Sunday, December 18, 2022

THƠ TÔI

nguyễnxuânthiệp
 
Tranh Đinh Cường
 
THƠ TÔI
 
từ mái tóc
dòng sông. và đôi mắt ấy. tôi đi
cùng với thơ
và những giọt mưa
rơi. âm. trên mái cọ
tiếng chim kêu
cành hoa
trên ngôi mộ đá
cơn giông. nhiệt đới. qua trời
ngọn đèn
trong căn lều. của người chăn vịt
những lóng xương khô
nấm mồ. gió chạy. biển xa
 
ôi. thơ tôi
như cánh bướm
như nụ cười
cái chết.
 
 
THUỞ ẤY. TÔI ĐI
           
này em
thuở ấy. tôi đi
mùa đông. trên vai gầy
giã từ
ngôi nhà của mẹ cha
giòng sông tuổi nhỏ
không còn thấy bóng
cây bàng. phủ xưa
và những chùm bông bưởi
bên hiên nhà em
chỉ còn nghe. vọng tiếng còi tàu
trên sân ga. đầy khói
 
 
MÙA ĐÔNG
 
mùa này
cây sầu đông. đầu ngõ. còn ra hoa. tím
tôi đi. một mình
tóc trên cây
trăng mùa xưa. đôi mắt
chợt thấy lại
một mái trường
ngói đỏ
buổi thiếu thời. ở huế
chiếc xe đạp. kính koong
em
em có cùng tôi. về lại
 
 
THỜI GIAN
           
ông basho
một năm lại qua
nón lá đội đầu
chân buộc giày rơm
đi tìm chiếc lá kiri
 
còn ông thiệp
một năm lại qua
mũ dạ
khăn quàng cổ
đi tìm bông hoa giấy
rụng. tàn
môi ai. nơi góc tường kia
 
 
MƯA XÁM
 
mưa xám
mùa xưa. vương phủ
tuổi nhỏ. và lá bàng. mái ngói nâu
bếp lửa. cay mắt
nhánh củi. cười
bài thơ. ở quán lau thưa. nào ai nhớ
khi mặt đất. những đám mây qua. không còn
                 nghe âm hưởng tiếng đàn mộc lan
thơ. và tôi. dắt nhau đi
những ngày khùng điên. khốn khổ
mưa xám
ướt đời tôi
 
cùng nhau
chúng ta đã đi. tìm gì
hỡi bạn
một nụ cười
một bếp lửa
một căn phòng. của mùi tóc. hương nắng. và cà phê
nhưng kìa
bóng quạ
trên cành khô
quạnh hiu. khi đỗ phủ về lỗi dương và nguyễn du về ngàn hống
tôi đi
những tiếng ho khan
chiều cũng xám như mưa
những ngày ấy. bạn ơi. không nhìn thấy mặt trời
 
mưa xám
giăng. giăng. qua đời tôi. đời bạn. và còn những ai nữa. hở em
như chiều qua
mưa xám lạnh mặt hồ. ngôi nhà ở irving. của nguyễn xuân phước
tôi ngồi nhìn
mặt trời
nói lời từ giã
adieu
 
 
KHI VỀ LẠI. MÙA ĐÔNG
 
bây giờ là mùa đông
cám ơn em đã đến và đã chia tay
 
mùa này chim én còn bay dưới mái lầu hotel palace
ở một góc phòng, chiếc piano cũ. vẫn còn
cô ca sỹ đứng. xõa tóc. hát
và bóng người nhạc sĩ. gầy. lướt tay trên phím đàn
bản dạ khúc. của lê uyên phương
đã chết
 
tôi đi. một mình
tóc trên cây
trăng mùa đông. đôi mắt
chợt thấy lại
một đường rail
buổi thiếu thời xa huế
chiếc túi xách. tìm nhau
 
bao nhiêu mùa đông
với tiếng cười
buổi sáng
người hẹn đi cà phê
tùng
hay ly thơ
như trong tranh. siêu thực. của người bạn xưa
 
khi tôi về lại
mùa đông
 
 
ĐÊM NAY. ANH NGỒI VIẾT CHO EM
 
đêm nay
anh ngồi viết cho em
bản tin thời tiết nói. tuyết sẽ rơi vào lúc 2 giờ sáng
những mái nhà lặng thinh...
 
hình như giờ này những bụi hoa lavender. trước ngôi nhà thờ cổ vẫn  
                                                                                           còn thức
cây bàng vương phủ còn thức
anh ngồi đây tự hỏi
cây đàn cello trong tay người nghệ sĩ của tranh modigliani còn thức không
những dòng chữ trong thơ anh. còn thức không
mà anh nghe vọng tiếng khóc than
 
và anh ngồi viết
chỉ bởi không thể không viết
dẫu biết bài thơ rồi dang dở
như anh đã viết. về vầng trăng. trên sông mississippi
và cây cầu pontchartrain
hay những bông dã quỳ ở oklahoma
như đời anh
đời em
vậy đó
 
cánh chim nào vừa bay ngang
qua mái nhà
và bông tuyết bắt đầu rơi
2 giờ sáng.
 
