Thursday, August 27, 2026

26 BÀI HAIKU. GỞI HƯƠNG ĐỒNG CỎ NỘI

Nguyễn Đức Nhân
 
Trà hoa cúc
 
           * Tặng 2 bạn Trần Quang Ngân, và, Nguyễn Minh Phúc
 
1.
Ngày đã tàn, đêm bắt đầu
cây phong lá đỏ
sẫm màu tím than
 
2.
Cô bé chuyển trường xa
vắng tiếng đàn ghi ta
hoa kiều hùng phai sắc
 
3.
Kìa, bàn tay mủm mỉm bé thơ
rình bắt con chuồn chuồn đỏ
phiến mây trời ngẩn ngơ
 
4.
Hoàng hôn, mây đỉnh núi ửng hồng
tia nắng cuối ngày nán lại
nghe chuông chùa thu không
 
5.
Sấm sét nổ không xa
cô bé con khóc thét
mưa chạy trên nóc nhà
 
6.
Cuối đông mùa rét đậm
trên cành cây trụi lá
sương móc đã co mình
 
7.
Chống rét, nhen bếp lửa hồng
ngồi ôm tượng Phật nhỏ
lửa chập chờn đêm đông
 
8.
Khuya, pha ấm trà sen
rót vào chiếc chén sành xưa cũ
tỏa mùi hương rất trắng
 
9.
Chùa đóng cửa lâu rồi
thoảng nghe tiếng chuông còn lảng vảng
trên mái ngói rêu phong
 
10.
Buổi sáng tinh mơ
con chuồn chuồn dường như chết cóng
đôi cánh đẫm sương đêm
 
11.
Mạng nhện giăng hàng rào
bẩy được nhiều sương móc
con nhện giờ nơi đâu
 
12.
Ôi, bông sen tật nguyền
không thể ngước mắt ngắm trời xanh
chăm chăm nhìn đáy nước
 
13.
Kia kìa vừng trăng
nhìn vừng trăng sáng láng
đừng nhìn nơi ngón tay
 
14.
Ngày ra đi, tượng Phật mĩm cười
năm sau quay về, tượng Phật mĩm cười
sau tơ giăng mạng nhện
 
15.
Người tiễn người đi
bàn tay không rời
héo hắt tà huy
 
16.
Chiều muộn, trên đồi cao
cỏ cây đang tĩnh lặng
hít thở cùng trăng sao
 
17.
Mưa bụi kéo dài
từ từ cành hoa trĩu nặng
hoa xuyến chi nghiêng đầu
 
18.
Con ong ốm yếu lạc vào phòng tôi
chiều âm u tắt nắng
làm sao định hướng về
 
19.
Nhìn nhau từ tấm bé
cũng vừng trăng ấy, đêm nay
rạng rỡ giữa trùng dương
 
20.
Mặc ai đi, ai ở
trên bức tường rêu hoang phế
cây dương xỉ mướt xanh
 
21.
Chẳng do chuông đồng
Chẳng do dùi gỗ, đủ duyên va chạm
chuông ngân dài qua sông
 
22.
Bên bìa rừng, người đàn bà mót củi
gom thành bó vác đi
vác cả bóng tà huy
 
23.
Nơi giếng nước đầu làng
bao đời trao ánh mắt
nên duyên thầm trăng quê
 
24.
Hương bưởi hương cau
đượm tình làng nghĩa xóm
ơi ới gọi nhau
 
25.
Trong đài hoa
hạt sương ngủ muộn
soi bóng mây qua
 
6.
Chẳng bao giờ
chẳng bao giờ em có thể
dẫm lên cái bóng chính mình
2026
NĐN
 

Wednesday, August 19, 2026

SAN PHI. ĐI GIỮA THỰC VÀ MƠ



Đọc ‘tháng năm là mộng đang đi’ của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh
 
1. Khúc Lục Bát Tạ Ơn
 
Chữ dậy men hương ngọt còn đọng lại trên vân tay, tôi lạc bước vào thế giới thi ca của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Ở đó, mỗi cảm xúc tinh khôi là một dòng chảy ký ức, kiến tạo nên một vũ trụ nội tâm, nơi thời gian dường như ngưng đọng. Nơi trái tim nghe từng thớ sóng mơ, nơi vầng trăng soi rọi. Chị là một thi sĩ của tình yêu, của nỗi nhớ, và của những điều không thể gọi tên.
 
Câu thơ mọc cánh rung động vô hình. Thơ của chị không được viết bằng mực, bằng giấy, mà bằng gió, bằng mây, bằng tia nắng lung linh trên tán lá. Hay những hạt sương đêm còn đọng lại trên cánh hoa, là những giấc mơ lãng đãng, những mối tình như dòng suối chảy lúc êm đềm, khi trào cuộn.
 
​Chị thả hồn mình vào từng chữ, những câu chữ nhún nhảy biết nói bài thơ bỗng chốc nở hoa, để niềm vui mong manh trở nên thuần khiết. Chị yêu cái đẹp, dù đó là cái đẹp của hạnh phúc hay cái đẹp của sự tan vỡ.
 
​Lời ngỏ của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh là một sự tri ân sâu sắc, thể thơ lục bát đã gắn bó từ thuở ấu thơ, thấm đẫm trong tiềm thức và trở thành một phản xạ tự nhiên của cảm xúc. Lục bát được ví như “miếng cơm mớm” nuôi dưỡng tâm hồn, đồng hành cùng chị qua tháng năm.
 
​Trong lời ngỏ, tác giả cũng khẳng định sức quyến rũ riêng biệt của lục bát, dù mang vẻ đẹp chân phương như ca dao hay thâm trầm, sang trọng trong thi ca. Cuối cùng, tập thơ được gom lại như một món quà từ tấc lòng, tri ân đối với thể thơ truyền thống này.
 
