Wednesday, September 9, 2020

CHIỀU ĐỌC LẠI THƠ BẠN*

Đinh Cường

Tranh Đinh Cường

ôi. thơ anh
như cánh bướm
như nụ cười
cái chết.
(Nguyễn Xuân Thiệp)

Không gì buồn hơn
giữa chập choạng tối
trời mưa lay bay
cây phong sau nhà
lá ửng đỏ. như rượu

rượu không ai uống cùng
Thiệp ơi. thôi thì đọc
lại trang thơ của bạn
trên Trẻ xuân năm ngoái
mới đó lại làm báo xuân

thời gian. thơ bạn vẫn
như cánh bướm kia.
tạo ra những chấn động.
rền. trên những phế tích
của ngày qua

butterfly effect
hay hiệu ứng những hạt lệ
đúng rồi làm sao quên
Sagan. nàng như thầm
thì nói cùng chúng ta
Bonjour tristesse...

còn gì buồn hơn
lúc chập choạng tối
con sóc đến vẫy đuôi
chào. xin thêm hạt đậu
ra đào cất giấu
rồi phóng thật nhanh
lên cao. đi ngủ

và Thiệp ơi giờ này
trong căn phòng ấy. ở Dallas
bạn đang làm gì
trong bóng đêm về
nhớ không. thời Đà Lạt
bên đống lửa.
đốt bằng trái thông khô [*]

nay những người bạn
chúng ta yêu quý đã ra đi
gần hết ...
chỉ còn lại giọng blues buồn
chỉ còn màu trời đêm
không ánh sao. và nước mắt.
ĐC

Virginia, October 14, 2014
[*] Hiệu ứng cánh bướm, thơ Nguyễn Xuân Thiệp, Trẻ – Xuân Giáp Ngọ 2014



Saturday, September 5, 2020

M Ù I M Â Y

Hoàng Xuân Sơn

Mây. Photo by Jenny Vo

đồi của nguời
rừng của trời
đi hoang nhánh lạ
cây bồi tịch liêu
ờ thì bước
[chậm]
                        liêu
                                xiêu
men theo dấu đợi
tuổi chiều ngây ngây
già đi
cũng có phiên ngày
mây nghe sảng khoái
chút gầy vóc thơm