 
TRONG CĂN PHÒNG KÝ ỨC
 
trong căn phòng. ký ức
của anh
một ngọn đèn
soi. chiếc ghế trống
cây đàn. câm
và những cuốn sách. bụi
một tấm gương
ngày nào anh đã vẽ
hình đôi mắt
bây giờ biến thành hai cánh bướm. màu nâu
em
em hãy bước thật nhẹ
kẻo tiếng động
của những đổ vỡ
một lần đi qua đời anh
sẽ thức dậy
anh muốn
mọi vật cứ lặng yên
lặng yên
như trong những bức tranh
dưới căn hầm
của người họa sĩ
ở đường natick. bên rừng mây. xưa
 
 
CHIỀU. VẪN SIÊU THỰC. CHIỀU
 
em có nghe
em có nghe
vẫn tiếng còi tàu
buổi chiều
âm vang qua khu rừng. natick
những cánh dã quỳ. tứa máu. run rẩy
người không còn ngồi vẽ. trong quán cà phê xưa
nơi khung cửa
con bướm monarch. nhìn thấy trong giấc mơ nào
đang vỗ cánh
gây ra những chấn động. màu hổ hoàng
                                         trên phế tích. mùa qua
anh thấy mình ngồi
đốt lại đống lửa
lá thông khô
những khuôn mặt bạn bè. chợt hiện
đinh cường. lê uyên phương. kim phượng
thanh sâm
và tiếng ai
gọi mình trong gió
thiệp ơi. thiệp ơi
về đi
 
chiều. vẫn siêu thực. chiều
 
NXT

 

  

Friday, December 16, 2022

ĐỖ HỒNG NGỌC VỚI ‘ÁO XƯA DÙ NHÀU’…

Trần Thị Nguyệt Mai
 

Tác giả & Tác phẩm
 
Được biết những năm sau này, tác giả Đỗ Hồng Ngọc chọn “về thu xếp lại” khi một “chiều hôm thức dậy / ngồi ôm tóc dài / chập chờn lau trắng trong tay”.[1]
 
ÁO XƯA DÙ NHÀU… là tựa tác phẩm mới nhất của ông do Phanbook xuất bản với mười tám chân dung:
 
Nguyễn Hiến Lê, “… để cho người quân tử… hò ơ…”
Võ Hồng, “nỗi cô đơn uy nghi”
Cậu tôi, Ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, “người điên thứ thiệt”
Giáo Sư Trần Văn Khê, “Đời thường…”
Dương Cẩm Chương, “Kẻ lữ hành không mệt mỏi của đường dài”
Thăm nhà văn Trang Thế Hy “… thì cứ hỏi cuộc đời”
Thi sĩ Quách Tấn, “đọng bóng chiều”
Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của Thuyền viễn xứ
Tôn Nữ Hỷ Khương, “Chỉ có tình thương để lại đời”
Phạm Thiên Thư, “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”
Nhớ Tiếng thu giữa Boston
Một hôm, “có chàng Huy Cận”
Võ Phiến, “Cuối cùng là sự Mộc mạc”
Nguyễn Bắc Sơn… “Thy Đạo”
Trần Vấn Lệ “may mà còn nhớ thương”
Du Tử Lê “tung cánh vàng xưa hạc vút bay”
Khánh Minh “còn chút để dành”
Cao Huy Thuần, “Người khuân đá”
 
Ngoài là bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà thơ (Đỗ Nghê), một họa sĩ của những bức ký họa được bạn bè yêu thích. Nên những chân dung được ông “vẽ” lại theo cách rất riêng không giống với một ai (unique), bằng đôi mắt của người thầy thuốc yêu nghề, chọn lọc những góc cạnh độc đáo của họa sĩ và trải lòng với tâm cảm của nhà thơ, nên có những bài viết đẹp như thơ mà “Nhớ Tiếng thu giữa Boston” là một.
 
Với học giả Nguyễn Hiến Lê, người đã viết nên những tác phẩm “kinh điển” làm kim chỉ nam cho tác giả từ thuở thiếu niên (Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Rèn nghị lực…) thì “Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khỏe ông là một điều thiếu sót lớn! Thực không ai ngờ rằng một người viết hàng trăm tác phẩm như vậy lại là một người đau yếu liên miên… Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ những bệnh tật của ông. Mắc bệnh đau bao tử, một thứ bệnh đòi hỏi phải sống, phải làm việc có tiết độ, ông chú trọng nhiều đến tổ chức, viết “Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình”, v.v… Để có thể tự chữa thứ bệnh tâm thể (Psychosomatique) đó của mình, ông viết “Sống 365 ngày một năm”, “Sống theo sở thích”, “Chấp nhận cuộc đời”, v.v… Những lúc buồn phiền, lo lắng, ông viết “Quẳng gánh lo đi”, “Trút nỗi sợ đi”, “Xây dựng hạnh phúc”… Những lúc bệnh bớt, thấy khỏe khoắn, hăng hái trở lại, ông viết “Thẳng tiến trên đường đời”, “Tương lai trong tay ta”… Và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi bằng “Tô Đông Pha”, “Sống Đẹp…”.
 
