Sunday, August 16, 2020

MẸ VÀ THƠ: NHÌN TỪ CHÂU Á

Phan Tấn Hải


Các nhà thơ Châu Á
viết về Mẹ

Chúng ta đang trong mùa Lễ Vu Lan Báo Hiếu. Truyền thống Phật Giáo Việt Nam đón Lễ Vu Lan sẽ là ngày rằm tháng 7 âm lịch, tính theo dương lịch là ngày 2 tháng 9/2020, tức là khoảng hai tuần nữa. Lễ này xuất phát từ sự tích ngài Mục Kiền Liên, vị môn đồ Đệ nhất thần thông của Đức Phật Thích Ca, nhìn thấy mẹ của ngài thọ khổ dưới địa ngục, nên ngài đã xin Đức Phật chỉ phương pháp cứu mẹ ra khỏi kiếp quỷ đói. Tại Việt Nam, Phật tử đón Lễ Vu Lan Báo Hiếu thường là trọn tháng ăn chay, tụng kinh, làm từ thiện để hồi hướng công đức cho cha mẹ. Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một như đường mía lau... Hình ảnh người mẹ luôn luôn là nguồn cảm hứng thi ca. Lòng mẹ nhìn từ các nhà thơ Châu Á sẽ là chủ đề của bài này.

Nhà thơ NHẬT BẢN Jūkichi Yagi (1898-1927) là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo. Năm 1925, ông xuất bản thi tập đầu tiên, nhan đề “Autumn's Eye” (Mắt Mùa Thu). Ông gia nhập một nhóm các nhà thơ tại Tokyo, và thơ ông xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học. Năm 1926, ông bệnh lao phổi, và nằm liệt giường cho tới khi từ trần năm 1927; lúc đó, ông mới 29 tuổi. Năm 1928, thi tập thứ nhì của ông gồm các bài thơ ông đã chọn trước khi chết, nhan đề “Poor Believers” được ấn hành. Các bài thơ chưa xuất bản khác của ông được ấn hành trong nhiều năm sau nữa, và sau cùng, toàn tập thơ ông “The Complete Poems of Jūkichi Yagi” ấn hành năm 1959. Sau đây là bài thơ nhan đề “Mắt Của Mẹ Tôi” của Jūkichi Yagi.
.
MẮT MẸ TÔI
© Jūkichi Yagi

Trong đêm
khi tôi mở mắt
tôi nghĩ về mẹ tôi nơi quê nhà xa xôi
cũng mở đôi mắt của mẹ và nói, “Ôi đứa con thương của mẹ.” (Hết)
.
Zaki Ovais là một nhà thơ sắc tộc ROHINGYA, và là một nhân viên phát triển cộng đồng trong một trại tỵ nạn nằm giữa Miến Điện và Bangladesh. Người Rohingya liên tục chạy tỵ nạn trong 200 năm qua, khi họ bị quân đội Miến Điện liên tục bố ráp, xua đuổi ra khỏi quê nhà họ ở Rakhine. Vào tháng 12/2017, sau khi bị quân đội Miến Điện tổng tấn công, đốt nhà, hiếp dâm, tra tấn… khoảng 625,000 người Rohingya chạy tỵ nạn từ Rakhine, Miến Điện, sang nước láng giềng Bangladesh. Bài thơ “I am a Rohingya” (Tôi là một người Rohingya) là bài thơ đầu tiên của chàng thanh niên Zaki Ovais, cho thấy anh sợ hãi chính phận người của anh, và tự thấy anh như gà con nép mình dưới cánh gà mẹ. Bản Anh dịch của James Byrne.
.
TÔI LÀ MỘT NGƯỜI ROHINGYA
@ Zaki Ovais
.
Tôi là một con ruồi trong bếp, vo ve
trên mép bờ của một bức vách che.
.
Tôi là một con gà dưới cánh mẹ
ẩn trong khe hẹp của bờ ức mẹ.
.
Tôi là một chim bồ câu trên đường phố Yangon
bị giam trong chiếc lồng bất nhân.
.
Tôi là dòng nước chảy trong sông Mayu
nhớ tới người bạn thân thương: Khí trời.
.
Tôi là một người trong vũ trụ
bị bác bỏ hầu hết các quyền căn bản.
.
Tôi là một người tự sợ chính mình. (Hết)
.
Nhiều thế hệ người TÂY TẠNG sinh ra và trưởng thành tại Bắc Ấn Độ, trong đó có nhà thơ Kaysang. Cô lớn lên tại thành phố Dharamshala, trú xứ lưu vong của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14, học văn học tại Delhi. Kaysang là đồng sáng lập Drokmo, một tổ chức nữ quyền hoạt động trong các cộng đồng người Tây Tạng và các sắc dân Hy Mã Lạp Sơn tại Ấn Độ. Thi tập đầu tiên của cô là “broken portraits” (các chân dung tan vỡ) xuất bản năm 2016. Bài thơ sau đây của Kaysang có nhan đề “untitled” (không đề) như một lời thưa với mẹ, mang âm hưởng thần thoại, nhìn mẹ như một hóa thân bồ tát, trích các đoạn cuối như sau.

