Friday, March 8, 2019

VỀ NHỮNG MÁI CHÙA


Trịnh Y Thư



1.
Trong một tùy bút viết trước 75, nhà văn Võ Phiến có đưa ra nhận xét ngộ nghĩnh, vui vui về chuyện du lịch của đồng bào ta ở miệt Nam bộ. Sau khi đi tham quan vài ngọn núi ở tỉnh Châu Đốc, ông bảo những danh lam thắng cảnh, những chỗ non nước hữu tình, nếu muốn thu hút du khách cho đông đảo thì nên xây dựng nhiều . . . chùa. Nơi có cảnh đẹp mà không có chùa chiền thì cũng sẽ vắng bóng du khách như . . . chùa Bà Đanh thôi. Bằng chứng trước mắt, ông bảo tiếp, là núi Ba Thê và núi Sam. Cảnh sắc thiên nhiên bên núi Ba Thê cũng đẹp đẽ chẳng kém bất cứ nơi nào khác, gần đó lại có gò Óc Eo, một di tích lịch sử và khảo cổ quan trọng của miền đất này, nhưng hình như chẳng có mấy du khách cất công lên núi tham quan. Còn bên núi Sam? Trời! Ông bảo, người đâu mà vô số kể, nhất là vào những ngày rằm, hay lễ Tết. Núi Sam đông người lên thăm bởi nơi đấy có rất nhiều chùa, am, miếu. Liên tiếp san sát nhau trên đường từ chân lên đỉnh núi, cứ cách một quãng lại có một mái chùa hay cái miễu, cái am nho nhỏ nào đó.

Ngót nghét nửa thế kỉ trôi qua từ ngày Võ Phiến viết bài tùy bút. Tôi không rõ bây giờ núi Ba Thê ra sao, núi Sam ra sao, có còn như xưa không, tượng Bà Chúa Xứ vẫn uy nghi, sáng ngời, chung quanh vẫn khói hương nghi ngút, khách thập phương tấp nập ra vào lễ bái? Hay là . . .

Dân Nam bộ tìm núi non có chùa để du ngoạn, hay việc lễ bái mới là chuyện chính, cảnh đẹp xung quanh chỉ là bức phông thiên nhiên làm tăng thêm vẻ tiêu tao, trầm mặc của cảnh chùa? Tôi tự hỏi như thế. Nhưng dù sao chăng nữa đây cũng là điểm đáng chú ý cho các nhà kinh doanh có ý định thành lập, mở mang các khu du lịch.

Đi lễ chùa. Hình ảnh mang nhiều nét thơ mộng của thơ ca. Cụ Chu Mạnh Trinh sau khi lên thăm chùa Hương đã cảm khái thốt lên:

Bầu trời, cảnh bụt,
Thú Hương sơn, ao ước bấy lâu nay.

Hay, đi lễ chùa để mơ tưởng đến tâm hồn thơ ngây, ngọt ngào, chan chứa cảm xúc của cô gái thanh xuân, chân theo mẹ đi lễ chùa mà lòng thì không ngớt vương vấn mối tơ tình chớm nở với chàng thư sinh tuấn tú đi gần bên, trong thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Hay, gần gũi với tôi hơn, lên chùa để bắt chước Phạm Thiên Thư tìm một Vết Chim Bay:

Ngày xưa anh đón em,
Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó,
Còn để dấu chân in . . .

Thơ mộng quá! “Phạm Thiên Thư” quá! Đi lễ chùa kiểu này, tôi có thể đi mỗi ngày.


2.
Sự thật là tôi ít khi đi chùa. Thuở tôi còn bé, nhà tôi ở Đà Lạt. Vào những ngày rằm mẹ tôi hay dẫn tôi lên chùa Linh Sơn lễ Phật. Bà dạy tôi cách quỳ lạy, chắp tay khấn vái. Vào đến chính điện, tìm được chỗ trống, bà bảo tôi, “Con quỳ xuống đây rồi chắp tay lạy Phật, xin Phật phù hộ độ trì cho gia đình mình tai qua nạn khỏi, chị em học hành thông minh tấn tới, bố mẹ buôn may bán đắt, con nhé.” Tôi làm theo lời bà, nét mặt đầy vẻ thành tâm, kính cẩn, lạy lấy lạy để. Nhưng chỉ được năm phút, đợi lúc bà bận xì xụp vái lạy, không để ý, tôi chạy tọt ra ngoài sân tìm lũ trẻ đồng trang lứa rồi cứ thế vừa chạy vừa la hét gọi nhau ầm ĩ giữa những cội thông già cao vút quanh chùa. Chạy chơi chán, chúng tôi đi bắt chim, lẻn vào am sau ăn cắp xôi oản trên bàn thờ. Hơn một lần tôi bị sư cô bắt quả tang, bị nhéo tai đau điếng. Đấy là những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ tôi.

Sau này khi lớn khôn, nhớ lại những câu khấn mẹ tôi dạy trong chùa, tôi không khỏi bất giác mỉm cười. Giáo pháp đạo Phật, có lẽ tầm hiểu biết của tôi thuộc hạng tiền sơ cấp, nhưng đại khái tôi cũng biết những gì mẹ tôi dạy tôi khấn vái trong chùa đều đi ngược lại với giáo pháp ấy. Phật bảo đời là bể khổ, là sinh lão bệnh tử, thì mẹ tôi xin Phật cho “tai qua nạn khỏi”; Phật bảo muốn lên Niết Bàn, hãy diệt dục thì mẹ tôi xin Phật cho “làm nhiều tiền” và ngày Tết xin xăm thì van vái Phật Bà Quan Âm, xin Phật Bà cho “tài lộc dồi dào, tiền vào như nước.” Vân vân và vân vân.