H O À N G  X U Â N  S Ơ N
đi bộ sáng ngày 4 tháng 9
năm 2020


Friday, September 4, 2020

MƯA Ở ĐÂY. MƯA TỪ RẤT XA, RẤT XA…

nguyễnxuânthiệp

Mưa trên những chum bông gạo chùa xưa

     Sáng nay, trời Garland âm u, có tiếng sấm dội từ xa và mưa thưa đây đó. Chợt nhớ câu thơ ngày nào đã viết: mưa ở đây. mưa từ rất xa. rất xa... Vậy, mưa từ đâu vậy cà -từ Sài Gòn, tất nhiên. Cũng có thể mưa từ Woodstock và Rừng Phương Bối. Cứ nghĩ ngợi lan man như vượn chuyền cành, và rồi lòng tự hỏi lòng: Tháng bảy, chớm thu rồi ư? Nghe nói Sài Gòn mùa này có những trận mưa tầm tã. Mưa suốt một buổi chiều. Mưa tới khuya. Mưa kéo dài đến sáng hôm sau. Chợt hình dung thấy những ngõ hẻm loang lổ ánh đèn và những bóng người trong mưa. Bạn gần đây viết trong email: Đêm qua trời mưa lớn. Mưa đêm, buồn và nhớ những hồn xa.
     Vâng, mưa làm nhớ những hồn xa. Qua bên này nghe ca khúc Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng lại càng nhớ da diết. Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa……
     A, những hồn xa trở về tìm hơi lửa ấm. Xin nhắc lại ở đây một đoạn văn đã viết: Tháng Bảy, Vu Lan, mình sẽ đi mua một lồng chim mở cửa thả chúng bay lên trời, rồi đi chùa Già Lam cúng cha mẹ, rót rượu lên cỏ cho những người đã nằm xuống... Chuyện ảo hay thật? Em nhé, đêm nay trời sẽ mưa, hứng giùm anh đôi giọt nước từ trời. Để anh mường tượng lại Tháng Bảy ở quê nhà. Tháng bảy nước nhảy lên bờ... Tháng bảy mưa sa mù mịt những cánh đồng... Đó là thời tiết ở quê xưa vào khoảng thời gian này. Nó làm cho bầu không khí trở nên u trầm, buồn bã,  khiến ta nghĩ đến những giọt nước mắt của vợ chồng Ngâu. Truyền thuyết về tình yêu trắc trở của tiên cô dệt vải (Chức Nữ) và tiên cậu chăn trâu (Ngưu Lang) không ai là không biết. Do lỗi của hai người mải yêu nhau mà biếng nhác công việc, mỗi năm chỉ vào ngày 7 tháng 7 Ngọc Hoàng mới cho họ gặp nhau một lần. Bước trên chiếc cầu, gọi là cầu Ô Thước - do đàn quạ đen nối nhau mà thành- hai vợ chồng không nói nên lời, nước mắt rơi xuống sông Ngân... Do đó, tháng Bảy được gọi là tháng Ngâu (Ngưu) vầy.
   Ờ, phải rồi. Tháng Bảy ngâu vầy, do trời làm cho đôi lứa phải cách xa đôi bờ, làm cho những người yêu nhau không thấy mặt nhau. Chuyện trong thần thoại mà cũng chuyện trong cuộc đời. Tuy nhiên, nói như vậy, dường như chưa trọn ý: trong cõi đời này, đôi khi chính người đã làm cho người xa nhau.
   Thì chế độ ở Sài Gòn bây giờ đấy, nó đã gây ra cuộc phân ly lớn trong lịch sử. Nó làm cho cả triệu người bỏ nước ra đi, khiến cả trăm ngàn người chết trên rừng trên biển không một nấm mồ để tưởng nhớ. Trong khi đó, ở trong nước, các thành phần đảng viên và cán bộ ăn trên ngồi trốc, nắm hết mọi tài sản và quyền lợi, đẩy quần chúng xuống hàng chó ngựa.
    Vậy đó. Những ngày này mưa rơi trên những vỉa hè không hàng quán. Mưa rơi trên gạch đá Đồng Tâm. Mưa rơi trên hàng cây trụi lá ở Lộc Hưng. Thấy bóng cô bé áo đỏ ôm cặp sách ngồi dưới mưa. Và mưa rơi ở đâu nữa? Xin đọc bài thơ Haiku của Nguyễn Thánh Ngã với lời bình của Hoàng Kim Oanh.
     Chắc những bạn từng quan tâm yêu mến Haiku Việt chưa quên người đoạt giải nhất cuộc thi Haiku Việt năm 2009 với bài thơ đẫm tình người viết về đứa trẻ mồ côi nghèo lây lất nơi xó chợ:
Xó chợ
chiếc lon trống
hạt mưa mồ côi
(Nguyễn Thánh Ngã)
     Chợ là chốn phồn hoa náo nhiệt, người qua kẻ lại bán bán mua mua... vậy mà cảm thức mồ côi lại bao trùm cả đất trời. Mồ côi là không còn cha không còn mẹ bảo bọc đỡ nâng, không còn mối yêu thuơng ấm áp bảo ban nương tựa nào. Mồ côi là trơ trọi, là bơ vơ giữa dòng dời...Mưa từ trời. Mưa mồ côi hay chính đứa trẻ không ai nương tựa phải ăn xin độ nhật nơi xó chợ? Hay cảm thức mồ côi trong câu Haiku cuối của Nguyễn Thánh Ngã đã mở rộng biên độ nghĩa của nó, là sự hờ hững vô tâm ghẻ lạnh của chợ đời, chiếc lon từ tâm trống rỗng, hay lòng nguời vô cảm buổi cơm áo gạo tiền làm mờ đi lòng trắc ẩn xót thương...?
Hạt mưa
mồ côi...
    Mỗi lần đọc bài Haiku này của Nguyễn Thánh Ngã lòng cứ buồn miên man! Trẻ thơ trên đất nuớc mình vẫn muôn nỗi bất hạnh nhọc nhằn...HKO 
   Thế đó. Mưa ở đây. Và mưa ở quê nhà trong những ngày Tháng Bảy này. Ôi Nguyễn Du. Ôi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh. Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt. Toát hơi may lạnh buốt xương khô…
NXT

Wednesday, September 2, 2020

BẢO NHAU NGÀY ẤY VU LAN

Nguyễn Thị Khánh Minh

Bông hồng Vu Lan

Mẹ ơi. Lại một mùa Vu Lan nữa, con lại được hạnh phúc lập lại điều này, đọc cho Mẹ nghe bài con viết về Mẹ, năm nào cũng chỉ đọc mỗi bài này, và năm nào đọc cho Mẹ nghe xong Mẹ cũng khóc, con cũng khóc. Mẹ ơi, những giọt nước mắt ruột thịt vô cùng ấm áp nối nhịp đập tim con và Mẹ. Con trong Mẹ. Mẹ trong con. Chữ Mẹ, con như ngày nhỏ, nắn nót, viết hoa…
Vu Lan 2020

