Thursday, August 13, 2020

HUẾ VÀ EM ĐUỔI TRĂNG TRÔI CHỐN NÀO

Huỳnh Liễu Ngạn

Huế xưa

đời trôi qua mấy cửa thành
em và mưa xuống hoàng thành buồn không
giêng hai có đợi vàng bông
bâng khuâng cả mấy mùa đông trên ngàn
đời trôi qua mộng úa tàn
mà nghe hương sứ nở tràn dưới đêm
khuya về gót lạnh sầu thêm
bóng em hoang tái khắp miền Huế đô
chừ nghe hồn vỡ trăng lơ
qua canh đọng tiếng chuông mờ đâu đây
tôi nghe thương nhớ vơi đầy
em như cổ tích đã gầy mái hiên
thoáng đời trôi rụng nghiêng nghiêng
tóc em thoảng dại bình yên hôm nào
em và thiên cổ hư hao
cùng mây xứ Huế trôi vào điêu linh
khuya rằm đò có lênh đênh
xuôi lên xuống nẻo hư tình Huế ơi
đời chôn hết cả xuân rồi
Huế và em đuổi trăng trôi chốn nào.

HUỲNH LIỄU NGẠN

Tuesday, August 11, 2020

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH-BÀI 4. CHẾT LÀ HẾT, THIỆT HÔN?


Khuất Đẩu

Nhà văn Khuất Đẩu

Nói vậy chớ không phải vậy!
Đúng là chết vẫn chưa hết chuyện. Nóng hôi hổi lúc này là con virus của Vũ Hán. Nó gây ra biết bao nhiêu cái chết, khiến cho bánh xe tiến hóa của thế giới trật đường ray, nằm chình ình một chỗ.

Người đầu tiên nhìn thấy mặt con quỷ bảy màu đó, là bác sĩ Lý Văn Lượng. Lúc đầu nhà nước Tàu lôi ông ra tòa đòi kêu án vì tội phản bội tổ quốc (rất đúng người đúng tội vì tổ quốc Tàu nói láo còn ông nói thiệt), sau đó rủa sả ông không tiếc lời. Khi ông chiến đấu một mình với nó đến mệt phờ rồi cuối cùng thua cuộc phải vào nhà thiêu xác, thì nhà nước liền quay ngoắc 180 độ, ca ngợi không hết lời là đại anh hùng! (tiếc gì hai tiếng anh hùng mà không ban khen, ông mà còn sống, dám “chốn” được sang các nước
tư boản, là Tập Cận Bình và bè lũ tiêu tán đường ngay)!
Một ngàn năm sau, cái chết của ông cũng chưa hết chuyện để nói! Riêng tôi, cái chết của ông, một lần nữa nhắc nhở cho nhân loại tiến bộ hiểu rằng, chế độ cọng sản, là tổng hợp của đế quốc La mã, của phong kiến Tàu, của Đức quốc xã, quân phiệt Nhật, độc tài Liên xô, tàn bạo và ngu dốt của Mao Trạch
Đông, tức là tất cả những cái ngu cái ác nhất của nhân loại không chịu tiến bộ.

Chưa hết chuyện vì cuộc chiến giữa cái ác, cái xấu với cái tốt cái thiện vẫn còn tiếp diễn muôn đời.
Ở nước ta, nhiều cái chết lãng xẹt nhưng rúng động dư luận, tức là ầm ĩ, có thể kể Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang. Một người vừa được trao phương bảo kiếm để trừ gian diệt ác, chỉ mới dọa chém tuốt
nhưng chưa kip chém đã ngỏm cù đeo!
Một người ngồi ghế chủ tịch nước đang béo tốt phương phi bỗng tái xanh tái mét, yếu đến nỗi cầm dùi đánh trống khai giảng cho học trò mà run lên run xuống, chết trong sự nghi hoặc và tức tối đến nghẹn ngào.
Ngược lại có những cái chết không một tiếng vang, như chết trong đồn công an bằng sợi dây thun, chết khô chết héo bên cạnh đống đơn cao như núi của những người bị cướp mất đất mất nhà, hay chết trên tàu cá vì bị tàu của “nước lạ” đâm chìm!

