Wednesday, June 5, 2013

TẠP BÚT LƯƠNG THƯ TRUNG


Vài ghi nhận về  tác phẩm “Tản Mạn Bên Tách Cà Phê” của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp

 


                                                   Lương Thư Trung. Bảo Huân vẽ


  







Bạn ơi,
Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp còn có bút hiệu Châu Liêm, người đọc luôn nhớ đến ông kèm theo thi phẩm “Tôi Cùng Gió Mùa” (1) như một tác phẩm gắn liền với sự nghiệp văn chương của tác giả không thể tách rời đi được. Một trong những lý do ấy là vì cái tài thơ của Nguyễn Xuân Thiệp đã sớm phát tiết từ những năm ông còn là học sinh lớp Đệ Nhị, khoảng năm 1957, với bài thơ “Xa Cách” vừa lãng mạn mà triết lý, vừa trữ tình mà man mác nỗi buồn mà nếu ai đã có dịp đọc qua một lần đều phải nhận ra rằng thơ thời học trò của tác giả, trong vườn hoa văn nghệ ngày xa xưa ấy khó có học trò nào sánh kịp:
“Mấy dặm cát vàng duyên nối tiếp
Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa
Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp
Chỉ hẹn muôn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh
Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Ai tiễn ta qua vài bến nước
Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ
Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong
Quấn bàn tay lạnh trong tà áo
Từ nay xa cách mấy con sông”
Nhưng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp còn có tác phẩm văn xuôi khác nữa của ông mới vừa xuất bản năm rồi; đó là tập tùy bút “Tản Mạn Bên Tách Cà Phê”(TMBTCP) (2). Theo như “lời thưa” ở đầu sách, đây chính là “những miểng vụn của hồi ức”, qua 329 trang sách với 78 hồi ức về mọi vật, mọi miền qua mọi lúc với mọi người đủ để bạn và tôi tha hồ dõi theo tác giả qua biết bao câu chuyện kể về một cánh hoa, về một tiếng chim se sẻ, về một tiếng dế gáy vang vang ở một góc nhà nào đó... ; rồi nào là  “Giàn thiên lý đã xa” , “Mùi hương xoài”,  “Hải đường và trà mi”,  “Cây ngọc lan, mặt trăng và bóng mẹ” nữa! Nhiều và nhiều lắm không làm sao kể xiết “những miểng vụn của hồi ức” ấy. Vì là “hồi ức, nên tác giả đã dẫn ta về với Pleiku qua những mùa mưa đất đỏ cùng “dạ quỳnh hương”, với Đà Lạt những tháng sương mù cùng rừng thông thơ mộng thuở nào, với những trái mận tím ở Trại Hầm (Đà Lạt); rồi nào là “với một thời làm phóng viên chiến trường” của tác giả nữa… Nhiều lắm những mảnh suy tư về kiếp người, về dòng đời, về thời gian cùng những biến thiên của lịch sử…
Với Nguyễn Xuân Thiệp, một người đã trải qua hơn bảy mươi năm sống giữa đời với biết bao thăng trầm bởi thời cuộc, lại là một nghệ sĩ nữa nên những chất liệu mà ông có được nó càng làm giàu thêm cho thi tính nơi những trang sách của ông. Trong bài “Đóa hoa vông … và gió”, tác giả đã cho bạn đọc nhận ra điều ấy: “Thật sự, hai bài viết dưới đây mang không khí thơ, bởi nó cũng lãng đãng, đầy âm vang và màu sắc. Nghĩ cho cùng cũng chỉ tại con người mình mà ra. Vậy xin bạn nhỏ hãy đón nhận nó, như đón nhận những cánh hoa vông đỏ rực của lòng tôi cuốn bay theo gió…” (BTCP, trang 181)
Thưa bạn,
Với hơn ba trăm trang sách ấy, ngoài những hồi ức mà chính tác giả có được, ông còn mang tặng cho bạn những gì mà ông đã thấy, đã nghe và đã đọc được nơi này hoặc nơi khác nữa; thành ra, nói là “hồi ức”, nhưng thực sự nó không chỉ có “hồi ức”. Tất cả mọi thứ được nhìn, nghe và đọc ấy qua tâm hồn rất nghệ sĩ của một thi sĩ cùng tài dùng chữ rất thơ ngay từ những ngày còn là học sinh trung học cách nay hơn sáu mươi năm với bài thơ “Xa Cách” mà tôi vừa dẫn ở đầu bài viết này, tôi tin nếu bạn thử một lần mở vài ba trang sách “ Tản Mạn Bên Tách Cà Phê” của  Nguyễn Xuân Thiệp, tôi tin bạn sẽ bị tác giả dắt bạn theo ông tới những trang hồi ức cuối cùng!
Theo thiển ý của tôi, quả ông là một nhà văn, nhà thơ chân chính bởi vì ông làm thơ viết văn không phải vì danh vì lợi mà vì cái đẹp của cuộc đời, của văn chương và hơn thế, đó còn một lẽ nữa là vì niềm đam mê với chữ nghĩa của một tâm hồn nghệ sĩ mà ông muốn mang tặng bạn những câu thơ hoặc những trang sách mà lúc nào ông cũng tha thiết gọi mời… Thật đáng trân quý biết bao về một tâm hồn nghệ sĩ như ông!
Lương Thư Trung
Houston, ngày 04 tháng 6 năm 2013
Cước chú:
1/ Tôi Cùng Gió Mùa (thơ) của Nguyễn Xuân Thiệp, do Phố Văn tái bản, Dallas, Texas, Hoa Kỳ, năm 2012.
2/ Tản Mạn Bên Tách Cà Phê (văn) của Nguyễn Xuân Thiệp, Tuần báo Trẻ Dallas, Texas, Hoa Kỳ xuất bản, năm 2012

