Saturday, February 9, 2013

thơ nguyễn thị khánh minh


  

                                  Thiếu nữ. Tranh Dương Bích Liên

NHỊP XANH GIẤC MƠ  

Trong mơ tưởng mùa xuân
Âm thanh những sợi mỏng nhịp nhàng
Neo trên cùng một nhịp
Ngày và Đêm
Giấc mơ và thành tựu
Anh và em

Trong mơ tưởng của tôi
Ánh sáng rực rỡ sóng, run trong ngực viên đá bổn mạng đại dương xanh. Nhốt vào sâu thẳm những tiếng đập sóng gió.Tôi trôi. Phập phồng điểm hẹn.
Nhịp xanh trái tim
Đẩy dòng chảy thời gian rộn ràng trong mạch máu

Trong mơ tưởng của em
Thương khó một mùa gặp gỡ
Dẫu bước chân em giờ như chiếc lá khô lăn theo năm tháng
Mộng mơ là cuống mỏng manh
Nuối nhìn mắt gió


Trôi về phía giấc mơ
Ngừng lại ở con đường. Nơi cuộc sống chia ly chưa có tên. Và, trong ký ức ngày mai, một hò hẹn giữa trời xanh Sài Gòn tuổi trẻ. Em sẽ nói với anh điều có nghĩa nhất trong cuộc đời, một điều nghĩa lý ngây thơ,
Là tình yêu vĩnh cửu
Là thời gian không trôi
Là hẹn hò, không bao giờ trễ


DƯỚI NẮNG BAN MAI

Vốc nắng rửa mặt
Nhựa mùa xuân tràn qua những kẽ tay
Những hạt thời gian
Nhìn tôi trong veo
Ngày thanh tân dòng suối
Dường như, ánh mắt ai
Nơi tôi phiêu du màu nắng

Hớp chút gió non
Bước chân mọc cánh
Ngọn gió mang phép mầu
Bay tôi vào cổ tích
Nơi tôi có một chiếc đũa thần
Biến trái đất này
Thành cõi nồng nàn trần gian. Cho những kẻ yêu nhau
Biến tất cả những ước mơ bé con
Thành sự thật
Sự thật rực rỡ mỗi ngày hát khúc rạng đông
Tình yêu người hồng hào mở mắt
Biến tất cả thành thơ, dưới ánh nhìn mơ mộng
Của thi sĩ hồn nhiên

Và anh ơi
Biến tất cả những lời thơ của em
Thành sợi tơ
Buộc anh
Dịu dàng trên từng con chữ

Thành con gió
Thổi chúng ta bay lên
Nơi xanh nhất của ánh sáng ban mai
Nơi anh sẽ nói lời yêu em…

Và mùa xuân đã tràn
Tôi đang là một nốt nhạc
Nhảy nhót theo ánh nhìn
Trong tán lá

Tháng 2. 2013

NTKM


Monday, February 4, 2013

KÝ ỨC SƠ SÀI

 
 

                                          Thời gian. Tranh Bửu Chỉ

Nguyễn Anh Khiêm

16.

       Trước 1975 tôi không quen Trần Công Nghị. Nói ngay tôi có biết anh học sau tôi vài lớp tại lò Trần Quí Cáp nhưng không có dịp gặp. Ai đó chỉ tôi tiệm thuốc bắc của gia đình anh ở Ái nghĩa. Mỗi lần chạy xe đạp từ trường về quê, tôi đều nhìn vào nhà anh, nghĩ anh thuộc hạng khá giả, có thể là giàu nữa, theo xét đoán của tôi. Giữa một thị trấn nghèo khó mà tọa lạc một cửa hàng thuốc bắc tươm tất vậy thì lúc đó là “đại gia” rồi.
       Sau 75, buổi sáng tôi đang ngồi chỗ văn phòng trường trung học Văn Lang thì Ngô Thi dắt Nghị tới. Nói chuyện một hồi Ngô Thi mới vào đề nhờ tôi giới thiệu với người quen ở sở giáo dục xét cho anh “chuyển công tác” từ miền Tây về Sài gòn hay xin dạy giờ gì đó tôi quên mất. Hồi này mới mẻ, các qui định này nọ chưa rõ ràng nên chuyện chuyển đổi hoặc dạy giờ đều còn có thể. Tất nhiên tôi vội vã làm ngay. Vụ đó không biết anh còn chạy chọt gì nữa không, hình như may mắn thành công, nay tôi không còn nhớ anh về trường nào.
       Từ đó tôi thường xuyên gặp Nghị ở cơ sở sản xuất bột nuôi trẻ Đông Phương của nhóm Ngô Thi, Phan Xuân Sinh… Tôi không rõ Nghị có cổ phần ở đó không, chỉ thấy anh hay đến chơi vào buổi chiều, ngồi chơi một lúc là không tránh khỏi màn chót rủ mọi người “làm vài chai”. Chuyện này thường xuyên tới nỗi hình như có lúc anh mang biệt danh làm vài chai. Những ngày trống trải, thưa vắng bạn bè, tôi cũng hay la cà ở đó nói chuyện tào lao thiên địa, thấy anh Tường Linh, Đinh Trầm Ca cũng làm việc cho nhóm Đông Phương nữa. Tôi luôn được đi theo băng này không phải để làm vài chai vì tôi chỉ làm một ly là đủ té ngửa, mặt đỏ gay không giống ai, trông khá thô bỉ , tôi đi theo chỉ để phá mồi mà không bị phàn nàn gì nên cũng siêng đi. Những năm cả nước điêu đứng vì cơm gạo thì mấy anh này tiền xu rủng rỉnh, ăn nhậu tưng bừng bởi những đồng tiền kiếm được một cách lương thiện, gần như trúng mối vì sản xuất được thứ bột nuôi trẻ khá tốt trong tình cảnh đất nước “bế quan tỏa cảng” ngặt nghèo. Anh nào cũng nhà cửa tử tế, xe Honda mới cáu xếp cả dọc dài trước phòng giao dịch, lúc đó như vậy thật đáng nể và oai lắm.
      Trần Công Nghị và Nguyễn Tịnh Đông làm rể một gia đình giàu có, chủ nhà máy xay lúa ở Cai lậy, nghe đâu hai anh đều có đất vườn ở Phương lâm ông già vợ chia cho. Không rõ còn nguồn lợi gì khác không mà tôi thấy lúc nào anh cũng sống thong thả. Phải thừa nhận Nghị là tay rong chơi thứ thiệt, nói hào hoa phong nhã thì hơi quá nhưng đúng là anh ta có tính tình rộng rãi, luôn đóng vai chính chuyện chi trả trong những cuộc vui và ít để người nào chịu thiệt. Ai cũng rõ không thể nói vì có tiền nên rộng, tất cả chỉ là đặc trưng của tính cách thôi.
       Năm 78 tôi dự một lớp “tập huấn” trong chiến dịch đánh tư sản đợt 2 ở Chợ lớn, gần nhà Nghị. Anh bảo tôi:
     - Này, đừng có mà ăn cơm tập thể chi cho cực, toi ghé nhà moi ăn cơm trưa nói chuyện bậy bạ cho vui đi!
       Thế là tôi ở lại nhà anh ăn bữa trưa hơn tuần nhựt. Chị Kim Anh, bà xã Nghị hiền hậu, dịu dàng, mấy đứa nhỏ con anh thật ngoan, (nghe đâu nay rất thành đạt bên Canada , cũng là tự nhiên). Dịp này tôi được biết anh định vượt biên, mang theo cả nhà.Tôi nghĩ bụng, lại một ông Quảng nam liều mạng! Gia đình đang bình an no đủ, nhà cửa đàng hoàng thế mà vẫn đánh đổi tất trong một canh bạc hoàn toàn phiêu lưu may rủi. Nghe như Nghị là tay đánh phé cao kỳ, nay anh đánh phé với cả định mệnh mình, thế mà anh lại được, có đáng nể không chớ.
       Thấy tôi cứ bán dần đồ đạt để tồn tại một cách thô bỉ, sự bất lực được phô bày lộ liễu, Nghị ái ngại:
     - Còn cái gì (không cần thiết) muốn bán thì cho biết nghe!
Tôi liền chở lên nhà anh cái máy quay đĩa 33 tua và mấy đĩa dân ca của Joan Baez, mấy đĩa nhạc cổ điển của tay vĩ cầm Leonid Kogan… tôi mua được lúc mới đứt phim ở chợ trời Huỳnh Thúc Kháng. Tất nhiên anh trả tôi món tiền kha khá vượt xa giá trị một đồ vật phù phiếm trong thời gạo châu củi quế bấy giờ. Thời gian ngắn sau, gặp anh chỗ Đông Phương, anh nói nhỏ vào tai tôi:
      - Moi sắp đi xa, toi ghé nhà chở cái máy quay đĩa về có dịp nghe nhạc nhiếc cho đỡ buồn.
       Tôi nấn ná vì bận vài việc linh tinh, định ít hôm sẽ đi thì một buổi chiều ông xe thồ kêu cửa:
      - Tôi ở xóm với anh Nghị, ảnh nhờ tôi chở tới địa chỉ anh cái này.
       Tôi trả tiền công nhưng anh ta bảo anh Nghị trả rồi. Hôm sau tôi ghé qua nhà thì thấy cửa khóa trái, không dám hỏi lôi thôi, tôi ân hận tự trách mình nấn ná, nghĩ Nghị đã đi. Tôi thẫn thờ quay trở về, đạp xe ngang qua cổng trường ĐHSP Saigon đường Cộng Hòa, thấy “cây xưa vẫn gầy phơi nghiêng ráng đỏ”, tự nhiên nhớ đến se lòng bạn bè chung lớp nay tan lạc mười phương trong cơn địa chấn đổi đời “long trời lở đất”, thót tim buồn lo về cuộc phiêu lưu hiễm nghèo cùa vợ chồng Nghị cùng lũ con thơ.

