Wednesday, October 7, 2020

Monday, October 5, 2020

KHOẢNH KHẮC

 Đỗ Hồng Ngọc

  


Nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Hồng Linh & tác phẩm

Lê Hồng Linh muốn tôi ghé thăm phòng triển lãm ảnh với chủ đề Thấu Cảm của anh lần này một chút- một chút thôi- và ghi lại đôi dòng cảm nghĩ. Tôi đã ở vào cái tuổi tám mươi, lại chẳng biết gì về nghệ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh, nhất là trong một thế giới toàn cầu hóa, mỗi người đều như sẵn có một cái máy ảnh trong tay, bấm hoài chẳng sợ hết phim như những ngày xa xưa đó!

Thấu cảm (Empathy) tôi hiểu, không phải là đồng cảm, thông cảm… mà là Gaté, gaté, paragaté…vượt qua, qua “bờ bên kia” để mà hiểu cho “thấu”, để mà cảm cho “thấu”, rồi như  Quán Thế Âm Bồ-tát nghìn mắt nghìn tay làm một cái gì đó cho cõi nhân sinh.

Thế là tôi bước vào phòng triễn lãm của bạn. Và tôi cảm thấy mình bị shoc. Một nỗi buồn mênh mông xâm nhập hồn tôi. Đất nước tôi, dân tộc tôi đó ư? Sau cuộc chiến tranh đằng đẵng đầy bom đạn chết chóc, tang thương để rồi cũng chỉ là những nỗi buồn mênh mông vậy sao? Hình như nhà nhiếp ảnh muốn bày ra để mọi người thấy và muốn kêu lên để mọi người nghe.

Thấy gì? Thấy ánh mắt  buồn bã của một em bé vùng quê không được đến trường. Thấy những bà mẹ quê gồng gánh con như thời khói lửa, bà mẹ chợ đèo con trên xe đạp trong hai chiếc giỏ… Thấy một người đàn ông thân cò lặn lội trên vùng nước đọng, một người đàn ông khác ráng kéo con ngựa qua dòng thác lũ… Và thấy những nụ cười ngơ ngác của già nua…, ánh mắt sợ hãi của bé thơ…

Nghe gì? Nghe một tiếng kêu thương.

Rồi cũng thấy những tà áo dài trắng tinh khôi lướt qua cây cầu khỉ, soi mình xuống dòng kênh, một “con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi…” của ngày xưa, và chiếc xe vua chở ba cô học trò vút bay trong hoa nắng. Chiếc xe vua rồi cũng mất, cây cầu khỉ rồi chẳng còn. Chút kỷ niệm ngọt ngào trong trắng kia làm sao tồn tại trong một thế giới đảo điên, tràn đây vật chất mà thiếu tình người, thiếu hồn nhiên trong sáng…

Tôi thấy dâng lên một nỗi buồn. Sự nghèo khó. Sự cô đơn. Sự bất hạnh… Có thể  từ đó mà có sự “thấu  cảm”, từ đó mà có ánh mắt bàn tay của Quán Thế Âm chăng? Tôi nghĩ Từ bi là không đủ. Một đống rác khổng lồ sặc sở như núi kia bao giờ sẽ thành hoa? Những người già nua kia rồi về đâu? Những bé thơ hồn nhiên nọ bao giờ sẽ bình minh? Và những người tật nguyền…

Tôi cũng chợt nhận ra cái đẹp ở “Khoảng khắc” dưới ống kính của người nghệ sĩ. Bé sợ hãi chới với níu tay mẹ. Bà cõng bé như trốn chạy với những ngón tay quíu lại một vành đai. Cái ánh mắt của con khỉ ôm chặt lấy em bé như một chỗ dựa khi thiên nhiên bị tàn phá không còn là chốn nương thân… Và chiếc xe vua bay giữa ngàn sao…

Lê Hồng Linh chia sẻ về nghề:

Máy ảnh không phát hiện được cái đẹp.

Chỉ có độ nhạy cảm con người mới nhìn thấy và sáng tạo cái đẹp.

Tâm hồn là loại ống kính tốt nhất mà nhà nhiếp ảnh phải gìn giữ sự trong sáng của nó.