Nhưng tại sao tôi lại mỉm cười mỗi khi nhớ đến những kỉ niệm ấy? Tôi mỉm cười bởi tôi thấy nó dễ thương hết sức và càng nghĩ tôi càng thấy thương mẹ tôi hơn.

3.
Trước khi biết đến đạo Phật, người Việt – hay đúng hơn, người Lạc – cổ thời có lẽ đã có ít nhiều khái niệm về tín ngưỡng.

Theo những phát hiện và nhận định mới trong ngành Khảo cổ học Việt Nam thì con người đã có mặt rải rác khắp các miền Hòa Bình, Lạng Sơn, Phú Thọ, Nghệ An, Thanh Hoá . . . từ thời Đá Mới, tức là cách nay hai, ba chục nghìn năm. Trong khi đó học giả Nguyễn Khắc Ngữ trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt Nam thì bảo dân tộc Việt Nam là từ giống dân Melanesia ở Nam Thái Bình Dương mà ra. Dân Melanesia là một trong những nhóm người ngành Khảo cổ có cái tên gọi chung là “tộc Lapita.” (Giống dân Polynesian là đa số, hiện sinh sống tại phần nhiều các đảo biển Thái Bình Dương, kể cả quần đảo Hawaii.) Họ cực kì tài giỏi trong nghề đi biển. Từ nhiều nghìn năm trước, họ đã chinh phục toàn vùng nam Thái Bình Dương, một hải vực mênh mông dài rộng cả triệu dặm vuông. Thậm chí họ còn sang tìm đất tận đảo Easter gần Nam Mỹ châu, và gần đây có giả thuyết họ đã đặt chân đến châu Mỹ La-tinh bằng thuyền trước Columbus nhiều nghìn năm. Với tài đi biển như thế, chẳng có gì ngăn cản một buổi sáng đẹp trời họ dong thuyền lừ lừ tiến vào vịnh Hạ Long hay một vùng duyên hải nào đó gần cửa bể sông Hồng rồi đổ bộ lên bờ thám hiểm đất đai, tìm thực phẩm, bởi lúc đó cụm từ “illegal aliens” chưa xuất hiện trong bộ từ vựng của loài người. Và tại nơi đó chắc chắn họ phải đụng đầu với những sắc dân đã có mặt từ trước. Với những cuộc gặp gỡ như thế, ban đầu phải có những vụ vác gậy gộc choảng nhau đến bưu đầu sứt trán. Nhưng đánh nhau mãi đến chán rồi mà vẫn không bên nào diệt hẳn được bên nào, hai bên đành gượng gạo nén giận tạm thời hòa hoãn với nhau để mạnh ai nấy sống. Thế rồi, nhiều thế hệ trôi qua, hận thù cũ dần dà nguôi ngoai phai nhạt, lòng kì thị ghét bỏ nhau cũng bớt đi, thấy kẻ địch cũng có nhiều điều hay ho, hữu ích, có thể cải thiện cuộc sống. “Cái gì? Thằng mọi xâm mình như con thuồng luồng suốt ngày lặn dưới biển bắt cá mà cũng biết đúc trống đồng à!” “Hử! Thằng mán cà răng căng tai đó mà cũng biết làm nỏ bắn nai sao?” Thế rồi, hai bên bèn đề nghị sống chung hòa bình, trao đổi hết văn hóa đá mới đến văn hóa đồng thau. Rồi trai bên này chẩu môi nhìn gái bên kia, gái bên kia liếc tình trai bên nọ, và một hôm ông Lạc Long Quân nào đó của phe đi biển trở thành chồng bà Âu Cơ của phe trên núi. Thế là dân Lạc ra đời. Ở vào cái thời hồng hoang đó, kẻ nào bảo không có ái tình, tôi sẽ cãi đến cùng. Dân Lạc ra đời là kết quả một cuộc tình có thể éo le chẳng kém gì chuyện tình Romeo và Juliet.

Các di chỉ và di cốt khai quật được cho thấy dân Lạc, dân Lapita cũng như các nhóm dân khác ở vùng Đông Á châu, từ thời tiền sử tối cổ đại đã có đời sống tinh thần khá cao. Các nhà Khảo cổ học bảo thế. Họ cũng bảo các dân tộc này có tục thờ cúng tổ tiên. Người chết được chôn cất kĩ lưỡng, xác bó chặt, xương sọ và nhiều khúc xương khác được chăm chút tô điểm bằng một loại phẩm màu đỏ như màu thổ hoàng. Phong tục thờ cúng ông bà, cha mẹ là tín ngưỡng của dân Lạc vào thời ấy, truyền đến tận ngày nay và không có dấu hiệu gì chứng tỏ nó phai mờ trong tâm tư người Việt, dẫu đấy là người li hương sống lang bạt kì hồ tận chân trời góc bể. Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng, một tín ngưỡng sinh tồn, tiêu biểu cho quan niệm phồn thực rất điển hình trong cuộc sống các sắc dân tiền sử. Bởi thờ cúng ông bà là cầu xin vong linh ông bà phù hộ trong cuộc sống bình nhật để con cháu sinh tồn trong những điều kiện ngặt nghèo. (Nghề đi biển, thậm chí ngày nay, vẫn là một trong những lao động nguy hiểm, dễ chết nhất). Tín ngưỡng đó thấm đẫm vào tâm hồn người Việt, nói theo thuật ngữ phân tâm học là “vô thức tập thể”, và mẹ tôi, một cách rất vô tư và thành kính, chắp tay xin Đức Phật cho bà “buôn may bán đắt để có tiền nuôi con.”

Tôi biết Đức Phật từ bi ngồi tĩnh toạ trên tòa sen, miệng khẽ mỉm cười, hiểu bà hơn ai hết.