       Hôm nghe tin Trần Công Nghị qua đời, tôi ngồi café quán cóc với Ngô Thi và Trần Công Chín, Thi nói chuyện về Nghị suốt buổi. Theo anh, Nghị là tay chơi rất dễ mến, coi sự đời nhẹ tênh, không phải người chăm chỉ nhưng thông minh, có óc tổ chức, học nhẹ nhàng, thi cử dễ dàng. Ngoài ra, rất lạ, Nghị thành công còn nhờ luôn gặp may. Ví như lúc thi chứng chỉ Văn chương quốc âm hay Văn minh Việt nam gì đó ở trường Đại học Văn khoa, anh ta đi chơi và đánh phé suốt đêm ở nhà Phạm Phú Lợi, (không ngờ ông này về sau tình cờ sui gia với tôi), mờ sáng chạy về rửa mặt, liếc qua vài chương giáo trình nghi ngờ có thể ra đề thi. Thế mà trúng ngay chóc, đậu bình thứ nữa! Thi còn kể, nhiều lần gia đình gởi tiền cho anh mua cours để học, anh đem nướng hết trong mấy canh xì phé. Tàn cuộc, anh “đề nghị” tên nào ăn nhiều bạc phải dẫn ra quán nhậu. Mọi người ngạc nhiên thấy anh không chịu ăn gì ngoài mấy món cua rang, cua hấp. Gặn hỏi, anh tỉnh bơ giải đáp thắc mắc:
       - Nhà tau gởi tiền cho tau mua cours, không mua được cours, chừ tau gỡ gạc ăn cua cho trúng mục đích chút ít, cua chi cũng cua.
        Kỳ về VN lần cuối (có ai ngờ!), tôi có dịp mời anh cùng mấy bạn nhóm Đông Phương (Rất tiếc Ngô Thi ăn chay nên không đến, tôi nói với Thi đó là kỳ chay đáng tiếc nhất). Sau này, ai cũng công nhận bữa đó ăn ngon nhờ món cà ri dê độc chiêu cùng với cháo nghêu kiểu Mỹ tôi học lóm ông Việt kiều chủ trường Anh ngữ Quốc tế khi làm thuê cho ông. Bữa đó ai cũng tranh nhau nói, tôi kể chuyện một anh chàng giáo viên ba gay liều mạng xỏ lá ba que trong trường tôi từng là hiệu phó, mọi người cười vui hể hả, vui tới nỗi tôi linh cảm điều gì đó không lành một cách mông lung, không cơ sở, nhưng có thật trong tôi, rồi tự nhiên đâm lo, nghĩ rằng rất khó lặp lại một ngày vui như thế. ( Tôi nhớ ông lão đánh cá Santiago của Hemingway lẩm bẩm khi con cá to đùng vừa câu đươc chẳng bao lâu chỉ còn trơ bộ xương: “Vậy đó, cái gì mà tốt đẹp quá rồi thì cũng qua mau thôi”). Và quả thật, chẳng  có sai, còn lần nào như thế nữa đâu, Nghị ơi!
        Mấy bữa sau, tôi có dịp đèo anh sau xe gắn máy từ Bình thạnh về nhà ông anh của Nghị ở Nhà bè. Nghị bảo ghé vào quán nhỏ ven sông… làm vài chai. Tôi nói chuyện thơ Tô Thùy Yên với anh, anh bảo:
        - Toa viết tất cả cái đó ra đi, đừng có lo không hay, mạnh dạn lên, đừng tưởng mình làm không được, uổng lắm, hết thì giờ rồi.
       Tôi kể với anh đã hỏi được Tô Thùy Yên lai lịch, bối cảnh mấy bài thơ quan trọng như Trường Sa Hành, Góa phụ…Nghị nói:
        - Hỏi gì thì hỏi lẹ đi, hỏi thêm nữa đi, viết nhanh đi kẻo không còn thì giờ.
      Anh lo lắng không còn dịp gặp người cao tuổi hơn thế hệ mình, không ngờ nỗi lo đó lại vận vào anh. Nghị tỏ ra nhạy bén trong thưởng thức thi ca không kém ai. Anh khoái câu thơ của Nguyễn Bắc Sơn:
                  Về đâu, đâu cũng là đâu đó
                  Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
       Anh cho câu thơ sau là một tiên cảm thiên tài của thi sĩ. Đất Hán Hồ, đa nghĩa quá! Đâu cũng đất Hán Hồ mà thôi. Chúng tôi cũng nhắc tới câu “Đất ta ta dẫm mà ghê chân” của Tô Thùy Yên. Tô quân còn có câu:
                  Cuộc cờ kỳ lạ không bày tướng
                  Ăn sạch quân trừ tính được thua
Phải chăng, thi sĩ, từ cách nhìn kiểu chiến tranh khủng bố (đặt mìn bừa bãi, pháo kích cẩu thả…miễn có nổ có chết, ai chết cũng được) nay ứng vào kiểu chiến tranh đánh bom tự sát làm kinh hoàng nhân loại, nổ càng to càng tốt, chết càng nhiều càng hay, bất luận ai chết, thi sĩ chính là đấng tiên tri?
          Sau này tôi khởi sự viết Ký Ức Sơ Sài, Nghị là người đầu tiên tôi chuyển qua mail cho anh đọc trước, sửa lỗi chính tả, cái tôi vốn rất bất cẩn. Anh vui mừng ra mặt nói:
         - Thấy chua, moi nói đâu có sai, toa viết dễ dàng mà, tới lắm. Anh chuyển cho tôi mấy chục cái mail khen ngợi, khuyến khích tận tới ngày đau bệnh.

         Bữa đó là lần cuối tôi gặp Trần Công Nghị trên đời. Thật không thể tin được. Dẫu biết ai rồi cũng ra đi, sớm muộn thật ra chẳng có gì khác biệt lắm, muộn cũng chỉ là triễn hạn chút đỉnh mà thôi. Biết vậy nhưng mỗi lúc nghĩ tới người đàn ông tử tế đó vẫn còn tráng kiện, nụ cười vẫn còn tươi, ánh mắt vẫn tinh nghịch…mà bất ngờ phải giã biệt cõi đời vui, thật không khỏi không đau lòng. Thôi thì đành xin mượn mấy câu thơ của bác Việt Trang như nén nhang vĩnh biệt bạn hiền:

                 Câu thơ bạn cũ tìm trong mộng
                 Tiếng ngọc người xưa biệt giữa đời
                 Đốt nén tâm hương xin bái vọng
                 Theo niềm thương tiếc lệ châu rơi.


 17.

