Friday, March 15, 2019

‘ÁNH TRĂNG’ CỦA NGUYỄN XUÂN THIỆP. BÀI THƠ NHƯ BÚT KÝ ĐỜI NGƯỜI


Trần Doãn Nho

Từ trái, hàng đứng: HĐNam, ĐYThảo, Thu Thuyền & Nam;
hàng ngồi: Nguyễn Xuân Thiệp, TDNho, Thận Nhiên.
(Hình: Trần Doãn Nho)

Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp trên Văn Học từ những năm 1994, 1995, nhưng đến Tháng Tám, 1998, tôi mới được gặp anh trong buổi ra mắt tập thơ “Tôi Cùng Gió Mùa” ở một nơi không có vẻ gì là ra mắt sách: nhà Nguyễn Mộng Giác.

Trong ngôi nhà không mấy rộng của ông chủ bút Văn Học, có cả năm, sáu chục người, bạn văn và thân hữu, kẻ đứng, người ngồi, ai không có chỗ thì đứng hay ngồi ở ngoài vườn ngó vô, lắng nghe chị Nguyễn Xuân Thiệp đọc thơ chồng mình. Nghe nói chị thuộc thơ anh nhiều hơn cả chính anh.

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu thập niên 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới. Phảng phất không khí cổ điển, nhưng không cũ. Ngôn ngữ nhẹ nhàng, nhưng chứa chan suy gẫm.

Thơ anh tràn đầy thiên nhiên, sự vật và hoa cỏ. Nhiều gió, nhiều hoa, nhiều mưa, nhiều chim, nhiều nắng, và nhiều thứ vô cùng quen thuộc của cái thế giới thân quen chung quanh chúng ta, từ vườn, phố, núi, sông cho đến cây đàn, chiếc võng, bức tường, hiên nhà, sỏi đá rồi những sói, vịt trời, quạ, cua, cọp, dế, gà, ngựa…Và tràn trề tấm lòng.

Anh thổi lòng anh vào chung quanh và nhuốm cả chung quanh vào cõi trăn trở riêng mà cũng rất chung của anh: trăn trở tình yêu, trăn trở cuộc nhân sinh, trăn trở thế sự, trăn trở kỷ niệm, và đôi khi, trăn trở đến cả những trăn trở của chính mình.

Nhắc đến thơ Nguyễn Xuân Thiệp, người ta thường đề cập bài “Đêm Đốt Lửa Nghe Sư Đàn,” một trong những bài thơ tù độc đáo nhất trong kho tàng thơ tù sau 1975 hay “Tôi Cùng Gió Mùa,” một bài thơ tràn đầy gió cũng là tựa đề tập thơ.

Riêng tôi, tôi còn thích một bài khác, đa dạng hơn, lại thấm đẫm chất tùy bút, thơ  mà văn: “Ánh Trăng.” Đây là bài dài nhất trong “Tôi Cùng Gió Mùa”: 250 câu, làm theo thể bảy chữ, phân thành sáu đoạn, dài ngắn không đều nhau. Tất nhiên “Ánh Trăng” là nhiều trăng, không những thế, tràn trề trăng, từ đầu đến cuối: trăng lên, trăng treo, trăng soi, trăng đứng, trăng đi, trăng trôi… với nhiều hình ảnh trăng rất lạ: vầng hư tưởng, quả bóng xanh, trăng hư hay trăng bỏ neo và thú vị nhất là… búp trăng.

Trong thơ anh, trăng vừa như người bạn, người tình, người mẹ, người vợ, vừa như kẻ dẫn dường, người chia sẻ, người chăm sóc, an ủi. Bất cứ lúc nào, anh cũng có trăng. Và trăng lúc nào trăng cũng có anh. Có “vầng trăng hư tưởng” xôn xao thời trẻ dại, có vầng trăng “hong khô ngấn lệ,” “vệt trăng tìm lửa ấm” thời chiến chinh, rồi trăng “rời châu thổ,” “vầng trăng đứng cuối đường ray gió,” “vầng trăng đi trong mưa,” “trăng rét căm căm” thời đi tù, và ngày trở về, bắt gặp con trăng “nằm phủ cỏ khô” rồi “vầng trăng ngọc” soi bóng thời gian ngày đoàn tụ. Trăng trong “Ánh Trăng” là trăng đời, trăng người. Nó là dòng đời của một đời người trong cuộc nhiễu nhương: tươi mươi, khúc khuỷu, gập ghềnh, gian lao, hy vọng…