4.
Người Việt không có óc kì thị tôn giáo. Phật-Lão-Nho, “tam giáo đồng nguyên”, là cụm từ tôi thường nghe. Xin lưu ý từ “nguyên” 源 ở đây có nghĩa là nguồn nước. Hương Hải thiền sư (1631-1718) đời Hậu Lê có câu thơ, “Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể.” Và như thế các cụ ngày xưa đã xem tam giáo đều có chung một bản thể, chung một nguồn cội phát sinh. Các cụ là nhà Nho xuất thế hành đạo theo tôn chỉ đức Khổng Phu Tử, nhưng với tinh thần phóng khoáng các cụ vẫn tôn kính Phật giáo và Lão giáo. Từ thời nhà Lý, quan niệm cả ba tôn giáo đều được tôn trọng như nhau đã phổ cập. Về sau thêm đạo Thiên Chúa vào nữa thành “tứ giáo đồng nguyên” không chừng. Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam người ta có thể chém giết nhau tàn bạo vì tranh giành quyền lực, đất đai, hoặc nhân danh lí tưởng chính trị này nọ, chứ không có thánh chiến nhân danh tôn giáo. Càng nhiều tôn giáo càng tốt đối với người Việt, thêm một đạo thì có thêm một ông Chúa hay ông Bụt cho người dân phụng tự, thờ cúng, khấn khứa, cầu xin. Chẳng có chi phiền hà cả. Cùng nhìn ra Hồ Tây Hà Nội, chùa Trấn Quốc thờ Phật và đền Quan Thánh thờ Lão chỉ cách nhau một thôi đường ngắn mà lúc nào cũng đề huề, hòa hoãn, chẳng hề xảy ra một vụ xích mích lớn nhỏ nào bao giờ, khác hẳn bên Trung Đông hay Ấn Độ, nơi người khác tôn giáo, thậm chí cùng tôn giáo nhưng khác hệ giáo, tìm đủ mọi cách hãm hại nhau, xem kẻ không cùng tôn chỉ, đức tin với mình là tà đạo, cần diệt trừ bằng được. Nhân danh tôn giáo, diệt trừ kẻ khác niềm tin với mình là tính cách bệnh hoạn, vô luân nhất nơi con người.

Tuy vậy, Tam giáo đồng nguyên là chuyện của giới sĩ phu có học, còn đối với tuyệt đại đa số dân chúng trong nước thì ngàn triệu giáo cũng “đồng nguyên” tuốt luốt!

Người phương Tây, như linh mục thừa sai Léopold Cadière (1869-1955), khi mới đặt chân đến đất nước Việt Nam thời cận đại tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo địa phương thường tỏ ra ngạc nhiên về nhu cầu tâm linh của dân Việt, bởi bên cạnh những đỉnh cao vươn lên tới các tôn giáo thượng đẳng vẫn tồn tại những hình thái tín ngưỡng nguyên thủy của các dân tộc sơ khai sống nơi núi rừng hoang dã, và chính phần này mới có trọng lượng thật sự trong đời sống bình nhật của dân gian. Trong mắt họ, tôn giáo người Việt là tôn giáo thờ quỷ thần. Tôn giáo này không có lịch sử, nó xuất hiện từ khi có nòi giống Việt, hiện hữu ở mọi giai tầng xã hội. Niềm tin sâu sắc trong cảm thức dân Việt là thần thánh ma quỷ có mặt khắp nơi. Một hòn đá dị dạng nằm bên vệ đường, một cây cổ thụ vươn mình oằn oài lơ lửng trên triền đồi, một ghềnh nước oàm oạp tiếng sóng vỗ, một bờ vực sâu thẳm mờ mịt khói sương… Tất cả đều có thần linh hiện diện. Thần đá, thần cây, thần sông, thần núi, v.v… Thần thánh người Việt thờ đông vô số, chỗ nào cũng có thần, không biết cơ man nào nói cho xiết, thần từ người mà thành, thần biểu tượng các sức mạnh siêu nhiên, rồi vương thần đủ mọi đẳng cấp, và không thể quên các thần dữ mà ta phải tìm cách khắc phục để ngăn ngừa tai họa. Ngôi nhà khang trang nhất trong bất cứ thôn xã miền quê nào cũng là cái đình, nơi thờ thần Thành Hoàng của làng. Trong lòng người dân, từ vua quan cho đến cùng đinh, ai nấy đều tin tưởng một cách chắc nịch và thành kính những lực lượng siêu nhiên ấy trực tiếp ảnh hưởng, chi phối lên toàn bộ nếp sống thường ngày của mình. Niềm tin ấy được công bố trên bình diện quốc gia khi nhà vua thay mặt toàn dân ba năm một lần bước lên đàn Nam Giao trịnh trọng trước mặt toàn thể bá quan văn võ và các vị bô lão về tụ tập, làm lễ cúng tế long trọng với mọi nghi thức xin Trời Đất ban mưa thuận gió hòa, mùa màng trù phú, đất nước thanh bình. Đó là loại tín ngưỡng mang nặng tính phồn thực, bởi mục đích của sự cúng tế là cầu xin các quyền năng siêu nhiên ban phát ân huệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu thực tế trong cuộc sống.

Có người cho rằng đa số người Việt theo đạo Phật. Điều đó chính xác không? Đạo Phật là một nguồn sống tôn giáo đưa ra một hệ thống giáo pháp uyên áo, thâm sâu nhằm giúp ta tìm kiếm một cuộc sống an lạc thân tâm. Bởi thế, có thể xem đạo Phật như là một triết lí, một nhân sinh quan, một vũ trụ quan. Thế nhưng, ngoại trừ các bậc chân tu, các cư sĩ tắm gội trong giáo pháp, phần nhiều những người tự nhận là Phật tử – trong đó có tôi – lên chùa thắp hương chỉ để van vái cầu xin chư Phật ban cho mình lợi lộc và sự an lành (sau đó còn được ăn cơm chay ngon miệng và nhìn ngắm các bóng hồng bay phất phới trong nắng đẹp sân chùa) chứ có mấy ai thể hiện cái sống và cả cái chết theo đúng những hành vi tôn giáo cảm thụ từ đạo Phật đâu.