       Đọc những tranh luận đủ khuynh hướng trên mạng về cái chết của Gaddafi mới thấy nhân vật nầy gây chú ý nhiều trong dư luận hơn người ta tưởng.
      Mà cũng chẳng ngạc nhiên gì. Những năm tôi còn ở đại học, Mubarak, Gaddafi lên cầm quyền sau những cuộc lật đổ vô cùng ngoạn mục bọn vua chúa tham tàn, đã tận hưởng lạc thú đế vương đời đời kiếp kiếp trên những mỏ dầu châu báu và trên sự thống khổ của nhân dân. Những tuyên ngôn đầy nhiệt huyết và thiện chí của các tướng tá trẻ gieo niềm hy vọng lớn nơi đám thanh niên e ngại chế độ CS vì trực giác con đường này lắm chông gai và cạm bẫy. Không phải chỉ bọn trẻ chúng tôi tin, nhiều tác giả danh tiếng trên báo chí thế giới cũng lạc quan tin tưởng, không tiếc lời ca ngợi với giọng vô cùng hoan hỉ. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết một bài đầy phấn khích về Gaddafi trên tờ Bách Khoa. Bài báo thuật lại tuyên bố lẫy lừng của ông ta: Bao giờ toàn dân Lybia có nhà ở rồi thì cha tôi mới có nhà. Mà thật. Mấy năm đầu, ông đưa ra thi hành những cải cách ngoạn mục về  an sinh xã hội, về giáo dục, y tế…khiến thiên hạ ngạc nhiên cảm phục và không khỏi mừng cho dân tộc Lybia phước đức vừa trải qua cuộc cách mạng thay đổi tận gốc rễ tương đối nhẹ nhàng, ít hao tốn máu xương, không đến nỗi phải đốt cháy cả dãy Trường sơn chẳng hạn.. Chúng tôi ngưỡng mộ ông cũng như lúc bấy giờ cảm phục các nhà trí thức, linh mục, thượng tọa…xứ sở mình lìa bỏ lợi danh nơi thị thành hoa lệ vào bưng biền theo MTGPMN. Vài năm sau, thiên hạ yên tâm theo dõi những biến cố chính trị dồn dập khác trên thế giới, không rõ cuộc cách mạng nhà binh đi tới đâu và viên đại tá đầy cá tính xứ Bắc Phi đó đã xây được bao nhiêu nhà cho dân, bao nhiêu nhà thương thí cho kẻ nghèo…Thế rồi chẳng mấy lâu sau, người ta ái ngại vì nghe toàn tin tức không mấy tốt lành, cách trị dân không khác gì, có khi còn nghiệt ngã hơn bọn quý tộc phong kiến. Lòng tin vơi cạn dần cho tới lúc xảy ra vụ đánh bom máy bay dân dụng trên không phận Ái Nhĩ Lan thì lòi ra viên sĩ quan này chỉ là tay quân phiệt kiêm trùm khủng bố, cai trị Lybia ngày càng bạo liệt toàn bằng biện pháp hạ sách, mị dân. Tất cả tuyên ngôn, tuyên bố nức lòng người ngày trước nay chỉ là khẩu hiệu. Rõ ràng, đâu có lâu la gì, các giếng dầu tốt nhất thế giới của Lybia đã lại trở nên tài sản riêng của gia đình dòng họ và đám bộ hạ đầu trộm đuôi cướp quanh ông.
       Không ai ngờ được mọi chuyện trở nên tệ hại dễ dàng như vậy. Nhất định lúc đầu ông phải tin vào ước vọng và lời hứa của chính mình, không thể nào ông nói dối và gạt dân chỉ vì tham vọng của cải và quyền hành, bởi lẽ  ông đã khởi sự đầy hảo ý. Phải chăng ma quỷ xui khiến ông hay sự yếu đuối của tinh thần con người trước vật chất xa hoa cùng những cám dỗ của quyền lực vô biên khiến ông ngày càng lộ rõ chỉ là tên bạo chúa tham tàn ham giết chóc. Ông ăn mặc đồng bóng như kẻ tâm thần phân liệt, những ngày cuối của bi kịch lãnh đạo, ông tin tưởng vu vơ nông nổi, tuyên bố nhảm nhí trong bấn loạn, cử chỉ lố bịch kệch cỡm y chang Saddam Hussein, để rồi màn chót giống hệt nhau, chạy trốn như chuột chui xuống cống, chết trong nhục nhã ê chề. Nhà thơ Thiếu Khanh có nói với tôi rằng thần dân các nước bị cai  trị độc đoán nên rút kinh nghiệm qua chuyện này, để ý lấp bớt các lỗ cống không cần thiết hầu đỡ mất công trò săn đuổi trốn kiếm về sau!
       Hồi trẻ, tôi không thích ý kiến của Will Durant (hay Toynbee?) có bảo rằng, xem ra, các cuộc cách mạng hầu hết có hại cho nhân loại vì sự tàn phá mù lòa và cuồng loạn không thể kiểm soát khiến các nền văn minh không bị phá hủy thì cũng chựng lại. (Chẳng hạn, như học giả Nguyễn Hiến Lê nói, văn minh Trung Hoa phải mấy ngàn năm xây dựng lao khổ, chỉ vài năm cách mạng văn hóa thời Mao là tiêu tan sạch bách- tương tự như một thời, đình chùa  Bắc Việt trở thành kho chứa thóc của hợp tác xã). Nói gì thì nói, thế hệ tôi, người có thiện chí vẫn tin phải có cách mạng để làm lại đất nước. Đọc cuốn Guồng Máy của Jean Paul Sartre do Trần Phong Giao dịch, hay thì hay thật nhưng tôi cũng không thích ý tưởng cho rằng bọn cầm quyền nào cũng chỉ được lúc đầu thôi, chẳng phải đợi lâu, có khi ngay sau đó, quyền và tiền làm hư họ chóng vánh, họ chỉ biết có mỗi cách “lãnh đạo” là đàn áp kịch liệt. Buồn thay, hình như hiếm có phương cách nào khác thỏa mãn dục vọng người ta dễ dàng, đơn giản cho bằng trấn áp. Kẻ đến sau có khi tệ hơn bọn cầm quyền trước đó. Tôi không mấy thích ý này vì đang cảm phục Gaddafi, Mubarak; đầy  thiện cảm với MTDTGP cũng còn vì “tâm đắc” những phân tích độc đáo của Marx được giảng giải trong sách vở của thầy Nguyễn văn Trung, Trần văn Toàn, dường như cả linh mục Thanh Lãng cũng không tỏ chút ghét bỏ nàò khi đề cập tới phong trào CS. Như vậy thì các thầy nổi tiếng nhất ở Đại Học Văn Khoa đều tả khuynh hết còn gì! Mấy chương sách hấp dẫn nhất là vấn đề bóc lột nhân công, giá trị thặng dư... nhất là chỗ giá trị thặng dư này, vô phương bác bỏ vì lý lẽ thâm sâu, tình cảm nhân hậu quá chừng đỗi! Lại nữa, sống giữa miền Nam hỗn quân hỗn quan mà đọc cuốn “Hai Mươi Lăm Năm Xây Dựng CNXH Miền Bắc” nói toàn chuyện tốt đẹp của linh mục Trương Bá Cần (Hai mươi lăm năm mà giá gạo chỉ ở mức mấy hào một ký chẳng hạn, nay có dư luận lúc đó ông đã là đảng viên CS(!), không biết sao) được phát hành công khai, mua đâu cũng có thì hỏi với tuổi đôi mươi  non xợt cùng trí khôn dưới trung bình như tôi, làm sao mà không ngưỡng mộ Marx, không thích Mặt Trận được. ( Khi tuổi đời chồng chất, tôi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là kẻ ngu phu, Bill Gates và một trăm nhà tư bản giàu có khác nhờ cái đầu siêu phàm, đâu phải tại giá trị thặng dư! Cũng như ông tôi khá giả hơn đám nông dân cùng làng nhờ ông làm ruộng giỏi hơn, nhận định thời tiết chính xác hơn và biết để dành hơn chớ lấy quyền gì mà bóc lột ai để làm giàu. Nói thế mấy “đại gia” ở VN hiện nay chẳng nên vội lạc quan mừng tưởng mình cũng thuộc loại..cái đầu có cỡ chớ không phải tại dựa hơi, mua quyền bán chức cùng buôn lậu, phá rừng các thứ).
       Chao ôi, Gần nửa thế kỷ giữ chặt quyền lực với lợi lộc bất tận, lúc thế hệ chúng tôi gần xuống lỗ mới thẫn thờ nhận biết họ là ai. Tất cả bày ra cảnh tượng “Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui”.* Làm gì có cái gọi là cách mạng. Và cuộc cách mạng nào sau lúc khởi hành, đi lòng vòng tốn hao máu xương giờ giấc, sớm muộn gì rồi cũng quay về đường cũ. Nói cho cùng, thật không có lý do để nghi ngờ thiện chí của các lãnh tụ cách mạng trong buổi đầu khởi xướng. Chẳng qua họ mất tinh thần một cách đáng kinh ngạc trước vật chất nên phải điên cuồng dùng quyền lực cách mù quáng để giữ chặt vĩnh viễn. Đâu rồi bệnh viện miễn phí, đâu rồi nhà cửa gratuite của dân Ai Cập, Lybia? Rồi “…ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành”. Nhưng bao giờ thì học trò cấp một khỏi phải đóng cả chục thứ phí tiền mặt, mỗi môn học phải mua và khòm lưng mang vài ba thứ sách ăn theo biên soạn vô bổ nhảm nhí. Mọi việc tiến tới một cách tự nhiên theo chiều ngược lại lời hứa nguyện, lặng im thở dài mà chấp nhận, như câu chuyện nhỏ sau đây. Cháu nội gái tôi chạy chơi trên sân trường vấp bể chậu cây cảnh, ba mẹ nó bị gọi vào đóng tiền đền, không nghe nói gì chân cháu bị đổ máu sưng vù mà phải hiểu sân dùng để bày chậu bông, không được chạy giỡn. Trẻ con khó ngồi yên, sân trường bằng cái mũi, giờ chơi không có chỗ chạy, chúng bày trò ném cầu nhẹ bằng lông gà, bà hiệu trưởng tình cờ đi qua, rủi bị ném trúng, tức thì ra thông báo cấm học sinh ném cầu.  Trẻ thơ con cháu chúng ta được quý yêu như thế đó. Tất nhiên không kẻ cầm quyền nào “chỉ đạo” kiểu vậy nhưng nội cái việc mặc kệ bọn cấp dưới dốt nát muốn làm gì tùy ý thích thì không phải là tội lỗi sao? Tôi không khỏi thấy mình nhảm nhí cứ lẩn quẩn ba cái chuyện linh tinh lạt nhách mà nhật báo lề phải cũng nói tới nhưng làm sao khác, ba chuyện nhỏ đó cứ đeo bám hằng ngày trong óc.
        Nghe như nhà thương thí hồi thuộc Pháp dân nghèo không phải đóng một đồng một cắc. Nay, đất nước độc lập, nghèo mà lâm trọng bệnh thì yên tâm chết cho rảnh nợ đời. Nói cho khách quan, cùng với dân số phình to gấp bốn năm lần, bệnh viện thời nay cũng lớn rộng hơn nhiều hồi tiền bán thế kỷ hai mươi và gần đây, dân chúng cũng được an ủi phần nào nếu có tiền mua bảo hiễm. Nhưng quái đản nhất là chuyện phân cấp bệnh viện, thuốc men theo tầng lớp xã hội. (Chắc “nghiên cứu khoa học” thấy vi trùng tấn công tùy theo chúc vụ, cấp bậc xã hội nên mới “triển khai” như vậy). Tiện đây, xin kể chuyện nhỏ tạm gọi là vui dây dưa tới thuốc men, y đức. Chú em họ tôi đi khám mắt ở bệnh viện thị xã   nọ. Trước khi đi, chú đã nghe người ta nói nhiều chuyện không hay về ông bác sĩ trưởng khoa, chẳng hạn khám qua loa để bệnh nhân đến phòng khám tư của chính y, tại đó, ông bỗng trở thành “y dược sĩ”, tức vừa khám vừa bán thuốc, thuốc thì, giúp thuận tiện cho bệnh nhân, ông bỏ công bóc ra khỏi bao bì hoặc bẻ đôi. Có người kể ngoài chuyên khoa mắt, ông còn chuyên môn viết toa theo lối “chữ bác sĩ”, không ai đọc ra chữ gì, bệnh nhân ra  ngoài mua không có, phải trở lại nhà thuốc của bệnh viện, nhân viên ở đó thì rành! Người bệnh nhà quê nọ mang thuốc mua từ bệnh viện quay trở ra nhà thuốc bên ngoài theo lời dặn của cô bán thuốc không đọc được toa; cô thở dài cho bà ta biết thuốc đó rẻ nhất  trong các loại chữa mắt, tiệm cô chỉ bán mười nghìn, trong khi người bệnh nọ bị tính gần ba chục nghìn! Người đàn bà quê mùa đứng lặng giây lát rồi thốt lên với giọng “tiếng kêu của tâm hồn”:
       - Ối Trời ơi, quân ăn cướp chớ bác sĩ chi lạ rứa Trời!
        Lúc chú em tới bệnh viện, đã tám giờ sáng, phòng khám còn vắng, mới chừng năm bảy người ngồi trên ghế đợi. Thấy bà y công đang lui cui chùi rửa với cây giẻ lau và xô nước đen sì, chú em tôi hỏi tìm bác sĩ, bà làm thinh chỉ tay về cuối hành lang. Dưới bóng cây bàng, người đàn ông bận blouse trắng đang chăm chú đọc báo. Chú em tôi tới gần, chưa kịp nói gì, ông ta đã gay gắt bảo:
       - Đợi làm vệ sinh phòng chút đi!
       Ngay lúc đó, bà lao công thu dọn vật dụng ra khỏi phòng. Chú em tôi lặng lẽ lại ngồi băng ghế chờ. Viên bác sĩ ngẩng lên đưa mắt nhìn quanh rồi cúi xuống lật trang báo tìm bài đọc tiếp. Đọc chừng mười lăm phút, ông ta móc điện thoại ra bắc đầu say sưa trò chuyện một hồi lâu nữa, không một dấu hiệu hứa hẹn chấm dứt. Lúc gần hết kiên nhẫn thì chú em thở phào nhẹ nhõm thấy y cất điện thoại vào túi. Nhưng bi kịch chưa dứt, ông ta lại giở báo ra tìm bài đọc tiếp. Chú em đứng dậy, đi nhanh về phía tay bác sĩ. Thoáng nhìn thấy, chắc cũng hơi chột dạ, y đứng vội dậy:
       - Đau cái chi mà nôn nóng hung rứa ông, rài rài (từ từ) chút không được na?
Chú em đi theo vào phòng, ngồi xuống ghế, không kìm được cơn bất bình:
       - Tôi không đau chi hết, cũng không khám nữa, muốn biết tên ông thôi.
       - Chi rứa? Để báo cáo công an hả? Cứ tự nhiên!
       - Tức cười chưa, không biết tên thì báo cho ma à? Hỏi chơi chớ thị xã bằng cái mũi, ông đặc biệt tiếng tăm, ai chẳng biết tên ông.
       Câu chuyện rồi cũng tới tai viên giám đốc nhà thương. Nghe đâu ông ta đã chỉ “giải quyết” đoạn đầu của sự việc bằng cách “nghiêm khắc” khiển trách...bà lao công về tội... làm vệ sinh phòng ốc trong giờ bác sĩ làm việc. Rõ ràng ông này không thuộc bài, chẳng những không chút tôn trọng mà còn ngang nhiên đàn áp thô bạo người phụ nữ thuộc giai cấp công nhân tiên tiến của ông Lénine một cách oan ức.