​Trăng và nắng vẫn đi, “tôi” luyện giọt đời hư không thành lời chân thành. Với tinh thần tràn đầy lòng biết ơn, chị đã khiêm nhường dâng hiến mình cho thơ ca. Đây là một phần đặc biệt, của chùm thơ “Lục Bát Tạ Ơn”, gây ấn tượng mạnh mẽ với giọng điệu nữ tính và nhẹ nhàng. Chị đã dùng những hình ảnh gần gũi đến lạ, từ những điều nhỏ bé, để dệt nên một không gian thơ đầy chất mơ, khiến người đọc như nghe thấy tiếng lòng mình đang gọi.
 
​Những hình ảnh không cầu kỳ, rất chân thực, như một lời tâm tình nhỏ nhẹ. Mỗi bài thơ là lời cảm tạ chân thành với những điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại ý nghĩa vô cùng.
 
​Thiên nhiên: “giấy trắng mây,” “nắng trong,” “hạt sương,” “dòng sông trôi,” “mùa thu trổ sắc vàng.”
 
Con người: “nụ cười,” “tiếng cười thân quen,” “vẫy tay,” “bước đi.”
 
Quê hương: “thân cò lội,” “tàu lá chuối,” “gói xôi mẹ ủ,” “ruộng gầy,” “câu hò.”
 
Chị biết ơn cuộc đời, thơ ca, văn học, lịch sử và tri kỷ: “Ơn ngày bao dung,” “Ơn nụ cười,” “Ơn trần gian,” “Ơn thơ,” “Ơn câu lục bát,” “Cảm xúc hóa sinh câu thơ,” “Ơn quê hương,” “Giờ học sử,” “Ơn thân cò lội” hay những bài thơ dành tặng bạn bè, những nhà văn, nhà thơ như Lê Phương Châu, Duyên, Du Tử Lê…
 
Trong giấc tôi mơ giấc trôi… Hái trăng nhặt bóng nơi nghìn bước chân. Trong thơ chị hình ảnh vừa thực, vừa mơ: “giấc mây,” “mộng chân trời,” “xa gần mơ thực một ta.” Đó là một trạng thái tâm hồn tĩnh tại, lặng thinh giữa đêm sâu, nhưng lại dào dạt cảm xúc với chữ. Những hạt thơ chứa đựng bao mơ hồ, lửng lơ, nhưng lại vô cùng cuốn hút, một tâm hồn thanh tịnh. Điều này gợi nhớ đến lời Phật dạy về “Hiện Pháp Lạc Trú” mà chị đã đề cập: “Mộng đời bặt tiếng bi ai / Ta hay là giọng ngân dài? Hư vô…”
 
​Uyển chuyển, mềm mại giọng thơ, trang sách nở nụ biếc tơ chuông thầm thì. Tác phẩm lột trần trụi về niêm luật, đôi khi chỉ với 2-3 chữ mỗi câu, ngắt dòng đầy dụng ý như một tiếng thở dài, một khoảng lặng của cảm xúc, ví dụ: “Em đi / Em bước / Vô vàn / Thanh Lương.” Cách viết này tạo nên nhịp điệu riêng, thể hiện sự phóng khoáng trong tâm hồn người làm thơ. Từng con chữ thức giấc như lời thủ thỉ, tâm tình của một người nữ dịu dàng, tinh tế đang chiêm nghiệm cuộc đời, ngắm nhìn bầu trời tự do, cuốn đi những lớp áo lá và tự tìm cho mình câu trả lời.
 
Hôm qua hạt lệ thâu canh
Sang nay đọng lại trên cành, hạt sương
Hôm qua, lắm mộng đêm trường
Hôm nay ngơ ngác bên đường, bình minh
Hóa ra còn mặt đất xinh…
Hôm qua ngó lên trời xanh
Sợ cái mênh mông làm thành cỏ mộ
Hôm nay nhìn lên lần nữa
Mầu xanh ơi lộng gió lòng tôi
Ăn thua là ở nụ cười…
(Trích ​“Ơn Nụ Cười”)
 
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh một đêm dài thâu canh đầy nước mắt. Hạt nước cựa mình không tan biến mà đọng lại, hóa thành hạt sương trên cành lá. Nỗi buồn, sự đau khổ của đêm đi qua ánh chiều “lắng lọc” và trở nên tinh khiết, dịu dàng hơn khi ngày mới đến. “Hôm qua” là một đêm dài mệt mỏi với “lắm mộng đêm trường,” nhưng “hôm nay” thì mọi thứ đều nhẹ tênh, bình yên. Ta thấy một sự ngơ ngác đầy bất ngờ trước vẻ đẹp của buổi bình minh, khi mọi lo âu đã tan biến, nhường chỗ cho cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc khi nhận ra “còn mặt đất xinh” biết bao. ​“Hôm qua” là nỗi sợ hãi về sự mênh mông của trời xanh, sợ sẽ trở thành “cỏ mộ,” một biểu tượng của sự kết thúc. Nhưng “hôm nay,” khi nhìn lại, bầu trời xanh trở nên lộng gió. Và rồi, tất cả những uyển ngữ diệu kỳ dẫn đến một câu kết thật ngắn gọn mà sâu sắc: “Ăn thua là ở nụ cười.” […]
 
Mộng mị đôi lần cau mặt
Ngờ tang thương hóa bảy sắc cầu vồng
Nhạn chao một tiếng ngàn không
Trời xanh. Tóc trắng. Mơ mòng cố hương
Nụ hoa đêm. Vỡ canh trường
Giật mình tỉnh giấc. Con đường đã xa
Dặm ngàn đổ lệ tài hoa
Chân sương đầm đẫm. Dấu là thiên thu…
(Trích ​“Dặm Thơ”)
 