Nhà văn Võ Hồng được ông diễn tả: “Quạnh hiu. Hoang vắng. Cô đơn. Không muốn ‘độc cư’ mà thành độc cư. Với một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, ông héo hắt dần với tháng năm”.
 
Còn “Jáo sư, kí jả kông chuiên ngiệb” (Giáo sư, ký giả không chuyên nghiệp, theo danh thiếp, viết bằng lối chữ của ông) Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, là cậu và cũng là người đã đưa tác giả lần đầu tiên đến trường học: “Tôi thấy cậu ốm nhom, tóc hớt ngắn, quần rộng thùng thình, sơ-mi sạch sẽ nhưng nhàu nhè, chỉ có đôi mắt là sáng rực sau cặp kiếng cận tròn, gọng đồi mồi. Bộ ria mép che bớt cái miệng với hàm răng hơi hô, nhưng nhờ hay cười nên cũng có duyên, mũi hơi quặp, chịu đựng cặp mắt kiếng khá nặng, tay thì ôm một chồng sách báo, đi nghiêng nghiêng tất tả”.
 
Giáo sư Trần Văn Khê khi 89 tuổi: “Ông hãy còn rất trẻ, nhiệt tình, năng động và làm việc không ngừng. Ông nói ông vẫn luôn rung động trước ‘cái đẹp’. Tôi chắc ông hẳn tủm tỉm cười, bắt chước Nguyễn Công Trứ: ‘Bảy mươi năm trước, qua mới… mười chín tuổi!’. Bởi ông vẫn nói cười rổn rảng, trí nhớ vẫn tuyệt vời, sẵn sàng bay đi khắp nơi để thuyết trình, để ca hát, để ngâm thơ… Thực ra thì ông có đủ các thứ bệnh trên đời, nhưng ông biết sống chung ‘hòa hợp’ với nó. Nào phổi, nào thận, nào tim, nào huyết áp, nào khớp, nào tiểu đường… thứ nào cũng có, từ hồi còn nhỏ đến bây giờ. Bệnh tật sống chung với ông làm như hai bên dựa vào nhau, cộng sinh với nhau để ‘hai bên cùng hưởng lợi’! Tôi tưởng các nhà y học có thể làm một nghiên cứu về ông, để biết thế nào là chất lượng cuộc sống của một bệnh nhân. Có lẽ nó khác xa với cách đánh giá của thầy thuốc nếu chỉ dựa vào các xét nghiệm vô hồn!”
 
Viết về bác sĩ / họa sĩ Dương Cẩm Chương, “Ông vẫn miệt mài đi, miệt mài vẽ, vẫn viết thư và vẫn làm thơ ở tuổi 93 như thế. Sức khỏe vẫn dẻo dai. Trí nhớ vẫn tuyệt vời. Thật lạ lùng! Như không hề có tuổi. Trái tim vẫn luôn xao động, luôn đắm đuối, say mê, luôn yêu người, yêu đời, yêu thiên nhiên”.
 
Còn nhà văn Trang Thế Hy thì “Ốm nhom ốm nhách trong bộ pyjama lụa lùng nhùng đặc sệt Nam bộ. Tóc bạc lênh đênh chuồi về phía sau, dồn cái trán rộng về phía trước, miệng móm mém, mũi cao, thẳng, mắt sâu và sắc như một thiền sư khổ hạnh”. Đặc biệt cách ông hút thuốc, “Nhưng lần này tôi bỗng thấy mê một người hút thuốc lá. Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một bên khóe miệng, thấy cái cách ông khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến. Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt trong tay chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im, lặng ngắm, không dám hó hé”.
 
Tả nhà thơ Quách Tấn, “Cái gọng kính trễ xuống sống mũi, đôi mắt sâu sâu như cũng mỉm cười sau hai lưỡng quyền cao, nhưng chưa cao bằng cái trán rộng và càng rộng nhờ cái đầu sói, tóc điểm sương”.
 
Còn với nhà thơ Huyền Chi, “Cô đẹp quá. Sao thời đó, một người phụ nữ 7 con, 35 tuổi mà dịu dàng, đoan trang, tươi mát đến vậy, khiến ngay cả nhà văn Nguyễn Đông Thức cũng kêu lên: ‘Giá mà hồi đó, sanh sớm nửa thế kỷ được gặp cô cũng không thể không mê!’”.
 
Đặc biệt với Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, không một lời tả nhan sắc, nhưng tác giả đã dùng chính thơ của cô để thể hiện (thơ là người, có phải vậy không?):
“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui / Chuyện đời như nước chảy hoa trôi / Lợi danh như bóng mây chìm nổi / Chỉ có tình thương để lại đời…”.
 