UNTITLED
@Kaysang
.
…mỗi khe nứt trên da của mẹ
ủ các chuyện kể về
một trăm ngàn ngày
nuôi ăn một trăm người.
.
các anh em mẹ gọi mẹ là
thiên nữ
kiêu hùng
thần nữ bảo vệ ---
họ là các con trai mẹ
và con, đứa con gái duy nhất của mẹ.
.
bàn tay mẹ chỉ biết
để yêu thương,
để làm việc,
để tận hiến,
để chăm sóc.
.
thưa mẹ, con đã
thừa hưởng
đôi tay mẹ
và trọn sức nặng của chúng. (Hết trích)
.
O Yŏng-jae, nhà thơ ĐẠI HÀN nổi tiếng, sinh năm 1935 tại Jangsung, tỉnh Chonnam, Nam Hàn. Khi Cuộc Chiến Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, ông nhập ngũ trong Quân Tình Nguyện Nhân Dân khi mới 16 tuổi, và từ đó ông sống tại Bắc Hàn. Ông là tác giả nhiều thi tập. Đối với dân Nam Hàn, ông được biết nhiều nhất với bài thơ “Mother, Please, Don’t Get Older” (Mẹ ơi, Xin Mẹ Đừng Già Thêm Nữa) ông sáng tác khi gặp lại mẹ ông năm 2000 trong sự kiện hội ngộ các gia đình ly tán giữa Nam và Bắc Hàn. Bài thơ sau đây nhan đề “Oh, My Mother” (Ôi, Mẹ của Con) do O Yŏng-jae sáng tác khi nghe tin mẹ vẫn còn sống ở Nam Hàn sau 40 năm bặt tin. Toàn văn như sau.
.
ÔI, MẸ CỦA CON
@ O Yŏng-jae
--- khi nghe tin sau 40 năm rằng mẹ vẫn sống ở Miền Nam
.
Sống,
Vẫn sống,
Và gần tám mươi
Ngay cả hôm nay Mẹ vẫn còn sống.
Một mặt trời đột nhiên lên cao
Giữa đêm đen
Trận mưa rào niềm vui tràn ngập
Chảy tràn bờ, và tuôn trào từ tim con.
Một niềm vui nặng nề đè bẹp con.
Ngã xuống, con khóc,
Đứa con trai này kêu khóc.
Trên đầu gối con, cảm giác con… biến mất,
Con quỳ lạy lần nữa và lần nữa.
Những gì đã gìn giữ Mẹ
Cho tới hôm nay,
Không phải ơn phước nào từ Trời,
Cũng không phải Thời Gian thấy tội nghiệp.
Chính là niềm tin của Mẹ
Đã giữ đầu Mẹ ngẩng cao với thế giới
Bởi vì Mẹ sẽ không nhắm mắt lại
Cho tới khi Mẹ ôm đứa con trai này một lần nữa.
Hướng về niềm tin của Mẹ
Con quỳ gối xuống
Mẹ ơi, con cảm ơn Mẹ
Ôi Mẹ ơi, con cảm ơn Mẹ. (Hết)
.
U Sam Oeur là nhà thơ CAM BỐT, sinh năm 1935, sống sót qua 4 năm trong các trại tập trung của chế độ Pol Pot bằng cách giả như mù chữ sau khi hủy hết tất cả các bản thảo văn học của ông để đóng vai lao động cưỡng bách ở các nông trường. Ông trưởng thành ở tỉnh Svey Rieng, lên học ở thủ đô Phnom Penh, du học Hoa Kỳ, lấy bằng Cử Nhân ở Cal State-Los Angeles và bằng Cao Học M.F.A. về Thơ tại Iowa Writers Workshop, về lại Cam Bốt năm 1968, sống bằng nghề dạy học, nhập ngũ hai năm (1970-1972), đắc cử chức Dân Biểu và được chọn làm đại biểu Cam Bốt tại Liên Hiệp Quốc. Tháng 4/1975, quân Khmer Đỏ toàn thắng. Vợ chồng ông, đứa con trai và mẹ vợ bị đưa vào tuần tự 6 trại tập trung trong vòng 4 năm. Khi vợ ông trong trại tập trung sinh ra cặp song sinh, bà đỡ trong trại siết cổ chết hai bé song sinh theo lệnh cai tù vì không thể có thêm miệng ăn trong tù. Khi quân đội Việt Nam đánh bại quân Khmer Đỏ, U Sam Oeur và gia đình trở về Phnom Penh.
Ông vào làm ở Bộ Kỹ Nghệ. Năm 1991, một bài thơ ông chỉ trích quân Việt Nam đang giấu trong hộc bàn bị lộ ra, ông bị quy chụp là âm mưu hoạt động dân chủ Cam Bốt, và bị ép nghỉ việc. Một nhà thơ Hoa Kỳ, bạn học của của ông, vận động tổ chức Dashiell Hammett-Lillian Hellman Foundation Fund For Free Expression bảo lãnh ông sang Hoa Kỳ trong môt chương trình văn học quốc tế kéo dài ba tháng vào tháng 9/1992. U Sam Oeur được các bạn học Hoa Kỳ đưa vào Iowa’s International Writing Program với cương vị Independent Scholar (Học giả Độc lập) và do vậy kéo dài thời hạn chiếu khán. Trong thời gian ba tháng, ông dịch nhiều bài thơ của ông sang Anh văn, gửi tới nhiều tạp chí Mỹ.  NXB Coffee House Press in tập thơ song ngữ của ông, nhan đề “Sacred Vows” năm 1998, và in tập hồi ký nhan đề “Crossing Three Wildernesses” của ông năm 2005. Bây giờ, hai vợ chồng ông đều là công dân Mỹ, đinh cư tại Texas. Sau đây là toàn văn bài thơ “Only Mothers will Embrace Sorrows” về những bà mẹ Cam Bốt bi thảm trong cuộc chiến.
.
CHỈ CÁC BÀ MẸ ÔM LẤY NỖI BUỒN
@ U Sam Oeur
.
Tôi dò bước, đi xuyên qua nỗi cô đơn
tới căn chòi nơi chúng tôi trước kia
ngồi tụ tập uống rượu đế
vui với hòa bình giả tạo.
Tôi ngồi dưới mái nhà lợp lá cọ
nhìn vào ghế của các bạn
nhưng không còn thấy ai
nghe chỉ những tiếng cười của các bạn.
.
Nơi đây, y hệt như mọi nơi khác ---
bỏ hoang,
các ngôi làng của những căn nhà không mái đen thui
tôi không thấy dù là một con chó.
.
Những tiếng mìn nổ
tiếng súng đại bác gầm rú
từ tuyến đầu tới tuyến đầu, lay động tất cả
những hạt phấn của hoa champa.
.
Không nơi để trốn, không nơi nào dưới bầu trời được an nghỉ
và tiếng rên rỉ của trẻ em
và tiếng khóc của các bà mẹ
vang theo lửa đạn lóe lên khắp nơi.
.
Và thân xác các bạn, các anh em, đã che chúng tôi
chắn đạn, và máu các bạn
tung lên khắp Mẹ chúng ta, thúc đẩy hồn tôi
vĩnh viễn tôn thờ hoa sen và hoa nhài. (Hết)
.
Li-Young Lee là nhà thơ INDONESIA gốc HOA, sinh năm 1957 tại Jakarta, Indonesia, ba mẹ là người Hoa. Thân phụ của Lee là bác sĩ riêng cho Mao Trạch Đông khi còn ở TQ, đã đưa cả gia đình sang được Indonesia. Năm 1959, gia đình Lee lại bỏ trốn khỏi Indonesia khi phong trào bài Hoa tăng vọt đẫm máu, và sau chuyến đi dài 5 năm qua Hồng Kông và Nhật Bản, vào Mỹ định cư năm 1964. Nhờ đó, Li-Young Lee trưởng thành trong nền học vấn Hoa Kỳ. Thi tập “The City in Which I Love You” (Thành Phố Nơi Đó Tôi Yêu Em) của Lee được giải thưởng Lamont Poetry Selection năm 1990 của Academy of American Poets. Bài thơ nhan đề “I Ask My Mother to Sing” (Tôi Mời Mẹ Tôi Hát) của ông với hình ảnh tiếng hát lẫn vào tiếng mưa, như sau.
.
TÔI MỜI MẸ TÔI HÁT
@ Li-Young Lee
.
Mẹ khởi đầu, và bà ngoại cùng cất tiếng theo
Mẹ và con gái hát y hệt như các cô gái nhỏ
Nếu cha tôi còn sống, ông sẽ chơi
đàn phong cầm và lắc lư như một chiếc thuyền.
.
Tôi chưa từng ở Bắc Kinh, cũng như tại Cung Điện Mùa Hè
cũng không từng đứng trên Thuyền Đá vĩ đại để xem
mưa bắt đầu rơi trên Hồ Kuen Ming Lake, những người tới chơi
đang chạy biến đi trong cỏ.
.
Nhưng tôi yêu thích được nghe hát
nhìn các cây bông súng tràn ngập nước mưa cho tới khi
chúng lật nghiêng, tràn nước vào nước hồ
rồi đứng thẳng lại, và ngập nước mưa trở lại.
.
Cả hai người đàn bà bắt đầu khóc
Nhưng không ai ngưng tiếng hát. (Hết)
.
Ko Soe Naing, nhà thơ MIẾN ĐIỆN và là một nhà hoạt động dân chủ. Anh là một sinh viên của Học Viện Kỹ Thuật Ragoon (Rangoon Institution of Technology) tham gia cùng các bạn chống lại nhà nước quân phiệt. Anh bị cảnh sát bắn bị thương, trầm trọng tới mức hết cứu nổi, trong tháng 3/1988. Trước khi chết, anh làm bài thơ “Real Answer” (Câu Trả Lời Thực), trong đó có lời gửi tới ba mẹ. Toàn văn bài thơ như sau.
.
CÂU TRẢ LỜI THỰC
@ Ko Soe Naing