5.
Xem ra tín ngưỡng dân Việt là tín ngưỡng cầu xin. Và nơi để người ta đến dâng lễ vật van vái cầu xin điều gì thường không phải mái chùa mà là đền, như đền Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Tây Hồ Hà Nội, hay đền Mẫu Đông Cuông gần thành phố Nam Định. Thốt nhiên tôi nhớ hôm ở Hà Nội, tôi đi chơi lang thang thế nào mà lạc vào phủ Tây Hồ. (Đúng ra tôi bí chỗ đi chơi bèn bảo anh tài xế tắc xi chở tôi đến bất cứ nơi nào có cảnh non nước hữu tình.) Bước xuống xe, tôi bị một dòng người như nước lũ cuốn về phía doi đất nơi đền Mẫu Liễu Hạnh tọa lạc. Không biết người ở đâu ra mà đông thế, toàn những cặp vợ chồng trẻ hoặc trai thanh gái lịch, hai tay bưng mâm hoa quả và nhang đèn, mặt mày nghiêm trang kính cẩn, chen chúc nối đuôi nhau đi từng bước chậm chạp về phía đền. A, hóa ra hôm đó là ngày rằm, họ vào đền cúng xin điều gì đó. Điều gì đó, dù chẳng ai hé môi thổ lộ nửa lời nhưng tôi cũng đoán biết là gì. Cầu đẻ con trai, cầu doanh nghiệp thành công tốt đẹp trong thương trường, cầu ngày mai trúng cá độ, cầu kì thi này thi đỗ, vân vân, nhiều lắm, mỗi người một nỗi niềm mơ ước, mỗi người một nhu cầu khát khao, tất cả trông chờ vào ân huệ của Mẫu, ân sủng của Đất Trời, tất cả như đắm chìm trong niềm thương yêu chân phước. Chắc là được, con xin Mẫu ban cho con… Anh chị cứ thành tâm mà khấn nhé, chỉ cần thành tâm là Mẫu sẽ cho ngay đấy mà.

Thế là, không hẹn mà gặp, tôi chứng kiến ground zero của tín ngưỡng phồn thực dân gian Việt Nam.

Mẫu Liễu Hạnh, dĩ nhiên, là một huyền thoại. Tương truyền Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan một hôm trời đẹp bèn cùng hai người bạn thơ văn thả thuyền ngoạn cảnh Hồ Tây. Đang lênh đênh trên mặt gương hồ thì bỗng đâu xuất hiện một cô gái xinh đẹp. Hai bên đối đáp thơ văn tương đắc lắm. Sau một lúc đàm đạo chuyện văn chương thơ phú, Trạng Bùng ướm hỏi tính danh cô gái, nhưng cô chỉ mỉm cười đọc một bài thơ rồi biến mất. Chẳng biết cụ Trạng về nhà có tương tư cô gái hay không (nếu tôi là cụ thì chắc tôi tương tư đến chết mất thôi), cụ đọc kĩ bài thơ và nhất định bảo cô gái ấy chính là Mẫu Liễu Hạnh. Dân làng nhân thế lập miếu thờ. Người ta bảo tôi đền Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Tây Hồ này linh thiêng lắm, cầu gì được nấy. Thảo nào…

6.
Cầu xin thánh thần là tốt, nhưng tốt nhất vẫn là cầu xin tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Dù sao chăng nữa, ông bà là người trong nhà, họ tộc. Có người cho rằng tôn giáo chính của người Việt không phải Phật giáo mà là đạo ông bà. Nhưng cũng có lập luận cho rằng thờ cúng ông bà, cha mẹ chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện lòng tôn kính của người Việt đối với tổ tiên và các bậc sinh thành đã khuất bóng, không phải tôn giáo. Tôi e lập luận như vậy có phần không ổn. Chẳng lẽ những dân tộc không có truyền thống thờ cúng ông bà, như dân Mỹ, họ đều không biết tôn kính tổ tiên sao? Thật ra, ông bà tổ tiên chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể thần thánh mênh mông, và việc thờ cúng ông bà chỉ là một trong trăm nghìn khía cạnh tôn giáo đa dạng của người Việt.

Người Việt tin rằng con người, ngoài phần thân xác, còn có hồn và vía. Tất cả xác hồn vía là những nguyên lí làm nên sự sống. Hồn thì có sinh hồn, giác hồn và thần hồn. Vía thì đàn ông có bảy, đàn bà chín. (Ba hồn bảy vía.) Họ tin là sau khi chết, hồn vía người chết không hề tan biến mà tồn tại muôn đời sau. Căn cứ vào những nghi lễ tống táng người chết, phần hồn vía ấy được thầy cúng làm phép cho nhập vào bài vị để con cháu đem về đặt lên bàn thờ. Từ đó trở đi, vong linh người chết vẫn chung sống trà trộn trong thế giới người sống, vẫn tác động và ảnh hưởng lên sinh hoạt con cháu trong gia đình. Hồn người chết sau khi thoát ra khỏi thân xác vẫn có những nhu cầu y như lúc còn kết hợp với thân xác hồi còn sống. Thờ cúng ông bà tức là vẫn làm tròn đạo hiếu làm con: phụng dưỡng, săn sóc, chăm lo, tức là phải cung cấp đồ dùng, tiền bạc cho ông bà tiêu xài ở thế giới bên kia. Thế là mỗi năm có 5 ngàn tỉ VND vàng mã được đem ra đốt – theo thống kê mới nhất năm 2019 – để ông bà không bị đói rét. Trong mắt người duy vật thì 5 ngàn tỉ đồng này là sự phí phạm cực kì phi lí, nhưng cái-gọi-là “mê tín dị đoan” đó đã ăn sâu trong vô thức tập thể người Việt từ nhiều nghìn năm, tôi không tin người duy vật có thể dẹp bỏ niềm tin ấy trong một sớm một chiều. (Sự thật là nền móng của việc thờ cúng ông bà thường bị ngập chìm trong những ý tưởng mê tín dị đoan.)