Có những cái chết cay đắng mà cũng có những cái chết thật buồn cười. Như chết vì già mà ham, ham đây là ham gái chứ không phải ham ăn. Còn chết như thế nào, bộ dạng ra sao, ăn mặc chỉnh tề hay trần truồng vì bị lột sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng, thì xin miễn bàn vì đó cũng là bí mật quốc gia.
Có những cái chết để lại hậu quả nghiêm trọng. Chị bạn tôi kể rằng, một sáng đến thăm mộ chồng vừa mới mất, thấy có bó hoa đặt bên mộ, hỏi mấy đứa con, có đứa nào đến thăm mộ ba hay không, chúng bảo không, thế là lòi ra ngay cái con bồ lâu nay thò thụt giấu giếm. Thôi, từ nay đã có người thăm viếng rồi, tôi tới làm chi nữa cho nó tủi cái thân già!
Tai hại chưa, chết rồi mà vẫn chưa hết chuyện! .
Một ông bạn khác, lúc sắp chết kêu vợ lại gần để thành thật khai báo, rằng, anh lỡ dại đã có một đứa con riêng, khi anh chết, em làm ơn làm phước chăm sóc giùm, thương yêu nó vì dẫu sao đó cũng là giọt máu của anh…chị vợ tức nghẹn họng nhưng cố bấm bụng nhận lời. Thế mà trời xui đất khiến sao đó, anh lại sống nhăn răng. Thế là mời anh go out ra khỏi nhà tôi ngay, đi theo con đĩ nào thì đi cho khuất mắt!
Gần chết mà khủng khiếp như thế huống gì chết thiệt.
Nhưng nói gì thì nói, chết đau đớn nhất và buồn nhất vẫn là con chết trước mẹ (không ai cõng) và mẹ chết trước con (không ai cho bú).

Sau cái chết, chuyện đáng nói, đáng buồn và đáng sợ nhất, theo tôi là những cái mộ, những cái lăng. Có những ngôi mộ tốn hang chục tỷ đồng, lộng lẫy như một biệt điện, có cả tivi, tủ lạnh xalon cho người chết sử dụng như lúc còn sống. Đến ngày giỗ, ngoài việc đốt cả tỷ đô la âm phủ, còn đốt cả xe hơi, tài xế, con hầu bằng giấy.
Lăng, thì ông vua nào chẳng có lăng. Nhưng qua bao dâu bể hưng phế, chỉ còn lại ở nước ta các lăng  của triều Nguyễn. Lăng của Tự Đức nổi tiếng không phải vì đẹp, mà vì những khổ cực dân và lính phải chịu, đến nỗi làm loạn, còn để lại trên bia miệng với hai câu ca dao. Vạn niên là vạn niên nào/Thành xây xương lính hào đào máu dân!
Lăng Hồ Chí Minh vừa hện đại vừa hùng vĩ, bao quanh bằng đá quý chọn từ mọi miền của đất nước, đẹp đến nỗi được gọi là bài thơ bằng đá!
Với tôi, chết chắc cũng chưa hết chuyện, dù chỉ là một công dân hạng hai chẳng đóng góp chút gì cho quôc gia dân tộc, thì xin đừng xây mộ hoành (bánh) tráng, (nói chơi chứ tiền đâu xây), mà hãy đốt như đốt rác cho khỏi mất vệ sinh, chút tro còn lại thì xin rải trên mồ mẹ, coi như con của mẹ lại nằm trong lòng mẹ, là đủ rồi. Mong lắm thay!