      
                            *
       Tôi về Hội an thăm má nhằm ngày mưa lụt. Má tôi bị té gãy xương khớp háng gần một năm trước. Người ta dùng dụng cụ giữ yên chân để hai đầu xương gãy tiếp cận nhau hầu có thể lành nhưng bà cụ quyết liệt từ chối, nghĩa là đêm khuya chờ mọi người ngủ quên, cụ lén ngồi dậy - đó là nỗ lực kinh khủng vì hẳn phải đau đớn lắm – không hiểu lấy sức đâu và cách gì khom người tháo tung mọi thứ băng bó vứt xuống gầm giường. Chúng tôi xúm lại thuyết phục, thậm chí đe dọa, cụ làm thinh để cho băng lại nhưng khuya hôm sau lại diễn ra kịch bản cũ. Cả tuần như thế. Chúng tôi chịu thua, để cụ tự đặt chân thoải mái theo ý muốn, miễn chân lành kiểu gì cũng được, tất nhiên, không lành cũng được, chứ biết làm sao.
        Ông ngoại tôi được kể là giàu có so với nông thôn ngày trước, có súng săn, xe đạp như tôi đã thuật, chỉ sinh được hai người con gái, má và dì tôi được tiếng đẹp nhất vùng, má có phần sắc sảo hơn dì khiến thiên hạ liên tưởng bảo rằng ông có cặp Kiều. Ông tôi không khỏi ngầm hãnh diện về lời bình phẩm này. Cưới má xong, ba tôi dẫn má xuống ga Trà kiệu, nghe đâu bạn bè công chức của ông nhìn thấy, bảo thằng Diêu về làng cưới được nàng tiên. Được thong thả đâu mấy năm thì xảy ra đại biến cố 1945, bỏ công chức Tây, ba dắt má và anh em tôi trở về làng, giao cho má xoay xở nuôi con, phần ông mang xăc-côt lên đường đi kháng chiến. Hồng nhan đa truân, không kiểu này thì cũng cách khác, dân gian quả đúng. (mà hình như không hồng nhan thì... còn đa truân hơn!). Má tôi lăn lộn với ruộng nương, cấy, gặt, khom lưng quào cỏ bằng tay đến móng cũng không mọc được, lá lúa cứa vào cổ trong nắng nung và  gió Lào rát mặt, chiều tối nào trở về cũng mang vết máu chảy thành dòng đã khô nâu ở bắp chân bị đỉa cắn. Xong vụ lúa thì trồng dâu nuôi tằm, làm đất khô trồng đậu, trồng mè, ngày trống lên rừng đốn củi...đầu tắt mặt tối không thua người phụ nữ nông dân nào lao khổ nhất làng. Má còn nổi tiếng người bắt cá bộng nhanh nhẹn tài giỏi. Vùng Đại Lộc có thứ nông cụ tôi không thấy trong Nam, cái bộng. Đó là thanh gỗ dài hình dáng như máng xối lật úp xuống, đặt ngang, nông phu đứng lên trên điều khiển trâu kéo đi làm tơi đất bùn trước khi cấy mạ. Cá rô cá tràu túa ra hai bên theo dòng nước ruộng đục ngầu, phải tinh mắt và kinh nghiệm mới thấy được gợn nước con cá lóc đi, lấy rổ múc hoặc dùng nơm. Nơm thì phải dừng lại mò bắt lâu lắc nên má tôi dùng rổ, bà bắt giỏi tới mức lúc nào cũng thu hoạch gấp đôi gấp ba đám người bì bõm theo sau cái bộng.
       Má học hành, thưở đó, quá lắm thì cũng hết tiểu học là cùng nhưng chuyện đọc sách của bà cũng rất đáng nói. Thời con gái, lúc ba tôi học ở Huế, mỗi lần về nhà, ông đưa sách Tự Lực Văn Đoàn cho má “mượn”, bà đọc gần hết tác phẩm của văn đoàn này trước kháng chiến. Khi tôi lớn, sách vở thất lạc gần hết nhưng may mắm (hay rủi ro?), trong mớ sách long gáy sứt bìa đó, tôi còn đọc được cuốn “Hận Ngày Xanh” do thi sĩ Hoàng Cầm dịch cuốn Graziella của Lamartine bằng một thứ văn xuôi đầy hình ảnh và nhạc điệu như thi ca, giống như ông đã phóng tác chứ không phải dịch. Sau này tôi nghe đâu ông dịch cuốn sách năm mới mười mấy tuổi. Chuyện tình lãng mạng, biệt ly đầy nước mắt đó lay động tâm hồn yếu đuối vớ vẩn của tôi cả một thời mới lớn. Đọc xong bỗng thấy núi sông mây gió trăng sao...gợi buồn quá thể khiến cả ngày mơ mộng lem nhem. Lên trung học, tôi đã phải xa nhà, không nhớ những năm đó má tôi đọc những gì để giải trí nơi quê mùa hẻo lánh đó. Em tôi kể, sau ngày ba mất, ngày đi làm ruộng khuây khỏa, đêm đến, má ra trước hiên nhà ngồi khóc, khi thút thít, khi thành tiếng nghe như lời kể lể nhưng không rõ. Không biết ngoài nỗi tiếc thương, bà có điều gì ân hận trong cư xử hay lời ăn tiếng nói không phải với ba lúc sinh thời khiến nỗi đau càng vò xé hay sao, đến nỗi ba bốn tháng ròng đêm nào cũng nghe tiếng khóc đứt ruột như vậy. Ông bà và em tôi an ủi gì thì chuyện cũng tiếp tục như một thói quen khiến tê xót lòng người. Tình thế buồn thảm quá khiến em tôi nảy ra ý đi mượn sách cho bà đọc may ra quên bớt hiện thực bất hạnh. Em vất vả đội nón lá đi bộ hết làng này tới làng nọ tìm nhà bạn cũ của ba má có sách báo này khác mượn về, má chong đèn đọc, quả thật ngơi dần tiếng khóc não nuột hằng đêm. Bữa nào mượn không được sách, bà thất vọng ra mặt.
       Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bom đạn Mỹ cùng thuốc khai quang hủy diệt sạch trơn làng Non Tiên, má và em tôi chạy xuống Hội An tá túc. Cách mạng đến, ông và má trở về làng nhưng ruộng đất bị trưng thu, không sống nổi, phải quay lại phố sống nhờ đồng lương giáo viên của em tôi. Đây là thời “tiến nhanh tiến mạnh” (tiến lảo đảo) khiến ai cũng đói, huống chi thân phận thoát chạy tan tát của nhà tôi. Ở gần đường, em tôi sắm cho má cái tủ con kê bên gốc cây bán kẹo đậu phộng, bánh tráng nướng cùng mấy thứ linh tinh, có cả thuốc lá lẻ. Em tôi mộ đạo Tin Lành, đúng ra thì không được tiếp tay cho tội lỗi, đạo Tin Lành VN coi đơn giản, ít lễ nghi rườm rà như Thiên Chúa Giáo La Mã nhưng ngầm khắt khe gần như thứ Thanh giáo, thuốc lá là xấu, (họ đi trước thời đại đó chớ). Vì túng quẩn quá, em tôi ái ngại chấp nhận, có lẽ đêm đêm cô cầu nguyện xin lỗi Chúa không chừng. Lúc đầu má kiếm được tiền tính ra nhiều hơn lương giáo viên, mọi người mừng rỡ không tin nổi, nhưng rồi mỗi ngày mỗi kém đi. Ngồi ngó ruồi má ngượng nên em tôi, sẵn giữ thư viện trường, bắt đầu đem sách về cho bà đọc. Giai đoạn này không còn mang kiếng lão nữa, mắt bà vẫn trong như mắt mèo, có vẻ sáng hơn mới lạ. Lạ nhất không hề bao giờ than mỏi mắt. Không ngờ được bà đọc xong Chiến Tranh Và Hòa Bình chỉ trong mấy ngày. Thư viện nhỏ, đọc hết tiểu thuyết cổ điển Nga, em tôi lôi về truyện của lớp nhà văn Hiện Thực XHCN, Sông Đông Êm Đềm, Đất Vở Hoang, Thép Đã Tôi, Ruồi Trâu...đọc tuốt luốt. Nghe như bà khoái nhất mấy cuốn truyện của Aimatov. Cứ cúi gằm xuống đọc cả ngày không bao giờ nghe nói mỏi mắt thì hàng bán ế là tự nhiên. Từ bao giờ, người trong xóm gọi má bà già đọc sách. Cứ tưởng Trời cho đôi mắt vô địch như vậy thì khỏi lo gì trắc trở nhưng không, một hôm ngủ dậy, cụ than đau nhức, chảy nước mắt, nhìn xa hình dáng sự vật một hóa hai. Em tôi hoảng kinh dẫn đi khám, bác sĩ không nói rõ thế nào, chỉ cho toa mua thuốc. Phải công nhận BS Việt nam phần nhiều rất ít lời, không hiểu họ “phục vụ” quá nhiệt tình đâm mất sức hay vì lương bổng thù lao thấp, họ không “ba hoa” giải thích quá nhiều như thầy thuốc ngày trước. Một tuần trôi qua không thuyên giảm lại có vẻ nặng hơn, em tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên nghe bà bảo:
       - Má mới đọc hết tập một cuốn Oliver Twist, con ráng kiếm cho má tập hai, nhìn gần còn rõ, lỡ mai mốt má bị đui rồi không đọc đươc.
Chưa kịp tái khám thì tình cờ, em tôi nghe phổ biến phương pháp tập thể dục cho mắt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trên radio, bèn thử áp dụng cho má. Như một phép lạ, chỉ tập nửa tháng là bà khỏi hẳn. Thế là màn đọc sách tái diễn cho đến khi em tôi nói với má không còn sách nào ở thư viện trường thích hợp cho má nữa thì cũng là lúc giẹp luôn trò bán kẹo và thuốc lá lẻ.
       Tôi chưa hết ngạc nhiên về sự đổi thay nhanh chóng của tinh thần người ta. Trước khi bị té, cụ vẫn đọc nhật trình, gặp những cảnh báo về sức khỏe, cụ gọi đứa này, kêu đứa khác bảo phải đọc để hiểu nên ăn gì, nên làm, nên tránh cái này cái nọ có lợi có hại cho sức khỏe...Thế mà, vừa bị tai nạn hôm trước, ngay hôm sau đã hoàn toàn suy sụp. Chẳng hạn:
       - Dẫn má xuống nhà tắm má đi cầu đi con!
       - Má té gãy chân rồi, đi răng được?
       - Bậy mà, má té hồi nào, té chỗ mô, gãy chỗ mô chỉ má coi!
       Cụ không thể tin mình không bước đi được nữa, nhất định không chịu đi vệ sinh ngay trên giường vì “đi chi chướng rứa”. Cụ bắt đầu lẫn lộn, vừa nói nghe rất hợp lý điều này xong lại toong ngay một câu trật lất không đâu vào đâu. Một buổi chiều ngủ dậy, má hỏi:
       - Ông bà ngoại đâu rồi con?
        Em tôi nói:
       - Ông bà trên thiên đàng nớ.
       Má bảo:
       - Bậy nà, ông bà chết hết rồi na?
       Chúng tôi chuẩn bị cho một ngày cụ quên hết, chắc chẳng còn lâu. Tôi ở xa với vợ con, công việc, chỉ mỗi mình cô em ốm yếu chăm sóc bà. Sự nhọc nhằn rồi cũng sẽ chất nặng bội phần trên vai gầy của cô. Cô bảo sự hy sinh của má nay đáng cho con cháu đền đáp hơn lúc nào. Phải, nhưng con cháu thì làm ăn ở xa, gia đình đùm túm, còn tôi, con trai, cũng đâu sống gần nên chỉ lãnh phần nhẹ hều.
(còn tiếp)
NAK