Câu thơ “mộng mị đôi lần cau mặt” và sau đó bất ngờ chuyển sang “tang thương hóa bảy sắc cầu vồng” phải chăng là sự chấp nhận, biến nỗi đau thành cái đẹp và hy vọng. Nỗi buồn của kẻ tha hương được lồng vào hình ảnh “nhạn chao một tiếng ngàn không” và “Trời xanh. Tóc trắng. Mơ mòng cố hương,” gợi lên nỗi buồn sâu lắng của người con xa quê, hoài niệm về những điều đã cũ. Câu thơ “Nụ hoa đêm. Vỡ canh trường / Giật mình tỉnh giấc. Con đường đã xa” thể hiện sự thức tỉnh đột ngột, nhận ra rằng mọi thứ đã thay đổi, không thể quay lại được nữa. “Dặm ngàn đổ lệ tài hoa” và “Chân sương đầm đẫm. Dấu là thiên thu” là sự mất mát, nuối tiếc cho những điều đã qua, đã mãi mãi đi vào dĩ vãng.
 
Một ngàn sợi nắng vân vi
Buộc nhau một chữ yêu vì. Tóc tơ
Em gọi anh là Giấc Mơ
Em gọi anh là bài thơ cuối cùng
Hỏi xem trời đất mung lung
Có ai ghi chữ thủy chung như vầy
Giấc Mơ là để vòng tay
Ta ôm cho trọn phút giây mộng gần
(Trích ​“Ơn Tóc Tơ”)
 
Ngàn sợi nắng làm cho không gian trở nên lung linh. Những điều nhỏ bé và lớn lao đều xoay quanh một chữ “yêu.” “Em gọi anh là ‘Giấc Mơ,’ chỉ vì anh là tất cả mà em có, bởi vì anh là sự kết thúc ngọt ngào cho mọi kiếm tìm.” Anh chính là bến đỗ, là điểm đến cuối cùng. “Một ngàn sợi nắng vân vi / Buộc nhau một chữ yêu vì. Tóc tơ” là một hình ảnh tài tình. Nắng, mây, và tóc tơ – những thứ mong manh nhất lại được buộc chặt bằng một chữ yêu, cho thấy tình yêu này không cần những lời thề non hẹn biển, mà đơn giản là sự gắn kết từ những điều dịu dàng nhất, bền chặt một cách tự nhiên như ngày mai mặt trời sẽ mọc. Khi em hỏi “Trời đất mung lung / Có ai ghi chữ thủy chung như vầy,” đó là một lời khẳng định. Giấc mơ ấy là có thật, được ôm anh, được sống trọn vẹn trong tình yêu. Đó là lời thủ thỉ của một trái tim đang yêu, trân trọng trong từng khoảnh khắc.
 
2.  Vẻ Đẹp Biến Tấu Của Thơ Lục Bát
 
Những dòng thơ lục bát biến tấu của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh trong phần hai “Đồng Dao Ta” mang một vẻ đẹp rất riêng, rất đỗi tinh tế. Chị như đang thêu dệt những mảnh lụa cảm xúc, mềm mại lại lấp lánh suy tư. Tôi cảm nhận được ngay sự uyển chuyển trong cách chị chơi đùa với vần, với nhịp. Vẫn là thể thơ lục bát truyền thống, nhưng qua bàn tay biến hóa, trở nên tự do hơn rất nhiều. Chị gọi đó là biến tấu, nhưng với tôi lại là một mê trận thực sự. Người đọc dễ dàng lạc lối bởi cách chị giăng bày những thủ pháp ẩn dụ siêu thực, kết hợp với thủ thuật thả chữ, nhả ý đầy tinh tế. Những bạn đọc mới lâu nay vẫn lân la với vần điệu khuôn sáo cũ. Điểm son là ý tưởng táo bạo mang đến cho người đọc cảm thức mới. Những câu thơ không đi theo lối mòn bởi quy tắc “sáu-tám” và kéo dài, đứt đoạn một cách ngẫu hứng mà vô cùng hợp lý, như những âm vực bất ngờ trong một bản nhạc. Sự biến tấu này là để tạo ra một không gian rộng mở cho cảm xúc, để mỗi từ, mỗi chữ đều có thể bung tỏa hết vẻ đẹp vốn có.
 
​Trong “Nhịp xuân”, cái “nhịp đồng hoa em mẩy hạt” hay “hát thệ chiều em lẫy thắm tà buông” đều gợn lên một bức tranh mùa xuân đầy sức sống. Hay trong “Quê cũ”, chỉ với những hình ảnh giản dị như “sân gạch,” “bóng rơi,” chị đã dậy khơi nỗi nhớ quê hương da diết.
 
“Đúng nơi bóng ấy. Tôi ngồi” có nhịp 2/4 (Đúng nơi / bóng ấy. / Tôi ngồi).
 
“Mỗi sáng trông lên biển trời. Quê cũ” có nhịp 3/3
 
Câu sáu chữ và câu tám chữ, với vần điệu và thanh điệu không đồng thuận tuân theo quy tắc nhất định. Dấu chấm biến đổi linh hoạt tạo nên sự hòa hợp giữa cảm xúc bên trong và không gian bên ngoài, thể hiện sự tĩnh lặng, vừa mở ra tâm trạng hoài niệm, đau đáu khi hướng tầm mắt về phía biển trời quê hương. Câu thơ “Đúng nơi bóng ấy. Tôi ngồi” là một điểm nhấn quan trọng kết nối giữa thiên nhiên và con người. “Bóng ấy” chính là cái bóng của chủ thể, của “tôi,” gợi lên sự hiện hữu tĩnh lặng và khiêm nhường. Việc “tôi ngồi” đúng nơi cái bóng rơi xuống.
 