KHUẤT ĐẨU

Monday, August 10, 2020

TIN XANH

Hoàng Xuân Sơn


những chấm đỏ điểm hồng tâm thân cây
báo tử một đời ruỗng mục
mới ngày nào nuôi liếp xanh
nâng hoa
vỗ um mầm trái
bây giờ vân gỗ hong phơi
người ta sẽ đốn cưa những đời cằn
như người
như ta
rồi cũng tới lúc
rã reng niềm vọng
đi bộ nghe mình
thở theo cây
cảm một chút bình yên còn được thở
như cảm buồng phổi cây tới giờ hấp hối
vẫn còn đó tiếng kèn thúc giục trưa hè
kéo áo sang thu
người nhạc công của thiên nhiên thu nhặt mây chiều
ôi chẳng có phần đời nào vĩnh cửu
như cỏ lấp. mòn lối
hóa vàng những nốt chân tình nhân truy lùng hạnh phúc
nốt đau một lằn vết

những chấm đỏ ngước nhìn tin xanh
như môi son ngóng chờ
nụ hôn lập trình mùa đông tử biệt

HOÀNG XUÂN SƠN
{12 gìờ trưa ngày 7 tháng 8
năm 2020
tiếp tục bộ hành}

Sunday, August 9, 2020

VẼ CHÂN DUNG THỜI ĐẠI DỊCH. BÀI I

Trương Vũ

Họa sĩ Trương Vũ
vẽ chân dung Duyên

Tôi bắt đầu chuyện vẽ vời từ những phác họa (sketch) chân dung bằng viết chì. Không nhớ từ lúc nào, cũng không nhớ hết thời tuổi nhỏ đã vẽ những ai, nhưng biết là nhiều lắm. Chắc chắn là có những khuôn mặt nhìn trộm trong lớp, những đứa bạn khá thân bắt ngồi làm mẫu trong giờ ra chơi… Cho đến khi rời quê hương, sự nghiệp hội họa của tôi chỉ có thế, chỉ là những nét bút chì nguệch ngoạc, nhưng hầu hết, chỉ vẽ từ người thật, không từ ảnh chụp. Cái thích vẽ từ người thật đó chắc phải dính líu đến cái mê nắm bắt một sự sống nào trong mỗi con người, dù lúc đó tôi chưa hình dung ra được đó là cái gì. Thời còn ở trung học, khi tỏ ý định theo đuổi con đường nghệ thuật, ba tôi quyết liệt phản đối. Tôi nghe lời ba tôi, bỏ hẳn ý định đó. Tôi tiếp tục học Toán, rồi dạy Toán. Toán học đã giúp tôi tồn tại, trên quê hương hay ngoài quê hương. Nhưng, vẫn mê vẽ.

Ở Mỹ, tuy không còn ý định làm họa sĩ, và tuy có vất vả với công việc, với gia đình, tôi vẫn không bỏ cái ham thích vẽ chân dung. Vẽ một người bạn, một đồng nghiệp, một người thân… Không được vào trường Mỹ Thuật, tôi lấy rải rác nhiều lớp vẽ ở đại học, ở các workshop, và học từ sách vở… Đặc biệt, về chân dung, tôi học nhiều từ nhà danh họa Daniel Greene, khi vào một số dịp nghỉ hằng năm tôi theo học các lớp vẽ chân dung của ông ở New York. Từ các lớp học đó, tôi làm quen với pastel và sau cùng là sơn dầu, rồi acrylic. Vẽ nhiều bằng sơn dầu, và ngoài chân dung tôi lần bước sang nhiều lãnh vực khác nhau. Càng đi về cuối đời, hội họa càng trở nên quan trọng trong đời sống cá nhân.

Nói về chuyện vẽ chân dung bạn bè, tôi không quên được một buổi tối, trong một apartment ba phòng ngủ dành cho hơn mười người, ở Lee’s Garden,Virginia. Apartment này do anh Đặng Đình Khiết thuê, dùng làm chỗ trú ngụ cho bạn bè đang trong tình trạng tỵ nạn. Hôm đó, khoảng ba giờ sáng, tôi dựng ĐĐK dậy, bắt ngồi cho tôi vẽ chân dung bằng pastel. Gần hai tiếng đồng hồ mới xong. Khó có bạn bè nào chìu cái đam mê của tôi bằng ĐĐK.