Ta có thể hình dung đó là người có nụ cười tịnh lạc, tình yêu thương luôn rộng mở với tha nhân.
 
***
Nhưng tôi thích nhất ông diễn tả nhà thơ Huy Cận. Khi mới gặp thì: “Bảy giờ rưỡi tối, cậu Lê Phương Chi đến với một ông già lùn mập, trông giống như Bất Giới hòa thượng, ì ạch leo lên cầu thang”. Đến khi được hỏi, “Huy Cận biết yêu vào lúc mấy tuổi”: “Một ông già Tết này đã 78, bụ bẫm, tay chân ngắn ngủn, mũi hỉnh, trán dẹt, môi dưới dài hơn môi trên, tóc lưa thưa bạc, cổ có nọng, bụng to quá cỡ, quần chật cứng, túi phình như con cá phồng mang, thắt cái cà vạt hơi chật, to bản, đánh một vòng cung quanh bụng, ngồi dựa ngửa trên ghế salon không thoải mái lắm. Ông phì cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh của Lê Phương Chi. Và nụ cười làm ông bỗng có vẻ gì trẻ thơ ngơ ngác như chàng Huy Cận thuở nào. Tôi chăm chú nghe. “Đâu hồi tám tuổi”, ông nói. “Tám tuổi à?”. “Phải, nhưng đó chỉ là mối tình bâng quơ thôi mà”. “Nhưng người đó là ai vậy? Bây giờ người đó ở đâu?”. Lê Phương Chi tấn công tới tấp. “À, một cô gái quê, ở nông thôn…”. Tôi lại giật mình nghe Lê Phương Chi hỏi: “À, còn mối tình của Huy Cận và Xuân Diệu? Có phải là…”. “Không không, Tô Hoài viết bậy đó”. Huy Cận có vẻ quạu. “Tôi với Xuân Diệu là tình bạn thân thiết, không phải tình trai, đồng tính luyến ái chi đâu”. Tôi lại quan sát ông. Cái ông già cũng ngộ. Lúc bẽn lẽn, lúc quạu quọ khá dễ thương dù ngó bên ngoài thấy ông giống Bất Giới hòa thượng, nhưng trong ông như lại có Nghi Lâm tiểu sư muội.” Rồi khi đọc bài thơ Huế ơi của Đỗ Nghê, “ông lại ư ử. Hay. Câu này hay. ‘Một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’… ‘Một ngày Vỹ Dạ trăng soi, một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’. Ngày thì trăng không soi được rồi, mà tại sao lại biếc người? Không phải chỉ là cái quán cà phê bên dòng nước xanh um bóng cây kia mà chính là, à phải rồi, chính là con thuyền ai đó có ‘chở trăng về kịp tối nay’ và vườn của ai kia lá có còn mướt ‘xanh như ngọc’. Vâng, xanh nên biếc và người nên ngọc. Ông Huy Cận này ghê thiệt. Quả là danh bất hư truyền. Ông đọc và cảm nhận thơ tinh tế không thể tưởng. Mới vừa thấy ông là Bất Giới hòa thượng đó bỗng đã thành Nghi Lâm tiểu sư muội, rồi bây giờ lại là Lệnh Hồ huynh đệ, chỉ dùng kiếm ý mà không cần kiếm chiêu”.
 
***
Rồi còn có biết bao điều được tác giả chia sẻ rất thú vị.
 
Chẳng hạn: “Phong thái ông (Nguyễn Hiến Lê) là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn… Ông không thích đổi thay… Quen biết ông mới thấy ít có ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông ‘thao thao bất tuyệt’ thì cứ việc nói đến tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai”.
 
Hay “Cuộc đời cậu (Nguiễn Ngu Í) nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có những đợt cậu nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa dài ngày, tưởng đã không qua khỏi. Có lần cậu nằm giữa xa lộ cho xe Mỹ cán, nhưng xe chở thẳng vào Biên Hòa. Có lần trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong đêm vì thời điểm giới nghiêm. Cậu làm thơ thật nhanh, thật dễ dàng ngay trong lúc lên cơn. Cậu chủ biên tập Thơ điên thứ thiệt như để phản đối những người giả điên thời đó. Rồi xuất bản tập Qê hương để nói về quê mẹ và nơi chôn nhau cắt rún của mình ở Tam Tân…”. Với mong muốn lúc rời khỏi cõi đời: “Cậu ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục lủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để cậu được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho ‘Ngư về với Cá’.”
 