​Điều khiến thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh trở nên đặc biệt hơn cả chính là những chiêm nghiệm triết học sâu sắc được lồng ghép một cách nhẹ nhàng. Chị thường đặt ra những câu hỏi về sự tồn tại, về cái tôi, tình yêu và duyên số.
 
“Chiều ngậm một nửa mặt trời / Nửa kia còn lại cho đời bình minh”
 
​Hình ảnh mặt trời chia đôi độc đáo và mang tính biểu đạt cao. Một nửa thuộc về chiều tà, gắn với sự tàn phai; nửa còn lại tiếp tục hành trình mang đến bình minh cho cuộc đời. Điều này thể hiện triết lý về sự tồn tại song song của hai thái cực đối lập trong cuộc sống: Niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và tuyệt vọng, ánh sáng và bóng tối. Cuộc sống luôn là sự đấu tranh giữa hai mặt này. Những câu thơ như “Trách chi cười nửa nụ cười” hay “Thốt nhiên còn một nửa tôi”, gợi lên sự mất mát. Cái triết lý ấy không hề nặng nề, khô khan mà thấm đẫm trong từng câu chữ, như những lời thủ thỉ tâm tình với chính mình và bạn đọc.
 
​Đặc biệt, trong “Đồng Dao Ta”, những câu thơ như “Cho ta giờ lại có mình” hay “Năm mười… ta trốn đi đâu” thể hiện một sự tự vấn nội tâm mạnh mẽ. Chị tìm kiếm sự hòa hợp, sự đủ đầy trong một thế giới đầy biến động. Và có lẽ, câu trả lời không phải là tìm kiếm ở đâu xa, mà là trở về với chính mình, chấp nhận “một” mình với ta để tìm thấy bình yên.
 
Hóa ra mình đã lạc nhau
Bao năm tìm bóng mà đâu với hình
Cho ta giờ lại có mình…
Ngồi xuống với nhau tình tự
Cõi buồn xưa nhập cõi chữ âm thầm
Tạ nhau, hai cõi tình thâm.
(Trích “Đồng Dao Ta”)
 
​Một tiếng thở dài đầy nuối tiếc, nhưng cũng là sự chấp nhận cái “lạc” – lạc về khoảng cách không gian và lạc lối của tâm hồn. Câu “lại có mình” ở đây thật quý giá, là sự trở về với chính mình, với những cảm xúc và ký ức sau bao năm xa cách. Ngồi xuống “tình tự” với nhau, đối diện với nỗi buồn, là “cõi buồn xưa” đã nhập vào “cõi chữ âm thầm” để trở thành chất liệu tạo nên những vần thơ. Cuối cùng, “Tạ nhau, hai cõi tình thâm” nghe nhẹ nhàng mà thanh thoát, êm dịu mà sâu sắc. Thơ là như phải thế, mang trong mình vẻ đẹp của sự uyển chuyển, của cảm xúc thuần khiết, để rồi lắng đọng sâu sắc.
 
​Với những biến tấu lục bát độc đáo, nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã mở ra một hướng đi mới cho thể thơ này, thể hiện sự sáng tạo không giới hạn. Dù cách tân về vần và nhịp, thơ của chị vẫn giữ được âm hưởng thiết tha, sâu lắng vốn có của thể thơ truyền thống, đồng thời hòa hợp một cách tự nhiên với tư duy thơ hiện đại.
 
3.  Cuộc Đối Thoại Với Thời Gian
 
“Tháng Năm Là Mộng Đang Đi” không chỉ là một tựa đề mà còn là lời tự vấn xuyên suốt Phần Ba của tập thơ, nơi tác giả bóc tách từng lớp thời gian để tìm về một khái niệm trừu tượng: Liệu thời gian có phải là một thực thể sống động, có hình hài, có cảm xúc? Sự bám víu và trăn trở không ngừng ấy đã tạo nên một dòng chảy triết lý, kết nối những câu thơ đầy ám ảnh. Cảm xúc ấy rõ ràng nhất trong bài thơ:
 
Đâu ngờ thuở ấy mong manh
Sáng nay chợt nắng, giật mình, hoa xưa…
Nụ đơm từ buổi xuân thơ
Vàng hoa chín muộn. Bây giờ. Mới hay.
(Trích “Mùa Đi”)
 
​Câu “giật mình” khi “Sáng nay chợt nắng, giật mình, hoa xưa…” tạo ra một cú chạm cảm xúc mạnh mẽ. Đó là sự ngạc nhiên, sự thức tỉnh khi nhận ra những điều xưa cũ vẫn còn đó, không hề phai nhạt. Hình ảnh “Nụ đơm từ buổi xuân thơ / Vàng hoa chín muộn” là một ẩn dụ tuyệt vời. Những nụ hoa từ thuở ngây thơ, non dại giờ đây đã “chín muộn,” trở thành những đóa hoa vàng rực rỡ. Điều này gợi lên cảm giác về sự trưởng thành, về những giá trị của tuổi trẻ mà phải đến khi trải qua dặm dài cuộc sống, ta mới thực sự cảm nhận và thấu hiểu. Và rồi, cụm từ “Bây giờ. Mới hay” như một dấu chấm lửng đầy sức nặng. Nó khẳng định một sự thật, một bài học mà con người chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua một chặng đường dài. Tôi chợt nhớ đến câu của triết gia La Mã Seneca. “​Non exiguum temporis habemus, sed multum perdimus.”Câu này dịch ra tiếng Việt có nghĩa là: ​“Chúng ta không có ít thời gian, mà là chúng ta đã lãng phí rất nhiều.” Seneca nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống trọn vẹn từng khoảnh khắc. Ông cho rằng con người thường lãng phí thời gian và chỉ nhận ra giá trị của nó khi đã muộn. ​Seneca khuyên chúng ta nên trân trọng hiện tại, vì quá khứ đã qua và tương lai thì chưa tới.
 