Như đã nói ở trên, sau này, tôi vẽ nhiều loại khác nhau, với nhiều đam mê khác nhau, nhưng vẽ chân dung theo truyền thần luôn đem lại cho tôi một niềm vui khó tả và một vật lộn nhọc nhằn cũng rất khó tả. Một sự thật ngày càng lộ rõ là tôi không thể thiếu nó. Nó mang đến cho tôi một thách thức đi tìm từ ruột gan của người mẫu một nét đẹp nào, một niềm vui, hay một nổi khổ để đưa lên nét mặt trong tranh. Khi đi tìm sự sống thật sự của mỗi con người đang ngồi trước mặt, cố hình dung ra bằng cách nào để vẽ cho được, cho đẹp, tôi tìm thấy cái sống của chính mình. Dĩ nhiên, không phải bức chân dung nào cũng làm tôi hài lòng hay khiến người mẫu thích. Nhưng, nhờ đó, vào giai đoạn cuối đời, tôi thấy đời sống còn có lửa. Nhờ đó, tôi thấy cái năm tháng còn lại không đến nổi ngắn. Cho đến khi… Cô Vy đến.

Mấy tháng sống cách ly do đại dịch, những thói quen cũ khó giữ. Cũng có vẽ nhưng không
nhiều và không thể vẽ truyền thần. Chẳng có ma nào đến ngồi cho mình vẽ. Bà xã không được khỏe nên không chịu ngồi làm mẫu như mười năm trước đây. Nghĩ rằng họa sĩ nào cũng có chân dung tự họa, định làm thử. Nhưng, khi nhìn mình trong gương, thấy nản quá, không sao vẽ được. Quả thật, có xuống tinh thần. Sức khỏe, do đó cũng xuống. Nhưng, không lý chịu thua Cô Vy. Không lý để Cô Vy cắt ngắn số năm tháng cuối cùng của mình.

Vài hôm trước đây, chợt nhớ, nhiều bạn họa sĩ của tôi, Đinh Cường chẵng hạn, đã phác họa rất nhiều chân dung không từ truyền thần. Tôi không có cái khả năng đó của Đinh Cường. Nhưng, tôi cũng nợ một số bạn bè lời hứa vẽ chân dung từ truyền thần theo truyền thống. Phải giữ lời hứa bằng một cách nào đó. Và, hãy thử nghiệm, bắt đầu bằng pastel, với bạn bè tôi đã hứa vẽ, đã có dịp quan sát, đã từ một cách nào đó ghi nét mặt họ vào trong trí nhớ, và có hình chụp của họ. Tôi quyết định phác họa nên những vignette trong điều kiện như vậy. Trong lãnh vực chân dung, bức vignette đẹp vẫn được đánh giá cao như bức tranh hoàn chỉnh theo truyền thống. Hãy thử nghiệm!
“Nạn nhân” đầu tiên của tôi là nhà thơ Phạm Cao Hoàng.

TRƯƠNG VŨ
Maryland, 8 August 2020

Phác Họa Chân Dung Phạm Cao Hoàng
Pastel trên giấy Canson, 19.75" x 25.50", thực hiện tháng 8, 2020.

Saturday, August 8, 2020

ĐỌC ‘TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN’ CỦA TRƯƠNG VĂN DÂN

Trần Kim Đức

Sách của Trương Văn Dân

Nhà văn Trương văn Dân, “Người Việt bay về tâm dịch Ý” trong mùa đại dịch, là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản “TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN”. Bạn sẽ nhận ra “Nhân loại và tự nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt”* khi đọc cuốn sách này.

Nói như nhà văn Kiệt Tấn “Trò chuyện với thiên thần” hay là “một bản cáo trạng chống lại thế giới mà chúng ta đang sống”, sách gồm 75 câu chuyện mà ba mẹ tâm tình với đứa con sắp ra đời về nỗi lo lắng, bất an, khủng hoảng của con người trên thế giới; về nỗi đau kinh hoàng và khát vọng sống của toàn nhân loại cũng bởi do “cái tôi cá nhân” quá lớn. Và một lá thư của người con gởi cho mẹ sau khi “bay lên thiên đường” và đang sống ở “một cõi giới kỳ diệu lung linh”…

Đặc biệt khi đọc cuốn sách này, người đọc sẽ nhận ra nỗi lo lắng của mình ngay trong lúc đọc, như là đang đối diện với chính mình, để từ đó mình chợt nhận ra rằng “ Không có điều gì phải lo lắng cả, nếu có việc gì đó cần làm – Hãy làm đi. Còn nếu chưa làm được, thì lo lắng mấy cũng không giúp được gì” (Đức Đạt Lai Lạt Ma).