thơ hoàng xuân sơn


t h á i  đ ộ
     [ với Hải Phương, Lữ Quỳnh ở dốc Ngàn Xanh ]


                          Thiếu nữ. Tranh Ngọc Dũng


sao như bấc
lụn vào tim đèn
trời báo sẽ mưa
những giọt lưng mùa đông phố


căng thẳng như gió
[ tưởng tượng
                              buổi chiều cong như mây ]
thử ốm như cây.  lưng khỏng
buồn có khi
vẹo cả chân ngày


hãy thồ như ngựa.  núi đồi
cuốc bộ với bụi hồng
và cả con đường độc đạo
dẫn tới ngàn lau


HoàngXuânSơn
23 jan. 2013

NƯỚC ĐI LÀ NƯỚC KHÔNG VỀ


Lưu Na



                     Tranh Đinh Cường, với thủ bút Bùi Giáng
    
   Mây đến vừa kịp lúc Thái đẩy xe ra khỏi khu quan thuế của phi trường.  Thái ngập ngừng dừng lại giữa sân dõi mắt tìm người quen.  Đây nè, Thái, Thái.  Thái đẩy xe tiến tới phía Mây, hai đứa mừng mừng hất mặt cười thay câu chào.  Mây lắc vai Thái, tay sớt cái xách tay, hỏi:
   -Thái chỉ có 2 va ly thôi sao? 
 -Thì đây là quần áo đồ dùng cần thiết, những thứ khác Thái đã gửi bưu kiện rồi.
     Thấy Thái vẫn còn dáo dác, Mây phụ bạn đẩy va ly tách ra khỏi đám đông tìm chỗ ngồi ở những băng ghế đợi chung quanh.  Mình chờ “ổng” tới đón Thái chứ phải không?  Thái gật, hơi chút vướng víu.  Mây lu loa:
   -Thái mệt không, ngồi máy bay lâu chắc oải lắm há. 
   -Ừ, cũng hơi mệt.
   Vậy rồi hai đứa chợt lặng im giữa những tiếng người gọi đón nhau, tiếng ơi ới của trẻ con, tiếng loa của quầy thông tin, và những màn ảnh xanh dương chữ trắng đổi thay liên tục cập nhật tin tức của mọi chuyến bay chờ đáp xuống phi trường.  Có chút gì mệt mỏi hoang mang trên mặt Thái, không chỉ vì 15 tiếng trên phi cơ.  Nghĩ đến chọn lựa của Thái Mây vẫn thấy bàng hoàng băn khoăn.  Với Mây, đến được đất này rồi Mây thấy như mình kiệt sức, dẫu chẳng hài lòng cũng không còn muốn dời đổi kiếm tìm.  Còn Thái, sau nhiều năm gầy dựng Thái bỏ đất Úc để đến nơi này với một người sắp đi hết con đường của mình.  Có gì chờ đợi Thái?  Thái mong đạt được điều gì?  

    Ông Kha đã đến.  Ông tuy vồn vã mừng đón, nắm tay Thái lắc nhẹ hỏi han, nhưng lời lẽ vẫn chừng mực.  Để ông sinh kiếp khác biết đâu bớt nghiêm trang.  Nhưng làm sao khác được, những người của quá khứ, huống chi…   Dường như ông cảm được điều Mây đang nghĩ, lời nói như ngập ngừng và như nói vào quãng không.
    Về đến phố, cả ba vào một tiệm ăn dù Thái nhấn mạnh là không đói.  Cũng phải ăn qua loa một chút để có thể về nhà nghỉ ngơi.  Thì ăn.  Ba người ngồi ăn một cách uể oải rời rạc.  Ông Kha tiếp cho Thái một miếng, bàn tay ông run rẩy dù ông rất bình thản.  Mây lúng túng cúi mặt cố chú tâm vào món ăn để không phải quan sát hai người dù mọi sự vẫn lọt vào mắt Mây.  Nhưng Thái chỉ nhìn thản nhiên với chút lặng lẽ, rõ ràng điều ấy không thêm gì vào cái buồn bã hoang mang mơ hồ trên mặt Thái.  Dẫu không ngạc nhiên nhưng Mây nghĩ cần phải tập cho quen với một quan hệ, vì Mây đã biết từ lần gặp gỡ năm trước là rồi ông Kha và Thái sẽ đến với nhau. 
   Hôm đó Mây tình cờ có mặt, và cùng với Thái, hai đứa chỉ là hai người bạn trẻ tuổi giữa những người khách lớn tuổi ngồi chung quanh nơi phòng.  Mây hóng chuyện trong khi Thái mải chơi game trên phone.  Đang nói chuyện, ông Kha đứng lên ra ngăn kéo lấy một cái gì đó rồi đi về phía Thái.  Khi ông đến gần, dù không ngước nhìn Thái đã mở lòng bàn tay ra đón lấy như thể Thái biết ông Kha sẽ đưa cho Thái “cái gì đó,” và Mây biết, Thái cũng chưa rõ nó là món gì.  Phút đó Mây nghĩ ông Kha muốn nói với người chung quanh rằng Thái là của ông, nhưng Mây không dám chắc Thái ý thức điều đó ngay lập tức.  Đứng giữa họ, Mây và Thái là những đứa trẻ đi lạc.  Họ là những người lớn tuổi, có địa vị và một chỗ đứng nào đó trong xã hội cũ, cái thuở Thái và Mây mới chào đời.  Họ vẫn có người còn “trình” tư lệnh.  Một số gọi ông bằng đúng danh xưng… giáo sư.  Và rất nhiều tiếng gọi nhà văn (như thể những danh xưng ấy làm họ ấm lòng khi gọi lên !!!!)  Dù không ai bắt được ý nghĩ mỉa mai ấy, Mây tự trách mình quá quắt, và Mây nghĩ Thái cũng chẳng cared gì những cái danh hiệu ấy.  Lứa của Mây khi lớn lên thì đã xa, xa lắm thuở huy hoàng của họ.  Mây không ngạc nhiên với quan hệ chênh lệch tuổi tác của Thái với ông Kha mà chỉ thắc mắc vì không thấy được cái gạch nối giữa hai người.  Thái, Thái có tỉnh táo không?