M is for the million things she gave me
O means only that she’s growing old
T is for the tears she shed to save me
H is for her heart of purest gold
E is for her eyes, with love-light shinning,
R mean right, and right she’ll always be,
Put them all together, they spell “Mother”
a word that means the world to me.
(Howard Johnson)
Vào ngày Mẹ, cách đây mấy năm, cậu con út 17 tuổi đã mua về cho tôi một tấm gốm trang trí, có hàng chữ “God could not be everywhere and therefore He made Mothers.” Thằng bé ít biểu lộ cử chỉ trìu mến với mẹ, cũng có cách để lấy trái tim, nước mắt mẹ ra đến thế, làm tôi nhớ mẹ tôi ở quê nhà, nhớ con trai lớn đang xa bên trời Tây. Cảm ơn con trai nhỏ, cho mẹ những hạt nước mắt ấm vui trong Ngày Của Mẹ.
Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình,
tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

... Vào năm 1858, tại West Virginia, Anna Reeves là người phụ nữ đầu tiên tổ chức một buổi lễ Mother’s Work Day (kiểu như là Ngày Nhớ Công của Mẹ), mục đích là để nhắc nhở mọi người về vấn đề an toàn vệ sinh...
Năm 1905, Anna Reeves qua đời và con gái của bà, Anna Jarvis, đã thề trước mộ mẹ rằng cô sẽ tiếp tục để hoàn thành ước mơ của mẹ, là tạo ra một ngày quốc lễ để vinh danh Người Mẹ. Năm 1907, Anna đã tổ chức một chiếndịch gửi tặng hoa cẩm chướng trắng cho những người tham gia hội họp ở Nhà thờ ở West Virginia. Năm 1908, nhà thờ đã đồng ý yêu cầu của Anna về việc tổ chức một ngày chủ nhật đặc biệt để vinh danh Người Mẹ. Truyền thống này đã được lan rộng ra nhiều nhà thờ của cả 46 bang...
Năm 1914, Quốc hội Mỹ đã thông qua một Nghị quyết, được ký bởi Tổng Thống Wilson, dành một ngày Quốc lễ cho Mẹ. Từ đó trở đi, ngày lễ Mẹ được nước Mỹ tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5.
(hoasaigon.com.vn)

... mỗi ngày đi qua
đang cài cho con một bông hồng...
(Ðỗ Trung Quân)

Việt Nam mình không có một ngày riêng cho Mẹ. Nhưng có một mùa, gọi là Vu Lan, rằm tháng 7, còn gọi là Mùa Báo Hiếu, vào dịp này, mọi người đến chùa, gắn một bông hồng đỏ cho những ai còn mẹ, và bông hồng trắng để tưởng nhớ mẹ đã khuất. Qua Sư Nhất Hạnh mà các chùa đã phổ biến truyền thống tốt đẹp này.
Tôi nhớ, ở tiền đình chùa An Lạc năm ấy, mẹ mặc áo dài lam, đứng gắn cho tôi một bông hồng đỏ, tôi cười rạng vui.

Tôi gắn lên áo mẹ một đóa hồng trắng, mắt mẹ rớm lệ. Tôi cài lên ve áo Khánh Chương một đóa hồng đỏ, bé nói, con trai mà cài hoa hồng hả mẹ...
Và lúc này, đang mùa hiếu hạnh, tôi nhớ một bài viết của tôi ngày trước, dùng làm lời dẫn trong một CD thơ về Mẹ của nhà thơ Trụ Vũ, tựa Bảo Nhau Ngày Ấy, Vu Lan... Giờ xin ghi lại để tặng mẹ, để được thấy hạt lệ hay khóc của mẹ, mẹ với nước mắt không biết ai rủ ai khóc trước?
Con mong con làm được một điều vui trong triệu điều nhọc nhằn mẹ đã làm, một hạt lệ hạnh phúc trong tỷ giọt nước mắt lo lắng Mẹ đã rơi. Giờ con đã là người mẹ, con càng thấu được cái ấp ưu của tấm lòng bồ nông, con lại giống như mẹ, như muôn bà mẹ thế gian, con chim bồ nông luôn để dành một bầu cá đem về mớm lại cho con...