Quả thực, ảnh của Lê Hồng Linh là cái hồn, từ nụ cười đến ánh mắt, từ làn sóng đến cơn mưa… Với tôi, anh là một nhà thơ biết ‘tan vào nhau trong từng khoảnh khắc” khi anh viết những câu thơ cho một bức ảnh:

Anh/ như mây/ như sương

Trôi/ đến núi em/ thành thủy mặc

Tan vào nhau/ trong từng khoảnh khắc

Tuyệt mù

(LHL)

 

Tôi bỗng nhớ một bài thơ cổ: 

Chàng như mây mùa thu

Thiếp như khói trong lò

Cao thấp tuy có khác

Một thả cũng tuyệt mù… 

“Một thả”, ấy là “tan vào nhau” đó vậy.

ĐỖ HỒNG NGỌC

(Saigon, Trung thu 2020)

 

Sunday, October 4, 2020

THƠ TRẦN YÊN HÒA

                               
Tranh Đinh Trường Chinh. Nguồn: Blog Phạm Cao Hoàng

 

NGÓ NGƯờI

Tôi dang tay biển ngó người
Ngó em quanh quẩn, ngó đời phù sinh
Ngó miên man, ngó chập chùng
Ngàn con nước cũng xuôi cùng biển đông

Ngó em trong cõi mông lung
Em đâu? Ta gọi còn khan tiếng người
Em về, trong biển dâu tôi
Tôi về, trong với tình đời tĩnh say

Anh dang tay biển, ngó người
Người qua, qua mãi tiếng cười còn vang
Em qua, em rất dịu dàng
Tiếng đàn kìm lỡ đa mang mất rồi
Em ơi. Em ôi. Tình ơi.

 
Em Đã Về, Chưa?
cho ĐTT

Em đã về chưa, hởi em?
Chung quanh ta đời đặc quánh
Chung quanh ta không trời xanh
Và tình xanh đâu chẳng thấy
Anh nhặt nhạnh lời yêu dấu
Như tơ tằm rút ruột anh đau
Đời chạy dài trên vết sẹo
Yêu thương có lúc tuôn trào

Anh thất tán niềm hy vọng
Anh cắn đắng lời thương yêu
Hởi con chim hồng bé nhỏ
Ở đâu mau sớm trở về
Anh gặp em ngày tháng cũ
Gặp em như định mệnh ta
Cả hai cùng phai màu áo
Cả hai cùng mộng yên hòa

Anh thắp sáng anh bên em
Lời vọng ngàn năm có một
Màu tình xanh, trái tim hồng
Cho anh niềm ân sủng nhỏ 
Em thắp sáng em bên ta
Choàng vai nhau cùng ngó tới
Quãng đường xưa xa thật xa
Bỏ quên đàng sau nghe nhỏ

Trời xanh, màu xanh, tình yêu
Tình yêu sao mà rất ngộ
Đến lúc nào thật tình cờ
Một màu xanh non lá mạ

Thôi, về đi nghe em
Cùng lăn trên chuyến xe đời
Cùng lăn trên dòng sinh mệnh
Xanh, màu xanh, tình yêu

 
Gởi một người
(nhân ngày 1-9)
Cho  Khánh...
 
Em về chiều nay gió lộng
Một mình em trên bến sông
Ngày sinh nhật em trống vắng
Gió đưa em về mênh mông

Phải không ngày xưa em hả
Những năm những tháng trôi qua
Ngày này anh đều chúc tụng
Yêu em không hề phôi pha

Bỗng dưng em đi đâu mất
Ngày này một mình ên anh
Uống ly rượu cay tràn mắt
Đâu rồi em con chim xanh

Mười sáu năm trôi như mây
Trong trời xanh lồng lộng gió
Anh trở về ngang qua đây
Ngôi nhà em còn nơi đó
 
Anh muốn nói một tiếng em
Đi qua đời anh thuở ấy
Bây giờ em có ấm êm?
Tháng ngày... qua cầu rút ván!