Bạn tôi ơi
Tôi không muốn thì thầm
cơn đau tôi chịu đựng
nhưng muốn kể mọi thứ.
.
Đó là cảm giác xúc động
Viên đạn trong phổi tôi
như các bác sĩ đã nói.
.
Nhưng bạn ơi
nhà độc tải đã ra lệnh để môi tôi phải nói
đó là vết thương
gây ra từ một mũi tre nhọn
.
Sau chai máu thứ tư
bơm vào
nhưng không gì đỡ hơn
.
Tệ hại nhất tôi cảm thấy buồn là
những chiếc còng ở cả bàn tay và cổ chân.
Không để tấm thân xanh xao của tôi
cử động gì.
.
Ba má tôi thở dài và khóc
những đôi mắt đen sầm và tai đã lãng
Tôi nhận ra và cảm nhận hoàn cảnh mình
lần cuối trong đời mình
lựa lọc những chữ căng thẳng
và để trả lời câu hỏi
của “Ủy Ban Thanh Tra Bí Mật”
về sự thật mà họ không ưa thích.
.
Cái Nằm Trong Phổi Tôi
Là Một Viên Đạn Thực. (Hết)
.
Nhà thơ Nhã Ca nổi tiếng từ thời còn ở VIỆT NAM. Bà sinh năm 1939 tại Huế, vào Sài Gòn năm 1960, sáng tác với nhiều thể loại văn học như thơ, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký. Năm 1964, thi tập Nhã Ca Mới của bà ấn hành, và được trao Giải Thi ca toàn quốc năm 1965. Trong khoảng thời gian 1960 – 1975, bà xuất bản 36 tác phẩm nhiều thể loại. Trong đó, tác phẩm Giải Khăn Sô Cho Huế viết về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế được trao Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1970. Cũng vì tác phẩm này, sau ngày 30/4/1975, bà là phụ nữ duy nhất có tên trong danh sách 10 “biệt kích văn hóa” ở miền Nam Việt Nam, cùng với các nhà văn khác, và bị nhà nước CSVN bắt giam trong 2 năm. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, bị giam hơn 12 năm. Năm 1989, do can thiệp của Văn Bút Quốc tế, Ân xá Quốc tế và Thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà và gia đình sang Thuỵ Điển tị nạn. Năm 1992, bà và gia đình sang California định cư, cùng chồng sáng lập Việt Báo Kinh Tế và rồi đổi tên là Nhật Báo Việt Báo. Sau đây là bài Thơ Sớm Mai của nhà thơ Nhã Ca, ghi lời người mẹ viết cho ngày đầy tuổi của con.
.
THƠ SỚM MAI
@Nhã Ca
.
Buồn buổi sớm đầy trong ngăn kín
Vườn ăn năn cây cối vừa xanh
Sáng chủ nhật mặt trời đỏ chín
Đầy tuổi con rồi đó nghe anh
.
Nghe đó anh, con đầy tiếng nói
Sự thật kìa, con nói đi con
Nói đi con, nói dùm mẹ với
Buồn bã nào cớm nổi lộc non
.
Con nói đi kìa mặt trời mọc
Mặt trời đang mọc mặt trời hồng
Mặt trời đang mọc ba đừng khóc
Mưa gió nào chôn nổi rạng đông
.
Con nói đi, kìa sáng chủ nhật
Chủ nhật sao đầy ắp cửa nhà
Nụ cười trong máu hơi trong đất
Tiếng nói con đầy lịch sử ta
.
Sáng chủ nhật đầy ắp mọi người
Con nói đi mặt trời đang mọc
Mặt trời mọc, mọc rồi, mọc rồi
Mặt trời mọc mà sao mẹ khóc. (Hết)
.
Một nhà thơ ẤN ĐỘ xưa cổ… Ubbiri là một vị Hoàng Hậu, trước khi trở thành một vị Thánh Ni. Nỗi đau đớn khóc con đã dẫn bà tới cơ duyên gặp Đức Phật và rồi học đạo. Trong hàng môn đệ của Đức Phật có hàng trăm vị Thánh Tăng, Thánh Ni để lại các bài thơ bất tử. Trường hợp bà Ubbiri đã có duyên lành từ nhiều kiếp xưa. Trải qua nhiều kiếp quá khứ, bà Ubbiri đã có nhiều công đức trong thời của nhiều vị Cổ Phật. Trong một kiếp ở thời Cổ Phật Padumuttara Buddha, bà sinh tại thị trấn Haŋsavatī. Một hôm, khi ở nhà một mình vì ba mẹ dự tiệc ngoài phố, bà nhìn thấy một vị A La Hán tới gần, bà mới bước ra cung thỉnh vị sư tới trước nhà, mời ngài ngồi, lấy bình bát của ngài và chất đầy thức ăn dâng cúng. Vị trưởng lão thọ nhận, cảm ơn và bước đi. Nhờ công đức như thế, bà sinh lên cõi trời. Tới thời Đức Phật Thích Ca, bà sinh trong một gia tộc quyền quý ở thành Savatthi.
Vì bà xinh đẹp, Vua Kosala đưa bà vào nội cung. Vài năm sau, bà sinh hạ môt bé gái tên là Jiva. Vua hài lòng, tấn phong bà Ubbiri làm Hoàng Hậu. Một thời gian ngắn sau, bé gái từ trần, và bà tới khóc con hàng ngày ở nghĩa trang. Một hôm, bà tới bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật, ngồi xuống giây lát, và rồi bước ra, đứng than khóc bên bờ Sông Achiravatī. Đức Phật hiện thần thông, tới trước mặt bà và hỏi rằng tại sao lại khóc. Hoàng hậu bạch Thế Tôn rằng bà khóc vì con gái từ trần. Đức Phật nói: “Thiêu xác trong nghĩa trang này có 84,000 đứa con gái của con, con muốn khóc đứa nào?” Oai lực từ lời dạy của Đức Phật Thích Ca và công đức nhiều kiếp quá khứ tức khắc giúp bà Ubbiri nhìn thấy cái mênh mông vô tận của cõi luân hồi, và nhận ra bà đã nhiều kiếp ẵm xác con ra thiêu nơi nghĩa  trang này.
Đức Phật đọc bài kệ:
Người khóc trong rừng: “Jiva, con gái ta ơi.”
Ubbiri, tỉnh thức đi: 84,000 đứa con trước giờ đều có tên Jiva
đã thiêu xác nơi nghĩa trang này.
Ngươi thương khóc đứa con nào?

Hoàng Hậu Ubbiri tức khắc đắc quả A La Hán. Đây là một trong vài trường hợp hy hữu, đắc quả cao nhất trong khi chưa xuất gia. Bà Ubbiri đọc bài thơ tạ ơn Đức Phật:
Xong rồi, đã hoàn toàn
bứt ra mũi tên rất mực khó thấy
từ trái tim con
Con đang tràn ngập nỗi đau đớn vì thương đứa con gái
Và Đức Thế Tôn đã lấy ra nỗi đau cho con.
Hôm nay — với mũi tên bứt ra
không còn tham luyến gì, toàn bộ
là Niết Bàn —
Đối trước Phật, Pháp, Tăng
con xin quy y Tam Bảo.
.
Và sau cùng, kính chúc tất cả độc giả một Đại Lễ Vu Lan trang nghiêm và hạnh phúc, sức khỏe an lành, thoát hiểm nạn, vượt qua mùa đại dịch.
PTH



Saturday, August 15, 2020

BUỒN ĐÊM MƯA

Khuất Đẩu

Mưa đêm

Suốt một đời người, theo tôi, buồn nhiều hơn vui chứ không phải “buồn ít hơn vui” như câu hát của Phạm Duy.

Gặp chuyện chi cũng buồn. Thấy gì cũng buồn. Như, buồn vương cây ngô đồng, buồn trông ngọn nước mới sa, buồn trông chênh chếch sao mai… và buồn đêm mưa của Huy Cận.

Đêm mưa làm nhớ không gian/ lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la/ tai nương nước giọt mái nhà/ nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn…

Nằng nặng, là nặng mà không nặng lắm. Buồn buồn, là buồn mà không buồn lắm. Mưa làm bầu trời như sa xuống thấp. Buồn làm lòng ta cũng như đang chùng xuống. Cả hai liên thông như bình thông nhau và cảm thông lẫn nhau.

Huy Cận buồn vì tương tư hướng lạc phương mờ, tức là nhớ mà không biết nhớ ai/ ai nhớ? Đó là tâm trạng của một chàng trai mới lớn mà đã già trước tuổi. Thơ Huy Cận trước 45 buồn mênh mang, buồn sâu và dài đến độ có người gọi là Đỗ Phủ của Việt Nam.

Tôi, lúc còn trẻ, đêm nghe mưa chỉ thấy bực chứ không buồn. Bực, vì đường nhà quê đầy phân trâu bò, nước mưa làm trơn ướt nhão nhoẹt, đi lại rất dơ bẩn. Đường phố thì cống nghẹt, xe chạy qua bắn nước tung tóe vào người đi bộ, mà người ngồi trên xe thì vén miệng ra cười, cũng rất bẩn!

Nhưng, khoảng vài mươi năm trở lại đây, đêm mưa nào cũng khiến tôi buồn. Buồn vì công danh sự nghiệp chẳng ra gì. Buồn vì nhà dột, tường xiêu, sắp sụp. Buồn vì vận nước đang đi vào ngõ cụt không lối ra. Cũng may, không phải sinh ra là đàn bà, nên chẳng thèm buồn chi đến da nhăn, ngực xệ!

Những âm mưa “rơi rơi dìu dịu rơi rơi”, nghe thật nhẹ nhàng nhưng cứ nghe mãi cũng thấy nằng nặng. Có điều gì đó nghe như niềm tuyệt vọng.