Hoặc thi sĩ Quách Tấn chia sẻ: “Nhiều bài tôi ấp ủ hằng chục năm. Bài Đêm khuya nghe quạ kêu 12 năm, bài Ấp ủ 15 năm. Trong một bài mà có một chữ không đạt là tôi bỏ. Tản Đà có lần định sửa một chữ trong một bài thơ của tôi mà không tìm ra chữ nào ổn, trong ba năm, đành thôi… Tôi dịch thơ chữ Hớn của Nguyễn Du và Thái Thuận, thi sĩ đời Lê Thánh Tôn… Có ai ngờ là Nguyễn Du đã từng sống lữ thực hằng chục năm? Có ai ngờ con Nguyễn Du đói, Nguyễn Du đau trong nhiều năm mà không có thuốc men? Ngay cả vấn đề Nguyễn Du có phải là trung thần của nhà Lê không cũng cần phải đặt lại. Những điều này trong các tập thơ chữ Hớn của ông có nói rõ. Về Nguyễn Trãi và Thái Thuận cũng có lắm điều lý thú bất ngờ”.
 
Đặc biệt, Nhà văn Trang Thế Hy nói về “tóc bánh bèo” (mà có lẽ ngày nay hiếm người biết) trong bài thơ Đắng và Ngọt thật cảm động của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa Quán bên đường: “‘À, mà ‘tóc bánh bèo’ là tóc làm sao anh Tư? Có phải ba vá không?’. ‘Không, không phải ba vá. Tóc bánh bèo, này Tùng’ – ông bỗng gọi – ‘Tùng biết tóc bánh bèo không?’ Tùng nói: ‘Dạ có phải cạo trọc, để lại một chùm đằng sau ót, tròn tròn…’. Ông cầm cái chén lên, vo vo theo miệng chén bảo: ‘Đúng rồi, cạo trọc, để lại một miếng tròn như vầy, nhưng ở giữa phải có một chùm tóc như cái nhưn bánh bèo vậy!’”.
 
***
Nơi đây chỉ xin chỉ trích một số ít chân dung và chia sẻ để bạn còn tự khám phá khi đọc sách. “Mai sau dù có bao giờ…” vẫn sẽ còn đây những kỷ niệm của một thời. Như trong bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly thật da diết: ‘Đời xin có nhau / Dài cho mãi sau / Nắng không gọi sầu / Áo xưa dù nhàu / Cũng xin bạc đầu / Gọi mãi tên nhau…’. Vâng, một ngày áo không còn thẳng nếp, vạn vật đổi thay, nhớ thuở xưa xa, vẫn mong “của tin gọi một chút này làm ghi”…
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
Đầu Thu – 03/10/2022
 
[1] Trịnh Công Sơn – Chiếc lá thu phai.
  

Thursday, December 15, 2022

TUYẾT XUỐNG, NGHE DƯƠNG CẦM LẠNH CỦA DƯƠNG TƯỜNG. ĐI VỀ PHÍA BÌNH MINH TRONG CHIÊM BAO

nguyễnxuânthiệp
    
Ngọn nến cháy trên bàn
Ngọn nến cháy.
 
Tuyết xuống
nghe cầm dương. lạnh
hồn siêu thực
trăng
mái phố
như chim
ca nhân
và nến cháy. bập bùng
lặng nghe
chờ em
đường dương cầm. mưa
những giọt lá. sầu
dạ khúc*
tìm đời nhau. đâu
tuyết xuống đầy trời
những cây sage. và bụi hồng. cây lựu trong vườn
đầu đội những chiếc mũ tuyết
đóa quỳnh điên. đêm nào
giờ đã tàn phai. rũ rượi
 
không. không trở về những năm tháng đã xa
để gặp lại cơn mưa
và bùn lầy
trong trăng
hãy lãng quên
lãng quên
bản dạ khúc
và teresa
teresa. của cầm dương. và những đám lá vàng. khuya
trong thơ  joseph huỳnh văn
 
giờ đây. anh đi về phía chân trời. nơi bình minh
                             còn ẩn. trong chiêm bao
để gặp người
ngôi nhà. bên đồi quạ
và bình trà. của sói 
 
tuyết rơi
tuyết đang rơi
nơi anh ở. và đâu xa
tuyết rơi như trong dr. zhivago
anh đi về phía đồi twelve oaks
để nghe
một tấu khúc khác
của cầm dương. trong cây
đóa hồng. lệ biếc xanh. và ngọn lửa
này em
hãy đứng lên
như trong mơ. cầm cây cọ. và bảng màu
vẽ một khoảng trời
cho thơ anh
để anh an trú
ôi. cầm dương
cầm dương. tím
màu hoa lilac
 
Ngày của tuyết tháng 2. 2010
NXT

        *thơ Dương Tường trong video clip Dương Cầm Lạnh

          https://www.youtube.com/watch?v=6t2BGn2wRMs

 

 

Tuesday, December 13, 2022

KHÁNH TRƯỜNG. RƯỢU BIẾT RÓT VỀ ĐÂU

Lê Chiều Giang
 
Tranh LCG gởi
“…Soi gương nhìn kỹ mặt mày
Cũng râu cũng tóc đủ đầy giống…ta!
Thế nhưng trong cõi ta bà
Nhiều khi những tưởng mất cha cái mình…”
[Khánh Trường]
 
Tôi bị ám ảnh triền miên bởi những hình tượng ốm đau, kiệt quệ. Những lặng lờ thấp thỏm, sợ hãi đợi chờ cho một ngày cuối cùng, chấm hết…Nên đã rất ít khi tôi còn dám thăm hỏi ai thêm về chuyện thở ít, thở nhiều hay đã gần ngưng thở.
 