Ngày sinh nhật em anh nghĩ
Ngày này trong những năm xưa
Chúng ta thường ra quán nhớ
Ngồi kề kể chuyện...và mơ

Anh nay không còn em nữa
Em trở về cõi mịt tăm
Anh vẫn trăm năm nghe ngóng
Cầu mong em mãi trăng rằm
 
 
Áo Nguyệt Rằm

Anh tự nhiên muốn đổi em tên khác
Là Nguyệt Rằm có được không em?
Tại vì ngày xưa em thường đi lễ
Chùa trang nghiêm em lặng lẽ bên thềm

Em cầu nguyện gì nhìn thành kính quá
Đôi mắt lim dim như ở nơi nào
Có Phật Quan Âm ngó em đó nhé
Không được một mình, nguyện ước xa xôi

Anh cũng đi chùa mỗi lần rằm tới
Để ngó em và cũng để nguyện cầu
Để nhìn áo vàng em về qua ngõ
Dáng nguyệt rằm có mặt nơi đâu?

Anh nguyện thế, mà nay em đi mất
Chùa vắng em trong tháng năm qua
Em bỏ bạn, bỏ chùa, bỏ nam mô Phật
Hay em đi về...với cõi phù hoa
 
Nên mỗi ngày rằm anh hay đến đây
Quỳ lạy Phật để thấy em thấp thoáng
Em trăng rằm lẫn bóng cỏ cây
Khắp cả mùa thu đông gió thoảng

Có ai đó mơ động hoa vàng
Còn anh chỉ còn em trong nỗi nhớ
Chỉ còn em trong tháng ngày xưa ấy
Nên đợi hoài dáng nguyệt rằm em

Em áo vàng giống như trăng thuở nọ
Áo vàng bay trong sân, ngày Vu lan
Thuở (khắp những chùa em đều có mặt)
Còn anh thương mãi Áo Nguyệt Rằm...
 
TRẦN YÊN HÒA


 
 

Friday, October 2, 2020

NHỚ GIÓ TUY HÒA

Lê Ký Thương

Tháp Nhạn Tuy Hòa

Năm 1979, tôi tham dự một khóa học về quản lý hợp tác xã nông nghiệp trong ba tháng tại thị xã Tuy Hòa. Lúc này, hai tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa nhập chung với tên gọi tỉnh Phú Khánh. Học viên khóa này dành cho những người là cán bộ hợp tác xã ở các xã thuộc thuộc vùng Khánh Hòa như Diên Khánh, Cam Ranh, thành phố Nha Trang, Ninh Hòa, Vạn Giả.
 
Học viên phải đóng tiền ăn cho trường, do hợp tác xã chu cấp, để mua lương thực (nửa gạo, nửa bột mì). Địa điểm trường đóng nơi Tòa Hành chánh Phú Yên cũ, nằm cạnh bãi biển. Khóa học của chúng tôi nhằm vào mùa mưa bão ở Tuy Hòa. Tháng chín, tháng mười, mỗi lần, ngày cũng như đêm, nghe tiếng ễnh ương kêu giục người gặt lúa mà nhớ nhà đứt ruột. 
 
Mỗi ngày chúng tôi được các chị nuôi cho ăn ba bữa. Mỗi bàn ăn có bốn người, ngay trong bữa ăn đầu tiên, tôi may mắn được ngồi chung bàn với những người lớn tuổi, ăn uống biết nhường nhau, biết biết san sẻ cho nhau khi thì chút muối đậu phọng, khi thì trái ớt hiểm ở nhà mang theo mỗi dịp về phép... Thực đơn mọi ngày như một ngày. Sáng hai cái “bánh xe lịch sử” – đó là tên của món ăn mang đậm dấu ấn “lịch sử của thời bao cấp” làm bằng bột mì (sắn) nặn tròn như bánh xe, luộc trong nồi nước sôi chứ không trong xửng, rồi vớt ra ăn với nước muối pha với nước trà giả làm nước mắm. Trưa: mỗi khẩu phần ăn hai chén cơm trắng kèm theo hai “bánh xe lịch sử” chan với “canh bộ đội”. Chiều: cũng giống như khẩu phần ăn bữa trưa, chỉ có “canh bộ đội” là thay đổi, khi thì canh rau muống thả ao cọng cứng, khi thì canh rau cải… Còn nước chấm thì ba bữa đều như nhau. Ngặt nỗi, buổi ăn chiều bắt buộc phải đúng 5g30, sau khi tan buổi học từ 1g đến 5g, để cho nhà bàn dọn dẹp và rửa chén bát, đúng 6g30 thì nhà ăn đóng cửa. Trong thời gian từ 6g30 tối đến 6g30 sáng hôm sau, có người đói bụng, nhất là thanh niên, vì ăn không no nên đành… hút thuốc cho no bụng! Thuốc thì phổ biến nhứt là thuốc rê. Một vài người “bắn” thuốc lào, “phê” rồi lăn đùng ra ngủ quên đói. Buổi tối, trời lạnh buốt xương. Có người phải trùm “poncho” mà ngủ.
 
