì độ phì nhiêu và vệ sinh đồng ruộng. Một yếu tố vô cùng quan trọng tiếp theo là nguồn nước tưới. Sông Ba cung cấp môt nguồn nước tưới dồi dào qua hệ thống thủy nông đập Đồng Cam.
Bằng sức sáng tạo và lao động cần cù, người dân Phú Yên đã khai thác hợp lý các yếu tố thiên thời-địa lợi để xây dựng đồng bằng Sông Ba-Đà Rằng thành một vựa lúa lớn nhất, thơm dẻo và thơm thảo nhất Miền Trung.
Khi chỉ còn vài cây số nữa là ra đến biển qua cửa Đà Diễn (1), một cửa sông rộng đến bát ngát, sông Đà Rằng được một chiếc cầu nối hai bờ nam- bắc. Đây chính là chiếc cầu với những vòm sắt đen đủi (Y Uyên) và những nhịp cầu đen buồn bã (Phạm Cao Hoàng).
Dòng sông kỳ diệu với chiếc cầu dài nhất Miền Trung tạo điều kiện cho cuộc hội ngộ diệu kỳ của văn và thơ. Bài này chỉ gói gọn văn xuôi Y Uyên và thơ Phạm Cao Hoàng.
”Tuốt bờ sông bên kia rải rác vài chiếc chuyền bất động mơ hồ. Dòng nước mỗi lúc như thêm dữ dội xoáy quanh những chân cầu bao dây kẽm gai…Dòng nước quá mạnh. Con vật trôi mau…Thân một cây dừa trôi sau con bò đã bang bang qua cầu…Chỉ có tiếng nước xoáy…”  (Trích “Tiếng Hát Của Người Gác Cầu”-Truyên ngắn Y Uyên)

Mùa nước lớn nước xuôi cuồn cuộn
bóng chim qua soải cánh mù tăm
mây xuống thấp cùng mưa buồn vỡ chết
anh lặng thầm nay đã bao năm

Hỡi những nhịp cầu đen buồn bã
có buồn không những sớm mưa qua
có se sắt như lòng tên đãng tử
đã dừng chân đứng lại bên bờ
có heo may như gió đầu tháng chạp
thổi đầy trời, thổi giạt bóng mây xa”
                (Trích “Những Nhịp Cầu Đen Buồn Bã” thơ Phạm Cao Hoàng)
… “Cách đây bốn năm hôm lòng sông còn cạn khô, nước đọng trong những vũng sâu rải rác, trâu bò còn đi thung thăng dưới chân cầu. Bây giờ nước đã ngập hết những vết tích từ bãi cát đầy vết xe nhà binh ở đầu cầu đến những gò cát nổi cao như những cù lao xanh um cỏ..” (Y Uyên- Tiếng Hát Của Người Gác Cầu)
… “Mùa nước cạn cát trùng trùng cuối bãi
cỏ rêu kia xa cách đời nhau
anh dõi mắt mà trông niềm ly biệt
như dòng sông khô nước dưới chân cầu”
                       (Phạm Cao Hoàng-Những Nhịp Cầu Đen Buồn Bã.)
…”Mưa chợt đổ xuống dồn dập…Ngọn núi cao ngất đỉnh đội một phiến đá vuông, ở cuối khúc quanh vừa hiện ra mờ mờ đã biến mất…”
                       (Y Uyên-Tiếng Hát Của Người Gác Cầu.)
”Bạn ta, bên kia sông là núi
núi của ngàn năm đá vọng bóng ngươi đi
núi tiếp sông và sông tiếp biển
sông tiễn người qua bên phân ly”
                      (Trích “Hành Phương Đông”-Thơ Phạm Cao Hoàng)
…”Chết mìn hôm trước đó. Một cái xe lam, một cái xe nhà binh, chết sáu mươi mấy người…Chết vậy mà chỉ tét bụng, đứt chân, mất đầu chớ không nát bấy như hồi ở Dốc Đá. Mấy xác người vô thừa nhận có một người đàn bà đầu ăng xuonngs sông tới hồi vớt lên mớ tóc dài vẫn còn như cũ.”
                      (Trích “Bão Khô”-Truyện ngắn Y Uyên)
…”Sông ngậm ngùi vỗ sóng thiên thu
mùa bão tới gầm lên hồi bi thiết
gờn gợn trên sóng bạc những căm thù
bởi máu đã nhuộm hồng sông nước.”
                      (Phạm Cao Hoàng- Hành Phương Đông)