“Thà là giọt mưa/ vỡ trên tượng đá”, là ý tưởng ngông nghênh của một chàng trai 17 tuổi, tên Nguyễn Tất Nhiên đang yêu vô vọng, chứ một ông già 71 tuổi, thì không dám liều mạng như thế. Chỉ muốn làm “hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” như Sơn Nam mà thôi. Mà một hạt bụi trong mưa xem ra lại còn mong manh và nhỏ bé hơn nữa.

Đêm mưa, với “trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ”, buồn nhưng thật đẹp. Đúng là “mưa như mưa trong lòng tôi”, nhất là trong những đêm thu muộn. Một chút lạnh vừa đủ cho mình kéo chăn lên ngực, và cũng vừa đủ để thèm một bàn tay ấm của ai…

“Giọt nước mái nhà” là giọt tranh của những mái tranh, nó êm lắm, dịu lắm, như đang rót mật vào tai mình. Không tiếng sấm rền, không tiếng còi xe, chỉ có tiếng mưa thầm thì cùng với cỏ cây và với lòng mình.

“Nằm gắng cũng không thành mộng được”, thôi thì, cố gượng mà ngồi dậy, bật đèn lên pha chút cà phê. (Lại may vì ngủ riêng không làm rộn đến ai). Lúc này, ngoài tiếng mưa êm như ru, còn có tiếng nước reo trong ấm, nghe như tiếng ai chưa bước vào cửa đã cất tiếng chào.

Cà phê uống một mình thấy tỉnh táo đậm đà chứ không nhạt và buồn như uống rượu. Lại châm thêm điếu thuốc để không phải nhớ nhà mà nhớ mông lung vơ vẩn! Thế rồi, từ buồn buồn đổi sang vui, vui lúc nào cũng không hay.

Rồi đó, ngồi vào máy tính, trước màn hình trắng như cánh đồng tuyết, thử gõ lên vài chữ vài câu, gõ rồi xóa, xóa rồi lại gõ, và nhờ vậy mà có thêm những bài viết ngắn, dài, bàn đủ thứ chuyện trời ơi đất hỡi. Tưởng như trong cõi không gian vô tận kia, có ai đó đang ngồi trò chuyện cùng với mình. Internet khiến người ta có thể cô đơn nhưng không cô độc, là vậy.

Sáng ra, đất trời không còn nằng nặng mà nhẹ nhàng tươi mới, với cây lá sạch bóng lóng lánh nước mưa, và nơi xa kia, núi rừng xanh một màu xanh mát mắt.

Rồi chân ta bước, không cần chân thứ ba, vẫn đủ sức đi một vòng con phố nhỏ, rồi về nhà tắm nước nóng, bước ra đã thấy một bát miến cua trong vắt như yến chưng đường phèn, đang bốc khói.

Ngồi xuống ăn mà miệng cứ tủm tỉm cười vì nhớ tới cu Lặc của Tô Hoài. Một anh đầy tớ, có lần được chủ cho ăn miến, anh ta vừa mới lùa vào miệng chưa kịp nhai đã thấy “nó tơn tơn chui tọt qua củ tỷ”, nên cũng chưa biết miến là cái món gì. Anh ta thuộc giai cấp bần cố nông từ tám đời, sau cải cách ruộng đất, biết đâu đã được cơ cấu ngồi vào ghế này ghế nọ của cách mạng, ăn đến những thứ gì chứ thèm chi đến miến.

Thực ra, mưa đêm buồn và đẹp đến như vậy, là do đầu óc lãng mạn của bọn nhà giàu, bọn tạch tạch sè (tiểu tư sản) tưởng tượng ra, theo như cách nói của những người vô sản. Vậy nên, Huy Cận muốn theo đảng thì cần phải đoạn tuyệt hẳn với Tự Lực văn đoàn và Nhất Linh. Do đó, ta không lạ gì khi thấy ông chẳng những chối bỏ tập thơ Lửa Thiêng được coi là đỉnh cao của thơ ca lãng mạn Việt Nam, mà suốt một đờì vẫn không ngớt lên án Nhất Linh, là mù quáng theo Việt Quốc chứ không theo đảng. Và, có như vậy ông mới leo tót lên tận ghế thứ trưởng rồi bộ trưởng bộ văn hóa nghệ thuật để bay đi làm đủ trò khắp thế giới.

Cái gì đã làm thui chột tài năng, về thơ lục bát ông chỉ đứng sau Nguyễn Du, như Nhất Linh đã từng nhận định về ông, có lẽ không nói tới nữa vì chúng ta ai cũng biết. Nhưng cái cách xoay ngược hay treo ngược tâm hồn ông lên, thì thật đáng sợ. Nói một cách hình tượng và thời sự, nó giống như con Covid-19 bảy màu của cúm Tàu bây giờ, làm đảo điên cả thế giới!

Cũng may ông thì chết rồi, nhưng bài thơ Buồn đêm mưa của ông vẫn còn sống mãi. Cũng như cái chế độ với những lãnh đạo đầu óc xơ cứng và ngơ ngáo kiểu cu Lặc kia, trước sau gì cũng bị những cơn mưa đêm cuốn vào ống cống của lịch sử như Gaddafi, vậy thôi. Phải vậy không, anh Thân Trọng?

KHUẤT ĐẨU
(Viết sau khi trò chuyện qua điện thoại với TTM, ngày 10/8/2020)


Friday, August 14, 2020

GIỚI THIỆU SÁCH. MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN - THE BATTLE OF SAIGON


Thông Cáo Báo Chí
MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN – THE BATTLE OF SAIGON
Tập truyện song ngữ Việt Anh
NGÔ THẾ VINH



Vẫn liên tiếp xuất hiện những cuốn sách viết về Chiến Tranh Việt Nam, tuy nhiên có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh. Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm của một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa. Rồi ông cũng đề cập tới cuộc sống hỗn mang ban đầu của một người tỵ nạn tạo dựng lại cuộc đời trong sự xa lạ của một miền Nam California, với phấn đấu để trở lại nghiệp cũ giữa một cộng đồng di dân gồm cả nửa triệu thuyền nhân với những khuynh hướng chánh trị phân hóa đa dạng. Một bối cảnh như vậy hầu như hoàn toàn bị lãng quên trong văn học. Người đọc sẽ thấy mình bị lôi cuốn vào tâm thức của một y sĩ tiền tuyến, của một tù nhân trong các trại tù gulag và rồi đến một người tỵ nạn bị bật ra khỏi gốc rễ được giải thoát để hội nhập vào một tầng lớp trung lưu Mỹ mới vừa hình thành. Đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những cội rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời. TIM PAGE, Time - Life, UPI free lance reporter                                                                                                                                   

Văn Học Press & Việt Ecology Press
ISBN # 9781989993194  
www.amazon.com, các hiệu sách
vanhocpress@gmail.com, vietecologypress@gmail.com,
P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740