Lạ thật! thời tiết sau 75 thay đổi thất thường, nhứt là vào mùa mưa. Bãi biển Tuy Hòa nhìn ngút mắt, không có núi che chắn như bãi biển Nha Trang. Đêm nằm ngủ, lắng nghe sóng vỗ từ xa từng tràng dài như tiếng súng đại liên, thấy vui tai, nhưng đến bờ, bỗng nổ ầm một tiếng, hết hồn.
 
(Năm mười bảy mười tám tuổi, thời kỳ mộng mơ phát tiết, tôi mơ sau này sẽ mình cất một túp lều tranh trên bờ biển hoang vắng, cô tịch, dựa lưng vào vách núi, hàng đêm ngồi trầm tư mặc tưởng về từng con sóng vỗ mà tìm hiểu ý nghĩa của nó. Bây giờ, sóng biển Tuy Hòa vào những đêm mùa đông đã cuốn trôi và biến ước mơ thời trai trẻ của tôi từ lãng mạn thành lãng... xẹt!).
 
Tối thứ bảy hay chủ nhựt nghỉ học, đôi khi tôi đi bộ năm cây số từ trường đến nhà anh Trần Sĩ Huệ, vừa đi vừa đếm cột điện cho quên đường xa, chơi với gia đình anh. Lúc này, anh Huệ đã “qui cố hương” từ Nha Trang và sống êm ấm với vợ con, sau khi nghỉ công tác ở Sở Văn hóa – Thông tin Phú Khánh. Chị vẫn còn dạy học. Hai đứa con trai của anh, lúc đó đứa học cấp 1, đứa học cấp 2, những ngày nghỉ học xách bao xuống vườn dương xa nhà đến chục cây số để lượm trái dương khô về tích trữ thay củi nấu ăn. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấm thía câu “tùy cơ ứng biến”.
 
Trên đường từ nhà anh Huệ lại về trường, khi đi ngang chị bán bánh bột lọc ngồi bệt trên vỉa hè, dưới ngọn đèn hột vịt tù mù thắp bằng dầu cặn, lúc nào tôi cũng mua cho chị 1 xu 3 cái bánh bột lọc. Nhân bánh được làm bằng tép và chỉ có một con cỡ bằng đầu đũa tre. Tôi nghĩ, dù sao mình cũng may mắn hơn những học viên khác là còn có dịp để … đổi món.
 
Tôi nếm cái lạnh đầu tiên của Tuy Hòa là năm 1965, ở sân bay Đông Tác vào thời điểm cận Tết. Từ Tuy Hòa, tôi phải bay vô Sài Gòn cho kịp công việc. Đường bay này mỗi ngày chỉ có một chuyến khứ hồi. Hành khách tập trung tại điểm bán vé hàng không ở thị xã rồi đi xe trung chuyển đến sân bay.
 