tạp bút lưu na


LỤC ĐỤC

                                           Photo: Lưu Na
  
                                            
 

                                      Photo: Lưu Na

 


                                           Photo: Lưu Na


Năm nào tôi cũng lăn quay lăn xả đi tìm hoa tím, bấm lia lịa và xóa liền tay sau khi đã soi hình lên computer. Bên tai tôi luôn có tiếng lẩm bẩm “khùng,”sau gáy tôi luôn có cái lắc đầu chịu đựng. Năm nay, tôi còn đi xa hơn, tuyên bố sẽ đi biểu tình lúc Tập Cận Bình qua Palm Spring gặp Tổng Thống Obama. Em rể nheo mắt, để? Chụp hình. Thì ) được cái gì và rảnh héng. Nghe ra cái kết luận không nói: rảnh việc đi vác ngà voi cho rách chuyện.
Nhưng nói sao được cái mê đắm lúc cầm máy hình. Cái gì cũng đẹp và cái gì cũng đáng ghi nhận.
Đi chụp hình hoa tím, những sáng còn lạnh thì màu tím sao buồn thê thiết, thân cây đen thẫm vì còn ướt sương và những chiếc lá cánh hoa êm mướt như nhung. Lúc đó hồn mình đông lại trong cái tím lặng. Vào buổi trưa, màu tím ngả qua sắc tím (!) ấm áp, không còn xanh lạnh, bây giờ hồn mới tả tơi vì những cánh hoa rơi. Hoa tím không rụng cái uỵch một lượt mà rụng từng cái, lớt phớt nhẹ nhàng và liên miên không dứt. Đứng dưới trời hoa tím, mỗi cái hoa rơi xuống chạm vai áo chạm lòng đường là mỗi rách nát trong lòng tan ra nhưgiấy vụn vất vào không trung. Mỗi cánh hoa be bé rơi dưới cội xương già mới gợi bao mối u hoài. Tôi chụp mãi chụp hoài, không bao giờ ghi lạiđược cái tím ngát của không gian, cái mang mang của một mảnh hồn te tua trong gió nhẹ.
Rồi những đêm 9, 10 giờ phải một mình lái lên dốc đồi nghiêng (địch không chịu theo phò !!!). Cũng phải mất vài ba lần lỡ hẹn cùng trăng, rồi mới đến một hôm vồ được nó thì trời đen như mực, pitch black, làm ăn gì được? Flash thì chưa biết có ra gì (nghĩa là hẹn thêm vài lần như vầy nữa), còn bây giờ thì chỉ có nín thở mà bấm mỏi cả tay. Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu. Từnơi bóng đêm đặc quánh với muôn ánh đèn lẻ lập lòe, cách qua một lớp bụi khói của phố phường Los Angeles, trăng mới đột ngột nhô lên ­_ gần đầy vẹn một khuôn. Cái màu đỏ quạch phai đi trong tích tắc, thành vàng úa rồi 5, 7 phút sau đã tươi thắm “ánh trăng vàng.” Trong những phút đó, tôi lại nín thở lại lăn quay lăn xả mà vồ cái mảnh mịt mờ.