Người chết vì có hồn vía nên chẳng những không tan biến mà còn sở hữu một năng lực siêu nhiên, y như thánh thần. Ngày giỗ, ngày Tết, người ta bày lên bàn thờ những món ngon vật lạ mời ông bà xơi và gia đình xì xụp quỳ lạy, khấn khứa cầu xin ông bà ban ân phước, chẳng khác gì lúc lên chùa, vào đền, thắp hương thờ cúng. Sự trường tồn của tổ tiên, sự hiện diện của ông bà ngay giữa gia đình không phải là một món hàng thời trang, một cách nói thi vị, mà là một thực tại sâu xa, ai ai cũng thừa nhận.

Ngày nay sự tôn kính, sùng bái thần vật giảm thiểu nhiều lắm nhất là ở dân đô thị. Trong lúc lái chiếc ô tô đời mới bóng loáng hay phóng chiếc xe máy nhiều phân khối qua cầu Cần Thơ, chẳng mấy ai lẩm nhẩm khấn thầm trong đầu xin “Hà Bá đừng kéo chưn tui xuống sông nhe,” nhưng về nhà thì hầu như ai cũng kính cẩn thắp ba nén nhang trên bàn thờ tổ tiên, thành kính vái lạy.

Tôi thấy hành vi đó quả là đẹp và nhân bản xiết bao.

TRỊNH Y THƯ
2019

Phần đầu bài viết xuất hiện trong tập tạp bút Chỉ là đồ chơi, xb 2012. Phần sau viết nhân đám giỗ năm thứ ba họa sĩ Đinh Cường tại tư gia họa sĩ Nguyễn Đình Thuần hôm 7/1/2019.
Cảm ơn giáo sư Trần Huy Bích đã giải thích thêm về cụm từ “Tam giáo đồng nguyên.”
Hình ảnh trong bài viết do tác giả chụp.

Thursday, March 7, 2019

MÙA XUÂN ĐẾN


Nguyễn Thị Khánh Minh

Hoa đào

1.
Ban mai đến
Ngày đưa tôi đến
Lời hôm qua mối đùn
Lời hôm qua xanh cỏ
Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm
Cơn mưa bất ngờ xóa sạch những vết chân
Không biết sao tôi nhớ đến dấu lông ngỗng của nàng Mỵ Châu
Con đường trắng nỗi đau thơ dại
Nước mắt Mỵ Nương rơi lạc trong mưa
Tìm đâu đá xanh
Cây bàng đổ bóng chờ xuống ngõ nhà đen thẫm

Nếu có một tình yêu
Một niềm tin mãnh liệt
Khiến người ta hóa đá
Khiến người ta phải bỏ dấu để tìm ra nhau
Và trái tim chung tình kia chỉ chờ tan ra dưới một hạt lệ
Thì tôi biết tôi phải làm gì. Nơi mỗi lời đi
Như những tờ thơ Emily mỗi sáng mỗi chiều mỗi đêm
Thả rơi ngoài khung cửa

2.
Mùa xuân đến
Ngày đưa tôi đến
Con đường đang mọc lên
Lời sum suê lá mới
Mùa xuân về lẫn trong tiếng sấm
Chút nắng vừa ửng trong lá
Vội vã. Tôi ngước mặt
Xin đừng là một gian dối của đất trời
Cho tôi óng ả nắng
Đi trong tiếng cười bạn hữu như đi trong tiếng suối
Nhìn nhau lá reo. Buộc nhau cánh gió no mùa
Nghĩ mình đi trong ngày khai thiên lập địa
Tất cả đang ở điểm khởi đầu
Nơi và lúc. May mắn được bắt đầu bằng niềm tin
Được nhìn thấy mình với một điều dũng cảm ngây thơ
-Tôi chết cho Cái Đẹp*-
Là tôi. Trong những trang Thơ

2.2017
NTKM
* thơ Emily Dickinson

RƯỢU. CHƯA ĐỦ


Hồ Đình Nghiêm

Nhà văn Mai Thảo

Trong một số báo Văn cũ có in lại bài thơ của Thanh Tâm Tuyền mà tôi yêu thích. Tựa đề là “Bài Nhớ Thi Sĩ”, ở dưới ghi hàng chữ: Nhớ già Ung (Guiseppe Ungaretti) gửi Mai Thảo.

Bài thơ hay. Khó giải thích sự cảm nhận và cũng không nên lạm bàn quanh co. Tác giả “Thơ Ở Đâu Xa” đã gặp gỡ vị thi sĩ người Ý kia chưa, đó chẳng phải là điều đáng thắc mắc. Tôi nhìn chữ “Gửi M.T”, mường tượng ra hình ảnh một ông già khác, chắc cũng không kém phần đặc biệt so với già Ung?

Cả hai ông già, kẻ phương Tây người phương Đông, tôi đều chưa có cơ may gặp gỡ, mặc dù ông già thứ hai, một ông đông-phương-bất-bại dựng lại được “bàn viết lữ thứ” ở bến bờ Cali, thì nghe như có thứ gì thật gần gũi, thật thân quen… Thật thiếu sót nếu chẳng hề một lần được đối mặt.