​Trong “Mùa Đi,” chị dường như đang trò chuyện cùng những mùa đã qua, từ “xuân thơ” đến “thu chín muộn,” từ “nắng hạ xưa” đến “mưa gió cũng dứt bài cuồng ca.” Sự luân chuyển của bốn mùa là sự thay đổi của thiên nhiên, cũng như sự dịch chuyển của lòng người, những kỷ niệm, của “nỗi đau sao vẫn như vừa chia xa.” Nỗi nhớ được cụ thể hóa thành “chiếc nôi nhà” trong “ba mươi còn giấu câu mừng,” và sự “lâng lâng” của thời gian thể hiện rõ trong “già thêm một tuổi đất tròn.”
 
Bóng vẫn thế
Đứng một mình
Làm như thể không có hình tôi xưa
Lạc vào một đêm mộng vừa
Gặp tôi
Bóng ngỡ
Tình cờ
Mộng du…
(Trích “Vẽ bóng”)
 
​Dưới ngòi bút của chị, ”vẽ bóng” đưa ta vào một không gian đầy mơ hồ và suy tư, nơi ranh giới giữa thực và ảo trở nên mờ nhòe. “Bóng vẫn thế, đứng một mình” một nỗi cô đơn, một sự tồn tại tách biệt khỏi chính “tôi xưa” của nó. Cái bóng ở đây có thể là hình ảnh quá khứ, của những ký ức, hoặc thậm chí là một phần con người mà ta đã đánh mất.
 
​Sự trớ trêu của bài thơ nằm ở chỗ, cái bóng tưởng chừng như luôn gắn liền với chúng ta, nhưng lại không nhận ra “tôi” của hiện tại. Khi “lạc vào một đêm mộng vừa,” cái tôi hiện tại gặp lại cái bóng của chính mình trong quá khứ, nhưng cái bóng lại ngỡ là “tình cờ mộng du.” Điều này dường như đặt ra một câu hỏi day dứt: liệu chúng ta có thực sự hiểu và chấp nhận tất cả những phiên bản của chính mình qua từng giai đoạn của cuộc đời? Đó là một sự chiêm nghiệm lặng lẽ về bản ngã và sự dịch chuyển của thời gian.
 
​Sự phân thân giữa “tôi” và “bóng” tạo nên một không gian triết lý, nơi con người tự vấn về sự tồn tại. Những hình ảnh như “Bóng không đổ xuống, mà buông / Như chiếc lá đã kiệt hồn nhựa xanh…” hay “Ánh sáng làm mặt lạ tôi / Dường như cả cái chỗ ngồi lặng thinh” cho thấy một nỗi cô đơn sâu thẳm, một sự trốn chạy hay tìm kiếm bản thể đã bị lãng quên.
 
​Sự đối lập và hòa quyện giữa nội tâm và ngoại cảnh. Điều làm nên sức hấp dẫn của tập thơ chính là sự đan xen tài tình giữa thế giới nội tâm và thế giới ngoại cảnh. Những hiện tượng của tự nhiên như nắng, mưa, gió, biển… là tấm gương phản chiếu tâm trạng. “Khát nắng. Nghe mưa dầm,” “Lúc mưa gió cũng dứt bài cuồng ca,” “Biển khuya khoắt thở, cây phiền muộn reo”. ​Lắng nghe hạt thơ khe khẽ trở mình tách vỏ, đánh thức những giấc mơ xanh, rồi dang đôi cánh bay. Thế giới nội tâm lại mở ra vô hạn.
 
Gìn ký ức nơi bóng hình khao khát. Những cơn mơ ánh nắng vẽ nên một bức tranh đa chiều, vừa lãng mạn vừa thực tại. Mỗi câu chữ chạm vào thôi, đã bỏng rát. Mang trăn trở về thời gian, về những được mất, về những dấu vết cuộc đời đã bén rễ, cắm sâu vào lòng đất. Với giọng thơ nhẹ nhàng, mềm mại, nhưng lại có sức lay động mạnh, chị đã khiến người đọc phải dừng lại, lắng lòng và chiêm nghiệm về chính tâm hồn mình. Phần nào đó, chị đã thành công!
 
​Xin trân trọng cảm ơn tình văn nghệ mà nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã gửi gắm. Được cầm trên tay con tinh thần của chị, tôi cảm nhận tâm hồn được sự kết nối vô hình từ chữ nghĩa. Thi ca như một mối duyên, mỗi áng thơ được sinh ra đều từ một cuộc gặp gỡ định mệnh, và duyên thi ca giữa tôi và chị chính là một trong những cuộc gặp gỡ đẹp đẽ ấy.
​SAN PHI
(Sài Gòn ngày 23 tháng 8 năm 2025).