Chiều hôm đó, xe vừa bỏ khách xuống rồi bỏ chạy về ngay. Hành khách đang ngồi đợi giờ lên máy bay thì cậu bé giữ mày bay, khoảng mười hai mười ba tuổi đến thông báo một động cơ máy bay bị hỏng – loại máy bay Dakota hai động cơ – đang sửa chữa, sáng mai mới bay về Sài Gòn. Hành khách hụt hẫng! Lúc đó chẳng có phương tiện nào để liên lạc với người nhà hay thân nhân đem xe đến đón về thị xã, cũng chẳng có xe ôm. Hành khách ngồi trong phòng đợi trống huơ trống hoắc giống như chàng Robinson sống trong ốc đảo, hoàn toàn bị cắt đứt với mọi phương tiện giao thông và liên lạc, dù chỉ cách thị xã 7 cây số. Gió từ đồng lúa Tuy Hòa và từ biển phóng túng bao la càng lúc càng mạnh, mang theo những đám bụi cát mù trời và cái lạnh buốt thịt buốt da. Mọi người, kể cả trẻ con, không ai bảo ai đua nhau đi tìm bất cứ thứ gì có thể làm củi, gom lại đốt lửa sưởi ấm. Tôi và người bạn phát hiện cạnh máy bay có quầy hàng PX dành riêng cho quân đội Mỹ trú đóng ở đây. Chúng tôi vội chạy đến với hy vọng mua được hai lon coca và hai cái bánh mì sandwich ăn trừ bữa tối. Nhưng khi chúng tôi trả tiền Việt thì người lính Mỹ lịch sự lắc đầu và hỏi chúng tôi chúng tôi có đô-la không?. Chúng tôi lắc đầu, nói “sorry, thank you” và tiu nghỉu đi về phòng chờ máy bay trong tâm cảnh đã chịu đựng cái gió lạnh Tuy Hòa và từ giờ phút này phải chịu thêm cái đói! Chúng tôi tới gần chỗ máy bay đậu thì bất ngờ gặp hai em bé giữ máy bay trạc bằng tuổi nhau. Chúng tôi hỏi cầu may xin ngủ nhờ, hai em đồng ý ngay và còn giục chúng tôi lên máy bay liền kẻo những hành khách khác trông thấy. Quả thật buồn ngủ mà gặp… tiên đồng! Hai em phát cho chúng tôi hai cái mền, hai khẩu phần ăn dành cho hành khách – mỗi khẩu phần gồm nửa con gà rôti, bánh mì, bơ, rau đậu… và một lon coca. Được ăn ngon, ngủ ấm, sáng hôm sau chúng tôi chúng tôi cám ơn và từ giả hai em, hai em còn “bồi thêm” cho chúng tôi hai gói kẹo chanh đi đường. Ôi, cái tình của hai em ngọt ngào và đằm thắm như đường La Hai, đã khiến tôi không bao giờ quên vị ngọt đó.
 
Trở lại Tuy Hòa lần này, tuy chỉ đến thăm gia đình anh Huệ, nhưng những gương mặt văn nghệ ở Tuy Hòa tôi vẫn nhớ rất rõ.
 