Với tôi, “Trò chuyện với thiên thần” phảng phất triết học Phương Đông: Thiên-Địa-Nhân hợp nhất và Thuyết Duyên khởi của Triết lý Phật giáo “Cái này có nên cái kia có/ Cái này sanh nên cái kia sanh/ Cái này diệt nên cái kia diệt…”.

“… Tạo hóa đã cài đặt trật tự trong thiên nhiên đâu vào đó; mỗi sinh vật đều có Mã số DNA khác biệt để phân loại NHIỆM VỤ của mình, ấn định sinh vật nào tương sinh với giống nào và tương khắc với giống nào để giữ quân bình trong thiên nhiên. Ví dụ như Cá Voi có chức năng làm điều hòa khí hậu, khi hiện diện ở đâu sẽ điều hòa khu vực đó. Hay loài Dơi hàng đêm phải lùng diệt ruồi muỗi, DNA của nó ấn định nó phải làm giảm số lượng muỗi mòng…
DNA chính là GỐC, là vòng tròn sinh tử của vạn vật. Trái đất đã tốn hàng trăm triệu năm mới hoàn hảo Mã số của sinh vật để duy trì sự sống tốt đẹp cho trái đất. Vậy mà nhiều Công ty dùng công nghệ sinh học để cắt xén cái vòng hoàn hảo này và ráp nối lung tung với nhau, để tạo nên những sản phẩm biến đổi Gen, chắc chắn sẽ tạo nên một sự hỗn loạn dây chuyền khủng khiếp.
Hiện tượng thời tiết kỳ lạ đang xảy ra ở khắp nơi, Chim, Cá, Dơi, Ong Mật… chết hàng loạt, cảnh báo là cái vòng tương trợ của thực vật và động vật đã bị vỡ, không thể duy trì quân bình trong thiên nhiên nên lòng đất và biển sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo sự xáo trộn toàn diện khí hậu toàn cầu.

Rồi đây trái đất sẽ phải đón nhận một sự đào thải tập thể bắt đầu từ thú vật rồi sẽ đến con người…” (Trích một đoạn trong bản thảo “TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN” của nhà văn Trương văn Dân viết năm 2014, tác phẩm vừa được xuất bản 6-2020)

“Trò chuyện với thiên thần” gồm 370 trang, không phải là cuốn tiểu thuyết ngôn tình với những câu chuyện tình diễm lệ mà đó là “một bản cáo trạng chống lại thế giới mà chúng ta đang sống” (Kiệt Tấn).

Bạn không cần mất nhiều thời gian để đọc “Trò chuyện với thiên thần” đâu, chỉ là mỗi buổi sáng ngày hè, bên tách café, bạn chỉ cần đọc một hay hai phân đoạn nhỏ, rồi gấp cuốn sách lại, ngước nhìn lên bầu trời trong xanh hoặc nhìn phố xá với đông người qua lại… để chiêm nghiệm về một thế giới mà chúng ta đang sống.

Hoặc là những ngày mưa với tách trà nóng bên khung cửa sổ, đọc một lời tâm sự của cha nói với con về “những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam”… có thể gấp cuốn sách lại, bạn với nhiều cảm xúc đan xen: lo lắng, bất an, khủng hoảng… bởi ở đó bạn sẽ nhận ra “Nhân loại và tự nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt”. Nhưng không sao, bạn hãy nhắm mắt lại và lắng lòng suy gẫm…, bạn sẽ nhận ra nguyên nhân của mọi khủng hoảng: đạo đức, niềm tin, môi trường, tài chính… là do lòng tham dục của con người.