 


Monday, August 10, 2026

22 BÀI HAIKU. GỞI GIÓ CHIỀU MANG VỀ MIỀN XA

Nguyễn Đức Nhân
 
Haiku painting
 
1.
Nằm bệnh đã nhiều ngày
mở hé cửa nhìn núi
thấp thoáng bóng mùa  đi
 
2.
Rạng đông, rạng đông
hạt sương chớp mi trên lá cỏ
ngoảnh lại đã không còn
 
3.
Khi tôi đến, mưa đi rồi
mái chùa từng giọt
ướt bàn tay tôi
 
4.
Chim đã sổ lồng
vẳng nghe thời gian hót
trong chiếc lồng không
 
5.
Mùa hạ đất khô gầy
những ngọn rau già héo
hái luộc cùng bóng mây
 
6.
Sau cơn mưa chiều
con đường đất ấy
đọng nhiều vủng trăng
 
7.
Trên mặt ruộng
những dấu chân người gieo mạ
bình minh nở hoa
 
8.
Cò trắng bay đi rồi
phất phơ chiếc lông trắng
vướng vào bờ cỏ xanh
 
9.
Mưa chiều tạnh, nắng ửng vàng
vài lá phong khổng tước
được đính kim cương
 
10.
Mưa lũ ngập trắng đồng
cò trắng lượn quanh
những bông luá mẫy vàng đuối nước
  
11
Mấy cô sơn nữ khom lưng
guì măng, gùi củi
cõng hoàng hôn xuống đồi                
 
12.
Hồ Tuyền Lâm trên núi (*)
trong xanh mắt trẻ thơ
mây chiều soi bóng
 
13.                             
Trước thiền đường
ánh trăng lấp lánh tiếng gáy dế mèn
hoa lài thoảng hương                         
 
14.
Phì phà khói thuốc
người nông dân ngồi trên cán cuốc
ngắm ánh hoàng hôn
 
15.
Cô thôn nữ thì thầm hát ca
đâu ngờ ngọn gió nhỏ
mang về miền xa
 
16.
Kìa, nửa vừng trăng
nhô lên chân trời
tâm hồn tôi và biển sóng vàng lăn tăn
 
17
Người khách lạ lắng nghe
tiếng chim chích chòe líu gió
trong lũy tre
 
18
Trăng núp lùm cây
tóc trăng óng ả
gió về thơ ngây
 
19
Ướp, ủ trong sương
giọng chim thánh thót
đón chào ánh dương
 
20
Ông lão ngồi câu
dưới sông đầy mây trắng
bờ kia rơi mấy bông
 
21.
Hởi loài chim yêu dấu ơi,
không phải nhờ đôi cánh mi bay, bởi ý muốn bay
khiến đôi cánh mi chao lượn khắp phương trời
 
22.
                      *Tặng hương linh bạn thân Hoàng Văn Lãm
 
Bạn mãi mãi đi xa
đêm đầy sao
nhớ anh mắt bạn chiều xưa
 
---------------
(*)  Đứng đối diện cổng tam quan, thì hồ Tuyền Lâm nằm bên trái thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Hồ Tuyền Lâm tích nước từ những con suối nhỏ róc rách chảy quanh năm.
 
NĐN -- 2026

 

 

  

NGÔ THÌ NHẬM: VIẾT TRONG THỜI LY TÁN*

Phan Tấn Hải
 
Tác phẩm của Nguyễn Đức Tùng
 
Đất nước Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ ly tán gay gắt, với nội chiến tàn khốc, như thời Trịnh- Nguyễn phân tranh của thế kỷ 17 và 18, như thời nhà Tây Sơn với quân đội Nguyễn Ánh của thế kỷ 18 và 19. Sau nội chiến là trả thù và truy sát tàn bạo.
Bây giờ, may mắn, chúng ta đang sống trong thời hậu chiến, nhưng mắt nhìn lẫn nhau không chắc đã thân thiện. Tuy rằng quê nhà đã thống nhất, nhưng lòng dân vẫn còn ly tán. Chữ nghĩa có vẻ như là những quả thủy lôi đang thả lơ lửng trên dòng sông Bến Hải, nơi chúng ta dễ dàng chạm tới là sẽ bị nổ tan xác. Chúng ta đã thấy trong mấy tuần qua có một số nhà văn trong Hội Nhà Văn VN ở Hà Nội bị bắt vì một tác phẩm ca ngợi lãnh tụ viết theo một văn phong giới trẻ, chỉ vì không giữ văn phong truyền thống.
Trong thời kỳ như thế, tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng là một xuất hiện rất hy hữu, chạm vào những vết thương của rất nhiều người, gợi những ký ức mà phần lớn dân mình đôi khi chỉ tạmquên đi và tránh nhắc tới. Hơn nửa thế kỷ  qua đã có rất nhiều chiếc ghe biến mất giữa biển. Hẳn là, sẽ có nhiều người nhìn về tác phẩm “Thuyền” từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người nói sao viết mơ hồ quá, như trên mây, không chạm được tới những đau đớn của những người đã từng ngồi trên các chiếc ghe liều thân ra đi. Có người nói đây là văn phong thơ mộng, dòng ý thức. Và vân vân. Tôi chưa đọc, xin thú thật, nhưng được nhà văn Nguyễn Đức Tùng dặn là cứ lên nói, nghĩ gì nói đó. Do vậy, xin có vài lời.