Anh Khánh Trường mỗi khi tôi nhớ đến, phải là hình ảnh của một giang hồ. Một tay chơi luôn cười cợt, ngạo nghễ với đời, để nếu cần, đang ngồi Cafe cứ quăng đại chiếc ghế lên trời cho hả cơn giận dữ. Dễ thương và may mắn nhất là anh có được những tiếng cười xòa thông cảm, những tiếng cười phá chấp từ bè bạn.
 
Sau 1975, Anh Nghiêu Đề và tôi hay ghé phòng dạy vẽ của Khánh Trường bên Phú Nhuận. Phòng tranh nhỏ với xao xác chỉ vài em và là nơi anh nhận vẽ truyền thần, sao lại hình Ông Bà… Khi hăng hái chuyện rong chơi, anh cười cười đuổi học trò về, miễn luôn học phí cho ngày hôm đó. Anh vội vã đóng cửa lớp, phòng tranh cho dễ bề lang thang cafe thuốc lá. Những ly Cafe mà khề khà từ sáng đến trưa, với những nói cười say sưa cùng khói thuốc, những câu chuyện còn đậm đà hơn cả những bình rượu trắng ngày càng trở nên hiếm hoi.
 
Anh Duy Trác, người sống vô cùng ngăn nắp cũng đã có lần trong một ngày giáp tết, ngồi nhà Khánh Trường cho đến 3 giờ sáng. Chúng tôi ngồi vui với cháo gà của chị Khánh Trường. Một con gà nhỏ, với rất nhiều loại rau, và 12 người bạn. Nước lã, tôi xúi chị Khánh Trường đổ thêm và đổ thêm cho nồi cháo càng lúc càng đầy hơn, chỉ cần thoáng chút hương vị gà thôi chắc là cũng đủ…Chúng tôi và Nguyễn Đình Toàn, Duy Trác, Trần Quang Lộc, Nga Mi, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Tôn Nhan…ngồi hát hò, thơ phú cho đến hết đêm. Những đêm Saigon không dài. Đêm xao xác. Đêm hoang mang và đêm rất ngắn.
Đó là những tháng ngày chúng ta vừa vuột mất quê hương. Nói như anh Nguyễn Đình Toàn, thời gian đó nếu chúng tôi không có một nhóm để rong chơi, ca hát thì chắc là đã…chết hết.
 
Rồi đã chẳng còn những gặp lại, chúng tôi chợt tan tác muôn phương, kể cả có bạn bè đôi ba lần cứ phải vào tù ra khám..
 
+++++
 
California.
Nơi có tiếng réo gọi của rất nhiều gương mặt cũ.
Khi gặp lại anh Nguyễn Trọng Khôi từ Boston qua CA. ghé San Diego cùng với Phạm Việt Cường và Khánh Trường. Chúng tôi ngồi …đếm. Những mất mát gần gũi và xa xôi, những bạn bè rớt rơi còn hay mất. Ôm đàn hát mải mê, hát miên man mà Nguyễn Trọng Khôi…khóc. Nước mắt, có khi không cần nói gì và hỏi gì thêm. Nước mắt, thông điệp của mọi thứ và mọi điều, có khi hiểu ra hết và đôi khi chẳng ai hiểu gì. Nguyễn Trọng Khôi hát cho những ngày lê thê, tê tái ở Saigon trước khi anh lên máy bay ra đi…
 
Rộn rã nhất chắc là khi Khánh Trường có Hợp Lưu. Văn thơ đủ thứ làm anh bận rộn thêm với cả tỷ những bạn bè cũ, mới. Cái dễ thương của Khánh Trường là dù cuộc vui lớn nhỏ thế nào cũng phải hò hét hết bạn bè đến tham dự. Không đủ ly thì rót rượu đỏ trong ly giấy, không có tiền thì in báo thiếu chứ nhất định phải là…ca múa với rong chơi.
Chuyện hay hay là một trong những lần gật gù, bàn bàn tán tán về văn chương, Mai Thảo lỡ
nói vài câu kiểu…Mai Thảo. Cái kiểu rất là Mai Thảo! Lạ là không ai ngạc nhiên gì khi Khánh Trường tạt nguyên chén nước mắm vào anh. Mọi người chỉ đành cười ngượng ngập, trong khi Mai Thảo rất bình tĩnh, giọng khề khà như trầm xuống hẳn:” Ừ, thì ngày mai “nó” sẽ đi tuyên truyền rằng “nó” mới hắt nước mắm vào mặt Mai Thảo”.
Nhưng với tôi, sau ngày không vui đó, chính nước mắm đã là một chất keo sơn đầy hương vị, dán quãng đời còn lại của Mai Thảo với Khánh Trường. Nhất là những tình những nghĩa, những tận tâm chăm lo, săn sóc của Khánh Trường đối với Mai Thảo, suốt từ khi Mai Thảo bắt đầu ốm đau cho đến giờ phút phải ra đi.
 