Năm 1966, tôi “giang hồ vặt” ở đây khoảng nửa tháng. Tôi được anh em văn nghệ Tuy Hòa mỗi sáng sớm đưa đến quán Cà-phê Nhớ, nằm dưới chân Núi Nhạn, để ngắm nhìn những giọt cà-phê đậm đặc nhỏ từ từ như những hạt mưa rơi và lắng nghe những lời tình tự của Trịnh Công Sơn phát ra từ chiếc máy Akai đặt nơi góc quán. Nghe đâu cô chủ quán là Nàng Thơ của một nhà văn thời danh ở Sài Gòn. Tôi nhớ mãi hình ảnh của nhà văn Y Uyên hôm đầu tiên cùng vài người bạn đến thăm anh. Anh đàng ngồi trên ghế dựa trước hiên nhà, tì tay lên xấp giấy ca-rô, đang hí hoáy mải mê sáng tác. Lúc này anh đã nổi tiếng với truyện ngắn Tiếng hát của người lính gác cầu và những truyện ngắn khác đã đăng trên tạp chí Văn, Bách Khoa…Một Nguyễn Phương Loan hiền lành như con gái nhưng tướng tá lại con trai, vui tính, nói cười rặt giọng địa phương, làm thơ, chết trẻ. Khánh Linh thì cao liêu nghêu. Nguyễn Lệ Uyên tướng tá cao ráo, vạm vỡ, nước da ngâm đen, giống y một chàng nông dân, nhưng những truyện ngắn sau này của chàng thỉnh thoảng có… “lệ” rơi! Phạm Cao Hoàng làm thơ kiêm “ngâm sĩ”, có giọng ngâm rất ấm và truyền cảm. Có thể so tài với Hoàng là Phạm Ngọc Lư, vừa làm thơ vừa viết truyện ngắn. Phạm Ngọc Lư người Huế, chẳng họ hàng gì với Phạm Cao Hoàng người Tuy Hòa, chàng này vừa tốt nghiệp sư phạm thì được chuyển về dạy học ở đây. Một kỷ niệm nhỏ giữa tôi và Lư ở Tuy Hòa là tôi khắc tặng Lư trên chiếc zippo giả hiệu, rẻ tiền một câu đùa nghịch mà bây giờ không tiện nói ra. Ở Tuy Hòa có nhóm Sóng do Hoàng Đình Huy Quan chủ trương, in ronéo. Lần đầu tiên tôi Loan ở nhà Quan. Ấn tượng nhứt đối với tôi là khi Quan cười lộ chiếc răng vàng ở hàm trên sáng chói. Theo tôi biết những nhà giàu cư ngụ trên vùng đất Phú Yên đều thích trồng răng vàng. Trong phòng của Quan còn có một bộ trống chơi tân nhạc.Còn Đặng Kim Côn, Mang Viên Long, Nguyễn Tường Văn… tôi chỉ biết tên họ qua sách báo, mãi sau này mới có dịp gặp. Riêng Nguyễn Sông Ba, năm 1974 tôi lên Đà Lạt để nhờ in bìa tập thơ “Bếp lửa còn thơm mùi bã mía” của tôi, Ý Thức xuất bản, tại cơ sở ấn loát Việt Anh, thì anh đang phụ trách trình bày và minh họa tại đây. Anh có tài viết chữ trên giấy “master” sắc sảo như chữ in.
 
Năm 1987, tôi có dịp thăm lại Tuy Hòa lần nữa. Lần này cùng đi với Cao Duy Thảo và Thế Vũ. Đêm đầu tiên, chúng tôi ngủ ở nhà Nguyễn Lệ Uyên, cách thị xã Tuy Hòa 5 cây số. Nhà anh có sân rộng, bao quanh là vườn cây trái xanh um. Buổi tối, chúng tôi ngồi trước sân ngắm trăng và thưởng thức rượu gạo do anh nấu. Anh kể cho chúng tôi nghe lý do anh nấu rượu là vì mê, không cách gì cưỡng nổi âm thanh tí tách của từng giọt rượu rơi từ lò nấu xuống bình thủy tinh đựng rượu trong một truyện ngắn của G. Maupassant. Một lý do chính đáng đậm chất nghệ thuật! Trước khi đi ngủ, anh lặng lẽ vào nhà xách ra một chai rượu nhỏ dành riêng đãi khách quí đồng thời để “giải nghễ” sau khi uống say. Loại này là loại tinh chất từ lò nhỏ ra những giọt đầu tiên, đến 60 độ, nhưng uống vào, tôi cảm thấy tinh thần sảng khoái và ngủ say một giấc cho tới sáng trên bộ ván ngựa của nhà anh...
 
Đúng là một thời để yêu và một thời để nhớ.
 
Sài Gòn, tháng 12-2013
LÊ KÝ THƯƠNG 
 

Thursday, October 1, 2020

GIẤC MƠ MÙA THU

nguyễn thị khánh minh

Tĩnh vật hoa phù dung. Đinh Cường 


Khi nước mắt đọng trong đêm
Em nhớ anh
Hạt nắng ấm của ngày xa lắc
 
Mộng du phố biển. Tuổi thơ treo ánh trăng rằm. Câu chuyện thần tiên vừa rời khu vườn trăng. Vào trần gian lễ hội. Chiếc lồng đèn trời đất kéo quân. Đuổi bắt. Khúc khích trời đêm những vì sao rất mới.
 