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hò reo,
Để nghe tơ liễu rung trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu.
Duyệt lại, mình chả chụp được gì nhiều so với những buổi vất vả người lên ngựa kẻ theo phò… Những sáng dậy từ 6 giờ, sửa soạn đến cho kịp lúc đường vắng vì cha mẹ đã đưa con đi học cả thì mắc chiếc xe quét đường trong tầm nhìn. Khi nó đi rồi thì xe của các bà mẹ tấp nập đổvề. Mất một ngày. Lúc tìm được ngày trống thì hoa tàn. Lúc tìm được đúng chỗ trăng xuất hiện thì giờgiấc oái oăm, được ngày giờ thuận tiện thì lại mắc một công chuyện gì đó không về được dốc đồi nghiêng. Cứ như vậy năm tháng qua đi, tay nghề lục đục của tôi không thêm được chút gì mà còn e hao hớt, nhưng thật với lòng tôi vẫn không bỏ được cái tật ước ao ghi lại mọi điều. Ghi lại một cách lật đật hốt hoảng, thiếu kỹthuật kém nghệ thuật, nhiều lúc nghe ra, những bức hình ấy chỉ là tiếng vọng của một nỗi cô đơn, mong hòa nhập với một cái gì với một điều gì với trời đất mịt mù. Và lục đục mãi hoài, biết có bao giờ tìm được mối cảm thông trong thinh lặng.

Lưu Na
06/02/2013

THƠ ĐINH CƯỜNG


Đoạn ghi gởi Hoàng Xuân Sơn
 

                                                Hoàng Xuân Sơn. Đinh Cường vẽ

  

                                                Hoa xương rồng. Đinh Cường


Quặng mỏ bạn gởi cho [1]
tôi lấy gì khai thác
với hai bàn tay không
ngồi giữa chiều mưa tạt

mưa tạt vào garage
đang vẽ hoa xương rồng
nhớ những ngày mới qua
bạn gởi thư nồng thắm

một tình bạn Quán Văn
tiếng đàn thùng rất ngọt
bạn đệm Khánh Ly hát
ôi một thời sinh viên

quặng mỏ bạn gởi cho
tôi để dành khai thác
bụi quý bông hồng vàng
Paustovsky rất thích [2]

chiều vẽ chiều tối mịt
mưa dứt ngày nắng hanh
ghi mấy hàng chọt chẹt
gởi cho Hoàng Xuân Sơn


Virginia, June 3, 2013
Đinh Cường

[1] giờ này. quặng mỏ
thơ Hoàng Xuân Sơn ghi gởi DC
trên blog Nguyễn Xuân Thiệp

 [2] đọc lại Bông Hồng Vàng, K. Paustovsky (1892-1968 )
The Golden Rose, bản dịch từ tiếng Nga của Kim Ân
Nhà xb Văn Học – Hà Nội 1982