Y Uyên viết “Tiếng Hát Của Người Gác Cầu” và ”Bão Khô” năm 1966, Phạm Cao Hoàng sáng tác “Những Nhịp Cầu Đen Buồn Bã” và “Hành Phương Đông” năm 1971. Tuổi tác chênh nhau năm năm, thời điểm viết về dòng sông và chiếc cầu cũng chênh nhau tương tự. Y Uyên rời Tuy Hòa nhập ngũ và tử trận ở đồi Nora, Bình Thuận năm 1969; ít lâu sau Phạm Cao Hoàng tốt nghiệp sư phạm về dạy ở Tuy Hòa. Người đi, kẻ đến (về), cả hai từng qua nhiều năm sống ở Tuy Hòa, từng nhiều lần qua lại cầu Đà Rằng. (Phạm Cao Hoàng qua lại nhiều hơn vì quê anh ở Phú Thứ xã Hòa Bình cách cầu khoảng mười cây số).
Dòng sông cùng với chiếc cầu phản ánh nhiều mặt cuộc sống cũng như cuộc chiến ở hai bờ.
Nhà văn Y Uyên mượn dòng sông và chiêc cầu làm nhân chứng cho những trang viết. Thế còn nhà thơ, làm thơ mà cũng cần nhân chứng sao? Nếu không, giải thích sao đây về cuộc hội ngộ diệu kỳ giữa văn xuôi Y Uyên và thơ Phạm Cao Hoàng như những phần vừa trích?
Nhà văn Y Uyên và nhà thơ Phạm Cao Hoàng, hai chàng tuổi trẻ tinh anh phát tiết, không chỉ cùng đi trên một chiếc cầu, cùng nhìn xuống một dòng sông mà còn gặp nhau trên con đường sáng tác văn học, cùng nhận được thông tri bí mật từ nguyên lý sáng tạo. Đây là điều chỉ những bậc tài hoa mới có cơ may ngàn năm một thuở.
Jan 2013 - Dec 2015

Viết thêm:
Phần trên là cuộc hội ngộ lạ lùng giữa văn xuôi và thơ, hơn bôn thập niên trước.
Gần đây xuất hiện một bài thơ viết về Sông Ba cũng đấy máu và nước mắt:

TỔ KHÚC SÔNG BA
Sông Ba nghiêng nghiêng tìm hướng xuống Đà Rằng
nghiêng về phía những đồi lau hoang mạc
Qua những buôn làng xơ xác
mái nhà túp lá che thân
Qua những buôn làng trù phú
nhà dài một tiếng chinh ngân.

Sông Ba ánh lên nghìn ánh mắt
Cõi lòng u uẩn hận căm căm
Tây Nguyên bất khuất ra hờn uất
Tiếng thác gầm theo tiếng núi gầm.

Sông Ba gầm lên cuồn cuộn máu
Nước hờn xô đổ bờ đất cao
Ô hay nước mắt tuôn thành máu
Sóng quặn lòng ai sóng cuộn trào!
KHUYẾT DANH (2011)

Mời đọc lại mấy khổ thơ của Phạm Cao Hoàng trong Hành Phương Đông (1971)
“bạn ta, bên kia sông là núi
núi của ngàn năm đá vọng bóng người đi
núi tiếp sông và sông tiếp biển
sông tiễn người qua bến phân ly

sông ngậm ngùi vỗ sóng thiên thu
mùa bão tới gầm lên hồi bi thiết
gờn gợn trên sóng bạc những căm thù
bởi máu đã nhuộm hồng sông nước.
Phải chăng đây là cuộc hội ngộ bình thường của thi ca? Có thể kẻ khuyêt danh kia “thấy sang bắt quàng làm họ”. Nhưng, lẽ nào từ thế kỷ trước sang thế kỷ sau, bốn thập niên qua, Sông Ba-Đà Rằng vẫn tiếp tục hết “gầm lên hồi bi thiết”(PCH), lại “gầm lên cuồn cuộn máu”(KD)?
Dòng sông tiếp tục phản ánh cuộc sống đôi bờ từ thượng nguồn đến hạ lưu, tiếp tục làm nhân chứng.
Nhưng, lẽ nào chiến tranh qua lâu rồi mà dòng sông vẫn chưa được êm đềm thơ mộng, vẫn thiếu ánh trăng soi? Lẽ nào vẫn tiếp tục “gờn gợn trên sóng bạc những căm thù”(PCH) từ năm 1971 kéo dài đến năm 2011 “sóng quặn lòng ai sóng cuộn trào”(KD)?
Vết thương chiến tranh đã lành chưa mà lại khơi dòng lệ, đến nỗi “nước nắt tuôn thành máu”(KD), sau bốn mươi năm?
Jan 2013 – Dec 2015
Nguyễn Âu Hồng

Bản in trên Thư Quán Bản Thảo chúng tôi đánh nhầm là Đà Nông- cửa sông Bàn Thạch. Ngoài ra còn có một lỗi đánh máy ở câu áp cuối, xin sửa lại là sóng cuộn trào.


No comments:

Post a Comment