*
Từ thuở mà hiếu tâm Mục Kiền Liên nhấn lên dây thời gian một nốt nhạc rúng động, có một ngày tên gọi Vu Lan. Ngày rằm tháng bảy, kỷ niệm Người xuống ngục A Tỳ cứu mẹ, từ ấy người con Phật lấy ngày này làm cái mốc nhắc nhở hiếu tâm, một ngày có sắc có hương, hương của tấm long báo hiếu, sắc xanh ấm của ánh nhìn xuống yêu thương.
Âm thanh của muôn triệu trái tim người con mở ra rộn rã để bày tỏ cũng như đón nhận món quà thiêng liêng: Tình Mẹ.
Thử trông lên mầu xanh của bầu trời, ta thấy có đâu là biên giới? Tình Mẹ đấy.
Thử nhìn ra biển khơi, ta có biết bao giờ vơi? Lòng Mẹ đấy.
Ai đã một lần nghe, Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình... (Y Vân) để thấy lòng đầy theo tiếng dạt dào vô
lượng ấy?
Xin lắng lòng lại mà nghe muôn ngày trong chuỗi thời gian là muôn Vu Lan. Để tâm niệm,
Trong mỗi trái tim
Của mỗi con người
Có mẹ trong đó
Hóa sinh đất trời (Trụ Vũ)

Một tấm tình thương không tính được bằng tháng bằng năm, một tấm tình thương bao la rộng khắp, mỗi mỗi bước ta đi đều chắp lên từ chắt chiu tình mẹ, mỗi bệ phóng cho tầm cao của ta đều bật lên từ đôi cánh của lòng mẹ, cái hạnh phúc ấy được thể hiện từng giây từng phút sống động và do đó mà mọi vật hiện hữu, thì làm sao có thể nói rằng vũ trụ là hư vô, mọi sự gặp gỡ, chia xa chỉ là tình cờ? Và thời gian vĩnh viễn, Ngày Của Mẹ.

ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng
(Ðỗ Trung Quân)
 Mẹ ơi. Chỉ một lời gọi mà trùng trùng giây tơ cảm xúc bật reo trong ta, như trên đường dài nắng bỏng ta được cho một ngụm nước mát, như trong cô quạnh bóng đêm có một giấc mơ đẹp cầm tay dắt ta đi, như vòng tay mở rộng đỡ ta khi hụt hẫng khổ đau, như trong bung nở niềm vui có nụ cười dõi theo âu yếm, và bao người trong phút giây ngã xuống đã bật lên tiếng gọi “mẹ ơi” như một linh ngữ để nương tựa. Mẹ ơi, sao hai tiếng toàn năng đến thế, phổ độ đến thế!

Vũ trụ tàn hơi
Trong nỗi đau đời
Mỗi một tiếng lời
Con gọi: Mẹ ơi!
(Trụ Vũ)
Cung bậc rưng rưng mở tới được vô cùng nơi tiếng gọi ấy là âm thanh đập theo từng nhịp tim hiếu tử. Nó bỗng thành nhạc, thành thơ, chỉ cần nhịp tim ấy reo lên thì trời đất hòa âm, chỉ một hạt lệ trong trẻo ấy nhỏ xuống thì nghìn xanh của đại dương rung động.

Con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
Biển rền vang, núi đồng vọng mênh mang
Ôi thời gian ôi thời gian
Con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo
(Nguyễn Lương Vỵ)
Nói về mẹ là nói đến cái vô cùng, ai có thể tả cái vô cùng?
Ai có thể vẽ cái vô cùng? Mọi lời nói về mẹ như thể một tôi bé nhỏ rụt rè đang đối diện với bao la, mỗi giây phút thể hiện tình mẫu tử làm cho vạn vật thấy bình an kỳ diệu, hương cau sau hè quấn quýt bên lời ru ạ ời của mẹ, có trú ẩn nào hơn cõi lòng ấp ưu của mẹ, có từ bi nào đẫm lệ yêu  thương và hạnh phúc hơn từ bi tim mẹ, để bước chân con sau bao sóng gió tìm về nương náu?

Mẹ là ngôi chùa nhỏ
Đón con về nương thân
Mẹ là đôi mắt tỏ
Tha cho con lỗi lầm
(Nguyễn Ðức Cường)
Cái hiện thực ta đang sống cùng, tận chia sẻ, tận thọ hưởng là chính sinh mệnh ta đây, mà cha mẹ, người tạo tác ra, chăm chút cho, rồi trao lại cho nó sinh mệnh của mình, thì thử hỏi không đâu trên cõi ta đang hít thở này lại không có lòng chở che cũng như phó thác của mẹ? Và có phải vì thế đã đánh thức được ở mỗi người sự trân trọng sinh mệnh mình, sinh mệnh người, cùng thấy được sinh mệnh muôn loài lấp lánh...?