CƠN MƯA

Đặng Mai Lan

Rain. Source : Internet

            Vì nhu cầu công việc, thỉnh thoảng ông ta vẫn đi xa một hai ngày, lần này ông lại vắng nhà suốt một tuần lễ. Tôi không chắc đây là một tình cờ trùng hợp, tuy nhiên đó cũng là một điều tốt. Chỉ còn hai mẹ con, tôi sẽ được tự nhiên thoải mái hơn và thay vì ở hai hôm, tôi sẽ lưu lại với mẹ thêm vài ngày nữa.
Vài năm, khoảng thời gian không dài lắm nhưng tôi nghĩ đã đủ để tâm hồn tôi tịnh lắng, tất cả mọi chuyện trở thành bình thường, và kể như tôi đang trở về sau một chuyến đi xa. Vậy mà khi đặt chân trên thềm nhà tôi vẫn không tin là mình trở về. Khi tôi đi, cây hồng đào chỉ vừa trổ nhánh ngang tầm cửa sổ, bây giờ nó đã vươn những thân dài muốn vượt cao hơn cả mái nhà. Đã gần hết mùa hoa, hoa rụng đầy sân. Trước khi tìm chiếc chìa khóa mẹ dấu dưới chân ghế ngoài vườn, mở cửa vào nhà, tôi đã đứng lặng thinh vài phút... Nhìn những cánh phấn mỏng manh tơi tả như những chiếc pháo đã nổ tung, vụn vỡ vãi đầy xác giấy trên mặt đất, nhìn khoảng đất nhỏ, giang sơn của riêng tôi ngày trước, một bức họa thiên nhiên với những màu sắc linh động của mọi loại  hoa giờ chỉ thấy toàn cỏ dại. Hình ảnh buồn bã làm sao! Đó là dấu vết đầu tiên nhắc nhở rằng nơi chốn này không còn gì thuộc về tôi nữa. Tôi đã bỏ đi lâu lắm. Tôi là một đứa con gái hư hỏng.
Mọi người đều nói tôi giống mẹ ở đôi mắt. Đôi mắt ướt rượt nỗi buồn khi buồn, biết cười khi vui. Đôi mắt biết nghe và nói. Tóm lại tôi có đôi mắt đẹp, có sự thu hút những ai ngắm nhìn nó. Đó là những miêu tả tương đối đẹp. Nhưng người ta còn nói thêm rằng, với đôi mắt linh động ướt át, đầy dấu hiệu của những bất trắc trong đời sống tình cảm, đời tôi rồi cũng chẳng khác nào mẹ… Tệ hơn nữa, kẻ khác cho là đôi mắt tôi gợi tình, lẳng lơ… Tôi sẽ có hai ba đời chồng.
 Không cần những giải thích, phê phán, khen chê của thiên hạ, tôi tự biết mình giống mẹ lắm, không phải chỉ đôi mắt. Và tôi hiểu đó là một bất hạnh. Giá như tôi xấu hơn mẹ, hoặc đẹp hơn mẹ, kiểu cây đắng sinh trái ngọt hay cây ngọt sinh quả đắng có lẽ đời sống sẽ suông sẻ, êm đềm hơn.
Trước tiên là tôi tìm vào căn phòng nhỏ của mình, căn phòng có cửa sổ nhìn ra vườn sau, thấy con đường mòn và cả một khoảng đồng cỏ phía xa. Nơi này mỗi chiều xưa, tôi thường ngồi vắt vẻo trên bệ cửa, nhìn ông ta chạy bộ từ sân Tennis trở về nhà, bộ đồ thể thao trắng và dáng đi thoăn thoắt  của ông đậm rõ trong nắng, trong màu xanh biêng biếc cỏ cây. Siêng năng tập thể dục nên đã có tuổi mà thân thể ông không chảy phì, to béo. Ông có làn da nâu rám nắng, bụng ngực ông phẳng lì, rắn chắc không thua những thanh niên trẻ... Kỳ cục quá! Tại sao tôi nghĩ đến điều này? Phải chăng tôi đã là đàn bà? Tôi vất cái túi xách nhỏ xuống nền thảm, như vừa cố đuổi đi một ám ảnh nặng nề.
 Mọi vật trong phòng tôi mẹ vẫn để nguyên không thay đổi. Tôi ngã người nằm xuống nệm giường thoảng thơm mùi thuốc giặt, có lẽ mẹ vừa mới thay khăn trải giường khi nghe tin tôi về. Và tôi nhận ra trên bàn viết của tôi có một bình hoa tươi thắm mà khi bước vào tôi không hề để ý, vì mãi lo nghĩ những chuyện đâu đâu. Ngắm nghía bình hoa có những nụ cẩm chướng màu trắng san hô, thân gầy guộc mong manh như nhánh cỏ chen lẫn giữa những đóa hồng vàng rực rỡ, tôi hiểu bó hoa này không phải của riêng tôi. Mẹ yêu hồng vàng kiêu sa, tôi thích cẩm chướng nhỏ nhoi trang nhã. Bó hoa này cho tôi và mẹ, chúc mừng ngày tôi lưu-lạc quay về, ngày đoàn- tụ của hai mẹ con tôi? Tôi không nghĩ người chọn mua hai thứ hoa này là mẹ. Có lẽ là ông. Tôi, mẹ, và những đóa hoa kia ... Tình cảm nào còn lại trong lòng ông ấy về tôi, bây giờ? ... Tôi không muốn nghĩ đến nữa.
Tôi nhắm mắt, đặt tay lên bụng. Quên hết đi, đời sống bây giờ là đây, điều để nghĩ đến là đây. Hai ba năm nữa, sẽ có một đứa bé kháu khỉnh thỉnh thoảng về nơi chốn này, ngôi nhà sẽ rộn rã tiếng bi bô cười nói của nó. Một đứa trẻ xinh đẹp và khoẻ mạnh. Nó sẽ chạy lăng quăng khắp cùng ngõ ngách trong nhà, có thể nó sẽ nhón đôi chân bé xíu với trèo lên bệ cửa kia… Và chỉ là một đứa bé con nên nó không dõi mắt mơ mộng nhìn ngắm vùng trời phía ngoài như mẹ nó, mà chỉ nghịch ngợm thả xuống đất những cái gì nó đang cầm trong tay. Nó là con trai hay con gái tôi không biết? Hình ảnh vẽ vời mường tượng trong đầu tôi luôn luôn là một chú bé con. Tôi hy vọng con đầu lòng của tôi sẽ là con trai. Nhưng nếu  là con gái... thì tôi mong rằng nó đừng giống tôi như tôi đã giống mẹ. Người ta bảo tôi có đôi mắt lẳng lơ, loang ướt những nỗi buồn, sẽ lắm truân chuyên về tình cảm. Tôi mong được sống mãi với Khoa. Coi như chúng tôi đã có nhiều năm thử thách. Lằn mức cuối cùng đã định đặt. Đừng có một biến cố nào đến trong đời sống chúng tôi. Khoa đừng bỏ tôi. Hãy không còn yêu tôi, xa tôi khi con chúng tôi đã trưởng thành, nếu như nó là con gái. Phải, nếu như nó là con gái!
Chuyến xe vượt cả hàng trăm cây số làm tôi thấm mệt. Tôi thiếp đi với một giấc ngủ nặng nhọc đầy những hình ảnh nhập nhằng chồng chéo giữa quá khứ, tương lai. Tôi đã là đàn bà, sắp làm mẹ. Người đàn bà đang trở về đối bóng mình trên chiếc giường thời con gái.