Thuở nhỏ, trăng, “vầng hư tưởng,” nhưng là sức sống, là niềm vui:

“trăng lên. ồ. một vầng hư tưởng
tuổi nhỏ. cười nhô mặt nước xanh
đâu đó. sông lam chừng trở giấc
rào rào muôn lượn sáng xô nhanh
gió như chim ngủ trong tầng lá
phút chốc xôn xao dậy khắp cành”

Vào thời chinh chiến, cũng trăng đó xuống trần hong khô lệ, an ủi, chia sẻ những bất hạnh của những thiếu phụ mất chồng trong cuộc chiến.

“trăng sáng. kìa ai nơi xóm cỏ
hong khô ngấn lệ thời gian chưa
dẫu cho thi sử đau vàng đá
thì cũng qua rồi. theo gió đưa
trăng chiếu. những ai sầu góa bụa
khăn sô. cắn giấu vành môi tươi
Trăng trở thành kẻ cứu chuộc:
những ai trót sẩy đàn tan nghé
hãy đứng trông trăng. sáng lại đời”

Cũng trăng đó không ngại rừng sâu núi thẳm, không ngại hoang lạnh, điêu tàn, lần mò đi tìm thăm  nấm mồ bằng hữu, tưởng niệm những oan hồn đã khuất:

“đêm tạnh. hồn nương bãi sậy dài
lều vắng. vệt trăng tìm lửa ấm
chồn hoang lang thang qua mồ gai
bằng hữu đem thân vùi cát bụi
tiếng tù và. động giấc bi ai”

“Vệt trăng tìm lửa ấm,” chao ơi, hình ảnh trăng đẹp và cảm động đến nao lòng!

Cũng trăng đó, sau cuộc chiến, “rời châu thổ” vì “bão cát xô thế kỷ đổi đời,” và dõi theo bước chân tủi nhục của những kẻ thua cuộc, bị đi đày.

“vầng trăng đứng cuối đường ray. gió
những toa tàu. qua. khuất. lau thưa
thức trong cây. trái tim sầu úa
như trăng. người của thuở không nhà
thức trong cây. trái tim sầu úa
như trăng. người của thuở không nhà
trăng chiếu. thành không. hào lũy sụp
còn nghe sắt thép rền cỏ khâu
tỳ bà. đá dựng. hồn u khốc
uổng ngọn cờ treo ải địa đầu”

“Vầng trăng đứng cuối đường ray. gió” ngóng theo đoàn tàu chở tù. Trăng ở đây là người mẹ, người vợ bất lực và xót xa nhìn người thân của mình đang ở trên chuyến hành trình đi vào vô định.

Cũng nói về chuyến tàu chở tù ra Bắc, ở Tô Thùy Yên, thơ nghe có khác:

“Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau
Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau.”

Hai nhà thơ cùng tâm trạng nhưng bày tỏ hai cảm thức khác nhau. Nguyễn Xuân Thiệp trăn trở, Tô Thùy Yên bi phẫn.

Trong những tháng ngày tù tội, trăng không bỏ cuộc, vẫn “dõi dõi soi” người tù như vầng trăng trong chinh phụ ngâm, tưởng như trăng cũng là/trở thành bạn tù của anh. Chả thế mà trái tim anh luôn luôn đầy trăng. Và trăng luôn luôn ở bên anh: trăng đội mưa, trăng “theo con đường đất đỏ,” trăng “soi đầm nước rộng,” “trăng rét căm căm.” Tóm lại, trăng ở tù.

“ôi. những vầng trăng thời biệt xứ
trôi trong tâm thức. một dòng khuya
ta nghe nước khỏa bờ lau dại
có một vầng trăng đi trong mưa
có một vầng trăng hư mọc muộn
tóc ai còn vướng cánh đồng mua
khi trăng theo con đường đất đỏ
bước cheo leo. khúc khuỷu. ngựa thồ
ta thấy trăng soi đầm nước rộng
mùa thu. mùa thu. im cành trơ
đêm tù. bạn đọc thơ đầu núi
tưởng chim rừng động ánh trăng xưa
gió mùa thổi lộng trên miền bắc
trăng rét căm căm. vệt sáng mờ.”