“Rượu, Chưa Đủ” là nhan truyện ngắn của nhà văn Dương Nghiễm Mậu tôi đọc lại khi ngồi trên xe lửa đi từ Montréal vượt biên giang hồ vặt lần đầu sang Virginia. Rượu, Chưa Đủ, theo như Mai Thảo kể, (in trong cuốn “Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam”. Nxb Văn Khoa,Cali. Hoa Kỳ. 1985) là những trang bản thảo của một người viết trẻ bị vất vào đáy sọt rác ở một toà soạn báo bạn, ông nhặt về đăng trên tờ Sáng Tạo số đang làm, không sửa một dấu phẩy và là người sớm nhìn ra ở đấy cái lấp lánh sáng của một hạt ngọc.

“Rượu, Chưa Đủ” quá ngắn so với đoạn đường dài. Tuy nhiên, những nhân vật trong truyện đã ùa ra, giúp tôi giết đi cái khoảng trống mãi lắc lư, lấp đầy một nửa đoạn thiết lộ luôn lầm bầm thứ điệp khúc tẻ nhạt; nửa còn lại là hình bóng hư thực của Mai Thảo cứ chực khuấy động trong trí khi muốn nhắm mắt dỗ một giấc ngủ không hề tới giữa chuyến đi vội vã sớm nghe ra sự mỏi mệt.

Cảnh sắc bên ngoài cửa sổ con tàu luân phiên khiêu vũ, đổi thay bao phông màn trôi đi, trôi đi. Những cụm rừng mùa thu vàng rực màu lá như đám cháy phực lửa giữa khoảng không. Những vách núi dựng đứng mà đá xanh tuồng như biết khóc, trơn láng, ẩm ướt với quyến luyến sương mỏng dùng dằng. Những mặt hồ thoáng rộng bày ra một đường chỉ bạc hàn gắn, khâu liền với chân trời hút thẳm. Những bầy chim di bay về đâu mà vẽ lên trời xanh một nét cọ đen, run rẩy… Tất cả, với tôi, đều dẫn tới cuối một tâm thức: Lạc lõng, quạnh quẽ, lẻ loi. Những trang viết đều đặn hằng tháng nằm trong mục Sổ Tay của tạp chí Văn cũng tựa thế. Chủ nhiệm Mai Thảo đã vun quén, đã ghi nhận, đã ngăn phên dậu cho vùng đất ấy thành ra một lãnh thổ riêng. Có tứ thời bát tiết, có năm châu bốn bể, có chuyện người chuyện ta, có sum họp có lìa xa… Và tựu trung, cái bề trái nằm ẩn mặt sau những dòng chữ giàu có chất thơ kia luôn dẫn người đọc vượt qua dấu chấm cuối cùng để chạm mặt với phân vân, buồn nhẹ, tịch lặng, êm rơi. Là bức tường in vào đó cái bóng gầy như một ý thơ của chính Mai Thảo dàn dựng.

Hai ba người mặc đồng phục xanh xám đi băng qua các toa tàu nối kết. Dáng dấp to lớn, dềnh dàng. Và đôi mắt họ dừng tới đâu thì dường như gửi theo chút tra vấn. Tôi đưa cho họ xem tấm căn cước bọc nhựa của một thằng công dân Canadien.
- Toa đi tới đâu?
- Washington DC.
- Làm chi ở đó? Lâu, mau?
- Khoảng độ hai ba hôm. Moa đi thăm một người anh.
- Cảm ơn. Chúc một ngày lành.

Chỉ thế thôi, lấy lệ. Chẳng có gì phải dông dài. Đối đáp cho đỡ buồn ngủ. Mai Thảo chính là sân ga cuối, là trạm dừng sau chót, là “một người anh tôi muốn thăm” như câu nói tiếng Pháp vừa trình bày với nhân viên kiểm soát biên giới Gia Nã Đại- Hoa Kỳ.

Buổi tối, tại tư gia bác sĩ Phó Ngọc Văn (người từng gửi thơ, giọng khinh bạc lẫn hào sảng đăng trên tờ Văn Học ở Cali.) nhà nằm uy nghi trên “đồi gió” đắc địa đã bày sẵn một tiệc rượu linh đình nhằm đón chào bằng hữu phương xa. Tôi không là tửu đồ, nhưng bàn tiệc ê hề sóng sánh đêm hôm ấy khó làm người ta cưỡng chống một cơn say. Say với những khuôn mặt bao vị từng cầm viết, chỉ mới đọc thơ văn họ mà chưa từng được chen vai thích cánh chung ghế bàn. Mệt mỏi, bụi đường xin trút bỏ ngoài bậc thềm. Bước vào, trăm ngọn nến lung linh soi tỏ, lòng mềm ra với muôn tiếng cười rộn ràng vây quanh. Khi nghe gia chủ hô hoán, một ông già gầy còm da xếp nếp tay nắm cốc rượu lững thững đến gần. Dáng cao, khật khưỡng: “Ối dà, cái thằng nhà quê bên xứ lạnh cũng vừa sang tới?” Khuôn mặt không biểu hiện rõ điều gì khi nói. Ngăm đen, thiếu linh hoạt, là một đầu tàu va vấp gió bụi mãi chạy trên đường rầy chưa hề gián đoạn, ngơi nghỉ. Giang hồ và phong sương. Trán cao, tóc thưa, miệng móm, răng rụng mất đã nhiều và chẳng ai chửi thề nghe sướng tai cho bằng. “Đừng gọi tao là nhà văn lớn. Lớn cái đếch gì?”. Trong toàn thể lời nói khô khan, riêng mình “đếch” là chữ có hồn nhất, được kéo dài ra, lên giọng cao, đếch chẳng đùa đâu nhé.