Sinh mệnh mẹ đâu còn
Chỉ còn sinh mệnh con
Mẹ chuyển giao sinh mệnh
Từ bi hỷ xả tròn
(Trụ Vũ)
Từ nơi không bắt đầu không chấm dứt này, miên man nụ cười nước mắt mẹ, từ bóng cò cô đơn ngoài ruộng đồng, từ ánh sao trên trời đêm, từ bóng tỳ khưu trên đường dài, từ giấc mơ trên cánh biếc ca dao, từ những nỗi oan khiên nơi cõi trầm luân này, đều thấp thoáng bước về của mẹ. Cõi mênh mông của không gian đâu ngoài ánh nhìn của mẹ, chốn vô cùng của thời gian cũng chỉ vừa một nhịp đong đưa dưới bàn tay ru nôi của mẹ.

Con nhìn mãi chiều thu xanh xanh lắm
Tiếng khóc xanh, xanh đất ấm trời êm
Như lá nõn như cành non mướt đêm
Mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa
(Nguyễn Lương Vỵ)

Và Mẹ ơi bao nhiêu trời đất Mẹ, thì bấy nhiêu đất trời ấy tâm con hướng về. Và vì Mẹ, hóa thân Quán Thế Âm trong cuộc đời triệu đứa con trên trần gian này, cho nên Mẹ, đã là một biểu tượng đầy thuyết phục cho một niềm tin mãnh liệt để con yêu thương, kiêu hãnh, nương tựa, sống còn.
Muôn đêm rằm Mẹ để muôn lời thơ trên thế gian này theo đó, sáng trăng.
Mùa Vu Lan, 8.2012
NTKM

*cùng các con chương chương hạnh kimmy, nơi, trái tim
mẹ biết được nhịp ấm áp của tình mẫu tử...


THƠ

ÁO MẸ

Cảm xúc khi thấy mẹ đem phơi chiếc áo dài cũ cất đã bao nhiêu năm…

Chiếc áo dài ngày con gái
Đã ẩm mốc hương thời gian
Mẹ đem phơi ngoài nắng
Gió đã thơm mùa mới sang
Bâng khuâng hỏi nhau thời gian
Hỏi nhau ai người trẻ nhất
Áo cười: con gió thanh tân
Mẹ cười: chiếc áo thanh xuân
Gió bay nghìn năm trời đất
Gió cho ta trẻ vô ngần
1994

ÁO CON

Chiếc áo đầm xanh
Mẹ may cho con
Múa bài Lối Về Xóm Nhỏ
Ngày khai trường Đăng Khoa thuở ấy của cha
Chiếc áo theo con bao nhiêu dặm dài
Bao nhiêu ngăn tủ áo
Sáng nay ngồi thu xếp lại
Áo mẹ may xưa. Màu xanh đã ố
Đường chỉ mẹ thêu
Rưng rức những thời gian
Xa mẹ
Mỗi mũi thêu mỗi hạt nhớ
Ôi sợi chỉ tay mẹ hiền khâu giờ trên áo con du tử*
2019
*Thơ Mạnh Giao: Từ mẫu thú trung tuyến. Du tử thân thượng y


MẮT RẰM

Sóng xanh chan chan nguyệt
Xao tình tự ngàn năm
Biển trời lung liêng biếc
Ơi Tây Hồ xa xăm
Long lanh vần tứ tuyệt
Soi đôi mắt mẹ rằm
1997


VỀ NHÀ

Về nhà cha mẹ
Ăn bát canh tần
Lòng con lá hẹ
Trời mưa lâm râm
Lời cha, chữ tâm
Ngày con nắng hé
Thơm con ngày bé
Lòng mẹ hương trầm
Về nhà cha mẹ
Nghe mùa trâm trâm…
1998
KM
Mùa trâm trâm

THÁNG BẢY… ĐỌC LẠI CHIÊU HỒN CA

nguyễnxuânthiệp

Giải oan. Tranh Đinh Trường Chinh

Tháng bảy rồi đó. Mùa Vu Lan đến với bao âm vọng.
Tháng bảy. Ở quê nhà, và cả một vài nơi ở đây nữa, mưa của đất trời đang rơi trên cõi người. Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua và những mảnh đời tan tác dưới trời mưa ngâu.