Không biết ông ấy bây giờ ra sao, nhưng mẹ thay đổi khá nhiều. Như bao nhiêu người đàn bà khác, những dấu vết phì nộn khó lòng tránh khỏi trên thân thể khi những chu kỳ không còn nữa. Mẹ nói tôi gầy, ý chừng tôi không được nhàn hạ hạnh phúc. Tôi tưởng tôi chì lắm, cứng rắn ương ngạnh như ngày tôi bỏ đi, mà  ngần ngừ loanh quanh mãi tôi mới dám nói với mẹ là tôi đang có mang.
Mẹ lặng người đi vì xúc động hay vì giận tôi không biết, nhưng rồi mẹ lại mỉa mai:
- Mẹ tưởng rằng thằng Khoa chỉ thích sống như thế với con.
Tôi chống chế:
- Anh ấy muốn có một đứa con từ lâu, chỉ có con chần chừ không quyết định.
- Thực tình cho tới bây giờ mẹ vẫn không thể hiểu con.
Tôi bỏ đi sau khi cãi vã với mẹ một trận kịch liệt. Những chuyện bất đồng giữa tôi và mẹ liên quan đến tình cảm của tôi với Khoa xảy ra như cơm bữa. Khoa chỉ hơn tôi một tuổi. Khoa còn trẻ lại nghệ sĩ quá, cái nghệ sĩ của Khoa không phải là một đặc điểm dưới mắt mẹ, mà là một thuộc tính phù phiếm. Bởi vì Khoa còn có thể học cao hơn nhưng anh bỏ ngang, đi làm việc như một công chức xoàng. Tôi hiểu Khoa, anh không kỳ vọng nhiều về công danh. Anh chỉ tìm một chỗ ngồi nhàn nhã để chạy đuổi theo nỗi khao khát khác. Anh yêu thích hội họa, anh dấn thân vào thế giới màu sắc đó đâu phải chỉ bằng năng khiếu với đam mê. Những nhu cầu cho bộ môn nghệ thuật này chiếm khá nhiều thời giờ và cả tiền bạc của Khoa... Mẹ không muốn tôi lấy một người đàn ông tầm thường, một anh công chức quèn, hoang phí, vì nếu đem so sánh có thể nói là tôi hơn Khoa về trình độ học thức.
Mẹ nói với tôi nhiều lần:
- Con còn trẻ, đừng tin rằng tình yêu mà con đang có là vĩnh cửu. Chẳng có người đàn ông nào gọi là số một trên đời này cả. Có thể tuần sau, vài ba tháng nữa hoặc vài năm sau nữa không biết được, con sẽ gặp một người khác. Rồi con sẽ hối tiếc. Tình yêu lâu bền là phải có sự nể trọng người mình yêu. Điều bi thảm là nhìn thấy sự tầm thường nơi người ấy, khi đam mê đã hết.
Tôi không rõ lắm ba tôi là người đàn ông thế nào? Là một người đàn bà đã qua nhiều bến bờ, tôi hiểu mẹ khuyên tôi bằng những kinh nghiệm phong ba của mình. Ý mẹ muốn tôi phải lấy một người lớn tuổi hơn tôi, kiến thức phải hơn tôi. Phải khâm phục thì mới có thể ăn đời ở kiếp. Khoa còn trẻ, tính tình bất thường và đôi lúc thật trẻ con, tôi vẫn nhận biết điều đó. Nhưng tôi cũng hãy còn trẻ, tôi yêu tuổi trẻ của anh. Tôi thích bước vào thế giới của Khoa, bước vào nếp sống bừa bãi phóng khoáng của anh, của những bạn bè anh mà tôi thấy đó mới là sự sống, chất sống. Khoa mê màu sắc hơn mê tôi. Tôi mê anh, mê luôn những mảng màu mà Khoa gửi cả linh hồn và những hơi thở hoang mang kỳ lạ của anh vào đó. Khoa không thích trói buộc, chưa muốn trói buộc. Tôi biết Khoa thích tôi sống với Khoa như những cặp tình nhân, hoặc là vợ chồng nhưng không phải vợ chồng, bằng một thứ giấy tờ chi chít điều luật và những con dấu. Thực sự tôi chưa muốn thoát ly và không muốn thoát ly bằng cách đó. Tôi cần mẹ, ông ta, tôi yêu mái nhà, đời sống êm đềm mà chúng tôi đang sống… Vậy mà chỉ một chuyện nhỏ với mẹ khi mẹ chỉ trích Khoa, tôi đã dùng cả hơi sức để thổi nó phồng to lên. Đúng lúc Khoa phải đi xa, thuyên chuyển về một nhiệm sở khác. Tôi đi theo anh. Khoa không ngờ tôi liều lĩnh. Mẹ cũng không ngờ tôi quyết liệt như vậy. Mẹ nghĩ là tôi đã lầm lỡ có mang với Khoa. Câu chuyện chỉ là một cái cớ tôi cãi mẹ để ra đi. Đúng là một cái cớ. Không ai hiểu hết. Tôi cuống quýt khi Khoa mở bật những cái nút áo của tôi. Tôi ứa nước mắt khi tôi với Khoa là một và tôi khóc sướt mướt sau đó. Khoa hiểu lờ mờ, suy diễn những giọt nước mắt của tôi bằng sự cảm động, tự mãn của một người đàn ông. Khoa còn trêu tôi, nhắc tôi nhớ là tôi đã hai mươi bốn tuổi.
- Con đã không cần mẹ từ ba năm nay. Bây giờ con muốn mẹ phải làm gì?
- Mẹ đừng nói như thế, con đã khổ tâm nhiều. Con về  thăm mẹ, cho mẹ biết là mẹ sắp có cháu. Tụi con sẽ làm đám cưới.
- Con đặt đâu thì mẹ ngồi đó, mẹ có muốn ngồi một nơi khác cũng không được.
Vẫn giọng điệu mai mỉa, nhưng mẹ nói một cách buồn rầu. Tôi buồn rầu hơn khi nghĩ rằng tôi đã đặt chính mình trên một chỗ ngồi mà hình như tôi không ao ước mấy.

Những lúc mẹ đi làm, tôi xuống phố rong chơi. Được hai ngày tôi chán ngấy và tôi lại quanh quẩn ở nhà, bếp núc cho hai mẹ con, dọn dẹp vặt vãnh. Tôi như một người lạ đâu đó đến trọ ngôi nhà này.  Hết ngồi nhìn chỗ này tôi lại đứng ngó chỗ kia. Tôi ngắm căn phòng ngủ tìm lại dấu vết của mình. Tôi đã rời bỏ cái thế giới ấm cúng thân quen này tự lúc nào? Tôi thấy tôi không là tôi nữa. Lâu lâu tôi lại đưa tay rờ bụng như để trấn an một nỗi bất ổn, nâng niu một cái gì vẫn còn, không thể mất. Ngày đầu mới về, mệt mỏi vì thức khuya trò chuyện với mẹ, tôi ngủ ngon lành, nhưng vài đêm sau là tôi bắt đầu trằn trọc. Và bao giờ tôi cũng thiếp vào giấc ngủ rồi thức dậy bằng một cơn mưa ào ạt trở về trong trí nhớ, dù bên ngoài nắng đã lên cao, tôi nghe rõ có tiếng chim hót líu lo ngoài cửa.
Mưa không ngừng, mưa rơi suốt trong giấc ngủ mệt mỏi bần thần của tôi. Tôi không nhớ gì hết ngoài những cơn mưa. Một cơn mưa dai dẳng trắng mù trời đất, mà qua khung kiếng nhìn ra, tôi cảm tưởng mình như con dế bị nhốt trong một chiếc hộp nhựa trắng đục, cũ mèm, không nhìn thấy gì cả phía ngoài. Tôi nhớ những ngày mưa khi tôi còn nhỏ ở nhà một mình chờ mẹ và ông ấy đi làm về... Và còn một cơn mưa khác, cơn mưa hung hãn đổ xuống một buổi chiều cùng với những giọt nước mắt của mẹ trước ngày tôi bỏ đi, là những dấu vết ẩm ướt đẫm trong trí nhớ tôi đã như tờ giấy rệu mục.
Không biết mẹ đã kể lể với ông ta từ lúc nào? Hôm qua ông điện thoại bảo tôi cố nán lại cho đến ngày ông về.
Ông nói, vẫn với giọng nói từ tốn điềm đạm. Giọng nói như luôn mang theo nó âm hưởng một nụ cười ấm áp.
- Bác cũng muốn gặp lại xem cô sắp làm mẹ, có người lớn được chút nào không?
- Hôm khác con cũng lại về cùng với anh ấy thôi mà!
Tôi ấp úng trong cổ họng và nghe một cảm giác lan man nóng bừng trên thân thể, thân thể đang bắt đầu có nhiều thay đổi.
Ông khác mẹ, ông không phản đối cuộc tình của tôi và Khoa. Ông cũng không bênh vực Khoa để chống lại quan niệm của mẹ, nhưng gần gần như vậy. Ông hay trò chuyện với Khoa. Đối với ông tuổi trẻ quý báu hơn tất cả những gì trên đời này. Hãy sống tận cùng với tuổi trẻ và những đam mê đẹp đẽ mà các con đang có. Tuổi trẻ làm được những điều mà tuổi già như chúng tôi chỉ còn ngồi nghĩ ngợi hối tiếc. Ông nói như thế và còn nhiều điều khác nữa về thời trẻ của ông. Khoa rất thích nghe những câu chuyện của ông, anh bảo tôi có một ông bố dượng tuyệt vời. Đối với Khoa ông không già, cái dáng dấp cương nghị, mực thước kia chỉ là tấm áo đổi màu theo thời gian, tấm áo bao che một tâm hồn rất trẻ. Chưa bao giờ tôi gọi ông bằng bố. Ông bước vào thế giới của mẹ con tôi từ bao giờ tôi không nhớ. Mẹ đã dạy tôi gọi ông bằng bác từ những ngày đầu.
Tôi ngẩn ngơ buồn buồn khi ông cúp máy. Tôi lại loanh quanh trong phòng nhìn ngắm những đồ vật của ông, của mẹ. Tôi ngồi trên chiếc ghế bành ông hay ngồi, tôi rờ cây vợt lưới dựng trong góc tủ, tôi cầm cây dù đen của ông xoay xoay trong tay. Đi xa sao ông lại không mang nó theo ông? Tôi tự hỏi và chợt nhớ rằng trời đất đang xuân. Tôi quên mất thời gian, mưa lúc nào cũng rơi trên trí tưởng... Tôi cứ đi tìm những điều gì đâu đâu không rõ. Tôi là người lạ trong quá khứ của mình. Và tôi chỉ tìm được sự thoải mái khi ngồi trên ngạch cửa sổ nhìn qua bên kia đồng cỏ. Đó là lúc tôi nghĩ đến đứa con sắp ra đời của Khoa, của tôi.
Mẹ cũng muốn tôi nán lại thêm một ngày nữa chờ ông ấy về.
- Bác vẫn mong ngày con về. Con không nghĩ là con vô lễ, con đã bỏ đi lâu lắm rồi sao?
- Mẹ biết là con chỉ được nghỉ có một tuần, con không biến mất nữa đâu. Tháng tới con sẽ cùng về với Khoa mà.
Tôi cười với mẹ, nhưng tôi không bỡn cợt hứa hão cho qua chuyện. Tôi nghĩ là sẽ cố thu xếp để về với Khoa. Mọi chuyện qua rồi, tôi đã sang sông và mưa thì ngừng rơi từ lâu lắm. Nhưng thế nào thì Khoa vẫn là điểm tựa bình yên nhất của tôi. Tôi muốn cùng ngồi với Khoa trò chuyện với ông ấy, như xưa.
Đêm cuối cùng mẹ muốn tôi ngủ với mẹ. Mẹ lục lọi những tư trang của mẹ để cho tôi. Tôi không muốn lấy một thứ gì cả. Lấy chỉ để cất một nơi nào khác thì lấy làm gì. Tôi không thích đeo nữ trang, thỉnh thoảng tôi mang một thứ gì đó trên tay, trên cổ mà chỉ toàn đồ giả, đeo cho vui và tôi vất lăn vất lóc. Mẹ đưa tôi một cái áo khoác còn mới toanh, không hiểu mẹ mua từ bao giờ? Chiếc áo vàng thẫm, màu vàng của những chiếc lá chết. Mẹ thích màu vàng, tôi cũng thích màu vàng.
Tôi hỏi :
- Sao mẹ không giữ để mặc?
- Mẹ mua cho con đó ! Mẹ biết có ngày con sẽ trở về. Tuổi mẹ bây giờ chắc không còn hạp với những màu này nữa.
Mẹ khoác cái áo lên người ngắm nghía rồi đưa lại cho tôi. Tôi mặc vào và ngó mình trong tấm gương tủ có mẹ đứng phía sau. Khoa vẫn khen mẹ tôi trẻ, nhìn tôi và mẹ đôi khi có thể lầm là hai chị em. Nhưng bây giờ tôi nhận thấy mẹ đã già đi, và tôi cũng thế. Tôi sắp có con và mẹ sắp có cháu còn gì. Tôi ngắm tôi, ngắm mẹ trong tấm gương. Sao tôi không giống ba tôi mà lại mang nhiều dáng nét của mẹ, ngay cả sở thích?