Vậy đó, với lối viết độc thoại nội tâm của nhà văn Trương văn Dân, “Trò chuyện với thiên thần” không định hướng, không giáo điều. Đây là thế giới nội tâm mà ông muốn được chia sẻ tới bạn đọc những gì mà ông đã nhìn sâu và nhìn thẳng vào sự thật của cuộc sống “ Bằng cái kiêu ngạo và thiển cận, con người đang dùng một chút hiểu biết về khoa học của mình để đi ngược lại trật tự thiên nhiên” (TCVTT) và “Rồi đây trái đất sẽ phải đón nhận một sự đào thải tập thể bắt đầu từ thú vật rồi sẽ đến con người…” (TCVTT). Suy nghĩ của nhà văn Trương văn Dân cũng phù hợp với triết học Phật giáo “Phật giáo đã đưa ra cái được gọi là “Trung Đạo”: một hiện tượng không phải là không tồn tại, nhưng nó không tồn tại độc lập, điều này cho phép nó tương tác và hoạt động theo luật nhân quả” (Trích trong “Sự đầy của cái Không” của Trịnh Xuân Thuận).

Phải chăng thông điệp ông muốn gởi đến bạn đọc là con người cần phải sống có trách nhiệm và tình người hơn “ngày nào nhân loại chưa giác ngộ, trút bỏ được tham vọng mê lầm thì ngày đó thân phận con người còn bi đát, xã hội còn bất công, lịch sử vẫn còn lạc hướng” (TCVTT)

Thời đại dịch lan rộng, nhịp sống chậm lại, thì “Đây là một quyển sách để chúng ta dừng lại và suy nghĩ” (Nhà văn Elena Pucillo Trương).

TRẦN KIM ĐỨC


Friday, August 7, 2020

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH. GIÀ, RỒI SAO NỮA?

Khuất Đẩu

Liêu xiêu trong chiều

Già rồi chết, chứ trăng với sao gì nữa!

Ừ, thì chết, nhưng chết ra làm sao, chết rồi đi về đâu?
Cái chuyện này chưa biết à nghen, chưa chết sao biết được, với lại ai mà không sợ chết, nói tới cái bộ xương có cánh tay cầm lưỡi hái, sợ lắm!
Sáng trưa chiều tối, lúc này thấy nó cứ lẽo đẽo đi theo như hình với bóng, cái hơi lạnh của nó tỏa ra mù mịt còn hơn cảnh sát dã chiến thả hơi cay nữa kìa, nhưng mà trước sau gì chẳng chết, thôi thì thử nói một lần này rồi sẽ tịt luôn.