Chiếc lồng đèn quay quay. Đi từng bước qua trên từng bước tới. Có phải bốn mùa nhịp nhàng chớp tắt. Ẩn mật kho báu thời gian. Mắt tinh tú đang chờ. Điều gì khác sau ánh trăng diễm ảo…
 
Mùa đi ra từ bập bùng ánh nến trung thu. Hứa hẹn dưới lung linh có vị thơm và ngọt. Đêm vừa xoải cánh. Thổi ánh nhìn trăng. Thổi xanh vạt áo. Bước đi như tất cả những con đường đều mở. Như ánh sáng vừa bật òa con phố…
 
Có một mùa thu rất gió. Bảo em đừng đi xa.
Cuối đường kia, anh biết không. Là mùa hè. Phượng tàn. Cuối trời kia, anh biết không. Cánh cửa nắng đã đóng. Ơi giấc mơ nằm khô trang thời gian viết dở. Đêm lênh đênh mùa ước. Tìm nhau. Đồng thiếp thời gian. Hôm qua hôm nay ngày mai… Sao có điều gì như trôi ra khỏi niềm hy vọng.
 
Tôi sợ
Tiếng trôi đi của ánh sáng. Tiếng tỉnh mộng của chiêm bao. Tiếng xa dần của quên lãng. Tiếng nơi tôi. Im lặng. Hôm qua, hôm nay, ngày mai… Chậm chậm phút giây ơi. Tôi chỉ xin một món quà duy nhất, Hôm Nay.
 
Đó là lúc anh gọi em thức dậy
Lau khô những hạt nước mắt của giấc mộng
Ô cửa sổ nắng về
Đọng thơm giọt cà phê Starbucks đầu ngày
 
NTKM
(trích từ tập Tản Văn Thi, Văn Học Press xuất bản năm 2018)
 

THU & ĐÊM THU

 Hoàng Xuân Sơn

Tranh Internet

T H U

hồng
rách
vệt áo thu
gầy
len tôi bóng đỏ
cùng bay với nàng
hội chứng mình chỗ lang thang
tán cây nén lá
cho vàng rụng rơi
có ai thổi nhẹ khí trời
trầm kha bông vụ còn trôi giữa dòng
liếp đời
mảnh tợ vai sông
chìm đắm chìm
đắm
nhẹ
hồng trần đau
tới hôm nào không nghe nhau
hồn thu
mệnh tuyệt
hôn nhàu quyển sương
 
24.9.2020
 
 
Đ Ê M T H U
 
một
 
Tiết tấu thu ngan ngát
ca khúc thổi rượi kèn đồng
đêm thả dài tóc biếng
ôm chân rượu lên đỉnh phong
bầu đêm sao đóm tóe
tĩnh vật trên bàn những nhành hoa. trạm khổ đau
nhìn suốt tâm thể vành vạnh
vũ điệu kim châm lướt kề huơng xa một nhúm
thời không việc thả rong
 
Nấc lên một tấc lòng xa vắng
tay nắm vòng múa quanh đèn giăng
nghiêng tuổi thơ vời vợi
con cá chép lên bờ
 
những chiếc vảy long lanh óng bạc
me cười ngấn cổ cao che kín khuy hàn ngự
tháng chưa già đã lạnh
mắt nội lim dim hương trà mạn tiết
bé như hạt cườm chuỗi đeo
bé tèo teo con giống
 
 
hai
 
Tiếng cồng đánh khựng môi hôn
sáng ướt sẫm đáy thủy
cơn mơ nửa đường hoa tán
ngủ mê đồng lúa sạ
cầm tay cánh quạt xòe
bện vào con mắt hóa hiện bù nhìn
láo liêng ngó chiều quang tạnh
thời thượng phiêu diêu mặt nước
mắt ngờ ngợ kéo trăng lên
trắng quê mùa yếm thắm
chen lục hồng nhấp nhô đường trẩy
ca xoan(g) vẳng cuối làng
vụng về giấc chiêm
ôi vụng về không nắm lấy
vết theo xe quỳnh hạnh mơ hồ
hương đãng núng na tiền kiếp
áo thư sinh chùng vạt bướm bay
 
 
ba
 
Nằm giấc thiếp sâu
ngao du không toan tính
đêm ấy tiếng kèn .
 
HOÀNG XUÂN SƠN
tháng ba chín tám
 

 


Monday, September 28, 2020

TRANH HẢI PHƯƠNG

 

Vàng thu lá bay
Sơn dầu trên bố 18″ x 27″. Sept. 2011