Đó là phút ban sơ tôi gặp mặt Mai Thảo. Và quả thật, tối đó tôi là thằng nhà quê chóng say hơn ai hết. Tiệc rượu tàn, người vẫn thường đăng lắm truyện ngắn của tôi trên Văn tục bản ở hải ngoại vẫn còn ngồi yên bên những chiếc ghế trống. Cổ rụt xuống trên vai gầy, ly rượu chẳng bao giờ vơi được bao phủ bằng những ngón dài, tài hoa. Đôi bàn tay cầm viết không mỏi mệt đã tạo dựng được trên dưới sáu mươi (60) tác phẩm (ông rất ghét dùng chữ “tác phẩm”). Ông ngồi lặng trên ghế, chính nhân dáng kia cũng tự tạo quanh ông một hình khối, nổi bật sự cô đơn bủa vây.

o0o

- Cuối cùng rồi anh cũng sang thăm xứ nhà quê nầy.
- Tôi sang nhiều lần rồi chứ. Bọn chúng nó dắt cho đi xem những kỳ quan. Ừ, thì cũng có đẹp đấy, nhưng mà rượu đâu, hãy mang ra đi chứ. Kỳ quan với thắng cảnh thì cũng nằm ở một chừng mực nào đấy thôi. Nhìn ngó làm cái đếch gì!

Montréal đang giao mùa. Thu như thu ở Virginia năm nào đã rời đi. Chúng tôi cùng bước vào một quán ăn chịu khó đóng cửa ngủ muộn để tránh gió se lạnh vừa vụt tràn qua, khởi đầu cho một mùa đông có tiếng là khắc khe, hung bạo. Bước đi của nó chậm rãi nên khi ghé ngang đã dây dưa trì nán những năm (5) tháng. Nó đang tới để khiến chúng tôi co ro bước lên một tửu quán người Tàu di dân đã ba đời. Củi lửa reo cùng khói bốc cao từ một chảo dầu chiên xào thức ăn vùng nhiệt đới thơm nồng chào đón. Trong đầu tôi hiện lên một nhản rượu: Ông già chống gậy. Chẳng hiểu tại sao? Người viết nên “Sống Chỉ Một Lần” đang là một ông già, nhưng bước đi vững chãi đó mãi mãi từ chối một cây gậy cầm tay.

- Cậu nhớ viết cho Văn giai phẩm Xuân một cái truyện ngắn.
- Dạ vâng.
- Cậu đã ra được cuốn nào chưa? Một thằng nhà văn đừng bao giờ coi nặng chuyện phải in cho kỳ được một vài cuốn sách. Có thì tốt bằng không thì cũng chả sao. Mình sống với văn chương bằng cả tấm lòng, chỉ chừng ấy là đủ.

Tôi nghe, tôi cúi đầu. Như từng im lặng đón nhận lời phát biểu của ông: Thằng nhà văn nên thu mình trong bóng tối, sân khấu đèn màu nhẩy múa, chỗ ấy vốn dành riêng cho bọn Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Phạm Nhuận gọi mấy món. Anh bồi bàn nghiêng mình một bên lễ phép thưa gửi “tài lũ”.

- Tài lũ cái đếch gì. Nó làm như bố người ta không bằng. Anh nên ăn thức này, anh ngủ một tị cho khoẻ. Ối giời! Sợ, sợ lắm!

Mọi người cùng cười. Cười luôn đi trước tâm sự. Cởi mở xong mới đụng tới được những hàn huyên thân tình. Và Mai Thảo là một người khó tính, ít ăn ít nói trước đám đông xô bồ. Thảng hoặc nge tâm sự, riêng tư: Ban đầu là Hồ Dzếnh, người từng khuyên chớ dẫm chân vào con đường văn chương. Tôi không nghe, trái lại còn hăm hở nữa. Kết quả cái sự giấn liều kia là một quyết định đúng đắn.

Ai cũng ngầm hiểu, ông và nhóm Sáng Tạo đã đưa văn học Việt Nam bước ra một khung trời mới, cách ly khỏi ảnh hưởng của Tự Lực văn đoàn. Gần bên Mai Thảo như tiếp cận một cuốn sách dầy nặng nhiều chương hồi. Giở số trang 1976 là bắt gặp một đoạn văn đầy mưa bão, u ám. Lật vội qua trang sau là chuỗi ngày lưu đày, trốn chạy trên chính quê hương mình. Giở lui thì bắt gặp thời bất toàn của “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Giở tới thì nhìn ra “Hồng Kông Ở Dưới Chân”. Từ 1994 là bước qua chương tương lai, ở đó khẳng định một điều: “Lưu vong là lưu vong mãi. Đã mang phận phải ra đi thì nên đi luôn, chẳng muốn về. Không về là vì tâm chẳng muốn về. Thế thôi”.

Mọi người cùng ăn, ông thì không. Lại lập luận: “Cái bao tử nó không đòi hỏi thì cứ để mặc nó, tôn trọng nó. Và đã thành thói quen. Cái uống thì lại khác…” Ông cười, nhếch mép rồi “vô” một ly khác. Thuốc lá Winston đốt lên điếu mới mặc dù nằm trên đĩa gạt tàn hẳn còn nửa điếu cháy dở. Ông từng nửa đùa nửa thật cùng tôi: “Thành phố cậu ở xem ra văn minh hơn bọn nhà quê bên Cali. Anh làm cái đếch gì mà cấm người ta hút thuốc? Nhà quê bỏ mẹ!”. Khói thuốc mơ màng, giọng trầm, khàn đục: “Điều tôi mãi tiếc, hối hận thì đúng hơn, là chưa được uống rượu với ông Tản Đà”.

Ông già Mai Thảo ở chơi với bọn “nhà quê” được một tuần. Đón có Luân Hoán, đưa tiễn có Phạm Nhuận. Trời mưa lai rai, gió cuồng thảng hoặc những đêm hàn huyên muộn trễ việc lên giường. Một tuần có khi nghe ông nói tiếng Pháp lưu loát, có khi nghe chậm rãi tiếng mẹ đẻ, giọng Hà Nội chuẩn mực rót xuống bàn rượu những tâm sự đắng lòng. Không nghe ông trách cứ một ai, chẳng nghe ông ca ngợi người nào. Ông quan niệm: Cứ mặc xác chúng nó. Hơi đâu!