Chết là hết thở, không học trường y ai cũng biết. Chết dể ợt, nhắm mắt xuôi tay thế là xong.
Nhưng cũng chưa xong, còn phải dọn dẹp cái thân tứ đại kia nữa chứ.
Nghe nói, ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn, có một sắc dân, chết không chịu chôn mà lại khiêng lên núi để nuôi lũ chim kền kền.  Cả ngàn con chim trời sinh ra chỉ để ăn xác thối làm sạch môi trường cứ bay lượn trên cao hóng mỏ ra chờ, đợi lũ người sống kia gào khóc chán chê, bỏ ra về, chỉ loáng một cái, chúng phủ thành một đống đen kịt, rồi chỉ trong chớp mắt là lóc sạch cả thịt da phèo phổi, chỉ để lại bộ xương trắng hếu, thêm lưỡi hái và đôi cánh nữa là thành thần…chết.
Một bước thành thần, cũng hay!
Nhưng một vài bộ lạc ở châu Phi còn hay hơn. Những lão già cúp bình thiếc như tui, con cháu không nuôi nổi nữa, thế là cụ được mời leo lên cây, rồi cả bọn cùng nhảy múa loạn xạ, chọc quê hả mồm nhíu mũi, làm đủ cách kể cả cầm gậy thọc đít, miễn sao cho cụ rơi xuống, thì lạy chúa tôi, coi cụ như con nai con hoẵng vừa săn được, cả nhà hay cả xóm được no nê (và ngon miệng) một bữa!
Trường hợp nhảy múa hoài mà cụ không rớt xuống thì lại được đem về nuôi, nhưng hiếm khi lắm, gần như không có bao giờ.
Thực là nhanh gọn và tiện lợi. Người chết không để đức mà để thịt cho con cháu, phụ tử tình thâm của xứ đói là như vậy. Đừng chê cười họ man di mọi rợ. Cái nước Tàu có đến những 5000 năm văn minh kia, trong thời kỳ đại nhảy vọt, nhà này đổi con cho nhà kia, để ăn cho đỡ chết đói. Văn minh ở chỗ họ không nỡ hay không dám ăn thịt con mình mà thôi. Còn ăn kiểu gì thì khỏi phải nói, không ai chế biến thức ăn ngon bằng người Tàu, nhất là món thịt người rất quý hiếm.
Ở nước Nhựt, xứ sở ưa harakiri, trong những làng quê nghèo, người già phải biết chọn cách chết sớm nhất để bớt một miệng ăn cho con cháu. Truyện được một nhà văn Nhựt kể lại cảnh anh con trai cõng mẹ lên núi để mẹ nằm chờ chết. Bà cụ rất can đảm, bảo anh con trai đừng quay đầu nhìn lại để mẹ được chết trong lúc tuyết đang rơi là hạnh phúc. Trong khi một lão cùng làng sợ quá tìm cách xuống núi trong sự khinh ghét của mọi người,
Ở nước ta, chỉ có Lục Vân Tiên cõng mẹ, hết chạy ra đến chạy vô, chạy hoài hụt hơi cũng dám chết lắm đó, nhưng nếu thế thì cũng đáng mặt là trai thời trung hiếu làm đầu! Ở Tàu (lại Tàu!), Quách Cự chôn con để cha mẹ sống cũng được vinh danh trong nhị thập tứ hiếu (tội giết người mà được khen, đúng là luật của Tàu)!.
Còn nhiều cách chết lắm! Chết trong đồn công an bằng sợi dây thun nè, (sợi dây thun mà sao siết được cổ tới chết nhỉ, chắc là chết vì nuốt dây thun kiểu như gà)/ Rồi chết có thưởng của Hồi giáo cực đoan nữa nè! Quấn thuốc nổ quanh người, rồi đến chỗ có đông bọn tư bản rẫy chết kích nổ, sau khi tan xác pháo chẳng những được lên thiên đàng mà còn được thưởng đến những bốn mươi cô con gái Ả rập mắt đen và to, đẹp không chịu được lại còn trinh, thế thì ai mà không ham chết kể cả Tây mũi lỏ!

Còn chết rồi đi về đâu, thì mấy ai mà biết được. Sống gửi thác về, ông bà tôi thường nói chết là về quê kiểng, kiểu như đi xa về thăm nhà, hay Việt kiều yêu nước về thăm quê hương. Cái khúc ruột ngàn dặm đó (dài đến nỗi có thể quấn quanh trái đất mấy chục vòng), giờ không nên hát bài nối vòng tay lớn nữa mà là hát bài “nối khúc ruột dài”, mới hợp lòng dân ý đảng, lâu nay nó đóng cục đóng hòn (như táo bón) vì nhớ nhung, giờ nở bung ra sướng khỏi chê.
Các nhà văn và thơ hậu hiện đại thì bảo là đi về thế giới người hiền, ý chê cái thế giớt này ô trọc và hung dữ quá.
Thực ra, nói thế cũng chỉ là cách nói để bớt sợ khi nghĩ tới cái chết mà thôi. Phật và Chúa còn khôn hơn nữa, các ngài vừa dụ khị vừa đe nẹt. Đứa nào nghe theo lời ta làm điều thiện thì được lên Thiên đàng, đứa nào không chịu nghe, làm điều ác thì phải xuống địa ngục. Thiên đàng, hay cõi trời Đâu Suất, không làm cũng có ăn, còn địa ngục chẳng những phải ăn dòi mà còn bị cưa xẻ, bị lửa thiêu cháy nhưng không chết (sao lọa vậy cà?).
Nói là vậy chứ có ai ở thiên đàng hay địa ngục trở về đâu mà biết rằng láo hay thiệt. Thôi thì nói như Bùi Giáng. Rằng “ngày sẽ hết, tôi sẽ đi dù chưa biết đi đâu”.
Ở cõi trần, ông đã Sài Gòn Chợ Lớn đôi nơi/ đi lên đi xuống đã đời du côn*. Thì chết rồi ông vẫn tiếp tục đi, dù hình hài không nhứt thiết phải là một ông già khùng vác cây đu đủ đeo đủ thứ lon múa nhảy ở cầu chữ Y hay cầu NhịThiên đường. Có thể là một hạt bụi âm thầm nhớ đất quê, cũng có thể là chút ánh sáng lập lòe trên lưng con đom đóm. Đi đâu thì cũng chỉ trên trái đất này mà thôi, nơi có gái mọi, có chuồn chuồn bươm bướm và những em dê trắng dê vàng.
Bởi sao? Bởi vì ông không thành thần, không thèm gặp cụ Mác cụ Lê, không thèm 40 cô gái trinh, mà chỉ thèm đã đời du côn thôi. Ông chắc chắn sẽ đi vào văn học và ở mãi trong đó chứ không chịu ra. Có điều, ông luôn mang theo cây gậy (du côn mà), các “nhà phê bình” mác xít đứng trên lạp xường giai cấp hay phê bình dóc tổ và láo xược, coi chừng ông phang cho một gậy u đầu!