Bài viết này là những suy nghĩ rải rác nhiều năm qua trong khi nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm, người cuối đời là Thiền sư Hải Lượng, bây giờ xin gom lại.
Hãy nhìn về lịch sử quê nhà. Trong các thời kỳ nội chiến hay sau nội chiến, rất nhiều tác phẩm văn học không muốn nói tới lịch sử. Phần lớn, tôi nghĩ, tác giả thấy đau đớn quá. Bên nào cũng có người thân.
Thời phân tranh Trịnh-Nguyễn (1627–1775), và rồi thời kỳ nội chiến giữa nhà Tây Sơn (trong đó có vua Quang Trung) và Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) các năm (1771–1802). Sau nội chiến là truy sát, những người sống sót chạy vào thật xa ở Miền Nam, đổi tên họ và ẩn thân.
Hãy suy nghĩ xem: văn học trong thời kỳ lòng dân ly tán đó, những gì nên được viết ra và những gì chạm được vào lòng người? Có nhiều kiệt tác văn học đã xa lìa chính trị để duy trì lập trường trung lập tuyệt đối, giữ tinh thần nhân đạo phản chiến hoặc thái độ phản kháng thầm lặng. Bởi vì khi khi bị nhận định là công khai chống lại triều đình, người viết có thể nguy cơ bị chém đầu và tru di tam tộc ngay lập tức; đó là lý do các tác giả hiếm khi trực tiếp kêu gọi ân xá hay hòa giải.
Để hình dung mức độ căng thẳng, chúng ta có thể nhớ tới chuyện này. Bạn hãy còn nhớ rằng Đặng Trần Thường (khai quốc công thần của Vua Gia Long) đã dùng roi tẩm thuốc độc đánh Ngô Thì Nhậm (nguyên Binh bộ Thượng thư triều Tây Sơn) ở Văn Miếu (Hà Nội) năm 1803 để vài ngày sau, họ Ngô từ trần, bất kể bấy giờ Ngô Thì Nhậm đã xuất gia, trở thành một nhà sư ẩn dật. Điều bi hài là: Đặng Trần Thường thời trẻ từng học chữ Nho với cụ Ngô Thì Sĩ, thân phụ của Ngô Thì Nhậm.

Tôi nghĩ rằng, tác phẩm nói lên mức độ phản chiến cao điểm nhất là Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Thi tập này được viết nguyên bản bằng chữ Hán và sau đó được các danh sĩ như Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm, kiệt tác này là một cột mốc quan trọng thể hiện tinh thần trung lập và phản chiến.
Thay vì ca ngợi các chúa Trịnh hay chúa Nguyễn vì những chiến dịch quân sự của họ, bài thơ dài tập trung hoàn toàn vào nỗi đau đớn, sự cô đơn và những tổn thương tâm lý của người vợ có chồng phải ra trận. Bằng cách gạt bỏ những lý lẽ biện minh cho cuộc chiến và làm nổi bật nỗi đau thương mang tính nhân bản, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” đã lặng lẽ phơi bày sự vô nghĩa của các cuộc nội chiến.
“Chinh Phụ Ngâm” dài 476 câu thơ, là một tác phẩm phản chiến lớn hàng đầu, nếu không phải là lớn nhất, của dân tộc Việt Nam. Cả trong bản chữ Hán và trong bản dịch chữ Nôm đều tuyệt vời. Bài thơ là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người bước vào chiến trường. Yêu nước tất nhiên ai cũng yêu nước, nhưng cuộc chiến nào cũng rất mực bi thương.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Đặng Trần Côn viết nguyên tác bằng chữ Hán vào khoảng đầu đời Cảnh Hưng (thập niên 1740), thời vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Doanh. Đây là giai đoạn cung đình Lê - Trịnh khủng hoảng trầm trọng. Triềuđình liên tục phát động các cuộc hành  quân trấn áp, chinh phạt các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài (như khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương...).
Người chồng (chinh phu) bị bắt lính ra trận không phải để giữ gìn bờ cõi trước giặc ngoại bang, mà là xông pha vào những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm bảo vệ quyền lực và ngai vàng của nhà vua.
Do vậy, tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” mang đậm tinh thần phản chiến.
Xin cảnh giác, tôi không phải sử gia, tôi chỉ suy luận trong cương vị một người sáng tác. Và không có gì chắc chắn rằng tôi nhận định đúng 100%, kể cả chuyện xưa và chuyện nay.
Tương tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng thế, cũng là một tác phẩm mang tinh thần phản chiến.
Chúng ta còn nhớ rằng gia tộc họ Nguyễn đã chia hai phe – một bên theo Tây Sơn, và một bên theo Nguyễn Ánh. Cuộc nội chiến dai dẳng tới mức kinh hoàng, có một thời kỳ Nguyễn Du lưu vong ba năm trên đất Trung Hoa, mặc áo nhà sư du hành tới các chùa. Bản thân Nguyễn Du đã trực tiếp trải qua sự sụp đổ của triều Lê, sự hưng vong của triều Tây Sơn và thắng lợi cuối cùng của vua Gia Long. Nguyễn Du luôn bị giằng xé sâu sắc giữa lòng trung thành với chế độ cũ và việc phải phục vụ triều Nguyễn mới. Ông đã gửi nỗi trăn trở đạo đức sâu sắc này vào tác phẩm "Truyện Kiều". Nhân vật chính (nàng Kiều) liên tục bị buộc phải đánh đổi danh dự và thích nghi với những hoàn cảnh nghiệt ngã, đầy biến động chỉ để tồn tại.
Hãy thấy, câu chuyện của nàng Kiều là một ẩn dụ lớn lao về tầng lớp trí thức Việt Nam --- những người phải xoay xở giữa những cuộc chuyển giao đẫm máu và khắc nghiệt của nội chiến mà không thể chọn dứt khoát một phe phái chính trị nào. Xin cảnh giác lần nữa: Đây cũng chỉ là một suy đoán, vì tôi không phải sử gia. Bạn thử suy nghĩ xem: tại sao lại đoạn trường, đứt ruột? Tại sao nhan đề Truyện Kiều còn là Đoạn Trường Tân Thanh (tiếng kêu mới đứt ruột)? Phải là người chứng kiến những cuộc thảm sát giữa gia tộc, giữa các bạn học, và giữa đồng bào mình mới thấy đứt ruột. Chứ không phải cô Kim Vân Kiều
thời nhà Minh nào hết. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Du viết sơ hở, nếu để bị đấu tố là kể như sẽ bị chém đứt đầu.