Dẫu thế, trong cảnh đời tan rã, anh vẫn để lòng mình lắng lại, suy gẫm cuộc nhân sinh. Vì trăng như “một loài chim quý,” không chỉ ở bên ngoài, mà còn “trôi trong tâm thức” và “soi tâm thức”:

“trăng khuya vằng vặc soi tâm thức
đêm tịnh. trời trong. gió lắng sâu
mây từng cụm nhỏ. trôi. trôi khuất
lũ vịt trời. ô. trăm ánh sao
trăng khuya. như một loài chim quý
bay suốt nghìn năm. hót một lần.”

Cũng từ đó, trong cuộc hợp tan, chàng ngộ lẽ thịnh suy, lẽ vô thường.

“dưới mái chùa tây. vang tiếng kệ
vị sư già đã thức. chuông ngân
âm thanh. như một làn hương sữa
chảy xuống hồn ta đã lặng dần
hạt lệ muốn rơi. giờ đọng lại
trăng. nguyệt cầm ơi. ngọc mới đông.”

Rồi cũng có lúc chàng được trở về. Lâu quá, nhưng may, anh vẫn nhận ra chốn cũ, dù không còn như cũ. Và người gặp lại người, “vỡ giấc chiêm bao”:

“trở về. những bảng nhà phai số
cánh cổng đong đưa. gió lọt rào
chợt tiếng người reo bên giếng nước
ai cười. như vỡ giấc chiêm bao.”

Trong nỗi vui đoàn tụ, chàng lại thấy trăng. Không còn “đứng cuối đường rây, gió,” không còn “trăng đi trong mưa” hay “dầm trong mưa,” không còn “trăng đi theo đường đất đỏ,” trăng bây giờ trẻ lại, hồi sinh, biến thành… búp: búp trăng.

“phiến lá ngời vàng óng búp trăng
hương biếc chạm vào trang sách quý
mở ra thôi. ước cũ hàng hàng…
dưới trăng. những mảnh đời han rỉ
sáng lại. ô hoa đã rộ cành.”

Rốt cuộc, trăng như một kẻ hành nhân, ròng rã đi vòng suốt cuộc nhân sinh:

“trăng khuất. nhưng mùa sau lại mọc
loài người ơi. nghe tiếng võng đưa
lên cao. thấy một vầng trăng ngọc
xuống thấp. còn trong giấc ngủ mơ
soi bóng thời gian. hồ nước tịnh
đông phương này. đêm ủ mật hoa.”

Từ đầu chí cuối, dù trong hoàn cảnh nào, niềm vui và nỗi khổ của anh lúc nào cũng dịu nhẹ, không thê thiết, bi phẫn nhưng ngấm sâu. Lại nhuốm mùi đạo sĩ qua những hình ảnh những vầng trăng thời cổ điển: quẫy sóng thiên thu, người cưỡi trâu xanh, tượng nhân sư rống, kẻ sĩ cuồng, màu nam hoa kinh. Rất dễ hiểu: anh đưa những trăn trở cá nhân lên tầm nhân loại. Trăn trở của anh là trăn trở con người. Đau khổ, cách này hay cách khác đều là đau khổ, chẳng phải của riêng ai. Như trăng, nhà thơ đi qua những nẻo đường nhân sinh:

“lòng ta. một ánh trăng trong suốt
trên những nẻo đường nhân loại qua
bên bữa ăn xanh người đạo sĩ
những buồn vui của khắp mọi nhà.”

Nguyễn Xuân Thiệp sinh trưởng ở Huế. Trước 1975, sĩ quan quân đội VNCH, làm việc cho đài phát thanh quân đội. Sau 1975, ở tù cho đến 1982. Năm 1995, định cư ở Hoa Kỳ. Làm thơ đăng báo từ 1954. Ra hải ngoại, cộng tác với các tạp chí Thế Kỷ 21, Văn Học, Hợp Lưu, Văn. Chủ biên tạp chí Phố Văn từ 2000-2008. Hiện ở Dallas, Texas, làm việc cho tuần báo Trẻ.