Với CHCTLCS, một lần nọ Nguyễn đã viết: Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du hạ bút: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng… Đường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm… Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra – cõi trường dạ tối tăm trời đất… – những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du – như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm – lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh – nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao – chí những lăm cất gánh non sông… – nhưng gặp “thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở” để rồi “máu tươi lai láng xương khô rụng rời… ” Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ – Khi thất thế tên rơi đạn lạc / Bãi sa trường thịt nát máu rơi… Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua – Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng “Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!..” Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: “Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh …” Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển – Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xé gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê – chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ… Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.

Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông… Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên…
Vâng. Chúng ta lẽ nào quên.
Và Nguyễn đã viết trong mùa trai đàn năm nào khi mới đến vùng đất này. Viết cho mình mà cũng viết cho bao người khác đã vượt qua oan khốc để đến được bến bờ:

tôi cười. với mọi người. hoen lệ
chào buổi sáng. chào hoàng hôn. chào mái
                                       trăng thượng huyền
cuối một chặng đường. ta gặp lại
một niềm vui. một hy vọng
(dẫu thế nào cũng phải sống đời ta
như nước sông. lấp tràn bờ cỏ)

cùng với mọi người. tôi nối vòng tay
và cảm ơn. thế giới đã cho tôi chỗ ở
khi nước mất. nhà tan. bạn bè xiêu tán
thập loại chúng sinh. mờ đồng rừng
hãy diệt. hãy quên. và bắt đầu lại

này cây redbud
này chim tháng tư
tôi phục sinh. từ một thân cây mục

NXT


Tuesday, September 1, 2020

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DịCH. BÀI 10. GỌI TÊN BẰNG HỮU

Khuất Đẩu

Khuất Đẩu. Huyền Chiêu & Lữ Kiều

Trong bài hát Gọi tên bốn mùa của Trịnh Công Sơn, có một hình ảnh thật dễ thương, đó là “em đứng lên gọi mưa vào hạ”. Tôi thì không dễ thương, nếu không muốn nói là dễ ghét, lại già lụ khụ, nhưng cũng ráng chống gậy đứng lên để gọi tên bè bạn.

Người bạn tôi muốn gọi tên đầu tiên, là anh bạn hàng xóm. Anh họ Hồ tên Vĩ, cùng tuổi rồng với tôi nhưng không học cùng lớp, vì cha anh không háo thắng như cha tôi, nên không cho anh đi học sớm. Nhà anh làm nghề bán cốm bắp, do vậy anh có vẻ vất vả vì suốt ngày phải phơi bắp, lảy bắp, chứ không cà nhỗng rong chơi như tôi.

Tôi gọi tên anh vì trong khi tôi đi học, thì anh bị gọi đi quân dịch (là thương nòi giống!). Xe từ Qui Nhơn đưa anh vào Dục Mỹ, vừa xuống xe sắp hàng đi vào trại Lam Sơn, bước thường-bước chứ không bước đều-bước vì chưa tập ắc-ê, đã bị VC pháo kích toi mạng.

Đời lính đã quá ngắn mà đời anh cũng chẳng dài chi hơn. Trai nhà quê mới 18 tuổi, chưa có vợ nên cũng chưa biết giữa hai chân của “phía bên kia” nó có gì. Mỗi lần về thăm nhà, mẹ anh lại sang ôm tôi mà khóc suốt.


Cái chết của anh khiến ông bà và mẹ tôi cùng đi tới “thống nhất” rằng, tôi thà làm một kẻ bị nguyền rủa vì không thương nòi giống còn hơn là bỏ xác một cách lãng xẹt như thế. Nay tôi cũng xin thành thật khai báo, hồi đó tôi đã “chốn” đến những 15 năm!

Người thứ hai, là một anh Bắc kỳ thòng lòng cọng rau muống, cùng học hai năm ngũ và tứ ở Cường Để, Qui Nhơn. Anh họ Trần tên Tường, giữa lót chữ văn, thường bị gọi đùa là Trần vanh Vách. Anh hơn tôi 3 tuổi, chững chạc, đạo mạo chứ không lí lắc như tôi. Vì đến tuổi, nên sau khi đậu trung học, anh đi quân dịch. Xong 18 tháng, trở về thấy bạn bè đã thi Tú tài, nghĩ rằng có học nữa cũng không theo kịp bè bạn, thôi thì đi Thủ Đức. Tại đây, anh đậu á khoa, mang lon chuẩn úy cũng le lói lắm. Lúc về, ghé thăm tôi có đem cho một trái mít tố nữ (mà con gái tôi sau này gọi nhầm là mít tố hữu, nghe cũng hay hay). Trong khi ngồi chờ xe lửa ở ga Nha Trang, anh bóc một trái khác, cả hai cùng ăn, lần đầu tôi thấy mít tố nữ đúng là thơm và ngon thiệt.