Nêu lên những chuyện như thế để thấy rằng có những vị trí thức đã từ bi, đã suy nghĩ tới những cách hòa giải nội chiến. Hãy thấy những thảm sát tàn khốc, những chấn thương tâm lý từ nội chiến và nỗi thống khổ lan rộng trong xã hội đã tác động sâu sắc đến Ngô Thì Nhậm, và ngài chuyển mình thành một thiền sư và trở thành một tác giả biên soạn sách Thiền; lựa chọn này là từ một chiến lược lớn lao hơn: hòa giải vì tồn vong của dân tộc và phương tiện là thống nhất tư tưởng tại Việt Nam.
Ngô Thì Nhậm không tìm đến Phật giáo như một cách trốn tránh thụ động trước cảnh nội chiến. Thay vào đó, ngài chủ động lựa chọn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một dòng thiền bản địa – để xây dựngđiểm tựa tinh thần và văn hóa, nhằm hàn gắn một xã hội đang bị chia rẽ. Ngô Thì Nhậm là một vị quan tài năng từng phục vụ cả Chúa Trịnh lẫn triều đại Tây Sơn. Ngài đã tham dự, chứng kiến ​​hàng thập niênbiến động quyền lực, đã phi ngựa trên các xác người, và đã đứng giữa các chiến trường  máu chảy thành sông.
Sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung vào năm 1792 và sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm nhận ra rằng đất nước cần hòa bình và hàn gắn. Nho giáo thuần túy đã thất bại trong việc ngăn chặn cảnh huynh đệ tương tàn. Do vậy, Ngô Thì Nhậm ra sức khôi phục thiền phái Trúc Lâm (có từ thế kỷ 13) – dòng thiền duy nhất mang đậm bản sắc Việt Nam, hy vọng Phật giáo sẽ làm mọi người xa lìa sát sanh, sẽ bẻ gãy cung kiếm để nhận lại anh em một nhà. Đó là lý do Ngô Thì Nhậm trở thành một Thiền sư dòng Trúc Lâm, và viết sách dung hợp Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo thành một thế giới quan thống nhất, để chữa lành những vết thương lòng của người dân, khôi phục văn hóa bản địa và dẫn tới hòa hợp hòa giải dân tộc.

Tới thời của chúng ta, sau nửa thế kỷ thống nhất đất nước, lòng dân còn ly tán, phần lớn còn đau đớn, chưa hàn gắn hoàn toàn. Theo tôi thấy trong cách chủ quan: Tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng (do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội ấn hành) chính là một nỗ lực dùng văn chương để dịu dàng hàn gắn giữa một thời đại mà lòng dân vẫn còn nhiều rạn nứt.
Việc một cuốn sách khai thác đề tài thuyền nhân---vốn là một trong những vùng ký ức đau buồn nhất lịch sử Việt Nam hiện đại---được cấp phép và ra mắt chính thức trong nước là một hiện tượng hy hữu.
Tôi chưa đọc cuốn sách này của Nguyễn Đức Tùng, nhưng dư luận cho thấy tính cách hy hữu như thế.
Có người sẽ nói rằng sách chưa đủ rùng rợn, chưa như đời thực. Có thể như thế, hẳn là như thế.
Tôi nhìn lại dòng lịch sử dân tộc mình, và đã thấy các tác giả xưa còn tránh né chuyện nhạy cảm rất là xa, không dám nói minh bạch cho độc giả hiểu. Ngày xưa, các cụ viết văn phản chiến trong một cách rất xa vời, kiểu như là nói chuyện rất xa xưa bên Trung Hoa chứ không phải chuyện nước mình. Các cụ Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du... đều hiểu rõ cái giá phải trả rất đắt khi kêu gọi hòa bình trong thời nội chiến, và các cụ phải viết trong một cách “chỉ về hướng Đông mà nói chuyện hướng Tây” để tác phẩm có thể được chuyền tay nhau, để mời nhau đọc.
Trong thời hiện nay, tôi tin rằng nhà văn Nguyễn Đức Tùng đã viết tiểu thuyết “Thuyền” với một thiện ý.
Xin nhắc rằng, tôi chưa đọc, nhưng tôi tin như thế, theo nhận định của nhiều nhà phê bình, và tôi sẽ đọc đêm nay. Tôi không so sánh anh với các nhà văn của các thế kỷ trước. Tôi chỉ muốn nói rằng anh đang muốn bước qua một bãi mìn nơi vĩ tuyến 17 để hàn gắn, để chữa lành.
Tôi hy vọng rằng, trong một thời gian gần, bao lâu nữa thì tôi không thể biết, tôi tin rằng thiện ý của tất cả chúng ta sẽ làm rỉ sét, sẽ làm tắt ngúm tất cả các quả mìn còn sót lại dù ở bất kỳ nơi nào trên quê nhà.
Và muốn như thế, đó phải là thiện ý của tất cả chúng ta.
Hãy cầm bút lên, và hãy sáng tác với thiện ý. Y hệt như Ngô Thì Nhậm, sau khi rời chiến trường là về mặc áo nhà sư, cầm bút viết những dòng chữ có thể giúp toàn dân, bất kể họ đã từng mặc bất kỳ trang phục binh giáp nào, đều có thể yêu thương nhau hơn, và mở được mắt trí tuệ để nhìn thấu suốt qua bờ giải thoát.
PTH
 
*Bài đọc ngày 8 tháng 8 trong buổi ra mắt tác phẩm THUYỀN của Nguyẽn Đức Tùng ở Coffee Factory.