TRẦN DOÃN NHO
January 12, 2019



Thursday, March 14, 2019

‘MOUNTAINS AND RIVERS ON THE SHOULDER’ *


Hoàng Xuân Sơn
 

mang núi trên vai.  núi đè bẹp
quàng sông lên vai sông nằm mẹp
ở đâu còn có được núi sông
xin xỏ cầu âu gông cùm kẹp

mứng húm.  bọn ta còn được nuôi
dưỡng thêm cật ấm khúc lưng dài
may khỏi đứng đường khua bị gậy
chút đường chút mật gáy cho oai

tội nghiệp thằng dân è cổ trả
nuôi lũ tá ơm rỗi công nghề
thổi ống đu đủ rất là xịn
đội đảng nâng đoàn xoắn tít dê
con vịt con gà con sáo sậu
cối xay ăn quẩn cái chân què
tay cầm hí hửng tay xoè múa
tay nào hả dạ cuộc mân mê

bi không tròn mà đĩa chẳng vuông
bỏ bố làm sao nâng đúng tuồng
lề trái lề phải lề ăn vạ
lạy trời.  xin đội trúng con đuông

HOÀNG XUÂN SƠN
feb. 19

* Hội Nhà Văn chuyển dịch từ “Sông Núi Trên Vai”, chủ đề Ngày Thơ Việt Nam 2019

Tuesday, March 12, 2019

ẠCH ĐỤI TRA LÃO


Hồ Đình Nghiêm

Hoàng Xuân Sơn

Montréal, thành phố tôi định cư, đã có ai đó thày lay phiên dịch, phụ đề Việt ngữ thành Mộng Lệ An. Thoạt nghe xướng tên, cứ ngỡ như đó là nhan truyện dài kỳ tình diễm lệ chan đầy nước mắt của nhà văn nữ Quỳnh Dao ở tận xứ lạ Taiwan. Nhiều đọc giả “khó tính” bảo: Quỳnh Dao là chưởng môn nhân môn phái Sến. Tôi chưa đọc văn bả nên chỉ biết mần thinh. Tôi nhớ có vị nào đó ở trong nước từng có thơ “mưa rơi không cần thông dịch” hoặc một thứ na ná tựa thế. Tôi lại nhớ một câu thoại “Cái gì của César thì nên trả lại cho César”.

Tôi yêu Montréal, nhỏ bé, hiền hoà, dân tình cởi mở, Anh-Pháp đề huề chẳng yes thì oui. Có khu cổ xuý việc trau dồi Pháp ngữ, lại thày lay mần thông ngôn, như sau: Tình xê la mua, tiền xê lạc răng, đời xê la vi. Ui, trẻ lên ba cũng tường những món gay cấn nọ.

Ở khu chăm nói tiếng mẹ đẻ, tôi thân thiết với hai nhà thơ: Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn. Hai nhà văn: Võ Kỳ Điền, Song Thao. Tôi gọi bốn vị bằng anh, vì tôi tri thiên mệnh trong khi họ thuộc dạng cổ lai hy. Họ chẳng thích nuôi râu, chứ nếu thả giàn để râu ria ra rậm rạp thì e “bác Hồ” phải nể mặt tủi hờn đọ không lại kính nhi viễn chi. Quá khứ, Luân Hoán gốc Đà Nẵng (Trung). Hoàng Xuân Sơn gốc Huế (Trung). Võ Kỳ Điền gốc Phú Quốc (Nam). Song Thao gốc Hà Nội (Bắc). Ba phương lưu lạc dặm ngàn đã tìm về chốn đất lành “chim” đậu này. Cớ sao cứ quen miệng đất lành chim đậu? Những giống loài khác muốn xớ rớ, lân la tới thì không đậu được sao? Giả dụ như ve sầu, như gà mái, như bướm vàng?

“Hoàn cảnh” nhà thơ Luân Hoán giống như tôi: Lấy vợ cùng quê, chung phường khóm. Riêng nhà thơ Hoàng Xuân Sơn và nhà văn Song Thao lại có sự khác biệt. Khác mà hoá ra chẳng khác, cái mới hay! Chị Hoàng Xuân Sơn gốc Hà Nội trong khi chị Song Thao là gốc Huế. Nói dễ mất lòng là thế này (cho dễ hiểu): Chị Hoàng Xuân Sơn mà trò chuyên với anh Song Thao thì nghe ra cung bậc lên bổng xuống trầm chuẩn mực hỏi ngã rất ư thanh lịch của Bắc kỳ 9 nút. Và anh Hoàng Xuân Sơn đối đáp cùng với chị Song Thao thì mỗi chữ tự động chêm vào dấu nặng (y như tôi vậy, Huệ mợ Huệ mộng. Có đáng ghét không?) Bực cả mình, chẳng mộng lệ an gì sất. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn từng lên giọng, thay tôi, đả phá cách giả giọng Huế của phường ngoại đạo, những hài kịch rẻ tiền, đầy bôi bác. Bác Sơn ta đó chính là Huế chay!