Đặc biệt là anh Khánh Trường rất chán và dị ứng với cái phong thái trịnh trọng của một số vị làm văn chương, chữ nghĩa. Anh cứ nhất định gán cho họ là nhóm “ Văn nghệ sĩ cung đình”.
Trong tiệc cưới Bé Búp, tôi lúng túng tổ chức một mình vì không còn anh Nghiêu Đề. Bàn 12 người, chỉ có anh Khánh Trường nói ra lời khiếu nại :” Chị ơi, làm ơn xếp tôi chỗ khác, tôi mà phải ngồi với những ông “ Văn chương cung đình” này thì vui sao nổi?”. Khánh Trường cứ thế mà tuyên bố khơi khơi, nói ngay tại chỗ, làm 11 người còn lại khó chịu. Tôi vội vàng mời anh ngồi với nhóm bạn của Bé Búp, để chú Khánh Trường tha hồ cụng ly cùng …các cháu. Tiệc cưới rất đông thiên hạ, mà tôi vẫn nghe ra tiếng anh hò hét, nói cười bên một đám trẻ, thế hệ chẳng cần biết, chẳng đoái hoài gì đến văn chương, thi phú …Những thứ mà theo Khánh Trường, nó chỉ làm cho cuộc đời thêm lôi thôi, lung tung và rắc rối.
 
 Chừng tháng sau, tôi lên Santa Ana tham dự hôn lễ con trai của anh chị Hồ Thành Đức. Có chuyện bày ra bốc thăm sao đó, chợt tên tôi được mời lên sân khấu để nhận …Tranh tặng.  Ngay lập tức thiên hạ nghe anh Khánh Trường nói vọng lên, rất lớn:” Sao hôm nay chị xui quá vậy, còn phải mang tranh Bé Ký về tới tận San Diego". Có những tiếng cười ào ào của tất cả bạn bè và hay nhất là có cả tiếng cười rất hiểu Khánh Trường của anh Hồ Thành Đức. Đặc biệt, lại chính Khánh Trường là người tình nguyện mang tranh Bé Ký ra xe giúp tôi.
 
++++++++++
 
Sau một thời gian dài bỏ San Diego ra đi. Tôi trở lại CA như một người rất mới.
Những Văn nhân, Thi sĩ cung đình hay những vị giang hồ Thơ Văn lang bạt. Nhiều người đã bỏ đời ra đi. Tôi ngồi với các bạn lứa tuổi của mình, những bạn bè rất mới.
Mới đây, chị Nguyễn Thị Khánh Minh ra mắt thơ “Đêm”, là ngày tôi gặp lại chị Thuỳ Hạnh. Một ánh trăng sáng mơ màng trong văn thơ của nhiều Thi sĩ.
Sức sống mãnh liệt ban cho chúng ta lòng can đảm và có thêm luôn cả sự mạo hiểm không ngờ. Đã không còn dùng được tay phải, chị lái trên freeway với chỉ một tay trái, băng qua những dòng xe như thác, chạy bạt mạng và chạy như điên, chỉ vì :” Cô đơn là điều chúng ta sợ hãi nhất”, chị than thở cùng tôi.
Chị Thùy Hạnh và tôi nhắc lại chuyện từ những năm xưa. Thời Thùy Hạnh đẹp thơ mộng, lúng liếng với đôi mắt đa tình. Chị hát và ngâm thơ rất hay, có thêm một giọng nói dịu dàng như lá. Thuở mà chị chưa mang bịnh, chưa ốm đau.
22 năm đã qua đi, chúng tôi còn nhận ra nhau để cùng ngậm ngùi, tiếc nuối nhắc nhớ về lần gặp cuối cùng.
Phòng khách nhà chị, nơi có ánh nắng nhạt mờ xuyên qua chút bóng chiều sắp tắt. 22 năm về trước, chúng tôi ngồi hát với nhau, những bản nhạc đẹp ngời của Phạm Duy, Cung Tiến.
Cao Xuân Huy, người luôn có nụ cười tươi vui và ấm áp, đỏ mặt với rượu tràn lan cùng Hoàng Khởi Phong và Khánh Trường. Hiếm khi nào cả ba cùng trầm lặng như thế.
Thuỳ Hạnh ngâm thơ Hoàng Cầm, Quang Dũng, tôi hát Sombre Dimanche, dù hôm đó là chiều thứ bảy.
 
Chưa bao giờ tôi thấy anh Khánh Trường hăng hái gì với ca ca hát hát. Duy nhất hôm nhà chị Thuỳ Hạnh anh uống rất nhiều, uống đủ để ngất ngưởng với thơ, ngâm thơ và để say với “Hồ Trường”.
 