Friday, May 31, 2013

TẢN MẠN BÊN TÁCH CÀ PHÊ


Mùa hè của Thoại

Nguyễn Xuân Thiệp




                                                  Nhớ Quách Thoại. Thái Tuấn


Những cây phượng nở đỏ ven bờ sông Hương, dọc theo hoàng thành.Tiếng ve kêu rợp những khu vườn, như một dàn đại hợp xướng, vừa mới lặng tiếng ở một nơi này, bỗng lại bùng lên ở một góc khác, một khu vườn khác.
Đó là mùa hè ở Huế, qua đôi nét phác thảo. Nhưng là một mùa hè đã xa, xa lắm. Năm mươi năm về trước lận. Tôi gặp Quách Thoại lần đầu tiên mùa hè ấy. Xa, quả là quá xa, vậy mà tưởng như vừa mới đây thôi.

Ngày ấy, Quách Thoại từ Sài Gòn về Huế, quê hương anh, định ẩn cư với đá và cây cùng chim muông trong vườn. Tôi gặp Thoại qua một người bạn, không nhớ rõ là ai. Thoại ăn mặc đẹp, dáng vẻ một dandy kiểu Baudelaire. Complet màu beige, mũ feutre. Tôi thì hãy còn là học sinh, đi chiếc xe đạp đàn ông hiệu Saint-Etienne sơn đen, có một cái chuông rất lớn, một porte-bagage rất chắc. Những bài thơ, một vài tùy bút và truyện ngắn đầu tiên, hãy còn non dại lắm, đăng trên Đời Mới, Thẩm Mỹ, dưới bút hiệu Châu Liêm... gây được sự chú ý ở bạn bè xa gần. Đinh Cường, Tô Thùy Yên, Minh Đăng Khánh, Trần Lê Nguyễn, và Quách Thoại.

Thoại về Huế năm ấy, như đã nói, vào dạo hè. Mùa hè nóng như một cơn điên màu đỏ, nhưng có lúc chợt lãng đãng trong màu tím trôi trên sông. Ngồi ở đây, một thành phố miền Trung Mỹ, mà tôi như còn thấy lại hình ảnh Quách Thoại. Dáng anh cao, nghiêng, chiếc mũ dạ cũng nghiêng theo chiều gió, bước qua cầu, nhìn những lá đò trôi trên sông và dãy núi xa, mờ.

Một buổi chiều, chúng tôi họp mặt ở nhà anh Thái bên An Cựu, uống trà và nói chuyện thơ. Lần đầu tiên tôi được nghe Như Băng Trường Tình của Quách Thoại. Như Băng, một thời là người Thoại yêu, sau ẩn mình trong tu viện. Như Băng ơi, vì đâu mà lệ ứa, Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta...  Chúng tôi kéo nhau đi ăn bánh bèo dưới chân núi Ngự. Thoại vui, nói chuyện có duyên. Anh có vẻ xanh, gầy, nhưng trong và sáng. Cuối buổi đi chơi, tôi chở Quách Thoại về miệt Bãi Dâu, trên chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ của tôi. Thoại ngồi sau xe, lật tờ Đời Mới có đăng bài tôi, nói: "Văn anh viết như giọng văn Thạch Lam... ". Thời trẻ dại ấy, được nghe lời khen đó, tôi sướng lắm. Tôi chở Thoại tới nơi anh ẩn cư. Giường anh nằm giữa hai dãy giường dài, chung quanh cũng là những người gầy xanh như Thoại. Thì ra đây là nơi cho những người đau dưỡng bệnh.

Sau 1956, gặp lại Quách Thoại ở Sài Gòn. Quán cà phê hè phố Kim Sơn. Trên đường Catinat. Anh trông gầy và xơ xác đi nhiều lắm. Nhưng đôi mắt lấp lánh. Đây là thời của anh và các bạn. Thời tạp chí Sáng Tạo. Rồi ít lâu sau, anh mất. Với tôi, hình ảnh đẹp nhất của anh không phải là trên hè phố Sài Gòn. Mà là bên bờ sông Hương ở Huế. Và trong thơ:

Quách Thoại đi
giữa lòng cuộc đời
còn sót
lẻ loi
một bông
thược dược

NXT