Tôi quan sát ngầm, ngay thời điểm này có bốn vị làm thơ cực kỳ sung mãn: Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung, Luân Hoán và Hoàng Xuân Sơn. Riêng nhà thơ Huế mềnh thì trải thơ, gửi bài đến hầu hết các diễn đàn văn học trên net. Hơi thơ cá biệt, ý tình đầy ắp. Gần đây, thơ gom chứa chút tự trào, một nụ cười kín đáo, thoạt bắt gặp không khỏi nghe ra lòng xao động. Bỡn cợt nhưng vẫn không bỏ quên chất thơ mộng lay rèm đằng sau con chữ vừa thoát ra. Nếu có ai hỏi tôi câu hóc búa: Thơ là gì? Tôi có ngay câu trả lời: Hãy đọc thơ Hoàng Xuân Sơn. Tôi xin đơn cử một trong muôn vàn bài tôi yêu thích. Bài “Nách”. (Ăn phải món ngon liền ngôn: Ngon nhức nách! Và nách còn có nghĩa là ẵm, bồng, bế, tha: Con nách em đi cho mạ rảnh tay chút nờ!):

một lần. tôi xốc nách tôi
tự mình quên đứng nên ngồi thiệt lâu
nách tôi tới chỗ buồn rầu
trước sau vẫn có một câu chuyện tình
nách tôi ra chốn thình lình
nắng mưa mưa nắng dập dình trăng sao
nách tôi về lại xứ nào
cho tôi đứng dậy cúi chào nguyên tôi.
(11. 2018)



Hay nhức nách! Bài thơ đã “nách” tôi đi một đỗi khá lâu trong bồng bềnh rù quến. Một bài mới hơn, làm xong ngày 27.01. 2019, cũng thể thơ lục bát, bài “Ơn xuân”. Xin trích đoạn:
…
nhờ em
da lão đâm chồi
ơn nuôi nấng
giữa trần ai bít bùng

đời mình có cái chung chung
cái riêng tư của
mịt mùng tai ương
phía trước xông một con đường
sau lưng
ủ mộng bình thường xác xơ

đời quá bộ
như bài thơ
cùng nhau lượm chữ
dăm tờ rối beng
…

Phải đó là lời than van? Không, chỉ một tiếng thở dài, rất nhẹ, dù lượm chữ dăm tờ rối beng có nơi bài thơ muốn đoạn lìa là một việc làm hết sức nặng nề. Một người gánh đá lên non hay con dã tràng chăm xe cát? Công việc nào nhọc sức hơn? Không biết. Không nên đào xới. Thơ là thứ “không cần thông dịch”. Tôi đọc, thấy trong người có biến chuyển, chỉ ngần ấy thôi là đã đủ để cảm ơn người làm ra bài thơ nọ. Dư dục vô ngôn.

Không cứ là lục bát, thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy (bẩy) chữ của anh Huế se duyên cùng chị Bắc (cố đô + thủ đô) cũng mang đủ sự hài hoà giữa da diết hồi ức, van lơn lúc tự hoạ, một trách cứ về lối đi thẳng thớm không dưng bị thế nhân nhộn nhạo ra sức uốn cong, gập ghềnh, đắp mô, xao xác. Hơi hám của thời cuộc tham dự vào, tâm thành thay lời khuyên nhủ lẩn khuất. Và sau hết, lời thơ chuyển tải đã tới đích cuối. Tạm nhặt ra bốn bài, bốn trích đoạn, thay mặt cho bốn, năm, sáu, bẩy:

chớ đứng xớ rớ
tuyết phủ cô hồn
gió luồn tim mạch
ạch đụi bàng môn
…
lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy
ngồi đây quên đấy
còn một dúm tro
miệt mài tra lão
còn chút mày mò
răng cỏ lộn lạo
(trích từ bài “Tháng giá”. 7. 2. 2019)