***

    Mây đậu xe, băng qua cầu vào lối đi bộ.  Dọc theo đường đê, những tảng đá vừa vừa đứng cách nhau một khoảng nhỏ như đám người lố nhố đứng ngó xuống mặt đầm.  Nắng rực rỡ, tóe muôn ánh sao trên nước.  Bên cạnh cò trắng và chim mỏ quặp dài như móng tay phù thủy, những con chim nhỏ bằng nắm tay Mây chậy trên mặt bùn nhanh như những cụm bông gòn bị gió cuốn, chúi đầu kiếm ăn.  Cuối một góc quanh, có ba chàng “ngự lâm” mặc ba chiếc áo khoác liền mũ trùm đầu kiểu từa tựa nhau, mầu đỏ, màu xám, và màu đất, đứng chụm đầu.  Ba ống kính to như ba khẩu cà nông chúc xuống đất.  Chắc chắn là không phải bàn chuyện chụp hình rồi.  Nhưng Mây không có thì giờ thắc mắc, bầy chim nhỏ vụt bay lên chấp chới lấp lánh  như đàn bướm trắng trong ánh nắng vàng rực rỡ.  Trời trong và gió nhẹ.  Mây đi không chủ đích, bước chân càng lúc càng nhẹ nhàng, như thể mỗi bước chân lần rũ được những nghĩ suy xuống cát, để gió sẽ tung nó lên không trung, rồi nắng sẽ chiếu xuyên qua nó, và rồi, Mây sẽ có thể hiểu có thể nắm bắt được ý nghĩ của mình, xếp nó lại ngay ngắn và nhét trở vào cái đầu bé tí.  Mây vừa đi vừa nhìn ngắm, lâu lâu lại dừng để chụp vài bức hình. 
   Đến khúc quanh khác, lại qua một chiếc cầu.  Về phía Tây nắng càng gay gắt.  Bên này đê, những con vịt trời rụt cổ rúc mỏ vào cánh ngủ im trên mặt đầm như những trái banh nổi lềnh bềnh trên giòng nước lặng lờ.  Bên kia đê, đầm nước đầy những gốc cây khô chết ngả nghiêng trên mặt, rêu xanh óng lên trong nắng dọc theo bờ.  Xa xa bầy chim trắng dày đặc kêu lảnh lót.  Như bãi chim của Sơn Nam.  Có phải rừng tràm rừng mắm của Bình Nguyên Lộc?  Mây bắt gặp mình lại nghĩ đến quê hương, dù Mây đã ở đây hơn 30 năm, hơn số tuổi sống ở Việt Nam.  Có bao giờ Mây thoát được cảm giác sống tạm nơi mình chắc chắn sẽ chết?

   Sáng nay Mây đưa Thái vào Ikea mua vật dụng trong nhà.  Đồ của Ikea rẻ, tiện, và hợp cho những căn nhà nhỏ, những khoảng đất hẹp.  Thái thuê một căn apartment một phòng chứ không ở chung với ông Kha.  Mây không hỏi lý do, vì nếu là Mây Mây cũng sẽ làm như vậy. 
   Hai đứa đi lang thang trong kho hàng mênh mông ngăn nắp và đầy màu sắc.  Bàn ghế cứ như là đồ chơi, cứ như cho sinh viên ở, cứ như cho những cặp vợ chồng mới có việc mới lấy nhau.  Toàn những thứ thuận tiện cho một khởi đầu, và cũng toàn những thứ dễ dàng bỏ đi trong nay mai, khi người ta có đời sống cao hơn, chí ít là họ tưởng như thế.  Những chậu cây be bé xinh xinh, cái màn mong mỏng, cái ghế nhẹ tênh.  Mây chợt nhớ cô bé Mathilda trong phim cũ rích “The Professional.”  Số phận đẩy cô nhỏ 12 tuổi trú vào chỗ của tay sát thủ, để trở thành một người bạn nhỏ, một đứa con gái…  Đời sống bấp bênh bất trắc theo với nghề sát thủ, khi phải bỏ chỗ ở này qua một chỗ khác, tay sát thủ gom góp vật dụng vào một chiếc thùng giấy, và cô bé Mathilda thì chỉ mang theo trên tay một chậu cây nhỏ.  Giống như mấy chậu cây nơi kho hàng này.  Giống như những thùng giấy mà Mây đã bao lần xếp đồ dùng để mang đi.  Kể từ lúc nào thì Mây luôn sẵn sàng cho một cuộc dọn nhà?  Hay đúng hơn, kể từ lúc nào thì Mây sống trong cảm giác tạm bợ?
   Cuộc dọn nhà đầu tiên không để lại ấn tượng gì trong lòng Mây, chỉ vài hình ảnh rời rạc lỗ chỗ.  Từ hẻm Hòa Phú bên đường rầy, Mây qua ở hẻm đối diện bên kia đường_xóm con Tám.  Đầu hẻm bán cóc xoài mít chuối lát nướng nghêu luộc…  Ngang hông hẻm ăn thông ra ngõ rộng đủ cho xe hơi đi, đối diện ngõ hàng quà.  Cuối xóm là nhà giò chả cái gì Hương không nhớ, với hai tay giã giò mình trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại ngồi ôm cái cối to đùng.  Cái cối to tới nỗi không có chỗ cho quần áo, chỉ được cái xà lỏn xắn lên hết mức, hai tay luân phiên nện 2 cái chày to như 2 gốc cây, gấp chục lần loại chày thường dùng trong bếp xuống cối thịt hồng mịn.  Lâu lâu thợ giã dừng tay dựng chày trong cối để quết miếng giò bị văng lên cái bụng loáng mồ hôi trả xuống cối…  Mây chưa kịp biết giã bao lâu mới xong cối giò và lúc nào Mây sẽ có em (đột nhiên Mây thấy bụng Má to lên) thì đã dọn qua hẻm 365.   
    Nơi xóm Phan đình Phùng Mây bắt đầu đi học trường Bàn cờ và chơi với Thái năm lớp nhì.  Hai đứa thường đi cặp kè lang bang hoặc qua nhà nhau chơi, rồi lại dạt nhau ra khi lên trung học vì không còn chung lớp dù vẫn chung trường.  Trong xóm nhỏ ấy Mây đã biết soi gương, biết chép nhạc, biết nghe lén chuyện người lớn, biết đợi thằng Lù trên gác mỗi đêm, biết mắc cở khi phải theo mẹ ra dọn sạp hàng ở đường Lê thánh Tôn, biết đi một mình ra chợ hoa Vườn Chuối ngắm ông đồ già viết chữ đỏ trong sạp.  Tất cả những chuyện ấy đều tầm phào bé mọn, như những chổi cùn rế rách chất lên mấy chuyến xe ba gác dọn qua Thủ Thiêm.  Nỗi buồn mênh mang thơ dại như làm đậm thêm mùi bùn ở ven sông những sáng dắt xe đạp xuống cầu phao qua đò để đến trường.  Vài tháng sau thì đại bác nổ  dồn hơn, hỏa châu sáng suốt đêm cho đến một ngày bến sông xao xác nườm nượp người hai bên bờ với tàu thuyền hớt hải…  Mây tưởng như mình là cọng rác trôi qua âm thầm.  Về đến hẻm Vạn Hạnh thì Mây gần thành một thiếu nữ, và xóm trong là những kỷ niệm đi về với lớp học mới trường cũ, với những bận lén đi nhà thờ, trong khi xóm ngoài cất những giòng nhật ký, những buổi hẹn hò, những lần liều mạng đi kiếm người thăm người.  Quê hương là đâu, đất nào mới thực là quê, mái nhà nào mới thực là mái nhà ấm lạnh?
   Đứng nơi đảo gập ghềnh đồi dốc, mọi mái nhà đều là những tấm “tăng” màu xanh biển trên sàn bằng cây tròn ghép lại, quê hương bắt đầu là một màn sương đặc kịt đen thẫm vang ầm tiếng sóng mỗi đêm về.  Ở đó Mây bắt đầu thấy mọi điều chỉ là tạm bợ.  Ở đó Mây bắt đầu mang nỗi ám ảnh về một quê hương mơ hồ. 