Đó là lần gặp cuối cùng, vì sau đó, do chuyên về chất nổ, anh được đổi ra coi một kho đạn ở Quảng Ngãi. Vừa mới mon men muốn tìm người để yêu, thì bị VC pháo kích. Kho đạn nổ tung trời, anh cũng tan xác pháo luôn, gia đình không nhặt được chút gì gọi là của anh, đành lập mộ gió!

Người thứ ba là một chàng thi sĩ thứ thiệt, rất nho nhã hiền lành, giỏi chữ Hán và thư pháp, họ Phạm, cùng họ với bà cố tôi, tên là Ngọc Lư.

Tôi nói thi sĩ thứ thiệt vì chưa có thời nào, chưa có nước nào lại nhiều thi sĩ giả như ở nước ta bây giờ. Trước đây, miền Bắc ra ngõ gặp anh hùng (giả), giờ, cả hai miền Nam Bắc ra ngõ đều gặp thi sĩ (giả)!

Giả, trông tướng mạo là biết liền: có kẻ mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao như Mã Giám Sinh, ăn nói đểu cáng như Sở Khanh, cũng có kẻ quan chức đề huề như Kim Trọng, hay ngổ ngáo ngang tàng như Từ Hải, lại có kẻ nham hiểm như Hồ Tôn Hiến hay yếu hèn như Thúc Sinh…, coi lại truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, mới thấy cụ chẳng những tài giỏi mà còn rất thâm, vì tất cả những nhân vật đàn ông trong truyện, đều rất giống với thi sĩ giả!

Còn thiệt, thì như Bùi Giáng, như Nguyễn Nhược Pháp, như Quang Dũng, như Hàn Mặc Tử, như Bích Khê, như Hoàng Trúc Ly… và như Phạm Ngọc Lư.

Trước hết, họ không giống các nhân vật nam trong truyện Kiều, mỗi người tuy có những nét riêng, nhưng dù rách hay lành, dù điên hay tỉnh, họ đều có một nét chung là rất nhân bản. Thơ của họ không nhiều nhưng cùng đồng hành với thời gian, nên vang vọng tới hậu thế.

Như Quang Dũng chỉ cần một bài Tây Tiến, với câu thơ: áo bào thay chiếu anh về đất/ sông Mã gầm lên khúc độc hành, đã là thi sĩ “định mệnh tại thiên thư” rồi. Và, Phạm Ngọc Lư với bài hành Biên cương, mở đầu với lời chào thống thiết: Biên cương, biên cương, chào biên cương/ Chào núi non rừng thẳm nhiễu nhương! Đây biên cương, ghê thay biên cương/ Tử khí bốc lên dày như sương, … nghe như những hồi chuông báo tử.

Được nghe anh đọc thơ trong một đêm gió cuồng ở Tuy Hòa, gần Củng Sơn nơi anh từng dạy học và thai nghén bài thơ, với những âm uông, ương tưởng chừng như đang nghe tiếng hú của những oan hồn!

Sau 75, anh bỏ dạy đi Bến Tre bán dừa, đi đất đỏ Long Khánh cạo mủ cao su, cuối cùng về quê vợ ở Đà Nẵng, nhà gần viện bảo tàng Chăm, bị đuổi để xây cầu mới… nên nghèo vẫn hoàn nghèo.

Anh sống mực thước giản dị, dù làm gì vẫn ra vẻ một nhà nho lỡ vận. Anh chết vì ung thư phổi, cũng được an ủi đôi chút khi những phút cuối cùng có nhiều người ái mộ đến thăm và có một giọng hát tên Thu Vàng đến tận bên giường hát cho anh nghe.

Người thứ tư tôi muốn gọi tên với tất cả mến thương, là họa sĩ Đinh Cường. Tranh của anh được các nhà sưu tập và bạn bè lưu giữ nâng niu. Anh ưa vẽ chân dung các thi sĩ, nhạc sĩ. Nhiều nhất và có hồn nhất là chân dung của Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn. Còn dị hợm và rừng rú là chân dung của Sơn Núi, tức Nguyễn Đức Sơn.

Anh sinh ra không phải thi sĩ, nhưng trong cả ngàn bài ký theo dạng thơ tự do, lác đác một đôi câu xuất thần khiến Bùi Giáng cũng phải kinh ngạc.