đừng xôn xao chữ nghĩa
lúc về sáng, nửa đêm
bạn sẽ là con rối
giữa mộng thực triền miên

chữ mù trong tự điển
héo lánh lên thượng nguồn
không còn ai muốn giở
một chương hồng sách thơm
(trích hai khổ đầu trong bài “Tơ chỉ rối”)

Hết bốn, năm, qua tới sáu. Một liếc xéo (nháy mắt) về quê nhà. Bài “Thời vận”:

bọn trẻ còn dám “đi bão”
thì mình đằng vân chút chơi
miễn là đừng mê mẩn gió
phượt hết yên ba một thồi.

Và thơ 7 chữ, trích ra hai đoạn trong bài “Xướng âm”:

âm quá. không cù rủ mặt đường
giữa mùa băng cực níu tai ương
ngón chân tìm một lỗ để thở
cùng tóc râu túa đời tha phương

40 năm xỏ giày mang ủng
không dám. chưa quen cái lạnh tràn
hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang
…
Người đọc có tinh ý nhìn ra trong thơ thượng dẫn một đôi từ cá biệt của Huế? Xớ rớ. Ạch đụi. Tra lão. Mày mò. Bận áo xống… Tôi không cố tình đâu, tôi chỉ lựa nhặt ra những bài khác thể loại, cùng lúc muốn chứng minh về thời tiết mùa đông khắc nghiệt vây lấy thành phố chúng tôi cư ngụ, lời thơ bày rõ một quang cảnh “mộng bất an”.

Khác nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao. Hai người Huế chúng tôi tuy cái viết ra khá là bộn bề nhưng mãi không gặp duyên lành việc in thành sách. Ạch đụi. Rị mọ. Mãi lần khân ngoài sân mà chưa lần vào trong bếp: “không còn ai muốn giở, một chương hồng sách thơm”? Hoàn cảnh! Hoàn cảnh như câu thơ của Bùi Giáng:

Sáng ra bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.

Mình sẵn cháo lòng mà lại thiếu cà phê. Mình mãi mơ mòng về cái bất toàn nọ. Rất mực gay cấn đồng thời cũng ngộ tới sự buông bỏ:

“lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy”.

Mặc dù nhịp độ sáng tác luôn đều tay, giàu có thơ, tuy vậy Hoàng Xuân Sơn chỉ mới in ra 4 đầu sách: Viễn Phố (1988) Huế Buồn Chi (1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (2004), Thơ Quỳnh (2018). Nhà thơ tâm sự: Bây giờ tự dưng mình đi “làm phiền” bằng hữu thì nghĩ cũng không phải. Hình như có lần chính tôi đã nói ra một câu tương tợ như rứa. Cũng áy náy nếu một hôm trở trời nghe người đó lên giọng hát hỏng: “Anh còn nợ em…”. Tôi có thực hiện loạt bài phỏng vấn các anh chị viết văn làm thơ bốn phương, riêng gặp một người đặc biệt, nhà thơ Bắc Phong. Hỏi: Thấy anh làm thơ có thưa đi? Trả lời: Có lẽ về già, tuổi tác gây ảnh hưởng. Hỏi: Sao anh không in một tập thơ? Trả lời: Tại tôi lười. (Nguồn: Trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng).

Nếu Bùi Giáng luôn chịu cảnh ngộ “bao tử mơ mòng” thì chúng ta cũng nên thông hiểu “bá nhân bá bao tử”, bụng người này khác bụng người kia. Tôi đã từng mơ mòng nhưng nay tôi tỉnh ngộ, tôi đắc đạo, buông bỏ. Thôi dẫm chân vào sạn đạo, cầm bình bát đi khất thực. Không phải lười, nhưng đã có tuổi, nhìn lui: Mọi thứ là phù vân.

Cảm ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn:

“hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang”.

Montréal sắp vào xuân nhưng giá buốt vẫn một mực không thay đổi. Vẫn đậy đệm áo xống ba lớp, bốn lớp, năm lớp, sáu lớp, bảy lớp. May thay, thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất luôn còn đó, lung linh gầy nên đốm lửa làm ấm những giấc mộng không thành, xua đuổi mộng bất an.

“Trăm năm một chuyến về thiên cổ
Tuế nguyệt buồn lay chút bụi vàng”.