Một tuần, có khi thấy phong độ, lại lắm lúc nhìn ra cơ thể ấy đang đến hồi suy nhược, mệt mề, thôi linh hoạt. Tạp chí Văn mỗi khi một đi xuống, điều đó có phải do bởi tuổi già, một mình chăm sóc? Không, chẳng phải thế. Lỗi ở bọn trẻ đi sau, lỗi ở tôi khi đóng góp bài vở. Có lần ông nói: “Thế hệ cậu không có được sự may mắn. Thời ấy, sinh viên học sinh vẫn kẹp trong sách vở những cuốn “Để Tưởng Nhớ Mùi Hương”, “Mười Đêm Ngà Ngọc”… Bọn tôi sống hẳn với văn chương, chí thú viết truyện không hở tay”.

May mắn? Bất hạnh? Quả có thế. Chẳng có gì kỳ cục hơn là khi ta ném một hòn sỏi xuống hồ, quăng mạnh tay, rớt, chìm, mất tăm tích; mà mặt nước kia vẫn tịch lặng chẳng hề xao động cho sóng đồng tâm nhăn gợn, loang ra.

Ông Mai Thảo về lại Cali. Nhớ lời ông, tôi ngồi viết truyện ngắn cho Văn giai phẩm Xuân với cõi lòng trống vắng. Đây cũng là điều kỳ quái khác. Nói kiểu Mai Thảo: Xuân cái đếch gì khi ngoài kia là một trời băng tuyết lấp đầy chôn lạnh! Cái ô vuông cửa sổ trông tựa một tờ giấy trắng. Để nó sạch tinh khôi hay vấy bẩn vào, cào cấu những hàng chữ không thật lòng, run yếu? Ừ, viết thì viết. Một lời đã hứa thì cố gắng giữ tròn. Chữ thoát ra, dẫu không hay nhưng nó ký gửi theo một tâm thành, chẳng dối gạt.

Chuông điện thoại reo:
- Đang làm gì thế?
- Đang bóp trán.
- Viết lách đấy à?
- Phải.
- Ngồi vọc bàn máy đánh chữ sướng hay ngồi nhậu cùng anh em sướng?
- Còn phải hỏi.
- Thay áo quần đi. Ta lái xe đến đón liền khi.

Tôi không phải là tửu đồ. Điều đó đã có lắm người “thị thực chữ ký”. Nhưng mà chén chú chén anh thì vẫn thích hơn là đầu óc đã quên khuấy hình dáng cây mai chi chít hoa vàng nở đầy cành lá mà cố mường tượng lấy được rồi vẽ rắn thêm chân những bánh chưng pháo đỏ ông đồ lì xì mừng tuổi tống cựu nghinh tân.

Ông Mai Thảo đi rồi, bàn rượu có vẻ trầm mặc, như thiếu một thức gì. Bạn hãy để mặc tôi, đừng thắc mắc, hãy uống những gì bạn thích. Cordon bleu, X.O… Thế thì trà đá chanh đường chăng? (chữ của Khánh Trường). Không, đâu mà tệ thế, cho tôi xin một ly Martell. Tôi muốn bắt chước thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, uống trôi chất cay này để nhớ già Mai Thảo.

Rượu, chưa đủ. Nhớ Mai Thảo là nhớ câu thơ của Bùi Giáng mà ông ca ngợi: “Xin chào nhau giữa con đường, mùa Xuân phía trước miên trường phía sau”. Là mỗi khi nhận báo Văn qua bưu điện, vẫn bất di bất dịch hàng chữ viết tay quen thuộc ngoài phong bì vàng. Cầm lên, trong trí hiện ra một đám mây; nhiều màu, rực rỡ, bay giạt qua bầu trời nhỏ bé của văn chương Việt Nam. Mây che nắng, mây tạo mưa rồi trôi tới một phương trời rộng. Một đám mây cô quạnh, thong dong, bềnh bồng, lạc loài trên vùng đất viễn xứ.

Tôi không là tửu đồ. Đã đành. Nhưng rượu, biết uống mấy cho vừa, cho nguôi ngoai, cho chìm quên, hở ông nhà văn không thích được gọi là lớn?

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

Hợp Lưu số 16, tháng 4 & 5, năm 1994. Chủ đề “Mai Thảo 50 năm hệ luỵ với văn chương”.
Đánh máy lại, có chỉnh sửa. Tháng 3, 2019. Và thêm chú thích: Vì sức khoẻ sa sút, năm 1996 Mai Thảo chuyển giao tạp chí Văn cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng chăm lo. Mai Thảo sinh năm 1927 tại Nam Định và mất năm 1998 ở California.

TRƯA. LẠNH 30 ĐỘ


nguyễnxuânthiệp

Crows painting. Source: Internet

buổi trưa
30 độ
lạnh cắt da
nhưng không chảy máu
tôi xòe tay. xin chút nắng
bàn tay. run. trong hơi thu tàn
giá buốt. đi tìm basho
bởi basho. cũng như tôi. sống dưới một mái nhà
       thưa. tuyết. và mưa đá lộp bộp. gió rít qua hiên
trong đêm. nghe dế gáy. trăng tàn
thầm hỏi. thu này. sao ta phải già đi*. người đợi người. không tới
bóng quạ trên cành khô
kêu quạ. quạ
nhớ về chiến địa xưa
con chuồn chuồn đỏ. đậu trên cái nón sắt
mây bay. mây bay
ngồi lại bên đường
trò chuyện với chiếc lá. khô
và hòn đá
cười. như mơ
NXT

* Ý thơ Basho