   Đến nay đã 31 năm, Mây đã dọn nhà bao nhiêu lần, thay đổi bao nhiêu cuộc sống?  Thuở đó chưa có Ikea, Mây cứ mua đại mua bừa đồ dùng chứ không sắm không chưng không gầy dựng tổ ấm như mọi người.  Mây luôn thấy những món đồ ấy không thay thế được cái tủ áo bạc màu sơn của mấy chị em Mây, cái ghế ni lông tròn vạnh Mây thường ngồi, cái tủ búp phê má chưng bộ ly, con búp bê chớp mắt.  Lũ bàn ghế tủ nơi đất mới cứ như toát ra cái lạnh lẽo của món đồ thuê để dùng tạm.  Luôn cả lũ chén nồi thường ngày_bể không tiếc móp không đau.  Mây tưởng mình đã dư dả đủ dùng nên không tiếc, cho đến khi đứng cùng Thái nơi cửa hiệu này để lựa hàng.  Những sản phẩm nhẹ nhàng của Ikea như khẳng định, rằng cái bất an chộn rộn là ở lòng Mây chứ không ở món đồ dùng.  Chốn này chỉ là chỗ ở tạm, chỉ để qua một đêm dài, chính vì lòng Mây không quên được chốn cũ nhà xưa; và không chỉ cái xóm Phan đình Phùng nơi Mây đã kết bạn cùng Thái nơi Mây nhận biết chính mình mà mọi con hẻm hình thành nên con người Mây đều trở thành quê hương khi Mây đã xa đã mất nó.  Bây giờ Mây hiểu tại sao người Bắc di cư 54 luôn thương tưởng đất Bắc sau bao năm mọc rễ trên miền Nam.  Cái tâm lý bất an đã khởi đầu từ lúc bật ra khỏi “quê hương;” nơi nào mình tới sau này cũng đều cho mình cảm giác tạm bợ cho đến khi mình chết. 
  
   Mây đã lén nhìn Thái ái ngại.  Thái, Thái, Thái cũng như Mây, đã sống trưởng thành nơi đất lạ, giờ bỏ đi có khác nào tự mình cậy mở vết thương không bao giờ lành.  Mây nhớ câu hát “there’s a reason why people don’t stay where they are….”  Thái có thấy đau?  Thái có buồn không?  Cái hoang mang theo từng bước chân Mây trên bờ đê.  Một cơn gió thốc tới, lũ vịt trời vụt cánh bay lên một loạt làm xao động một khoảng trời, Mây chợt nghe ra cái im vắng nơi vùng đất rộng mênh mang.  Trên chiếc cầu đã đi qua giờ có 4 người đứng im như tượng, chỉ những cái bóng của họ xao động trên mặt nước theo chiều gió lăn tăn.  Mười ngàn năm trước cây chắc cũng từng khô rũ, rêu chắc cũng từng thẫm xanh chờ óng trong nắng chiều, ai đó chắc cũng từng in bóng.  Phút chốc Mây tưởng mình là một gợn sóng sắp tan vào nước muôn trùng, phút chốc Mây thấy cái cô đơn của riêng mình tan biến vào hiu quạnh lớn, phút chốc Mây thấy tại sao người ta lánh mình vào chốn hoang dã, lên non cao.  Có quạnh hiu cô đơn nào lớn hơn được đất trời…

***

   Đại hội của cựu học sinh thật đông đảo công phu và hào nhoáng.  Tha thướt lượt là son phấn, đứa nào cũng ráng móc cho ra một tấm áo dài để tròng vào người.  Mây được Minh chia cho một khổ vải tím may tấm áo dài 2 lớp.  Mầu tím rịm trông thật thướt tha, Mây đeo thêm đôi bông tai tòn ten (nhà quê !!!) vào và thấy mình lột xác lọ lem cao bồi trở lại cái bóng nữ sinh mà những năm còn nhỏ tuổi Mây cũng chưa hề có được!!!  Mây đứng dang ca cùng lũ bạn cũ chụp hình ký tên… Chụp với hết nhóm này đến nhóm khác cười mỏi cả miệng, nhìn mãi máy hình nước mắt cứ chực trào ra, Mây đâm chán quay ra dành mua áo thung có huy hiệu của trường và rước một cuốn đặc san dù không chắc mình sẽ đọc!!!  Gặp một đàn chị nhưng lại là đồng nghiệp Mây cứ trố mắt ra nhìn.  Thái cười cười hỏi “bộ Mây chưa thấy ai đẹp vậy bao giờ à?”  Nhưng Mây thấy như có gì lạ trên mặt bả mà không biết là cái gì.  Bả cắm lông mi giả, sửa mũi, cái đồ ngớ ngẩn.  Mây lắc đầu chịu thua.   Nhưng không thể đàn đúm lâu cùng Thái vì Thái phải vào với ông Kha nơi bàn của khách quý, gồm thầy cô và những người tên tuổi, vai vế.  Sau lưng Thái bọn đồng khoá nói với nhau “hắn chỉ chơi với Hội trưởng và Tổng thư ký thôi đó nha…”  Có đứa thì thào, “nghe đâu còn phụ tá trong hội chiến sĩ của ông Kha nữa đó.”  Mây băn khoăn ngơ ngác tìm Thái.  Có phải là Thái của Mây từ thuở Bàn Cờ?  Nơi bàn tiệc Thái ngồi ngay ngắn và chăm chú những khi ông Kha nói chuyện chứ không khoa tay chân chồm với như Mây và lũ bạn bên này.  Dẫu vậy, Thái vẫn như lạc loài giữa những khuôn mặt chảy xệ nhăn nhó!  Ăn uống xong thì văn nghệ càng ồn ào, Mây không còn chú ý đến Thái và hai đứa lạc nhau trước lúc tan tiệc.

***

    Khi Mây thức dậy trời đã sáng bảnh.  Mây hé nhìn ra vườn, nắng đẹp.  Thái gọi nói đã có hình, rủ Mây đi ăn rồi ghé về chỗ của Thái tán dóc.  Thái vẫn giữ được thói quen dậy sớm từ những năm còn đi học, trong khi Mây thì chỉ chờ đến ngày nghỉ để nướng cho đã.  Khi Mây đến Thái đã sẵn sàng, hai đứa rủ nhau đi ăn bánh cuốn.  Thái nhướng mày

   -Tới tiệm phở ăn bánh cuốn?
   - Ừ, mà bánh cuốn ngon nhất nơi đây. 
   -Coi bộ mấy đứa ngớ ngẩn thì cả chuyện ăn uống cũng ngớ ngẩn. 
   -Chờ xem tao có nói sai không.  Thái cười cười,
   -nói thử tao nghe ngon ra sao
   -Bột gạo, không pha bột năng cho dẻo cho dòn mong để dành được lâu.  Mấy thứ bánh đó ăn đầy bụng.  Bánh tráng bằng nồi hơi căng khuôn vải nên miếng bánh mềm ấm hơi nước.  Nhân trộn theo lối ở Việt Nam: mộc nhĩ thịt băm củ sắn tiêu chứ không chỉ toàn thịt như ở đây làm biếng “lấy thịt đè người.”  Vậy được chưa?
   -Hóa ra không ngớ ngẩn lắm!!!

   Quá trưa hai đứa mới về đến chỗ Thái.  Thay bộ quần áo mặc nhà xong, Thái mang xấp ảnh mới có ra ngồi xuống bên cạnh Mây.  Trong lúc Thái chăm chú nhìn hình để tìm những mặt quen mà hôm đại hội chưa kịp gặp thì Mây chăm chú những bức hình của thầy cô xem mình có nhớ mặt ai không.  Thái chỉ cho Mây một “thầy.”  Thầy mới thành thầy sau này, khi đã ra nước ngoài !!!!  Thái cười vang, không biết “thầy” có “làm thầy” được không.  Mây vui bắt lại được một Thái hồn nhiên tinh nghịch của thuở học trò.  Hồi đó lên trung học rồi mỗi đứa mỗi lớp, Thái và Mây không còn chơi với nhau ngoại trừ những lúc thỉnh thoảng đụng mặt trong trường.  Trong lúc Mây cứ vơ vẩn ngẩn ngơ, Thái đã vào đội tuyển bơi của trường và tập dợt dưới hồ mỗi ngày.  Nhiều bữa lớp chiều đã về hết Mây thấy Thái vẫn còn bơi qua lại dưới hồ, có lẽ cho đến khi lớp đêm vào.  Thái bơi, bơi mãi như không biết có gì khác trên cõi đời ngoại trừ làn nước.  Những khi Thái nhô lên hớp không khí, làn da trắng hồng đọng đầy nước như đóa hoa hồng trắng mới được tưới.  Cho đến bây giờ Mây chưa bao giờ thấy Thái phải điểm trang, và cái cách cương quyết dám chơi của Thái như toát ra nơi khuôn người cứng cáp nơi cử chỉ dứt khoát và cách cư xử rất đàn ông.  Khi đổi đời, Thái học và trở thành huấn luyện viên thể dục cho trường trung học, nghĩa là bộ môn thể thao nào Thái cũng chơi được.  Bắt được tin nhau, trong lúc Mây vẫn rụt rè không biết nối cái tình bạn đã gián đoạn ấy ra sao thì Thái đã hân hoan gửi thư gửi hình liên lạc lại với Mây.  Nếu phải tả, có lẽ Mây sẽ gọi Thái là một tay chơi, một tuyển thủ, như Thái đã từng.  Vì lẽ gì Thái đến với ông Kha?
   Mây không bao giờ dám hỏi.  Mây chỉ nói qua loa với Thái những điều nghe được nơi đại hội.  Thái thản nhiên, như lúc nhìn bàn tay run rẩy của ông Kha, hỏi Mây:

   _Mày nghĩ ổng ngồi chung với một lũ nhóc như bọn mình được không?
   _Chắc không
   _Mày nghĩ ổng vô cái đại hội đó với tư cách gì tốt hơn?  Không phải là thầy, chẳng phải trò, làm bạn thì quá lứa làm cha thì lạc quẻ. 
   _Thì vào bàn khách quí và ban chấp hành phải hơn
   _Vậy nên tao đành mang tiếng bon chen để ông khỏi bẽ mặt.  Thà chịu trận ngồi chung với “quí cụ,” dù chán lắm cũng còn “sướng” được là người trẻ nhất.