Thơ ai đó? Hình như của Nguyễn Đức Sơn khi bái biệt, tiễn đưa Quách Thoại? Có thể chuyển sang ca từ một bản nhạc: Buồn vào hồn không tên…

Buồn, tốt nhất xin cứ vô danh. Hãy để nó dễ siêu thoát. Chớ bắt chước “con ma nhà họ Hứa” làm chi cho nặng nghiệp. Hừ, Mộng Lệ An!

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

Monday, March 11, 2019

NHỮNG DÒNG THƠ YÊU THƯƠNG


Phan Tấn Hải

Tranh Chagall. Nguồn:Internet

Ngày Tình Nhân đã trôi qua vài tuần lễ. Ngày Phụ Nữ vừa mới tới hôm kia. Và bây giờ là những dòng thơ trao tặng người.
Nơi đây, xin dịch một số bài thơ tình, để tặng những người đang yêu nhau.

KHI EM TỚI

Khi em tới với tôi, không ngờ
Đã mời gọi tôi
Tới những căn phòng xa xưa
Nơi trí nhớ nằm ẩn.
 
Tặng tôi, như tặng một trẻ nhỏ, căn gác
Nơi chứa đựng những ngày quá ít
Những quả cầu là các nụ hôn trộm
Những đồ chơi là tình yêu vay mượn
Thùng đồ chơi là những chữ bí mật.
 
tôi khóc.

(Dịch từ bài “Khi Em Tới” của Maya Angelou.)


NÀNG KỂ VỀ TÌNH YÊU CỦA NÀNG TRONG KHI NGÁI NGỦ

Nàng kể về tình yêu của nàng trong khi ngái ngủ
Trong những giờ khuya
Với những chữ ngập ngừng thì thầm rất khẽ:
Trong khi Trái Đất lay động trong giấc ngủ mùa đông của nàng
Và mọc lên cỏ và hoa
Bất kể tuyết
Bất kể tuyết đang rơi.

(Dịch từ “She tells her love while half asleep” của Robert Graves.)


NƠI ĐÂY
(tặng A)

Tiếng động nào kia?

Tôi xoay người, vào căn phòng đang lay động

Tiếng động nào tới từ bóng tối đó?
Mê lộ ánh sáng nào nơi đây để chúng ta  vào?
Thế đứng nào chúng ta đang đứng,
Để xoay người và rồi quay lại?
Chúng ta đã nghe những gì?

Đó là hơi thở nơi chúng ta  khi chúng ta lần đầu gặp nhau.

Hãy lắng nghe. Nơi đây.

(Dịch từ “It Is Here” của Harold Pinter.)


MÁY ĐÁNH CHỮ MANG KÝ SỐ #2091

Tôi sẽ ngủ với ý nghĩ về em,
với bóng em hiện ra
từ một ký ức đơn độc, với mùi hương
để lại vài giờ sau khi em chạm vào
tôi.
Tôi sẽ mất chính tôi trong các nếp gấp
của trang phục em, lớp vải
của áo em đã mặc khi em
ngủ gục và dựa vào
vai của tôi. Hãy vẽ tôi
trong lớp sương mù mềm mại của
sự dịu dàng của em, hãy lôi tôi ra
khỏi chính tôi.

(Dịch từ bài  “Typewriter Series #2091” của Tyler Knott Gregson.)
 
***
BÀN CHÂN CỦA EM
 
Khi tôi không thể nhìn vào khuôn mặt em
Tôi nhìn vào bàn chân em.
Hai bàn chân với những xương vòng cung
hai bàn chân nhỏ, vững vàng của em.
Tôi biết rằng chúng nâng đỡ em
và rằng sức nặng ngọt ngào của em
nâng lên trên chúng.
Vòng eo của em và hai bầu ngực của em
hai núm màu tím
nơi đầu ngực em,
các hốc mắt của em
nơi cặp mắt vừa bay xa
cái miệng trái cây của em
những lọn tóc đỏ của em
ngọn tháp nhỏ của tôi.
Nhưng tôi yêu bàn chân em
chỉ vì chúng bước đi
trên mặt đất và trên
ngọn gió và trên các dòng nước
cho tới khi chúng tìm ra tôi.

(Dịch từ bài “Your Feet” của Pablo Neruda.)
PHAN TẤN HẢI
2019