KHUẤT ĐẨU

*chớ nhầm chữ đi này với chử đi khách của các em mà mang họa vào thân!
*Phụ chú chữ già
- già dê, già dịch: già mà cứ láng cháng bên gái trẻ.
- già gân: chỉ cụ Trần văn Hương, cựu thủ tướng VNCH, đi làm bằng xe đạp. Nổi tiếng với câu
thơ: Ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn.
- già mồm, già họng: cải bướng, sai vẫn cứ cãi.
   Gái đĩ già mồm
- già khú, già khú đế: quá già
- già si cốc đế, già cúp bình thiết, già hết thuốc chữa, già quá cỡ thợ mộc: đồng nghĩa quá già.
-già mà ham: như già dê, già mắc dịch
-già không chịu chết: rủa sả mấy cs già
-già sao cho sướng: tên tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc
-già rụng răng, già hết răng: tả chân
-già teo chim: tả thực


Thursday, August 6, 2020

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: VIỆT NAM TRONG CẤU TRÚC AN NINH ĐANG TIẾN TRIỂN Ở KHU VỰC

Văn Học Press

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978
email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press

PR 08/03/2020

SÁCH MỚI
Trân trọng giới thiệu:


Vietnam and The Evolving
Regional Security Structure
Việt Nam Trong Cấu Trúc An Ninh
Đang Tiến Triển Ở Khu Vực
Political essays by
Prof. Nguyễn Mạnh Hùng
Tiểu luận chính trị của
Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng

A Bilingual Book, English-Vietnamese
Sách song ngữ Anh-Việt
Cover Design / Thiết kế bìa @ Đinh Trường Chinh
Published by / Xuất bản @ Tự Lực, 8/2020
Price / Ấn phí: $20.00

Available for Purchase on-line / Mua sách trực tuyến trên:

BARNES & NOBLE



A collection of essays on the development of Vietnam-United States relations; Vietnamese thought on Chinese international relations theory and practice; and Vietnam's role in the United States-China-Vietnam strategic triangle. The author is Professor Emeritus of Political Science and International Relations who taught American Foreign Policy and Asian Politics at George Mason University.

Một tiểu luận về các tiến triển trong quan hệ Việt-Mỹ, tư duy Việt Nam về lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế của Trung Quốc, và thế tam giác chiến lược Mỹ-Hoa-Việt. Tác giả là Giáo sư Huân công về Chính trị và Quan hệ Quốc tế, chuyên giảng dạy môn Chính Sách Đối Ngoại của Hoa Kỳ và Chính Trị Á Châu tại trường Đại học George Mason.