   Hai đứa cười ầm.  Mây chịu cái thẳng thắn và dứt khoát ấy.  Thái nhẹ giọng, chút bùi ngùi. 

   _Ổng đã gần tới bến, có còn gì đâu ngoài quá khứ.  Ba cái hội, cái tổ chức, nó chỉ là chỗ cho mình biết mình còn sống.  Nói nọ nói kia, kề micro vào miệng để vang ra một tiếng gì đó thì cũng như kề tấm gương nhỏ vào sát mặt xem gương có mờ hơi thở, xem mình đã chết chưa…  Tao không giúp ổng thì sẽ có khối lang băm thầy dùi “giúp” ổng, cho nát như tương.  Thà tao giúp ổng may ra còn ít chuyện ruồi bu. Mày nghĩ bọn họ thực quí trọng ổng sao? Tao không vào địa ngục thì còn ai vào.
   _Ủa, bây giờ còn chữ nghĩa dữ vậy a.
   _Mày nghĩ chỉ có mày biết đọc?  Hồi tao ở với anh Lộc quanh nhà chỉ toàn sách nên cũng đọc giải buồn, từ từ rồi đọc hết tủ sách trong ngoài không hay.
   _Có thích loại nào đặc biệt không?
   _Không.  Chữ không giải quyết được những vấn đề của cuộc sống. Chữ là chữ, đời sống là đời sống.  Phải sống chứ đọc thì chả ích gì.

   Hm, ok, Mây rút ra quyển truyện mỏng, “Thái đọc Đêm Lãng Quên chưa?”  Mây đinh ninh mình sẽ mang được cho Thái một ngạc nhiên thích thú, không dè người ngạc nhiên là Mây. 

   _Tao đọc rồi
   _Hay?
   _Hay, mà để cho mấy đứa như mày đọc
   _Nghĩa là sao chứ, cái gì hay là hay.
   _Đêm Lãng Quên đương nhiên là hay, tao không nói gì khác.  Nhưng Đêm Lãng Quên là để đọc, để ngẫm nghĩ, còn ông Kha là “sống” cái ý nghĩ đó.
   _Sống sao được với một người đã không còn có thể cho và nhận?
   _Tùy theo cảm quan về tình yêu và sự sống của mỗi người.  Bọn mình đến đây thì cũng hết còn ước muốn.  Bây giờ có ai rượt theo mà “cho” tao chắc mày chạy không kịp, ở đó mà đòi “nhận”!!! 

   Mây cười òa.  Khi hai đứa đã hết cười, Thái hỏi Mây

   _Thích chụp hình lắm phải không?
   _Rồi sao?
   _Vậy mày có chụp được hơi ấm của nắng bao bọc tấm thân trần khi mở bung vạt áo dang bước chân đón ánh nắng tươi, có chụp được trọn vẹn một đời sống 80 năm đặt trong một cái hôn? Có chụp được cái héo hắt tàn hơi của một sinh mạng? Tám mươi năm_đời sống đó là bức trường thành, mỗi viên gạch chứa trong nó lỗi lầm kinh nghiệm khổ đau kiến thức và niềm yêu tha thiết.  Có gì đẹp hơn, từ phút tuyệt vọng, phút hoan lạc cho đến phút cùng cực đọa đày…  Một đời người, sống trọn vẹn cho đến giây phút cuối nghĩ cho cùng là một hân hạnh, một ân huệ.  Phải có mới cho, phải nhận mới biết.  Cho và nhận đó trên cả tình trên cả sự cảm thông, như mưa tự trời như vạt nắng…

   Thái như chỉ còn lẩm bẩm một mình.  Mây thấy hoang mang mịt mờ.  Đột nhiên Thái_ thẳng thắn mạnh bạo cương quyết và tươi khỏe như một đóa hồng trắng mới -trở nên một Thái khuất sâu trong bóng đêm.  Thái, Thái đã đi đến khúc quanh nào của cuộc đời?


***

   _Thái, lâu nay biến đâu mất?
   _Ở nhà chứ có đi đâu.
   _Sao không qua Mây chơi.
   _Thì qua nè.
   _Ông Kha?  Thái lắc đầu.

   Mây lấy xe rủ Thái lên dốc đồi nghiêng.  Ngồi nơi triền cỏ xanh nhìn ra mênh mông trời biển, chậm rải, Thái nói,

   _Ổng có bạn ghé thăm nên Thái lánh mặt. 
   _Thái phải phụ tiếp bạn bè của ông chứ.
   _Người ta từ tiểu bang khác sang đây, đương nhiên phải có lời mời, và nhất là không phải để gặp Thái. 

   Mây nhái giọng Bạch Tuyết, vai cô Ba trong tuồng Lá Sầu Riêng, rít lên
   _Trời ơi, chị Haaii, chị phải làm sao coi cho được, phải ráng mà giữ lấy cái tình yêu cuối đời của mình chớ.
   Thái cũng lấy giọng Kim Cương “má thằng Sang”
   _Thôi mà cô Ba, cô cho tui xin ba cái chiện tình yêu tình ma gì đó đi, già háp rồi.  Tui yêu chỉ có một lần mà đã xấc bấc xang bang…
   Thái nháy mắt, Mây cười om xòm
   _Buồn?
   _Không hẳn.  Những người tình cũ vẫn thư từ thăm hỏi ổng.  Có bà từ Việt Nam sang chơi còn ghé thăm, Thái đi chơi cùng họ như một nhóm bạn, thấy cũng đầm ấm thôi.
   _Vậy người này có gì khác?
   _Không phải người ấy mà là ông Kha.  Ông không nói dối với Thái nhưng ông không nói thật, mà khi mình figured out đâm thấy như bị gạt.  Cái tệ nhất trong một cuộc chơi không phải là bị thua mà là bị người ta ăn gian làm hư cuộc chơi, biến cái hạnh ngộ thành chuyện bể dâu…
   _Nhiều khi mình không từ chối được?
   _Không từ chối được cũng đâu cần phải rủ rê mời gọi.  Thái nhớ, hồi mới lớn đọc câu thơ Nguyễn Tất Nhiên “em khó chịu mà thư nào em cũng nhận…” Thái ít dám nhận điều gì vì sợ mình không trả được, nhất là nợ tình.
   Đâu phải lúc nào mình cũng có thể sòng phẳng, nhưng Mây chỉ dám nghĩ thầm.
   _ Thái không đi tìm hay muốn gầy một tình yêu với bất cứ ai. Sông rồi đổ về biển cả.  Đã tới rừng tràm sắp qua rừng mắm, ba cái thứ tình bánh kẹo rồi chìm xuống đáy sông chứ đâu theo được nước ra khơi…
   Không biết sao Mây lại buồn trước cái thản nhiên đó.  Phải chăng Thái là sông con phải một lần tìm nguồn nước xưa để hòa nhập trước khi nước kia đi mãi không về, và đã đến lúc chia đôi dòng nước? 
    Hai đứa đứng lặng yên bên nhau trên triền đồi.  Dưới xa là biển với những dàn khoan và tàu dầu mờ mờ.  Chiều xuống thật êm trên dốc cỏ xanh nhưng mây đen đã đổ tới.  Thái nhìn trời nói, hôm nào mưa hai đứa mình xuống hồ bơi?  Mây chợt nhớ, nhớ…  Những ngày đó, mỗi khi trời mưa hồ rất vắng, chỉ một vài đứa ham dầm nước còn nán lại dưới hồ.  Khác với Thái, Mây không biết bơi cho rõ rệt, chỉ bơi quơ quào kiểu bơi chó!  Nhưng Mây cảm được, khi dầm mình trong làn nước, tẽ đôi cánh tay xẻ làn nước vượt lên, bung ra như một cành mới trổ, rồi lại co về hòa với khối dữ lặng thầm, nước với mình như một.  Lúc mưa đổ nặng hạt, ngước mặt vượt lên để đón những giọt lạnh trong gieo xuống -thấy mình hòa giữa đất trời … 

    Trên đường về Thái nói Mây hát cho Thái nghe.  Mây hát rồi không dừng được, tiếng hát tuôn ra thì như nỗi cảm hoài dội lại vào lòng.  Bài nọ nối bài kia, những lời hát như chực chờ sẵn đâu đó mà ào ạt đổ ra…

“Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hời hò khoan
Sông còn mải mê cho nên chưa về mẹ quê
Khoan hời hò khoan
Không tìm tình thương cho nên không đường về tim
Khoan hời hò khoan, khoan hời hò khoan
Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hời hò khoan
Ai bảo là sông, ơi sông không đổi mầu luôn
Khoan hời hò khoan,
Sông còn ngổn ngang cho nên chưa được bình an
Khoan hời hò khoán, khoan hời hò khoán …”*
   Mây nghẹn giọng, Thái hoảng hốt khi thấy Mây hoen nước mắt.  Mây, Mây, chỉ là chuyện nhỏ, Mây đừng để lòng.  Mây biết đó, Thái không phải là người không biết tìm lẽ sống.  Đất cao trời rộng, trong cõi đời này tìm được một người đồng cảm mới là đáng kể, mà đáng kể rồi cũng là bọt nước thì mọi chuyện khác không nghĩa lý gì.  Thật?  Thật.
   Mưa chợt đổ nặng.  Như có một ước muốn bất ngờ thôi thúc, Mây tạt xe vào một công viên nhỏ bên đường.  Hai đứa nhìn nhau rồi không hẹn mà cùng bước ra khỏi xe ngửa mặt lên đón những giọt mưa.  Thái, Thái, khi đến lúc, Mây sẽ cùng Thái tiễn một giòng sông…

Lưu Na
01/25/2013

*Phạm Duy, Trường ca Mẹ Việt Nam_Sông Mẹ