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Tuổi trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường…
 
++++++
 
Đã rất lâu rồi tôi không gặp lại, cũng chẳng ghé thăm. Vẫn biết anh đã không còn đủ hơi để lo lắng thêm cho bất cứ một điều gì. Nhất là anh đã chẳng bận tâm chi nữa đến chuyện hội họa với văn chương,…Dù mới đây thôi tôi còn biết rằng, có lúc Anh đã phải dùng giây và băng keo, bó cây cọ vẽ vào cánh tay phải, rồi dùng bàn tay trái cũng đã rất yếu, di chuyển và lê lết màu sắc lên những tấm canvas. Vẽ, phải chăng chỉ là  tiếng kêu la thảng thốt, chút níu kéo, và cả những trì hoãn thảm thương?
“...Ta có hai bàn chân
Đi hoài không tới đích
Ta có một sợi xích
Trói hoài đôi bàn tay…”
[Khánh Trường]
 
Kèm theo bài viết này tôi sẽ dùng bức tranh của anh như một minh họa. Bức tranh mà khi anh xuống San Diego trong ngày giỗ Nghiêu Đề, tôi đã phải nói lời xin lỗi vì tranh anh vẫn dựa lẻ loi bên tường. Tôi chưa kịp treo tranh anh lên cùng với tranh bè bạn… Anh liền buông một câu ẩn chứa chút ngạo mạn:” Tranh Khánh Trường, chỗ đúng nhất phải là…dựng ngay dưới đất”. Và, anh đã cùng tôi cười vang, tiếng cười bạt mạng, tiếng cười chỉ có ở Khánh Trường.
 
Tôi đang viết gửi anh thay cho một lời thăm hỏi.
 Đặc biệt là đã chẳng có lời hỏi thăm nào dài lê thê bất tận, với rất nhiều thứ kỷ niệm mà gia đình tôi đã có cùng Anh. Nhất là những ngày của năm 1999, dù rất bận với Hợp Lưu, anh đã cùng anh Nguyên Khai bỏ nhiều thì giờ layout rất đẹp cho sách Tranh của anh Nghiêu Đề. Cuốn sách mà mỗi khi đọc lại, tôi vẫn đếm xem đã có bao nhiêu bạn bè viết về, nói đến và góp lời thương tiếc Nghiêu Đề, giờ cũng đã bỏ ra đi… 
 
LÊ CHIỀU GIANG 

HAI BÀI THƠ

Ngô Nguyên Dũng
 
Poetic wordclouds. Source: Internet
 
UNG CH
 
tôi uống chữ
từng dòng. lại từng dòng ngôn ngữ
chữ sản sinh những nhân vật hư cấu
cùng tôi loạn luân nhau 
ngàn trang sách
khóc cười những dục lạc
và khổ đau
 
tôi say chữ
hai lá phổi mưa thổ huyết
chiêm bao lã chã những huyền thoại
vòng gai mân côi lòng tay nắm 
chữ đóng đinh tôi
treo thập giá phúc âm
 
tôi phục sinh chữ
dị bản tôi luân hồi
chuyện tử sinh. và cứu rỗi
hằng đêm tôi thốc tháo
trên giấy trắng trần truồng
chữ cùng tôi hoan dâm
từ vô thỉ
tới bình minh
(11.2022)
 
 
GIÓ
 
gió thốc dậy thì tôi
từ phương đông qua phương tây
những tháng năm nắng hạn nơi đây
đêm đêm tôi chờ mưa bên dòng Rhein
hiu hắt trụ đèn vàng thiếu ngủ
một vì sao rơi hoài rơi mãi
mặt sông xòe lệ diêm sinh 
không một gợn sóng
 
tôi nhìn hóa thân tôi
bạt gió lần ra đi
mang theo nỗi buồn quá hạn
đêm ràn rụa điệu ngũ cung
vỗ về con nước lớn nước ròng
tôi đứng bên trời tây
nhớ trời đông
 
gió nhen bếp lửa ngôi nhà xưa
sáng quá đêm ba mươi
vang vẳng đâu đây tiếng nấc
của ngòi bút cứa lên lưng giấy
mực đỏ hay máu chính tôi
trầy trụa từng trang sử ký
hết kháng chiến rồi nội chiến
dọc ngang nhiều thế kỷ
 
gió thời du mục
và bão cát một thời
bầy lạc đà cùng tôi băng ngang sa mạc
từ phương tây trở lại phương đông
tìm về ốc đảo mùa thơ ấu
thấy ra ao hồ và cỏ cây
đã lún sâu trong cát
lũ ó núi liệng vòng thinh không
những vòm mắt mênh mông
ôi! những vòm mắt ả rập
khép lại lặng lẽ
từ bao giờ?
 
(12.2022)
NND
 
* Quý vị có thể mở xem hai đoản phim thơ nhạc cho hai bài thơ này trong YouTube:
- "Uống chữ": https://www.youtube.com/watch?v=HVEn4s8XDh0
- "Gió": https://www.youtube.com/watch?v=LkZpM9yrum0