Trong số những họa sĩ mà tôi nghe tên, biết mặt, chưa có ai hiền và nhân hậu như anh. Dường như, chưa có ai phàn nàn về anh điều gì. Những năm cuối đời bị ung thư, anh vẫn âm thầm chiến đấu, vẫn vẽ cho đến khi không cầm được cọ nữa, mới nhắm mắt xuôi tay.

Tôi quen anh qua chủ điền trang Thân Trọng ở Đà Lạt. Anh thường ít nói, ngồi một góc nhà, nhìn ai đó rồi lặng lẽ lấy giấy bút ra ký họa. Nhà tôi được anh vẽ tặng một bức “par mémoire” tưởng như anh mới gặp trong mơ, là một thiếu nữ 15, nhỏ nhắn đáng yêu, khiến bà nội của các cháu tôi rất thích.

Người thứ năm, là Dương Nghiễm Mậu, nhà văn miền Nam nổi tiếng. Anh là bạn cột chèo với Đinh Cường. Đọc và thích anh từ thời anh viết Gia tài của mẹ, nhưng mãi sang đầu thế kỷ này mới quen anh, cũng qua bác sĩ Thân Trọng Minh.

Như một số nhà văn miền Nam, anh cũng bị cầm tù. Khi được thả, trước nhà anh lúc nào cũng có công an canh chừng. Anh có một truyện mà tôi rất thích, truyện Tiếng sáo của người em út. Người em nói với người anh ở xa về, “một đời, cha không làm điều gì xấu, khi chết con nên thổi sáo cho cha nghe”. Anh ta thổi sáo thay cho kèn đám ma, rồi cắm cây sáo lên mộ.

Cuối đời mà nói được một câu an lành như thế, cũng có thể là của anh. Dù phải bỏ bút, học làm tranh sơn mài để sống, dù bị công an canh chừng, bị Vũ Hạnh ganh ghét, anh vẫn thản nhiên, trên môi lúc nào cũng nở nụ cười.

Tuy nhiên, anh cũng có cách riêng để thầm chứng tỏ phẩm cách của mình. Như chiếc tủ đựng đầy sách do anh viết, sau khi bị tịch thu đem đi đốt, giờ vẫn để trống không giữa phòng khách trông như một quan tài dựng đứng! Và những mặt ghế phủ sơn mài bóng loáng, nổi lên những mặt của tuồng chèo đang quắc mắt, vểnh râu để khách kê… đít lên ngồi, càng nhiều đít kê lên, những khuôn mặt kia càng bóng như được thoa bằng mỡ lợn!

Anh mất rất bất ngờ, nằm bệnh viện chưa được 30 tiếng, các bác sĩ đang loay hoay cố tìm ra bệnh, thì anh đi. Tôi ở xa quá, không kịp đến tiễn đưa anh, cũng thật buồn.

Hãy còn nhiều người bạn khác, tuy già, nhưng vẫn đang khỏe mạnh. Họ là những người dù ở xa vẫn nghĩ đến tôi, là đốm sáng trong những đêm bão giông của thời cuộc, là cuộc gọi tâm tình kín đáo giữa đêm khuya, là đội mưa đến thăm nhau trong một chiều đông lạnh, là một bức tranh vẽ tặng trong lúc cố quên cơn đau ruột thừa, là gói quà từ tầng thứ 16 một cao ốc ở ngoại ô Paris, là tiếng nước sôi trong ấm vọng lại từ bên kia bờ đại dương… tôi gọi thầm họ trong từng trang viết vì tôi biết rằng họ sẽ đọc tôi, sẽ khóc cười chửi rủa cùng tôi…

Xin được cảm ơn tất cả!

KHUẤT ĐẨU


HOA TÀN NHỤY HÉO TRĂNG TAN

Huỳnh Liễu Ngạn

Dead flower. Source: Internet

anh lạc bước giữa màu trưa trời ấy
màu trên cây cho mắt đậm liễu mày
chút nắng nhạt cũng sớm đưa chiều đẩy
để rồi đành như bèo dạt mây bay

có một buổi nào thật xa thật lạ
và thật đầy cho chim mỏi cánh bay
có gió thổi làm lá rơi ve vẩy
bay bên này thành xao xuyến bên đây

thôi đành vậy cứ chờ sông hẹn suối
chờ linh hồn một nỗi nhớ lắt lay
gió rạo rực gió rung cây vờn lá
có được gì chỉ lá rụng đó đây

trời thì xa còn mong gì gặp lại
cho hoa tàn cho nhụy héo trăng tan
em sắc nước hương trời bày vẽ mãi
nên đời anh không còn nẻo băng ngàn.

1 tháng 7/2020
HUỲNH LIỄU NGẠN