Trằn trọc mãi trong bóng tối, nhìn ngắm mọi vật nhập nhòa bằng hai con mắt mù đêm, tôi muốn quay trở lại phòng mình khi mẹ đã im tiếng và hơi thở thoát ra đều đặn chứng tỏ là mẹ đã ngủ say, nhưng tôi sợ khi thức giấc không thấy tôi có thể mẹ sẽ buồn bã, nghĩ ngợi. Hình như mẹ đã mất con thật rồi! Mẹ tôi đã nói thế vào buổi chiều khi chúng tôi ngồi trước hiên nhà, nhìn thấy một bà mẹ trẻ đi ngang qua cùng đứa con nhỏ của bà, người mẹ đang tập cho đứa bé đạp xe với chiếc xe đạp nhỏ. Câu nói của mẹ lấn cấn trong đầu tôi suốt buổi. Mẹ đã nhìn thấy, đã suy nghĩ gì khi thốt lên lời lẽ ấy?
Cuối cùng tôi đã trở về phòng mình, sau khi đã vào nhà tắm, gục mặt xuống rất lâu trên bồn rửa mặt. Tôi đắp những vốc nước trên mặt, trên cổ mình, bằng đôi bàn tay run rẩy. Tôi ngó rất lâu gương mặt thất thần hoảng hốt của tôi trong tấm gương dưới ánh đèn lờ mờ. Tôi lại đắp thêm những vốc nước khác và tôi tấm tức khóc...
Tôi không rõ lắm trạng thái của tôi như thế nào trước đó? Như một vết thương chưa lành, bất cứ một gây động nhẹ nhàng nào cũng có thể làm nó nứt vỡ đau đớn. Tôi gần như tê dại với sự đau đớn bưng bít mơ hồ này. Và tôi bỗng rùng mình khi chợt nhớ ra là tôi đang nằm trên chỗ nằm của ông ta. Tôi vừa ấp mặt vào chiếc gối có hơi hướm của ông. Mùi Lotion Après Rasage, mùi râu lẫn tóc, đang toả lan khắp cùng tóc tai, mặt mũi của tôi. Làm sao tôi  xoá được cái mùi hương đầy kích thích ấy? Mùi hương nhẹ nhàng nhưng ào ạt vũ bão không thua cơn mưa trắng xóa chiều nào, nó dậy trong tôi những cảm giác ngây ngây ngày cũ. Cơn mưa phủ dụ cuốn tôi ngã vào ông với hai vạt  áo mở bung. Và ông đang cúi xuống thật gần, khuôn mặt rám nắng đẹp như một bức tượng đồng, một vẻ gì rất là hiền triết. Khuôn mặt đã làm tôi mê hoặc. Tôi không biết vì sao?  Động lực nào? Tiếng kêu quỷ ma đã có tự bao giờ,  ẩn náu đợi chờ trong phần hồn địa ngục của tôi và cả ông ấy cùng một lúc bật lên? Không thể giải thích được nhưng thật là ngược ngạo, với Khoa tôi đã ngượng ngùng lúng túng dấu che. Còn ông, ông không cưỡng bức tôi, tôi cũng không tự nguyện, nhưng sự im lìm nhận chịu ấy có khác nào một niềm dâng hiến.
Vậy mà lại bằng một sức mạnh, một tiếng gọi nào khác tôi cũng không biết nốt, nó bứt rời tôi ra khỏi vòng tay của ông ta một cách đột ngột lạnh lẽo. Tôi trở về phòng và khoá chặt cánh cửa. Cũng giống như lúc này thôi, khuôn mặt tôi sũng ướt nước mắt, tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào một góc tường. Chỉ khác một điều là chung quanh tôi bây giờ là bóng tối, sự im lặng của đêm. Không có tiếng ông ta van xin khẩn khoản phía ngoài.
- Bác xin lỗi con, con hãy quên đi? Bác không hiểu được tại sao… Tại sao con lại giống mẹ con đến thế!     
Ông ta bỏ đi sau đó, giữa cơn mưa. Sáng hôm sau tôi là người đã gấp cây dù sũng ướt ông để ngoài hiên. Tôi đã gấp và xếp lại nhiều thứ mà tôi không biết gọi là gì. Tiếng gọi thân yêu Bác ơi hoặc Bác ấy...của ngày tháng vô tư và trong nghĩ tưởng thầm kín của tôi không còn nữa. Đó là thứ mà tôi xếp cất đầu tiên.
Tôi không có một mối tình nào khác mang theo trước khi lấy chồng. Tôi mang theo một cơn mưa. Mưa ướt đẫm trí nhớ, tháng ngày.. Nhưng không phải chỉ có một cơn mưa, còn bao nhiêu dấu vết khác tôi tìm thấy lại nơi căn nhà này, những dấu vết mà tôi sợ nhìn và nhớ.
Có lẽ mẹ đã mất tôi thật rồi. Lúc trước tôi đã ngồi bó gối chờ nghe tiếng chân ông ta rời khỏi nhà. Và bây giờ tôi ngồi chờ sáng để ra đi.

ĐẶNG MAI LAN




SAPA, BÀN TAY NHỎ

Lê Chiều Giang


Em bé Sapa

Tuổi thơ em
Tôi phải ẵm, phải bồng
Cớ sao em?
đưa bàn tay nhỏ
Dắt díu tôi
Qua nhiều con phố
Dật dờ những suối những truông
Ướt, trượt, trơn…
Lất phất mưa phùn
Tháng hai trời mưa, em có lạnh?
Xoa lên tóc thơm mùi đất ướt,
Tôi hỏi em nhà ở mãi đâu?

Sapa sáng nay lòng như hoa sữa
Từ biệt em
Tôi khóc thảm thương
Đã có bao lần
Tôi trở lại
Khói chiều lam dẫn bước chân tìm
Nhớ tay nhỏ ngày xưa, tóc ướt
Em ở đâu?
Mù mịt cánh chim…

LÊ CHIỀU GIANG
[ Nhớ về bé 7 tuổi, hướng dẫn viên người Dao]


Thursday, August 13, 2020

HUẾ VÀ EM ĐUỔI TRĂNG TRÔI CHỐN NÀO

Huỳnh Liễu Ngạn

Huế xưa

đời trôi qua mấy cửa thành
em và mưa xuống hoàng thành buồn không
giêng hai có đợi vàng bông
bâng khuâng cả mấy mùa đông trên ngàn
đời trôi qua mộng úa tàn
mà nghe hương sứ nở tràn dưới đêm
khuya về gót lạnh sầu thêm
bóng em hoang tái khắp miền Huế đô
chừ nghe hồn vỡ trăng lơ
qua canh đọng tiếng chuông mờ đâu đây
tôi nghe thương nhớ vơi đầy
em như cổ tích đã gầy mái hiên
thoáng đời trôi rụng nghiêng nghiêng
tóc em thoảng dại bình yên hôm nào
em và thiên cổ hư hao
cùng mây xứ Huế trôi vào điêu linh
khuya rằm đò có lênh đênh
xuôi lên xuống nẻo hư tình Huế ơi
đời chôn hết cả xuân rồi
Huế và em đuổi trăng trôi chốn nào.

HUỲNH LIỄU NGẠN

Tuesday, August 11, 2020

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH-BÀI 4. CHẾT LÀ HẾT, THIỆT HÔN?


Khuất Đẩu

Nhà văn Khuất Đẩu

Nói vậy chớ không phải vậy!
Đúng là chết vẫn chưa hết chuyện. Nóng hôi hổi lúc này là con virus của Vũ Hán. Nó gây ra biết bao nhiêu cái chết, khiến cho bánh xe tiến hóa của thế giới trật đường ray, nằm chình ình một chỗ.

Người đầu tiên nhìn thấy mặt con quỷ bảy màu đó, là bác sĩ Lý Văn Lượng. Lúc đầu nhà nước Tàu lôi ông ra tòa đòi kêu án vì tội phản bội tổ quốc (rất đúng người đúng tội vì tổ quốc Tàu nói láo còn ông nói thiệt), sau đó rủa sả ông không tiếc lời. Khi ông chiến đấu một mình với nó đến mệt phờ rồi cuối cùng thua cuộc phải vào nhà thiêu xác, thì nhà nước liền quay ngoắc 180 độ, ca ngợi không hết lời là đại anh hùng! (tiếc gì hai tiếng anh hùng mà không ban khen, ông mà còn sống, dám “chốn” được sang các nước
tư boản, là Tập Cận Bình và bè lũ tiêu tán đường ngay)!
Một ngàn năm sau, cái chết của ông cũng chưa hết chuyện để nói! Riêng tôi, cái chết của ông, một lần nữa nhắc nhở cho nhân loại tiến bộ hiểu rằng, chế độ cọng sản, là tổng hợp của đế quốc La mã, của phong kiến Tàu, của Đức quốc xã, quân phiệt Nhật, độc tài Liên xô, tàn bạo và ngu dốt của Mao Trạch
Đông, tức là tất cả những cái ngu cái ác nhất của nhân loại không chịu tiến bộ.

Chưa hết chuyện vì cuộc chiến giữa cái ác, cái xấu với cái tốt cái thiện vẫn còn tiếp diễn muôn đời.
Ở nước ta, nhiều cái chết lãng xẹt nhưng rúng động dư luận, tức là ầm ĩ, có thể kể Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang. Một người vừa được trao phương bảo kiếm để trừ gian diệt ác, chỉ mới dọa chém tuốt
nhưng chưa kip chém đã ngỏm cù đeo!
Một người ngồi ghế chủ tịch nước đang béo tốt phương phi bỗng tái xanh tái mét, yếu đến nỗi cầm dùi đánh trống khai giảng cho học trò mà run lên run xuống, chết trong sự nghi hoặc và tức tối đến nghẹn ngào.
Ngược lại có những cái chết không một tiếng vang, như chết trong đồn công an bằng sợi dây thun, chết khô chết héo bên cạnh đống đơn cao như núi của những người bị cướp mất đất mất nhà, hay chết trên tàu cá vì bị tàu của “nước lạ” đâm chìm!

Có những cái chết cay đắng mà cũng có những cái chết thật buồn cười. Như chết vì già mà ham, ham đây là ham gái chứ không phải ham ăn. Còn chết như thế nào, bộ dạng ra sao, ăn mặc chỉnh tề hay trần truồng vì bị lột sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng, thì xin miễn bàn vì đó cũng là bí mật quốc gia.
Có những cái chết để lại hậu quả nghiêm trọng. Chị bạn tôi kể rằng, một sáng đến thăm mộ chồng vừa mới mất, thấy có bó hoa đặt bên mộ, hỏi mấy đứa con, có đứa nào đến thăm mộ ba hay không, chúng bảo không, thế là lòi ra ngay cái con bồ lâu nay thò thụt giấu giếm. Thôi, từ nay đã có người thăm viếng rồi, tôi tới làm chi nữa cho nó tủi cái thân già!
Tai hại chưa, chết rồi mà vẫn chưa hết chuyện! .
Một ông bạn khác, lúc sắp chết kêu vợ lại gần để thành thật khai báo, rằng, anh lỡ dại đã có một đứa con riêng, khi anh chết, em làm ơn làm phước chăm sóc giùm, thương yêu nó vì dẫu sao đó cũng là giọt máu của anh…chị vợ tức nghẹn họng nhưng cố bấm bụng nhận lời. Thế mà trời xui đất khiến sao đó, anh lại sống nhăn răng. Thế là mời anh go out ra khỏi nhà tôi ngay, đi theo con đĩ nào thì đi cho khuất mắt!
Gần chết mà khủng khiếp như thế huống gì chết thiệt.
Nhưng nói gì thì nói, chết đau đớn nhất và buồn nhất vẫn là con chết trước mẹ (không ai cõng) và mẹ chết trước con (không ai cho bú).

Sau cái chết, chuyện đáng nói, đáng buồn và đáng sợ nhất, theo tôi là những cái mộ, những cái lăng. Có những ngôi mộ tốn hang chục tỷ đồng, lộng lẫy như một biệt điện, có cả tivi, tủ lạnh xalon cho người chết sử dụng như lúc còn sống. Đến ngày giỗ, ngoài việc đốt cả tỷ đô la âm phủ, còn đốt cả xe hơi, tài xế, con hầu bằng giấy.
Lăng, thì ông vua nào chẳng có lăng. Nhưng qua bao dâu bể hưng phế, chỉ còn lại ở nước ta các lăng  của triều Nguyễn. Lăng của Tự Đức nổi tiếng không phải vì đẹp, mà vì những khổ cực dân và lính phải chịu, đến nỗi làm loạn, còn để lại trên bia miệng với hai câu ca dao. Vạn niên là vạn niên nào/Thành xây xương lính hào đào máu dân!
Lăng Hồ Chí Minh vừa hện đại vừa hùng vĩ, bao quanh bằng đá quý chọn từ mọi miền của đất nước, đẹp đến nỗi được gọi là bài thơ bằng đá!
Với tôi, chết chắc cũng chưa hết chuyện, dù chỉ là một công dân hạng hai chẳng đóng góp chút gì cho quôc gia dân tộc, thì xin đừng xây mộ hoành (bánh) tráng, (nói chơi chứ tiền đâu xây), mà hãy đốt như đốt rác cho khỏi mất vệ sinh, chút tro còn lại thì xin rải trên mồ mẹ, coi như con của mẹ lại nằm trong lòng mẹ, là đủ rồi. Mong lắm thay!

KHUẤT ĐẨU